Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Ngàn năm độc lập vững âu vàng

(VOV) – Thành quả lớn lao nhất, vĩ đại nhất mà Cách mạng tháng Tám năm 1945 đem lại cho dân tộc ta là độc lập dân tộc, nền tảng của tự do, ấm no, hạnh phúc cho mỗi con người.

Qua hàng ngàn năm lịch sử, với bao khúc biến cố thăng trầm, hưng vong, với nghìn năm phong kiến phương bắc đô hộ, với gần trăm năm thực dân đế quốc phương Tây xâm lược, khát vọng độc lập dân tộc luôn cháy bỏng trong tâm can mỗi người dân nước Việt. Giành độc lập dân tộc và bảo vệ, gìn giữ, nâng cao giá trị thành quả thiêng liêng đó là khát vọng, ý chí và cũng là động lực gắn bó, đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh vô biên phản kháng ngoại xâm và nội nghịch.

Có khát vọng nào sánh bằng khát vọng tự do? Có sức mạnh nào sánh được với sức mạnh toàn dân tộc khi vùng lên giành cho được độc lập tự do? Có sự đánh đổi nào xứng đáng hơn sự đánh đổi máu xương để dành lấy tự do độc lập?!

Nhớ lại 66 năm trước, tại Tân Trào, nhận rõ thời cơ cách mạng đang đến, với nhãn quan cách mạng vô cùng sáng suốt, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng và ý chí: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải giành cho bằng được nền độc lập cho Tổ quốc”. Quốc dân đại hội Tân Trào quyết định tổng khởi nghĩa toàn quốc diễn ra ngay sau đó là một hội nghị “Diên Hồng của thời đại”, để rồi những ngày tháng Tám sục sôi cách mạng “người lên như nước vỡ bờ”, đánh đuổi thực dân, phát xít, giành độc lập dân tộc sau gần trăm năm nô lệ.

Nhớ lại, ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tuyên ngôn mang tên Độc lập, trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Nhớ lại, những ngày cuối năm 1946, thực dân Pháp trở lại gây hấn, định cướp nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước…Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”

Nhớ lại, những ngày Tổ quốc bước vào cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược cam go khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định chân lý: Không có gì quý hơn độc lập tự do… Cả dân tộc Việt Nam lại kết thành sức mạnh, chiến đấu, hy sinh làm nên đại thắng mùa xuân 1975 lịch sử.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu biểu cho dân tộc Việt Nam, là hiện thân của khát vọng dân tộc độc lập, đất nước tự do, con người hạnh phúc: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó cũng chính là khát vọng của cả dân tộc Việt Nam, từ hàng ngàn năm trước, hôm nay, và mai sau…

Từ mùa thu năm 1945 đến nay, dù với quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thì cứu cánh, mục tiêu tối thượng của dân tộc ta vẫn là độc lập, tự do, hạnh phúc. Dân tộc có độc lập, đất nước mới tự do, nhân dân mới có hạnh phúc. Tự do, hạnh phúc là cội nguồn của bản lĩnh, khí phách và sáng tạo và lòng trung thành với Tổ quốc. Có độc lập mới có tự do, và tự do, hạnh phúc để củng cố, giữ vững nền độc lập. Nhân dân hạnh phúc, đất nước tự do là thước đo của giá trị, thành quả của độc lập.

Mục tiêu của cuộc cánh mạng tháng Tám 66 năm trước đã thành hiện thực trong đời sống chính trị xã hội hôm nay, càng phải được gia tăng về chất lượng hơn nữa, không chỉ cơm no, áo ấm, học hành, mà hơn thế nữa. Củng cố giá trị độc lập cho mỗi con người, cho cả dân tộc chính là tạo nền tảng để “non sông vạn thuở vững âu vàng”, “độc lập, tự do từ nay vĩnh viễn”./.

