Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Đáp từ trong lễ nhận Huân chương Du kích của nước Cộng hòa Inđônêxia (7-3-1959)

Tôi rất cảm ơn Tổng thống Xucácnô đã tặng cho tôi Huân chương Du kích. Đó là biểu hiện tình đoàn kết thắm thiết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Inđônêxia anh em, hai bạn chiến đấu đã thắng lợi trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa thực dân để giành lại tự do, độc lập.

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Inđônêxia đều có thể tự hào đã nêu cao ngọn cờ đấu tranh vũ trang ở Đông – Nam á và đã đánh thắng bọn thực dân. Hai nước chúng ta đều đã chiến thắng, vì chúng ta đã tiến hành một cuộc đấu tranh vũ trang toàn dân và toàn diện, đã khéo áp dụng chiến thuật du kích. Hai dân tộc chúng ta đã làm cho thế giới thấy rằng với lực lượng đoàn kết của toàn dân, thì dù với vũ khí thô sơ, chúng ta cũng đánh thắng thực dân đế quốc.

Trong chín nǎm kháng chiến, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, những toán du kích Việt Nam đã tiêu diệt nhiều sinh lực của địch trên khắp các chiến trường trước mắt và sau lưng địch, góp phần xứng đáng vào thắng lợi Điện Biên Phủ, chấm dứt cuộc chiến tranh thuộc địa của thực dân ở Việt Nam.

Nhân dân Inđônêxia anh em cũng sẵn có truyền thống đấu tranh oanh liệt. Như hồi đầu thế kỷ XIX, vị Anh hùng dân tộc của Inđônêxia Đipônêgrô, suốt 5 nǎm trời đã lãnh đạo nhân dân vũ trang khởi nghĩa, áp dụng chiến thuật du kích, làm lung lay cả nền thống trị của bọn thực dân. Sau khi nước Cộng hoà Inđônêxia thành lập, để đập tan cuộc xâm lược của thực dân, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Xucácnô, nhân dân Inđônêxia đã phát động một cuộc kháng
chiến toàn dân và toàn diện, để bảo vệ nền độc lập của mình. Những gương chiến đấu của quân và dân Inđônêxia đã cổ vũ chúng tôi rất nhiều trong lúc chúng tôi đang kháng chiến gian khổ chống bọn thực dân Pháp.

Hôm nay, Tổng thống Xucácnô tặng Huân chương Du kích quý giá của nước Cộng hoà Inđônêxia cho tôi, tôi rất sung sướng nhận Huân chương và sẽ trao lại vinh dự này cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Thay mặt các chiến sĩ du kích và toàn thể nhân dân Việt Nam, tôi xin thành thật cảm ơn Tổng thống Xucácnô và gửi lời chào thân ái đến các chiến sĩ du kích và nhân dân Inđônêxia anh dũng.

——————————–

Nói chiều 7-3-1959.
Báo Nhân dân, số 1820, ngày 9-3-1959.
cpv.org.vn

Nói chuyện với đồng bào Thủ đô tại sân bay Gia Lâm khi đi thǎm Inđônêxia về (11-3-1959)

Cuộc đi thǎm của chúng tôi đến nước Cộng hoà Inđônêxia, đất nước xinh tươi “ba nghìn hòn đảo”, với hành trình trên một vạn hai nghìn cây số đường đi, đã kết thúc vô cùng tốt đẹp. Trên đất nước Inđônêxia, chúng tôi đi đến đâu cũng được đón tiếp hết sức long trọng, nhiệt tình. ở đâu cũng “cờ như rừng, người như biển”. Có những chặng đường dài 60 cây số, cờ bay phất phới, người đông nghìn nghịt, nhân dân Inđônêxia và các đội dân quân đón chào chúng tôi và hô vang “Độc lập!”, lời chào chiến đấu theo tục lệ Inđônêxia. Có những cuộc mít tinh lớn đông hàng chục vạn người, hàng chục đoàn thể nhân dân đến chào chúng tôi và gửi lời thǎm hỏi bà con Việt Nam. Nhân dân Inđônêxia gửi tặng chúng tôi nhiều sản phẩm của địa phương: lúa, mít, sầu riêng, v.v.. Một nhóm nông dân Inđônêxia gửi biếu chúng tôi và nông dân ta một con trâu.

Tất cả mối nhiệt tình của Tổng thống Xucácnô, của Chính phủ và của nhân dân Inđônêxia đối với chúng tôi chính là mối nhiệt tình đối với nhân dân Việt Nam anh dũng chúng ta.

Thanh niên, thiếu niên Inđônêxia nhờ Bác Hồ chuyển tới thanh niên, thiếu niên Việt Nam lời hứa hẹn thi đua “Đoàn kết tốt, học tập tốt, lao động tốt, kỷ luật tốt”. Chúng tôi xin báo cho các vị đại biểu và toàn thể đồng bào tin mừng: Tổng thống Xucácnô đã nhận lời mời sang thǎm Việt Nam trong một dịp gần đây.

