Thực chất tình hình nhân quyền của Mỹ qua một “bản ghi chép”

(Tài liệu tham khảo nước ngoài)

Để đáp trả “Báo cáo nhân quyền năm 2004” do Bộ Ngoại giao Mỹ công bố ngày 28-2, trong đó phê phán vấn đề nhân quyền tại Trung Quốc, ngày 3-3, Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện Trung Quốc công bố bản “Ghi chép nhân quyền của Mỹ năm 2004”. Dưới đây là nội dung chính của bản ghi chép trên.

Bản ghi chép đưa ra nhiều dẫn chứng nêu rõ tình trạng vi phạm nghiêm trọng của nước Mỹ trong các lĩnh vực: cuộc sống, tự do và an toàn tính mạng; quyền lợi chính trị và tự do; quyền lợi kinh tế, xã hội và văn hóa; kỳ thị sắc tộc; quyền lợi của phụ nữ và trẻ em; việc Mỹ xâm phạm nhân quyền tại các nước khác.

Bản ghi chép cho biết, bạo lực, tội phạm và việc xâm phạm quyền lợi trong tư pháp tại xã hội Mỹ đã trở nên nghiêm trọng, cuộc sống, tự do và an toàn tính mạng của người dân không được bảo đảm. Theo báo cáo của Bộ Tư pháp Mỹ công bố ngày 19-11-2004, số vụ phạm tội của công dân Mỹ, từ 12 tuổi trở lên, gây ra trong năm 2003 lên tới gần 24 triệu vụ, tội phạm bạo lực như mưu sát và cướp của giết người 1.381.259 vụ, bình quân 475 vụ/100 nghìn người. Ngày 21-7-2004, công dân Trung Quốc tên là Triệu Yến đang công tác tại Mỹ bị cảnh sát Cục Di dân Mỹ bắt, đánh đập, gây tổn hại nghiêm trọng về thể xác lẫn tinh thần. Nguồn tin tờ ”Thời báo Niu Oóc” (Mỹ), ngày 12- 10-2004, cho biết, 13% số tù nhân tại các nhà tù của Mỹ bị xâm hại giới tính. 21% số tù nhân trong các nhà tù tại bảy bang miền trung và phía tây nước Mỹ bị xâm hại giới tính ít nhất một lần.

Về quyền lợi chính trị và tự do, bản ghi chép chỉ rõ, nước Mỹ tự xưng là ”hình mẫu dân chủ”, vậy mà dân chủ tại đây lại bị tiền bạc thao túng, tồn tại nhiều tệ nạn. Cuộc bầu cử tại Mỹ trên thực tế là cuộc chạy đua về tiền bạc. Năm 2004, chi phí cho cuộc bầu cử tổng thống và QH Mỹ lên tới gần bốn tỷ USD, trong đó, chi cho bầu cử tổng thống là 1,7 tỷ USD so với 1 tỷ USD năm 2000.

Bản ghi chép trên nêu rõ, ở Mỹ quyền lợi về kinh tế, xã hội và văn hóa của người lao động không được chăm lo. Nghèo khó, đói rét và không có nhà ở luôn tồn tại. Mỹ không chịu gia nhập ”Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”. Theo số liệu thống kê năm 2004, số người nghèo ở Mỹ liên tiếp tăng trong ba năm; năm 2003 tăng thêm 1,3 triệu người, lên 35,9 triệu người.

Nạn phân biệt chủng tộc là căn bệnh thâm căn cố đế, bộc lộ ở mọi mặt của cuộc sống và xã hội Mỹ. Những người da mầu phải sống nghèo khổ hơn người da trắng. Người da mầu bị giam cầm trong các nhà tù chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với người da trắng. Theo báo cáo của Bộ Tư pháp Mỹ (công bố tháng 11-2004), hơn 70% số tù nhân tại Mỹ là người da mầu. Tình trạng vi phạm nhân quyền đối với phụ nữ và trẻ em tại Mỹ xảy ra đáng lo ngại. Năm 2003, tại Mỹ có 93.433 vụ hiếp dâm, nghĩa là cứ 100 phụ nữ thì có 63,2 người bị hại. Quyền lợi lao động và xã hội của phụ nữ Mỹ cũng bị vi phạm. Theo số liệu Bộ Lao động Mỹ công bố tháng 1-2004, thu nhập trung bình của phụ nữ làm việc đủ giờ chỉ bằng 81,1% so với nam giới. Khoảng 20 triệu trẻ em Mỹ sống trong ”gia đình lao động thu nhập thấp” không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt cơ bản. Ở Mỹ, khoảng 400 nghìn trẻ em buộc phải bán dâm hoặc làm các công việc đồi trụy.

Về việc Mỹ xâm phạm nhân quyền tại các nước khác, bàn ghi chép cho biết, năm 2004, quân Mỹ ngược đãi và làm nhục tù nhân tại Irắc và những vi phạm nhân quyền tại nhiều nước. Mỹ đã lộ rõ bộ mặt thật, vi phạm thô bạo chủ quyền và nhân quyền tại nhiều nơi trên thế giới. Theo báo chí Mỹ như tờ ”Tuần tin tức’; ”Bưu điện oa-sinh-tơn”, v.v. nhân viên điều tra trong các nhà tù do quân Mỹ kiểm soát tại Áp- ga-ni-xtan đã sử dụng cực hình ép cung, làm nhiều người chết. Hội Chữ thập đỏ quốc tế cho rằng, sự kiện ngược đãi tù nhân trong các nhà tù tại I-rắc là hành vi mang tính hệ thống. Theo đánh giá nghiên cứu tình trạng dân thường chết tại I-rắc, từ khi Mỹ xâm lược I-rắc (năm 2003) đến nay, số dân thường I-rắc bị chết do chiến tranh lên tới 100 nghìn người, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em.

Bản ”Ghi chép nhân quyền của Mỹ năm 2004” nêu rõ, trong khi nước Mỹ còn nhiều vấn đề nhân quyền, thì họ lại tiếp tục dương binh múa võ, xâm phạm thô bạo chủ quyền nước khác, liên tiếp tạo ra những bi kịch về xâm phạm nhân quyền trên thế giới. Chính phủ Mỹ hãy xem lại những hành vi của chính mình, nhìn thẳng vào vấn đề nghiêm trọng tồn tại trên đất Mỹ, chứ không phải là ra ”báo cáo nhân quyền” để chỉ trích nước khác.

Theo Quang Thiều, Báo Nhân dân, ngày 5/3/2005

Hình ảnh Bác Hồ trong tim nhà quay phim dân tộc Thái

Hình ảnh Bác Hồ mãi khắc ghi trong tim của nhà quay phim Điêu Chính Dụng.

Ông Dụng sinh ra trong một gia đình dân tộc Thái có truyền thống cách mạng ở huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Hai người anh của ông đều là liệt sỹ, hy sinh thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Năm 1953, ông tham gia cách mạng, công tác tại Ty Tuyên truyền tỉnh Lai Châu, phục vụ trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ, sau đó được chuyển về công tác tại Sở Văn hóa khu Tây Băc.

Năm 1961, người thanh niên dân tộc Thái (27 tuổi) Điêu Chính Dụng được  cấp trên cử đi học quay phim tại Xưởng phim Thời sự tài liệu trung ương. Ông Dụng được đào tạo vừa học, vừa làm trực tiếp tại Xưởng phim.

hinh anh Bac Ho trong tim nha quay phim dan toc Thai
Bác Hồ tham gia Tết trồng cây tại Bất Bạt (Sơn Đà, Ba Vì, Hà Tây) năm 1969

Năm 1964 học xong, ông được kết nạp Ðảng và giữ lại Xưởng phim làm việc. Từ đó ông thường xuyên được phân công quay phim tư liệu về các hoạt động tại Phủ Chủ tịch và Bác Hồ.

Những hình ảnh, thước phim ông quay đã góp phần vào kho tư liệu quý giá về Đảng, Nhà nước và Bác Hồ. Bao nhiêu kỷ niệm của những năm tháng được phục vụ Bác Hồ vẫn còn in đậm trong trái tim ông.

Năm 1968, giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra ác liệt, Đoàn đại biểu Thanh niên dũng sĩ miền Nam ra miền Bắc được vào thăm Bác.

Ông Điêu Chính Dụng cùng ông Ma Cường phóng viên người dân tộc Tày được cử quay tư liệu. Đây là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời quay phim của ông.

Ông Dụng bồi hồi nhớ lại: Ngày 1/12/1968, Đoàn đại biểu Thanh niên dũng sĩ miền Nam ra báo cáo thành tích với Bác và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Bác ôm hôn các cháu, tôi thì đứng đấy quay lấy những hình ảnh thật là xúc động.

Khi đang quay, Bác quay sang tôi hỏi: Chú ở Xưởng phim nào?

Tôi trả lời: Dạ cháu ở Xưởng phim Tài liệu ạ.

Bác lại bảo: Bác có mấy ý thế này nhé: Thứ nhất, nghệ thuật quay phim, chụp ảnh của các cháu không đơn thuần là để giải trí mà còn làm công tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân ở trong nước. Thứ hai, đất nước ta đang chiến tranh, phải ghi lấy những hình ảnh tội ác của đế quốc Mỹ để tố cáo trước nhân dân thế giới…

Tết Kỷ Dậu năm 1969, sau khi quay cảnh đón giao thừa tại Phủ Chủ tịch, sáng mùng 1 Tết, ông Dụng được lệnh quay phim tư liệu Bác trồng cây tại xã Bất Bạt, tỉnh Hà Tây.

Hôm đó Bác đã ân cần hỏi thăm mọi người, hỏi thăm sức khỏe và công việc của các phóng viên. Chính khoảnh khắc ấy, ông và đồng nghiệp thấy gần gũi bên Bác như cha với con, thân mật ấm áp vô cùng.

Tình cảm và lời căn dặn của Bác luôn dẫn đường cho ông, trở thành tâm niệm nghề nghiệp và cuộc sống của ông trong bước đường công tác sau này. Với lòng nhiệt tình, khát khao cống hiến, trong những năm 70 của thế kỷ XX, ông được cấp trên cử sang Lào làm chuyên gia hướng dẫn quay phim.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn đến mấy, nhớ lời Bác dạy, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của người chiến sỹ quay phim cách mạng. Với những thành tích đạt được trong công tác, năm 1970 ông và một đồng nghiệp được Xưởng phim cử làm đại diện Đoàn Việt Nam tham dự Liên hoan phim thế giới lần thứ 13 tại Berlin (Đức).

Giờ đây đã gần 80 tuổi, nhưng khát vọng cống hiến và tình yêu lao động nghệ thuật trong ông vẫn còn cháy bỏng.

45 năm đã trôi qua nhưng hình ảnh Bác Hồ kính yêu giản dị, hiền hậu với nụ cười trìu mến, luôn quan tâm thăm hỏi mọi người vẫn còn mãi khắc sâu trong trái tim ông. Chính từ tấm gương đạo đức của Bác đã giúp ông từ một thanh niên dân tộc Thái trở thành người cán bộ tốt và quyết tâm theo Đảng đến cùng.

Phát huy truyền thống cha ông, các con của ông nay đều đã trưởng thành và có gia đình riêng. Người làm công tác tài chính, người làm công an, làm công tác văn hóa, cán bộ di dân tái định cư huyện, với ông như thế là đã mãn nguyện.

Trở về với cuộc sống thường nhật, trong ngôi nhà sàn tái định cư thủy điện Sơn La khang trang đầy ắp những kỷ niệm về Bác và cuộc đời quay phim của mình, ông càng tự hào hơn và sẽ vẫn luôn học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để có cuộc sống mẫu mực, cho con cái noi theo./.