Uông Ngọc Dậu
vov.vn

Đỉnh cao của tư tưởng thời đại và ý thức dân tộc

Bản Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – trịnh trọng đọc tại Quảng trường Ba Đình trước hàng chục vạn nhân dân thủ đô, với toàn thể quốc dân đồng bào, cũng là trịnh trọng tuyên bố với nhân dân thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập, trước hết là tuyên ngôn chính trị khẳng định quyền độc lập của dân tộc Việt Nam, cũng là áng văn chương bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói lên niềm hân hoan về khát vọng độc lập, tự do của dân tộc đã trở thành hiện thực; cũng là khát vọng của hàng triệu triệu nhân dân thế giới bị áp bức đã và đang đấu tranh cho quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do của nhân dân. Nhưng do bản tuyên ngôn mở đầu bằng trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, nên không phải ai cũng thấu hiểu hết sự kết tinh đỉnh cao của tư tưởng thời đại và ý thức quật cường dân tộc của dân tộc Việt Nam.

Câu mở đầu trích dẫn “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng… có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Tuyên ngôn Độc lập Mỹ); “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp); đồng thời cũng chứa đựng tư tưởng cốt yếu nhất Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người, thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”… được Nguyễn Ái Quốc vận dụng đưa vào Chánh cương vắn tắt của Đảng 1930 là làm cách mạng dân tộc giải phóng tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, tính tư tưởng thời đại của bản tuyên ngôn đã vận dụng nhuần nhuyễn tư tưởng Cách mạng tư sản Pháp, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và Chánh cương vắn tắt khi thành lập Đảng, là sự kế thừa phát triển từ thấp tới cao tư tưởng tiến bộ và cách mạng của thời đại. Cùng với đó, Tuyên ngôn Độc lập cũng kế thừa tinh túy, nhuần nhuyễn ý thức của dân tộc được thể hiện trong các tuyên ngôn của các anh hùng dân tộc: “Đất nước Nam, người nước Nam ở” (Lý Thường Kiệt); “Nước Đại Việt ta xưng nền văn hiến đã lâu, Cõi bờ sông núi đã riêng… Trải Đinh, Lê, Lý, Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương” (Lê Lợi – Nguyễn Trãi); “Đánh cho biết nước Nam có chủ” (Quang Trung), đến “Dù phải đốt cả dãy Trường Sơn, cũng quyết giành cho được độc lập, tự do” được kết tinh thành chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (Hồ Chí Minh).

Sự gặp gỡ thần kỳ và hòa quyện nhuần nhuyễn tư tưởng thời đại với ý chí quật cường của dân tộc đã tạo nên bản Tuyên ngôn Độc lập thần kỳ, trở thành mục tiêu và sức mạnh bất diệt của dân tộc trong giải phóng dân tộc, đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đã và đang là sức mạnh tinh thần vô địch của nhân dân ta trong xây dựng “Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” và nghị lực phi thường bảo vệ vững chắc non sông gấm vóc, thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ cho các thế hệ người Việt Nam ta: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Đan Tâm
laodong.com.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Niềm tin và chân lý đưa chúng ta đến thành công (17/08/2012)

Tôi sinh ra vào những năm đầu của nền dân chủ cộng hoà nên tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 như ngấm vào trong máu, trong máu của cha mẹ mà truyền sang cho mình. Có lẽ không chỉ riêng tôi mà cả thế hệ những người sinh ra vào thời kỳ ấy đều như thế. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm! không chỉ là khẩu hiệu mà là xương thịt tạo nên cái hình hài của cả thế hệ chúng tôi, cái thế hệ đã tiếp bước cha ông, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo chân Bác, thế hệ ấy nhiều người đã vĩnh viễn ra đi, chỉ để lại một tinh thần bất diệt : Không có gì quý hơn độc lập tự do! cái tinh thần được khởi nguồn từ tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9!

