Định kiến nhân quyền!

Đăng Trường
Ngày 21/4/2013, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2012, trong đó có phần đánh giá về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị khẳng định Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân. Mọi người dân được thực thi các quyền của mình trong khuôn khổ luật pháp.

Báo cáo, dự luật hay các bản đánh giá nhân quyền… với những thông tin sai lệch, đã lặp lại có tính “thường niên”. Chúng tôi không nhắc lại những bản báo cáo hay dự luật có nội dung sai lệch, thiếu khách quan này cũng như những cá nhân, tổ chức thực hiện hay đứng sau các báo cáo.

Vấn đề là nếu cứ tiếp tục lặp lại điệp khúc “báo cáo nhân quyền” không khách quan như trên không những lạc lõng với xu thế phát triển đối thoại ngày nay mà cách tiếp cận này cũng hoàn toàn không đúng tinh thần Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.

Thực tế, nếu định kiến một quốc gia, một khu vực về tình hình nhân quyền theo hướng cố tình làm xấu đi, bôi nhọ sự thật thì chính những cá nhân, cơ quan làm bổn phận “theo dõi nhân quyền” lại vi phạm chính quy định của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948. Tại Điều 7, bản tuyên ngôn nêu rõ: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy”. Việc liên tục có các báo cáo, các đánh giá dưới hình thức này hay hình thức khác với nội dung sai lệch thực tế khách quan về nhân quyền ở Việt Nam, thì chính hành động đó là biểu hiện rõ nét của sự kỳ thị và mặt nào đó trực tiếp hay gián tiếp tạo cơ hội cho các hành động chống Việt Nam của các thế lực thù địch, chống đối. Tất cả những điều đó đều trái với lẽ nhân văn mà bản Tuyên ngôn nêu ra.

Hồi tháng 2 năm nay, phát biểu trong phiên họp cấp cao khóa họp lần thứ 22 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) tại Geneva, Bộ trưởng Phạm Bình Minh khẳng định việc Chính phủ Việt Nam quyết định ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 nhằm đóng góp nhiều hơn nữa vào các nỗ lực chung của LHQ và cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người. Trong 7 năm qua, Hội đồng Nhân quyền đã có những đóng góp thiết thực hơn vào việc bảo vệ nhân quyền trên thế giới so với Ủy ban Nhân quyền trước đây. Tuy nhiên, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cho rằng, hội đồng cần tăng cường hiệu quả hoạt động để đối phó với các thách thức nhiều mặt về nhân quyền mà dư luận đang hết sức quan tâm. Hội đồng nhân quyền cần phải thực sự trở thành diễn đàn đối thoại và hợp tác, có cách tiếp cận toàn diện, cân bằng về nhân quyền, tôn trọng các nguyên tắc phổ quát, minh bạch, khách quan, không thiên vị trong mọi hoạt động.

Chính sách nhất quán đảm bảo quyền con người của Nhà nước Việt Nam xuất phát từ nhận thức coi quyền con người là giá trị chung của nhân loại, có gốc rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, từ nguyện vọng thiết tha của người dân Việt Nam từng bị tước bỏ những quyền và tự do cơ bản nhất khi làm người dân của một nước thuộc địa. Ngày nay, Việt Nam tiếp tục khẳng định rõ chính sách, luật pháp, thành tựu về đảm bảo quyền con người.

Việt Nam tin tưởng sẽ đảm nhiệm tốt vai trò này nhằm đóng góp vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy việc hưởng thụ và bảo vệ quyền cho tất cả mọi người. Việt Nam có chung mục đích với Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, đó là đề cao cũng như tôn trọng quyền của con người và đặt con người làm trung tâm trong mọi chính sách phát triển của đất nước. Uy tín của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người còn được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế công nhận. Chẳng hạn, Cuba, Venezuela, Nga coi cách tiếp cận và việc giải quyết các vấn đề về nhân quyền của Việt Nam là một trường hợp điển hình để các nước khác có thể tham khảo, học hỏi. Hội đồng hoà bình thế giới công nhận các nỗ lực của Việt Nam nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của con người trong đó có các quyền về dân sự, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Còn Hiệp hội Luật sư dân chủ và Trung tâm châu Âu đánh giá cao các thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền của con người trong tất cả các lĩnh vực.

Rõ ràng, nguyện vọng nói trên là hoàn toàn chính đáng và được nhiều quốc gia ủng hộ. Việc gần đây xuất hiện nhiều bài viết, thông tin cố tình làm sai lệch sự thật về thành quả nhân quyền ở Việt Nam, từ đó lấy cớ cho rằng, Việt Nam “vi phạm về nhân quyền” và “không đủ tư cách ứng cử” là hoàn toàn lạc lõng, vô căn cứ

Đ.T.
cand.com.vn

Vai trò lãnh đạo của Đảng trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Đại Tá, Tiến Sỹ Nguyễn Văn Vĩnh
Nội dung Điều 69 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cần đưa thêm vào nội dung “vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Nội dung điều 69 trong chương IV – Bảo vệ Tổ quốc của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã ghi: “Điều 69: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân.

Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do luật định”.

Nội dung Điều 69 trong chương IV – Bảo vệ Tổ quốc của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình bày như trên về cơ bản là đúng và khá rõ. Nội dung cơ bản của điều 69 này đã làm rõ được ba vấn đề chủ yếu mà những vấn đề này đã, đang được thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chứng minh là đúng đắn, hợp quy luật, đó là: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân; Nhà nước ta là người giữ vai trò xây dựng, củng cố, tăng cường và phát triển nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, đồng thời Nhà nước ta cũng là người thực hiện và phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; mọi cơ quan, tổ chức và công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, với những nội dung đã được trình bày ở Điều 69 nói trên thì vẫn còn thiếu một nội dung hết sức cơ bản, quan trọng và cần thiết đó là: chưa đề cập tới vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó, sẽ là thiếu sót, chưa khoa học, thậm chí còn là sai lầm, khuyết điểm nếu không đề cập tới vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua, kể từ khi Đảng ta ra đời ngày 3/2/1930 cho tới nay đã chứng minh rằng, mọi kết quả, thành tựu, thắng lợi giành được trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nói chung, trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói riêng đều gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và giữ vững an ninh quốc gia được thể hiện nổi bật ở chỗ: Đảng đề ra đường lối chiến lược, sách lược bảo vệ Tổ quốc, đường lối thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; Đảng là người lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân – những lực lượng làm nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh quốc gia; Đảng còn là người chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, đảng viên và nhân dân, giúp họ có phẩm chất, năng lực, trí tuệ, bản lĩnh để có đủ điều kiện bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Đảng còn là người tổ chức, xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và giữ vững an ninh quốc gia.

Vì vậy, có thể khẳng định rằng, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một trong những nhân tố hết sức cơ bản, chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh quốc gia trong những năm trước đây, hiện nay, cũng như trong thời gian tới; nhất là đối với thời kỳ nước ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và đưa đất nước tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, nội dung Điều 69 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cần đưa thêm vào nội dung “vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Mặt khác, nội dung Điều 69 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình bày cũng chưa được thật chặt chẽ, đầy đủ, nhất là chưa thấy được vai trò của yếu tố thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Vì vậy, nội dung Điều 69 trong chương IV – Bảo vệ Tổ quốc của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nên trình bày lại như sau cho đúng hơn, chặt chẽ hơn và đầy đủ hơn, đó là:

“Điều 69:

1. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với việc củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, trong đó lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước với sức mạnh của thời đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

3. Mọi cơ quan, tổ chức và công dân phải thường xuyên thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do luật định”

N.V.V.
cand.com.vn

Nghị viện Châu Âu ra nghị quyết sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam

Nghị quyết ngày 18/4/2013 của Nghị viện Châu Âu về tình hình nhân quyền ở Việt Nam đã đưa ra những thông tin và nhận định hoàn toàn sai lệch về tình hình thực tế ở Việt Nam.

Ngày 19/4, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc ngày 18/4, Nghị viện Châu Âu ra Nghị quyết về Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nêu rõ: “Nghị quyết ngày 18/4/2013 của Nghị viện Châu Âu về tình hình nhân quyền ở Việt Nam đã đưa ra những thông tin và nhận định hoàn toàn sai lệch về tình hình thực tế ở Việt Nam. Việc làm này đi ngược lại xu thế đối thoại thẳng thắn, cởi mở trong lĩnh vực quyền con người đã được xây dựng và tiến hành thường xuyên giữa Việt Nam và các cơ chế của EU, ảnh hưởng không tốt đến đà phát triển và mối quan hệ đang ngày càng tốt đẹp giữa Việt Nam và EU”

PV
cand.com.vn

Những bài học từ Việt Nam

TTCN – 12-5-1975, chưa đầy hai tuần sau ngày Sài Gòn được giải phóng, bộ trưởng ngoại giao – trợ lý tổng thống về các vấn đề an ninh quốc gia Henry Kissinger đã gửi cho tổng thống Mỹ Gerald Ford một bản ghi nhớ (memorandum), do Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ soạn thảo, tổng kết tạm thời về “những bài học từ VN”.

Văn bản này được lưu trong thư viện của tổng thống Ford và đã được giải mật vào tháng 4-2000 cùng với 40.000 trang hồ sơ của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.

Mật bản ghi nhớ gửi: Tổng thống G.Ford
Người gửi: Henry A.Kissinger
Chủ đề Những bài học từ VN

Theo yêu cầu của tổng thống, tôi đã chuẩn bị một số ý kiến về “những bài học từ VN” để ngài xem xét và làm cơ sở trả lời những câu hỏi của báo chí về vấn đề này.