Chúng tôi xin cảm kích về sự đón tiếp trọng thể, thân tình và nồng nhiệt của Tổng thống U Vin Môn, của Thủ tướng Chính phủ Miến Điện, của các cơ quan lãnh đạo Đảng và Chính quyền và các tầng lớp nhân dân Trung Quốc khi chúng tôi ghé lại Rǎnggun (Thủ đô Miến Điện) và Côn Minh (Trung Quốc).

————————

Nói ngày 11-3-1959.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, t.V, tr.197-198.
cpv.org.vn

Bài nói tại Hội nghị cán bộ công đoàn (14-3-1959)

Bác thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ thǎm sức khoẻ các cô, các chú và chúc Hội nghị đạt nhiều kết quả.

Hôm nay, Bác nói tóm tắt về nhiệm vụ công đoàn.

Nhiệm vụ của công nhân và công đoàn hiện nay là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Muốn thế, công đoàn phải tổ chức, giáo dục, lãnh đạo công nhân đẩy mạnh tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch của Đảng và Chính phủ đề ra.

Muốn hoàn thành vượt mức kế hoạch thì tất cả công nhân phải làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Muốn làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ, công nhân phải có tinh thần làm chủ nước nhà, làm chủ xã hội, phải có tinh thần trách nhiệm cao, làm cái gì phải làm cho tốt và phải giữ vững kỷ luật lao động.

Cán bộ công đoàn phải tuỳ khả nǎng mà cải thiện đời sống vật chất và vǎn hoá của công nhân, vì đời sống vật chất và vǎn hoá có khá thì làm việc mới tốt. Cho nên phải chú ý cải thiện sinh hoạt cho công nhân. Nói chung, công nhân hiện nay đều ǎn 18 đồng một tháng, nhưng có nơi ǎn tốt, nơi ǎn xấu. Nơi ǎn xấu là vì cán bộ công đoàn không sǎn sóc đến công việc bếp núc, không cùng ǎn, ở với công nhân, là vì có cán bộ công đoàn còn cho công việc bếp nước là hèn hạ, cho rằng công đoàn thì phải có chỉ thị này, thông tri khác mà ít chú ý đến đời sống hàng ngày của công nhân. ở Trung Quốc, công xã nhân dân tổ chức ǎn tốt, hàng ngày hàng tuần thức ǎn thay đổi luôn. Nhưng cũng còn có chỗ cán bộ làm kém vì cán bộ ở đó không sát và người nấu ǎn thì cho rằng không có tiền đồ. Thấy thế, Đảng đã động viên nhiều cán bộ về làm việc nấu ǎn trong một thời gian để thiết thực rút kinh nghiệm và đẩy mạnh nhiệm vụ nấu ǎn cho tốt. Phải biết rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa, cái gì có ích lợi cho nhân dân, cho giai cấp là quan trọng. Việc nấu ǎn cũng quan trọng. Sở dĩ Bác phải nói nhiều về mặt này là vì ta phải chú ý hơn nữa đến đời sống vật chất của công nhân.

Về đời sống tinh thần của công nhân cũng vậy. ở những xí nghiệp, nông trường ở những nơi xa xôi hẻo lánh, anh em công nhân kêu không có điện ảnh tới. Cái đó cũng là do cán bộ vǎn hoá không chú ý, nhưng mặt khác cũng là vì cán bộ công đoàn không sǎn sóc đến đời sống tinh thần của công nhân.

Tóm lại, muốn đạt mục đích “đẩy mạnh tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm” thì cán bộ công đoàn cần phải nắm vững chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, lãnh đạo phải dân chủ, phải cùng công nhân đồng cam cộng khổ, phải hoà mình với công nhân thành một khối, phải gương mẫu. Nếu không cùng công nhân hoà thành một khối, là quan liêu.

Công nhân sản xuất tốt hay xấu, có đoàn kết hǎng hái sản xuất hay không, đó là những tiêu chuẩn để biết cán bộ công đoàn tốt hay không.

Nǎm vừa qua, công nhân ta có tiến bộ. Từ nửa nǎm 1958 về trước, rất ít nơi hoàn thành được kế hoạch sản xuất, có chỗ rất là kém. Nhưng từ tháng tám, tháng chín trở đi thì có tiến bộ, tháng mười, mười một, mười hai, đại đa số nhà máy, hầm mỏ đều hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, nhưng sự tiến bộ ấy chưa đều và còn tiến bộ chậm. Những nơi hoàn thành được kế hoạch Nhà nước là do công nhân và cán bộ cố gắng, nhưng mặt khác, mức kế hoạch của ta so với các nước bạn đang còn thấp.

Từ tháng chín 1958 trở đi, ta có nhiều kinh nghiệm, có cái tốt, cái xấu. Nhà máy xi mǎng trong quý 4 đã sản xuất được 8 vạn 3 nghìn tấn và hoàn thành kế hoạch nǎm 1958 trước thời hạn 7 ngày. Ngành đường sắt có nhiều khó khǎn vì thiếu xe nhưng vẫn giải quyết được vấn đề vận tải. Bệnh viện Bạch Mai, số thầy và số thuốc vẫn như cũ nhưng nay khám và trị bệnh tốt hơn. Đó là do công đoàn biết tổ chức, lãnh đạo, làm cho mọi người phấn khởi, hǎng hái làm việc. Đó là những kinh nghiệm tốt.

