Ngày 2 tháng 9: “Việt Nam, sự thật đã thành một nước tự do độc lập”
Thứ tư, 02/09/2009, 00:54 (GMT+7)
Cách đây 78 năm, ngày 2-9-1931, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, tại phiên tòa xét xử lần thứ 7, cảnh sát Hồng Công thừa nhận việc bắt Tống Văn Sơ là bất hợp pháp nhưng việc trục xuất vẫn là hợp pháp. Các luật sư tiếp tục kháng cáo để chống lại âm mưu đẩy Nguyễn Ái Quốc vào tay chính quyền thực dân Pháp.
Ngày 2-9-1945 là một sự kiện trọng đại của dân tộc Việt Nam. Tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước đông đảo đồng bào, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
Ngày 2-9-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên cùng đông đảo kiều bào Việt Nam, một số bạn Pháp và Đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau. Trong bài diễn văn đọc bằng tiếng Pháp, Bác nói: “Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh đã gắn bó ý chí của mọi người Việt Nam từ Bắc chí Nam thành một khối sức mạnh, bất kỳ nguồn gốc họ ở đâu, theo tôn giáo hay thuộc các giai tầng xã hội nào. Trong buổi tối hôm nay, làm sao chúng ta lại không nghĩ tới đồng bào Nam bộ với một tình cảm trìu mến đặc biệt. Nguyện vọng tha thiết nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam là Tổ quốc đang hồi sinh của chúng ta không bao giờ bị chia cắt và không gì chia cắt được… Mong sao tình hữu nghị giữa nước Pháp và nước Việt Nam độc lập và thống nhất trở thành sự thực… Một tình hữu nghị như vậy giữa hai nước chỉ có lợi cho sự phồn vinh của Liên hiệp Pháp và sự bừng nở lý tưởng dân chủ trên thế giới”.
Ngày 2-9-1947, Bác ra lời kêu gọi nhân kỷ niệm ngày Cách mạng và Quốc khánh lần đầu tiên tổ chức trong hoàn cảnh kháng chiến. Bác phân tích: “Cách mạng giải phóng Mỹ 8 năm mới thành công. Cách mạng Pháp 5 năm. Cách mạng Nga 6 năm. Cách mạng Tàu 15 năm mới thành công. Tổ tiên ta chống ngoại xâm đời Trần 5 năm, đời Lê 10 năm mới thắng lợi… Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết và chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn răng chịu khổ, ra sức chiến đấu. Chịu khổ chiến đấu mấy năm để đánh tan ách nô lệ hơn 80 năm vừa qua để xây nền tự do muôn ngàn đời sắp tới, thì cũng bõ công. Tướng sĩ trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều đoàn kết chặt chẽ, cố gắng làm đúng 4 chức Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì cuộc trường kỳ kháng chiến của ta nhất định thắng!”.
Cũng trong ngày 2-9-1947, trên báo Sự Thật, Bác viết bài “Cán bộ và Đời sống mới”, đưa ra nguyên lý: “Cán bộ muốn cho xứng đáng, phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”.
Ngày 2-9-1949, trả lời phỏng vấn một tờ báo của Thái Lan, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam khẳng định: “Bao giờ Việt Nam cũng cần thân thiện với nước Thái, và nước Thái thân thiện với Việt Nam, vì chúng ta là bà con láng giềng”.
Ngày 2-9-1950, trong bài viết “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu” đăng trên báo Sự Thật, Bác “chỉ ra thang thuốc chữa bệnh quan liêu là: Phải đặt lợi ích của dân chúng lên trên hết, trước hết. Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân. Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình. Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.
Ngày 2-9-1969, sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù được Đảng và Nhà nước hết lòng chăm sóc, tập thể các thầy thuốc tận tình cứu chữa, nhưng vào lúc 9 giờ 47 phút, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.
D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 1 tháng 9: “Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng”
Thứ ba, 01/09/2009, 00:57 (GMT+7)
Cách đây 68 năm, ngày 1-9-1941, trên báo Việt Nam Độc Lập đăng “Bài ca phụ nữ” của Nguyễn Ái Quốc, nhắc lại những tấm gương trong lịch sử của phụ nữ Việt Nam kể từ Hai Bà Trưng cho tới Nguyễn Thị Minh Khai để kêu gọi: “…Chị em cả trẻ đến già/ Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh/ Đua nhau vào Hội Việt Minh/ Trước giúp nước, sau giúp mình mới nên/ Làm cho thiên hạ biết tên/ Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng”.
Ngày 1-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời A.Patty, chỉ huy cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ đang ở Hà Nội, đến Bắc Bộ phủ để dự bữa cơm trước Ngày lễ Độc lập. Hồi ức của Patty ghi lại: “Ông Hồ giữ vững quan điểm là trong thời điểm đặc biệt này, Việt Minh là một phong trào dân tộc, bao gồm một cách dân chủ tất cả các đảng phái cách mạng Việt Nam. Tất nhiên ông công nhận, Đảng Cộng sản Đông Dương là một nhân tố lãnh đạo trong phong trào giành độc lập dân tộc, nhưng các đảng viên của họ “trước hết phải là người dân tộc chủ nghĩa, sau đó mới là đảng viên của Đảng”. Ông Hồ muốn được các chuyên gia kỹ thuật Mỹ giúp thiết lập một số công nghiệp mà Việt Nam có khả năng đảm đương được…”.
Ngày 1-9-1959, phát biểu tại lễ phong quân hàm cho một số cán bộ cao cấp của quân đội, Bác căn dặn: “Để xây dựng quân đội tiến lên chính quy đặng phục vụ lợi ích của cách mạng, Chính phủ ta đã trao quân hàm cho cán bộ và chiến sĩ trong quân đội… Để lãnh đạo quân đội tiến bộ không ngừng, các đồng chí cần phải trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, gần gũi quần chúng và gương mẫu về mọi mặt. Dù ở cương vị nào, chúng ta cũng đều phải cố gắng để xứng đáng là người đầy tớ trung thành và tận tụy của nhân dân”.
Ngày 1-9-1961, nói chuyện với Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế đang họp tại Việt Nam, Bác lấy mình làm dẫn chứng: “Tôi chỉ học hết lớp tiểu học. Vì chế độ thực dân và phong kiến đã kìm hãm giáo dục… Về hiểu biết phổ thông, năm tôi 17 tuổi tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên” để so sánh với những tiến bộ xã hội mà thế hệ thanh niên ngày nay đang được hưởng.“Cách mạng Tháng Mười Nga đã soi đường chúng tôi. Chúng tôi đã không sợ thực dân và phong kiến mà hăng hái hoạt động cách mạng và cuối cùng cách mạng đã thắng lợi… Một nhiệm vụ quan trọng nữa của thanh niên trí thức là phát triển giáo dục, trước hết là xóa nạn mù chữ… Trong cuộc đấu tranh diệt giặc dốt, quân chủ lực phải là thanh niên trí thức, dựa vào lực lượng to lớn của nhân dân”.
Và trong lời kết thúc, Bác nói: “Đó là tâm sự của một người thanh niên già đã có một ít kinh nghiệm, thật thà bày tỏ với các bạn thanh niên yêu quý của tôi”.
Đã thành lệ, ngày 1-9 hàng năm, trước ngày Quốc khánh, Bác cùng các nhà lãnh đạo đến Nghĩa trang Mai Dịch đặt vòng hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Ngày 1-9-1969, khi sức khỏe đã giảm sút nghiêm trọng, Bác vẫn nhắc gửi vòng hoa đến Đài liệt sĩ và gửi tặng 2 lẵng hoa cho Đội cảnh sát khu vực 4 quận Ba Đình và Đội bảo đảm giao thông đường bộ I. Đó là những phần thưởng cuối cùng Bác động viên cán bộ và nhân dân.
D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 31 tháng 8 – “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực”
Thứ hai, 31/08/2009, 01:58 (GMT+7)
Cách đây 64 năm, ngày 31-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa lần cuối cùng văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” và làm việc với Ban tổ chức yêu cầu chuẩn bị thật chu đáo để bảo đảm Ngày lễ Độc lập thành công.