Buổi tối 28-4-1975, tổng thống Mỹ G. Ford chủ trì cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia bàn việc di tản người Mỹ khỏi Sài Gòn

… VN là trường hợp cực kỳ cá biệt về các mặt địa lý, dân tộc, chính trị và cả quân sự, ngoại giao. Và thật sự không có nhiều bài học lắm từ kinh nghiệm ở VN để có thể áp dụng một cách hữu ích cho các nơi khác trên thế giới. Có lẽ chúng ta phải thừa nhận và bằng lòng với điều này thay vì cố vận dụng nó một cách rộng rãi như đã từng làm với “những bài học Munich”.

… Một bài học hiển nhiên được rút ra là tính khách quan và trung thực tuyệt đối trong các tường trình của chính phủ cũng như báo chí là cực kỳ quan trọng. Trong một thời gian dài, những báo cáo chính thức của nhà nước Mỹ có khuynh hướng lạc quan quá đáng và hậu quả là đã không làm cho người dân Mỹ thật sự hiểu được những khó khăn của cuộc chiến.

Ngày 29-4-1975, G. Ford nhận được tin báo lúc nửa đêm ở Washington cho biết chiến dịch dùng trực thăng di tản người Mỹ đã bắt đầu. Lúc này ở Sài Gòn là buổi trưa.

Những phản ánh bi quan của báo chí đã chiếm được lòng tin ngày càng lớn vì diễn biến của thực tế không minh chứng được cho những đánh giá lạc quan của Washington. Và đến một lúc nào đó, những tuyên bố của chính phủ đều bị xem là thiếu khách quan, không chỉ bởi những người đối lập mà còn bởi sự hoài nghi của công chúng ngày càng lan rộng.

…Một bài học khác là sự quan trọng tuyệt đối của việc hướng sự chú ý của chúng ta và sự tranh luận chung vào những vấn đề thật sự thiết yếu – ngay cả khi những vấn đề này không được thể hiện trên các chương trình truyền hình hằng đêm. Chúng ta đã mất sức quá nhiều vào những chuyện vặt như “chuồng cọp Côn Đảo”, vụ Mỹ Lai, chiến dịch Phượng Hoàng… Và quan trọng không kém là chúng ta đã thiếu sự kiên định đối với những mục tiêu ban đầu, dù rằng chúng ta đã đổ không biết bao nhiêu sức người, sức của vào ván bài VN.

Ngày 28 và 29-4-1975: Kissinger đăm chiêu trước khi Sài Gòn sụp đổ.

…Về chiến thuật quân sự, chúng ta không thể kết luận rằng những lực lượng vũ trang của chúng ta không phù hợp với loại chiến tranh này. Ngay cả những lực lượng đặc biệt được thành lập riêng cho cuộc chiến cũng vẫn không thể làm gì hơn được. Nguyên nhân một phần là do bản chất của cuộc xung đột. Nó vừa có tính chất của loại chiến tranh nổi dậy với những cuộc cận chiến trong đêm tối ở xóm làng, lại vừa là cuộc chiến của lực lượng chính qui mà vấn đề kỹ thuật là cực kỳ quan trọng.

Nhưng chúng ta và chính quyền Sài Gòn lại có nhiều khó khăn hơn phía bên kia. Một rắc rối nữa: khi chúng ta xem đó là “cuộc chiến của chúng ta”, chúng ta đã không thúc đẩy được quân đội Sài Gòn chiến đấu thật sự; đến khi chúng ta xem đó là “cuộc chiến của họ” (sau VN hóa chiến tranh), chúng ta lại không giúp đỡ họ đúng mức.

…Trong quá trình đó nền ngoại giao của chúng ta cũng bị thương tổn nghiêm trọng. Chúng ta thường nhận thấy nước Mỹ khó có thể kiên trì một lập trường ngoại giao quá vài tuần lễ. Chúng ta liên tục đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác trong khi Hà Nội không thay đổi những mục tiêu và lập trường ngoại giao của họ.

Chỉ trong đàm phán bí mật chúng ta mới đạt được ít nhiều cuộc đối thoại thật sự và rồi họ lại luôn đặt chúng ta dưới một sức ép liên tục của công luận. Điều này đã ám ảnh chúng ta, gây khó khăn cho sự kiên trì một lập trường ngoại giao, trước một kẻ địch kiên quyết và không phải chịu đựng những chống đối từ trong nước.

…Nhưng chúng ta có đạt được lợi ích gì không từ cuộc chiến tranh ở VN? Tôi tin rằng có rất nhiều đấy. Tôi cho rằng quyết định đưa quân chúng ta vào VN năm 1965 đã giúp Indonesia không rơi vào tay cộng sản và duy trì được sự hiện diện của Mỹ ở châu Á, cả về quân sự lẫn kinh tế cùng với ảnh hưởng về chính trị. Và nhờ đó, những đồng minh của chúng ta – gồm cả Nhật Bản – sẽ không cần phải dồn sức thêm cho nỗ lực quốc phòng.

…Vì thế, trong những tuyên bố công khai, chúng ta cần tránh tự lên án và sẽ không mô tả vai trò của chúng ta trong cuộc xung đột như là một thảm họa nhục nhã. Tôi tin rằng những nỗ lực vừa qua của chúng ta về quân sự, chính trị và ngoại giao đã không vô nghĩa…

K.M. trích dịch
tuoitre.vn

This entry was posted on Tháng Tư 29, 2013, in 30.04.1975.

Chứng nhân không bị quên lãng

TTO – Börries Gallasch là người đã ngồi cạnh tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh khi ông này tuyên bố đầu hàng hôm 30-4-1975. Sau 30 năm, không ai biết Gallasch là ai, đến từ đâu và có vai trò gì trong thời khắc ấy…

Börries Gallasch ngồi cạnh Dương Văn Minh

Nếu không có một câu chuyện thật đẹp vào mùa thu 2001 thì có lẽ, người tiếp xúc với ông nhiều nhất là đại tá Bùi Văn Tùng cũng đã lãng quên…

Một ngày mùa thu năm 2001, Alice Gallasch Helley, một người phụ nữ Âu châu cùng thông dịch viên đến số nhà 162 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP.HCM. Bà tìm đại tá Bùi Văn Tùng, người mà chồng bà đã dặn dò phải gặp cho được trước khi ông qua đời. Bà nhìn người đàn ông tóc bạc ngồi trên xe lăn mà không giấu được niềm vui: “Tôi là vợ của Börries Gallasch, người phóng viên mà ông đã cho lên xe để cùng đến đài phát thanh vào ngày giải phóng…”. Ký ức chợt ùa về trong đầu vị chính uỷ lữ đoàn xe tăng 203, mạnh đến nỗi khi kể lại câu chuyện này ông vẫn còn xúc động…

“30-4-1975, khi chúng tôi đưa ông Dương Văn Minh rời Dinh Độc Lập đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng thì tôi gặp anh phóng viên này. Lúc ấy, xe chở Dương Văn Minh đi trước, xe tôi đi theo sau. Một anh phóng viên mặc đồ bà ba đen, tóc búi củ tỏi xin lên, sau này tôi mới biết đó là anh Hà Huy Đỉnh. Rồi một phóng viên nước ngoài đến, nói bằng tiếng Pháp rất nhẹ nhàng và hiền lành xin đi cùng. Tôi thấy anh này cũng dễ thương nên đồng ý…”, đại tá Tùng nhớ lại. Trên xe, họ trao đổi với nhau khá nhiều về cảm giác của những người lính, chuyện về những ngày hành quân tiến về Sài Gòn…

“Thật sự lúc ấy tôi rất mệt nên cũng không nói chuyện nhiều lắm, chỉ nhớ là anh phóng viên này muốn chuyển tải cho bạn đọc thế giới biết về khoảnh khắc chuyển giao quyền lực giữa hai chế độ, đánh dấu sự thống nhất toàn vẹn của VN…”.

Cái khoảnh khắc lịch sử ấy không kéo dài, chỉ dao động trong vài giờ, và người cựu chiến binh cũng đang quá mệt mỏi sau những ngày căng thẳng chinh chiến nên họ trao đổi không nhiều. Bức ảnh lịch sử “Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng; chấm dứt chiến tranh mở ra thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” thật ra là bước thứ hai của việc tuyên bố này.

Trước đó, đại tá Tùng đã thảo lời đầu hàng, ông Minh chép lại. Nhưng đại tá Tùng lại lo ngại khi phát sóng, ông Minh đọc khác đi nên bèn mượn nhờ máy ghi âm của người phóng viên nước ngoài này để ghi âm và phát. “Tôi nhớ, đầu tiên là chiếc máy không hoạt động được vì hết pin. Các bạn sinh viên đang tụ tập gần đấy lập tức chạy đi và mang về cho chúng tôi bốn viên pin.

Lần đầu tiên, ông Minh đọc không mạch lạc, gãy gọn nên tôi yêu cầu anh phóng viên kia xóa đi và ghi lại. Đến lần thứ hai thì suôn sẻ. Sau đó thì nhân viên của đài phát thanh quay về và phát ngay lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Cuối cùng là tôi đọc tuyên bố tiếp quản thành phố”. Ông Tùng nhớ lại, chính xác đến từng chi tiết nhỏ nhất về dấu ấn lớn nhất cuộc đời mình…

Đại tá bảo: “Sau khi giải phóng, có lần tôi cũng chợt nhớ đến anh phóng viên nước ngoài này, nhưng rồi lại thôi…”. Chỉ có Börries Gallasch vẫn lặng lẽ với những kỷ niệm về ngày độc lập, kỷ niệm về những ngày làm báo tại VN. 15 năm trước đây, ông qua đời vì bệnh ung thư.

