Điện mừng nhân kỷ niệm một nǎm cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Triều Tiên (28-6-1951)

Kính gửi Chủ tịch Kim Nhật Thành,
Nước Cộng hoà Nhân dân Triều Tiên,

Nhân ngày kỷ niệm Triều Tiên kháng chiến một nǎm, tôi xin nhân danh tôi và thay mặt cho Chính phủ, quân đội cùng nhân dân Việt Nam kính chúc Ngài mạnh khoẻ và nhờ Ngài chuyển lời chúng tôi thân ái chúc Chính phủ, quân đội, nhân dân quý quốc và quân chí nguyện Trung Quốc.

Chúng tôi chắc rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ngài, với sự đoàn kết và anh dũng của nhân dân và quân đội quý quốc, thêm vào sự giúp đỡ của nhân dân và quân chí nguyện Trung Quốc, cùng sự đồng tình sốt sắng của nhân dân toàn thế giới, cuộc kháng chiến của Triều Tiên nhất định thắng lợi.

Hai dân tộc Triều – Việt đều ở trong đại gia đình dân chủ mới, đều đang kháng chiến cứu nước, đều có những kẻ thù chung là đế quốc xâm lược do Mỹ cầm đầu, cho nên thắng lợi của nhân dân Triều Tiên cũng là thắng lợi của nhân dân Việt Nam, thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng là thắng lợi của nhân dân Triều Tiên. Cuộc kháng chiến của hai dân tộc ta sẽ trường kỳ gian khổ. Nhưng chúng ta đều cố gắng, đều đoàn kết, đều kiên quyết, cho nên thắng lợi cuối cùng nhất định về tay hai dân tộc chúng ta. Do đó mà hai dân tộc ta thiết thực giúp sức vào sự nghiệp bảo vệ dân chủ và hoà bình thế giới.

Tôi kính gửi Ngài lời chào thân mến và quyết thắng.

HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 14, ngày 28-6-1951.
cpv.org.vn

Vận động nguỵ binh (30-6-1951)

Trên chiến trường Liên khu III vừa rồi, nhiều nguỵ binh đã bỏ Pháp mà quay về với Tổ quốc. Có những nơi như đồn Bến Xanh anh em nguỵ binh giết tên chỉ huy Pháp và trói 3 tên lính Pháp rồi đưa cả giặc cả súng sang hàng ngũ ta. Như vậy nên bộ đội ta lấy được mấy vị trí mà không mất một viên đạn, không tốn một giọt máu.

Có kết quả đó là vì:

– Bộ đội ta có chính sách ưu đãi nguỵ binh đã giác ngộ.

– Chính phủ ta có chính sách khoan hồng với những người ấy.

– Đồng bào và cán bộ địa phương khéo vận động nguỵ binh.

Hồ Chủ tịch thường nói: “Trừ bọn đại Việt gian ra thì người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc. Đại đa số nguỵ binh đều vì giặc áp bức lừa gạt mà theo giặc. Chúng ta chịu khó và khôn khéo khêu gợi lòng ái quốc của họ thì nhất định họ sẽ quay về với kháng chiến”.

Thật vậy. Ai chẳng biết kháng chiến là vì dân vì nước. Ai cũng biết Tây là ác và theo Tây là cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ. Cho nên bổn phận của mỗi một đồng bào ở vùng tạm bị chiếm là chịu khó gần gũi nguỵ binh. Giải thích cho họ rồi kéo họ về với ta. Đó là một cách tham gia kháng chiến rất thiết thực.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1851, ngày 30-6-1951.
cpv.org.vn

Dạy tốt, học tốt theo lời Bác Hồ dạy

QĐND – Sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang đứng trước bước ngoặt quan trọng: Tự vượt chính mình để làm theo lời Bác Hồ dặn: Dù khó khăn, gian khổ đến đâu cũng phải thi đua “dạy tốt, học tốt”, “trồng người” vì lợi ích trăm năm…

Năm học vừa qua, toàn ngành giáo dục đã có sự khởi động cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, được dư luận đồng tình ủng hộ. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cũng được triển khai đều khắp, nội dung thiết thực với công tác dạy và học. Đã có sự chuyển biến mới trong các kỳ thi cùng với tăng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục… Phát huy kết quả bước đầu đó, đáp ứng cao hơn yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, trong năm học mới, toàn ngành giáo dục tiếp tục triển khai mạnh mẽ cuộc vận động: Nói không với tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục và mở rộng thêm: Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp của học sinh.

