Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh
Ngày 2 tháng 9: “Việt Nam, sự thật đã thành một nước tự do độc lập”
Thứ tư, 02/09/2009, 00:54 (GMT+7)
Cách đây 78 năm, ngày 2-9-1931, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, tại phiên tòa xét xử lần thứ 7, cảnh sát Hồng Công thừa nhận việc bắt Tống Văn Sơ là bất hợp pháp nhưng việc trục xuất vẫn là hợp pháp. Các luật sư tiếp tục kháng cáo để chống lại âm mưu đẩy Nguyễn Ái Quốc vào tay chính quyền thực dân Pháp.
Ngày 2-9-1945 là một sự kiện trọng đại của dân tộc Việt Nam. Tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước đông đảo đồng bào, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
Ngày 2-9-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên cùng đông đảo kiều bào Việt Nam, một số bạn Pháp và Đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau. Trong bài diễn văn đọc bằng tiếng Pháp, Bác nói: “Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh đã gắn bó ý chí của mọi người Việt Nam từ Bắc chí Nam thành một khối sức mạnh, bất kỳ nguồn gốc họ ở đâu, theo tôn giáo hay thuộc các giai tầng xã hội nào. Trong buổi tối hôm nay, làm sao chúng ta lại không nghĩ tới đồng bào Nam bộ với một tình cảm trìu mến đặc biệt. Nguyện vọng tha thiết nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam là Tổ quốc đang hồi sinh của chúng ta không bao giờ bị chia cắt và không gì chia cắt được… Mong sao tình hữu nghị giữa nước Pháp và nước Việt Nam độc lập và thống nhất trở thành sự thực… Một tình hữu nghị như vậy giữa hai nước chỉ có lợi cho sự phồn vinh của Liên hiệp Pháp và sự bừng nở lý tưởng dân chủ trên thế giới”.
Ngày 2-9-1947, Bác ra lời kêu gọi nhân kỷ niệm ngày Cách mạng và Quốc khánh lần đầu tiên tổ chức trong hoàn cảnh kháng chiến. Bác phân tích: “Cách mạng giải phóng Mỹ 8 năm mới thành công. Cách mạng Pháp 5 năm. Cách mạng Nga 6 năm. Cách mạng Tàu 15 năm mới thành công. Tổ tiên ta chống ngoại xâm đời Trần 5 năm, đời Lê 10 năm mới thắng lợi… Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết và chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn răng chịu khổ, ra sức chiến đấu. Chịu khổ chiến đấu mấy năm để đánh tan ách nô lệ hơn 80 năm vừa qua để xây nền tự do muôn ngàn đời sắp tới, thì cũng bõ công. Tướng sĩ trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều đoàn kết chặt chẽ, cố gắng làm đúng 4 chức Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì cuộc trường kỳ kháng chiến của ta nhất định thắng!”.
Cũng trong ngày 2-9-1947, trên báo Sự Thật, Bác viết bài “Cán bộ và Đời sống mới”, đưa ra nguyên lý: “Cán bộ muốn cho xứng đáng, phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”.
Ngày 2-9-1949, trả lời phỏng vấn một tờ báo của Thái Lan, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam khẳng định: “Bao giờ Việt Nam cũng cần thân thiện với nước Thái, và nước Thái thân thiện với Việt Nam, vì chúng ta là bà con láng giềng”.
Ngày 2-9-1950, trong bài viết “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu” đăng trên báo Sự Thật, Bác “chỉ ra thang thuốc chữa bệnh quan liêu là: Phải đặt lợi ích của dân chúng lên trên hết, trước hết. Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân. Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình. Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.
Ngày 2-9-1969, sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù được Đảng và Nhà nước hết lòng chăm sóc, tập thể các thầy thuốc tận tình cứu chữa, nhưng vào lúc 9 giờ 47 phút, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.
D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 1 tháng 9: “Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng”
Thứ ba, 01/09/2009, 00:57 (GMT+7)
Cách đây 68 năm, ngày 1-9-1941, trên báo Việt Nam Độc Lập đăng “Bài ca phụ nữ” của Nguyễn Ái Quốc, nhắc lại những tấm gương trong lịch sử của phụ nữ Việt Nam kể từ Hai Bà Trưng cho tới Nguyễn Thị Minh Khai để kêu gọi: “…Chị em cả trẻ đến già/ Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh/ Đua nhau vào Hội Việt Minh/ Trước giúp nước, sau giúp mình mới nên/ Làm cho thiên hạ biết tên/ Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng”.
Ngày 1-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời A.Patty, chỉ huy cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ đang ở Hà Nội, đến Bắc Bộ phủ để dự bữa cơm trước Ngày lễ Độc lập. Hồi ức của Patty ghi lại: “Ông Hồ giữ vững quan điểm là trong thời điểm đặc biệt này, Việt Minh là một phong trào dân tộc, bao gồm một cách dân chủ tất cả các đảng phái cách mạng Việt Nam. Tất nhiên ông công nhận, Đảng Cộng sản Đông Dương là một nhân tố lãnh đạo trong phong trào giành độc lập dân tộc, nhưng các đảng viên của họ “trước hết phải là người dân tộc chủ nghĩa, sau đó mới là đảng viên của Đảng”. Ông Hồ muốn được các chuyên gia kỹ thuật Mỹ giúp thiết lập một số công nghiệp mà Việt Nam có khả năng đảm đương được…”.
Ngày 1-9-1959, phát biểu tại lễ phong quân hàm cho một số cán bộ cao cấp của quân đội, Bác căn dặn: “Để xây dựng quân đội tiến lên chính quy đặng phục vụ lợi ích của cách mạng, Chính phủ ta đã trao quân hàm cho cán bộ và chiến sĩ trong quân đội… Để lãnh đạo quân đội tiến bộ không ngừng, các đồng chí cần phải trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, gần gũi quần chúng và gương mẫu về mọi mặt. Dù ở cương vị nào, chúng ta cũng đều phải cố gắng để xứng đáng là người đầy tớ trung thành và tận tụy của nhân dân”.
Ngày 1-9-1961, nói chuyện với Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế đang họp tại Việt Nam, Bác lấy mình làm dẫn chứng: “Tôi chỉ học hết lớp tiểu học. Vì chế độ thực dân và phong kiến đã kìm hãm giáo dục… Về hiểu biết phổ thông, năm tôi 17 tuổi tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên” để so sánh với những tiến bộ xã hội mà thế hệ thanh niên ngày nay đang được hưởng.“Cách mạng Tháng Mười Nga đã soi đường chúng tôi. Chúng tôi đã không sợ thực dân và phong kiến mà hăng hái hoạt động cách mạng và cuối cùng cách mạng đã thắng lợi… Một nhiệm vụ quan trọng nữa của thanh niên trí thức là phát triển giáo dục, trước hết là xóa nạn mù chữ… Trong cuộc đấu tranh diệt giặc dốt, quân chủ lực phải là thanh niên trí thức, dựa vào lực lượng to lớn của nhân dân”.