Trước khi yên nghỉ, ông còn dặn lại vợ, hãy mang những bài báo của ông đến thăm người chỉ huy quân đội đã giúp ông thực hiện thành công chuỗi phóng sự đặc biệt của đời làm báo. Chính vì thế, bà Alice đã lặn lội nhiều nơi, hỏi thăm nhiều vùng mới tìm được đại tá Tùng. Bà bảo, tìm được bạn của người chồng quá cố của mình là một niềm hạnh phúc, xem như bà đã hoàn thành sứ mệnh mang theo bên người suốt mười mấy năm nay…

Trước đây, cứ mỗi lần nhìn tấm ảnh, chúng tôi lại thắc mắc: người nước ngoài ấy thật ra là ai? Nhưng không ai biết, cũng chẳng có tài liệu nào nói về bức ảnh lịch sử này. Mãi đến kỷ niệm 30-4 năm ngoái, đại tá Tùng mới viết một bài báo giải thích vì sao ông thảo lời đầu hàng cho ông Dương Văn Minh. Trong bài có nhắc sơ qua về phóng viên người Tây Đức tên là Borris Gallash.

Điều đáng tiếc nhất là cái tên đã bị mất những ký tự đặc biệt của tiếng Đức nên mạng internet rộng lớn cũng không tìm ra ông. Chúng tôi gởi bức ảnh này lên khắp các diễn đàn báo chí trên thế giới và cuối cùng tìm được một câu trả lời: “Có lẽ ông ấy là tác giả của tập sách: Thành phố Hồ Chí Minh, giờ đỉnh điểm”.

Đó là một tập sách dài hơn 300 trang được ấn bản năm 1975, hiện vẫn còn vài website kinh doanh sách trực tuyến của Đức rao bán. Tập sách là một cái nhìn rất rộng về cuộc chiến VN vì Gallasch đến VN ngay từ ngày khởi động chiến dịch Tây Nguyên. Ông đi qua nhiều vùng đất, đến nhiều nơi và tiếp cận chiến dịch Hồ Chí Minh bằng cái nhìn sắc sảo.

Sau ngày giải phóng, ông còn tiếp tục lưu lại TP.HCM vài năm nữa để tiếp tục công việc của mình. Lúc ấy, ông làm việc cho một hãng thông tấn của Ý, cộng tác với nhiều tờ báo của Anh, Đức. Hiện vợ ông, bà Alice đang sống tại Washington, Mỹ.

TRẦN NGUYÊN
tuoitre.vn

Bài học lớn nhất là đoàn kết dân tộc

16/04/2005 11:00 (GMT + 7)

TT – Lịch sử chỉ diễn ra một lần nhưng nhận thức về nó là cả một quá trình. Với độ lùi 30 năm kể từ đại thắng mùa xuân 1975 thì vấn đề lịch sử không phải phai mờ đi mà càng rõ hơn.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – cũng như cuộc kháng chiến chống Pháp – là một võ công hiển hách của dân tộc, cũng như ông cha ta từng lập nhiều chiến công và tầm vóc rất lớn.

Nhưng nếu đặt sự kiện đó trong toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc thì chiến tranh chỉ là thời khắc, cho dù cuộc kháng chiến chống thực dân của ta là dài nhất trong lịch sử dân tộc, trường kỳ 30 năm liên tục (nếu cộng luôn thời kỳ bảo hộ thì còn dài hơn nữa). Hiếm có một thế kỷ nào mà dân tộc ta cầm súng cầm gươm lâu dài như thế. Cho nên bên cạnh việc tổng kết chiến công, đánh giá được những võ công hiển hách ấy là tìm ra những bài học giúp ích cho công việc giữ nước lâu dài. Giữ nước là một sứ mệnh trong mọi thời kỳ. Dân tộc ta là một dân tộc yêu chuộng hòa bình thì những tình huống chiến tranh luôn nằm ngoài mong muốn của chúng ta.

Vậy thì bài học cho sự nghiệp giữ nước lâu dài là gì?

Trước hết là bài học được đúc kết muôn thuở: bài học đoàn kết.

Tôi nghĩ rằng: kết thúc của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể nói rằng là một biểu trưng đầy đủ nhất của cuộc chiến tranh nhân dân, của cuộc cách mạng toàn dân và của truyền thống đoàn kết dân tộc. Vì vậy bất kỳ đóng góp của một ai, ở thời điểm nào, tôi nghĩ cũng có một giá trị mà chúng ta phải trân trọng và phát huy, nhất là trong điều kiện chúng ta hiện nay. Đất nước đã thống nhất 30 năm rồi. Cái còn lại là thống nhất lòng người cho sự nghiệp chung.

Trong đó kể cả những con người do hoàn cảnh khác nhau mà đứng về phía bên này hay phía bên kia cuộc chiến, kể cả một bộ phận không nhỏ đồng bào của chúng ta ở nước ngoài: tất cả nên vì sự nghiệp chung.

Sẽ có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả tìm tòi khoa học ở những trận đánh, những sự kiện, những cá nhân và rút ra những bài học khác nhau nhưng với tôi, cao hơn cả là tìm bài học nâng cao hơn nữa đoàn kết dân tộc và bài học về bản lĩnh, trí tuệ VN cho sự nghiệp giữ nước, dựng xây đất nước.

Đánh giá về Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã đánh giá rất cao cuộc cách mạng diễn ra nhanh, ít tổn thất; một cuộc cách mạng không có kết thúc là ông vua bị chặt đầu như ở nơi khác. Kết cục mà chúng ta chứng kiến ở dinh Độc Lập năm 1975, dù có thể có đánh giá khác nhau nhưng cũng không phải là một kết cục bằng máu và đổ nát. Đó là một kết cục cách mạng rất Việt Nam. Hình ảnh rất Việt Nam đó chúng ta nên trân trọng để thấy rằng: dù trong các hoàn cảnh khác nhau nhưng cuối cùng điều mà Bác nói vẫn là chân lý: “Hễ là người Việt Nam thì đều có tinh thần yêu nước”.

DƯƠNG TRUNG QUỐC (Đ.Đ. – V.H.Q. ghi)
tuoitre.vn

Giải phóng Trường Sa – Kỳ cuối:

Tháng 4 sau 35 năm

TT – Đoàn công tác của TP.HCM đi Trường Sa đúng dịp tháng 4 sau 35 năm đất nước hòa bình, giang sơn về một mối. Nơi đây bây giờ đã trở thành điểm đến của những chuyến đi nối đất mẹ với dải đất tiền tiêu của Tổ quốc giữa biển Đông.

Biển tháng 4 lặng gió. Sóng nước chỉ vỗ lăn tăn theo mạn thuyền. Con tàu HQ-960 cứu hộ hiện đại của hải quân thẳng tiến hướng mặt trời mọc.

>> Kỳ 1: Những bức điện tối khẩn
>> Kỳ 2: Ký ức ngày giải phóng

Những thùng nước ngọt quý giá từ tàu HQ-960 tiếp tế cho đảo Cô Lin, vì gần bốn tháng nay ở đây không có một giọt mưa – Ảnh: X.Trung

Đảo Cô Lin tiền tiêu

“Nếu Trường Sa là tiền tiêu của cả nước thì Cô Lin là tiền tiêu của Trường Sa” – chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo, phó tư lệnh hải quân, nói khi tàu đến đảo Cô Lin (nằm ở khu vực giữa quần đảo Trường Sa). Các chiến sĩ hải quân vẫn ngày ngày “luyện tập, sẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hi sinh trong mọi tình huống” mặc dù ai nấy đều thấm nhuần tinh thần giữ hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế.

Khi tàu HQ-960 rời Cô Lin cũng là lúc cả đoàn tập trung lên boong tàu làm lễ tưởng niệm những cán bộ chiến sĩ hải quân VN đã hi sinh tại đây. Chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo đọc diễn văn: “Các đồng chí đã anh dũng chiến đấu hi sinh để bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thân yêu của Tổ quốc. Chúng tôi bùi ngùi tưởng nhớ, thương tiếc các đồng chí đã nằm lại với biển khơi”.

Tất cả đứng nghiêm mặc niệm các anh. Nhiều khóe mắt đỏ hoe, nhiều cánh tay đưa lên lau nước mắt.

Vị tướng, chuẩn đô đốc cũng nghèn nghẹn, rưng rưng: “Trong niềm xúc động sâu sắc, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ các đồng chí, thắp nén nhang, thả vòng hoa tưởng niệm tưởng nhớ tới hương hồn các đồng chí. Mong các đồng chí thanh thản yên nghỉ cùng chúng tôi canh giữ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc”.

Ở Trường Sa, các anh lính đảo dù bất kỳ tình huống nào đều hiểu rõ nhiệm vụ số một ở nơi đầu sóng là giữ đảo, giữ bình yên cho cả biển Đông.

Đảo Trường Sa Lớn bây giờ đang như một công trường. Hàng loạt công trình đường sá, nhà khách, đền chùa đang tiếp tục thi công. Các chuyến tàu vào ra ngày càng tấp nập, hối hả. Có người đến người đi và cũng có người đã nằm lại mãi mãi nơi này.

Mộ chàng trai Hoàng Văn Nghĩa, 24 tuổi, nằm trên bãi cát trắng bên hàng cây phong ba. Nghĩa là nhân viên Trạm khí tượng hải văn Trường Sa, đã ra đảo 15 tháng. Công việc hằng ngày của Nghĩa là đo đạc số liệu hải văn để báo về Đài Khí tượng thủy văn Nam Trung bộ. Số liệu sẽ được chuyển đến Tổ chức Khí tượng thế giới vì đây là trạm phát báo quốc tế.

Trưởng trạm Đào Bá Cao kể lại: sáng 21-3-2010 cũng như những ngày bình thường khác, Nghĩa ra cầu cảng Trường Sa đo đạc mức nước nhưng đến hết ca trực mọi người không thấy Nghĩa về. Cả đảo đi tìm. Cầu cảng là khu vực nước sâu. Xác Nghĩa đã trôi cách cầu cảng 200m.