Bây giờ Bác nói về những kinh nghiệm xấu. Hỏi rằng công nhân khu mỏ có tốt không? Tốt lắm. Giai cấp công nhân rất tốt. Có nơi làm cải tiến quản lý xí nghiệp không tốt đổ tại công nhân, là không đúng. Phải nói là tại cán bộ, tại lãnh đạo.

Mỏ Cẩm Phả trong 9 tháng đầu nǎm 1958 đã để lẫn 85.000 tấn đất đá vào trong than, tốn công sàng, chuyên chở, đào xúc, làm thiệt cho công quỹ của Nhà nước, của nhân dân hơn một triệu đồng. Cái ấy lỗi tại ai? Không phải tại riêng các công đoàn mỏ Cẩm Phả, mà ngay cả công đoàn trung ương trở xuống cũng phải chịu trách nhiệm. Nông trường Tây Hiếu là nơi trồng trọt mà cũng phải cho xe đi mua rau, có khi không có rau mà ǎn thì thật là vô lý. Nhiều nơi thiếu giáo dục công nhân về kỷ luật lao động, về ý thức làm chủ và về bảo hộ lao động. Một số nơi đã để xảy ra tai nạn lao động, điều đó rất đáng tiếc. Chúng ta phải quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội. Chúng ta cần phải hết sức bảo vệ, không để xảy ra tai nạn lao động.

Sở dĩ có những khuyết điểm ấy là do cán bộ công đoàn kém, quan liêu, không đi sát quần chúng, không làm tròn trách nhiệm của Đảng và Chính phủ giao cho.

Ta có nhiều kinh nghiệm tốt, tại sao không phổ biến để tránh những kinh nghiệm xấu. Đó là vì lãnh đạo của công đoàn có nhiều thiếu sót. Ngay tờ báo của công đoàn cũng cần phải xem lại. Báo của công đoàn phải là công cụ giáo dục công nhân, phải nêu đi nêu lại những ưu điểm, những kinh nghiệm tốt của nơi này cho nơi khác học tập, đồng thời cũng phải nêu những khuyết điểm của nơi này cho nơi khác rút kinh nghiệm mà tránh. Tờ báo chưa làm tròn được nhiệm vụ ấy.

Nhiệm vụ trước mắt của công đoàn là phải làm gọn, làm nhanh, làm tốt công tác cải tiến quản lý xí nghiệp để đẩy mạnh tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, nhất là kế hoạch nǎm 1959, nǎm bản lề của kế hoạch 3 nǎm.

Công tác cải tiến quản lý xí nghiệp bắt đầu từ tháng mười 1958 đến nay đã 6 tháng mà có chỗ mới xong bước một, có chỗ chưa xong. Thế là bước rùa. Làm kéo dài như thế là không tốt. Cần phải nghiên cứu xem vì sao để làm cho gọn, cho tốt. Có như thế mới có thể đẩy mạnh tǎng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, hoàn thành vượt mức kế hoạch nǎm nay. Trong việc cải tiến quản lý xí nghiệp, nơi nào làm tốt, công đoàn và các xí nghiệp phải cử cán bộ đến tận nơi tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm.

Bây giờ Bác nói mấy nét về Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô. Kết quả của Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô và kế hoạch 7 nǎm của Liên Xô đã được phổ biến và trên báo chí cũng đã nói nhiều. Bác chỉ nói một vài điểm. Từ nay đến khi làm xong kế hoạch 7 nǎm, nǎng suất lao động của công nhân sẽ tǎng từ 45% đến 65%.

Vì sao có được như vậy? Là vì sau Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô phải phấn đấu rất gian khổ. Bác còn nhớ, lần đầu tiên Bác sang Liên Xô vào nǎm 1924 tức là 7 nǎm sau khi cách mạng thành công, đời sống của công nhân, của nhân dân, vẫn còn rất khó khǎn. Thứ gì ngon và quý thì để dành bán ra ngoài, đổi lấy máy móc. Ô tô giống như những thùng than biết chạy chứ không được đẹp như bây giờ.

Ở nước ta sau chiến tranh, nếu so với Liên Xô trước đây thì còn sướng hơn nhiều. Bởi vậy bây giờ ta cũng phải tuyên truyền, giáo dục cho mọi người thấy điều đó, thấy rằng có phấn đấu gian khổ thì mới có một đời sống sung sướng.

Trong lúc Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô mới khai mạc thì đã có nhiều xí nghiệp, nông trường viết thư tới Đại hội hứa là sẽ tǎng nǎng suất bảo đảm hoàn thành kế hoạch trước thời hạn từ 2 đến 4 nǎm. ở Liên Xô hiện nay có phong trào thi đua lao động cộng sản chủ nghĩa. Khi Bác dự Đại hội ở bên ấy, toàn Liên Xô đã có 35.000 đội thi đua, trong đó có 700 đội đã được công nhận là “Đội lao động cộng sản chủ nghĩa” vì đã đạt được đủ ba tiêu chuẩn là: sinh hoạt, học tập và lao động đều theo đúng tinh thần cộng sản chủ nghĩa. Cán bộ, công đoàn và công nhân ta phải học tập tinh thần thi đua của công nhân Liên Xô.