Và trong lời kết thúc, Bác nói: “Đó là tâm sự của một người thanh niên già đã có một ít kinh nghiệm, thật thà bày tỏ với các bạn thanh niên yêu quý của tôi”.
Đã thành lệ, ngày 1-9 hàng năm, trước ngày Quốc khánh, Bác cùng các nhà lãnh đạo đến Nghĩa trang Mai Dịch đặt vòng hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Ngày 1-9-1969, khi sức khỏe đã giảm sút nghiêm trọng, Bác vẫn nhắc gửi vòng hoa đến Đài liệt sĩ và gửi tặng 2 lẵng hoa cho Đội cảnh sát khu vực 4 quận Ba Đình và Đội bảo đảm giao thông đường bộ I. Đó là những phần thưởng cuối cùng Bác động viên cán bộ và nhân dân.
D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 31 tháng 8 – “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực”
Thứ hai, 31/08/2009, 01:58 (GMT+7)
Cách đây 64 năm, ngày 31-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa lần cuối cùng văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” và làm việc với Ban tổ chức yêu cầu chuẩn bị thật chu đáo để bảo đảm Ngày lễ Độc lập thành công.
Ngày 31-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thủ tướng J.Nerhu chúc mừng Chính phủ Lâm thời Ấn Độ: “Chính phủ Ấn Độ tự do đầu tiên đã thành lập… Tôi tin chắc rằng những dây thân ái giữa hai nước chúng ta sẽ giúp cho việc gây dựng hạnh phúc chung cho hai dân tộc chúng ta. Tôi yêu cầu Ông chuyển đạt cho nhân dân Ấn Độ mới những cảm tình nồng nàn và lòng đoàn kết cảm thông của nhân dân Việt Nam”. Cùng thời gian này, tại nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục các cuộc tiếp xúc tranh thủ sự ủng hộ cho nền độc lập của Việt Nam: tiếp các vị thư ký của Hội nghị 21 nước Đồng Minh đang họp tại Paris; gặp gỡ Đoàn đại biểu Thanh niên Pháp…
Ngày 31-8-1958, đến thăm Khu tập thể của Thành hội Phụ nữ Hà Nội, gặp các cháu bé trong nhà trẻ, Bác căn dặn người lớn: “Các cháu là mầm non của Tổ quốc, là tương lai của xã hội, các cô phải trông nom dạy dỗ các cháu chu đáo”.
Ngày 31-8-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong hàm cấp tướng cho nhiều nhà lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, các Thượng tướng Văn Tiến Dũng và Chu Văn Tấn, các Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà, Song Hào…
Ngày 31-8-1960, Bác Hồ gửi thư cho cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hóa nhân vào năm học mới. Thư nêu rõ: “Văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế…”. Cùng ngày Bác tiếp các vị lãnh đạo trong nước và các đoàn đại biểu quốc tế sang Việt Nam dự Lễ Quốc khánh và Đại hội Đảng. Bác nói: “Ở đây chúng ta là anh chị em một nhà. Chúng tôi mong các đồng chí xem đây như ở nhà” và tặng 2 câu thơ:
“Anh chị em đoàn kết một nhà
Ấy là tình nặng, ấy là nghĩa sâu”.
Ngày 31-8-1963, Bác đến thăm và nói chuyện với Hội nghị Tuyên giáo miền núi. Về công tác tuyên truyền, Bác nói: “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách nào?… Tuyên truyền huấn luyện phải xuất phát từ chỗ nào? Xuất phát từ nhiệt tình cách mạng, tình thương yêu chân thành đồng bào các dân tộc, từ tinh thần hết lòng phục vụ đồng bào các dân tộc… Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải mà nói ngắn gọn những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được… Đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt. Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làm được”.
Ngày 31-8-1969, giữa lúc bệnh tình càng trở nên trầm trọng, Bác Hồ vẫn quan tâm theo dõi tình hình chiến sự và gửi lẵng hoa tặng các chiến sĩ tên lửa Sư đoàn 361 khi được nghe báo cáo thành tích vừa bắn rơi vào ngày hôm trước chiếc máy bay không người lái của Mỹ. Đây cũng là phần thưởng cuối cùng Bác tặng đồng bào và chiến sĩ trước khi từ trần.
D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 30 tháng 8: “Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng”
Chủ nhật, 30/08/2009, 01:39 (GMT+7)
Cách đây 67 năm, ngày 30-8-1942, từ trong một trại giam của bọn quân phiệt Tưởng Giới Thạch tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhờ Vương Tích Cơ, một người Trung Hoa có cảm tình với cách mạng Việt Nam, là người thường đem cơm thăm nuôi, chuyển một bức thư bí mật gửi Lê Quảng Ba, một thành viên Việt Minh đang hoạt động ở vùng biên giới, để nối lại liên hệ với phong trào trong nước.
Ngày 30-8-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi Hội Phật tử Việt Nam” với nội dung: “Nhân ngày lễ Phật rằm tháng bảy, tôi kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo hộ Tổ quốc và đồng bào ta và tôi gửi lời thân ái chào các vị trong Hội Phật tử. Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện. Thế là: Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ dàng mở mang… Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn. Người phải hy sinh đấu tranh, diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết hy sinh của cải, xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ. Trong cuộc kháng chiến cứu nước, đồng bào Phật giáo đã làm được nhiều. Tôi cảm ơn đồng bào và mong đồng bào cố gắng thêm, cố gắng mãi, cho đến ngày trường kỳ kháng chiến thắng lợi, thống nhất, độc lập thành công”.
Ngày 30-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chia buồn tới thân nhân bác sĩ Dubois: “Được tin lão đồng chí Đuyboa vừa qua đời, tôi rất cảm động và thương tiếc. Suốt đời bác sĩ Đuyboa đã nêu tấm gương sáng của một nhà khoa học tiến bộ, một người chiến sĩ đấu tranh bền bỉ chống chính sách phân biệt chủng tộc, vì lý tưởng cao cả, hòa bình, tự do, bình đẳng và tiến bộ của loài người…”.
Ngày 30-8-1964, Báo Nhân Dân đăng bài “Mỹ đang thất bại” (bút danh Chiến Sĩ) điểm lại dư luận phương Tây nói về sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Bài báo khẳng định: “Nếu đế quốc Mỹ tiếp tục khiêu khích, bắn phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì sẽ chịu số phận như thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ”.
Ngày 30-8-1965, Bác gửi thư khen quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 500 máy bay Mỹ và nhấn mạnh: “Giặc Mỹ càng thua đau, càng giãy giụa, chúng còn nhiều âm mưu xảo quyệt và độc ác. Đồng bào, cán bộ và bộ đội ta không được vì thắng lợi mà chủ quan… Hãy phát huy truyền thống Cách mạng Tháng Tám vẻ vang, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, hết lòng hết sức ủng hộ cách mạng miền Nam, đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”.