Theo http://vov.vn
Huyền Trang (st)

Tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt

Trung Tướng Nguyễn Văn Thanh (Chính Ủy Quân Chủng Phòng Không – Không Quân)
Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vì độc lập dân tộc và CNXH bằng bạo lực vũ trang.

Thời gian qua, lợi dụng quá trình đóng góp ý kiến vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, nhiều cá nhân, tổ chức, đối tượng thù địch trong và ngoài nước đã đưa ra những ý kiến, quan điểm sai trái, thậm chí đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc như: Góp ý đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi bỏ Điều 4 của bản Dự thảo Hiến pháp 1992, đòi Việt Nam thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng; đòi tam quyền phân lập; đòi tư hữu hóa đất đai, các nguồn tài nguyên thiên nhiên; họ đòi “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang nhân dân,… trong đó luận điệu “phi chính trị hóa” quân đội được chúng xác định là một nội dung trọng tâm để chống phá Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Những người ủng hộ quan điểm này còn cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có kinh nghiệm lãnh đạo đất nước trong chiến tranh, không có kinh nghiệm và năng lực lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước trong thời bình; họ cho rằng: Đảng đã “hoàn thành sứ mệnh cao cả”, nay nên trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho “lực lượng dân chủ cấp tiến”.

Thực hiện nội dung cơ bản này, các thế lực thù địch dùng nhiều ngón đòn và các chiêu bài khác nhau, với nhiều giọng điệu khác nhau, khi thì đứng hẳn về phía đối lập ra sức và trực diện chống phá, khi thì như là “người trong cuộc” thể hiện “thiện chí khách quan” tham gia góp ý vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp, họ cố gắng lôi kéo, tìm kiếm, “khuyên nhủ” mọi người nên thế này, thế khác.

Sự thật, từ những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động luôn thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, đây là một thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới làm cho quân đội bị vô hiệu hóa.

Mục tiêu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch không có gì khác là muốn làm cho quân đội ta dần dần biến chất, từ quân đội của nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trở thành một đội quân phản bội lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, bảo vệ cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp tư sản.

Để thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” quân đội, chúng tập trung phủ nhận học thuyết Mác-Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, an ninh, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Chúng rêu rao: “Quân đội phải là một lực lượng trung lập”; “Quân đội phải đứng ngoài chính trị”. Tuy nhiên, thực tiễn khẳng định: Không có một quân đội nào “đứng ngoài chính trị”, là “trung lập”.

Cả lý luận và thực tiễn cho chúng ta thấy những bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục vận dụng “bài học kinh nghiệm” đó. Phải chăng là thủ đoạn thực hiện tinh vi hơn, hình thức đa dạng và khó lường hơn, tính chất nguy hiểm hơn, với ảo tưởng sẽ có được một kết quả tương tự. Âm mưu thật thâm độc! Chỉ có điều Việt Nam hoàn toàn khác, mà họ đang cố tìm cách xâm nhập.

Mặc dù vậy, họ không dễ dàng từ bỏ âm mưu; trái lại, bằng mọi thủ đoạn, họ đã và đang thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, “phi chính trị hóa” quân đội. Nhưng họ có đạt được mục tiêu đó không, nhân tố quyết định không thuộc về những kẻ phản bội đất nước mà do ta.

Quân đội ta là quân đội cách mạng, quân đội của dân, do dân và vì nhân dân, gắn bó “máu thịt” với Đảng, với nhân dân. Mối quan hệ đó được tôi luyện bằng máu và nước mắt qua mấy chục năm chống kẻ thù xâm lược trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Vì thế, bất cứ thế lực nào, dù mạnh và hiểm độc đến đâu cũng không thể chia rẽ được quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là điều tất yếu, đã, đang và sẽ tiếp tục được khẳng định.

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vì độc lập dân tộc và CNXH bằng bạo lực vũ trang.

Quân đội ta không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc và CNXH để đem lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho nhân dân lao động. Đó cũng là mục tiêu chính trị cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quân đội ta không chỉ mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân mà còn mang đầy đủ tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Bản chất của QĐND Việt Nam thể hiện rõ nét ở sự thống nhất về tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc, được biểu hiện sinh động ở lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị-xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ của quân đội.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Thực hiện vấn đề này, trước hết phải luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND Việt Nam; tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị (khóa IX) về hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam.

Đồng thời, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; không ngừng chăm lo xây dựng các tổ chức đảng các cấp trong quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện lệch lạc về chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Qua đó, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội thời kỳ hội nhập quốc tế, trước hết cần tập trung cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, hệ thống chế định và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nói chung, của QĐND Việt Nam nói riêng. Cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, đòi đa nguyên, đa đảng, coi việc xây dựng quân đội chỉ để dùng trong chiến tranh và lo đối phó với chiến tranh.

Tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đòi hỏi phải sử dụng hợp lý và phát huy tối ưu vai trò của quân đội trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, trong xử trí các tình huống; ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của quân đội, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra, bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược.

Thực hiện điều này cần có những quy định thật rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm và thẩm quyền của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương, của Tổng Bí thư đồng thời là Bí thư Quân ủy Trung ương, của Chủ tịch nước đồng thời là Thống lĩnh các lực lượng vũ trang đối với các vấn đề tổ chức và hoạt động của các lực lượng vũ trang nhân dân.

Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, tiếp tục tăng cường và giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là vấn đề chiến lược có tính kế thừa những bài học kinh nghiệm trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng cần tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội nói chung và QĐND Việt Nam nói riêng trong thời kỳ mới

N.V.T.
cand.com.vn

Điều đầu tiên trong 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân là xuất phát điểm, phạm trù gốc

PGS.TS Trần Minh Trưởng – Viện Trưởng Viện Hồ Chí Minh, Học Viện CT – HCQG Hồ Chí Minh
Trong 6 điều Bác Hồ dạy CAND, không phải ngẫu nhiên, điều đầu tiên Bác Hồ căn dặn các chiến sĩ Công an: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, đó là yêu cầu đối với chính mình, là xuất phát điểm, là phạm trù gốc, là cơ sở để thực hiện tốt các nhiệm vụ khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta và của dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang. Sinh thời Người nói: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính”. Chính vì vậy, ngay từ khi nước nhà mới giành được chính quyền, Người đã quan tâm đến việc thành lập, giáo dục, rèn luyện và luôn dõi theo từng bước trưởng thành của lực lượng Công an cách mạng.

Lựa chọn những cán bộ trung thành với sự nghiệp của Đảng, có năng lực và nhiệt huyết cách mạng nhất để đào tạo thành lực lượng Công an tinh nhuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở mỗi cán bộ, chiến sĩ (CBCS) Công an phải ý thức đầy đủ vị trí và trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng và Chính phủ. Người chỉ rõ: “Đối với nhân dân, đối với Đảng, với cách mạng XHCN, trách nhiệm của Công an rất lớn, rất nặng nề”, và: “Nhiệm vụ công an thì nhiều, nhưng nói tóm tắt là bảo vệ sự nghiệp XHCN”.

Để hoàn thành được nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến việc rèn luyện đạo đức của người CAND. Theo Người, tư cách đạo đức là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho lực lượng CAND hoàn thành nhiệm vụ trước Đảng, đáp ứng được lòng tin cậy của nhân dân.

Vì lẽ đó, trong mọi hoàn cảnh, lúc đến thăm các đơn vị Công an cũng như khi viết thư, gửi điện thăm hỏi CBCS Công an, Bác Hồ luôn động viên, nhắc nhở cán bộ Công an phải thường xuyên rèn luyện tư cách, phẩm chất của người Công an cách mạng. Trong đó, tiêu biểu nhất là bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng chí Hoàng Mai – Giám đốc Sở Công an Khu XII, ngày 11/3/1948, nêu rõ 6 lời dạy của Người.

Lời dạy của Người đã trở thành cẩm nang chỉ dẫn cho tất cả CBCS lực lượng CAND đi đến mọi thắng lợi trong suốt chặng đường cách mạng đã qua và sẽ còn soi sáng, chỉ đường cho lực lượng Công an trưởng thành, phát triển trong giai đoạn cách mạng mới.

Bác Hồ đến thăm cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân Hà Nội nhân dịp Tết Quý Mão (1963). (Ảnh: Tư liệu).

Trong 6 điều Bác Hồ dạy CAND, không phải ngẫu nhiên, điều đầu tiên Bác Hồ căn dặn các chiến sĩ Công an: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, đó là yêu cầu đối với chính mình, là xuất phát điểm, là phạm trù gốc, là cơ sở để thực hiện tốt các nhiệm vụ khác.

Người cán bộ Công an khi đã hội tụ đủ phẩm chất: Cần, kiệm, liêm, chính, sẽ luôn nêu cao đức tính tôn trọng, giữ gìn tài sản và của cải của nhân dân. Đặc biệt là: “Không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là: ham học, ham làm, ham tiến bộ”.

Người cán bộ Công an khi thật sự thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: Cần, kiệm, liêm, chính sẽ đặt việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm, việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh: “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý”. Do đó Người luôn đề cao phương pháp giáo dục bằng việc nêu gương, Người nói, đối với các dân tộc phương Đông giàu tình cảm, một tấm gương tốt còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.

Để trở thành tấm gương, đối với lực lượng Công an, công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước, lực lượng trọng yếu trong việc thực thi nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và sự bình yên của nhân dân, do đó mỗi CBCS Công an trước hết phải có cái tâm trong sáng, đó chính là đạo đức cách mạng. Đối với cá nhân mỗi chiến sĩ Công an, phải biết được bản thân mình, chỗ mạnh chỗ yếu của mình để không ngừng học tập, rèn luyện: “Phải luôn luôn thi đua nhau trong công tác từ trên xuống dưới, mọi người phải cố gắng nghiên cứu, học tập. Ta chớ giấu dốt, chớ xấu hổ học hỏi lẫn nhau, học hỏi người ngoài”. Kiên trì học tập, thường xuyên học tập, học mọi lúc, mọi nơi, nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ, chính là gốc của việc nâng cao trí tuệ, là cơ sở để có thể chiến thắng kẻ thù, dù chúng có âm mưu xảo quyệt đến đâu.

Mỗi cán bộ Công an phải biết tự rèn luyện mình, nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng, kiên quyết quét sạch tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh gạt bỏ những tính toán vụ lợi, tư tưởng chia rẽ, bè phái, ích kỉ, nhỏ nhen ra khỏi đời sống sinh hoạt hằng ngày.

Lực lượng Công an phải nâng cao tinh thần kỷ luật, nghiêm túc đấu tranh bằng biện pháp phê bình và tự phê bình một cách thẳng thắn, xây dựng và trách nhiệm; coi tự phê bình và phê bình là phương thuốc hữu hiệu nhất để trị căn bệnh nguy hiểm nhất mà sinh thời Hồ Chí Minh gọi là “giặc nội xâm” tức là chủ nghĩa cá nhân, kẻ thù giấu mặt có ở trong tất cả chúng ta. Đồng thời thường xuyên lắng nghe, tiếp thu ý kiến của nhân dân, thực hành dân chủ ở mọi lúc, mọi nơi.

Tóm lại, điều đầu tiên Hồ Chí Minh dạy lực lượng Công an cách mạng là phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, kiên quyết loại trừ thứ “giặc nội xâm” có ở trong mỗi con người, tích cực học hỏi để trở thành người cán bộ vừa có đức, vừa có tài.

Bởi vì như Người nói: “Muôn việc thành? công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”. Cho nên: Cần, kiệm, liêm, chính là những tiêu chí, phẩm chất đạo đức đầu tiên và quan trọng nhất mà mỗi người cán bộ Công an phải có, làm được điều đầu tiên này, làm cơ sở để thực hiện tốt 5 điều sau đó.