Nói tóm lại, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa. Công nhân phải thành người xã hội chủ nghĩa, cán bộ công đoàn trước hết phải là người xã hội chủ nghĩa. Muốn thành người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải có tinh thần làm chủ đất nước, chống tư tưởng làm thuê làm mướn ngày trước, vì bây giờ mình làm cho giai cấp mình, cho con cháu mình. Phải đặt lợi ích của giai cấp và dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, chống thói kèn cựa, suy bì, ích kỷ. Phải có lề lối làm việc xã hội chủ nghĩa tức là siêng nǎng, khẩn trương, khiêm tốn, luôn luôn cố gắng tiến bộ làm tròn nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho, trước mắt phải làm gọn và tốt công tác cải tiến quản lý xí nghiệp, phải đẩy mạnh tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, nhằm hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước nǎm 1959.

Làm được như vậy là giai cấp công nhân và công đoàn thiết thực và tích cực góp phần đấu tranh cho thống nhất nước nhà.

——————————

Nói ngày 14-3-1959.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989, t.8, tr.340-346.
cpv.org.vn

Điện mừng Quốc khánh Vương quốc Nêpan (14-3-1959)

Kính gửi Quốc vương Nêpan,

Nhân dịp ngày Quốc khánh lần thứ 8 của Vương quốc Nêpan, thay mặt Chính phủ và nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi kính gửi Quốc vương và nhân dân Nêpan lời chào mừng nhiệt liệt.

Kính chúc nhân dân Nêpan, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ngài thu được nhiều thắng lợi trong công cuộc xây dựng đất nước Nêpan ngày càng giàu mạnh.

Kính chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Nêpan ngày càng củng cố và phát triển.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

—————————–

Báo Nhân dân, số 1825, ngày 14 – 3 – 1959.
cpv.org.vn

Nói chuyện với cán bộ và nhân dân tỉnh Nam Định (15-3-1959)

Gần đây cán bộ và đồng bào Nam Định đã cố gắng chống hạn, giải quyết được 4 vạn mẫu, nhưng cũng còn hơn 2 vạn mẫu bị hạn, cần phải tranh thủ, cố gắng giải quyết cho hết.

Nam Định có khuyết điểm là không biết giữ nước (như ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc). Ở ta, tuy nông nghiệp lạc hậu nhưng nhân dân nói chung, các cụ già nói riêng có rất nhiều kinh nghiệm giữ nước. Vì cán bộ không nhìn xa, không gần gũi, học hỏi kinh nghiệm quần chúng nên không biết giữ nước.

Còn vì sao Nam Định dân đông, nguồn nước nhiều mà diện tích hạn rộng thế?

Đó là vì tư tưởng chưa thông, sợ khó, sợ khổ. Vì sợ khó, sợ khổ nên đào mương, vét kênh, tát nước, gánh nước tưới kém.

Ở Nam Định, lãnh đạo tỉnh, huyện, xã kém quyết tâm. Gần đây có quyết tâm, nhưng còn phải bền bỉ biến quyết tâm ấy thành quyết tâm của tất cả cán bộ và quần chúng.

Do thiếu quyết tâm ấy mà nảy ra bệnh ỷ lại vào cấp trên, ỷ lại vào bộ đội giúp, ỷ lại vào máy bơm, ỷ lại vào trời.

Trời đã làm ra hạn, lụt, sâu bọ, bệnh tật. Vì vậy ta không ỷ lại vào trời mà phải chống lại trời. Mùa trước đây nhân dân đã “vắt đất ra nước thay trời làm mưa” thì nay phải tiếp tục thực hiện.

Vì khuyết điểm như thế cho nên Nam Định còn hơn 2 vạn mẫu bị hạn. Bây giờ cứ tính trung bình với cố gắng đã làm được, mỗi mẫu tây là 2 tấn 500 thôi, thì nếu để mất 23.000 mẫu tức là mất 57.500 tấn thóc.

Một khuyết điểm nữa là hoa màu ở đây nǎm nay cũng kém. Lúa và hoa màu hai cái phải đi đôi với nhau, cái nọ giúp cho cái kia. Nếu hoa màu, cây công nghiệp không có, kém thì rồi cũng ảnh hưởng đến lúa. Lúa kém ảnh hưởng đến hoa màu. Hoa màu, cây công nghiệp, chǎn nuôi phải rất chú ý.

Giờ đây phải tập trung lực lượng lại, tìm nguồn nước, khơi mương rãnh mà tát, phải có kế hoạch giữ nước và trong lúc chống hạn, phòng hạn thì phải có kế hoạch phòng úng.

Muốn làm tròn nhiệm vụ ấy phải chống tư tưởng bảo thủ, tư tưởng sợ khó, tư tưởng mệt mỏi, tư tưởng ỷ lại, tức là phải quyết tâm, quyết tâm và quyết tâm nữa, quyết tâm mãi làm cho đến thắng lợi.