Ngày 31-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thủ tướng J.Nerhu chúc mừng Chính phủ Lâm thời Ấn Độ: “Chính phủ Ấn Độ tự do đầu tiên đã thành lập… Tôi tin chắc rằng những dây thân ái giữa hai nước chúng ta sẽ giúp cho việc gây dựng hạnh phúc chung cho hai dân tộc chúng ta. Tôi yêu cầu Ông chuyển đạt cho nhân dân Ấn Độ mới những cảm tình nồng nàn và lòng đoàn kết cảm thông của nhân dân Việt Nam”. Cùng thời gian này, tại nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục các cuộc tiếp xúc tranh thủ sự ủng hộ cho nền độc lập của Việt Nam: tiếp các vị thư ký của Hội nghị 21 nước Đồng Minh đang họp tại Paris; gặp gỡ Đoàn đại biểu Thanh niên Pháp…
Ngày 31-8-1958, đến thăm Khu tập thể của Thành hội Phụ nữ Hà Nội, gặp các cháu bé trong nhà trẻ, Bác căn dặn người lớn: “Các cháu là mầm non của Tổ quốc, là tương lai của xã hội, các cô phải trông nom dạy dỗ các cháu chu đáo”.
Ngày 31-8-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong hàm cấp tướng cho nhiều nhà lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, các Thượng tướng Văn Tiến Dũng và Chu Văn Tấn, các Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà, Song Hào…
Ngày 31-8-1960, Bác Hồ gửi thư cho cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hóa nhân vào năm học mới. Thư nêu rõ: “Văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế…”. Cùng ngày Bác tiếp các vị lãnh đạo trong nước và các đoàn đại biểu quốc tế sang Việt Nam dự Lễ Quốc khánh và Đại hội Đảng. Bác nói: “Ở đây chúng ta là anh chị em một nhà. Chúng tôi mong các đồng chí xem đây như ở nhà” và tặng 2 câu thơ:
“Anh chị em đoàn kết một nhà
Ấy là tình nặng, ấy là nghĩa sâu”.
Ngày 31-8-1963, Bác đến thăm và nói chuyện với Hội nghị Tuyên giáo miền núi. Về công tác tuyên truyền, Bác nói: “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách nào?… Tuyên truyền huấn luyện phải xuất phát từ chỗ nào? Xuất phát từ nhiệt tình cách mạng, tình thương yêu chân thành đồng bào các dân tộc, từ tinh thần hết lòng phục vụ đồng bào các dân tộc… Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải mà nói ngắn gọn những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được… Đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt. Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làm được”.
Ngày 31-8-1969, giữa lúc bệnh tình càng trở nên trầm trọng, Bác Hồ vẫn quan tâm theo dõi tình hình chiến sự và gửi lẵng hoa tặng các chiến sĩ tên lửa Sư đoàn 361 khi được nghe báo cáo thành tích vừa bắn rơi vào ngày hôm trước chiếc máy bay không người lái của Mỹ. Đây cũng là phần thưởng cuối cùng Bác tặng đồng bào và chiến sĩ trước khi từ trần.
D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 30 tháng 8: “Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng”
Chủ nhật, 30/08/2009, 01:39 (GMT+7)
Cách đây 67 năm, ngày 30-8-1942, từ trong một trại giam của bọn quân phiệt Tưởng Giới Thạch tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhờ Vương Tích Cơ, một người Trung Hoa có cảm tình với cách mạng Việt Nam, là người thường đem cơm thăm nuôi, chuyển một bức thư bí mật gửi Lê Quảng Ba, một thành viên Việt Minh đang hoạt động ở vùng biên giới, để nối lại liên hệ với phong trào trong nước.
Ngày 30-8-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi Hội Phật tử Việt Nam” với nội dung: “Nhân ngày lễ Phật rằm tháng bảy, tôi kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo hộ Tổ quốc và đồng bào ta và tôi gửi lời thân ái chào các vị trong Hội Phật tử. Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện. Thế là: Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ dàng mở mang… Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn. Người phải hy sinh đấu tranh, diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết hy sinh của cải, xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ. Trong cuộc kháng chiến cứu nước, đồng bào Phật giáo đã làm được nhiều. Tôi cảm ơn đồng bào và mong đồng bào cố gắng thêm, cố gắng mãi, cho đến ngày trường kỳ kháng chiến thắng lợi, thống nhất, độc lập thành công”.
Ngày 30-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chia buồn tới thân nhân bác sĩ Dubois: “Được tin lão đồng chí Đuyboa vừa qua đời, tôi rất cảm động và thương tiếc. Suốt đời bác sĩ Đuyboa đã nêu tấm gương sáng của một nhà khoa học tiến bộ, một người chiến sĩ đấu tranh bền bỉ chống chính sách phân biệt chủng tộc, vì lý tưởng cao cả, hòa bình, tự do, bình đẳng và tiến bộ của loài người…”.
Ngày 30-8-1964, Báo Nhân Dân đăng bài “Mỹ đang thất bại” (bút danh Chiến Sĩ) điểm lại dư luận phương Tây nói về sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Bài báo khẳng định: “Nếu đế quốc Mỹ tiếp tục khiêu khích, bắn phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì sẽ chịu số phận như thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ”.
Ngày 30-8-1965, Bác gửi thư khen quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 500 máy bay Mỹ và nhấn mạnh: “Giặc Mỹ càng thua đau, càng giãy giụa, chúng còn nhiều âm mưu xảo quyệt và độc ác. Đồng bào, cán bộ và bộ đội ta không được vì thắng lợi mà chủ quan… Hãy phát huy truyền thống Cách mạng Tháng Tám vẻ vang, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, hết lòng hết sức ủng hộ cách mạng miền Nam, đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”.
Ngày 30-8-1969, tình hình sức khỏe của Bác diễn biến rất xấu. Buổi chiều, khi tỉnh lại, Bác hỏi Thủ tướng Phạm Văn Đồng về công việc chuẩn bị lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh và căn dặn: “Các chú nhớ phải bắn pháo hoa mừng chiến thắng để động viên tinh thần chiến đấu của nhân dân”. Bác còn hỏi han tình hình nước sông Hồng và nhắc nhở phải chú ý đề phòng lũ lụt…
D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 29 tháng 8: “Muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao”
Thứ bảy, 29/08/2009, 04:04 (GMT+7)
Cách đây 77 năm, ngày 29-8-1932, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, mặc dù chưa đủ cơ sở luật pháp để trục xuất Tống Văn Sơ khỏi nhượng địa của Anh nhằm đẩy nhà cách mạng Việt Nam vào tay thực dân Pháp, nhưng Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh cũng không chấp nhận để Tống Văn Sơ được phép sang nước Anh, nơi mà Pháp không thể nào bắt được.
Ngày 29-8-1942, ngày đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhập nhà lao huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với thời gian bị giam giữ tại đây kéo dài đến 24-9-1942. Trong khoảng thời gian này, Bác đã làm 22 bài thơ mà bài đầu tiên mang nội dung như một lời tuyên ngôn cho một tinh thần bất khuất và lạc quan: “Thân thể ở trong lao/Tinh thần ở ngoài lao/Muốn nên sự nghiệp lớn/Tinh thần càng phải cao”.
Ngày 29-8-1943, đúng một năm sau khi bị bắt giam vào nhà lao huyện Tĩnh Tây, sau một chặng đường dài đi qua nhiều nhà lao ở nhiều địa phương khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh bị giải từ Thiên Bảo lại trở về huyện lỵ Tĩnh Tây nhưng bị biệt giam hơn 2 tuần, ngày mang gông, đêm cùm chân.
Ngày 29-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời người đứng đầu Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ OSS, đại tá A.Patty, đến ngôi nhà 48 Hàng Ngang để trao đổi về dự thảo văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” và dự kiến tổ chức lễ Tuyên ngôn Độc lập, việc quân đội Trung Hoa Quốc dân Đảng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 18 trở lên, về “chương trình quốc hữu hóa” của Chính phủ Việt Nam đối với một số ngành kinh tế quan trọng.
Cùng ngày, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhờ Patty chuyển tới Tổng thống Mỹ Truman một bức điện với nội dung: “Để bảo đảm có kết quả cho vấn đề mà Ủy ban Liên tịch các nước Đồng minh có nhiệm vụ phải giải quyết ở Việt Nam, yêu cầu để cho phái đoàn Mỹ được làm một thành viên của ủy ban nói trên và đặt quan hệ với Chính phủ chúng tôi… Chúng tôi yêu cầu cho Chính phủ chúng tôi, chính quyền duy nhất hợp pháp ở Việt Nam, và là người duy nhất đã chiến đấu chống Nhật (hoạt động quân sự do Mặt trận Việt Minh và sĩ quan Mỹ tiến hành) có quyền đại diện trong ủy ban đó”.