Đó là yêu cầu rất cao, đòi hỏi mỗi nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục rèn luyện tư cách, phẩm chất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chấp hành pháp luật, không vi phạm đạo đức nhà giáo, thường xuyên tự học, nâng cao trình độ. Các học sinh, sinh viên sẽ triển khai các hoạt động theo chủ đề với trọng tâm là tăng cường ý thức và ý chí học tập vì đất nước, vì bản thân, tu dưỡng đạo đức, xây dựng nếp sống văn minh, tuân thủ nội quy nhà trường và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia công tác xã hội và các hoạt động tình nguyện. Phát triển hệ thống khảo thí và kiểm định chất lượng, tiếp tục đổi mới công tác thi, kiểm tra đánh giá theo yêu cầu phản ánh đúng chất lượng. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Nâng cao năng lực của hệ thống quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương và năng lực quản lý của các trường. Củng cố và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, phát triển mạng lưới trường, lớp học, phòng học bộ môn, nhà công vụ cho giáo viên; thu hút các nguồn lực cho xây dựng cơ sở vật chất, trường, lớp học, thiết bị giáo dục bằng những chính sách và quy hoạch rõ ràng…

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là yêu cầu rất cao, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, bảo đảm các yêu cầu về giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh; giáo dục thể chất; giáo dục thẩm mỹ; giáo dục hướng nghiệp; giáo dục trật tự an toàn giao thông và giáo dục pháp luật; giáo dục phòng, chống các tệ nạn xã hội, tội phạm; giáo dục bản sắc văn hóa các dân tộc; thực hiện nghiêm chỉnh Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về giáo dục quốc phòng – an ninh và các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác giáo dục quốc phòng – an ninh trong ngành giáo dục và đào tạo.

Bằng tất cả trách nhiệm và tình cảm của mình, cùng với toàn dân, toàn quân ta quyết góp phần tạo chuyển biến mới trên mặt trận diệt giặc dốt, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho đất nước. Các cơ quan, đơn vị có kế hoạch cụ thể, tham gia giáo dục truyền thống anh hùng của đất nước, dân tộc và quân đội ta; giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; giáo dục kiến thức quốc phòng, hướng nghiệp binh nghiệp; nêu gương sáng Bộ đội Cụ Hồ cho học sinh noi theo. Đồng thời, góp phần giảm bớt khó khăn về cơ sở vật chất, trang, thiết bị dạy học; tổ chức xóa mù chữ, phổ cập giáo dục; chủ động phối hợp với địa phương nơi đóng quân phòng, chống thiên tai bão, lũ, khắc phục kịp thời hậu quả, nhanh chóng khôi phục nền nếp dạy và học…

Đất nước trong thời bình song trước diễn biến phức tạp của thời cuộc, sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, theo một hệ thống khoa học. Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà trường quân đội trong năm học mới rất nặng nề. Bằng các bài giảng kết hợp lý thuyết với thực hành, tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm, các nhà trường góp phần rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, truyền thống quyết chiến quyết thắng, nâng cao chất lượng tổng hợp, củng cố và tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng đào tạo. Điều chỉnh nội dung và phương thức đào tạo phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tiếng trống trường vang dậy khắp non sông, mở ra năm học 2007-2008 và ngày “Toàn dân đưa trẻ đến trường”. Năm học mới với quyết tâm nâng cao chất lượng toàn diện, thúc giục toàn quân, toàn dân đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo chuyển biến toàn diện theo lời Bác dạy, đáp ứng yêu cầu nhân lực thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

qdnd.vn

Khổ tận cam lai (3-7-1951)

Từ sau Thế giới chiến tranh thứ hai, ở các nước tư bản kinh tế ngày thêm quẫn bách; nhân dân ngày thêm khổ sở.

Ở Liên Xô công nghệ và nông nghiệp ngày thêm phát triển. Giá hàng hoá đã giảm 4 lần. Sinh hoạt của nhân dân ngày thêm đầy đủ, đẹp đẽ.

Ở Trung Quốc Chính phủ đã dùng máy bay để giết sâu cắn lúa, nhân dân thừa gạo bán ra ngoài, nông dân có ruộng cày… mặc dầu bị Mỹ và bè lũ nó bao vây kinh tế.

Ai cũng khen rằng: Liên Xô đã hưởng hạnh phúc thái bình, Trung Quốc đang tiến lên con đường sung sướng.