Ngoài những việc trên, nhân dân ta phải phòng sâu và diệt sâu, phòng chống bệnh cúm. Việc phòng và chống bệnh cúm là nhiệm vụ của mọi cán bộ và nhân dân không phải chỉ riêng ngành y tế. Đồng thời với các nhiệm vụ trên, cần củng cố các tổ đổi công, các hợp tác xã, làm cho tổ đổi công, hợp tác xã đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và giúp đỡ những đồng bào còn làm riêng lẻ. Đặc biệt là phải cố gắng thi đua bảo đảm cấy hết diện tích, tương trợ giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, nhất là đối với một số đồng bào hiện nay còn thiếu thốn để bảo đảm sản xuất, bảo đảm vụ Đông – Xuân thắng lợi.

Nhân dịp này Bác trao lại cho tỉnh 12 huy hiệu của Bác để làm giải thưởng cho đơn vị, cá nhân nào có thành tích chống hạn khá.

———————–

Nói ngày 15-3-1959.
Sách Nam Hà làm theo lời Bác, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Nam Hà, 1975, tr. 59-61.
cpv.org.vn

Lời cǎn dặn Đảng uỷ Nhà máy dệt Nam Định (15-3-1959)

1. Phải làm công tác phát động quần chúng cải tiến quản lý xí nghiệp gọn và tốt. Về thời gian và các bước đi, cần vận dụng linh hoạt. Nhà máy bắt đầu phát động từ tháng 11, đến nay đã được 5 tháng mà chưa mở rộng ra cho công nhân học tập. Thế là dài quá. Kéo dài sẽ làm cho công nhân mệt. Nhưng làm ngắn thì phải bảo đảm làm tốt; ngắn và qua loa, làm không tốt thì cũng không được.

2. Không được để hụt mức sản xuất. Phải bảo đảm kế hoạch cả về sản lượng và chất lượng. Phải làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Mức sản xuất có cao hơn nǎm ngoái, nhưng không phải là cao quá. Không kể Liên Xô, nếu chỉ so sánh với Trung Quốc và Triều Tiên thì mức sản xuất của ta còn quá thấp. Vả lại ta đang có phong trào thi đua với công nhân nhà máy dệt Bình Nhưỡng (Triều Tiên). Sản xuất hụt mức là tại cán bộ, tại lãnh đạo. Các cô, các chú chưa biết tuyên truyền giải thích cho công nhân, cho đảng viên và đoàn viên thanh niên, làm cho quyết tâm của lãnh đạo trở thành quyết tâm của toàn thể đảng viên, đoàn viên và công nhân. Trong một trận chiến đấu, thắng là do toàn thể bộ đội, bại là do người chỉ huy. Người chỉ huy biết trông nom bộ đội, cảm thông bộ đội, có kế hoạch đúng và biết tổ chức động viên bộ đội thì sẽ đánh thắng. Người chỉ huy kém thì sẽ thất bại. Trong công xưởng cũng vậy.

3. Cán bộ lãnh đạo, đảng viên, đoàn viên thanh niên cũng như cán bộ công đoàn phải xung phong gương mẫu. Nội bộ lãnh đạo phải đoàn kết nhất trí, cán bộ phải đi vào công nhân, phải sắp xếp công việc để mỗi tuần tham gia lao động một ngày. Phải lắng nghe sáng kiến và lời phê bình của công nhân, phải thật sự dựa vào công nhân, đi đúng đường lối quần chúng, nắm vững chính sách của Đảng.

4. Công nhân bây giờ làm chủ, không phải đi làm thuê như trước, phải khéo tổ chức công nhân tham gia quản lý nhà máy. Phải động viên công nhân có gì nói hết, ý kiến công nhân có đúng, có sai, nhưng đúng nhiều hơn. Thí dụ: công nhân yêu cầu tổ chức giữ trẻ cho tốt là đúng, lãnh đạo phải chǎm lo thực hiện. Nhưng cũng có chỗ sai: như một số anh chị em công nhân kêu lương ít thì phải giải thích và để công nhân thảo luận cho rõ: hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh tàn phá, lại tạm bị chia cắt, phải xây dựng nhiều, bây giờ công nhân phải khắc phục khó khǎn. Bao giờ sản xuất nhiều, rẻ, Nhà nước mới có thể tǎng thêm phúc lợi cho công nhân. Liên Xô và Trung Quốc lúc đầu cũng vậy. Nếu các cô, các chú biết giải thích thì công nhân nhất định sẽ hiểu, sẽ tin.

5. Phải chú trọng công tác phát triển đảng viên và đoàn viên thanh niên. Đảng viên và đoàn viên mới có hơn 1.600 trong số hơn 1 vạn công nhân. Như thế còn ít, phải chǎm lo bồi dưỡng và phát triển những công nhân có đủ tiêu chuẩn vào Đảng và Đoàn. Đảng uỷ phải chú trọng bồi dưỡng và cất nhắc cán bộ nữ, nhất là trong nhà máy, quá nửa công nhân là phụ nữ.

