Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Lai Tân – Lai Tân

LAI TÂN

Giam phòng Ban trưởng thiên thiên đổ,

Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền;

Huyện trưởng thiêu đǎng biện công sự,

Lai Tân y cựu thái bình thiên.

LAI TÂN

Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc,

Cảnh trưởng tham lam ǎn tiền phạm nhân bị giải;

Huyện trưởng chong đèn làm việc công,

Lai Tân vẫn thái bình như xưa.

Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,

Giải người, cảnh trưởng kiếm ǎn quanh;

Chong đèn, huyện trưởng làm công việc,

Trời đất Lai Tân vẫn thái bình.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Đáo Liễu Châu 9-12 – Đến Liễu Châu 9-12

ĐÁO LIỄU CHÂU
9-12

Thiên tân vạn khổ phi vô hạn,

Cửu nhật ngô nhân đáo Liễu Châu;

Hồi cố bách dư thiên ác mộng,

Tỉnh lai diện thượng đới dư sầu.

ĐẾN LIỄU CHÂU 1
9-12

Muôn cay nghìn đắng không phải là vô hạn,

Ngày mồng chín, ta đến Liễu Châu;

Ngoảnh lại, hơn trǎm ngày ác mộng,

Tỉnh ra, trên mặt còn vương chút u sầu.

Muôn cay nghìn đắng đâu vô hạn,

Mồng chín ta vừa đến Liễu Châu;

Ngoảnh lại hơn trǎm ngày ác mộng,

Tỉnh ra, trên mặt vẫn vương sầu.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Cửu bất đệ giải – Giam lâu không được chuyển

CỬU BẤT ĐỆ GIẢI

Khổ dược, bôi tương can cánh khổ,

Nan quan, mạt bộ bội gian nan;

Trưởng quan bộ chỉ cách lý hử,

Hà cố trường lưu ngã thử gian?

GIAM LÂU KHÔNG ĐƯỢC CHUYỂN

Chén thuốc đắng, lúc gần cạn càng đắng,

Cửa ải khó, đến chặng cuối càng khó khǎn;

Dinh trưởng quan chỉ cách chừng một dặm,

Cớ sao giữ mãi ta ở chốn này ?

Thuốc đắng, cạn liều càng thấy đắng,

Đường gay, cuối chặng lại thêm gay;

Dinh quan chỉ cách đây chừng dặm,

Sao mãi giam ta ở chốn này?

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Dạ bán – Nửa đêm

DẠ BÁN

Thụy thì đô tượng thuần lương hán,

Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân;

Thiện, ác nguyên lai vô định tính,

Đa do giáo dục đích nguyên nhân.

NỬA ĐÊM

Lúc ngủ, mọi người đều có vẻ thuần hậu,

Tỉnh dậy, mới phân biệt rõ người thiện kẻ ác;

Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu,

Phần lớn đều do giáo dục mà nên.

Ngủ thì ai cũng như lương thiện,

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,

Phần nhiều do giáo dục mà nên.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Đáo trưởng quan bộ Đến dinh trưởng quan

ĐÁO TRƯỜNG QUAN BỘ

Tưởng giá nan quan thị tối hậu,

Tự do nhật tử khoái lai lâm;

Na tri hoàn hữu nan quan tại:

Ngã mẫn ưng cai giải Quế Lâm.

ĐẾN DINH TRƯỞNG QUAN

Tưởng rằng cửa ải khó khǎn này là cuối cùng,

Ngày tự do đang đến nhanh;

Ngờ đâu còn cửa ải khó khǎn nữa:

Chúng tôi còn bị giải đi Quế Lâm 1 .

Tưởng qua cửa ải này là hết,

Ngày tự do âu cũng chẳng chầy;

Nào biết gian nan còn ải nữa:

Quế Lâm còn phải giải đi ngay.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

—————————————-

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Tứ cá nguyệt liễu – Bốn tháng rồi

TỨ CA NGUYỆT LIỄU

“Nhất nhật tù, thiên thu tại ngoại”,

Cổ nhân chi thoại bất sai ngoa!

Tứ nguyệt phi nhân loại sinh hoạt,

Sử dư tiều tụy thập niên đa.

Nhân vị:

Tứ nguyệt ngật bất bão,

Tứ nguyệt thụy bất hảo,

Tứ nguyệt bất hoán y,

Tứ nguyệt bất tẩy tảo.

Sở dĩ:

Lạc liễu nhất chích nha,

Phát bạch liễu hứa đa,

Hắc sấu tượng ngã quỷ,

Toàn thân thị lại sa.