Ngày 30-8-1969, tình hình sức khỏe của Bác diễn biến rất xấu. Buổi chiều, khi tỉnh lại, Bác hỏi Thủ tướng Phạm Văn Đồng về công việc chuẩn bị lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh và căn dặn: “Các chú nhớ phải bắn pháo hoa mừng chiến thắng để động viên tinh thần chiến đấu của nhân dân”. Bác còn hỏi han tình hình nước sông Hồng và nhắc nhở phải chú ý đề phòng lũ lụt…
D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 29 tháng 8: “Muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao”
Thứ bảy, 29/08/2009, 04:04 (GMT+7)
Cách đây 77 năm, ngày 29-8-1932, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, mặc dù chưa đủ cơ sở luật pháp để trục xuất Tống Văn Sơ khỏi nhượng địa của Anh nhằm đẩy nhà cách mạng Việt Nam vào tay thực dân Pháp, nhưng Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh cũng không chấp nhận để Tống Văn Sơ được phép sang nước Anh, nơi mà Pháp không thể nào bắt được.
Ngày 29-8-1942, ngày đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhập nhà lao huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với thời gian bị giam giữ tại đây kéo dài đến 24-9-1942. Trong khoảng thời gian này, Bác đã làm 22 bài thơ mà bài đầu tiên mang nội dung như một lời tuyên ngôn cho một tinh thần bất khuất và lạc quan: “Thân thể ở trong lao/Tinh thần ở ngoài lao/Muốn nên sự nghiệp lớn/Tinh thần càng phải cao”.
Ngày 29-8-1943, đúng một năm sau khi bị bắt giam vào nhà lao huyện Tĩnh Tây, sau một chặng đường dài đi qua nhiều nhà lao ở nhiều địa phương khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh bị giải từ Thiên Bảo lại trở về huyện lỵ Tĩnh Tây nhưng bị biệt giam hơn 2 tuần, ngày mang gông, đêm cùm chân.
Ngày 29-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời người đứng đầu Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ OSS, đại tá A.Patty, đến ngôi nhà 48 Hàng Ngang để trao đổi về dự thảo văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” và dự kiến tổ chức lễ Tuyên ngôn Độc lập, việc quân đội Trung Hoa Quốc dân Đảng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 18 trở lên, về “chương trình quốc hữu hóa” của Chính phủ Việt Nam đối với một số ngành kinh tế quan trọng.
Cùng ngày, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhờ Patty chuyển tới Tổng thống Mỹ Truman một bức điện với nội dung: “Để bảo đảm có kết quả cho vấn đề mà Ủy ban Liên tịch các nước Đồng minh có nhiệm vụ phải giải quyết ở Việt Nam, yêu cầu để cho phái đoàn Mỹ được làm một thành viên của ủy ban nói trên và đặt quan hệ với Chính phủ chúng tôi… Chúng tôi yêu cầu cho Chính phủ chúng tôi, chính quyền duy nhất hợp pháp ở Việt Nam, và là người duy nhất đã chiến đấu chống Nhật (hoạt động quân sự do Mặt trận Việt Minh và sĩ quan Mỹ tiến hành) có quyền đại diện trong ủy ban đó”.
Ngày 29-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục tăng cường gặp các chính khách Pháp như Bộ trưởng Giáo dục Nagelen, Bộ trưởng F.Gay, Bộ trưởng Xây dựng Francois Billoux và chủ bút tờ báo châm chích nổi tiếng “Le Canard Enchainé” (Con vịt bị trói).
Ngày 29-8-1952, Báo Cứu Quốc đăng bài “Sẵn tiền, sẵn lòng, tát biển Đông cũng cạn”, với bút danh ĐX, Bác nói lên tinh thần của nhân dân đối với công cuộc kháng chiến, kiến quốc và kết luận bằng 2 câu văn vần: “Nhân dân ta sẵn sức, sẵn của, sẵn lòng/Cán bộ tận tụy và trong sạch thì mười việc thành công cả mười”.
Ngày 29-8-1958, đóng góp ý kiến về kế hoạch mở rộng thủ đô tại cuộc họp của Bộ Chính trị, Bác nhắc nhở: “Mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông, hồ…) và nhân hòa (lợi ích của nhân dân, của Chính phủ). Công tác quy hoạch thành phố phải hợp lý, bảo đảm được cả về kinh tế, mỹ quan và quốc phòng, phải có kế hoạch vận động quần chúng tham gia, có ban phụ trách để chịu trách nhiệm, tránh lối làm đại khái, lãng phí”.
D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 28 tháng 8: “Chính sách của Chính phủ trước sau như một”
Thứ sáu, 28/08/2009, 01:14 (GMT+7)
Cách đây 67 năm, ngày 28-8-1942, từ Túc Vinh, lãnh tụ Hồ Chí Minh bị lính của Trung Hoa Quốc dân đảng áp giải và đưa đến giam trong nhà lao huyện Thiên Bảo.
Ngày 28-8-1945, tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều thời gian để soạn thảo văn kiện lịch sử “Tuyên ngôn Độc lập”. Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi: “Trong căn nhà nhỏ, thiếu ánh sáng của ngôi nhà sâu thẳm nằm giữa một trong ba mươi sáu phố phường cổ kính của Hà Nội, Bác ngồi làm việc, khi thì viết, khi thì đánh máy. Những người giúp việc trong gia đình không biết ông cụ có cặp mắt sáng, chiếc áo nâu bạc thường để hở khuy ngực, hay hút thuốc lá, ngồi cặm cụi đó làm gì. Mỗi lần họ tới hỏi cụ có cần gì, cụ quay lại mỉm cười, chuyện trò đôi câu. Lần nào cụ cũng nói không có gì cần phải giúp đỡ. Họ không biết mình đang chứng kiến những giờ phút lịch sử.