Tất nhiên, khi dạy lực lượng CAND điều đầu tiên: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, tức là “ít lòng ham muốn vật chất”, không phải Bác Hồ không biết đến những cám dỗ vật chất đời thường và những tác động mọi mặt của đời sống xã hội đến tâm lý, tình cảm của người chiến sĩ. Nhưng người cán bộ cách mạng nói chung và chiến sĩ Công an nói riêng, phải khác người bình thường ở chỗ, ngoài những ham muốn vật chất nhất thời, họ có trọng trách theo đuổi và thực hiện mục tiêu cách mạng cao cả.

Trong bức thư gửi luật sư Vũ Trọng Khánh – Giám đốc Tư pháp Liên khu X, Bác Hồ đã viết: “Ai chẳng muốn no cơm ấm áo. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người là hết, còn tiếng tăm xấu hay tốt còn truyền đến ngàn đời sau”.

Tháng 9/1945, trên đường từ Việt Bắc trở về Hà Nội, Bác Hồ ghé thăm CBCS một đơn vị quân đội đang dự lớp học “Tám chính sách, mười điều kỷ luật”, chuẩn bị vào tiếp quản Thủ đô. Người nhắc nhở các chiến sĩ yêu quý của mình phải vững phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng, cảnh giác trước những cám dỗ vật chất nơi đô thị. Người chỉ rõ hai thứ giặc thời bình: tham ăn ngon, thích các hàng xa xỉ. Lương không đủ, lấy ở đâu? Một là ăn cắp, hai là bị mua chuộc! Bom đạn không ngã mà lại ngã vì đồng tiền, gái đẹp. Muốn chiến thắng, theo Người, phải dùng 4 viên thuốc đặc trị: Cần, kiệm, liêm, chính.

Cần, kiệm, liêm, chính và tận tụy với công việc luôn là phẩm chất hàng đầu của mỗi cán bộ chiến sỹ Công an. (Trong ảnh: Công an quận Hoàn Kiếm – Hà Nội hướng dẫn một tiệm vàng lắp thiết bị cảnh báo an ninh) (Ảnh: Duy Hiển).

65 năm đã trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ gửi thư cho lực lượng CAND và 6 điều Người căn dặn CBCS Công an, những lời dạy đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Trong bối cảnh tình hình hiện nay, các thế lực thù địch, chống đối vẫn luôn rình rập, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây mất ANTT, phương hại đến chủ quyền quốc gia và đời sống bình yên của nhân dân.

Mặt khác, những vấn đề tiêu cực nảy sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường, buộc CBCS CAND đang ngày đêm phải đối mặt với sự thật khắc nghiệt của nó. Kẻ địch với đủ các loại tội phạm mới, tham ô, tham nhũng, đục khoét ngân sách nhà nước, làm phai nhạt niềm tin của nhân dân.

Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học, công nghệ, những loại tội phạm mới cũng hình thành. Hơn bao giờ hết, người cán bộ Công an phải chịu đựng những thử thách ghê gớm bởi sự cám dỗ, mua chuộc vật chất, cài bẫy lôi kéo cán bộ vào vòng sa đọa, tội lỗi, đòi hỏi người CAND chẳng những phải có đạo đức trong sáng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, mà còn phải có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Học tập, quán triệt 6 lời dạy của Bác, lực lượng CAND, mỗi CBCS Công an phải ra sức rèn luyện đạo đức, liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng thế trận lòng người, đoàn kết với đồng chí, đồng đội, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn để có thể chiến thắng bất cứ kẻ thù nào, nhất là những cám dỗ vật chất, những “viên đạn bọc đường” của chủ nghĩa cá nhân.

Ghi nhớ và thực hiện đúng 6 điều Bác dạy, lực lượng CAND sẽ tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được để tiến lên giành những thắng lợi mới, xứng đáng với niềm tin của Đảng và nhân dân

T.M.T.
cand.com.vn

Những luận điệu luẩn quẩn và cũ rích

10:23 | 20/07/2012

Vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố Báo cáo thường niên về nhân quyền trên thế giới trong năm 2011. Ngày 26/5/2012, đánh giá nhận xét về tình hình nhân quyền ở Việt Nam của văn bản này, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã khẳng định: Báo cáo “vẫn tiếp tục đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin sai lệch về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam”…

Nhiều năm qua, bất chấp tình huống luôn bị phản ứng gay gắt, mỗi năm một lần, qua Báo cáo thường niên về nhân quyền trên thế giới, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại tự cho mình “quyền” phán xét tình hình nhân quyền của các nước khác, trừ Hoa Kỳ. Ngày 24/5, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã công bố Báo cáo thường niên về nhân quyền trên thế giới năm 2011 (Báo cáo 2011), trong đó tiếp tục phán xét tình hình nhân quyền ở hàng trăm quốc gia. Ngay lập tức, Báo cáo 2011 đã bị phản ứng gay gắt. Bộ Ngoại giao Cu-ba coi Báo cáo 2011 đề cập tới tình hình nhân quyền ở Cu-ba qua các thông tin “dối trá và vu cáo, vô căn cứ, không đúng thực tế”. Còn Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định, Báo cáo 2011 là “tài liệu mang đầy tính phân biệt đối xử”, “coi thường sự thật”, đồng thời kêu gọi Hoa Kỳ “chấm dứt hành động can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác”…

Ngay sau khi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố Báo cáo 2011, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã đánh giá văn bản này: “Trong khi có ghi nhận nhiều thành tựu quan trọng của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người cho nhân dân Việt Nam, nhưng đáng tiếc vẫn tiếp tục đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin sai lệch về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam”. Qua 48 trang đánh giá tình hình nhân quyền ở Việt Nam, Báo cáo 2011 đưa ra nhiều nhận xét rất phiến diện, sai lệch. Bởi, nếu thật sự am hiểu tình hình nhân quyền ở Việt Nam, có cái nhìn khách quan trong điều kiện Việt Nam dù hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn nhưng vẫn nhất quán xác định quan điểm, mục tiêu, chính sách cụ thể và thiết thực… từ đó xây dựng điều kiện thiết yếu, bảo đảm cho mọi người dân được hưởng quyền con người, được phát triển mọi mặt, cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, thì những người soạn thảo Báo cáo 2011 cần tập hợp thông tin nhiều chiều, đặc biệt là cần nắm bắt chính xác nguồn gốc thông tin… Ðáng tiếc, Báo cáo 2011 tiếp tục là sự lặp lại một số luận điệu cũ rích, thậm chí là lặp lại một số sự kiện – vấn đề từ góc nhìn xuyên tạc, bôi đen, dựng đứng, bịa đặt mà các thế lực thù địch với Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam thường rêu rao trên in-tơ-nét, hoặc truyền bá trên một vài diễn đàn được tổ chức với mục đích chống phá, gây tổn hại tới hình ảnh của nước Việt Nam đang trên đường phát triển.

Nói là cũ rích, vì những người soạn thảo Báo cáo 2011 đưa ra nhận định có tính chất vu khống là coi bầu cử Quốc hội năm 2011 ở Việt Nam “không công khai, không công bằng”. Họ đã bất chấp thực tế hiển nhiên là Quốc hội Việt Nam đã, đang vận hành theo tinh thần đổi mới và luôn nhận được sự tin cậy, ủng hộ của nhân dân cả nước. Nói là cũ rích, bởi Báo cáo 2011 tiếp tục đánh đồng tự do báo chí, tự do tôn giáo với hành vi lợi dụng tự do báo chí, lợi dụng tự do tôn giáo để tuyên truyền chống phá Nhà nước, vi phạm pháp luật và đã bị chính quyền xử lý nghiêm khắc. Nói là cũ rích, bởi Báo cáo 2011 vẫn bao che, chạy tội cho mấy “nhà dân chủ cuội” đã cố tình phạm pháp, cố tình gây nhiễu đời sống tinh thần xã hội, hòng kiếm chác từ tài trợ của mấy kẻ là người Việt lưu vong đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Nói là cũ rích, vì đã nhiều lần, những người soạn thảo Báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thực hành một nguyên tắc đánh giá rất kỳ quặc, cùng là hành động để bảo đảm sự nghiêm minh của luật pháp, khi chính quyền Hoa Kỳ thực thi thì họ tảng lờ, còn khi chính quyền Việt Nam thực thi thì họ phê phán! Thí dụ: Báo cáo 2011 coi việc cơ quan chức năng của Việt Nam thực thi pháp luật là “đàn áp”, mà quên (hay cố tình quên?) sự kiện: Cảnh sát Hoa Kỳ đã bắt giữ gần 1.000 người chỉ hai tuần sau khi những người tham gia phong trào “Chiếm phố Uôn” tổ chức biểu tình. Khi cho rằng, Việt Nam “tiếp tục dùng các điều khoản an ninh quốc gia và chống vu khống rộng khắp để hạn chế tự do ngôn luận, trong đó có tự do báo chí… các phóng viên nước ngoài phải xin lại visa mỗi ba hay sáu tháng” thì chẳng lẽ những người soạn thảo Báo cáo 2011 lại không biết tới sự kiện trong năm 2011, Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu gia hạn các điều khoản về giám sát chống khủng bố trong khuôn khổ Ðạo luật Yêu nước – đạo luật mà nhiều nghị sĩ thuộc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa khẳng định: “Luật này có thể bị lạm dụng, vi phạm quyền của công dân Mỹ”. Còn nhiều sự kiện nữa có thể dẫn ra để chứng minh những người soạn thảo Báo cáo 2011 là thiếu thiện chí. Ví như việc bà M.Ô-ba-ma – Phu nhân Tổng thống B.Ô-ba-ma, không cho phép hai con gái sử dụng Facebook, bà nói: “Tôi không ủng hộ việc trẻ em sử dụng Facebook”. Ngay cả Tổng thống B.Ô-ba-ma cũng vậy, tới thăm một trường trung học ở Vơ-gi-ni-a, ông nhắc nhở “Hãy cẩn thận về những gì đăng tải trên Facebook” vì chúng “làm ảnh hưởng đến cuộc sống thực của chúng ta vào một lúc nào đó, tại một thời điểm nào đó trong tương lai”.

Có một điều cần nhấn mạnh là, để tiến hành các đánh giá, nhận xét về vấn đề nhân quyền của nước khác, dường như Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có thói quen khai thác thông tin một chiều, không phân định đúng – sai, không tìm hiểu xuất xứ thông tin? Như một số nhân vật được Báo cáo 2011 gọi là “nhà hoạt động nhân quyền” ở Việt Nam chẳng hạn. Nếu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có thiện chí, sẽ không khó để nhận ra đó chỉ là một nhóm các phần tử cơ hội chính trị, lợi dụng vấn đề dân chủ và nhân quyền để “đấu tranh” cho lợi ích cá nhân. Họ chỉ có việc làm duy nhất là hằng ngày “lướt web” rình chộp tin tức về các sự kiện tiêu cực rồi bới móc, bịa đặt, vu cáo, thổi phồng, từ đó bôi đen các giá trị và chính sách ưu việt của Nhà nước Việt Nam,… Do vậy, khi thông tin về tình hình nhân quyền ở Việt Nam mà Báo cáo 2011 đã đề cập chủ yếu khai thác từ kênh thông tin do các thế lực thù địch với Nhà nước và nhân dân Việt Nam truyền bá trên in-tơ-nét, từ một số cơ quan báo chí nước ngoài như BBC, RFA… vốn chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam, thì có thể nghi ngờ tính khách quan và thái độ thiện chí của bản báo cáo này.