Ngày 29-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục tăng cường gặp các chính khách Pháp như Bộ trưởng Giáo dục Nagelen, Bộ trưởng F.Gay, Bộ trưởng Xây dựng Francois Billoux và chủ bút tờ báo châm chích nổi tiếng “Le Canard Enchainé” (Con vịt bị trói).
Ngày 29-8-1952, Báo Cứu Quốc đăng bài “Sẵn tiền, sẵn lòng, tát biển Đông cũng cạn”, với bút danh ĐX, Bác nói lên tinh thần của nhân dân đối với công cuộc kháng chiến, kiến quốc và kết luận bằng 2 câu văn vần: “Nhân dân ta sẵn sức, sẵn của, sẵn lòng/Cán bộ tận tụy và trong sạch thì mười việc thành công cả mười”.
Ngày 29-8-1958, đóng góp ý kiến về kế hoạch mở rộng thủ đô tại cuộc họp của Bộ Chính trị, Bác nhắc nhở: “Mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông, hồ…) và nhân hòa (lợi ích của nhân dân, của Chính phủ). Công tác quy hoạch thành phố phải hợp lý, bảo đảm được cả về kinh tế, mỹ quan và quốc phòng, phải có kế hoạch vận động quần chúng tham gia, có ban phụ trách để chịu trách nhiệm, tránh lối làm đại khái, lãng phí”.
D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 28 tháng 8: “Chính sách của Chính phủ trước sau như một”
Thứ sáu, 28/08/2009, 01:14 (GMT+7)
Cách đây 67 năm, ngày 28-8-1942, từ Túc Vinh, lãnh tụ Hồ Chí Minh bị lính của Trung Hoa Quốc dân đảng áp giải và đưa đến giam trong nhà lao huyện Thiên Bảo.
Ngày 28-8-1945, tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều thời gian để soạn thảo văn kiện lịch sử “Tuyên ngôn Độc lập”. Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi: “Trong căn nhà nhỏ, thiếu ánh sáng của ngôi nhà sâu thẳm nằm giữa một trong ba mươi sáu phố phường cổ kính của Hà Nội, Bác ngồi làm việc, khi thì viết, khi thì đánh máy. Những người giúp việc trong gia đình không biết ông cụ có cặp mắt sáng, chiếc áo nâu bạc thường để hở khuy ngực, hay hút thuốc lá, ngồi cặm cụi đó làm gì. Mỗi lần họ tới hỏi cụ có cần gì, cụ quay lại mỉm cười, chuyện trò đôi câu. Lần nào cụ cũng nói không có gì cần phải giúp đỡ. Họ không biết mình đang chứng kiến những giờ phút lịch sử.
Một buổi sáng, Bác và anh Nhân (Trường Chinh) gọi anh em chúng tôi tới. Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thảo xong. Bác đang đọc để thông qua tập thể. Như lời Bác nói lại sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người. Hai mươi sáu năm trước (1919), Bác tới Hội nghị hòa bình Versaille, nêu lên những yêu cầu cấp thiết về dân sinh, dân chủ cho những người dân thuộc địa. Cả những yêu cầu tối thiểu đó cũng không được bọn đế quốc mảy may chấp nhận. Người đã thấy rõ một sự thật là không thể trông chờ ở lòng bác ái của các nhà tư bản. Người biết chỉ còn trông cậy vào cuộc đấu tranh, vào lực lượng của bản thân dân tộc mình. Giờ phút này, Người đã thay mặt cho cả dân tộc, hái quả tám mươi năm đấu tranh. Bữa đó, chúng tôi đã nhìn thấy rõ niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng của Người…”
Ngày 28-8-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục các cuộc vận động hành lang để cứu vãn sự bế tắc trong quan hệ Việt-Pháp, gặp gỡ nhiều chính khách như Bộ trưởng Tư pháp Teltgen, Bộ trưởng Canh nông Prégent, Bộ trưởng Giao thông Thương mại J.Moch…
Ngày 28-8-1947, trả lời Báo Độc Lập của Đảng Dân chủ về việc mở rộng Chính phủ, Bác nêu rõ quan điểm: “Chính sách của Chính phủ trước sau như một, vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh vác việc nước. Thí dụ, ngoài cụ Đặng Văn Hướng (một cựu thượng thư) còn nhiều cụ khác nữa như cụ Phạm Gia Thụy, cựu tổng đốc, cụ Phan Kế Toại, khâm sai đại thần, cụ phó bảng Bùi Kỷ đều rất tận tụy giúp việc kháng chiến… Trước sự đại đoàn kết của Chính phủ và quốc dân đồng bào, mưu mô chia rẽ của thực dân phản động Pháp nhất định thất bại”.
Ngày 28-8-1963, Bác dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo việc thực hiện kế hoạch nhà nước. Bác phát biểu: “Từ trước tới nay ta nói hay nói giỏi, nhưng làm thì thế nào?… Ta chủ trương thắt lưng buộc bụng, nhưng người thi hành đã có những biện pháp thiết thực như thế nào?”.
Ngày 28-8-1969, tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh có dấu hiệu rối loạn trầm trọng. Tuy vậy, mỗi lần tỉnh, Bác vẫn yêu cầu được nghe trả lời câu hỏi: “Miền Nam chiến sự thế nào?”.
D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 27 tháng 8: “Một chính phủ thống nhất quốc gia”
Thứ năm, 27/08/2009, 01:53 (GMT+7)
Cách đây 87 năm, ngày 27-8-1922, mật thám Pháp cho biết Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí cộng sản trong chi bộ Quận 17, Paris đi dạo tại khu rừng Fontainebleau.
Ngày 27-8-1942, lãnh tụ Hồ Chí Minh trên đường qua Trung Quốc để “vâng lệnh đoàn thể đi cầu ngoại viện” cho cách mạng Việt Nam thì bị quân tuần cảnh của Trung Hoa Quốc dân Đảng bắt giữ tại Túc Vinh thuộc huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, nằm trong lãnh địa của Đệ tứ Chiến khu. Theo tướng Trương Phát Khuê là Tư lệnh chiến khu này thì trong người Hồ Chí Minh mang theo chứng minh thư của “Quốc tế phản xâm lược hiệp hội ở Việt Nam” và thẻ hội viên đặc biệt của “Quốc tế Tân văn xã” nhưng đều quá thời hạn hiệu lực nên bị nghi là gián điệp.
Sau khi bị bắt, Bác tìm cách bí mật viết thư về báo tin cho tổ chức ở trong nước biết để tiến hành vận động các khả năng buộc chính quyền Tưởng Giới Thạch phải trả tự do. Vì vậy, đã có hàng trăm lá thư của các tầng lớp dân chúng từ chiến khu Cao – Bắc – Lạng và Việt kiều ở Hoa Nam đã gửi tới Chính phủ Trùng Khánh và các sứ quán cũng như các hãng thông tấn Trung Quốc và nước ngoài đề cập tới yêu cầu này.
Đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Trùng Khánh cũng gặp Cơ quan tình báo chiến lược Mỹ OSS yêu cầu gây sức ép với Chính phủ Trung Hoa và khuyên nên tranh thủ sự hợp tác với Hồ Chí Minh để chống phát xít Nhật ở Đông Dương.
Tuy nhiên phải đến tháng 10-1943, sau khi bị giải đi qua nhiều nhà lao ở nhiều địa phương khác nhau, Bác mới được trả tự do. Cũng chính trong thời gian nhiều thử thách này, nhiều bài thơ đã được Bác sáng tác trong tù, sau này tập hợp trong tập thơ “Ngục Trung nhật ký” (Nhật ký trong tù).
Ngày 27-8-1945, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Ủy ban Dân tộc giải phóng đưa ra đề nghị cụ thể về chính sách đại đoàn kết dân tộc để thành lập Chính phủ thống nhất quốc gia bao gồm cả những đại diện các đảng phái yêu nước và những nhân sĩ không đảng phái, những nhân vật có danh vọng trong xã hội. Hưởng ứng đề nghị trên, nhiều ủy viên Việt Minh xin rút lui để nhường ghế cho những thành phần khác. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong Chính phủ có 3 ghế cho Đảng Dân chủ, 1 Công giáo và nhiều bộ trưởng không đảng phái.