Một buổi sáng, Bác và anh Nhân (Trường Chinh) gọi anh em chúng tôi tới. Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thảo xong. Bác đang đọc để thông qua tập thể. Như lời Bác nói lại sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người. Hai mươi sáu năm trước (1919), Bác tới Hội nghị hòa bình Versaille, nêu lên những yêu cầu cấp thiết về dân sinh, dân chủ cho những người dân thuộc địa. Cả những yêu cầu tối thiểu đó cũng không được bọn đế quốc mảy may chấp nhận. Người đã thấy rõ một sự thật là không thể trông chờ ở lòng bác ái của các nhà tư bản. Người biết chỉ còn trông cậy vào cuộc đấu tranh, vào lực lượng của bản thân dân tộc mình. Giờ phút này, Người đã thay mặt cho cả dân tộc, hái quả tám mươi năm đấu tranh. Bữa đó, chúng tôi đã nhìn thấy rõ niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng của Người…”
Ngày 28-8-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục các cuộc vận động hành lang để cứu vãn sự bế tắc trong quan hệ Việt-Pháp, gặp gỡ nhiều chính khách như Bộ trưởng Tư pháp Teltgen, Bộ trưởng Canh nông Prégent, Bộ trưởng Giao thông Thương mại J.Moch…
Ngày 28-8-1947, trả lời Báo Độc Lập của Đảng Dân chủ về việc mở rộng Chính phủ, Bác nêu rõ quan điểm: “Chính sách của Chính phủ trước sau như một, vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh vác việc nước. Thí dụ, ngoài cụ Đặng Văn Hướng (một cựu thượng thư) còn nhiều cụ khác nữa như cụ Phạm Gia Thụy, cựu tổng đốc, cụ Phan Kế Toại, khâm sai đại thần, cụ phó bảng Bùi Kỷ đều rất tận tụy giúp việc kháng chiến… Trước sự đại đoàn kết của Chính phủ và quốc dân đồng bào, mưu mô chia rẽ của thực dân phản động Pháp nhất định thất bại”.
Ngày 28-8-1963, Bác dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo việc thực hiện kế hoạch nhà nước. Bác phát biểu: “Từ trước tới nay ta nói hay nói giỏi, nhưng làm thì thế nào?… Ta chủ trương thắt lưng buộc bụng, nhưng người thi hành đã có những biện pháp thiết thực như thế nào?”.
Ngày 28-8-1969, tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh có dấu hiệu rối loạn trầm trọng. Tuy vậy, mỗi lần tỉnh, Bác vẫn yêu cầu được nghe trả lời câu hỏi: “Miền Nam chiến sự thế nào?”.
D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Ngày 27 tháng 8: “Một chính phủ thống nhất quốc gia”
Thứ năm, 27/08/2009, 01:53 (GMT+7)
Cách đây 87 năm, ngày 27-8-1922, mật thám Pháp cho biết Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí cộng sản trong chi bộ Quận 17, Paris đi dạo tại khu rừng Fontainebleau.
Ngày 27-8-1942, lãnh tụ Hồ Chí Minh trên đường qua Trung Quốc để “vâng lệnh đoàn thể đi cầu ngoại viện” cho cách mạng Việt Nam thì bị quân tuần cảnh của Trung Hoa Quốc dân Đảng bắt giữ tại Túc Vinh thuộc huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, nằm trong lãnh địa của Đệ tứ Chiến khu. Theo tướng Trương Phát Khuê là Tư lệnh chiến khu này thì trong người Hồ Chí Minh mang theo chứng minh thư của “Quốc tế phản xâm lược hiệp hội ở Việt Nam” và thẻ hội viên đặc biệt của “Quốc tế Tân văn xã” nhưng đều quá thời hạn hiệu lực nên bị nghi là gián điệp.
Sau khi bị bắt, Bác tìm cách bí mật viết thư về báo tin cho tổ chức ở trong nước biết để tiến hành vận động các khả năng buộc chính quyền Tưởng Giới Thạch phải trả tự do. Vì vậy, đã có hàng trăm lá thư của các tầng lớp dân chúng từ chiến khu Cao – Bắc – Lạng và Việt kiều ở Hoa Nam đã gửi tới Chính phủ Trùng Khánh và các sứ quán cũng như các hãng thông tấn Trung Quốc và nước ngoài đề cập tới yêu cầu này.
Đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Trùng Khánh cũng gặp Cơ quan tình báo chiến lược Mỹ OSS yêu cầu gây sức ép với Chính phủ Trung Hoa và khuyên nên tranh thủ sự hợp tác với Hồ Chí Minh để chống phát xít Nhật ở Đông Dương.
Tuy nhiên phải đến tháng 10-1943, sau khi bị giải đi qua nhiều nhà lao ở nhiều địa phương khác nhau, Bác mới được trả tự do. Cũng chính trong thời gian nhiều thử thách này, nhiều bài thơ đã được Bác sáng tác trong tù, sau này tập hợp trong tập thơ “Ngục Trung nhật ký” (Nhật ký trong tù).
Ngày 27-8-1945, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Ủy ban Dân tộc giải phóng đưa ra đề nghị cụ thể về chính sách đại đoàn kết dân tộc để thành lập Chính phủ thống nhất quốc gia bao gồm cả những đại diện các đảng phái yêu nước và những nhân sĩ không đảng phái, những nhân vật có danh vọng trong xã hội. Hưởng ứng đề nghị trên, nhiều ủy viên Việt Minh xin rút lui để nhường ghế cho những thành phần khác. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong Chính phủ có 3 ghế cho Đảng Dân chủ, 1 Công giáo và nhiều bộ trưởng không đảng phái.
Cùng ngày, Chính phủ lâm thời ra tuyên cáo: “Tuân theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ mà quốc dân giao phó cho. Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt trận Độc lập Đồng minh… Nó là một chính phủ thống nhất quốc gia giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức”. Đánh giá toàn bộ sự kiện trọng đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân”.
D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn
Nghĩa tình từ bức tượng Bác Hồ ở Thông tấn xã Việt Nam
Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi trên bộ ghế mây, chăm chú sửa văn bản trong bức ảnh của nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định, đã trở thành một biểu tượng về sự vĩ đại nhưng rất đỗi bình dị của người Cha già dân tộc. Và biểu tượng ấy một lần nữa lại được thế giới tôn vinh: Nhà điêu khắc người Mêhicô đã sáng tác 4 bức tượng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” bằng đồng để trưng bày tại Mêhicô và làm quà tặng cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Trong đó, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) đã vinh dự được sở hữu một phiên bản, hiện được an vị tại Trung tâm Thông tấn Quốc gia ở số 5 Lý Thường Kiệt (Hà Nội).
Người ngồi đó…
Bức tượng Bác Hồ bằng đồng của nhà điêu khắc Pedro Ramirez Ponzanell, mang tên “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” do Đảng Lao động Mêhicô (PT) trao tặng. Đây là phiên bản thứ ba tại Việt Nam, và là phiên bản cuối cùng trong tổng số 4 phiên bản tượng Bác Hồ của cùng một khuôn đúc mà Pedro Ramirez Ponzanell thực hiện, do Đảng PT đặt làm, nhằm thể hiện sự tôn vinh với vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam và thế giới.
Nhà điêu khắc Pedro Ramirez Ponzanell
Khác với 3 phiên bản trước, phiên bản tượng Bác Hồ đặt tại nhà số 5 Lý Thường Kiệt được thể hiện đúng như bức ảnh mà nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định chụp Bác Hồ đang ngồi làm việc ở Phủ Chủ tịch, bức ảnh mà Pedro Ramirez Ponzanell đã chọn để làm mẫu cho tác phẩm điêu khắc của mình. Có nghĩa là không có thêm một chiếc ghế kê đối diện phía Bác ngồi, như một nơi để mọi người có thể ngồi lại, ngắm tượng Bác, và “đàm đạo” cùng Người như bức tượng đặt tại Tượng đài Hồ Chí Minh ở Thủ đô Mêhicô.