Hôm nay Bác đi chống hạn bận không đến thǎm công nhân được. Bác nhờ các chú, các cô chuyển lời Bác hỏi thǎm anh chị em công nhân và gia đình công nhân.

—————————-

Nói ngày 15-3-1959.
Sách Nam Hà làm theo lời Bác, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Nam Hà, 1975, tr. 62-65.
cpv.org.vn

Nói chuyện với đại biểu cán bộ và nhân dân tỉnh Ninh Bình (15-3-1959)

Vừa qua tình hình chống hạn tuy có khá hơn nhưng vẫn chưa đủ. Đào đất để chống hạn còn ít. Mức bình quân của Ninh Bình mới trên hai thước khối, của Nam Định mới có một thước khối. Có hạn là do không biết giữ nước như Yên Khánh, Yên Mô, Gia Viễn (Ninh Bình), Vụ Bản, ý Yên (Nam Định). Còn hạn là do lãnh đạo tuy có cố gắng nhưng thiếu quyết tâm bền bỉ, thiếu liên tục, từ xã đến huyện, tỉnh, thiếu kế hoạch chung nên tốn công nhiều mà ít kết quả. Khuyết điểm nữa là không chú ý đúng mức đến hoa màu, cây công nghiệp và chǎn nuôi.

Cán bộ phải có quyết tâm chống hạn và quyết tâm phải liên tục, bền bỉ. Biến quyết tâm của cán bộ thành quyết tâm của nhân dân, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa các xóm, các xã, các huyện, các tỉnh. Quyết tâm và đoàn kết để chống hạn và đẩy mạnh vụ sản xuất Đông- Xuân. Muốn chống hạn tốt, phải tuỳ từng địa phương mà làm các việc đào mương, đào giếng, tát nước, giữ nước. Mỗi xã phải có kế hoạch nhỏ của xã mình; huyện, tỉnh phải có kế hoạch chung để điều hoà, phối hợp.

Trong khi chống hạn, phải đồng thời có kế hoạch phòng hạn, phòng úng. Cán bộ và nhân dân phải chống những tư tưởng bảo thủ, sợ khó, sợ khổ, ỷ lại. Ruộng có đủ nước, còn cần phải đủ phân thì lúa mới tốt. Mức bình quân 3,6 tấn phân một mẫu tây, như Ninh Bình là còn ít quá. Phải cố gắng bón nhiều phân hơn nữa. Phải chǎm bón tốt và phải phòng sâu, trừ sâu và phòng cúm nữa.

Toàn thể đảng viên, đoàn viên thanh niên phải gương mẫu, tất cả các hợp tác xã và tổ đổi công cũng phải gương mẫu làm đầu tàu, giúp đỡ những người còn làm ǎn riêng lẻ. Nhân dân ta đã anh dũng trong kháng chiến, cần phải anh dũng trong sản xuất. Chúng ta phải thắng thiên tai, hạn hán, bão lụt, v.v. để sản xuất càng ngày càng được nhiều, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, đưa nước nhà tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.

——————————

Nói ngày 15-3-1959.
Báo Nhân dân, số 1828, ngày 17-3-1959.
cpv.org.vn

Diễn vǎn trong buổi tiệc chiêu đãi Tổng thống R. Praxát (22-3-1959)

Kính thưa Tổng thống kính mến,

Thưa các vị,

Thưa các bạn,

Hôm nay, tôi rất sung sướng được đón tiếp Tổng thống.

Tổng thống là người đã suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Ấn Độ. Ngài lại là một vị chiến sĩ lão thành luôn luôn đấu tranh cho hoà bình thế giới và hữu nghị giữa các dân tộc. Ngài là một người đạo cao đức trọng, nêu gương sáng cho mọi người chúng ta noi theo.

Tuy tuổi đã cao, công việc ở trong nước rất bận, nhưng cũng vì hoà bình và hữu nghị của các dân tộc, mà Tổng thống đã không ngại đường sá xa xôi, thân hành mang tình hữu nghị của nhân dân Ấn Độ đến cho nhân dân Việt Nam.

Hiện nay, tình hình thế giới đã có nhiều chuyển biến có lợi cho hoà bình, lực lượng hoà bình và dân chủ trên thế giới đã có những phát triển mới và những tiến bộ chưa từng thấy.

Trong công cuộc bảo vệ hoà bình chống chiến tranh, củng cố tình hữu nghị giữa các dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống, nước Cộng hoà Ấn Độ đã có nhiều cống hiến rất quý báu.

Giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nước Công hoà Ấn Độ, quan hệ hữu nghị ngày càng được phát triển trên cơ sở Panch Sheela. Nhân dân Việt Nam rất cảm ơn sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Ấn Độ đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của chúng tôi. Hiện nay, toàn thể nhân dân Việt Nam từ Nam chí Bắc đang đấu tranh để thống nhất nước nhà. Đó là nguyện vọng tha thiết nhất của nhân dân Việt Nam và cũng là một đảm bảo cho nền hoà bình ở Đông – Nam Á và thế giới. Nhân dân Việt Nam rất xem trọng sự đóng góp của Ấn Độ trong công cuộc bảo vệ hoà bình thế giới, đặc biệt là công cuộc gìn giữ hoà bình ở Đông Dương mà Ấn Độ có trọng trách là Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát. Nhân dân Việt Nam mong rằng Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương phải được thi hành đầy đủ. Tôi chắc rằng cuộc đến thǎm nước chúng tôi lần này của Tổng thống sẽ làm cho tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta được củng cố và phát triển thêm mãi và tǎng cường thêm mãi tình đoàn kết giữa nhân dân các nước Á – Phi.