Cùng ngày, Chính phủ lâm thời ra tuyên cáo: “Tuân theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ mà quốc dân giao phó cho. Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt trận Độc lập Đồng minh… Nó là một chính phủ thống nhất quốc gia giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức”. Đánh giá toàn bộ sự kiện trọng đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân”.
D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Căng địch ra mà đánh… phối hợp với Tây Nguyên
Trận then chốt thứ nhất, thứ hai…đã diễn ra trên rừng núi Cao Nguyên, BCH chiến dịch chỉ thị cho trinh sát các đơn vị nắm chắc tình hình địch và không bỏ qua một động thái nào của chúng. Tại Tổng hành dinh, cấp trên đã tính toán đến khả năng địch đổ quân phản kích chiếm lại địa bàn. Cấp trên không chỉ có tin hàng giờ về động thái của quân đoàn 2 Nguỵ mà còn “để mắt” đến lực lượng trù bị chiến lược của Quân lực VNCH, là sư đoàn Dù, sư đoàn Thuỷ quân lục chiến đang bị “treo chân” tại Quân khu 1. Liệu hai sư đoàn cơ động chiến lược này có thể điều binh “chữa cháy” cho Vùng 2 chiến thuật được không? Câu chuyện của Thiếu tướng Phan Hàm sau đây cho thấy, Tổng hành dinh đã chỉ đạo Quân Khu Trị -thiên và Binh đoàn Hương Giang phối hợp chiến trường rất kịp thời, khiến cho lực lượng dự bị chiến lược bị “dính chân”, trở thành lực lượng đồn trú, chữa cháy ngay tại Quân khu 1 còn không xong, nói chi đến có thể đi phản kích “giúp người”.
Không chỉ giam chân địch, Chiến trường Trị -Thiên, Huế cũng bùng lửa nơi nơi, khiến cho địch lung túng khắp các vùng . “Căng địch ra mà đánh” đã là một binh pháp được ứng nghiệm rất thành công giữa những ngày tháng 3 nóng bỏng này.
* * *
Đầu tháng 3 năm 1975, bầu không khí Trung Bộ đang êm ắng, bỗng trở nên náo nhiệt hẳn lên. Ngày 5 tháng 3 ta đánh sập cầu An Lỗ, tiếp đến phục kích trên đèo Hải Vân, vây ép một số điểm cao ở bắc Quảng Trị: 365-Động Ong Do-235. (Thực hiện đúng chỉ thị của Tổng hành dinh, sớm hoạt động tác chiến, vừa thu hút chú ý của địch, nghi binh chiến lược, vừa giam chân lực lượng hai sư đoàn trù bị, không cho chúng rảnh tay ứng cứu cho nhau, vừa tạo thế chiến lược cho toàn miền…Sập cầu An Lỗ, đồng bằng sông An Lỗ bị uy hiếp, địch rất sợ điều này, bởi đây là khúc dễ chia cắt nhất . Tướng Lê Quang Lưỡng, sư trưởng sư Dù, từ năm 1974, khi phải điều các lữ dù đi cứu Thượng Đức đã sớm nhận ra mối nguy kịch, nếu “ Cộng quân cắt đồng bằng sông An Lỗ-TDB)
Những hoạt động của ta ở bắc Quảng Trị lần này, theo chúng nắm được, hình như đều có bộ binh, xe tăng, bộ đội địa phương tham gia. Hơn nữa, chúng còn phát hiện thêm là mạng thông tin VTĐ ở Ba Lòng vẫn còn nằm nguyên tại chỗ, lên tiếng đều đều. Sự kiện giật gân nhất là tin sư đoàn 308 sẽ vượt sống Thạch Hãn và tiến công thẳng vào thành phố Quảng Trị… Tất cả những bằng chứng ấy đều đi đến một kết luận dứt khoát là: “Rõ ràng Việt Cộng đã lặp lại cái trò chiến dịch Quảng Trị năm 1972 rồi…”!!!
Trong những đêm 5, 6, 7, 8 tháng 3 năm 1975,những ngày đó, mặt trận Tây Nguyên, ta đang nín thở lần lượt tạo các đòn đánh cài thế, chia cắt. Cũng lúc này địch căng mắt ra để theo dõi những hoạt động của các đơn vị chủ lực của ta, thì dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Thường vụ Quân khu uỷ Khu 5 và Bộ tư lệnh mặt trận, 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, gần 100 đội công tác và các đôi vũ trang địa phương, cùng với lực lượng chính trị và cơ quan chỉ huy, lãnh đạo các cấp tỉnh, huyện cả thảy hơn 3.000 tay súng, lặng lẽ đột nhập đồng bằng, hướng về các địa bàn trọng điểm. Dưới ánh sáng sao, từng đoàn người lặng lẽ vượt qua đường quốc lộ, băng qua những bãi cát trắng, những cánh đồng lâu ngày bị bỏ hoang, cỏ mọc lút đầu người, rồi chia tay nhau về các khu tập trung, theo sự phân công từ trước. Ngọn lửa cách mạng lâu nay ấp ủ trong lòng người dân Trị Thiên, đang chờ một lần gió nhẹ, để ngùn ngụt bốc lên.
Giữa lúc ấy, thì quang cảnh ở vùng giáp ranh, vùng rừng núi lại khác hẳn. Một tiểu đoàn công binh của trung đoàn 219 và toàn bộ sư đoàn bộ binh 324, ngày đêm dồn dức ra làm đường lên Động Truồi, một cao điểm trên 1 nghìn mét, cố đưa cho được nửa số pháo trong biên chế lên bố trí trên các mỏm, nòng chĩa thẳng vào các vị trí của địch ở phía nam Huế.
Ngày 8 tháng 3, trước khi nam Tây Nguyên nổ súng một ngày, các trung đoàn của Quân khu và Quân đoàn 2 đồng loạt tiến công trên hai hướng: phía bắc là Phong Sơn, phía nam là đường 14. Một bộ phận lực lượng tập trung của Quảng Trị tiến công vào quận lỵ Hải Lăng. Địch hoảng sợ, rút bỏ 11 điểm chốt. Trên đường 14, đúng 5 giờ 45 phút, sư đoàn 324 nổ súng tiến công. Sau 30 phút đánh dồn dập, pháo chuyển làn vào sân bay Phú Bài và các trận địa pháo của địch ở La Sơn, Ấp 5.
Cuộc chiến đẫu diễn ra gay go ngay từ ngày đầu. Đơn vị đảm nhiệm hướng chủ yếu đến chậm, chiếm lĩnh rất khó khăn. Tiểu đoàn 6 ba lần xung phong đều bị đánh bật, phần thì bị pháo bắn chặn, phần thì bị hoả lực súng máy tạt sườn. Ở cao điểm 309, hai tiểu đoàn địch chống trả quyết liệt. Thương vong ngày càng nhiều. Trên hướng thứ yếu, sau một giờ chiến đấu ta dã chiếm được các cao điểm 75, 76 ven theo đường 14. Ngày 10 tháng 3 sư đoàn tổ chức một bộ phận trinh sát tập kích vào cụm xe tăng ở núi Nghệ, bắn 4 phát hoả tiễn, diệt luôn 4 xe. Đến 14 giờ cùng ngày tiểu đoàn 4, trung đoàn 2 đột kích vào cao điểm 204. Bị đánh bất ngờ trong lúc chúng đang ăn cơm, nên chỉ sau 45 phút chiến đấu ta dứt điểm. Trong lúc đó, trung đoàn 3 ở Thượng Đức mới trở về đội hình của sư đoàn đã nhanh chóng triển khai đội hình tiến công và làm chủ cao điểm 273.
Quân đội VNCH chở quân phản kích,
nhưng không cứu vãn được
Chiến sự ở cao điểm 303 ngày càng trở nên ác liệt: địch cố giữ, chúng tăng cường thêm trên hướng này 2 tiểu đoàn 61 và 94 của lữ đoàn 14, tập trung phi cơ ném bom có ngày lên đến 170 lần chiếc. Suốt cả một tuần lễ địch giành đi giật lại với ta từng cao điểm, kiên quyết ngăn chặn ta trên tuyến núi Bông, núi Nghệ ở tây nam Phú Bài.