Bàn thờ Nghĩa đặt ngay ở Trạm khí tượng hải văn Trường Sa. Chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo vừa ra Trường Sa đã viếng mộ Nghĩa như viếng mộ một người lính.

Đảo là nhà, biển cả là quê hương

Nhìn từ xa, đảo nổi Sinh Tồn, Trường Sa Lớn như những cù lao nhô lên giữa biển trời bao la. Cả chuỗi đảo chạy dài ngoài biển Đông như một lá chắn lớn che cả biển và bờ đất nước. Nhưng nơi ấy vì cách quá xa đất liền nên vẫn còn thiếu thốn nhiều thứ.

Nếu chưa ra đảo khó hình dung được từng cọng rau, từng giọt nước ngọt quý giá đến cỡ nào. Suốt mấy tháng nay trời nắng như thiêu đốt, không có lấy một giọt mưa. Những thùng chứa, bể trữ nước ngọt trên các đảo cạn dần. Rau xanh chỉ được tưới bằng những ca nước tận dụng sau khi rửa mặt, tắm giặt… Chuyện tiết kiệm nước ở đây trở thành một thói quen từ các cháu bé.

Nhưng thiếu thốn vật chất dù nhiều dù ít đều có đất liền chi viện. Cái thiếu thốn khó bù đắp nhất có lẽ là hơi ấm gia đình. Cứ như phản xạ, hễ gặp các anh lính đảo hay bà con trên đảo, lời hỏi thăm đầu tiên của chúng tôi đều giông giống nhau rằng các anh các chị có nhớ nhà không dù ai cũng đoán được câu trả lời.

Để động viên nhau, để truyền cho nhau hơi ấm giữa biển khơi, mọi người đều xem “đảo là nhà, biển cả là quê hương”. Câu khẩu hiệu ấy xuất hiện khắp mọi nơi.

Trung úy hải quân Thái Đàm Hồng, 36 tuổi, phụ trách hệ thống điện trên đảo Sinh Tồn, kể anh may mắn hơn nhiều anh lính khác nhờ xuất hiện trên tivi hai lần nên người thân ở nhà đỡ nhớ. Đó là hai lần anh giao lưu trong chương trình cầu truyền hình nối Trường Sa với đất liền.

Anh Hồng có thâm niên đi Trường Sa năm “tăng” (từ dùng của hải quân). Mỗi tăng đi hơn một năm, chuyển từ đảo Phan Vinh sang Nam Yết rồi Sinh Tồn, riêng Trường Sa Lớn đi hai tăng. Năm ngoái, đúng ngày sinh nhật con gái 3 tuổi, anh Hồng lại vác balô ra Trường Sa làm nhiệm vụ cho đến nay.

Dẫn đầu đoàn công tác thăm Trường Sa, bà Huỳnh Thị Nhân, phó bí thư Thành ủy TP.HCM, nói đại ý: các anh có mặt ở đây đã là sự hi sinh lớn lắm rồi. Quả thật sự hi sinh tình cảm gia đình làm sao cân đong đo đếm được dù các anh rất ít khi nhắc đến. Ra đảo hơn một năm nay, thiếu úy Nguyễn Đức Trường luôn đặt tấm ảnh cưới bên chiếc gối ở đầu giường – tấm ảnh duy nhất anh kịp mang ra Trường Sa sau khi cưới vợ tháng 2 năm ngoái. Trường tâm sự: “Tháng 7 này về phép mình phấn đấu có con”.

Mỗi anh lính là một hoàn cảnh. Có người chỉ kịp cưới vợ, chưa kịp có con, có người có con nhưng chưa nhìn thấy mặt con vì ra đảo lúc vợ đang mang thai. Có người đi lâu quá, người yêu ở nhà đã lấy chồng. Các anh lính đảo bảo rằng ra đảo riết rồi quen, về đất liền thấy xô bồ, chật chội…

Trường Sa bây giờ không còn xa khi nước nhà đã thống nhất nhưng đó vẫn là dải đất luôn phải đương đầu với bao hiểm nguy, nắng gió, bão tố khắc nghiệt. Xưa kia cha ông ta xác lập chủ quyền bằng những chiếc thuyền gỗ, nay ta đã có tàu sắt hiện đại thì không có lý do gì ngại gian khó.

Thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước giữ từng mét đất, từng sải nước Trường Sa.

Cả nước đang đầu tư cho Trường Sa để biến địa bàn có vị trí chiến lược và đầy tiềm năng này thành một đô thị lung linh ánh đèn giữa biển Đông.

XUÂN TRUNG
tuoitre.vn

Giải phóng Trường Sa – Kỳ 2:

Ký ức ngày giải phóng

TT – Có những tên đảo mà khi đọc lên bất cứ người Việt nào cũng cảm nhận được sự xúc động thiêng liêng. Tháng 4-1975, khi bộ đội đặc công bước vào mặt trận biển Đông, tên gọi thân thuộc của các đảo trong quần đảo Trường Sa như bây giờ được ký hiệu thành các mục tiêu giải phóng như sau: H1 (Song Tử Tây), H2 (Nam Yết), H3 (Sơn Ca), H4 (Sinh Tồn), H5 (Trường Sa), H6 (An Bang).

Chiến sĩ đoàn đặc công 126 giải phóng đảo Song Tử Tây – Ảnh tư liệu Bảo tàng Lịch sử quân đội

Cờ giải phóng tung bay

Trong hai ngày 18 và 19-4, sở chỉ huy tiền phương của quân chủng hải quân ở Đà Nẵng tổ chức rút kinh nghiệm việc giải phóng Song Tử Tây.

Đại tá Quế nói cách đánh đảo Song Tử Tây sau này được các nhà nghiên cứu nghệ thuật quân sự đúc kết lại là: lợi dụng thế hợp pháp làm ăn của ngư dân, bộ đội ta giả dạng thành tàu cá, ban ngày tiếp cận mục tiêu quan sát nắm đối phương, thăm dò phản ứng, lợi dụng đêm tối, bất ngờ, nhanh chóng dùng xuồng đổ bộ lên đảo, chia thành nhiều mũi đồng loạt tiến công.

Bảo tàng Lịch sử quân sự VN (số 3 Điện Biên Phủ, Hà Nội) trưng bày nhiều kỷ vật của những người lính đặc công đoàn 126 anh hùng. Đó là chiếc bình thở cũ kỹ, chiếc mặt nạ chống nước thô sơ, một vài chiếc la bàn nhỏ… Đoàn 126 trong bảy năm liên tục chiến đấu ở Cửa Việt, Đông Hà đã đánh trên 700 trận, đánh chìm và đánh hỏng nặng 336 tàu chiến, tàu vận tải quân sự các loại…

Trong các trận chiến ở Trường Sa, đối phương không thể ngờ rằng đoàn quân “xuất quỷ nhập thần” đặc công giải phóng lại chỉ được trang bị như vậy. Như sau này thiếu tướng Mai Năng hồi tưởng: “Với số vũ khí ít ỏi, chúng tôi chỉ có thể đánh bằng quyết tâm và niềm tin sắt đá”.

Trong cách đánh này, người lính đặc công một mặt dựa vào yếu tố thủy triều để tiếp cận mục tiêu, mặt khác dựa vào ánh trăng để quan sát đảo. Đây cũng là cách đánh được áp dụng cho việc giải phóng một số mục tiêu khác trong quần đảo Trường Sa.

Theo thiếu tướng Mai Năng, ngày 20-4-1975 chủ trương tiếp quản các đảo còn lại trong quần đảo Trường Sa đã được truyền từ trên xuống. Ngay đêm hôm đó, lực lượng đi giải phóng các đảo đã được phân công cụ thể.

Rạng sáng hôm sau, chiếc tàu có số hiệu 641 do ông Đỗ Việt Cường (đội phó đội 1 của đoàn 126, nay là chuẩn đô đốc, phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân) chỉ huy nhằm hướng mục tiêu đảo Sơn Ca thẳng tiến. Cũng như các con tàu trong biên đội đi đánh đảo Song Tử Tây, tàu 641 được cải trang thành tàu đánh cá và liên tục thay đổi biển số tàu.

Kế hoạch dự kiến tàu 641 sẽ đánh vào đêm 23-4, nhưng trên đường gặp nhiều tàu ngầm, tàu khu trục và máy bay Mỹ nên cấp trên đồng ý cho tàu 641 lùi thời điểm tấn công… Đúng 2g sáng 25-4, quân ta đổ bộ lên đảo Sơn Ca. Đến 2g30, toàn bộ các mũi tiến công đồng loạt chỉ sau nửa giờ. Cờ giải phóng tung bay trên đảo Sơn Ca.

Kỷ niệm của người lính già

Đêm 26-4, chỉ huy trưởng Mai Năng nhận được bức điện từ cấp trên với nội dung: “Đối phương đã có lệnh rút khỏi đảo Nam Yết đêm nay, các anh quan sát, nếu địch không phát hiện thì tổ chức đánh từ phía sau, nếu không thực hiện được thì ngụy trang ở khu vực lân cận chờ địch rút ra, cho lực lượng lên chiếm đảo”.

Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Cấp trên giao cho chỉ huy trưởng Mai Năng ở lại đảo Nam Yết. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng với những cố gắng lớn nhất… Một vùng biển rộng lớn giàu tài nguyên với những đảo và quần đảo có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đã thuộc chủ quyền của Tổ quốc.