Song ta phải nhớ rằng trong mấy chục nǎm nhân dân hai nước ấy đã hy sinh bao nhiêu xương máu vì cách mạng, vì kháng chiến; hy sinh bao nhiêu mồ hôi nước mắt, đã nhịn ǎn nhịn mặc để kiến thiết mới có thành công ngày nay.

Chúng ta đang kháng chiến trường kỳ và gian khổ. Chúng ta nhất định sẽ có ngày “khổ tận cam lai” như nhân dân Trung Quốc và Liên Xô.

“Muốn ǎn quả phải trồng cây,
Có cực khổ mới có ngày vẻ vang”.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1853, ngày 3-7-1951.
cpv.org.vn

Thi đua ái quốc, hiện tại và tương lai vẻ vang của nước ta (5-7-1951)

Thi đua ái quốc nhằm ba mục đích chính: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Tức là làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do.

Muốn đạt mục đích ấy, người người phải thi đua, ngành ngành phải thi đua. Ai làm việc gì, nghề gì cũng thi đua làm cho nhanh, cho tốt, cho nhiều. Chiến sĩ thì thi đua diệt giặc lập công, đồng bào thì thi đua tǎng gia sản xuất.

Sau một thời kỳ tìm tòi và chuẩn bị, và mặc dầu gặp nhiều khó khǎn, thi đua ái quốc của ta đã có kết quả đầu tiên. Kết quả tuy còn nhỏ, nhưng nó như con én báo hiệu mùa xuân. Nó là cái đà cho kết quả to lớn sau này.

Về bộ đội, thi đua đã đem lại những trận thắng lợi ở Biên giới, ở Trung du, ở Bình Trị Thiên, ở Liên khu III, v.v..

Về nông nghiệp, thi đua đã làm cho đồng bào ta tránh khỏi nạn đói. Ta đã có những chiến sĩ nông nghiệp kiểu mẫu.

Về công nghiệp, thì trong đợt thi đua để chúc thọ Hồ Chủ tịch, mừng Mặt trận Liên – Việt và Đảng Lao động Việt Nam (đợt đầu của phong trào thi đua sản xuất, lập công, đề cao chiến sĩ), anh chị em công nhân đã đạt được nhiều thành tích. Những thành tích đó, xem qua có vẻ khô khan, nhưng xem kỹ thì rất thú vị. Như một cái vườn mênh mông, tươi tốt, mới có một vài nụ hoa chớm nở, song chắc rồi đây vườn sẽ khai hoa kết quả đầy cả góc trời.

Trong 19 xí nghiệp, nǎng suất chung đã tǎng từ 11,35% đến 80%. Riêng từng ban, thì có ban tǎng đến 260%. Tính từng người, thì có người tǎng đến 290%.

Theo lời anh chị em công nhân, sở dĩ được như vậy là:

– Nhờ có kế hoạch thiết thực và có kiểm điểm hằng ngày, phê bình và bổ khuyết kịp thời.

– Vì cố gắng, biết xếp đặt công việc ngǎn nắp, chịu khó tìm tòi, có sáng kiến.

Những điều đó, cố gắng làm thì được, chứ đâu phải như chuyện “đội đá vá trời”. Dưới đây, xin kể vài thí dụ:

Anh Nguyễn Khắc Chỉnh, biết xếp lại nồi hơi, công việc đã dễ dàng hơn, mỗi ngày lại tiết kiệm được 200 cân than.

Anh Hồ Bá Cương, dùng cào sắt thay cào gỗ, mỗi ngày tiết kiệm được 15 cân vôi.

Anh Đỗ Vǎn Trị, thợ rèn, biết cách sắp đặt, công việc cả ban khi trước phải làm 32 giờ, nay chỉ cần 12 giờ.

Chị Hạnh, thợ giấy, biết hợp lý hoá việc xeo giấy, trước kia 5 động tác, nay chỉ cần 3, trước kia một ngày được 700 tờ, nay được 1.594 tờ.

Xưởng dệt Độc lập, ban mắc, trước kia một ngày được 216 thước, nay được 318 thước.

Ban cắt xưởng quân nhu, nhờ tính toán kỹ lưỡng, dôi được bốn phần trǎm vải cho bộ đội.