Nhân dân Hà Nội chiếm phủ Khâm Sai ngày 19-8-1945

Ảnh: TL

Những người còn lại như chúng tôi, đa phần trở về với cuộc sống hoà bình với tư cách là một công dân nước Việt Nam độc lập, hoà bình và thống nhất; một phần tham gia vào hệ thống chính trị với cương vị là những cán bộ từ cơ sở đến trung ương, nhiều người giữ trọng trách trong bộ máy chính quyền của dân, do dân và vì dân. Dù ở cương vị nào thì tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 vẫn chảy trong huyết quản mà làm nên sức mạnh vượt qua mọi thử thách để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức cam go. Đất nước đã có Hoà bình, Độc lập, Thống nhất và Tự do; nhưng Dân chủ và Giàu mạnh trên con đường phát triển còn gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ bởi lực cản hữu hình và vô hình trong và ngoài nước. Những lực cản ấy từ bên ngoài không trực tiếp như thời kỳ chống đế quốc, thực dân xâm lược, nhưng cũng không kém phần nguy hiểm và tiềm ẩn những thử thách cam go dài lâu. Tuy nhiên, so sánh tương quan lực lượng giữa kẻ chống đối và người ủng hộ, thì lực lượng ủng hộ chúng ta, ủng hộ Hoà bình, Độc lập, Thống nhất, Tự do, Dân chủ và Giàu mạnh của Việt Nam trên trường quốc tế lớn hơn bao giờ hết. Dẫu còn muôn vàn khó khăn để đối phó với lực cản bên ngoài, nhưng xét về mọi phương diện chính trị, kinh tế, quân sự và hợp tác quốc tế trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta không thể có thuận lợi trong thế so sánh ta và địch như trong tình thế hiện nay. Khi ấy giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm cùng một lúc hoành hành như muốn nhấn chìm nền Cộng hoà Dân chủ vừa mới ra đời của chúng ta! Khi ấy cách mạng Trung Quốc còn chưa thành công, Liên Xô (cũ) mãi đến năm 1950 mới công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, vậy mà Nhà nước công nông của chúng ta vẫn đứng vững, kháng chiến trường kỳ vẫn thành công! Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 bất diệt trong mỗi trái tim người Việt Nam ta đã làm nên sức mạnh thần kỳ ấy!

Như vậy lực cản lớn nhất xét về tổng thể không còn nằm ở cái bên ngoài mà là ở cái bên trong, cái tồn tại trong mỗi con người chúng ta hôm nay. Sức ì của tư duy cũ, sức ì của quán tính cũ, thói quen cũ vẫn đang là lực cản không nhỏ của chính chúng ta mặc dù nó đã được hạn chế, tước bỏ đi nhiều trong quá trình đổi mới hơn hai mươi năm qua. Thêm vào đó, những căn bệnh mới mà mặt trái của kinh tế thị trường đem đến là thói tham lam, ích kỷ, hám tiền, trục lợi dẫn đến quốc nạn tham nhũng đang ngày đêm sói mòn niềm tin của nhân dân, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội tăng lên làm suy giảm nghiêm trọng sức mạnh đoàn kết của dân tộc. Cuộc đấu tranh ai thắng ai đang diễn ra hết sức quyết liệt trong mỗi con người chúng ta. Cái thiện, cái ác, cái tốt, cái xấu đan xen trong mỗi chúng ta, trong mỗi cơ quan, tổ chức, đoàn thể và xã hội ta! Cái nào sẽ thắng, bản thân chúng ta nhiều khi cũng mơ hồ chưa rõ, bởi kẻ địch không hiện nguyên hình trước ta mà lẩn trốn ngay trong ta. Chỉ lơ là thiếu tinh thần cách mạng một thoáng thôi, chúng ta có thể làm hỏng những người đồng chí vốn trung kiên, năng động và có thể đã có nhiều công trạng trong quá khứ. Chỉ buông thả trong khoảnh khắc, cái xấu đã lôi ta lút vào con đường tăm tối của danh lợi, quyền chức, bạc tiền đến nỗi muốn quay đầu cũng chẳng còn đơn giản nữa. Chúng ta đã được các nhà cách mạng tiền bối cảnh báo “viên đạn bọc đường” với sức tàn phá còn hơn cả bom đạn, vậy mà để tránh nó vẫn là vấn đề hết sức nan giải. Loại đạn này không từ bất kỳ ai, kể cả những người ở ngôi vị quyền cao, chức trọng, kể cả những người đã dạn dày kinh nghiệm trong chính trường hay trong thương trường. Cái độc hại của nó hơn cả bom đạn vì nó gặm nhấm tâm hồn và trái tim con người. Làm cho bản chất người suy giảm trong ta đến khi tỉnh ngộ thì thân đã tàn, lực đã kiệt, khó bề chống đỡ. Khi ấy liệu ta có dũng cảm tự nguyện hy sinh như khi xưa nơi chiến địa chống quân thù?! Thật vô cùng khó, bởi hình như trong lịch sử nó là chuyện cực kỳ hiếm gặp! Như vậy, chẳng phải bi kịch lắm sao khi cái thân ta tồn tại lại như mảnh đất màu mỡ để lây truyền căn bệnh vốn hiểm nguy cho cộng đồng, làm giảm đi sức sống mà chính cha anh ta và bản thân ta đã góp phần làm nên trong lịch sử, đó là Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm! Nhân dân ta, dân tộc ta, Đảng ta với kinh nghiệm xương máu của mình nhất định không để bất kỳ kẻ thù nào dù ngoại xâm hay ” nội xâm” khuất phục. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 đang thực sự sống động trong toàn Đảng, toàn dân ta trong đợt sinh hoạt chính trị đặc biệt này!