Ðể sáng tỏ vấn đề nói trên, những người soạn thảo Báo cáo 2011 nên tìm đọc các bài viết, xem các vi-đê-ô clíp của nhóm nhà báo là người Mỹ gốc Việt làm việc tại Phố Bolsa TV, Việt Weekly, kbchn.net công bố trên in-tơ-nét sau những chuyến về thăm quê hương. Họ được tự do đi lại, được tiếp xúc với mọi thành phần xã hội, từ lãnh đạo cao cấp của Nhà nước đến học sinh, sinh viên, người lao động bình thường. Họ tận mắt chứng kiến sự phát triển của nước Việt Nam hôm nay. Họ nhận ra sự thật đã bị xuyên tạc. Một nhà báo từng là sĩ quan biệt động của chính quyền Sài Gòn trước đây, đã vừa khóc vừa nói trong một vi-đê-ô clíp: “Hãy về Việt Nam, không đi không thấy, đã nhìn rồi thì phải tin, đã tin rồi thì phải chấp nhận sự thật, sự thay đổi đất nước Việt Nam, quê hương rất thanh bình, quê hương trong 36 năm qua đang trên đà phát triển, tin vào một ngày Việt Nam sẽ trở thành một con rồng châu Á”. Rồi ông viết trên một tờ báo xuất bản ở Hoa Kỳ: “Tôi chỉ nhận thấy cộng sản Việt Nam thay đổi khi tôi về Việt Nam và chứng kiến tận mắt cận cảnh từ Hà Nội vào Sài Gòn và miền Tây. Tôi tự do “mướn xe” khách đi về Long Khánh. Tôi không hề phải khai báo với ai khi đi cũng như khi về và xe mướn của tôi hoàn toàn không bị chặn hỏi xét giấy. Ở lại đêm tại Long Khánh không ai đến nhà gõ cửa hỏi thăm về tội “cư ngụ bất hợp pháp” hoặc “ở lại đêm không khai báo”. Do đó, tôi không tin là Việt Nam có thay đổi trước chuyến đi Việt Nam. Tôi chỉ thay đổi 180 độ sau khi về nhận thức điều mắt thấy, tai nghe và qua những lần nói chuyện với một số lãnh đạo cao cấp từ hành chánh, cơ quan chính phủ, công an…”. Tuy nhiên sự nghiệp đổi mới của Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam lại không làm “vừa lòng” một số người mà nói như GS Trần Chung Ngọc – một người Mỹ gốc Việt, là còn “thiếu trí khôn”! Ðó là những người vẫn không “nuốt trôi” thất bại gần 40 năm trước, những người đã không đủ lương thiện để tin vào một cuộc đổi đời của nhân dân Việt Nam. Ðó là những người mà tinh thần yêu nước chỉ là chiêu bài giúp họ đạt tới các mục đích cá nhân thấp kém, trục lợi và “đánh bạc” trên lưng đồng bào mình. Bởi thế, nếu khi soạn thảo Báo cáo 2011 mà dựa trên các thông tin của họ đưa ra là tiếp tay cho cái xấu, là đi ngược lại xu thế hợp tác cùng phát triển của nhân loại.

Năm 2010, nói chuyện với sinh viên Trường đại học Ngoại thương tại Hà Nội, đề cập tới quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, cựu Tổng thống Bin Clin-tơn nói: “Tất cả các công việc này chúng ta làm cùng nhau, giúp chúng ta lắng nghe, thêm hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, để cải thiện khởi đầu mới. Quan hệ không thể nở hoa sau một đêm, nhưng có thể đem lại kết quả qua thời gian, bằng những nỗ lực chung”, đây cũng là điều mà nhiều vị lãnh đạo và chính khách Hoa Kỳ đã nhấn mạnh trong các năm qua. Gần đây, tới thăm Việt Nam theo lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Lê-ôn Pa-nét-ta cũng khẳng định: “Chúng ta xây đắp một quan hệ đối tác mạnh mẽ giữa hai nước để nhìn tới tương lai”. Ðó là ý kiến rất xác đáng, không chỉ phù hợp quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, mà còn phù hợp xu thế chung của sự phát triển trong thế giới hiện đại. Do vậy để đánh giá, nhận xét vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, Hoa Kỳ cần tôn trọng sự lựa chọn của Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhìn thẳng vào những cố gắng và các thành tựu, từ đó nỗ lực hợp tác để quan hệ hai nước ngày càng phát triển. Tin rằng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ thay đổi cách thức nhìn nhận và đánh giá, để không còn luẩn quẩn với những điều cũ rích, can thiệp một cách thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam.

(Trần Quang Hà – Báo Nhân Dân)

Nga phản đối báo cáo nhân quyền của Mỹ

16:39 | 23/04/2013

(ĐCSVN) – Bộ Ngoại giao Nga, ngày 22/4, đã phản đối báo cáo về tình hình nhân quyền năm 2012 mà Bộ Ngoại giao Mỹ vừa đưa ra, đồng thời cáo buộc Washington “đã áp dụng tiêu chuẩn kép” khi đưa ra bản báo cáo này.

Phái viên Bộ Ngoại giao Nga về vấn đề Nhân quyền, dân chủ, quyền tối cao của pháp luật Sergei Dolgov cho rằng, bản báo cáo về tình hình nhân quyền năm 2012 do Ngoại trưởng John Kerry trình lên Quốc hội Mỹ ngày 19/4 đã “lạm dụng” các chủ đề về nhân đạo và quyền con người nhằm phục vụ cho những lợi ích chính trị của Washington.

Ông Dolgov nói: “Bản báo cáo nhân quyền năm 2012 của Bộ Ngoại giao Mỹ đã đi theo lối mòn của các bản báo cáo trước… Bản báo cáo nhân quyền năm 2012 của Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa ra những kết luận thiếu căn cứ… Các đối tác Mỹ đã cố tình bỏ qua những công việc mà các nhà lãnh đạo Nga đang theo đuổi nhằm tăng cường hệ thống pháp luật và chính trị, cải cách các cơ quan thi hành luật và chống lại tệ nạn tham nhũng”.

Ông Doglov cho rằng, Moscow ”rất khó hiểu” trước nội dung trong bản báo cáo nhân quyền 2012 của Mỹ cho rằng, một cuộc xung đột đang diễn ra tại vùng Bắc Capcaz giữa quân đội Liên bang Nga và các lực lượng nổi dậy, các nhóm tội phạm và các phần tử cực đoan đã tạo ra một “tình trạng miễn trừ và vi phạm nhân quyền tại Nga”. Các cơ quan thi hành luật của Nga và các nhà chức trách ở Bắc Capcaz đang chống lại những mối đe dọa của chủ nghĩa khủng bố và đây cũng là một “nhiệm vụ tiềm năng” mà các nhà chức trách Mỹ đang theo đuổi, điển hình như vụ tấn công bom khủng bố tại giải marathon ở Boston vừa qua. Qua đó, quan chức trên cho rằng, Nga “dứt khoát” không thể chấp nhận một cách tiếp cận bị chính trị hóa một cách công khai được đề cập trong bản báo cáo nhân quyền 2012 của Mỹ. “Moscow hy vọng Mỹ sẽ đưa ra cách tiếp cận cân bằng và khách quan hơn đối với vấn đề nhân quyền…Nga luôn sẵn sàng tham gia vào các cuộc đối thoại cởi mở, bình đẳng, mang tính chất xây dựng, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác với Mỹ về vấn đề nhân quyền”, ông Doglov nói.

Theo quan điểm của ông Doglov, không có một quốc gia nào trên thế giới có thể “miễn nhiễm” trước các vấn đề về nhân quyền và Mỹ cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Cụ thể, hiện một số vấn đề về nhân quyền mà nước Mỹ phải đối mặt bao gồm bất bình đẳng xã hội, phân biệt chủng tộc, giam cầm tù nhân mà không thông qua xét xử, vi phạm quyền cử tri, hạn chế internet …

Trước Bộ Ngoại giao Nga, ngày 21/4, Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện Trung Quốc đã ra báo cáo về tình hình nhân quyền ở Mỹ, “đáp trả” báo cáo về tình hình nhân quyền năm 2012 mà Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra ngày 19/4.

Nhận xét về báo cáo nhân quyền các quốc gia của Bộ Ngoại giao Mỹ, Trung Quốc cho rằng, cũng như những năm trước, bản báo cáo đầy những “đánh giá vô trách nhiệm và chỉ trích về tình hình ở hơn 190 quốc gia và khu vực, trong đó có Trung Quốc. Tuy nhiên, Mỹ lại nhắm mắt làm ngơ, không đả động một từ nào đến tình hình nhân quyền ở chính nước mình”. Trung Quốc nhấn mạnh có những vấn đề nghiêm trọng về nhân quyền ở Mỹ dẫn tới nhiều chỉ trích mạnh mẽ trên thế giới, trong khi Mỹ một lần nữa tự cho mình là “người phán xét về nhân quyền thế giới”./.

T.L (Theo Xinhua, www.rferl.org)

Bộ mặt thật dưới chiêu bài nhân quyền

16:35 | 11/03/2005

Cái gọi là “Báo cáo tình hình thực thi nhân quyền trên thế giới năm 2004” do Bộ Ngoại giao Mỹ công bố (ngày 28-2-2005) đã làm dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ từ khắp các châu lục. Lặp lại trò cũ rích, tự cho mình quyền phán xét nước khác, thái độ vu cáo, trịch thượng của Bộ Ngoại giao Mỹ xúc phạm tất cả những người có lương tri, tôn trọng lẽ phải và công lý. Việt Nam, Trung Quốc, CHDCND Lào, Cuba, Nga và nhiều quốc gia khác đã bác bỏ bản báo cáo phi lý đó, đồng thời vạch trần Mỹ là nước vi phạm nhân quyền nhất thế giới, đáng bị lên án. 

Bộ Ngoại giao Mỹ đưa 196 nước và vùng lãnh thổ vào danh sách các nước vi phạm nhân quyền. Cũng như mọi lần, một số tổ chức “theo đóm ăn tàn”, khoác áo nhân quyền ra kiến nghị áp đặt cấm vận, trừng phạt nước này, nước kia vì đã vi phạm quyền con người, tự do và dân chủ. Nhưng màn kịch vụng về, quá nhàm của họ chỉ 1àm tăng sự phẫn nộ và phản đối trong dư luận. Chiêu bài nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ nhằm che đậy tình trạng Mỹ vi phạm nhân quyền của nước mình và tại các nước khác. Bản “Ghi chép nhân quyền của Mỹ năm 2004”, do Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện Trung Quốc công bố (ngày 3-3) nêu rất nhiều bằng chứng mà Mỹ không thể chối cãi. Đó là tình trạng tội phạm trong xã hội Mỹ xảy ra tràn lan; năm2003 có gần 24 triệu vụ phạm tội của công dân Mỹ từ 12 tuổi trở lên trong đó có 1.381.258 vụ cướp của, giết người và các tội phạm khác (Bộ Tư pháp Mỹ). Đó là cuộc sống và an toàn tính mạng của người dân Mỹ không được bảo đảm, tới 13% số tù nhân bị xâm hại giới tính (Thời báo Niu Oóc, Mỹ). Đó còn là tình trạng tệ nạn xã hội tràn lan; trong ba năm qua số người nghèo liên tục tăng, năm 2003 tăng 1,3 triệu, lên 35,9 triệu người; người da màu nghèo hơn, thường bị giam cầm nhiều hơn người da trắng, chiếm tới 70% số tù nhân cả nước (Bộ Tư pháp Mỹ). Theo Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI) năm 2003, cứ 100 nghìn phụ nữ thì 60,2 người là nạn nhân các vụ hiếp dâm; một phụ nữ làm việc cả ngày chỉ kiếm được số tiền bằng 81,1% so với nam giới làm cùng công việc (Bộ Lao động Mỹ). Mỗi năm hơn 4,5 triệu trẻ em ở Mỹ bị lạm dụng tình dục ở trong các nhà trẻ và nhà trường với tỷ lệ khoảng 10% (AP), v.v. Nực cười là, Mỹ vẫn vỗ ngực khoe khoang xứ sở của Nữ thần Tự do là “hình mẫu dân chủ”, vậy mà cho đến nay Mỹ nằm trong số rất ít nước chưa phải là thành viên (mới ký mà chưa phê chuẩn) của ít nhất hai công ước cơ bản của LHQ. Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và Công ước về quyền trẻ em, Thật lố bích hết chỗ nói!