Hạnh nhi:

Trì cửu hoà nhẫn nại,

Bất khẳng thoái nhất phân,

Vật chất tuy thống khổ,

Bất động dao tinh thần…

BỐN THÁNG RỒI

“Một ngày tù nghìn thu ở ngoài”,

Lời nói người xưa thực không sai;

Sống chẳng ra người vừa bốn tháng,

Khiến mình tiều tuỵ còn hơn mười nǎm.

Bởi vì:

Bốn tháng ǎn không no,

Bốn tháng ngủ không yên,

Bốn tháng không thay áo,

Bốn tháng không tắm rửa.

Cho nên:

Rụng mất một chiếc rǎng,

Tóc bạc đi nhiều,

Gầy đen như quỷ đói,

Ghẻ lở khắp thân mình,

May sao:

Kiên trì và nhẫn nại,

Không chịu lùi một phân,

Vật chất tuy đau khổ,

Không nao núng tinh thần.

“Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài”,

Lời nói người xưa đâu có sai;

Sống khác loài người vừa bốn tháng,

Tiều tuỵ còn hơn mười nǎm trời.

Bởi vì:

Bốn tháng cơm không no,

Bốn tháng đêm thiếu ngủ,

Bốn tháng áo không thay,

Bốn tháng không giặt giũ.

Cho nên:

Rǎng rụng mất một chiếc,

Tóc bạc thêm mấy phần,

Gầy đen như quỷ đói,

Ghẻ lở mọc đầy thân.

May mà:

Kiên trì và nhẫn nại,

Không chịu lùi một phân,

Vật chất tuy đau khổ,

Không nao núng tinh thần.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Bệnh trọng – ốm nặng

BỆNH TRỌNG

Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt,

Nội thương Việt địa cựu sơn hà 1 ;

Ngục trung hại bệnh chân tân khổ,

Bản ưng thống khốc khước cuồng ca.

ỐM NẶNG

Bên ngoài, cảm vì sự nóng lạnh mới thay đổi
của trời Hoa,

Bên trong, đau vì non sông xưa của đất Việt;

Trong tù mắc bệnh thực đắng cay,

Lẽ ra phải khóc ròng mà ta cứ hát ngao!

“Ngoại cảm” trời Hoa cơn nóng lạnh,

“Nội thương” đất Việt cảnh lầm than;

ở tù mắc bệnh càng cay đắng,

Đáng khóc mà ta cứ hát tràn!

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

————————————

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Nhập lung tiền – Tiền vào nhà giam

NHẬP LUNG TIỀN

Sơ lai yếu nạp nhập lung tiền,

Chí thiểu nhưng tu ngũ thập nguyên;

Thảng nhĩ vô tiền bất nǎng nạp,

Nhĩ tương bộ bộ bỉnh ma phiền.

TIỀN VÀO NHÀ GIAM

Mới đến, phải nộp khoản tiền vào nhà lao,

ít nhất cũng nǎm mươi đồng;

Nếu anh không có tiền, không nộp được,

Mỗi bước đi anh sẽ gặp chuyện rắc rối.

Mới đến nhà giam phải nộp tiền,

Lệ thường ít nhất nǎm mươi “nguyên”!

Nếu anh không có tiền đem nộp,

Mỗi bước anh đi, một bước phiền.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

“Sửa đổi lối làm việc”

Nhận thấy tình hình hoạt động của các cơ quan Đảng, chính quyền ở các địa phương sau ngày toàn quốc kháng chiến có nhiều vấn đề cần phải chấn chỉnh gấp, Bác viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” vào tháng 10.1947 tại chiến khu Việt Bắc. Ngay khi được xuất bản, cuốn sách lập tức đã trở thành tài liệu gối đầu giường của cán bộ, đảng viên, từ đồng chí lãnh đạo cấp cao đến cán bộ, đảng viên bình thường.

Chương đầu tiên của cuốn sách có tiêu đề: “Phê bình và sửa chữa”, Bác nêu vấn đề phải sửa đổi lề lối làm việc của Đảng. Bác nêu ra ba thứ bệnh chủ yếu cần phải sửa chữa là bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi và gọi mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Bác cho rằng mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn vì nó phá hoại từ trong phá ra.

Phần thứ hai của cuốn sách với mục “Mấy điều kinh nghiệm”, Bác mở đầu bằng cách nêu câu hỏi: “Tại sao cán bộ, đảng viên ít sáng kiến, ít hăng hái?”. Theo phân tích của Bác, họ không nói ra không phải vì họ không có ý kiến. Bác nêu kinh nghiệm: Cơ quan nào mà trong lúc hội họp, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái gì đúng thì nghe, cái gì không đúng thì giải thích. Nếu làm được như vậy thì ở cơ quan đó mọi người đều hoạt bát, mà bệnh “thì thầm, thì thào” cũng hết.