Chúng tôi hỏi ông Mai Năng về cảm giác những ngày đầu sống giữa biển Đông, vị tướng đặc công già ánh mắt xa xăm nhớ lại: đó là những ngày trời nước mênh mông, niềm vui giải phóng đảo quá to lớn, choán hết mọi suy nghĩ. Làm bạn với lính đặc công trên đảo lúc bấy giờ là bạt ngàn chim biển và những đàn vích nhiều không đếm nổi.

Sáng 30-4-1975, Phó tư lệnh Hoàng Hữu Thái lệnh cho tàu 673 trở về đảo Nam Yết để đón chỉ huy trưởng Mai Năng về đất liền nhận nhiệm vụ mới.

Có một câu chuyện mà đến tận 35 năm sau thiếu tướng Mai Năng mới kể lại cho chúng tôi nghe bên giường bệnh. Một lần, sau khi giải phóng một mục tiêu trong quần đảo Trường Sa, chỉ huy trưởng Mai Năng đã gặp và hỏi những binh sĩ Sài Gòn về lý do họ quyết định đầu hàng dù trước đó đã có sự chống trả.

Câu trả lời thật sự khiến ông bất ngờ: “Sau khi đã nhận biết đối phương qua giọng nói thì chúng tôi bình tĩnh hơn, vì lực lượng giải phóng đảo là quân đội miền Bắc, đều là đất nước VN cả!”. Câu nói đó dù 35 năm đã trôi qua, vị tướng già vẫn không bao giờ quên được.

“Tập trung chụp những gì nêu bật chủ quyền”

Tháng 5-1975. Những ngày đầu tiên hòa bình, không dừng lại ở Sài Gòn, tôi và người cộng sự ở báo Quân Đội Nhân Dân được lệnh của Bộ Tổng tham mưu di chuyển ngược ra một quân cảng ở miền Trung để lên tàu thẳng hướng Trường Sa.

Đó là chuyến tàu nằm trong biên đội gồm ba chiếc tàu chờ đầy vũ khí, khí tài quân sự được ngụy trang thành tàu đánh cá, ra tiếp vận gấp cho lực lượng tiên phong đi giải phóng Trường Sa nhằm củng cố hệ thống phòng thủ, bảo vệ đảo. Trên tàu lúc bấy giờ có Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân Hoàng Hữu Thái.

Khi tàu rời bến, anh Hoàng Hữu Thái nhắc nhở chúng tôi chỉ nên tập trung vào những gì nêu bật chủ quyền của VN (cột mốc chủ quyền, cờ VN, bộ đội luyện tập). Giờ đây, nhìn những tấm hình chụp ở Trường Sa ngày đầu giải phóng đã nhuốm màu thời gian, nhưng nụ cười của người lính giải phóng vẫn rạng ngời. Phía xa xa, đàn chim biển vỗ cánh đầy trời. Đó là Trường Sa những ngày đầu giải phóng… Tôi thấy thật tự hào về những ngày tháng Trường Sa hào hùng.

Nguyễn Khắc Xuể (nguyên phóng viên báo Quân đội Nhân Dân)

VÕ THÀNH – HÀ HƯƠNG
tuoitre.vn

___________________

Trường Sa không còn xa khi nước nhà đã thống nhất nhưng đó vẫn là dải đất luôn phải đương đầu với bao hiểm nguy, nắng gió và bão tố khắc nghiệt… Nơi đây giờ đã là điểm đến thường xuyên của những chuyến đi nối liền đất mẹ…

Giải phóng Trường Sa – Kỳ 1

Những bức điện tối khẩn

TT – Tháng 4-1975. Khi những đoàn quân giải phóng ào ạt tiến về Sài Gòn, có một lực lượng đặc biệt được lệnh dừng lại ở Đà Nẵng để nhận nhiệm vụ trên mặt trận biển Đông.

Biên đội gồm ba tàu 673, 674, 675 chở quân ra giải phóng Trường Sa – Ảnh: L.Đ.Dục chụp lại tư liệu Bảo tàng Hải quân.

Ấy là nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa. 35 năm sau, những tư liệu lịch sử đã cho thấy tầm nhìn chiến lược về vị trí của Trường Sa đã được xác lập rõ ràng ngay trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Một tháng trước giải phóng, ngày 30-3-1975, Quân ủy Trung ương điện gửi các ông Chu Huy Mân, Võ Chí Công, nêu rõ: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao Khu ủy và Bộ tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo hiện do quân chính quyền miền Nam đang chiếm đóng. Trong việc này anh Nguyễn Bá Phát, phái viên của Bộ Tổng tham mưu, và các cán bộ hải quân đi cùng sẽ do khu ủy và quân khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch”.

Mệnh lệnh chiến lược

Mười ngày sau, một bức điện tối khẩn khác từ Quân ủy trung ương điện cho Bí thư Khu ủy Khu V Võ Chí Công và chính ủy chiến dịch Huế – Đà Nẵng Chu Huy Mân cùng phó tư lệnh hải quân Hoàng Hữu Thái: “Chỉ thị cho các lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định”.

Cùng ngày bức điện trên phát đi, từ Hải Phòng một biên đội gồm ba tàu của đoàn tàu không số (lữ đoàn 125) rời vùng biển Đông Bắc thẳng tiến vào cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Ấy là các tàu 673 do Nguyễn Xuân Thơm làm thuyền trưởng, tàu 674 do Nguyễn Văn Đức và tàu 675 do Phạm Duy Tam làm thuyền trưởng kiêm biên đội trưởng mở hết tốc lực vượt biển để cập cảng Tiên Sa vào 21g đêm 10-4-1975.

Vừa đến cảng Tiên Sa, ngay lập tức cả ba tàu cấp tốc nhận nhiệm vụ chở quân đi giải phóng Trường Sa gồm đội 1 của đoàn 126 đặc công nước hải quân do anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Ngọc Quế làm đội trưởng, cùng một lực lượng đặc công của sư đoàn 2 – Quân khu 5 phối thuộc. Chỉ huy cả hai lực lượng này là lữ đoàn trưởng đặc công nước Mai Năng. Từ Tiên Sa, trong đêm tối cả ba tàu 673, 674 và 675 được ngụy trang thành tàu đánh cá mang cờ hiệu nước ngoài.

4 giờ sáng 11-4, ba con tàu “đánh cá” với mật danh “biên đội C75” đè sóng thẳng hướng ra Trường Sa. Đảo Song Tử Tây là đảo đầu tiên mở màn cho chiến dịch trên biển. Đây cũng là thời điểm các cánh quân của ta đang chuẩn bị nổ súng trên mặt trận Phan Rang – Xuân Lộc – Tây Ninh.

Trong căn nhà trên đường Triệu Việt Vương (Đà Nẵng), đại tá Phạm Duy Tam nhớ lại: “Tàu chở lực lượng đi đánh Trường Sa vốn là những chiếc tàu của “đoàn tàu không số” từng vận tải vũ khí cho chiến trường miền Nam. Tàu trang bị rất thô sơ. Ngày ấy, tàu không có các phương tiện khí tài dẫn đường hiện đại như rađa, máy định vị, đo sâu… như bây giờ. Trên tàu chỉ có một la bàn từ, một đồng hồ thiên văn và bộ “bầu trời sao” để định hướng theo sao trời. Dù cả ba thuyền trưởng của biên đội C75 từng có nhiều kinh nghiệm trong những chuyến vận chuyển vũ khí trên “tàu không số”, nhiều lần đi qua vùng biển này, nhìn thấy các đảo nhưng ban đêm rất khó phát hiện…”.

Để đưa được toàn bộ lực lượng tiếp cận chính xác các đảo ở Trường Sa là chuyện không dễ dàng, dù với lực lượng đặc công nước tinh nhuệ của đoàn 126 và đặc công sư đoàn 2 lừng lẫy của Quân khu 5.

 

Cắm cờ ở Song Tử Tây

Tiếp với ký ức của 35 năm về trước này, tại khu điều trị của một bệnh viện quân đội ở Hà Nội, thiếu tướng Mai Năng cầm những bức ảnh đen trắng được chụp trong những ngày đầu giải phóng Trường Sa. Chỉ vào một góc của tấm hình đã ố vàng, vị tướng nhớ rất rõ đó là vị trí của ngọn đèn biển trên đảo Trường Sa lúc bấy giờ: “Khi chúng tôi đang hành quân trên biển thì trên trời máy bay quần đảo. Dù bộ đội đặc công và vũ khí được giấu dưới khoang tàu, bên trên phủ lưới đánh cá nhưng tình huống này không khỏi làm chúng tôi phải suy tính. Kế hoạch bị lộ rồi chăng!”.

Lúc này, chỉ huy trưởng Mai Năng lệnh cho các tàu chuyển hướng khác để đánh lạc hướng. Những người lính của biên đội C75 trong vai ngư dân vững vàng hướng tàu về vùng biển phía đảo Hải Nam (Trung Quốc) như lịch trình của một tàu đánh cá thông thường. Sau nhiều giờ quan sát, máy bay rút đi. Ngay lập tức toàn biên đội tăng tốc hướng đến quần đảo Trường Sa.

Đại tá Quế tiếp tục câu chuyện: “Chúng tôi hành quân từ rạng sáng 11-4-1975 đến chiều 13-4-1975 thì ra tới vị trí triển khai tiếp cận đảo. Để giữ bí mật, tất cả đặc công có mặt trên tàu chỉ có thể giữ tư thế nằm ngửa suốt mấy ngày hành quân. Tuy đói nhưng chẳng ai ăn uống được gì nhiều. Trong khoang tàu nhỏ hẹp, đồng chí Mai Năng cứ nằm ngửa giao nhiệm vụ, còn tôi lúc nhận lệnh cũng ở tư thế ấy”.