Điều nghiêm trọng hơn nữa là, Mỹ còn ngang ngược vi phạm nhân quyền tại nhiều nơi trên thế giới. Cùng với những bằng chứng mà bản “Ghi chép nhân quyền của Mỹ” do Trung Quốc công bố nêu ra, Hội Chữ thập đỏ quốc tế, dư luận các nước Mi-an-ma, Nga, Tây Ban Nha, Xy-ri, thậm chí ngay cảc báo Mỹ như Tuần tin tức, Bưu điện Oa-sinh-tơn cũng lên tiếng tố cáo lính Mỹ ngược đãi, làm nhục tù nhân tại nhà tù A-bu Gra-íp (I-rắc), cáo buộc Mỹ làm hơn 100 nghìn dân thường I-rắc, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em chết từ khi Mỹ gây ra cuộc chiến tranh tại nước này, lên án lính Mỹ ngược đãi cả tù nhân bị thương, giam giữ không xét xử hàng trăm người tại căn cứ quân sự của Mỹ trên đảo Goan-ta-na-mô của Cu-ba. Các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế nhiều lần phẫn nộ đòi Mỹ phải chấm dứt việc biện minh cho kế hoạch hạt nhân nhằm “răn đe”, thậm chí để “đánh đòn phủ đầu” các nước, trong khi chính mình lại hung hăng đe đọa trừng phạt các nước khác với cái cớ là họ phát triển vũ khí hạt nhân. Hội đồng bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên có trụ sở tại Niu Oóc vạch rõ “Mỹ đang tàng trữ tại châu Âu 480 vũ khí hạt nhân, lớn hơn kho vũ khí hạt nhân của bất cứ quốc gia châu Âu nào, dù không còn lý do để duy trì”, đồng thời đòi Oa-sinh-tơn “phải nhanh chóng hủy bỏ số vũ khí đang trở thành mối đe doạ đối với châu Âu”. Dư luận cũng bức xúc trước việc những năm gần đây Mỹ bắt giữ hàng chục nhà báo tại các sân bay Mỹ, cấm phóng viên các nước I-ran, Cu-ba, Xu-đăng… vào Mỹ; bất bình trước việc Mỹ áp đặt thực thi luật “Hành động vì nền dân chủ ở Bê-la-rút”, “Phát triển dân chủ ở Ucrai-na”, lên kế hoạch sát hại Tổng thống Vê-nê-xu-ê-la, thúc ép các nước A-rập ủng hộ kế hoạch “Đại Trung Đông”,.v.v; đồng thời vạch rõ mưu toan áp đặt tự do, dân chủ kiểu Mỹ là không thể chấp nhận. Chính phủ các nước nêu rõ rằng, những hành động Mỹ lợi dụng nhân quyền hòng can thiệp, phá hoại nội bộ các nước không thể làm chệch hướng phát triển mà dân tộc đã lựa chọn, mà chỉ gây phương hại mối quan hệ giữa Mỹ và các nước. Chắc chắn, chính nhân dân Mỹ cũng sẽ đòi hỏi chính quyền Oa-sinh-ton sớm chấm dứt sự lặp lại những điều dối trá, che đậy và đạo đức giả về nhân quyền, nhìn thẳng vào vấn đề nhân quyền nghiêm trọng của Mỹ, chứ không phải là ra “báo cáo nhân quyền” chỉ trích nước khác. Bởi vì, điều này chẳng đem lại lợi ích gì cho chính nước Mỹ, cũng như nỗ lực chung của nhân dân thế giới xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định, để các dân tộc cùng phát triển bình đẳng, tiến bộ và phồn vinh.

Đối với Việt Nam, báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ đã thừa nhận những thành tựu và tiến bộ nhiều mặt năm 2004, tuy nhiên vẫn nhìn nhận sai lệch, xuyên tạc sự thật. Báo cáo nhai lại luận điệu vu cáo Việt Nam hạn chế quyền của công dân thay đổi chính phủ của mình (!); hạn chế tự do ngôn luận, báo chí, kỳ thị tôn giáo, dân tộc.v.v Chúng ta kịch liệt bác bỏ sự vu cáo trắng trọn đó của Bộ Ngoại giao Mỹ. Chính sách nhất quán cùng những nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, thành tựu mọi mặt của nhân dân ta thu được trong công cuộc đổi mới đất nước được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Lãnh đạo các nước An-giê-ri, CHLB Đức, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Manta… mới đây nhấn mạnh sự phát triển ổn định và bền vững ở Việt Nam ngày càng nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Rất nhiều nhà hoạt động chính trị, nhà nghiên cứu, khách du lịch, nhà báo các nước tiếp tục coi Việt Nam là “điểm du lịch hấp dẫn”, là “điểm đến, đầu tư an toàn”. Dư luận Anh, Hàn Quốc, Niu Di-lân, Nam Phi và nhiều nước khác chia sẻ đau thương, mất mát với các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin, đòi chính quyền Oa-sinh-tơn phải có trách nhiệm và pháp lý về hành động tội ác đã gây ra đối với nhân dân Việt Nam. Đó là một vài trong vô vàn bằng chứng sinh động nêu bật đường lối đổi mới, chính sách tôn trọng quyền làm chủ, quyền công dân và quyền con người của Đảng và Nhà nước Việt Nam được nhân dân thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ ủng hộ và đánh giá cao.

Việt Nam hoàn toàn bác bỏ báo cáo nhân quyền xuyên tạc của Bộ Ngoại giao Mỹ. Những người Mỹ hiểu rõ tình hình Việt Nam, tôn trọng thực tế, có cái nhìn khách quan đã, đang và tiếp tục phản đối lên án việc làm vô lý, sai trái đó. Không chịu xem lại chính mình trước những tiếng chuông cảnh tỉnh, cố tình lặp lại những việc làm vi phạm luật pháp quốc tế, những thế lực lỗi thời trong chính quyền Mỹ ngày càng lạc lõng và bị cô lập!

Theo Phương Hà
Báo Nhân dân, ngày 10/3/2005

Việt Nam sẵn sàng đối thoại về các vấn đề nhân quyền

17:04 | 17/03/2005

Ngày 16/3, phát biểu tại khóa họp thường niên 61 của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc tại Giơnevơ (Thuỵ Sỹ), Trưởng phái đoàn Việt Nam, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Đào Việt Trung khẳng định Việt Nam sẵn sàng đối thoại và hợp tác với tất cả các nước về các vấn đề nhân quyền cùng quan tâm.

Tại phần tham luận cấp cao của khóa họp, đại diện Việt Nam nêu rõ xuất phát từ kinh nghiệm của mình, Việt Nam cho rằng cần phải giải quyết một cách toàn diện tất cả các quyền con người. Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền tự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là cách đề cập phiến diện, không thể hiện đầy đủ, toàn diện các quyền cơ bản của con người.

Trưởng đoàn Việt Nam khẳng định đối với Việt Nam, đảm bảo quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước. Những thành tựu về mọi mặt của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong năm 2004 khẳng định Nhà nước Việt Nam luôn phần đấu hết sức mình để đảm bảo cho mọi người dân được hưởng tối đa quyền con người.

Về vấn đề cải tổ Uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc, trưởng đoàn Việt Nam nhấn mạnh uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc cần phải được cải tổ về cách tiếp cận đối với các vấn đề nhân quyền. Sự đối đầu về ý thức hệ, thái độ “chuẩn mực kép” và chính trị hoá cần được thay thế bằng đối thoại và hợp tác. Uỷ ban Nhân quyền phải trở thành một diễn đàn để tất cả các nước, dù lớn hay nhỏ, cùng nhau trao đổi quan điểm, đối thoại và cùng nhau tìm kiếm giải pháp thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền thế giới.

Theo ông Trung, thời gian qua, Uỷ ban Nhân quyền đã quá tập trung vào các quyền dân sự và chính trị, không quan tâm thích đáng đến các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền phát triển; đồng thời Ủy ban bị một số nước, tổ chức phi chính phủ lạm dụng, biến thành diễn đàn để công kích, gây sức ép các nước đang phát triển.

Ông nêu rõ Việt Nam ủng hộ những nỗ lực thúc đẩy hợp tác quốc tế trong khuôn khổ đa phương và song phương về nhân quyền trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người, đồng thời cho rằng không nước nào có quyền sử dụng vấn đề nhân quyền như một công cụ gây đối đầu, gây sức ép chính trị hoặc đặt điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nước khác./.

BTK-TTX

“Miếng đất nhân quyền” màu mỡ

10:34 | 23/08/2005

Bức tranh toàn diện, trung thực về thành tựu bảo vệ và phát triển nhân quyền ở Việt Nam đã được giới thiệu rộng rãi cho dư luận trong và ngoài nước với việc Bộ Ngoại giao Việt Nam cho công bố sách trắng về nhân quyền Việt Nam.

Đây là lần đầu tiên Việt Nam cho công bố Sách trắng về nhân quyền để khẳng định những gì mình đã làm vì con người và quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên, không phải đến bây giờ vấn đề nhân quyền mới có sự mở đầu, mới được quan tâm chú ý ở Việt Nam. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta là lịch sử đấu tranh kiên cường vì quyền cao cả nhất, thiêng liêng nhất của một dân tộc là phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, phải được tự định đoạt con đường phát triển của mình. Cái quyền đó ngày nay đã trở thành nguyên tắc có tính nền tảng có thể tìm thấy trong Hiến chương Liên hợp quốc và rất nhiều văn bản quốc tế khác.
Hay như trong Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố với toàn thế giới : “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào quyền tự do”. 60 năm đã trôi qua, mỗi khi nhìn lại, chúng ta lại càng thấy rõ hơn cống hiến vô giá này của dân tộc Việt Nam trong việc phát triển tư tưởng nhân quyền như một giá trị văn minh của nhân loại.

Ngay cả trong “cuộc đọ sức lịch sử” để giành lấy quyền lớn nhất được sống trong hòa bình, tự do, độc lập, khi sự nghiệt ngã của chiến tranh, sự khắc nghiệt của những quy định thời chiến tưởng như không thể dung hòa với bất cứ một “khoảng trời riêng nào”, chính sách đối với con người vẫn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt, bởi con người luôn được xác định vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Có lẽ chính biết quan tâm chăm lo đến con người, biết khơi dậy và khai thác tiềm năng của con người Việt Nam đã tạo ra động lực làm bùng nên sức mạnh vô tận giúp chúng ta vượt qua những thử thách cực kỳ khắc nghiệt của chiến tranh trước đây và lập nên kỳ tích của thời kỳ Đổi mới ngày nay, làm rạng rỡ đất nước, làm cả thế giới phải khâm phục

Với việc công bố Sách trắng về nhân quyền, bức tranh toàn diện và trung thực về thành tựu nhân quyền của Việt Nam đã được tái hiện rõ nét. Nhìn vào những số liệu và bằng chứng sinh động nêu trong cuốn sách, chúng ta hoàn toàn có thể tự hào về những gì mà mình đã làm được. Không chỉ được quy định trong hiến pháp và các văn bản pháp quy của Việt Nam, quyền con người ở Việt Nam đã được cụ thể hóa thành những thực tế mà cả thế giới công nhận và ca ngợi. Chỉ xin nêu vài ví dụ. Nói đến nhân quyền thì trước hết phải xem chính phủ đã làm được gì để cải thiện đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần cho người dân, nhất là ở đất nước còn nghèo và kém phát triển như Việt Nam. Trong hàng thập kỷ qua, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam luôn ở nhóm cao nhất thế giới. Nhưng điều đáng nói hơn là sự khởi sắc này đã chuyển hóa đến từng người dân, nhất là những người nghèo. Chính vì thế mà Cơ quan phát triển Liên hợp quốc đã đánh giá: “Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng khâm phục trong việc phát triển con người và giảm tỷ lệ nghèo kể từ khi công cuộc Đổi mới bắt đầu. Việt Nam đã sử dụng thu nhập của mình cho mục tiêu phát triển con người tốt hơn nhiều nước có thu nhập cao hơn mình”.