Trước tiên, phải nói đến các đồng chí trong Bộ Chính trị. Các đồng chí đã thể hiện một tinh thần tiên phong cách mạng, đi đầu trong khó khăn, gian khổ, gương mẫu thực hiện phê bình và tự phê bình, mở đầu cho việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chỉnh đốn, xây dựng Đảng. Đợt sinh hoạt chính trị đặc biệt này diễn ra đúng dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9, phải chăng là sự khẳng định quyết tâm cao độ vượt lên chính mình của tất cả các Uỷ viên Bộ Chính trị, những người hơn ai hết, trước tiên nhất đã, đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đạo đức cách mạng sáng ngời Hồ Chí Minh chính là niềm tin vào nhân dân vĩ đại. Niềm tin Hồ Chí Minh là niềm tin của bậc chí nhân, chí dũng, chí tín: Tin người để người tin mình. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám là minh chứng lịch sử sinh động cho niềm tin ấy! Chính niềm tin vào nhân dân mà với hơn năm ngàn đảng viên hoạt động công khai ở một số vùng nông thôn, còn trong các thành phố lớn là hoạt động bí mật, Đảng đã phất cờ cách mạng, lãnh đạo toàn dân ta làm nên thắng lợi thần kỳ, giành chính quyền trong cả nước, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chủ tịch đọc trước quốc dân đồng bào tại quảng trường Ba Đình đã đi vào lịch sử như một mốc son sáng ngời trong lịch sử dân tộc. Bộ máy trung ương của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không chỉ có những người cộng sản mà còn có nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, thậm chí có cả những phần tử chống đối cách mạng. Ngay sau đó, để phù hợp với yêu cầu của cách mạng, Đảng ta đã tự giải tán và hoạt động trên danh nghĩa chỉ là Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Vậy mà Nhà nước dân chủ cộng hoà non trẻ vẫn vững vàng trong điều kiện ” ngàn cân treo sợi tóc”. Nhà nước ấy chẳng những tồn tại vững vàng mà còn cùng dân tộc trường kỳ kháng chiến và lập nên nhiều chiến công vang dội. Cho đến năm 1951 Đảng mới chính thức công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam để lãnh đạo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, tiếng bom đầu tiên báo hiệu sự sụp đổ của chế độ thực dân kiểu cũ ở Đông Dương và trên toàn thế giới. Rõ ràng lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho ta bài học vô cùng quý giá là : dù công khai hay bí mật, thậm chí không còn trên danh nghĩa, nhưng Đảng còn sống trong lòng dân, thì Đảng còn lãnh đạo cách mạng. “Đảng không có quyền lợi nào khác là quyền lợi của nhân dân” thì nhân dân mãi mãi vẫn tin vào Đảng, mãi mãi vẫn đi theo Đảng bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh! Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định quyết tâm của Bộ Chính trị, của toàn Đảng triển khai tích cực và có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quyết tâm cao của toàn Đảng chính là sự tiếp nối sinh động tinh thần Cách mạng Tháng Tám và 2 – 9! Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh : ” Không làm tốt vấn đề này là có tội với nhân dân” là sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng tin vào sức mạnh vô địch của nhân dân ” khó trăm lần dân liệu cũng xong”!