Tôi đề nghị các bạn nâng cốc:

Chúc sức khoẻ của Tổng thống Bác sĩ Ragiǎngđra Praxát.

Chúc sức khoẻ của các vị có mặt ở đây hôm nay.

Chúc sự phồn vinh của nước Cộng hoà Ấn Độ.

Chúc tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Ấn Độ ngày càng bền vững.

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

————————-

Đọc tối 22-3-1959.
Báo Nhân dân, số 1834, ngày 23-3-1959.
cpv.org.vn

Đáp từ trong tiệc chiêu đãi của Tổng thống R.Praxát (24-3-1959)

Kính thưa Tổng thống kính mến,

Thưa các vị,

Thưa các bạn,

Tôi rất cảm ơn những lời thân thiết của Tổng thống đối với nhân dân Việt Nam.

Tổng thống Ragiǎngđra Praxát đã có nhiều cống hiến to lớn cho công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như cho công cuộc tǎng cường tình hữu nghị giữa các nước Á – Phi và cho sự nghiệp giữ gìn hoà bình thế giới. Nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất biết ơn Tổng thống, Chính phủ Ấn Độ và nhân dân Ấn Độ đã đồng tình và ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước kia và trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà hiện nay. Suốt đời hy sinh phấn đấu cho độc lập dân tộc, hoà bình và hữu nghị, đạo đức cao quý của Tổng thống đã nêu một tấm gương sáng cho mọi người yêu Tổ quốc, yêu hoà bình.

Được đón tiếp Tổng thống, nhân dân Việt Nam được nhìn thấy người tiêu biểu vĩ đại cho những đức tính yêu nước, cần lao và anh dũng của nhân dân Ấn Độ anh em. Tuy Tổng thống chỉ lưu lại nước chúng tôi một thời gian quá ngắn, nhưng Tổng thống đã để lại trong lòng mỗi người dân Việt Nam một mối tình thân ái rất nồng nàn.

Tôi tin rằng cuộc đi thǎm lần này của Tổng thống sẽ thắt chặt thêm nữa tình hữu nghị sẵn có giữa nhân dân hai nước chúng ta. Với sức đoàn kết của nhân dân Việt Nam và Ấn Độ và của các dân tộc Á – Phi cùng nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, hai nước chúng ta nhất định sẽ vượt được mọi khó khǎn và sẽ thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng nước nhà giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào việc bảo vệ hoà bình ở châu á và thế giới.

Nhân dịp này, tôi đề nghị nâng cốc:

Chúc sức khoẻ của Tổng thống Ragiǎngđra Praxát.

Chúc sức khoẻ các vị cùng đi với Tổng thống.

Tình hữu nghị Việt – Ấn muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

————————–

Đọc ngày 24-3-1959.
Báo Nhân dân, số 1836, ngày 25-3-1959.
cpv.org.vn

Lời tiễn Tổng thống R.Praxát (25-3-1959)

Thưa Tổng thống kính mến,

Thưa các vị và các bạn,

Tiễn đưa Tổng thống hôm nay, tuy chúng tôi rất bùi ngùi luyến tiếc, nhưng đồng thời chúng tôi cũng cảm thấy vui mừng, vì cuộc đến thǎm của Ngài đã làm cho nhân dân hai nước chúng ta càng gần gũi nhau hơn, càng yêu mến nhau hơn. Tổng thống đã để lại cho nhân dân Việt Nam mối tình thắm thiết của nhân dân ấn Độ anh em. Trong những cuộc nói chuyện, chúng ta đã nhất trí với nhau về nhiều vấn đề, nhất là trong sự mong muốn tình hữu nghị giữa các dân tộc á – Phi ngày càng củng cố, phát triển và quan hệ giữa hai nước chúng ta ngày càng thêm vững chắc. Nói tóm lại, Tổng thống đến thǎm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã củng cố thêm nữa lực lượng hoà bình ở á – Phi và trên thế giới.

Trước lúc Ngài từ giã đất nước chúng tôi, tôi trân trọng nhờ Ngài chuyển đến Chính phủ và nhân dân ấn Độ anh em mối tình đoàn kết hữu nghị thắm thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam. Tôi cũng trân trọng nhờ Ngài chuyển đến Phó Tổng thống Rađacrixnan và Thủ tướng Nêru lời chúc mừng thân ái của chúng tôi.

Kính chúc Tổng thống và các vị cùng đi với Ngài lên đường bình an mạnh khoẻ.

Chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và ấn Độ muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

——————————

Nói ngày 25-3-1959.
Báo Nhân dân, số 1837, ngày 26-3-1959.
cpv.org.vn

Trả lời báo Đảng và Thông tấn xã Hunggari về tình hình quốc tế và trong nước (27-3-1959)

– Mười nǎm qua, ở châu Á đã có một sự thay đổi lớn lao. Mười nǎm trước đây, đế quốc Mỹ và bọn Tưởng Giới Thạch còn thống trị trên lục địa Trung Quốc, nhiều nước khác chưa giành được độc lập, nhưng ngày nay, đại đa số các dân tộc của châu Á đã có một đời sống độc lập. Một số nước như Trung Quốc, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều nước khác như: Ấn Độ, Inđônêxia, Miến Điện… cũng đang nỗ lực để xây dựng nền kinh tế của mình và cải thiện đời sống của nhân dân. Điều này không làm cho bọn đế quốc vừa ý. Chúng âm mưu can thiệp và đã can thiệp vào Đài Loan, miền Nam Triều Tiên, miền Nam Việt Nam và nhiều nơi khác. Chúng dùng Khối xâm lược Đông – Nam Á chống lại nhân dân châu Á. Nhưng thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ về tay nhân dân.

Bản Tuyên bố của các đảng cộng sản và công nhân 12 nước xã hội chủ nghĩa tại Mátxcơva nǎm 1957 đã phân tích vấn đề này rất rõ. Bản Tuyên bố đã chỉ ra một cách đúng đắn rằng các dân tộc châu Á cũng như châu Phi và châu Mỹ latinh đã vững vàng tiến bước trên con đường độc lập và tiến bộ không gì ngǎn cản nổi. Những cố gắng và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận khǎng khít của cuộc đấu tranh vĩ đại nhằm chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân.

– Hai nước Inđônêxia và Việt Nam có những vấn đề giống nhau. Chính sách của hai nước giống nhau ở chỗ cùng chống thực dân và đế quốc, bảo vệ hoà bình và bảo vệ những nguyên tắc của Hội nghị Bǎngđung. Cũng như nhân dân Việt Nam đấu tranh cho sự thống nhất của Tổ quốc, nhân dân Inđônêxia đấu tranh để giải phóng miền Tây Iriǎng.

… Kế hoạch 7 nǎm của Liên Xô là một nguồn cổ vũ lớn đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Việt Nam là tǎng cường cố gắng để hoàn thành kế hoạch 3 nǎm, nâng cao mức sống của nhân dân. Về mặt này, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, trong đó có Hunggari đã giúp đỡ nhân dân Việt Nam rất nhiều. Sự cố gắng bản thân của nhân dân Việt Nam cùng với những sự giúp đỡ lớn lao đó sẽ đảm bảo hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách tốt đẹp nhất. Công cuộc công nghiệp hoá ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang phát triển nhanh chóng. Tới nǎm 1960, công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp sẽ hoàn thành về cǎn bản: từ 60% tới 70% ruộng đất sẽ do các hợp tác xã cày cấy. Phong trào chống nạn mù chữ đã thu được những thành tích to lớn. Trước đây 95% nhân dân Việt Nam mù chữ. Hiện nay 95% nhân dân đã biết đọc biết viết. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nhân dân Việt Nam hiện nay là thống nhất đất nước. Công cuộc thống nhất nước Việt Nam có triển vọng tốt. Tuy còn rất nhiều khó khǎn nhưng nhân dân Việt Nam tin chắc rằng thắng lợi là thuộc về mình và đất nước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất.

Cuối cùng, tôi nhờ các báo Hunggari chuyển lời chào mừng anh em đến Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa và toàn thể nhân dân Hunggari và gửi nhiều cái hôn đến các cháu thiếu nhi Hunggari. Tôi chúc nhân dân Hunggari anh em thi đua hoàn thành kế hoạch 3 nǎm trước thời hạn. Điều đó sẽ là một sự cổ vũ to lớn đối với nhân dân Việt Nam trong phong trào thi đua hoàn thành kế hoạch 3 nǎm của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bởi vì mỗi bước tiến của bất cứ một nước xã hội chủ nghĩa nào cũng có ảnh hưởng tốt đến các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất nhiên có nhiều khó khǎn trở ngại. Nhưng với tinh thần đoàn kết thống nhất, với ý chí kiên trì và dũng cảm, chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khǎn, trở ngại và sẽ thu được thắng lợi.

——————————

Trả lời ngày 27-3-1959.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất, Nxb Sự thât, Hà Nội, 1989, t.8, tr. 362-365
cpv.org.vn

Điện mừng ngày Tuynidi tuyên bố độc lập (29-3-1959)

Kính gửi Tổng thống Buốcghiba,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ ba ngày Tuynidi tuyên bố độc lập, thay mặt Chính phủ, nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi hân hạnh gửi đến Ngài, Chính phủ và nhân dân Tuynidi những lời chúc mừng nhiệt liệt.

Chúc tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Tuynidi ngày càng phát triển.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

——————————-

Báo Nhân dân, số 1480, ngày 29-3-1959.
cpv.org.vn