Nói tóm lại: vì sự cố gắng của các nam nữ chiến sĩ lao động, mà tiết kiệm được vật liệu, tiết kiệm được thời giờ, đỡ được khó nhọc, đồng thời sản xuất được nhiều lương thực, nhiều súng ống, nhiều vải, nhiều giấy cho bộ đội và nhân dân. Đó chẳng phải là hiện tại và tương lai tốt đẹp ư?

Nếu mọi người đều cố gắng thi đua, thì công việc tiêu diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm sẽ mau đến ngày hoàn toàn thắng lợi.

Trong phong trào thi đua này, anh em công chức, giáo viên, học sinh các nơi như Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Cạn, v.v., đều hǎng hái tham gia việc sửa đường, đào kênh và đã có thành tích khá. Thế là trí thức lao động hoá. Đó là một điều đáng khen ngợi và nên khuyến khích cho phát triển thêm.

Trong thành công, ta vẫn thấy còn khuyết điểm. Những khuyết điểm chính là:

Hướng dẫn thiếu thống nhất.

Chương trình còn nhiều nơi chưa sát.

Kế hoạch thiếu chu đáo, tỉ mỉ.

Biết làm nhanh, nhưng chưa biết làm tốt.

Thi đua nơi thì thiếu bền bỉ, nơi thì làm quá sức, nơi thì chưa tự động.

Đó là vì tư tưởng thi đua chưa thấm nhuần, thấu suốt mọi người, vì cán bộ giải thích kém.

Chúng ta phải sửa chữa ngay những khuyết điểm ấy, để đẩy phong trào thi đua lên cao hơn nữa, rộng khắp hơn nữa, và đạt những kết quả to lớn và tốt đẹp hơn nữa.

C.B.

Báo Nhân dân, số 15, ngày 5-7-1951.
cpv.org.vn

Nói thật mất lòng (9-7-1951)

Bà Phintơn (Filton) là một vị giáo sư triết học người Anh. Hồi tháng 6, bà cùng đoàn đại biểu Phụ nữ Dân chủ Quốc tế sang thǎm Triều Tiên.

Khi trở về nước, bà đã trình bày trước dân Anh những tội ác của quân đội Mỹ và Anh ở Triều Tiên, với những chứng cớ rõ ràng. Dân chúng Anh rất cǎm tức Chính phủ Anh và gây nên phong trào đòi quân đội Anh rút khỏi Triều Tiên.

Chính phủ phản động Anh thấy vậy, bèn cách chức giáo sư của bà, vu cho bà phạm tội phản quốc và toan đưa bà ra trước toà án.

Nghe tin ấy, dân chúng Anh càng cǎm tức Chính phủ, và quyết ủng hộ bà Phintơn.

Bà Phintơn nói: “Chính phủ Anh cách chức giáo sư của tôi, song không thể cách chức làm người của tôi. Họ có thể cúp tiền lương của tôi, song không thể ngǎn trở tôi nói thật”.

Cả một đế quốc xưng hùng, xưng bá, mà sợ một người đàn bà nói thật. Uy quyền của phản động là như thế đó.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1857, ngày 9-7-1951.
cpv.org.vn

Công trái (11-7-1951)

Nước ta có công trái, Liên Xô cũng có công trái.

Liên Xô ra công trái để kiến thiết xã hội chủ nghĩa.

Nước ta ra công trái để kháng chiến kiến quốc.

Công trái Liên Xô đại thành công: Chính phủ định vay 30.000 triệu. Chỉ trong 15 hôm, nhân dân đã cho vay đến 34.453 triệu.

Công trái của ta cũng thành công, song không đại. Chỉ đầy sổ Chính phủ vay, có nơi nhiều hơn, có nơi ít hơn. Thành thử cộng lại không vượt mức như ở Liên Xô.

Nhân dân Liên Xô rất hǎng hái. Nhân dân ta cũng rất hǎng hái.

Kết quả công trái khác nhau là vì cán bộ Liên Xô khéo tuyên truyền, giải thích, cổ động. ở ta, nơi nào cán bộ giỏi, thì kết quả cũng to. Song nhiều nơi cán bộ kém giải thích, tuyên truyền cổ động. Thậm chí có nơi cán bộ còn dùng cách quan liêu, mệnh lệnh.

Kết luận: Cán bộ chính quyền và đoàn thể ta phải tẩy cho sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh, nếu không thì sẽ bị dân tẩy.

Bất kỳ việc to việc nhỏ, phải chịu khó giải thích cho mọi người dân hiểu rõ thì dân sẽ vui lòng làm, mà việc gì cũng thành công (Lời Hồ Chủ tịch).