Khoảng 1g sáng 14-4-1975, đội 1 đặc công do đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy chia làm ba mũi lặng lẽ rời tàu 673, dùng xuồng đổ bộ lên đảo. Các tàu 674 và 675 làm nhiệm vụ án ngữ phía bên ngoài. Lúc này Song Tử Tây trong màn đêm là một khối thẫm màu, thỉnh thoảng có vài ánh đèn tuần tra trên đảo lúc tắt lúc sáng.

Theo đại tá Quế, có hai mũi đổ bộ an toàn nhưng mũi còn lại xảy ra sự cố không thể tiếp cận đảo do sóng quá to. Hơn một giờ sau, mũi tiến công gặp sự cố cũng đã bám được đảo. Đến khoảng 5g30 sáng 14-4-1975, binh sĩ Sài Gòn trên đảo Song Tử Tây đồng loạt đầu hàng. Lá cờ Tổ quốc được kéo lên. “Người có vinh dự treo cờ Tổ quốc trên đảo Song Tử Tây là hạ sĩ Lê Xuân Phát, thuộc đội 1, đoàn đặc công 126”- đại tá Quế nói.

Ngay sau khi giải phóng đảo Song Tử Tây, hệ thống phòng thủ ở toàn bộ quần đảo Trường Sa bị đe dọa. Cùng lúc này các lực lượng của đoàn đặc công 126 tiếp tục theo tàu đi giải phóng các đảo còn lại: Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca, An Bang và Trường Sa Lớn. Ngay hôm đó (14-4) tàu 675 chở quân của sư đoàn 2 Quân khu 5 kịp thời ra tiếp quản, thiết lập hệ thống phòng thủ bảo vệ đảo Song Tử Tây, rồi tiếp tục chở quân của lữ đoàn 126 tiếp tục hành trình giải phóng quần đảo Trường Sa.

Đ.DỤC – V.THÀNH- H.HƯƠNG
tuoitre.vn

————————————————

Một binh sĩ Sài Gòn nói với tôi rằng sau khi đã nhận biết đối phương qua giọng nói thì họ bình tĩnh hơn, vì lực lượng giải phóng đảo là quân đội miền Bắc, đều là đất nước Việt Nam cả!”. Ấy là ký ức của vị tướng già 36 năm về trước.

Những người lính đặc công tại cửa ngõ Sài Gòn

TT – Đại tá Tống Viết Dương (nguyên tư lệnh cánh đông chiến dịch Hồ Chí Minh), trung tá Võ Tấn Sĩ (nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn đặc công biệt động 116) bảo từ bao năm nay, cứ đến ngày 30-4 câu chuyện về những ngày chiếm giữ các cầu, mở đường cho quân chủ lực vào thành phố đã được các ông kể đi kể lại không biết bao lần. Thế nhưng đến tận hôm nay, câu chuyện ấy vẫn sống động như 29 năm về trước…

Xuồng đưa hai chiến sĩ đặc công thủy đi đánh tàu vận tải quân sự một vạn tấn trên sông Rạch Lá – Ảnh: Tư liệu

Lính đặc công học đánh ban ngày

“Giữa tháng tư, trung đoàn đặc công biệt động 116 đang tập trung ở vùng bưng sáu xã chuẩn bị cho trận đánh liên trường quân sự Thủ Đức thì được lệnh rút về tập trung cho chiến dịch. Chúng tôi quay về Bình Sơn, Long Thành nhận nhiệm vụ mới: chiếm và giữ các cây cầu dẫn vào thành phố….”.

Võ Tấn Sĩ khi ấy là thiếu tá, trung đoàn trưởng. Dẫn anh em đặc công cắt đồng về căn cứ, từ thủ trưởng đến lính ai cũng mệt mỏi nhưng khi biết nhiệm vụ mới có thể sẽ là những trận đánh cuối cùng để giải phóng đất nước, “một luồng sinh khí mới bỗng bừng dậy”. Tất cả háo hức chuẩn bị cho ngày tiến về Sài Gòn, mục tiêu đầu tiên chính là cầu Đồng Nai.

“15-4, đội điều nghiên đầu tiên được phái đến khảo sát cầu. Tàu hải quân địch tuần tiễu gắt quá nên anh em bị lộ. Những loạt đạn bắn rát khiến toàn đội phải lui về. Một anh bị thương, bất tỉnh bên hàng rào kẽm gai và bị địch bắt sống…”.

Đến hôm nay ông Sĩ vẫn còn nhớ người chiến sĩ ấy tên Hà, quê ở Nghệ An. Anh bị thương vào cổ, đứt cuống họng. Sau ngày giải phóng, đồng đội đã tìm được anh ở Bệnh viện Cộng Hòa (nay là Bệnh viện 115), anh ra dấu mượn một cây bút: “Nếu tôi còn nói được, xin cho tiếp tục phục vụ quân đội”.

“Nhóm trinh sát thứ hai đã hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi thống nhất giờ G, đêm 26-4, 250 chiến sĩ đặc công thủy, đặc công khô cắt hàng rào tiến vào trận địa. Rạng sáng, súng lệnh nổ. Loạt thủ pháo đầu tiên đã diệt gọn lực lượng địch đang ngủ trong khu trại. Đặc công khô cùng đặc công thủy phối hợp đánh chìm cùng lúc bốn chiếc hải thuyền. Các công sự hai đầu cầu cũng nhanh chóng bị các chiến sĩ của ta chiếm giữ”.

Nhanh gọn vậy nhưng những gì khó khăn nhất vẫn còn ở phía trước. Ngay sáng hôm sau, các lực lượng tiếp viện của địch từ Biên Hòa, Long Bình, Thủ Đức đã ùn ùn kéo tới, pháo bắn dày đặc các ngả, máy bay lượn sát trên đầu…

Cờ chiến thắng tung bay trên dinh Độc Lập (trụ sở ngụy quyền Sài Gòn) ngày 30-4-1975

Ông Sĩ kể rằng ở cương vị một người chỉ huy, ông chưa bao giờ phải đương đầu với nhiều khó khăn như ba ngày 27, 28 và 29 ấy. Không chỉ phải trực tiếp chỉ đạo chiến lược, chiến thuật, bổ sung quân, bổ sung vũ khí, lương thảo, tìm cách giải quyết thương binh… mà khó khăn nhất lại là động viên tinh thần anh em.

Ai cũng ra trận với tinh thần quyết tử nhưng những sở trường của lính đặc công là đột nhập ban đêm, đánh bất ngờ, đánh nhanh thắng nhanh đều đã được vận dụng hết. Phải chiến đấu giữa ban ngày, không vật che khuất, che đỡ, phải bám trụ, chiếm giữ thời gian lâu là điều mà lính đặc công không sẵn sàng chuẩn bị.

Nằm trong một lò gạch cách cầu Đồng Nai mấy trăm mét, điện đài của trung đoàn trưởng vang lên liên hồi: “Thủ trưởng ơi, địch đến đông quá”, “Báo cáo: hết đạn”, “Báo cáo: xe tăng địch đến”… Trong cả ngàn thông tin dồn dập và phải xử lý tức thời như thế, trung tá Võ Tấn Sĩ bảo có một tin làm ông lặng đi mất mấy phút “Cầu Rạch Chiếc đây. Báo cáo: đã hoàn thành nhiệm vụ nhưng anh em hi sinh nhiều quá…”.

Mấy phút trong thời điểm đó đã là nhiều lắm, bởi lệnh thì chỉ có một “Bám trụ giữ cầu, đợi quân chủ lực”. Không biết bao giờ quân chủ lực mới đến nhưng Võ Tấn Sĩ quyết không để lực lượng bị hao hụt thêm. Trưa 29, ông trực tiếp dẫn một tiểu đoàn đặc công đánh vào tổng kho Long Bình, khuân súng chống tăng, đạn pháo, lương thực ra cầu tiếp tế…

Mật hiệu: “Hồ Chí Minh” – Đáp: “Muôn năm”

Trung tá Võ Tấn Sĩ – Ảnh: Phạm Vũ

Chưa ai quen ai nhưng gặp nhau ai cũng mừng như chưa bao giờ mừng thế. Lữ đoàn xe tăng 203 cho biết nhiệm vụ của họ là tiến thẳng vào dinh Độc Lập nhưng bộ binh lại chưa theo kịp. Tư lệnh Tống Viết Dương liền trổ tài “quảng cáo” về các khả năng của lực lượng đặc công biệt động và cuối cùng đã thỏa thuận được với lữ đoàn xe tăng về kế hoạch biến lính đặc công thành lính bộ binh để vào Sài Gòn kịp ngày 30-4.

Lần đầu tiên được ngồi lên xe tăng, lại là xe tăng tiến về Sài Gòn, anh nào cũng hào hứng, tranh nhau lên trước. Nhưng rồi vẫn cứ phải nhường nhau. Một tiểu đoàn đặc công thủy phải ở lại giữ cầu. Lúc đi qua cầu Rạch Chiếc, thấy anh em mình hi sinh nằm rải rác trong những đám lá dừa nước, một tiểu đội nữa lại nhảy xuống lo phần chôn cất. Thế nhưng vẫn chưa hết những người phải nằm lại.

Qua ngã tư Thủ Đức, pháo trong trường quân sự của địch bắn ra khiến một chiếc xe tăng của ta bốc cháy, bảy chiến sĩ hi sinh. Một phát đạn M72 nữa của lính ngụy chạy loạn làm cháy chiếc xe tăng dẫn đầu ngay khi vừa chớm lăn lên cầu Sài Gòn, bốn chiến sĩ nữa trở thành liệt sĩ. Chiếc xe đi thứ hai thì bị sa lầy xuống con kênh dưới cầu Đen. Những chiếc xe tăng, các anh em đi sau đã trở thành những chứng nhân lịch sử.