Mặt trận chủ trương: sư đoàn 324 phải giữ vững các khu vực đã chiếm được, sư đoàn 325 thì gấp rút chuẩn bị để tiến công vào khu vực Kim Sắc, cao điểm 560 để phối hợp, đồng thời bước đầu thực hiện việc chia cắt quốc lộ 1. Vì công tác chuẩn bị có gặp trở ngại, nên thời gian nổ súng phải lùi lại mấy hôm. Địch như phát hiện được lực lượng của ta, phán đoán hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch, nên tập trung các trung đoàn 1, liên đoàn 15 biệt động quân và một tiểu đoàn của trung đoàn 51 liên tục phản kích.
Nhân lúc đồng bằng sơ hở, đêm 8 rạng ngày 9 tháng 3, theo đúng kế hoạch cả tám huyện và vùng ven đô, đồng loạt nổi dậy. Lực lượng chính trị, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương, đánh vào một số chi khu, 30 phân chi khu, chủ yếu nhằm diệt các bộ máy kìm kẹp, kết hợp với vũ trang tuyên truyền trên một diện rộng có 53 xã, 150 thôn với 20 vạn dân. Ở nam Quảng Trị, ta tiêu diệt chi khu Mai Lĩnh, diệt gọn ba phân chi khu, ở bắc Thừa Thiên, diệt 5 phân chi khu: Phong Chương, Phong Hoà, Phong Bình, Phong Niên và Quảng Phú; ở nam Thừa Thiên, đánh vào 10 phân chi khu; diệt gọn 3. Ở phía bắc, kho xăng Động Toàn bị đánh cháy; ở khu giữa ta bắn pháo vào Mỹ Chánh, Đồng Lâm, Hiệp Khánh và ở phí nam, đèo Hải Vân bị uy hiếp. Cả đồng bằng Trị Thiên, dài trên 100 cây số, đâu đâu cũng vang rền tiếng súng tiến công, tiếng reo hò nổi dậy, Nhân dân như sống lại những ngày tưng bừng của Tết Mậu Thân.
Sự phối hợp tuyệt đẹp giữ đồng bằng và vùng giáp ranh trong những ngày này, đã làm cho đối phương vô cùng hoảng sợ. Bộ máy kìm kẹp mà Mỹ nguỵ đã ra sức xây dựng trong bao nhiêu năm bị tan rã nhanh chóng, chúng bỏ chạy toán loạn, đi đâu cũng bị đánh. Một bầu không khí hoang mang dao động lan tràn trong hàng ngũ tay sai.
Biện pháp đối phó trước tiên là vội vã rút bỏ một số chốt không quan trọng để co về những nơi hiểm yếu hơn ở vùng giáp ranh be bờ, cố thủ. Đến ngày 10 tháng 3, địch bắt đầu phản kích lại trên từng hướng. Ở những nơi có lực lượng của ta trụ lại, thì dùng những phân đội bộ binh nhỏ, có xe tăng yểm hộ, đánh phá quyết liệt và có gây thương vong trong các lực lượng vũ trang địa phương.
Sớm dự kiến tình huống có thể xảy ra, ngày 12 tháng 3, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho các chiến trường: “Địch đang có bước sa sút mới sau thắng lợi của ta ở Tây Nguyên. Ta có khả năng giành thắng lợi to lớn hơn với nhịp độ nhanh hơn dự kiến. Cần phải quán triệt tinh thần khẩn trương, mạnh bạo, kịp thời lợi dụng điều kiện mới, giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch trong trong khi chúng rút chạy…”.Được sự chỉ đạo kịp thời của trên, Thường vụ Khu uỷ và Quân khu uỷ đã họp, đánh giá tình hình, khẳng định những thắng lợi bước đầu và đề ra những chỉ thị bổ sung cần thiết, cho các đơn vị. Ngày 13 tháng 3, trung đoàn 6 của tính bắt đầu tiến công trên đường 12, chiếm Chúc Mao, diệt địch ở cao điểm 300, uy hiếp Bình Điền, Động Trạch. Phòng tuyến giữa, ở ngay sát nách Huế có nguy cơ bị chọc thủng. Ngày 15 tháng 3, địch rút bỏ một khu vực lớn từ Đèo Đông đến cao điểm 551
.
Về phía đối phương trong những ngày này, cơn sóng gió không chỉ diễn ra trên chiến trường mà cả trong nội bộ họ nữa. Được hậu thuẫn mạnh mẽ, sau ngày 6 tháng 3, Ngô Quang Trưởng tỏ ra bướng bỉnh không chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu quân đội Cộng hoà. Ông ta chần chừ mãi đến ngày 13 tháng 3 mới bay về Sài Gòn. Viên gạt nhẹ quả bóng: “Đây là lệnh của Thiệu”. Trưởng báo cáo với Thiệu là không nên rút lui về Đà Nẵng, vì đối phương đang uy hiếp quốc lộ 1. Tốt nhất là nên ở lại Huế và chuẩn bị chiến đấu, may ra còn có thể đem lại cho nhân dân một ít lòng tin. Trưởng thấy còn có các căn cứ phòng thủ khá tốt chung quanh Huế và có thể tập trung quân co cụm vào ba nơi trong phạm vi vùng 1 chiến thuật: Huế, Đà Nẵng, Chu Lai. Kỳ kèo mãi, Thiệu mới đồng ý kéo dài việc rút quân được mấy hôm: dự kiến ngày 17 tháng 3, sẽ rút lữ đoàn dù thứ nhất, ngày 25 tháng 3, rút lữ đoàn thứ hai và đến cuối tháng 3, rút xong lữ đoàn cuối cùng. Khi trưởng hỏi về sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, Thiệu trả lời là sẽ đê nguyên ở vùng 1 và sẽ cố thủ Huế. Trưởng cảm thấy hơi an tâm. Nhưng trong lúc ăn cơm, hỏi lại Khiêm, thì Khiêm lại rỉ tai là Thiệu đang nghiên cứu cả việc rút sư đoàn lính thuỷ đánh bộ về, thực hiện chiến lược mới: nhẹ ở đầu, nặng ở đấy. Đầu là vùng 1 và đáy là Sài Gòn. Như vậy có nghĩa là sẽ hy sinh các tỉnh phía bắc và cả Tây Nguyên.
* * *
Ngày 17 tháng 3, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho Quân khu và Quân đoàn cụ thể thêm: “Phải táo bạo đưa lực lượng vượt qua tuyến phòng thủ bên ngoài, thọc xuống cắt đứt đường số 1, đánh chiếm Phú Lộc, chuẩn bị hoả lực đánh vào Huế và đôn đốc đánh sớm hơn dự kiến…” (Điện số 517, ngày 17 tháng 3).
Thường vụ Khu uỷ và Thường vụ Đảng uỷ mặt trận lại họp và nhận định: thời cơ thuận lợi mới đã xuất hiện, nên đã hạ quyết tâm, khẩn trương, mạnh bạo tiến công, dùng lực lượng tại chỗ đánh mạnh vào phòng tuyến địch, kết hợp với thọc sâu, chia cắt, phá thế co cụm, giành thắng lợi lớn ở đồng bằng, tiến tới bao vây, cô lập Huế.
Thực hiện các chỉ thị, mệnh lệnh cnói trên, trong ngày hôm ấy Bộ tư lệnh Quân khu dùng toàn bộ lực lượng của tỉnh Quảng Trị đang từ trong thế phòng ngự phía bắc, chuyển sang tiến công trên hai hướng: hướng đông, từ Thành Hội theo trục đường 86; hướng tây từ Tích Tường, Như Lệ, theo đường 1, tiến vào. Các lực lượng đã rút lên vùng giáp ranh để củng cố, phải lập tức quay trở lại đồng bằng, đánh địch, phát động quần chúng nổi dậy. Phía bắc Huế, trung đoàn 4 bộ binh, thọc ra cắt đường quốc lộ 1, hướng nam Huế thì bỏ khu vực đường 14 và các cao điểm đang giành đi giật lại với địch, mà chuyển xuống cắt giao thông ở khu vực Lương Điền, Đá Bạc.