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1859, ngày 11-7-1951.
cpv.org.vn

Phê bình (12-7-1951)

Bài trước nói về tự phê bình. Bài này nói về phê bình. Vì chúng ta phải “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”.

“Thuốc đắng thì dã tật, nói thật thì được việc”. Nói thật tức là phê bình.

Khuyết điểm cũng như một chứng bệnh. Phê bình là thuốc để chữa các bệnh khuyết điểm. Thí dụ: tôi có vết nhọ ở trán, tự tôi không trông thấy. Đồng chí bảo cho tôi biết. Thế là đồng chí phê bình tôi. Mục đích của đồng chí là muốn cho mặt tôi sạch sẽ, chứ không phải để mỉa mai tôi. Vì vậy đồng chí phải nói cho rõ ràng, thiết thực: vết nhọ to hay nhỏ ? Nó ở phía nào ? v.v.. Và khi nói, nên có thái độ đúng mực. “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa tai nhau”. Về phần tôi, khi đã biết có vết nhọ thì phải lo rửa sạch.

Nếu đồng chí đã bảo, mà tôi không vui lòng rửa sạch, (thậm chí còn oán trách đồng chí), tức là tôi cố ý mang vết nhọ suốt đời. Hai điều ấy đều vô lý.

ý nghĩa phê bình, giản đơn là như vậy.

Chúng ta vì dân, vì nước mà làm cách mạng. Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình.

Mục đích phê bình là cốt lợi cho công việc chung.

Nguyên tắc phê bình là phải nhằm vào tư tưởng và công tác. Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm. Thí dụ: Vì thiếu quan điểm quần chúng (tư tưởng), nên trong công tác mắc bệnh mệnh lệnh, quan liêu.

Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang, đúng mực. Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa. Thuốc phải nhằm đúng bệnh. Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng”.

Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ. Cấp dưới có quyền phê bình cấp trên. Nhân dân có quyền phê bình cán bộ, phê bình chính quyền, Đảng và các đoàn thể. Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng nhau tiến bộ.

Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình. Song phê bình phải đường hoàng, chính đáng, quyết không nên “thầm thì thầm thụt”, viết thư giấu tên, như một vài cán bộ ở T.N. đã làm.

Đảng viên và cán bộ, Đảng, các đoàn thể nhân dân và chính quyền cần phải hoan nghênh và khuyến khích nhân dân phê bình. Nếu phê bình sai, thì phải giải thích. Phê bình đúng, thì phải công khai thừa nhận và sửa chữa.

Dìm phê bình hoặc phớt phê bình là khinh rẻ ý kiến nhân dân, là trái với dân chủ, và rất có hại, cũng như có bệnh mà từ chối uống thuốc.

Phê bình và tự phê bình là công việc thường xuyên. Ngừng phê bình và tự phê bình tức là ngừng tiến bộ, tức là thoái bộ.

Người ta luôn luôn cần không khí để sống. Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần phê bình và tự phê bình thiết tha như người ta cần không khí.

Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, tiến bộ mãi, càng gặp nhiều gian khổ càng mạnh mẽ thêm, là nhờ có phê bình và tự phê bình. Cho nên toàn thể đảng viên và cán bộ cần làm gương mẫu thật thà phê bình và tự phê bình để tự giáo dục mình và giáo dục nhân dân, để làm tròn sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

C.B.

Báo Nhân dân, số 16, ngày 12-7-1951.
cpv.org.vn

Những điều Bác Hồ dạy về cách làm báo

Ngày 21/6/1925, Tờ báo Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính ra số đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam. Các tổ chức cách mạng ở trong nước dùng tờ báo này để tuyên truyền, giác ngộ và giáo dục quần chúng, làm cầu nối truyền ánh sáng tư tưởng cách mạng của Bác về cho dân tộc, góp phần to lớn cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

anh bac ho voi nha baoHồ Chủ tịch chụp ảnh lưu niệm với các nhà báo trong nước và nước ngoài đưa tin và chụp ảnh về Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 (9/1960). Ảnh: T.L

Theo giáo sư, tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn, Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, trong khoảng 50 năm cầm bút, Bác đã viết hơn 2.000 bài báo, 276 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký, Bác có gần 200 bút danh. Người đã để lại cho các thế hệ nhà báo nhiều bài học lớn về nghề báo, trong đó có cách viết, cách nói.