Bức tượng Bác Hồ an vị tại tầng 2
tòa nhà Trung tâm Thông tấn Quốc gia, số 5 Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Ảnh: Lê Phú
Phó Tổng Giám đốc TTXVN Ngô Hà Thái kể, năm 2011, khi ông sang Mêhicô công tác, như tất cả người Việt Nam đã có dịp tới Mêhicô, và cũng như rất nhiều những người nước ngoài yêu quý và tôn kính Hồ Chủ tịch, ông đã tới thăm tượng đài Hồ Chủ tịch tại Trung tâm lịch sử của Thành phố Mêhicô. Bức tượng đài được dựng năm 2009, đúc bằng đồng, theo kích thước người thật với hình ảnh Bác Hồ ngồi trong bộ bàn ghế mây, đang xử lý các văn bản… Xúc động trước bức tượng đài đầy ý nghĩa này, Phó Tổng Giám đốc đã tìm hiểu và được ông Hồ Quang Minh – điều phối viên của Đảng PT – cho biết, đã có 2 phiên bản của tượng đài được Đảng PT tặng Việt Nam. Một bức tượng đã được đặt ở Phủ Chủ tịch, đúng nơi bức ảnh của tác giả Đinh Đăng Định chụp, và bức thứ hai tặng cho thành phố Hà Nội. Theo ông Hồ Quang Minh, khuôn đúc tượng chỉ còn được 1 phiên bản nữa là sẽ không thể đúc thêm, vì thế dự kiến sẽ đúc phiên bản cuối cùng để tặng cho một địa điểm nào đó có ý nghĩa của Việt Nam.
Phó Tổng giám đốc Ngô Hà Thái đã bàn bạc với điều phối viên Hồ Quang Minh, và cả hai đều nhất trí rằng địa điểm cuối cùng này nên là TTXVN, bởi như nhiều người cho biết, bức ảnh này nhà báo Đinh Đăng Định đã chụp khi Bác đang sửa bản tin của TTXVN, và trên bàn của Người lúc ấy cũng có cuốn Báo Ảnh của TTXVN. Không thể ý nghĩa hơn khi phiên bản cuối cùng được tặng cho TTXVN. Chính bởi vậy, phía Đảng PT cũng nhất trí ngay với đề nghị này. Và phiên bản cuối cùng đã được gấp rút đúc, để trao tặng cho TTXVN đúng vào dịp kỷ niệm ngày thành lập TTXVN năm nay (15/9/2012).
Ở Việt Nam, như đã nói, còn 2 phiên bản nữa của bức tượng. Và hai phiên bản này thì giống hoàn toàn với bức tượng tại Mêhicô. Phiên bản thứ nhất được Đảng PT trao tặng thành phố Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội (năm 2010). Đồng chí Pedro Vaquez Gonzalez, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nhóm Nghị sĩ Đảng PT tại Hạ viện, Trưởng nhóm Nghị sĩ Quốc hội Mêhicô với Việt Nam, đã trao tặng bức tượng này cho lãnh đạo thành phố Hà Nội như một món quà vô giá, thể hiện tình đoàn kết cao cả, hữu nghị giữa hai Đảng và nhân dân hai nước.
Tiếp sau đó, vào tháng 6/2011, phiên bản thứ hai đã là món quà của Đảng PT trao tặng nhân dân Việt Nam nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm Ngày Người ra đi tìm đường cứu nước. Bức tượng đã được khánh thành ngày 15/6 và được đặt tại Phủ Chủ tịch. Đích thân Tổng Bí thư Đảng PT Alberto Anaya Gutierrez đã sang Việt Nam dự lễ khánh thành. Tổng Bí thư Alberto Anaya tâm sự, với những đảng viên Đảng PT, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng của người anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ quốc tế có những đóng góp to lớn cho phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Bức tượng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” – món quà nhỏ nhưng đó là cả tấm lòng của những người lao động Mêhicô với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.
Tác giả của 4 phiên bản tượng Bác Hồ
Một địa điểm tại thủ đô Mêhicô mà mỗi người con Việt Nam phương xa mỗi khi có dịp đến đây đều dành thời gian ghé thăm, chính là công viên “Tự do cho các dân tộc”, nơi đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Với hình ảnh bụi tre, khóm trúc thân thuộc nằm ngay trên đại lộ mua sắm sầm uất “20 tháng 11” thuộc khu Trung tâm lịch sử thủ đô Mêhicô, công viên mang đậm nét Á Đông này từ lâu nay đã trở thành một không gian xanh được yêu thích của người dân Mêhicô.
Người Việt sinh sống và làm việc tại Mêhicô bên tượng Bác
trong công viên “Tự do cho các dân tộc”. Ảnh: Hoàng Quỳnh
Nhìn từ xa, dòng chữ mạ vàng bằng tiếng Tây Ban Nha “Không có gì quý hơn độc lập tự do” – câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – nổi bật trên bức tường đá hoa cương trắng hình bán nguyệt cao gần 4 mét. Dưới chân bức tường là hình ảnh Bác Hồ ngồi làm việc trong bộ bàn ghế mây mộc mạc, dáng vẻ uy nghiêm mà gần gũi. Trong khoảng không gian tĩnh lặng của buổi sáng mùa hạ, Bác ngồi đó, vầng trán cao, đôi mắt tinh anh chăm chú đọc tập tài liệu trên bàn, tay phải cầm bút viết, chân đi đôi dép cao su, trông thật giản dị và đáng kính… Bức tượng tạc chân dung Bác đúc bằng đồng theo kích thước người thật, sống động có hồn, khiến bất cứ ai ngay lần đầu tiên nhìn thấy cũng đều xúc động và vinh dự như đang được gặp Bác.
Để hiểu hơn về hành trình bức tượng Bác Hồ, chúng tôi đến gặp nhà điêu khắc Pedro Ramirez Ponzanelli. Ông sinh năm 1973 tại thành phố Mêhicô, trong một gia đình có dòng dõi nghệ thuật gốc Italia, từng tham gia thực hiện các công trình điêu khắc lớn như nhà thờ Carrara tại Italia, Cung Mỹ thuật và Đài độc lập ở Mêhicô. Pedro Ramirez đặc biệt quan tâm đến việc gìn giữ lịch sử và tham gia không mệt mỏi vào các dự án tôn vinh các nhân vật kiệt xuất và gìn giữ các nền văn hóa bản địa. Đây có lẽ cũng là cái duyên đưa ông đến với Bác Hồ. Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông cho biết khi nhận dự án đúc tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào năm 2009, ông đã đi tìm hiểu rất nhiều tranh ảnh, đọc sách báo và nghiên cứu tư liệu về Người. Một lần đến Đại sứ quán Việt Nam tại Mêhicô, trong số nhiều hình ảnh đưa ra lựa chọn, tấm ảnh “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” của nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định đã để lại trong ông một ấn tượng sâu sắc về một con người vừa đáng tôn kính, vừa gần gũi. Ông nói: “Đó là một người xứng đáng được vinh danh. Hình ảnh Hồ Chủ tịch đang ngồi làm việc, xử lý văn bản, tượng trưng cho cách ông tập hợp toàn dân tộc Việt Nam”. Và thế là ông quyết định chọn bức ảnh làm mẫu cho bức tượng được đặt tại công viên “Tự do cho các dân tộc” tọa lạc ở trung tâm thủ đô Mêhicô.