Từ ngày ấy đến nay đã 29 năm, trung đoàn 116 (367 cũ) đã bao lần họp mặt nhưng lần họp mặt nào xen giữa những tiếng cười cũng có người rưng rưng nước mắt. Từ khi trung đoàn thành lập (1970) cho đến ngày giải phóng, có hơn 1.000 chiến sĩ đã hi sinh.

Ông Sĩ, ông Dương cứ kể mãi không hết về những anh lính đặc công rất tinh nhuệ nhưng lại phải lót lá dừa ngay trên những bụp dừa được phạt ngang để ngủ; những ngày lội bưng vào trận, các anh đeo trên mình trần đầy thủ pháo, lựu đạn, còn lương khô thì không có.

Những anh đặc công ấy đã là một trong những người đầu tiên vào giải phóng Sài Gòn, cũng là một trong những người cuối cùng ngã xuống trước ngưỡng cửa hòa bình. Thế mà “ngày ở trong rừng, mơ đến ngày giải phóng, đứa nào cũng chỉ ước: hòa bình được về nhà, được ngủ, được cắm một cái cần câu…”.

PHẠM VŨ
tuoitre.vn

Tướng Dương Văn Minh những phút cuối làm tổng thống

Sau khi được thông báo trả tự do, tướng Dương Văn Minh (phải) đã có cuộc gặp gỡ thân mật với tướng Trần Văn Trà – chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định.

Đoàn xe chở tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu chạy theo đường Thống Nhất, quẹo trái qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm để đến Đài phát thanh. Dù khá mệt mỏi và căng thẳng trước những gì vừa diễn ra, tướng Minh vẫn ôn tồn chỉ đường cho lái xe Đào Ngọc Vân.

Trụ sở Đài phát thanh lúc đó khá vắng lặng, dù đã được quân giải phóng và anh em sinh viên tiếp quản. Nhân viên đã “biến” hết sau khi hay tin quân giải phóng đã chiếm được dinh Độc Lập.

Việc đầu tiên là phải tìm cho được những người có thể vận hành được đài phát. Anh em sinh viên tìm được anh Trần Văn Bảng, nhân viên kỹ thuật phát sóng trú ngụ ở gần đó. Còn nhà báo Kỳ Nhân lại tức tốc lái chiếc UTE của Hãng tin AP chở hai anh bộ đội về làng báo chí Thủ Đức để mời hai anh Trọng Liêm và Tự Lập đến đài.

Sau khi lời tuyên bố đầu hàng đã được chỉ huy quân giải phóng soạn thảo, ông Dương Văn Minh lúc đó phải đọc và ghi âm hai lần vào máy của nhà báo Borries Gallasch (còn máy cassette hiệu Hitachi của anh em quân giải phóng bị rối băng liên tục, không xài được). Lần đầu, ông Minh có lẽ hơi bị xúc động nên đọc không tự nhiên và bị vấp, đồng thời khi bật máy nghe lại băng thì giọng ông Minh… nhão nhoẹt vì máy yếu pin. Anh em sinh viên có mặt lúc đó phải chạy ra ngoài, tìm đâu đó được mấy cục pin mới.

Tiếng nói của ông Minh phát trên đài nghe nhẹ và chậm rãi. Còn lời chấp nhận đầu hàng của viên trung tá chính ủy người Đà Nẵng Bùi Văn Tùng lại vang lên khá dõng dạc và mạnh mẽ. Mà cũng lạ, vào lúc ấy rất nhiều giọng Đà Nẵng xuất hiện trên sóng phát thanh: trung tá Bùi Văn Tùng, nhà báo Kỳ Nhân, sinh viên Nguyễn Hữu Thái….

Nhà báo Kỳ Nhân “kêu gọi anh em ký giả hãy bình tĩnh, hãy tập trung ở số 15 Lê Lợi để cùng trao đổi và làm việc (lúc này tự nhiên có tiếng súng nổ vang dội vào Đài phát thanh, anh Kỳ Nhân dù chưa biết chuyện gì cũng “ứng khẩu” luôn)… Đó là tiếng súng bắn mừng của quân giải phóng. Chúng ta đã thấy hòa bình trên đất nước của chúng ta”.

Còn sinh viên Nguyễn Hữu Thái lại trở thành người dẫn chương trình bất đắc dĩ. Anh liên tục thông báo, liên tục trấn an đồng bào và kêu gọi anh em công chức, nhân viên các cơ quan hãy trở lại nhiệm sở để giúp cho sinh hoạt ở Sài Gòn trở lại bình thường.

Tất cả đều nói “vo” thẳng vào máy phát nên nhiều khi ý tứ nghe rất ngộ, thí dụ: “Đây là tiếng nói của các Ủy ban cách mạng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Chúng tôi yêu cầu tất cả đồng bào, anh chị em công nhân, nhất là anh chị em nhân viên các nhà đèn, các nhà nước (chắc ý nói công ty cấp nước) và tất cả SVHS tụ họp để mà có những cuộc điều động của Ủy ban nhân dân cách mạng…”.

Xen lẫn với những lời kêu gọi, tuyên bố là tiếng vỗ tay, tiếng người nói chuyện bàn tán qua lại. Thậm chí ngay sau khi chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố rất hùng hồn thì bỗng phát ra một đoạn cải lương inh ỏi…

Đặc biệt, người dân Sài Gòn lần đầu tiên nghe đến tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh từ buổi phát thanh “tự phát” này. Nguyễn Hữu Thái lúc đó nói: “Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái. Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng…”.

Không ai phân công, không ai duyệt nội dung, không ai chỉ đạo định hướng gì, nhưng quả tình những lời kêu gọi, thông báo “tự biên tự diễn” đầy rạo rực và chân tình đó đã có tác dụng rất lớn đối với đồng bào trong giờ phút căng thẳng. Cần phải hiểu là trong thời khắc “đổi đời” lịch sử đó, sự âu lo tràn ngập nhiều gia đình, nhất là những gia đình có người thân tham gia bộ máy chính quyền hoặc quân đội VN cộng hòa. Sài Gòn trước đó đã lan truyền tin đồn về một cuộc “tắm máu” và những biện pháp bạo lực của Việt cộng.

14h. Đoàn xe đưa ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu từ Đài phát thanh trở về dinh Độc Lập. Họ được đưa vào một gian phòng lớn gần tiền sảnh, có bộ đội vũ trang đứng gác thường trực bên ngoài. Đó cũng là nơi các thành viên nội các, dân biểu, nghị sĩ… có mặt ở dinh Độc Lập sáng 30/4 phải sống 48 giờ mà không được liên lạc gì với bên ngoài.

15h45. Những tiếng nổ lớn bắt đầu từ phía công viên Tao Đàn, phía sau dinh Độc Lập, tiếp theo là những tiếng súng đủ loại. Vài giây sau, đạn cối rơi xuống nổ liên tiếp giữa sân dinh, đúng lúc tướng Nguyễn Hữu An, tư lệnh Quân đoàn 2 quân giải phóng đang đi bách bộ cùng một sĩ quan tác chiến tên Duyến. Duyến bị mảnh đạn cối găm vào mắt. Tư lệnh Nguyễn Hữu An không bị sao. Lực lượng bộ đội bảo vệ dinh báo động: “Quân địch phản công!”.

Ông Dương Văn Minh và gần 20 người khác được đưa từ gian phòng nói trên xuống một căn hầm bên dưới hội trường lớn. Gần 60 phút trôi qua. Mọi người bắt đầu bị ngợp. Dân biểu Nguyễn Văn Binh lần dò ra cửa, đề nghị anh bộ đội cho ra ngoài lấy nước. Ông lượm một cái nón sắt cũ, hứng nước ở vòi nước máy rồi mang vào căn hầm. Cái nón sắt được chuyền từ người này sang người khác. Mọi người cứ bưng nón sắt mà uống. Ông Minh cũng vậy.

Rồi tiếng súng tự nhiên im bặt. Hóa ra là “quân ta đánh quân mình”: Một đơn vị quân giải phóng từ hướng nam về không có ám hiệu đúng, thế là…

Mọi người được đưa trở về căn phòng cũ và trải qua hai ngày đêm đáng nhớ ở đó. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh cũng bị “giam lỏng” như thế. Sự quản thúc chỉ được chấm dứt vào chiều tối 2/5.

Ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn Binh… được trả tự do. Quyết định trả tự do của Ủy ban quân quản được thông báo tại buổi lễ trang trọng và thân mật tại hội trường dinh Độc Lập tối 2/5/1975. Tại buổi lễ này, Phó chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định Cao Đăng Chiếm đã phát biểu với một chất giọng miền Nam trầm ấm:

“…Nhân dân Việt Nam chúng ta đã trải qua cuộc đấu tranh anh dũng và khốc liệt, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh bại chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để giành thắng lợi vĩ đại và vô cùng to lớn từ xưa đến nay.

Thi hành chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời, Chính phủ mong rằng trong tình hình mới chúng ta hãy cùng nhau nỗ lực xây dựng lại Tổ quốc của chúng ta, làm cho nhân dân chúng ta giàu mạnh, Tổ quốc của chúng ta hùng cường. Do đó, chúng tôi mong rằng mỗi người VN chúng ta đều tùy theo khả năng của mình, góp công sức vào việc xây dựng Tổ quốc của chúng ta.

Bữa nay, thi hành lệnh của cấp trên, các anh được tự do về với gia đình. Chúng tôi sẽ tổ chức đưa các anh về đến nơi đến chốn…”. (Trích băng ghi âm)

Đáp lại, ông Dương Văn Minh nói ngắn gọn thế này:

“ …Ngày hôm nay, đại diện cho các anh có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước.

Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập”. (Trích băng ghi âm)

Mọi người được về với gia đình ngay sau buổi lễ đó. Chiếc xe Ford màu xanh dương đậm đưa ông Minh ra khỏi dinh Độc Lập lúc 22 giờ. Khi xe chuyển bánh, vị tổng thống 48 giờ nói:

– Thôi, giã từ quá khứ chết chóc. Vĩnh viễn hòa nhập vào đời sống hòa bình.

(Theo Tuổi Trẻ)
Việt Báo
vietbao.vn

…Và Sài Gòn sụp đổ

Paul Dreyfus người Pháp là một trong 125 nhà báo nước ngoài thuộc 13 nước có mặt tại Sài Gòn vào ngày 30/4/1975, chứng kiến sự kiện lịch sử các đoàn quân tiến vào thành phố. Ông đã ghi nhật ký ghi chép lại những sự việc xảy ra trong ngày kể từ khi Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam được ký kết. Sau khi trở về Pháp, dựa trên những tư liệu sẵn có, ông viết cuốn sách nhan đề “… Et Saigon tomba” (… Và Sài Gòn sụp đổ).

Dù từ nay có xảy ra chuyện gì đi nữa cũng không bao giờ tôi quên cơn hấp hối của Sài Gòn. Đại sứ Mỹ rút khỏi sứ quán mang theo lá cờ sao và vạch, đã được kéo xuống, gấp cẩn thận, cất kỹ trong cặp. Hàng nghìn người chạy như điên đến sân bay nhưng không máy bay nào cất cánh.

Ngày 29/4/1975.

Hôm qua một chút hy vọng đã nhen nhóm trong tất cả dân chúng, khi tướng Minh phát biểu về hoà bình, hoà hợp và hoà giải dân tộc. Đó là những câu chữ mà do cuộc chiến tranh kéo dài từ hai mươi chín năm nay, người ta đã quên hết ý nghĩa.

Tất cả mọi khách hàng của khách sạn Caravelle đều chạy lên sân thượng, người mặc gile chống đạn, người chỉ mặc quần áo ngủ.

Cũng cần nói thêm, tất cả những khách hàng này đều là phóng viên báo chí hoặc nhiếp ảnh quay phim.

Cũng nói thêm nữa, từ sân thượng nhà hàng chín tầng này có thể nhìn bao quát toàn bộ Sài Gòn.

Và cũng có thể nhìn thấy toàn bộ lãnh thổ của chế độ Nam Việt Nam, diện tích đã thu hẹp lại rất nhiều. Đây là một đất nước mà hai tháng trước vẫn còn trải dài hơn một nghìn kilomet từ Bắc xuống Nam, bây giờ đã rút ngắn lại chỉ còn một tầm bắn của pháo.

Quân giải phóng tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất ngày 30/4. (AFP)

Chính từ vị trí trên cao này chúng tôi đã nhìn thấy pháo bắn như giã giò vào căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, cách chỗ chúng tôi đứng khoảng tám kilomet.

Đạn rốc két rơi liên tục không ngừng. Rồi đến đạn trọng pháo. Mỗi khi một chiếc máy bay bị bắn trúng lại có một quả nấm khổng lồ vọt lên, xé vỡ màn đêm đang có mưa dông. Một lúc sau, phía sân bay chỉ còn là một biển lửa màu da cam.

Ngày 30/4.

Trời đã sáng. Mặt trời khổng lồ nhô lên từ đồng ruộng. Chúng tôi hếch mũi lên trời, theo dõi một chiếc máy bay vận tải, khá giống loại Nord Atlas của Pháp đang lượn vòng trên vòm trời. Đột nhiên từ thân máy bay loé lên một luồng lửa. Chiếc máy bay vỡ làm đôi, cứ thế rơi xuống, rơi rất chậm, rất chậm. Nó vừa bị trúng đạn tên lửa SAM 7, một loại tên lửa vác vai kiểu mới do Liên Xô chế tạo và do một xạ thủ Việt Nam nào đó, có thể đã đứng một mình chờ đón suốt đêm trên một nóc nhà ngoại thành, phóng trúng.

Các loa phóng thanh lại rống lên, báo tin lệnh giới nghiêm kéo dài suốt hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ, sau khi đài truyền đi bản quốc thiều và bài nói của tướng Minh kéo dài tới hơn hai mươi phút.

Làn sóng từ ngữ trong bài diễn văn chẳng có hiệu quả gì đối với những trận chiến đấu đang tiếp tục ác liệt chung quanh Sài Gòn. Từ nhiều khu vực ngoại thành lại vọt lên những cột khói đen, những lưỡi lửa đám cháy, xen lẫn tiếng nổ của đạn pháo.

Các đường phố vắng tanh vắng ngắt. Nhưng vẫn còn một vài phụ nữ rón rén mở cửa định bước ra ngoài, hy vọng còn có một cửa hàng cửa hiệu nào đó mở cửa. Trẻ con vẫn lặng lẽ chơi đánh bi hoặc nhảy ô quan trên vỉa hè, dưới cặp mắt của binh lính và cảnh sát trang bị tiểu liên.

Chỉ có những xe ô tô cắm cờ là đi lại trên đường. Những chiếc xe cứu thương hối hả mang những người bị thương, chủ yếu từ sân bay Tân Sơn Nhất và từ Chợ Lớn, bị trúng đạn trong đêm, phóng nhanh tới các bệnh viện.

Rồi người ta thấy xuất hiện, chẳng biết từ đâu chia ra những thanh niên mặc toàn đồ đen. Họ có vẻ như là một lũ nhóc chơi trò nghịch súng các-bin Mỹ. Nhưng đó chính là những dân vệ có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự. Lực lượng này gồm toàn thiếu niên từ mười lăm đến mười tám tuổi rất dễ bị kích động.

Khắp mọi nơi, pháo 105 ly của quân đội Sài Gòn tiếp tục bắn trả các khẩu pháo 130 ly của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Từ phía Biên Hoà là nơi hôm trước tôi vừa mới thực hiện chuyến “thám hiểm” cuối cùng, đang đánh nhau rất dữ dội.

Mặc dù có lệnh thiết quân luật, các nhà báo vẫn liều đi ra ngoài.

Chính vì vậy tôi đã tới được sứ quán Mỹ, chứng kiến những cảnh tượng chẳng vẻ vang gì. Được báo động bởi một mật lệnh truyền qua đài phát thanh, những người Mỹ cuối cùng hối hả mang vác hành lý lên xe ô tô buýt đưa họ đến những chỗ tập trung. Từ những địa điểm này, máy bay lên thẳng sẽ đưa họ tới những tàu sân bay của hạm đội 7 đang đậu ở một nơi nào đó ngoài khơi.

Đại cường quốc Mỹ đang chạy thoát thân.

Trước cổng toà lãnh sự Mỹ có hai binh sĩ lính thủy đánh bộ đội mũ sắt, súng cầm tay đứng gác, hàng mấy chục người Việt vẫn còn cố một cách tuyệt vọng, xin một hộ chiếu đi Guam, Midway, Honolulu…

Cũng từ đây, tất cả các nhà báo Mỹ (kèm theo cả nhiều người khác) cũng đang đóng gói hành lý vội vã ra đi. Chỉ còn một người vẫn ở lại là đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin. Nhưng tướng Minh đã yêu cầu ông vui lòng ra đi để tránh mọi sự cố.

Cuối cùng ông đại sứ Mỹ cũng rút khỏi đại sứ quán mang theo lá cờ sao và vạch, tượng trưng cho nước Mỹ, đã được kéo xuống, gấp cẩn thận, cất kỹ trong cặp xách tay.

Ông là người cuối cùng đi bộ ra khỏi toà đại sứ.

Trước đó ít lâu, tôi đã nhìn thấy một viên tướng Sài Gòn trẻ tuổi, mặc quân phục may đo rất khéo, ngồi trong chiếc xe hơi sang trọng, đi ngang qua. Ông ta chạy vội vào trong sân sứ quán Mỹ rồi leo lên một trong những chiếc máy bay lên thẳng cuối cùng đợi trên sân thượng nhà mái bằng.

Sau khi đại sứ Mỹ đi ra ngoài, những cánh cổng toà đại sứ được đóng lại.

Đúng lúc đó có một người Việt Nam ngồi trên xe, đèo theo một phụ nữ, phóng đến cổng sứ quán Mỹ. Không nhìn thấy có ai, họ hỏi tôi:

– Thế này thì chúng tôi còn biết đi đâu bây giờ? Chúng tôi chết mất. Quân cộng sản đang tới. Tướng Westmorland đã hứa bảo vệ chúng tôi.

Nỗi lo sợ tràn khắp thành phố.

Hàng nghìn người chạy như điên tới sân bay, nhưng không còn chiếc máy bay nào cất cánh nữa. Hơn nữa, trước cổng nhà ga hàng không, cảnh sát đang dựng lên một rào cản.

Hàng nghìn người khác lại đổ xô đến căn cứ hải quân mang theo valy, hành lý, cố tìm cách leo lên được một chiếc tàu nào đó để chạy trốn theo dòng sông Sài Gòn.

Từ những khu vực ngoại thành, hàng ngàn người khác cũng đang chạy vào những khu phố ở trung tâm Sài Gòn.

Tôi đi qua các phố, buồn rầu, chậm chạp, trong khi tiếng pháo nổ mỗi lúc một gần. Luôn luôn tôi bắt gặp nhiều người giữ tôi lại, nói:

– Chắc ông là người Pháp, vì ông vẫn còn ở lại với chúng tôi. Ông có thể làm gì giúp chúng tôi được không?

Họ chìa ra những giấy tờ, thư từ, chứng minh họ có họ hàng đang ở bên Pháp. Tôi nhìn những con người khốn khổ đang ứa trào nước mắt. Tôi không thể nói gì hơn.

(Theo VOV)
Việt Báo
vietbao.vn