Trong điều kiện đất nước còn nghèo, Đảng và Chính phủ luôn chủ trương tăng trưởng kinh tế phải đi liền với công bằng và tiến bộ xã hội, Nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, phát triển cơ sở hạ tầng ở vùng sâu vùng xa, trợ giúp người nghèo, bảo hiểm y tế cho người dân…đã được thực hiện. Nỗ lực đó đã đưa đến kết quả là theo chuẩn nghèo của quốc tế, trong vòng 2 thập kỷ qua, Việt Nam đã giảm 50% số người nghèo, đạt được mục tiêu số 1 trong các mục tiêu thiên niên kỷ mà LHQ đề ra trước thời hạn năm 2015. Đó là bức tranh sống động nhất, chân thực nhất về nỗ lực vì con người của Việt Nam với đầy tinh thần nhân ái, là bằng chứng rõ ràng cho thấy Việt Nam luôn đặt mục tiêu vì dân, do dân, lấy cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân làm cái đích phấn đấu của mình.

Tất cả những dẫn chứng nêu trên là thực tế hùng hồn bác bỏ các quan điểm sai trái từ trước đến nay coi nhân quyền là “miếng đất trống khô cằn” ở Việt Nam, là chủ đề xa lạ, là điều cấm kỵ, là sản phẩm phải được tạo ra dưới sức ép từ bên ngoài, mà những thế lực thiếu thiện chí với Việt Nam thường bịa đặt lên. Khẳng định nhân quyền và nghĩa vụ thực hiện nhân quyền là mối quan tâm chung của nhân loại, chia rẽ quan điểm quyền con người vừa mang tính phổ biến thể hiện khát vọng chung của nhân loại, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng, cuốn Sách trắng một lần nữa nhắc lại quan điểm của Chính phủ Việt Nam cho rằng, trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội, các giá trị văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá của mình cho một quốc gia khác. Có thể nói, trong lĩnh vực này, Sách trắng sẽ là công cụ sắc bén và hữu hiệu trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực đang lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam với mục đích xấu.

Tất nhiên, Việt Nam không cho rằng mình đã hoàn hảo mọi việc trong vấn đề nhân quyền, chúng ta còn phải làm rất nhiều để đảm bảo và tiếp tục hoàn thiện các quyền của người dân. Việc công bố Sách trắng về nhân quyền là thể hiện sự quan tâm, là cam kết của Việt Nam tiếp tục phấn đấu phát triển không ngừng quyền con người ở Việt Nam, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống xu hướng chính trị hoá và thái độ “tiêu chuẩn kép” trong vấn đề nhân quyền, đồng thời đảm bảo công cuộc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người Việt Nam trở thành nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

60 năm lập nước là thời điểm lịch sử để chúng ta nhìn lại và tự hào khi chứng kiến “miếng đất nhân quyền” màu mỡ ở Việt Nam. Có thể nói đó là kết quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản chất ưu việt, tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa với truyền thống nhân đạo, nhân văn của dân tộc Việt Nam, giữa chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam luôn đặt con người là trọng tâm trong sự phát triển đất nước, với việc thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực và nghĩa vụ được quy định trong các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Theo Mạnh Tường, báo QĐ ND ngày 19/8/2005

Nhân quyền và Quyền con người ở Việt Nam được đảm bảo tốt nhất

18:12 | 05/03/2005

(ĐCSVN)- “Báo cáo nhân quyền 2004” của Bộ Ngoại giao Mỹ vừa được công bố hôm 28/2 chứa đựng những nội dung xuyên tạc và bóp méo tình hình ở Việt Nam. Báo cáo nói trên là sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, làm tổn thương tình cảm và lòng tự trọng của nhân dân Việt Nam. Việc làm này đi ngược lại xu hướng cải thiện và phát triển quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, hoàn toàn trái với lợi ích của nhân dân hai nước”.

Ở Việt Nam, Quyền con người chính là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích, năng lực của con người, với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Quyền con người trong công cuộc đổi mới ở nước ta những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn:

Xác định đúng những quan điểm, chủ trương về quyền con người.

Ngay từ Đại hội VI, khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã khẳng định: “phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân”. Quyền công dân ở đây chính là những quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật của một quốc gia có chủ quyền.

Sau Đại hội VII năm 1991, ngày 12/7/1992 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Chỉ thị số 12/CT/TW- Một văn bản quan trọng về vấn đề quyền con người. Có thể nói vắn tắt những quan điểm đó là:

Thứ nhất: quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài trong tự nhiên và trong xã hội qua các thời đại, trở thành giá trị chung của nhân loại.

Thứ hai: trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc.

Thứ ba: chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thì quyền con người mới có điều kiện đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất.

Thứ tư: quyền con người của cá nhân gắn với việc bảo đảm lợi ích của tập thể, của cộng đồng xã hội.

Thứ năm: quyền dân chủ tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân.

Thứ sáu: quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia.

Thứ bảy: quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy, không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.

Đến Đại hội VIII (1996), Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ chủ trương “bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người” và khẳng định: “chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, của từng gia đình, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”. Trong đó, ưu tiên xây dựng các luật về kinh tế, về các quyền công dân, các luật điều chỉnh các hoạt động văn hóa thông tin (Văn kiện Đại hội VIII, tr. 32).

Bước sang Thế kỷ XXI với những sự kiện lịch sử trọng đại, Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ IX, xác định: “Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người, mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia” (Văn kiện Đại hội IX). Nội dung đề cập trên thể hiện tính hệ thống các quan điểm của Đảng về quyền con người, là cơ sở cho những thành tựu to lớn đạt được trong vấn đề này ở Việt Nam, chỉ tính từ khi đất nước đổi mới đến nay.

Sự ghi nhận tổng quát quyền con người trong Điều 50 của Hiến pháp 1992 là một sự kế thừa những giá trị nhân văn cao quý của nhân loại và là sự khẳng định những thành quả của cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền. Trong Hiến pháp 1992, vấn đề quyền con người được thể hiện ở rất nhiều điều khoản, trong tất cả các chương nhằm bảo đảm cho mỗi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ mọi quyền và lợi ích chính đáng và tạo điều kiện để có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc.

Đạo luật cơ bản của Việt Nam nêu rõ: mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương…

Mở rộng quyền cư trú, quyền tự do đi lại, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về nước theo qui định của pháp luật; bảo đảm quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam.

Quy định thêm một số điều khoản quan trọng về hình sự và tố tụng hình sự ở mức độ quy phạm lập hiến: “Không ai bị coi là có tội, và phải chịu hình phạt khi chưa có bản kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; người bị bắt, bị tạm giam, bị truy tố xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải xử lý nghiêm minh” (Điều 72).

Qui định rõ đại biểu các cơ quan dân cử còn phải chịu trách nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri.

Hiến pháp Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng nêu rõ: quyền con người trong những lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, thể hiện chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa…

Làm rõ mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của công dân: “Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Nhà nước đảm bảo các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước” (Điều 51)…

Có thể khẳng định quyền con người là giá trị bền vững, cao quí mà các bản Hiến pháp của Việt Nam đã trang trọng qui định, đồng thời không ngừng bổ sung, nâng cao và phát triển. Từ 13 quyền ở Hiến pháp 1946, đã được nâng lên 21 quyền ở Hiến pháp 1959, 29 quyền ở Hiến pháp 1980 và 34 quyền ở Hiến pháp 1992. Nhà nước Việt Nam đã tham gia phê chuẩn 8 Công ước quốc tế về quyền con người.

Để đảm bảo thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân theo qui định của Hiến pháp nước ta và phù hợp với Công ước quốc tế, đến nay Nhà nước ta đã sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992, tiếp tục sửa đổi và ban hành nhiều bộ luật khác, như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Luật Hành chính, Luật Hôn nhân gia đình, Luật chống tham nhũng, Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Chăm sóc bảo vệ và giáo dục trẻ em v.v.

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn, có ý nghĩa quan trọng về quyền con người trên những lĩnh vực quyền cơ bản.

Quyền dân sự là những quyền thuộc về nhân thân, gắn với mỗi cá nhân như các quyền: quyền sống, quyền đối với họ tên, quốc tịch, hình ảnh, quyền không bị tra tấn nhục hình và đối xử vô nhân đạo, quyền tự do cư trú và đi lại, quyền an ninh cá nhân, bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm, quyền được xét xử công bằng, quyền được bí mật về thư tín và đời tư…

Để thấy rõ những thành tựu to lớn về nhân quyền của Việt Nam, trước hết cần khẳng định lại một vấn đề rất cơ bản : Đánh giá tình hình nhân quyền ở một quốc gia cụ thể, cần xem xét những mặt cơ bản và cụ thể tạo nên bức tranh tổng thể về nhân quyền của một dân tộc cụ thể ở một quốc gia cụ thể. Không có thứ nhân quyền chung chung. Biểu hiện cao nhất, cụ thể nhất, thiêng liêng nhất của nhân quyền đối với một đất nước, chính là quốc gia ấy phải được độc lập, nhân dân phải được tự do, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện.

Chính vì phấn đấu cho mục tiêu thiêng liêng đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã kiên trì chiến đấu hơn bảy thập kỷ qua. Nhân dân Việt Nam đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng và thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Sau gần 20 năm, với đường lối đổi mới đất nước, Việt Nam đang từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đấy là biểu hiện cao nhất và cụ thể nhất của nhân quyền ở Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân Việt Nam thừa nhận là Đảng lãnh đạo đất nước, xã hội và tin theo suốt 75 năm qua. Cương lĩnh của Đảng được nhân dân, cả dân tộc Việt Nam đồng tình ủng hộ vì Đảng đồng thời là đại diện lợi ích của nhân dân, của dân tộc Việt Nam. Nhờ vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam quy tụ và nhân lên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, đã đánh thắng những tên đế quốc lớn nhất của thời đại. Hiến pháp là sự thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Hiến pháp của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam đã được bổ sung, sửa đổi nhiều lần, đặc biệt là lần sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X vừa qua. Đông đảo quần chúng và nhân dân không có ai đề nghị thay đổi hoặc bổ sung Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 4 ấy khẳng định rõ : Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Sở dĩ tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vì Đảng là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, đã và đang gắn bó với các tầng lớp nhân dân làm nên những thành tựu to lớn của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Đó chính là sự biểu hiện toàn diện, tập trung và sâu sắc nhất về nhân quyền. Nguyên nhân của tất cả những thành tựu không ai có thể phủ nhận đó của chúng ta bắt nguồn từ đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam mà thực tế đang vận hành và đem lại hiệu quả, lợi ích cụ thể trên tất cả các bình diện của đời sống kinh tế – xã hội đất nước. Chúng ta có quyền tự hào về những cố gắng và tiến bộ lớn trong việc phát triển nhân quyền ở nước Việt Nam.