Một điểm khác so với nguyên bản trong bức ảnh Bác Hồ ngồi ghế mây là nghệ nhân Pedro Ramirez đã đề xuất làm thêm một chiếc ghế đặt bên cạnh bàn làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nói chiếc ghế này sẽ tạo cho mọi người cảm giác gần gũi hơn với Hồ Chủ tịch, dù là người dân Việt Nam hay người dân Mêhicô đều có thể ngồi bên cạnh Người.
Pedro Ramirez cho biết, để chế tạo khuôn, trước tiên người nghệ nhân dùng sáp để tạo tượng mẫu, tiếp đó dùng vữa thạch cao đắp vào mẫu sáp vừa tạo để đổ khuôn, rồi sau đó đem nung. Khuôn được nung ở nhiệt độ 3.000 độ C khiến lớp sáp tan chảy, tạo khuôn tượng với hình dáng và đường nét theo bản mẫu điêu khắc. Khuôn phải được nung nóng đều, đủ nhiệt độ cho đồng chảy đều trong khuôn. Tiếp theo là công đoạn đúc, gồm 2 bước là nấu đồng và rót đồng vào khuôn. Đồng được nấu ở nhiệt độ 1.200 độ C, sau đó được đưa ra và rót vào khuôn. Quá trình đổ rót phải tuân theo một công thức nghiêm ngặt để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh không rạn nứt, tỳ vết. Sau khi khuôn nguội, dỡ khuôn lấy sản phẩm ra mài, dũa, đục, tách, đánh bóng và làm màu theo mẫu. Toàn bộ quá trình diễn ra trong vòng 20 ngày.
Theo nghệ nhân Pedro Ramirez, phần khó nhất chính là thể hiện được thần thái của khuôn mặt sao cho toát lên phẩm chất cao quý và giản dị của Hồ Chủ tịch, và đôi mắt, phải có hồn, có chiều sâu…
Đúng là bức tượng Bác Hồ đã đạt được những mong muốn của nhà điêu khắc và của Đảng PT giàu tình nghĩa với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Ngắm Bác, những người làm Thông tấn lại nhớ đến lời dạy của Bác khi Người đến thăm TTXVN năm 1955: “Phát tin nhanh, kịp thời, tin tốt, tin nhiều và bảo đảm sự thật”./.
Hoàng Quỳnh – Tuyết Anh
Theo http://baotintuc.vn
Thu Hiền (st)
Bác Hồ với việc giáo dục thanh niên
Cả cuộc đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí minh không quên chăm lo đời sống của mọi tầng lớp nhân dân, Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho thanh niên bởi đó là những chủ nhân tương lai của đất nước. Theo quan điểm của Người thì thanh niên là:
Người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng.
Người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hoá, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự, trị an, bảo vệ Tổ quốc.
Người luôn đi đầu trong mọi công việc với khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có. Việc gì khó thanh niên làm”.

Bác Hồ và thanh niên trong ngày bầu cử Quốc hội Khóa II (5/5/1960)
Từ khi còn là một thanh niên yêu nước, trải qua những năm tháng bôn ba xứ người, Người luôn canh cánh con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, lầm than và đào tạo thế hệ kế cận gánh vác trọng trách “giúp nước, cứu nhà”. Người đã dành rất nhiều tâm huyết cho việc tổ chức, dẫn dắt các thế hệ thanh niên đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ Châu Âu, Châu Mỹ xa xôi đến khi về Quảng Châu – Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã xây dựng được một đội ngũ những nhà yêu nước trẻ tuổi, trung thành tuyệt đối với con đường cứu nước. Những thanh niên cách mạng ưu tú đó đồng thời đã là những hạt nhân để tiến tới việc thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt nam sau này. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến việc học tập, vấn đề cốt lõi để các thế hệ thanh niên trang bị cho mình sự hiểu biết, vốn kiến thức, một trong những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho các thế hệ thanh niên có thể tham gia hoạt động cách mạng, phấn đấu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Song song với việc học tập không ngừng, Bác Hồ cũng dành nhiều sự quan tâm giáo dục thanh niên phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư. Bác khuyên thanh niên không được ngại khó khăn, gian khổ, không nề nguy hiểm trong công tác, học tập, chiến đấu. Trong cuộc sống, Bác căn dặn thanh niên biết yêu thương gia đình, kính trọng ông bà, cha mẹ, người cao tuổi, nâng đỡ, dìu dắt thiếu nhi, quý trọng và hiếu thảo với nhân dân. Thanh niên phải ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Dù ở thời đại nào, thanh niên cũng phải không ngừng vươn lên, phấn đấu, rèn luyện để thật sự là đội quân chủ lực của cách mạng. Bởi một lẽ như Bác Hồ kính yêu đã nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời người khởi đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Đến năm 1947, trong thư gửi thanh niên, một lần nữa Bác Hồ lại khẳng định: “… Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó…”. Trong Di chúc, Người không quên căn dặn Đảng ta quan tâm, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thanh niên trở thành những người có tài, có tâm, có lập trường tư tưởng vững chắc, trung thành với mục đích của Đảng, lợi ích của nhân dân, đủ sức gánh vác những trọng trách mới mà Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa “Hồng” vừa “Chuyên”. Thanh niên “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì là người vô dụng”(Chủ tịch Hồ Chí Minh). Vì vậy, việc bồi dưỡng cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết.
Bên cạnh đó, Người còn yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải chống tâm lý tự ti, tự lợi, chỉ lo vun vén cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay… đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của đoàn viên, thanh niên.