Cũng trong ngày 17, về phía địch, Trưởng ngậm đắng nuốt cay tiễn chân lữ đoàn dù về Nam và triển khai lại lực lượng. Lần thứ hai trong vòng hai tuần lễ, lại một lữ đoàn thuỷ quân lục chiến nữa phải rút khỏi phòng tuyến phía bắc Huế, để co về khu vực đồi núi đèo Hải Vân nhằm tăng cường cho tuyến phòng thủ Đà Nẵng, vì giữa hai thành phố Huế và Đà Nẵng, thì Huế là đầu mà Đà Nẵng là đáy. Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ cuối cùng còn lại trên đất Quảng Trị, chỉ còn làm nhiệm vụ của một tấm lá chắn bảo vệ cho sư đoàn 1, tức là thực hiện giai đoạn hai trong kế hoạch chiến lược của Trưởng.
3 giờ sáng ngày 19 tháng 3 cờ Mặt trận đã cắm trên Thành cổ Quảng Trị, và đến 15 giờ hôm áy, pháo lớn đã bắt đầu giội bão lửa xuống khu vực Tây Lộc, Mang Cá, trong thành phố Huế. Cái gọi là tuyến tác chiến trì hoãn, thực ra đã không trì hoãn được phút giây nào cả, mà chỉ lo giẫm lên nhau chạy dài. Sau một ngày tiến công, toàn tỉnh Quảng Trị được giải phóng.
|
( Trích đoạn giao nhiệm vụ nổ súng gấp cho mặt trận Huế- Trị Thiên- Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng của đại Tướng Võ Nguyên Giáp) Ngày 28-2-1975, đồng chí Thanh Quảng, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu Trị – Thiên và đồng chí Hoàng Đan, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn II ra Bộ báo cáo quyết tâm cuối cùng. Các đồng chí có mặt rất đúng giờ tại Tổng hành dinh. Cùng dự nghe báo cáo với tôi, có các anh Lê Trọng Tấn, Lê Hữu Đức. Với tinh thần phấn chấn, các đồng chí trình bày kế hoạch tác chiến với những mục tiêu, nhiệm vụ còn cao hơn cả những mục tiêu, nhiệm vụ được giao. Nghe báo cáo xong, tôi hỏi: – Thế nếu thời cơ thuận lợi, các đồng chí đã có kế hoạch phảt triển tiến công giải phóng Trị – Thiên – Huế chưa? Đang có tâm trạng phấn khởi, hai đồng chí bỗng hoá ra lúng túng. Tôi hỏi thêm: Sau giây phút ngỡ ngàng, nét mặt hai đồng chí tươi hẳn lên. Cả hai đồng chí đồng thanh trả lời: Rõ! Về thời gian mở màn chiến dịch, các đồng chí đề nghị cho lui thời gian chuấn bị thêm năm ngày, tức là đến hết ngày 9-3. Vừa nghe mấy tiếng “9-3”, anh Lê Trọng Tấn đứng phắt dậy nói ngay, giọng gay gắt: Trong chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, hiệp đồng nhiều chiến trường mà các đồng chí muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được hay sao? Các đồng chí lùi lại thì địch đưa sư dù dự bị chiến lược lên nam Tây Nguyên, hướng chính của ta sẽ bị vỡ, cuộc Tổng tiến công sẽ đi đến đâu?… Anh Tấn nói với hai đồng chí: – Tôi cũng biết các đồng chí khó khăn. Nhưng các đồng chí phải biết chiến dịch của các đồng chí là nằm trong chiến cuộc chung của toàn quốc. Vậy thời gian phải hết sức chặt chẽ, không thể ai muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được. Hôm sau, tôi gặp lại hai đồng chí nói thêm: Nhớ rằng chiến dịch này không như các chiến dịch khác. Các đồng chí có thể phát huy sáng kiến đánh thật hay để hoàn thành vượt mức kế hoạch, nhưng cần chú ý những việc Bộ Tổng tư lệnh đã quy định cụ thể thì tuyệt đối không được linh hoạt, phải chấp hành thật nghiêm. Phải tích cực sảng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế. Tiêu diệt sinh lực địch là rất quan trọng, nhưng làm đường cơ động cũng quan trọng không kém, các đồng chí phải huy động mọi lực lượng mở đường cơ động, vì có đường thì mới phát triển tiến công được thuận lợi khi có thời cơ. Hai đồng chí hứa sẽ hoàn thành tất cả các nhiệm vụ Bộ giao, cả về thời gian, địa điểm và khối lượng. TDB-sưu tầm |
Cũng như ở các nơi khác, dẫn đầu các cuộc di tản bao giờ cũng là các binh sĩ rã ngũ. Cũng không có gì lạ, vì những quân nhân bao giờ cũng “nhạy bén” với tin tức hơn ai. Lại nữa, được bộ máy chiến tranh tâm lý tác động mạnh, nên họ sẵn có ấn tượng rất sâu sắc về những cuộc tắm máu, về cái thuyết Domino mà Mỹ, nguỵ hàng ngày nhồi nhét vào đầu óc họ. Lẽ thứ ba là so sánh với thường dân, họ có phương tiện đây đủ hơn và được giành nhiều ưu tiên hơn. Cùng đi với các quân nhân là gia đình họ. Lý luận của các cấp chỉ huy ở Sài Gòn là quân đội sẽ chiến đấu tốt hơn nếu có vợ con bên cạnh, cho nên đã có quyết định cho gia đình ở cạnh binh lính, dù là Huế, Đà Nẵng, Phú Bài, hay ở một tiền đồn xa xôi. Ngoại lệ duy nhất là các sư đoàn lính thuỷ đánh bộ và lính dù.
Trong trường hợp rút lui, các cấp chỉ huy của quân đôi Cộng hoà, mới nhận thấy đây là một trở ngại khủng khiếp, lính không còn ra lính nữa. Họ đã hoà mình trong làn sóng người đang trôi dạt về phía nam, lôi kéo luôn cả một số thường dân có máu mặt: xe gíp, xe honda, xe buýt chật đường. Trong những ngày này, trên đài Sài Gòn, Thiệu ra rả đổ tội cho các chiến sĩ đặc công của ta, đã tìm cách len lỏi vào giữa đám người di tản, rỉ tai hù dọa, tác động tinh thần. Của đáng tội! Binh chủng đặc công, trong lúc này, làm gì có đủ thì giờ để làm cái việc mà Thiệu suy luận và “phịa” ra này.
(Vào thời điểm này, cuộc triệt thoái Cao Nguyên của Quân đoàn 2, Quân khu 2 của Tướng Trưởng trên đường 7 đã sang hồi kết. Huế rụng rời, hai sư đoàn trù bị có lệnh rút… bị chặn…bối rối, còn tâm sức đâu mà đi ứng cứu. Động thái hạ tuần tháng 3 thấy được là lữ dù 3 được chỉ huy quân lực VNCH xé ra, đi chặn đèo Mađrak, để rồi vào ngày 31 tháng 3 phải bỏ chạy xuống đèo, đúng vào ngày Đà Nẵng tan vỡ -TDB)
TDB –biên tập, giới thiệu
qdnd.vn
Hậu phương vững chắc – một trong những yếu tố quyết định thắng lợi
Ký ức và hiện tại
Cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra trong bối cảnh đất nước tạm thời chia làm hai miền, mỗi miền có một chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc cơ bản đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, miền Nam còn bị đặt dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước, đòi hỏi Đảng phải có chủ trương đúng đắn đưa cách mạng từng bước phát triển. Từ thực tế đó, nhận thức sâu sắc và vận dụng trung thành, sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của hậu phương trong chiến tranh, cũng như mối quan hệ giữa hai giai đoạn cách mạng vô sản, Đảng ta quyết định tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương chiến lược, căn cứ địa cách mạng – chỗ dựa vững chắc cho miền Nam đánh Mỹ là một trong những nhân tố quyết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đề cập đến mối quan hệ giữa cách mạng hai miền, đồng chí Lê Duẩn khái quát: “Nếu không xây dựng CNXH ở miền Bắc thì không thể đánh thắng Mỹ ở miềnNam. Ngược lại, nếu không đánh Mỹ ở miền Nam thì cũng không thể xây dựng được CNXH ở miền Bắc”. Trong suốt cuộc kháng chiến, nhân dân ta vừa đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh với Mỹ, ngụy ở miền Nam, vừa từng bước xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đảng đặc biệt quan tâm chỉ đạo xây dựng củng cố hậu phương căn cứ địa cách mạng, tạo chỗ dựa vững chắc, tạo nguồn sức mạnh to lớn, cung cấp kịp thời sức người, sức của cho miền Nam đánh Mỹ. Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, nhận thức rõ vai trò của miền Bắc trong đấu tranh thống nhất đất nước, Đảng ta quyết định đưa miền Bắc đi lên xây dựng CNXH. Đây là chủ trương đúng đắn, là cơ sở quan trọng đầu tiên cho xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 12 năm 1965) khẳng định thành tựu của hơn 10 năm khắc phục hậu quả của chiến tranh, cải tạo XHCN và xây dựng CNXH: “Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với một chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh”. Những thắng lợi trong xây dựng CNXH ở miền Bắc là cơ sở vững chắc cho Đảng củng cố, giữ vững quyết tâm chống Mỹ, cứu nước.