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực, tạo ra những tiền đề và điều kiện vật chất tốt hơn để thực hiện và phát huy các quyền và quyền tự do cơ bản của người dân. Việt Nam đã được quốc tế ghi nhận là một trong những quốc gia hàng đầu về xoá đói, giảm nghèo, là nơi có môi trường an ninh chính trị, xã hội ổn định cao và quyền con người được bảo đảm. Hệ thống luật pháp của Việt Nam đang dần được hoàn chỉnh để bảo đảm tốt hơn các quyền và quyền tự do cơ bản của người dân. Từ năm 1986 đến nay, trên 40 bộ luật, hơn 100 pháp lệnh và hàng nghìn văn bản pháp luật khác, trong đó có những văn bản quan trọng liên quan đến quyền con người đã được ban hành. Các văn bản pháp luật trên đã thể chế hoá các quyền con người, trở thành công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong một Nhà nước pháp quyền mà mục tiêu cốt lõi là vì con người.

Thắng lợi của các cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta là thắng lợi của tư tưởng nhân quyền cao cả, mà dân tộc Việt Nam là chiến sĩ tiên phong, là thắng lợi của ý chí hòa bình, độc lập và phẩm giá con người. Với hai chiến thắng vĩ đại này, dân tộc ta có vinh dự lớn là biểu tượng cho lương tri nhân loại, là chiến sĩ tiên phong bảo vệ quyền con người được sống trong độc lập hòa bình và nhân phẩm. Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. 30 năm qua từ khi đất nước hoàn toàn độc lập, nhất là sau gần 20 năm đổi mới toàn diện đất nước, với những thành tựu rất quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…, chúng ta đã hiện thực hóa một bước rất quan trọng các quyền con người và quyền công dân trên cả bình diện pháp lý và đời sống hiện thực:

Trong lĩnh vực chính trị, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính trị của dân, do dân, vì dân. Quyền của người dân tham gia quản lý công việc Nhà nước và xã hội, điều này thể hiện rõ ở các cuộc bầu cử: ở Quốc hội khóa XI nhiệm kỳ 2000-2007 và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp ngày 25/4/2004 vừa qua, đã có tới hơn 99% số cử tri đi bầu. Quyền tự ứng cử của công dân được khẳng định. Quốc hội khóa X có 8 người tự ứng cử, trúng cử 3; còn Quốc hội khóa XI có 11 người tự ứng cử, trúng cử 3. Số đại biểu nữ ở Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cũng tăng rõ rệt, khóa sau tăng hơn khóa trước.

Xây dựng một hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm về mặt Nhà nước các quyền con người và quyền công dân. Quyền khiếu nại tố cáo: Pháp lệnh khiếu nại tố cáo của công dân năm 1991, đã được thay thế bằng Luật khiếu nại tố cáo của công dân năm 1998 với sự mở rộng cả về chủ thể và đối tượng khiếu nại.

Các quyền tự do dân chủ: Thể hiện nhu cầu phát triển cao nhất của con người bao gồm: Tự do ngôn luận, tự do báo chí: Luật báo chí 1989 thay thế sắc lệnh về báo chí từ năm 1957, với các văn bản pháp quy cụ thể hóa Luật báo chí và luật sửa đổi bổ sung (1999). Đến nay, Việt Nam đã có hơn 500 cơ quan báo chí với hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo. Luật xuất bản (1993) quy định cá nhân được quyền tự do công bố tác phẩm của mình mà không bị kiểm duyệt.

Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo: Tất cả các Hiến pháp ở Việt Nam từ trước đến nay, đều ghi nhận việc tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nghị định 26/NĐ- CP ngày 4/9/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo đã cụ thể hóa quan điểm đó. Việt Nam có 6 tôn giáo chính là: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo, Hồi giáo với trên 20 triệu tín đồ. Trong các tôn giáo lớn ở Việt Nam thì Phật giáo có khoảng trên 9 triệu tín đồ, 3.300 nhà sư, 14.000 nơi thờ tự; Thiên chúa giáo có hơn 6 triệu tín đồ với trên 2.200 linh mục, giám mục, hồng y, 8.000 tu sĩ; 10.783 xứ đạo, 4.698 họ đạo, giảng sư và 440 nhà thờ, nhà nguyện; Cao đài có trên 2 triệu tín đồ, 5.000 chức sắc, trên 500 thánh thất; Hòa hảo có 1,5 triệu tín đồ; Hồi giáo có trên 10 vạn tín đồ.

Tiếp tục cải cách hành chính xây dựng thiết chế dân chủ, để hiện thực hóa một bước quan trọng quyền làm chủ đại diện và làm chủ trực tiếp của nhân dân, chống sự tha hóa của một bộ phận cán bộ trong hệ thống chính trị.

Trong lĩnh vực kinh tế, đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tăng đáng kể quyền tự chủ kinh tế cho nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tính năng động kinh tế – xã hội, tính tích cực công dân của mỗi con người. Chủ trương xóa đói, giảm nghèo đã từng bước tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền bình đẳng về kinh tế. Nhờ đường lối phát triển kinh tế đúng đắn và quyền con người trên lĩnh vực kinh tế được bảo đảm mà những năm qua, chúng ta đã “khơi dậy nguồn lực trong nhân dân đầu tư vào phát triển sản xuất, kinh doanh. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư trong GDP tăng dần (năm 2001 là 34%, năm 2002 là 34,3%, năm 2003 khoảng 35%, năm 2004 là 36,5%). Trong đó cơ cấu đầu tư xã hội, tỷ trọng vốn đầu tư trong nước gia tăng (chiếm 70% tổng số vốn đầu tư), nguồn vốn huy động trong dân tăng mạnh”, chỉ tính từ Đại hội IX đến nay đã có 72.601 doanh nghiệp tư nhân được đăng ký, với số vốn lớn tới 9.5 tỉ USD, nhờ đó mức sống và chất lượng sống của mỗi con người các tầng lớp nhân dân đã được cải thiện và nâng cao.

Trong lĩnh vực văn hóa giáo dục, chúng ta đã phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục, hiện nay có tới 24 triệu người đi học, 1,3 triệu người có trình độ đại học, 1,3 vạn người có trình độ tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 10 nghìn người có trình độ thạc sĩ, ngày càng bảo đảm tốt hơn quyền được học tập của mọi công dân. Trên thực tế, việc bảo đảm quyền con người trên lĩnh vực văn hóa được thể hiện những nội dung cụ thể là:

Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin: mỗi năm xuất bản phát hành hàng ngàn cuốn, hàng trăm triệu bản báo các loại; mạng lưới báo chí được tổ chức một cách hệ thống từ Trung ương đến địa phương gồm đủ các loại hình, dành cho nhiều đối tượng, nhiều lứa tuổi. Đặc biệt mạng lưới báo điện tử đã phát triển rộng rãi, với 19 đơn vị được cấp phép là nhà cung cấp thông tin trên mạng… đã và đang phát huy vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa thông tin của người dân. Phát thanh truyền hình được phủ sóng rộng rãi, đảm bảo cho trên 70% dân số được xem truyền hình và trên 80% dân số được nghe Đài tiếng nói Việt Nam.

Quyền được thưởng thức văn hóa, nghệ thuật: Năm 2002 cả nước có 116 đoàn văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp, có 813 đơn vị chiếu phim phục vụ công chúng trên mọi miền đất nước.

Quan điểm đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nói rõ: tăng trưởng kinh tế đi liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo sự tiến bộ và công bằng xã hội. Thực hiện chính sách xã hội nhằm làm lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối dưới nhiều hình thức, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp. Đây là quan điểm thể hiện sự khác biệt về chất giữa chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ tư bản chủ nghĩa. Một trong những thành tựu được Liên hợp quốc đánh giá cao là, chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong những năm qua trên phạm vi cả nước đạt kết quả nổi bật.

Những thành tựu về nhân quyền và quyền con người của Việt Nam là một thực tế không ai có thể chối cãi, Thực tế đó đó đã được nhiều quốc gia và không ít quan chức và nhân dân Mỹ chứng kiến, khẳng định khi sang Việt Nam. Vậy thì lấy cớ gì để Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra những thông tin xuyên tạc trắng trợn tình hình Việt Nam. Để đánh giá tình hình nhân quyền ở một quốc gia cụ thể, cần xem xét những mặt cơ bản và cụ thể tạo nên bức tranh tổng thể về nhân quyền của một dân tộc cụ thể ở một quốc gia cụ thể. Không có thứ nhân quyền chung chung. Biểu hiện cao nhất, cụ thể nhất, thiêng liêng nhất của nhân quyền đối với một đất nước, chính là quốc gia ấy phải được độc lập, nhân dân phải được tự do, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện.

Như nhiều người đã rõ, hiện nay các thế lực thù địch đang thực thi dưới mọi thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm vào nước ta, trước hết trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa cốt làm lung lay ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ giữa các tầng lớp nhân dân ta với Đảng, Nhà nước, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân ; tiến tới xóa bỏ Đảng ta và chế độ ta. Để thực hiện mưu toan thâm độc ấy, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền” để kích động những người nhẹ dạ, cả tin có những hành vi chống đối Đảng và chính quyền ; tiếp sức và biến những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn thoái hóa biến chất ở trong nước thành “cái loa” phụ họa và tuyên truyền những điều mà chúng đã, đang bịa đặt, vu cáo Việt Nam.

Các thế lực đế quốc chủ nghĩa với thái độ giả nhân, giả nghĩa, chúng giương ngọn cờ nhân quyền để phục vụ cho các âm mưu đen tối phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa và các nước độc lập có chủ quyền.

Dưới chiêu bài “bảo vệ nhân quyền” chúng tiến hành các hoạt động phá hoại về tư tưởng, tuyên truyền cho nền dân chủ tư sản và những quan điểm giá trị của phương Tây, vu cáo, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng ta. Chúng khuyến khích, tập hợp, hỗ trợ cho bọn phản động trong các tôn giáo, trong dân tộc ít người và bọn cơ hội, bất mãn, hình thành lực lượng đối lập , gắn liền vấn đề quyền con người còn lâu dài, phức tạp, với chiến lược “diễn biến hòa bình” và gây bạo loạn lật đổ. Chúng ta cần tỉnh táo trước những âm mưu thâm độc đó để chủ động đối phó, kiên quyết đánh bại âm mưu của các thế lực thù địch.

Khẳng định thành tựu và những cống hiến của dân tộc ta trong lĩnh vực này, dân tộc Việt Nam tiếp tục vững tin con đường cách mạng mà Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn, là con đường nhân đạo và nhân văn cao cả, con đường duy nhất đúng để thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc cho mọi con người. Khẳng định điều này, một lần nữa, Việt Nam nghiêm khắc lên án những thế lực thù địch đã tiến hành cuộc chiến tranh tàn bạo ở nhiều nơi trên thế giới; họ không có tư cách để dạy bảo các nước về quyền con người và càng không được phép lợi dụng nó để can thiệp, phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

M.H – (Tổng Hợp)
dangcongsan.vn

Bác của chúng ta thật giản dị

123th Anniversary of Uncle Ho

Mỗi năm, tháng Năm về lòng mỗi người dân Việt Nam ta lại bâng khuâng nhớ về ngày 19/5 kỷ niệm Ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Sinh thời, cứ đến dịp 19/5, Bác thường dặn các địa phương, cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình, vì Bác lo ngại tốn thời gian, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống nhân dân còn khó khăn. Đúng ngày 19/5, Bác thường đi công tác để tránh những nghi lễ tốn kém vì ngày sinh của Người. Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ tổ chức đánh bắt cá tại ao cá mà Người vẫn hàng ngày chăm sóc để biếu các cụ già, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cho anh em cơ quan phục vụ Bác để cải thiện bữa ăn.