Thanh niên tình nguyện Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh ở Gia Lai
cưa cây dựng nhà cho đồng bào trong một chiến dịch Mùa hè xanh
Thanh niên dù ở thời đại nào, dù trong chiến tranh hay thời bình đều cần phải rèn luyện qua thử thách, qua môi trường sống với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên” để tôi luyện nên ý chí của tuổi trẻ, khi đứng trước bất cứ khó khăn nào cũng vững gan, bền chí vượt qua. Tuổi trẻ cả nước hôm nay luôn nêu cao tinh thần yêu nước quật cường của cha anh đi trước, phát huy truyền thống của dân tộc, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào xung kích, tình nguyện: “Tuổi trẻ Thủ đô tình nguyện nơi đỉnh trời – Hà Giang”, chương trình “Mùa hè xanh”, đồng hành… (Đồng hành cùng thanh niên lập thân, lập nghiệp), tích cực tham gia các diễn đàn: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tiếp lửa truyền thống – Mãi mãi tuổi hai mươi”,…

Mùa hè xanh 2009
Trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế, Đảng ta vẫn thấm nhuần những lời dạy của Người về công tác thanh niên, đưa việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trở thành sinh hoạt chính trị thường xuyên đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Các thế hệ thanh thiếu niên ngày nay ý thức được trách nhiệm, quyền lợi của mình cần phải ra sức rèn luyện, học tập nâng cao mọi mặt trình độ, kiến thức, làm chủ khoa học công nghệ, đặc biệt là trau dồi, tu dưỡng đạo đức cách mạng, trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên” như lời Bác dạy, để xứng đáng là những chủ nhân của đất nước trong thời kỳ mới.
Kim Yến
bqllang.gov.vn
Mạch nguồn thơ văn Nguyễn Trãi trong tác phẩm của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Nguyễn Trãi, trước hết là tư tưởng vì dân, trọng dân, yêu dân.
Nguyễn Trãi viết: “Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc… Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăm nuôi muôn dân, khiến cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là giữ được cái gốc của nhạc vậy”. Mở đầu Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã tuyên bố đường lối: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Tiếp thu tinh thần ấy, Hồ Chí Minh đã hơn một lần nói: “Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, bị áp bức”. Ngay trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh nêu một nguyên lý: “Nước lấy dân làm gốc” để nhắc nhở cán bộ phải luôn biết dựa vào dân và phục vụ vì dân. Kế thừa, phát triển tư tưởng lấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh khẳng định sự tất thắng của sức mạnh nhân dân:
Quân tốt dân tốt,
Muôn sự đều nên.
Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.
Nguyễn Trãi yêu cầu “phàm người có chức vụ… đối dân tận hòa, bỏ thói tham ô, trừ tệ lười biếng; bè đảng riêng tây phải bỏ, thái độ cố phạm phải chừa, coi công việc của quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo của mình”.
Ngay từ những ngày đầu giải phóng, Bác Hồ đã đề ra nhiệm vụ “Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Người nghiêm khắc phê phán những kẻ cơ hội: “Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân phì gia”. Người dạy cán bộ phải biết kính trọng dân: “Có người cho là “dân ngu khu đen”. Thế là tầm bậy. Dân rất thông minh. Quần chúng kinh nghiệm sáng kiến rất nhiều”. Để xứng đáng là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”, Bác Hồ yêu cầu cán bộ phải “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Người từng lên tiếng báo động: “Đề phòng hủ hóa… có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán…” và đề ra một tiêu chuẩn của người cách mạng là “Lo, thì trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ”; “ không lợi dụng danh nghĩa Ủy ban để gây bè tìm cánh, đưa người “trong nhà trong họ” vào làm việc với mình”.
Trong Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo thái tử, Nguyễn Trãi yêu cầu nhà vua phải “hòa thuận tông thân, nhớ giữ một lòng hữu ái, thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân”. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thể hiện thật sâu sắc ở phương châm giản chính, khoan hình: “… có khi dùng đến uy pháp, nhưng không nên lâu la phải chóng trở về với nhân nghĩa”, nếu phải dùng quyền mưu thì “chỉ dùng để trị gian tà. Cốt nhân nghĩa gìn giữ thì thế nước mới yên ổn”. Hồ Chí Minh học tập tinh thần ấy của Nguyễn Trãi, Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”.Tư tưởng vì con người của Bác Hồ rất gần với Nguyễn Trãi, dĩ nhiên được mở rộng, cụ thể hơn: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”.
Nhìn dưới góc độ văn chương cũng cho thấy Hồ Chí Minh học tập từ Nguyễn Trãi. Cụ Ức Trai có câu thơ: “Hà thời kết ốc vân phong hạ/ Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên”(Bao giờ làm được nhà dưới núi dưới mây/ Múc nước suối nấu chè, gối hòn đá ngủ – Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác), Hồ Chí Minh cũng từng có mong muốn: “… Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa,…”. Câu thơ “Cháo bẹ rau măng vẫn sẫn sàng” của Hồ Chí Minh có hình bóng câu thơ Ức Trai: “Cơm ăn chẳng quản dưa muối/ Áo mặc nài chi gấm thêu” (Thuật hứng). Âm hưởng tiếng suối trong thơ Nguyễn Trãi: “Côn Sơn có suối/ Tiếng nước chảy rì rầm/ Ta coi làm đàn cầm…”, hơn năm trăm năm sau vọng vào thơ Hồ Chí Minh: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Trong câu thơ của Hồ Chí Minh: “Giang tâm như kính tịnh vô trần” (Lòng sông gương sáng bụi không mờ), thì cái nhìn mặt nước trong suốt lung linh ấy cũng có từ Nguyễn Trãi: “Nhất bàn lam bích trừng minh kính” (Một mặt phẳng sắc lam sắc biếc như tấm gương trong suốt – Vân Đồn). Có khi là ảnh hưởng tứ thơ. Nguyễn Trãi viết về tuổi già nhưng chí trẻ: “Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc/ Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh”. Bác Hồ cũng có tứ thơ ấy: “Chưa năm mươi tuổi đã kêu già/ Sáu ba mình nghĩ vẫn là đương trai…”…
Có thể thấy trước tác của hai nhà tư tưởng lớn này có điểm giống nhau là rất giản dị, dễ hiểu, gần với đời sống nhân dân, biểu đạt một cách nhuần nhị lời ăn tiếng nói của nhân dân, bởi ở họ có một điểm chung là rất có ý thức kế thừa ngôn ngữ quần chúng lao động. Thơ Nguyễn Trãi là một trong những mạch nguồn tư tưởng và mạch nguồn ngôn ngữ nghệ thuật ở tác phẩm của Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thanh Tú
Theo Báo Quân đội nhân dân
Kim Yến (st)
“Chỉ sợ lòng mình không rộng”
Đã đến ngày mồng 2-9. Tôi được Trung ương triệu tập lên dự Hội nghị Bí thư và Chủ tịch các tỉnh miền Bắc từ hôm trước. Chiều hôm sau cùng các đại biểu đi dự mít tinh ở Quảng trường Ba Đình để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập và giới thiệu danh sách Chính phủ lâm thời. Sau đấy lại cùng về Bắc Bộ Phủ, nay là Nhà khách Chính phủ ở phố Ngô Quyền, để họp với đồng chí Trường Chinh. Đang họp thì Bác vào (từ lúc ở Ba Đình về Bác vẫn ngồi nghỉ trên chiếc ghế bành mây ở hành lang phía sau nhà, nhìn ra Hồ Gươm). Tôi nhìn Bác không chớp mắt. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đã có lần ở Báo “Tin tức” của Đảng, khi biên tập hồi ký “Ba năm ở Nga Xô-viết” của đồng chí Trần Đình Long để đăng từng kỳ trên Báo, trong đoạn nói về việc gặp Bác ở Đức, tôi có hư cấu thêm một câu để tả chân dung Bác: “Dưới vầng trán cao ánh lên một cặp mắt sáng quắc và nhân từ”. Lúc này ngồi ngắm Bác tôi lại nhớ đến câu ấy, ngạc nhiên thấy mình tưởng tượng rất đúng. Chỉ có cách ăn mặc và cách nói giản dị của Bác thì không tưởng tượng được. Tôi liếc sang cuốn sổ tay nhỏ để trước mặt Bác thấy hai chữ “Phân công” ghi bằng chữ Hán. Tôi nghĩ bụng chắc Bác giỏi chữ Hán lắm… Bác ghi thêm mấy chữ nữa, rồi không cần mào đầu Bác nói ngay:
– Bây giờ cách mạng đã thành công, nhưng khó khăn còn nhiều. Đừng có đồng chí nào nghĩ rằng đã đến lúc cần được nghỉ ngơi, hưởng thụ. Các đồng chí đều đã hoạt động bí mật, đã kinh qua nhiều gian khổ, bây giờ ra ánh sáng nếu không cẩn thận thì sẽ bị lóa mắt về những vật chất. Ở một vài nơi nhân dân đã kêu: Các ông ủy ban đi đâu một bước là ô tô. Ông chủ tịch đi ô tô, ông ủy viên đi ô tô, rồi cả bà ủy viên, cô cậu ủy viên cũng đi ô tô. Làm cách mạng là để phục vụ nhân dân chứ không phải để thăng quan phát tài, chỉ có người cách mạng, chứ không có quan cách mạng. Nếu không giữ mình liêm chính thì sẽ tham ô, thụt két, rồi bị kỷ luật…
Lực lượng vũ trang cách mạng trong Ngày Quốc khánh 2-9-1945.