Ở mục “Tư cách và đạo đức cách mạng”, Bác phê phán mạnh mẽ bệnh “kéo bè, kéo cánh” và cho đó là một bệnh “rất nguy hiểm”. Bác nghiêm khắc vạch rõ: “Bệnh này rất có hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết, gây nên những mối nghi ngờ…”.

Nói về “vấn đề cán bộ”, Bác phân tích nhiều về những bệnh “Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn”; “Ham dùng những kẻ khéo hót mình mà chán ghét những người chính trực”; “Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người không hợp với mình”. Theo Bác, “như thế cố nhiên là làm hỏng cả công việc của Đảng…”.

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác là một cẩm nang quý báu cho tất cả chúng ta. Học tập tác phẩm chúng ta càng sáng ra nhiều điều và càng tự thấy mình phải cố gắng sống và làm việc tốt hơn để thực hiện những điều Bác dạy.

Hà Nhiên
baobinhdinh.com.vn

Học Bác làm báo

Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với hoạt động báo chí. Ngay từ lúc mới ra đi tìm đường cứu nước cách đây gần một thế kỷ Bác đã tìm đến một phương tiện thông tin phổ biến, nhiều tác dụng là báo chí.

Đến khi trở thành người đứng đầu Nhà nước, Bác đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp phát triển báo chí cách mạng Việt Nam và việc đào tạo đội ngũ cán bộ làm báo. Bằng chính kiến thức và kinh nghiệm của mình, Bác tận tâm chỉ dẫn nghiệp vụ cho các nhà báo như một đồng nghiệp, một người bạn, người thầy.

Tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam tháng 9.1962, Bác thẳng thắn phê bình những khuyết điểm của báo chí nước nhà: “Bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống”, không phù hợp với trình độ và thời gian của quần chúng. Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta. Đưa tin tức hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng. Thiếu cân đối: tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn thì viết dài, tin để sau thì để trước, nên trước lại để sau. Lộ bí mật – có khi quá lố bịch. Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và lắm khi dùng không đúng”. Nhưng Bác luôn khẳng định giá trị to lớn của báo chí: “Báo chí là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức, lãnh đạo…”, “Báo chí là vũ khí sắc bén, nhanh nhạy, đại chúng, phục vụ kịp thời…”. Về vai trò quan trọng của báo chí cách mạng, Bác nói: “Tờ báo Đảng như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hàng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta. Nếu ai cắm đầu làm việc mà không xem, không nghiên cứu báo Đảng thì khác nào nhắm mắt đi đêm, nhất định sẽ lúng túng, vấp váp, hỏng việc. Vì vậy, cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng, toàn thể đảng viên và cốt cán cần phải xem báo Đảng”. Bác đánh giá và khuyên dạy: “Báo chí của ta đã có một địa vị quan trọng trong dư luận thế giới… Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”.

Suốt hơn nửa thế kỷ gắn bó với báo chí, Bác để lại một sự nghiệp đồ sộ với trên 2.000 bài viết với 53 bút danh khác nhau của Bác đã được đăng ở nhiều báo trong, ngoài nước bằng tiếng Việt, Pháp, Hán, Nga, Anh… Không chỉ là người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, Bác còn đưa ra các tư tưởng, phương pháp báo chí mới mẻ, tiến bộ mà phù hợp với phong trào báo chí cách mạng, báo chí hiện đại trên thế giới.

Bảo Lâm
baobinhdinh.com.vn

“Bác không thể ấm một mình”

Ông Nguyễn Tùng là người có 7 năm được kề cận phục vụ Bác Hồ. Hiện ông đã 84 tuổi, đang sống cùng con cháu tại xã Quỳnh Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây là câu chuyện được ông Tùng kể với báo Nghệ An về một trong rất nhiều kỷ niệm về Bác vào dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Người.

“Cuối năm 1959, rét cắt da cắt thịt. Trong giờ nghỉ giải lao cuộc họp Bộ Chính trị, anh Ba (Lê Duẩn) vẫy tôi lại nói nhỏ: “Tùng về mua một bếp sưởi điện đặt vào nơi làm việc để Bác Hồ đỡ rét”.