Đúng là khó khăn đang chồng chất khó khăn. Chính phủ đang cố gắng hết sức để khắc phục hậu quả của suy thoái kinh tế và các tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, tham nhũng và các tệ nạn xã hội vẫn chưa giảm lại có phần tinh vi hơn, táo tợn và tàn bạo hơn! Lương và các khoản trợ cấp xã hội được điều chỉnh theo hướng nâng cao đời sống của nhân dân chưa đủ bù vào sự tăng giá đồng loạt của các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu cho đời sống con người. Biển Đông lại đang dậy sóng bởi những toan tính hẹp hòi, thủ cựu và nguy hiểm. Thế hệ chúng tôi nay cũng đã già rồi. Những người trẻ nhất cũng đã ngoài 60 tuổi. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay cũng đã 67 năm. Trách nhiệm xây dựng đất nước Hoà bình, Thống nhất, Độc lập, Dân chủ và Giàu mạnh chắc chắn phải trông vào thế hệ sau chúng tôi!

Nhìn vào những gương mặt trẻ trung, tươi vui mà quyết đoán, của những người lính Trường Sa; những gương mặt tự tin của các phi công trên các chiếc SU hiện đại; những gương mặt sạm nắng gió mà vẫn sáng vẻ thông minh, sáng tạo của những người thợ trên dàn khoan dầu nơi đầu sóng ngọn gió; nhìn những gương mặt xinh tươi, tinh nghịch, nhanh nhẹn, tự tin của các cô gái trên đồng ruộng, đồi nương…những người đã làm nên hàng triệu tấn gạo, hàng chục vạn tấn cà phê và các nông sản khác, đưa Việt Nam thành quốc gia có trách nhiệm quan trọng về an toàn lương thực trong cộng đồng thế giới! …Tất cả những gương mặt trẻ ấy là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần vững chắc của thế hệ chúng tôi và của toàn Đảng, toàn dân ta. Dòng chảy lịch sử, dòng chảy cuộc sống vẫn tiếp nối như mạch nguồn vô tận Việt Nam mỗi khi gặp gian nguy lại kết thành làn sóng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Lớp sau tiếp lớp trước thành hàng ngàn lớp sóng trùng trùng cuốn phăng mọi lực cản trên con đường Độc lập, Tự do của dân tộc, ấm no và hạnh phúc của nhân dân.

Niềm tin ấy là sự thật, là chân lý sáng ngời bởi Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm!

TS. Nguyễn Viết Chức
(Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục,
Thanh thiếu niên – nhi đồng của Quốc hội khoá XI)
daidoanket.vn

Khuyên đồng bào mua báo Việt Nam độc lập

Đế quốc Pháp thật là ác nghiệt
Làm dân ta như điếc, như mù,
Làm ta dở dại dở ngu,
Biết gì việc nước biết đâu việc đời.
Báo “Độc lập” hợp thời đệ nhất,
Làm cho ta mở mắt mở tai.
Cho ta biết đó biết đây,
Ở trong việc nước, ở ngoài thế gian:
Cho ta biết kết đoàn tổ chức.
Cho ta hay sức lực của ta
Cho ta biết chuyện gần xa.
Cho ta biết nước non ta là gì.
Ai không chịu ngu si mù tối,
Ắt phải xem báo ấy mới nên;
Giúp cho báo ấy vững bền.
Càng ngày càng lớn càng truyền khắp nơi.
Khuyên đồng bào nhớ bấy nhiêu lời!