( Ảnh tư liệu)
Bác chỉ nói ngắn gọn có thế thôi, nhưng mọi người đều cảm thấy như Bác đã nhìn thấu ruột gan mình. Cái gì chứ cái dùng ô tô bừa bãi thì hầu như không nơi nào không có. Không ngờ Bác bận trăm công ngàn việc trong buổi đầu dựng nước, mà Bác vẫn không bỏ sót một việc nhỏ nào. Một điều nữa làm tôi ngạc nhiên là đã mấy chục năm bôn ba ở nước ngoài, mà lời nói và cách nói của Bác không hề bị pha tạp một tý gì của nước ngoài, vẫn hoàn toàn Việt Nam.
*
* *
Một hôm, vào gần giữa tháng chín, tôi nhận được điện của Bộ Nội vụ ra lệnh tha cho một viên quan lại mà chúng tôi bắt giam về tội chống Cộng. Viên quan này là Nguyễn Văn Ích, quê ở Hưng Yên, làm Tuần phủ Tuyên Quang. Khi còn là một tên Thống phán tòa sứ, ông ta cũng có viết văn. Cuốn tiểu thuyết “Kim Anh lệ sử” của ông ta đã gây được tiếng vang rộng rãi trong giới trí thức và quan lại hồi ấy, vì nó đề cập đến một vấn đề thời sự: Một viên Tri huyện hiến vợ lẽ của mình là Kim Anh cho tên Công sứ Tây để được thăng quan tiến chức. Nhưng đến năm 1931, khi phong trào cộng sản lên cao thì ông lại dịch cuốn “Mặt nạ cộng sản” để nói xấu cộng sản và xuyên tạc Liên Xô. Cuốn sách đã được bọn Thống trị Pháp cho phát không về các làng và ông ta thì được thăng Tri châu, rồi Tuần phủ. Cách mạng lên, ông “từ quan” về ngôi biệt thự lộng lẫy bên hồ Bán nguyệt.
Việc bắt viên Tuần phủ Ích cả tỉnh đều biết, bây giờ phải tha cho ông ta thì biết ăn nói thế nào với bà con Hưng Yên? Sau khi trao đổi với các đồng chí trong Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh, tôi phóng xe lên Bắc Bộ Phủ xin gặp anh Võ Nguyên Giáp lúc ấy là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Anh Giáp cho anh Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) xuống tiếp. Nghe tôi trình bày sự việc xong, anh Bôi nói:
– Việc này nằm trong chính sách chung của Đảng với những người có sai lầm cũ, không thể thay đổi được. Đến cả Vi Văn Định mà “ông cụ” cũng sắp cho mời về làm việc kia.
Tôi đề nghị anh Bôi báo cáo với Hồ Chủ tịch xét lại việc này cho, chứ tha viên Tuần phủ ấy bây giờ thì chúng tôi sẽ mất hết uy tín với nhân dân trong tỉnh. Anh Bôi lắc đầu:
– Không được đâu! “Ông cụ” rigide (cứng rắn) về nguyên tắc lắm.
Tôi vẫn nằn nì. Cuối cùng anh Bôi bảo tôi hãy chờ một lát, anh phải lên làm việc với Bác, để anh thử xin ý kiến Bác xem (anh vẫn gọi Bác là “Ông cụ”). Một lúc sau anh xuống gọi tôi lên gặp Bác. Bác chỉ ghế cho tôi ngồi rồi hỏi ngay:
– Đồng chí bắt người ta có lợi gì không?
Lần đầu tiên được gặp riêng Bác, tôi rất lúng túng trong việc xưng hô. Tôi ấp úng:
– Thưa… Thưa Chủ tịch, vì nó đã viết sách chửi cộng sản.
– Biết rồi. Nhưng việc đã lâu ngày, bắt người ta bây giờ có lợi gì không?
– Thưa Chủ tịch, để nó phải sợ…
Tôi biết lỡ lời, định chữa lại, thì Bác đã nói tiếp:
– Thế đồng chí có biết làm cho người ta sợ hơn, hay làm cho người ta yêu hơn? Đồng chí có học chữ nho không?
– Thưa, có học ít thôi ạ.
– Thế đồng chí có nhớ câu các cụ thường nói “xử nhân úy bất như xử nhân ái” không? Đồng chí nên nhớ rằng không sợ người không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng. Thôi, đồng chí về bàn với anh em giải thích cho người ta hiểu chính sách khoan hồng của Chính phủ, rồi tha cho người ta…
*
* *
Không sợ người không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng. Đã hơn 60 năm rồi mà đến nay tôi vẫn còn nhớ như in lời dạy của Bác. Tôi cũng không bao giờ quên được những lời khuyên răn của Bác hôm được gặp Bác ở Bắc Bộ Phủ, nhất là câu: “Chỉ có người cách mạng, chứ không có quan cách mạng”.
Nhà văn Học Phi
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)


Bạn phải đăng nhập để bình luận.