Lúc vào phòng làm việc thấy trên nhà sàn có cái bếp sưởi điện, Bác gọi tôi hỏi. Vốn đã được dặn trước, tôi trả lời: “Thưa Bác, Bộ Chính trị quyết định đặt lò ở đây đấy ạ”. Bác im lặng không nói gì, tôi đến định bật công tắc, Bác bảo: “Quyết định của tập thể Bác phải phục tùng, nhưng tập thể quyết đặt bếp chứ không quyết mở giờ nào nên mở hay không là quyền Bác”.

Hôm sau tôi báo cáo với anh Ba, anh phàn nàn: “Thế Tùng không có cách gì mở bếp à”. Tôi nghĩ được một mẹo. Tối đó, Bác đang làm việc thì tôi lên: “Thưa Bác, cháu rét lắm ạ”. Bác mỉm cười độ lượng: “Rét thì mở lò mà sưởi”. Tôi thích chí vì mẹo của mình đã đạt. 30 phút sau Bác hỏi: “Chú Tùng thấy ấm đủ chưa?”. Tôi lúng túng: “Thưa Bác đủ rồi ạ”. “Đủ thì đi làm nhiệm vụ”. Tôi vội đi xuống, Bác cũng tắt luôn lò sưởi.

Sáng hôm sau, giờ tập thể dục, Bác bảo: “Cái bếp lò vướng lắm, Bác đi lại không thoải mái”. Tôi báo cáo anh Ba, anh đành trực tiếp gặp Bác đề đạt nguyện vọng đặt lò sưởi vì lo cho sức khỏe của Bác. Bác ôn tồn: “Bác cảm ơn Bộ Chính trị, cảm ơn sự quan tâm của dân, của Đảng, Bác biết mở ra thì ấm, nhưng hiện nay toàn dân đang rét, Bác không thể ấm một mình. Hơn nữa, điện đang rất cần cho nông nghiệp, công nghiệp, các cơ sở sản xuất đều thiếu điện nhiều lắm, mình phải biết tiết kiệm. Bao giờ Bắc Nam thống nhất, nhân dân cả nước đều ấm, lúc đó Bác sẽ sưởi”.

Tình thương bao la “hy sinh tất cả chỉ quên mình” của Bác ở trong câu chuyện này là một bài học quý báu còn nguyên tính thời sự, để tất cả cán bộ, đảng viên học tập và noi theo.

Nam Đàn
baobinhdinh.com.vn

Bác Hồ ở Tân Trào

Ngày 21.5.1945, ngày Bác Hồ về Tân Trào để lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Những ngày đầu, Bác sống trong gia đình ông Nguyễn Tiến Sự, Chủ nhiệm Việt Minh của thôn Tân Lập.

Khi Bác về Tân Trào, bà con nhân dân không biết Bác là ai. Tuy nhiên, với lối sống giản dị, khiêm tốn, Bác đã được bà con nhân dân cảm phục, quý mến gọi bằng cái tên trìu mến, thân thương, kính trọng là Ông ké Cách mạng.

Lúc về thôn Tân Lập, Bác phải làm việc thường xuyên, nhưng những bữa cơm hàng ngày của Bác lại quá đạm bạc nên Người rất gầy yếu, mệt mỏi. Để bồi dưỡng sức khỏe cho Bác, một lần ông Nguyễn Tiến Sự bắt một con gà định thịt. Thấy vậy, Bác nhất định bắt thả gà ra. Người nói: “Đừng bầy vẽ làm gì. Tôi có phải là khách đâu, gia đình ăn thế nào thì tôi ăn thế”. Rồi Bác nói tiếp: “Nếu người cán bộ nào đến cũng mổ gà thì nhà lấy đâu ra lắm gà vậy”. Thấy ông Sự còn băn khoăn, Bác hỏi: “Nhà có vừng, có chè xanh không?”. Ông Sự đáp: “Hạt vừng thì còn mấy ống, còn chè xanh thì trên nương rất nhiều”. Bác vui vẻ nói: “Thế thì không lo, măng luộc lên, chấm muối vừng, nước chè xanh làm canh chan cơm. Ăn như thế cũng là ngon rồi”…

Trong những ngày đầu của Cách mạng tháng Tám, đời sống của nhân dân còn cực khổ, Bác đã đồng cam cộng khổ cùng nhân dân. Dân mặc gì, Bác mặc nấy. Dân ăn gì, Bác ăn nấy. Dân ở thế nào, Bác ở như vậy… Giữa vị lãnh tụ của cách mạng và người dân không hề có khoảng cách là một hình ảnh vô cùng đẹp đẽ về sự gắn bó với nhân dân của người cách mạng.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là ở những điều giản dị như thế.

Minh Tuyên
baobinhdinh.com.vn