Nhận thấy vai trò của hậu phương lớn miền Bắc đối với chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ xác định đánh phá hậu phương miền Bắc là mục tiêu chiến lược có ý nghĩa quyết định nhằm phá hoại tận gốc tiềm lực mọi mặt của ta, làm cho ta không còn khả năng chiến đấu. Với âm mưu thâm độc đó, Mỹ đã buộc quân và dân miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt chưa từng có của không quân, hải quân Mỹ. Đế quốc Mỹ sử dụng số lượng lớn máy bay và bom đạn hòng đánh hủy diệt miền Bắc, đẩy miền Bắc “trở lại thời kỳ đồ đá”. Tuy Mỹ không đạt được ý định chiến lược, nhưng miền Bắc nước ta đã bị tàn phá nặng nề. Mặc dù chiến tranh ác liệt, miền Bắc vẫn tiếp tục xây dựng CNXH, làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn miền Nam. Miền Bắc vừa là hậu phương của miền Nam, vừa là căn cứ địa cách mạng của cả nước… Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, đánh giá về vai trò của hậu phương miền Bắc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12 năm 1976) khẳng định: “Không thể nào có thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu không có miền Bắc XHCN, suốt 16 năm qua luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965 trở đi, miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ XHCN và làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước xứng đáng là pháo đài vô địch của CNXH”.
Ở miền Nam, Đảng ta chỉ đạo xây dựng chiến khu trong các vùng tự do và chủ trương mở rộng các vùng giải phóng mà hạt nhân là các căn cứ địa được xây dựng từ trong kháng chiến chống Pháp. Đến cuối cuộc kháng chiến, vùng giải phóng từng bước được mở rộng, nối liền các căn cứ địa từ Trị – Thiên đến Liên khu V, từ Tây Nguyên tới Đông Nam Bộ vây quanh Sài Gòn, nối liền với Đồng bằng sông Cửu Long, trở thành hậu phương chiến lược tại chỗ vững chắc ở miền Nam, tiêu biểu là Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hậu phương tại chỗ ở miền Nam được Đảng chỉ đạo xây dựng phát triển rất phong phú. Hậu phương tại chỗ không chỉ là vùng giải phóng và các căn cứ vững chắc mà còn bao gồm cả các “căn cứ lõm”, các cơ sở nằm sâu trong vùng địch kiểm soát. Tuy nhiên, trong chỉ đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng, thành công lớn nhất của Đảng ta là đã xây dựng được “thế trận trong lòng dân”, “căn cứ trong lòng dân”.
Ngoài những căn cứ được xây dựng ở trong nước, Đảng ta còn phối hợp với hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia xây dựng căn cứ địa, mở rộng vùng giải phóng dựa lưng vào nhau tạo thành hậu phương chiến lược tại chỗ trên chiến trường miền Nam. Đây là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chỉ đạo xây dựng hậu phương căn cứ địa cách mạng vững chắc, tạo điều kiện để duy trì, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị đưa cuộc kháng chiến đến giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.
Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương căn cứ địa cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị hiện thực sâu sắc. Trong tình hình mới, để sẵn sàng ứng phó thắng lợi với các tình huống chiến lược, nhất là tình huống chiến tranh, ngay từ thời bình Đảng và nhân dân ta có nhiều việc phải làm. Đặc biệt Đảng cần có chủ trương, biện pháp đúng đắn chỉ đạo xây dựng các căn cứ hậu phương, nhất là “hậu phương lòng dân”, “thế trận lòng dân” tạo chỗ dựa vững chắc cho chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) giành thắng lợi.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn
Đột phá cửa mở phụ giành thắng lợi
Ký ức và hiện tại
Thiếu tướng Bùi Huy Bổng, sinh năm 1927, tại Ứng Hoà, Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945, làm liên lạc cho Mặt trận Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Nhập ngũ tháng 7 năm 1945, trong 44 năm chiến đấu và trưởng thành ông gắn cuộc đời mình với cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Đặc biệt cùng với Sư đoàn 320A, ông đã có mặt ở hầu khắp các chiến trường từ nước bạn Lào, đến Quảng Trị, Tây Nguyên, Sài Gòn… Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tháng 4 năm 1975, ông là Chính ủy Sư đoàn 320A, Quân đoàn 3 – sư đoàn được giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Liên hợp Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, mở toang cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn cho Quân đoàn đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy và tiến về dinh Độc Lập…
Nhắc đến những kỷ niệm chỉ huy chiến đấu, Thiếu tướng Bùi Huy Bổng bồi hồi kể: “Đây là một trong những trận tôi được trực tiếp chỉ huy có quy mô hiệp đồng quân binh chủng lớn trong đời. Đồng Dù là một căn cứ liên hợp do Mỹ xây dựng nhằm đàn áp phong trào cách mạng ở Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh) và khu vực lân cận của Sư đoàn 25 ngụy, do Chuẩn tướng Lý Tòng Bá – một kẻ chống cộng sản khét tiếng chỉ huy. Sư đoàn tôi được tăng cường lực lượng xe tăng, pháo binh, pháo phòng không, đặc công… Chúng tôi sử dụng hai Trung đoàn bộ binh 48 và 52 có xe tăng đi đầu đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, còn Trung đoàn 64 phối hợp với Trung đoàn Đặc công 198 chiếm giữ cầu Bông, cầu Sáng và tiến vào Dinh Độc Lập. Theo kế hoạch, lệnh phát hoả vào lúc 5 giờ sáng 29 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 48 từ khu Bến Lức hành tiến thuận lợi, nhưng phá xong cửa mở với 12 hàng rào dây thép gai thì không phát triển được vào tung thâm, vì địch cho 12 xe tăng và nhiều lực lượng kiên quyết ngăn chặn hòng bịt cửa mở. Qua đài kỹ thuật chúng tôi còn nghe Lý Tòng Bá động viên binh lính: “Các chiến hữu cứ yên tâm chiến đấu, để tôi xem bọn Bắc Kỳ, bụng toàn rau muống còn giở được trò gì nữa”.
Trước tình hình trên, nếu cứ tiếp tục đột kích thì sẽ thêm thương vong, chậm thời gian tác chiến và ảnh hưởng đến toàn chiến dịch, vì thế khoảng 10 giờ trưa, chỉ huy Sư đoàn 320A quyết định tổ chức mở cửa mở phụ. Vì địch đang tập trung lực lượng chống đỡ ở cả hai cửa mở chính của Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52, ta mở cửa mở phụ, sẽ gây được bất ngờ, từ đó giành thế chủ động trên chiến trường. Quả đúng như dự định, đến 10 giờ 30 phút trưa hôm đó, Trung đoàn 48 từ cửa mở phụ đột phá chiếm được Sở chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy. Quá bất ngờ, Chuẩn tướng Lý Tòng Bá không kịp trở tay vội vàng cởi bỏ quân phục chạy trốn. Khi bị bắt lần thứ nhất, hắn nói dối là dân sự vào thầu xây dựng nên được thả tại chỗ. Sau đó, do phát động nhân dân truy tìm, du kích Củ Chi đã bắt được Lý Tòng Bá khi hắn đang ủ rũ ở bến xe đợi ô tô về Sài Gòn. Thay mặt cho Bộ chỉ huy, tôi đã trao lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” của Sư đoàn cho Trung đoàn 48 ngay tại nơi Lý Tòng Bá vẫn làm việc… Bài học mà Sư đoàn 320A rút ra qua trận đánh là sự linh hoạt, sáng tạo trong xử trí tình huống. Khi cửa mở chính gặp khó khăn, đội phá bằng mở cửa mở phụ là một quyết định sáng suốt.