Sở dĩ Bác Hồ hết sức chú trọng đến cách nói và cách viết vì đó là công cụ để biểu đạt tư duy, quan điểm và tình cảm của con người với nhau. Quan điểm của Người về phong cách người làm báo rất rõ ràng. Trước khi nói về cách làm báo và viết báo, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến tư cách của người làm báo, coi người làm báo là người chiến sỹ cách mạng trên mặt trận tư tưởng. Người luôn đặt ra những câu hỏi cụ thể: Viết để làm gì, viết cho ai, viết cái gì và viết như thế nào?

Như vậy, Người đã nói dễ hiểu về mục đích, đối tượng phục vụ, nội dung và phương pháp làm báo. Người còn chỉ cho các nhà báo thấy rõ cần phải thường xuyên học tập, suốt đời rèn luyện không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp của mình. Là vị lãnh tụ uyên thâm, thông thạo nhiều ngoại ngữ, Người lại am hiểu nhiều nền văn hóa và dày dạn kinh nghiệm nên đã in đậm dấu ấn tốt đẹp trong các tác phẩm báo chí của mình. Nhà báo lão thành Phan Quang nhận xét: “Bác đã thể hiện bằng Pháp văn rất nhuần nhị, trí tuệ và hiện đại. Qua tiếng Pháp, những áng văn chính luận khúc triết, những truyện ký tài hoa, những tiểu phẩm sắc sảo, pha chút hài hước làm say mê lòng người(1). Khi đọc những tác phẩm của  Bác Hồ, nhà văn Hoài Thanh viết: “Có một điều lạ hết sức. Tôi cứ nghĩ không biết làm sao mà giữa bao nhiêu công việc bề bộn, Bác lại có thể viết được nhiều như vậy. Những anh, chị em còn trai tráng và chuyên nghề viết cũng ít người viết được như thế. Chưa nói gì khác, riêng khối lượng sức lao động đó cũng là một bài học lớn đối với chúng ta. Nhưng chuyên cần mà không vất vả. Sự làm việc chuyên cần hình như đã biến thành một điệu sống tự nhiên. Câu văn của Bác không lúc nào thấy khắc khổ. Nó không khô khan mà còn chứa chan tình cảm”(2).

Với quan niệm báo chí cách mạng là một mặt trận chiến đấu của cách mạng, Bác Hồ chỉ rõ: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Bác nói thêm: “Bài báo là tờ hịch cách mạng. Đã là nhà báo, chiến sỹ cách mạng, bất cứ người cầm bút nào trên mặt trận báo chí cách mạng phải hiểu rõ mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng là gì? Từng giai đoạn lịch sử đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau. Khi đất nước còn trong vòng nô lệ phải làm thức tỉnh và động viên nhân dân đứng lên làm cách mạng đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân. Khi đã có chính quyền thì động viên sức mạnh toàn dân tộc giữ gìn chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng, tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập thống nhất đất nước, đưa đất nước tiến lên một giai đoạn phát triển mới. Tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam (ngày 8/9/1962 Người chỉ rõ: “Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của báo chí đòi hỏi người làm báo phải có đủ phẩm chất của người cán bộ cách mạng, không ngại gian khó, hy sinh (kể cả hy sinh tính mạng), vì nhân dân phục vụ. Người làm báo phải dùng cây bút, trang giấy làm vũ khí sắc bén chiến đấu cho mục đích vẻ vang của cách mạng, chứ không phải làm báo để lưu danh thiên cổ, muốn viết cho ai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cũng tại Đại hội II Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nhận xét rằng, ưu điểm cũng còn nhiều và một trong những khuyết điểm đó là nắm vấn đề chính trị không được chắc chắn. Bác căn dặn: “…tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Ở Đại hội lần thứ III Hội nhà báo Việt Nam (1962) Bác  lại nói: “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng,  cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu thực tế, đi sâu quần chúng lao động. Bác còn nói: “Báo chí của ta đã có một vị trí quan trọng trong dư luận thế giới. Địch rất chú ý, bạn rất quan tâm đến báo chí ta. Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người am hiểu tuyệt vời sức mạnh của ngôn từ và sự tác động của nó vào đời sống tinh thần, đạo đức, tư tưởng, tình cảm và hành động của quần chúng. Người từng nói: “Tờ báo chỉ là giấy trắng, mực đen mà thôi. Nhưng, với giấy trắng, mực đen ấy, người ta có thể viết những tối hậu thư, người ta có thể viết những bức thư yêu đương. Người cũng nói: “Ngòi bút của các bạn cũng là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà. Từ quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các nhà báo phải sử dụng đúng sức mạnh của ngòi bút, ngôn từ để phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

Người cũng đã nhiều lần chỉ rõ: “Đối tượng của tờ báo là đại đa số quần chúng, một tờ báo không được đa số ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo; muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là của mình thì: nội dung  tức là các bài viết  phải đơn giản, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát và hình thức  – tức cách sắp đặt các bài, cách in  phải sạch sẽ sáng sủa.