Vào những dịp đó, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan, đoàn thể trong nước và bầu bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết nhân kỷ niệm ngày sinh của mình. Năm 1959, nhân dịp kỷ niệm Ngày sinh 19/5 và kỷ niệm 5 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã lên thăm đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Nói chuyện với đồng bào và cán bộ dự mít tinh ở Châu Thuận, Bác khen ngợi tinh thần đoàn kết kháng chiến cũng như tinh thần đoàn kết sản xuất của tất cả đồng bào, bộ đội, cán bộ Tây Bắc. Bác có thơ chúc và trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Đoàn kết – Thi đua – Thắng lợi”. Bác nhắc nhở bà con dân tộc phải bảo vệ rừng vì rừng là vàng, là bạc, là máy móc cả. Bác đến thăm nông trường Mộc Châu, Bác tặng nông trường mấy câu: Luôn luôn cố gắng/Khắc phục khó khăn/Tiến lên thật hăng/Làm tròn nhiệm vụ”.

Dịp tháng 5/1963, ông Nguyễn Sinh Quế, Bí thư Đảng ủy xã Kim Liên, huyện Đàn (Nghệ An) có dịp ra Hà Nội đến mừng thọ Bác nhân dịp 19/5. Trước khi ông Quế ra về, Bác hỏi thăm về những xã, làng Mậu Tài, Hoàng Trù, Nguyệt Quả rồi Bác trao cho ông Quế và những người cùng đi một gói hạt phượng và Bác dặn “Các chú về chia cho mỗi nơi một ít và nhớ là phải trồng cây nào sống cây ấy”. Ngày nay, về Kim Liên, các trường học, trạm xá, các con đường có những cây phượng tháng 5 về đỏ rực một màu xen lẫn với những cây xà cừ lá xanh mượt mà.

Ngày 19/5/1965, Bác Hồ thọ 75 tuổi, đúng 18h, Trung ương “đột kích” vào chúc thọ Bác. Mọi người đông đủ, một bó hoa tươi trang trọng giữa bàn. Bác đứng dậy vui vẻ hỏi: “Bác muốn biết ai đứng ra chúc thọ hôm nay”? Đồng chí Lê Duẩn tủm tỉm cười, đồng chí Phạm Văn Đồng liếc mắt nhìn sang đồng chí Trường Chinh. Đồng chí Trường Chinh đứng dậy hướng về phía Bác:

– Thưa Bác, nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh của Bác, thay mặt Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, mặt trận và nhân dân cả nước kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu.

Bác đứng lên xúc động: “Bác cám ơn các chú nhưng trong lúc toàn dân đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại tổ chức chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên”.

Bánh kẹo được bày ra, Bác mời mọi người đến dự, mừng thọ Bác tuổi 75, lễ mừng thọ vị Chủ tịch nước đã diễn ra trong bầu không khí ấm cúng, giản dị như thế đó.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh của Người, bà Luy Stơroong – một nữ nhà văn nước Mỹ được vinh dự gặp Bác đã có những lời ca ngợi Bác của chúng ta: “Bác Hồ – hai tiếng mà người dân Việt Nam thường gọi, đó là một vị lãnh tụ giản dị nhất thế giới. Đó là nhà hiền triết đôn hậu hiểu rộng, biết sâu như thánh nhân. Đó là một người thừa trí tuệ che chở hết thảy cho mọi người khi gặp việc bất trắc xảy ra. Đó là người khi hỏi ai thì rất thân mật, cởi mở nhưng khi trả lời ai thì rất mau lẹ và bất ngờ”.

Kỷ niệm Ngày sinh của Bác chúng ta lại càng nhớ Bác, nguyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, cuộc đời Bác mà như nhà thơ Tố Hữu đã ca ngợi:

“… Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng soi những lối mòn…”.

Văn Song
Theo Báo Hòa Bình

Tâm Trang(st)

Chuyện kể về bức tượng Bác Hồ bằng đồng đầu tiên

Hơn một năm sau ngày Bác mất, nhà điêu khắc Lê Qùy đã nảy ra ý tưởng đúc tượng Bác Hồ bằng đồng. Chỉ sau hai tháng miệt mài, các nghệ nhân làng Chè Đông đã cho ra đời tác phẩm.

Làng Chè Đông, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa là ngôi làng nổi tiếng với nghề đúc đồng từ thời Lý. Vì thế ngay khi ý tưởng của nhà điêu khắc Lê Qùy được khởi xướng, huyện đã chọn làng Chè Đông là nơi thực hiện sứ mệnh vinh dự là đúc tượng lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

buc-tuong-dong-a
Cụ Nguyễn Văn Mơi, một trong những người tham gia đúc tượng
Bác Hồ bằng đồng đầu tiên.

Chúng tôi trở về làng Chè Đông để ghi lại câu chuyện về sự ra đời của pho tượng Bác Hồ đúc bằng đồng ngày 6/6/1970, dưới bàn tay và công sức của nhân dân nơi đây. Những người tham gia đúc tượng Bác Hồ ngày ấy chỉ còn lại vài cụ. Các cụ giờ đây cũng đã ngoài 80 tuổi cả rồi, thế nhưng khi kể về những ngày tháng làm tượng Bác, cụ Nguyễn Văn Mơi (86 tuổi) vẫn nhớ như in như mới chỉ diễn ra hôm qua. Thời bấy giờ cụ Mơi đang giữ chức vụ Phó Chủ tịch xã, cụ cũng chính là người vinh dự cùng tham gia đúc tượng Bác.

Theo lời cụ Mơi kể thì nhân dân coi việc đúc tượng Bác là niềm tự hào, vinh hạnh lớn đối với họ nên ngay từ khi phát động việc quyên góp đồng để đúc tượng Bác Hồ, bà con đã ùn ùn kéo tới, người chiếc mâm, người cái nồi, bát…chẳng mấy chốc lượng đồng không những đủ mà còn dư rất nhiều.

Sau khi đã kêu gọi đủ số đồng, cán bộ, đảng viên trong xã đã họp lại và mời đồng chí Đặng Ích Bích và Lê Văn Duân chủ trì đảm nhiệm trọng trách chính cùng với hơn 20 nghệ nhân khác nữa sẽ tham gia đúc tượng Bác. Khó khăn nhất là chưa có nơi nào đúc tượng Bác để có phiên bản nghiên cứu, cuối cùng nhà điêu khắc Lê Qùy được phân công chịu trách nhiệm việc phác họa hình ảnh Bác Hồ.

buc-tuong-dong-b
Bức tượng Bác nặng 3,7 tạ, cao 1,3m.

Việc phác họa hình ảnh Bác được hoàn thành thì mọi người bắt tay vào việc lên khuôn đúc. Khâu này đòi hỏi kỹ thuật khá cao, phải chọn được thứ đất làm sao cho phù hợp, mất nhiều thời gian và công sức. Xong khuôn đúc là bắt đầu cho việc đổ đồng để đúc. Các nghệ nhân vào các vị trí được phân công của mình, 8 lò đúc, mỗi lò 3 nghệ nhân: 2 nghệ nhân thổi còn 1 nghệ nhân đổ đồng. Các lò bắt đầu nổi lửa cùng lúc, hơn 1 tiếng đồng hồ đồng bắt đầu chảy ra, các nghệ nhân gạt xỉ nổi lên bề mặt sau đó được sự phân công của thợ cả, đồng được rót vào liên hoàn cho đến khi đầy khuôn.

Các nghệ nhân miệt mài làm ròng rã cả ngày lẫn đêm dồn tất cả tình cảm và tâm huyết của mình vào bức tượng chân dung Bác mà quên hết mọi mệt mỏi, khó nhọc. Hơn 2 tháng, kiệt tác về bức tượng Bác đã được hoàn thành trong sự mong đợi của nhân dân.

Bức tượng Bác Hồ thành công trong niềm hạnh phúc của các nghệ nhân và sự vui sướng hân hoan vô bờ của người dân trong xã.

Cùng là người tham gia trong việc đúc nên bức tượng Bác, cụ Mơi hết sức xúc động khi nghĩ về giây phút hạnh phúc đó, cụ cho biết: “Cả Tổ Nghệ nhân lúc đó khoảng hơn hai chục người với 8 lò nấu đồng, tôi phụ trách lò số 6. Cái khó thời bấy giờ là tất cả mọi thứ đều làm bằng thủ công, lò thổi bằng bể chứ không như bây giờ dùng quạt máy vì thế phải cố gắng làm sao để đồng không bị khê, phải lọc đồng bằng tro cho đồng được tinh khiết. Các động tác phải nhịp nhàng ăn khớp, khi đổ đồng phải đổ liên tục. Chỉ cần làm sai một vài quy trình và động tác thì bức tượng sẽ bị thất bại, không những thế có thể gây cháy bỏng vì thế tất cả mọi người ai cũng cố gắng tập trung để hoàn thành bức tượng Bác một cách hoàn hảo nhất”.

“Những ngày làm tượng Bác lúc nào người dân cũng tập trung rất đông để giúp sức, buổi tối thì mọi người quây quần lại chuyện trò và cổ vũ đội nghệ nhân làm việc nên không khí những ngày đó trong làng lúc nào cũng như vui hội. Ai nấy đều rất phấn khởi mong chờ ngày được nhìn thấy bức tượng Bác Hồ được làm nên bằng tâm huyết, công sức, bàn tay của nhân dân làng Chè Đông. Ngay cả bản thân chúng tôi những người trực tiếp tham gia đúc tượng Bác cũng rất háo hức chờ đợi cái giây phút hoàn thiện thành quả của mình. Chính vì thế mà chẳng ai bảo ai đều cố gắng hết mình, làm cẩn thận và hoàn chỉnh từng chi tiết”, cụ Mơi cho biết thêm.

buc-tuong-dong-c
 Bức tượng Bác Hồ thể hiện tấm lòng tôn kính của nhân dân
đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.

Những năm đó, huyện Thiệu Hóa chưa được hình thành mà 15 xã bên này gọi là Thiệu Yên thì thuộc huyện Yên Định còn nửa kia gọi là Đông Thiệu thuộc huyện Đông Sơn. Vì thế sau khi bức tượng được hoàn thành đã được đưa lên huyện Yên Định trưng bày suốt hơn 20 năm; cho đến năm 1997 thành lập huyện Thiệu Hóa, lãnh đạo ở đây mới lên Yên Định xin được nhận lại bức tượng Bác Hồ, thành quả của nhân dân Thiệu Trung.

Vào năm 1998, nhân dân xã Thiệu Trung đã xin mang tượng Bác về làm mẫu đúc một bức tượng giống hệt bức tượng cũ đặt ở hội trường xã đánh dấu một sự kiện lịch sử để con cháu trên mảnh đất này đời đời không quên trên quê hương Thiệu Trung, bức tượng Bác Hồ bằng đồng được ra đời lần đầu tiên.

Ông Lê Duy Sơn, Trưởng Phòng Văn hóa huyện Thiệu Hóa cho biết: “Bức tượng đồng Bác Hồ được các nghệ nhân của xã Thiệu Trung đúc năm 1970 có chiều cao 1,3m, nặng 3,7 tạ đồng. Hiện nay đang được lưu giữ và trưng bày tại Nhà Truyền thống của huyện. Đây được coi tấm lòng thành kính của nhân dân đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam”.

Nguyễn Thùy – Duy Tuyên
Theo dantri.com.vn

Tâm Trang (st)