——————————

Báo Việt Nam độc lập, số 101, ngày 1-8-1941
cpv.org.vn

Việt Nam độc lập

“Việt Nam độc lập” thổi kèn loa.
Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già
Đoàn kết vững bền như khối sắt
Để cùng nhau cứu nước Nam ta!

———————–

Báo Việt Nam độc lập, số 103, ngày 21-8-1941
cpv.org.vn

Dân cày

Thương ôi! những kẻ dân cày,
Chân bùn tay lấm suốt ngày gian lao
Lại còn thuế nặng sưu cao.
Được đồng nào đều lọt vào túi Tây.
Dân ta không có ruộng cày,
Bao nhiêu đất tốt về tay đồn điền.
Lại còn phu dịch, tần phiền.
Làm chết xác được đồng tiền nào đâu!
Thân người chẳng khác thân trâu.
Cái phần no ấm có đâu đến mình!
Muốn phá sạch mối bất bình,
Dân cày phải kiếm Việt Minh mà vào.
Để cùng toàn quốc đồng bào
Đánh Pháp, Nhật, gây phong trào tự do.
Nhịp này là nhịp trời cho,
Lo cứu nước tức là lo cứu mình.
Mai sau thực hiện chương trình:
Việt Nam nông dã tất canh kỳ điền

——————————-

Báo Việt Nam độc lập, số 103, ngày 21-8-1941
cpv.org.vn

Phụ nữ

Việt Nam phụ nữ đời đời
Nhiều người vì nước, vì nòi hy sinh.
Ngàn thu rạng tiếng bà Trưng,
Ra tay cứu nước, cứu dân đến cùng.
Bà Triệu ẩu thật anh hùng,
Cưỡi voi đánh giặc, vẫy vùng bốn phương.
Mấy nǎm cách mệnh khẩn trương,
Chị em phụ nữ thường thường tham gia.
Mấy phen tranh đấu xông pha,
Lòng vàng gan sắt nào đà kém ai?
Kìa như chị Nguyễn Minh Khai
Bị làm án tử đến hai ba lần.
Bây giờ cơ hội đã gần,
Đánh Tây, đánh Nhật, cứu dân nước nhà.
Chị em cả trẻ đến già
Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh.
Đua nhau vào hội Việt Minh
Trước giúp nước, sau giúp mình mới nên.
Làm cho thiên hạ biết tên
Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng

—————————-

Báo Việt Nam độc lập, số 104, ngày 1-9-1941
cpv.org.vn

Trẻ con

Trẻ em như búp trên cành,
Biết ǎn ngủ, biết học hành là ngoan,
Chẳng may vận nước gian nan,
Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng.
Học hành, giáo dục đã không,
Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa.
Sức còn yếu, tuổi còn thơ,
Mà đã khó nhọc cũng như người già!
Có khi lìa mẹ, lìa cha,
Đi ǎn ở với người ta bên ngoài.
Vì ai mà đến thế này?
Vì giặc Nhật với giặc Tây bạo tàn!
Khiến ta nước mất, nhà tan,
Trẻ em cũng phải cơ hàn xót xa.
Vậy nên con trẻ nước ta
Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!
Kẻ lớn cứu quốc đã đành,
Trẻ em cũng phải ra dành một vai.
Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây,
Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng.