Với tư cách là một nhà báo lỗi lạc, dày dạn  kinh nghiệm và đức tính khiêm tốn, Bác đã truyền đạt cho những người viết báo một cách đơn giản, dễ hiểu: “Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm. Chớ tự ái, cho mình là tuyệt rồi. Tự ái là tự phụ, mà tự phụ là kẻ địch ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta. Đó là bài học lớn cho những người làm báo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất của báo chí cách mạng là ngoài tính chiến đấu, tính khoa học, tính giai cấp, tính chân thực, khách quan, còn phải được thể hiện một cách đơn giản, dễ hiểu, đại chúng, sinh động để báo chí làm tròn nhiệm vụ mà LêNin từng chỉ rõ: Tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức và giáo dục tập thể để đa số những người bị bóc lột, bị áp bức ghê gớm của chủ nghĩa tư bản trên thế giới cũng có thể hiểu được. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên các nhà báo: “Phải học cách nói, tiếng nói của quần chúng, chớ ham dùng chữ. Bác phê phán lối viết lằng nhằng, tràng giang, đại hải, dây cà, dây muống, không hợp với trình độ và thời gian của quần chúng; thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng thành tích mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta; thiếu cân đối, tin nên dài thì viết  ngắn, nên ngắn lại viết dài, khuyết điểm nặng nhất là dùng từ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng.

Nhà văn hoá Hà Huy Giáp viết: “Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ Chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc. Cũng như Lê-nin, Người dùng rất ít chữ mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được(3).

Tìm hiểu những điều Bác dạy, những người làm báo phải luôn ý thức được báo chí ta phải phục vụ công  nông  binh, phục vụ quần chúng. Làm sao để tờ báo, tạp chí, sách đến được từng người, từng nhà, nhân dân ta, kiều bào ta và bạn bè thế giới. Đồng thời làm sao để quần chúng tự nguyện, tự giác đến với báo chí nhiều nhất. Đó là nguyên lý của báo chí cách mạng. Vì thế, phải nói những điều thiết thực, đúng đường lối chính trị, ít tếu, viết, vẽ dễ hiểu, phổ thông, trình bày rõ ràng, ít tiếp sang các trang khác, đặc biệt phải viết ngắn vì đồng bào không có thì giờ đọc dài, người lính không cho phép xem lâu.

Những lời căn dặn của Người về báo chí và những bài học kinh nghiệm về cách nói, cách viết báo càng suy ngẫm, càng soi rọi vào thực tiễn càng thấy vẫn nguyên giá trị truyền nghề cho các thế hệ làm báo ở nước ta hôm nay và mai sau.

Theo Nguyễn Văn Thanhwww.baohoabinh.com.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Quân đội thực dân Pháp (14-7-1951)

Cuối nǎm ngoái, cựu Thủ tướng Pháp là Raynô nói: Bộ đội Pháp ở Việt Nam đã chết và bị thương 40.486 tên.

Vừa rồi, Bộ trưởng thuộc địa Pháp nói: hơn 1.000 sĩ quan Pháp đã chết ở Việt Nam (2 chàng ấy chỉ nói 1 phần 3 thôi).

Binh sĩ Pháp chết nhiều, nhân dân Pháp chống chiến tranh tợn. Vì vậy mặc dầu thực dân tuyên truyền lừa bịp và tǎng lương cho lính, thanh niên Pháp vẫn không muốn sang chết ở Việt Nam. Một thí dụ: báo Hành động (L’ áction) ngày 26-3 nói:

“Tháng 10 nǎm ngoái, hơn 10 vạn thanh niên Pháp phải vào bộ đội, mà chỉ có hơn 700 người tình nguyện sang Việt Nam. Còn về sĩ quan, thì trong 84 người, chỉ có 4 người tình nguyện, 80 người là bắt buộc phải đi, không đi thì bị tù và bị cách chức.