Năm 1989, Thiếu tướng Bùi Huy Bổng về nghỉ hưu tại phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội. Ông được bầu làm Chủ tịch Hội CCB phường, rồi Phó chủ tịch Hội CCB quận Hai Bà Trưng (1997-2001). Tuổi cao nhưng ông luôn là một đảng viên gương mẫu, một hội viên CCB tích cực đóng góp vào phong trào chung của địa phương. Khi được hỏi về công tác huấn luyện của bộ đội ta hiện nay, Thiếu tướng Bùi Huy Bổng nói: Kinh nghiệm cho thấy khi làm công tác chuẩn bị chiến đấu, ta cần xây dựng nhiều phương án đánh địch. Trong quá trình chiến đấu, người chỉ huy phải mưu trí, linh hoạt, thay đổi cách đánh và tiến công liên tục để giành thắng lợi cuối cùng.
Tô Kiều Thẩm (ghi)
qdnd.vn
Nghệ thuật tạo thế đánh các trận then chốt quyết định
Chiến dịch Tây Nguyên
Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đầu tháng 3-1975, quân và dân ta, nòng cốt là các binh đoàn chủ lực đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mở đầu là chiến dịch Tây Nguyên. Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn, 4 trung đoàn bộ binh và nhiều đơn vị binh chủng, cùng LLVT trên địa bàn chiến dịch.
Lực lượng địch ở Tây Nguyên có 1 sư đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn thiết giáp, 1 sư đoàn không quân… Địch phán đoán, nếu ta đánh Tây Nguyên sẽ đánh phía bắc, nên chúng tập trung lực lượng phòng giữ giữa Plei-cu và Kon Tum, còn tại Đắc Lắc để lực lượng ít hơn trấn giữ. Đối phương cho rằng, trong năm 1975, ta chưa đủ sức đánh thị xã Buôn Ma Thuột, hoặc nếu đánh thắng cũng không thể giữ được khi chúng phản kích chiếm lại. Buôn Ma Thuột là một vị trí trọng yếu, nhưng địch có những sơ hở, càng vào sâu trong thị xã, lực lượng phòng thủ càng mỏng.
Bộ đội Sư đoàn 316 đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Ảnh tư liệu
Đối với ta, giải phóng được Buôn Ma Thuột sẽ đập tan hệ thống phòng thủ của địch ở nam Tây Nguyên, tạo thế trận hiểm mới, làm thay đổi cục diện chiến trường trên địa bàn Tây Nguyên và đồng bằng Khu 5. Theo kế hoạch, sau một số trận đánh tạo thế và nghi binh chiến dịch, ngày 10 và 11-3, quân ta mở cuộc tiến công bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, với 4 cánh quân chủ lực, kết hợp với các đơn vị tinh nhuệ, các tiểu đoàn bộ binh bí mật luồn sâu bố trí sẵn, bỏ qua các đồn bốt ngoại vi, dùng binh lực lớn cơ giới tiến công với tốc độ cao theo các trục đường lớn, tiến thẳng vào giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là trận then chốt mở đầu quyết định của chiến dịch, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ của địch ở Tây Nguyên. Tiếp đó, từ ngày 14 đến 18-3, quân ta đánh trận then chốt thứ hai, đập tan cuộc phản kích của Sư đoàn bộ binh 23 địch, đánh bại ý đồ tái chiếm Buôn Ma Thuột, góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển.
Phát hiện địch có dấu hiệu co cụm lực lượng, chuẩn bị rút chạy từ Tây Nguyên theo đường số 7 về phòng giữ vùng đồng bằng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị Bộ chỉ huy chiến dịch chuẩn bị đánh địch rút chạy. Từ ngày 17 đến 24-3, ta tập trung lực lượng đánh trận then chốt thứ ba, truy kích tiêu diệt quân địch rút chạy trên đường số 7, đập tan ý định bỏ Tây Nguyên về co cụm ở đồng bằng của địch, tạo nên bước ngoặt chiến lược của cuộc chiến tranh. Ta tiêu diệu và làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy cùng một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn và Quảng Đức.
Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta về nhiều mặt, trong đó nổi bật một số vấn đề nghệ thuật chiến dịch.
Trước hết, chiến dịch Tây Nguyên thể hiện nét đặc sắc về nghệ thuật chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu rất đúng và hiểm. Lựa chọn nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu, ta đã “điểm trúng huyệt”, đánh vào nơi hiểm yếu nhất của địch. Đánh Buôn Ma Thuột, ta có điều kiện triển khai lực lượng tiến công địch bằng sức mạnh binh chủng hợp thành quy mô lớn; đồng thời giải phóng được Buôn Ma Thuột, tạo thuận lợi cho ta phát triển thế tiến công chia cắt địch về chiến dịch và chiến lược, làm đảo lộn thế phòng ngự của địch trên địa bàn Tây Nguyên.
Nghệ thuật nghi binh, tạo thế, giữ vững quyền chủ động chiến dịch cũng là nét nổi bật. Trước khi mở chiến dịch, ta tiến hành hàng loạt các biện pháp nghi binh, thu hút và giam chân đại bộ phận chủ lực địch ở hướng bắc Tây Nguyên, trong khi đó ta bí mật tập trung lực lượng để tiến công hướng nam Tây Nguyên. Vì thế, khi ta tiến công ở nam Tây Nguyên, địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp đối phó, dẫn đến thất bại nhanh chóng.
Tạo ưu thế về lực lượng và phương tiện là thành công lớn của ta. Trong chiến dịch này, ta sử dụng lực lượng chủ lực của Bộ (14 tiểu đoàn bộ binh) và chủ lực của Quân khu 5, Đông Nam Bộ tăng cường (10 tiểu đoàn), phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ (28 tiểu đoàn), tạo ưu thế hơn hẳn về lực lượng và phương tiện so với địch. Trong trận Buôn Ma Thuột, lực lượng ta gấp 4 đến 5 lần quân địch, nhưng đến trận đánh Sư đoàn 23 địch phản kích và trận truy kích địch trên đường số 7, lực lượng ta chỉ gần tương đương địch, thậm chí ít hơn, nhưng vẫn thắng do thế ta vững, địch hoang mang, mất sức chiến đấu trước tiến công mạnh mẽ của quân ta.
Vận dụng cách đánh chiến dịch và tổ chức các trận then chốt thể hiện sự sáng tạo, linh hoạt của ta, như đánh cắt giao thông, đánh thị xã, đánh căn cứ, đánh địch phản kích, đánh địch rút chạy. Cách đánh chung là tiến hành nghi binh tạo thế, thu hút, giam chân chủ lực địch ở hướng khác (bắc Tây Nguyên), tạo ưu thế trên hướng chủ yếu và mục tiêu chủ yếu (nam Tây Nguyên) để bao vây, chia cắt, cô lập từng cụm quân địch, kết hợp đột phá, thọc sâu, trong, ngoài cùng đánh. Đặc biệt, ta tổ chức đánh các trận then chốt linh hoạt, hiệu quả, trong đó Buôn Ma Thuột là trận then chốt mở đầu thắng lợi có ý nghĩa quyết định, tạo đột biến về chiến dịch, dẫn đến đột biến về chiến lược, tạo thời cơ thuận lợi để bộ đội ta đánh những trận then chốt tiếp theo nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến dịch, mở đầu thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.
Ngày nay, đặc điểm và tính chất của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đặt ra cho nghệ thuật quân sự Việt Nam, trong đó có nghệ thuật chiến dịch với những nội dung mới. Những kinh nghiệm về nghệ thuật chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong chiến dịch Tây Nguyên nói riêng là kết tinh truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, tri thức quân sự của thời đại và đổi bằng biết bao xương máu của bao thế hệ chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đó là tài sản vô giá cần được tiếp tục nghiên cứu, phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện mới của đất nước và bối cảnh quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp của nghệ thuật quân sự, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Đại tá, Tiến sĩ Dương Đình Lập
qdnd.vn


Bạn phải đăng nhập để bình luận.