Chính 3 viên quan nǎm là Sáctông, Lơpagiơ, Đuyrít bị ta bắt trong trận giải phóng biên giới cũng phải nhận rằng: “Chúng tôi bị tuyên truyền nhồi sọ. Nay chúng tôi thấy rõ rằng chiến tranh ở Việt Nam là không có mục đích, không có nghĩa lý, không có hy vọng”.

Thống chế Xtalin nói: “Tướng lĩnh Mỹ và Anh không kém ai, song họ thất bại là vì lính Mỹ và Anh biết rằng chiến tranh chống Triều Tiên và Trung Quốc là vô lý”.

Ta cũng có thể nói: Thực dân Pháp thất bại là vì binh lính Pháp biết rằng chiến tranh ở Việt Nam là vô lý. Và cũng vì vậy mà ta nhất định thắng.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, 1861, ngày 14-7-1951.
cpv.org.vn

Cộng sản (17-7-1951)

Trước ngày cách mệnh Nga thành công, ở Âu Mỹ, hễ ai nói động đến quyền lợi của giai cấp tư bản thì bị mắng là “bọn xã hội chủ nghĩa”. Có khi bị bỏ tù nữa.

Ngày nay, đã có nước cộng sản (Liên Xô) và nhiều Đảng Cộng sản, thì ở các nước tư bản hễ ai nói động đến đế quốc chủ nghĩa và thực dân đều bị gọi là “cộng sản”.

Xin bà con lắng nghe câu nói này:

“22 nǎm công tác ở Viễn Đông, tôi thấy rất rõ rằng: chế độ thực dân là xây dựng trên chiến tranh. Nó nhờ chiến tranh mà sống. Nó còn thì cứ còn chiến tranh. Cách tốt nhất để chấm dứt chiến tranh là:

– Nhận Trung Quốc vào Liên hợp quốc;

– Quân ngoại quốc phải rút khỏi Triều Tiên;

– Quân Anh phải rút khỏi Mã Lai;

– Quân đội Pháp phải rút khỏi Việt Nam”.

Người cộng sản nào nói như vậy?

Thưa không. Đó không phải là người cộng sản nào nói, mà chính là lời một vị lãnh tụ công giáo, Giám mục Enđicốt (Endicot) người Gia Nã Đại, nói trước Đại hội hoà bình thế giới hôm 24-2-51.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1863, ngày 17-7-1951.
cpv.org.vn

Dân Mỹ chống chiến tranh (19-7-1951)

Đế quốc Mỹ ra sức gây chiến.

Song nhân dân Mỹ thì muốn hoà bình. Vài thí dụ:

Các đại biểu Quốc hội Mỹ như các ông Cáppơha (Capehart), Pho (Ford), Thai (Thyé), Đugla (Douglas), v.v… tuyên bố rằng 9 phần 10 cử tri ở các tỉnh đều chống chiến tranh xâm lược Triều Tiên.

Báo Tập tin tức Mỹ điều tra ý kiến của dân, kết quả thấy 9 phần 10 đòi rút quân Mỹ ra khỏi Triều Tiên.

Báo Công nhân Mỹ đǎng nhiều thư của bạn đọc. Một phụ nữ viết:

“Nếu để cho lũ tướng tá tếu kia tự đi đánh, thì chiến tranh sẽ không kéo dài, mà con em chúng ta sẽ được ở nhà…”.

Một phụ nữ khác viết: “Ai bảo chúng ta đi đánh nửa thế giới này để bảo vệ nửa thế giới kia? Mà nửa thế giới kia có nhờ, có muốn ta bảo vệ đâu? Đó chỉ là cố ý đưa con em chúng ta đi chết đó thôi”.

Một bà viết thư cho Tổng thống Mỹ:

“Ông nói rằng nhân dân ủng hộ chính sách chiến tranh của ông… Tôi đã nói chuyện với nhiều hạng người, song không một ai tán thành chiến tranh ở Triều Tiên cả. Thưa ông, chúng tôi, dân thành phố cũng như dân thôn quê, đều muốn hoà bình ngay”.

ý dân là ý trời. Đế quốc Mỹ làm trái ý dân, ý trời, cho nên chúng sẽ thất bại.

C.B.

Báo Nhân dân, số 17, ngày 19-7-1951.
cpv.org.vn