——————————–

Báo Việt Nam độc lập, số 106, ngày 21-9-1941
cpv.org.vn

Công nhân

Thành ai đắp, lầu ai xây?
Tàu kia ai đóng, than đây ai sàng?
Bao nhiêu của cải kho tàng,
Ai đào bạc, ai luyện vàng mà nên?
Công nhân sức mạnh nghề quen,
Làm ra của cải cho thiên hạ nhờ.
Mà mình quần rách áo xơ,
Tiền công thì bớt mà giờ thì thêm.
Lại còn đánh chửi tần phiền,
Cúp lương tháng trước, phạt tiền hôm qua.
Càng nghĩ lại, càng xót xa,
Vì ta mất nước, mà ta phải hèn
Để cho Pháp, Nhật lộng quyền,
Thẳng tay bóc lột thợ thuyền nước ta!
Thợ thuyền ta phải đứng ra,
Trước ta cứu nước, sau ta cứu mình.
Cùng nhau vào hội Việt Minh,
Ra tay tranh đấu hy sinh mới là.
Bao giờ khôi phục nước nhà,
Của ta ta giữ, công ta ta làm.

——————————

Báo Việt Nam độc lập, số 108, ngày 11-10-1941
cpv.org.vn

Mười chính sách của Việt Minh

Việt Nam độc lập đồng minh
Có bản chương trình đánh Nhật, đánh Tây.
Quyết làm cho nước non này,
Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền:
Làm cho con cháu Rồng, Tiên,
Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta.
Có mười chính sách bày ra,
Một là ích nước, hai là lợi dân.
Bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân,
Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền.
Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,
Họp hành, đi lại, có quyền tự do.
Nông dân có ruộng, có bò,
Đủ ǎn, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn.
Công nhân làm lụng gian nan,
Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ.
Gặp khi tai nạn bất ngờ,
Thuốc thang Chính phủ bấy giờ giúp cho.
Thương nhân buôn nhỏ, bán to,
Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền.
Nào là những kẻ chức viên,
Cải lương đãi ngộ cho yên tấm lòng.
Binh lính giữ nước có công,
Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu.
Thanh niên có trường học nhiều,
Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho.
Đàn bà cũng được tự do,
Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền.
Người tàn tật, kẻ lão niên,
Đều do Chính phủ cấp tiền ǎn cho.
Trẻ em, bố mẹ khỏi lo,
Dạy nuôi, Chính phủ giúp cho đủ đầy.
Muốn làm đạt mục đích này,
Chúng ta trước phải ra tay kết đoàn.
Sao cho từ Bắc chí Nam,
Việt Minh hội có muôn vàn hội viên.
Người có sức, đem sức quyên,
Ta có tiền của, quyên tiền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh.
Rồi ra sự nghiệp hoàn thành,
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng.
Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

Nǎm 1941

——————————

Theo bài in trong tập Thơ
In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1970, tr. 14-16
cpv.org.vn

Ca binh lính

Hai tay cầm khẩu súng dài,
Nhắm đi nhắm lại, bắn ai thế này?
Bắn vào quân Nhật, quân Tây,
Lũ cướp nước, lũ đoạ đày dân ta,
Lũ không yêu trẻ, kính già,
Lũ cướp đất, lũ đốt nhà xôn xao,
Lũ đòi sưu nặng, thuế cao,
Lũ đi vơ vét đồng bào Việt Nam.
Bắn được chúng, chết cũng cam,
Vì mình dù chết, nước Nam vẫn còn!
Hay vì chút lợi cỏn con,
Cái bằng cửu phẩm, cái lon đội nhì,
Nhắm vào cách mạng bắn đi,
Quản chi nhân nghĩa, quản chi giống nòi!
Anh em binh lính ta ơi!
Chúng ta cùng giống, cùng nòi Việt Nam;
Việc chi lợi nước thì làm,
Cứu dân cứu quốc há cam kém người!
Trong tay đã sẵn súng này,
Quyết quay đánh Nhật, đánh Tây mới đành.
Tiếng thơm sẽ tạc sử xanh:
“Việt binh cứu quốc” rạng danh muôn đời!

——————————-

Báo Việt Nam độc lập, số 110, ngày 1-11-1941.
cpv.org.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Suy ngẫm về đạo đức của người lãnh đạo với sự tồn vong của đất nước

Hiện nay chúng ta đang thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4, khoá XI cùng với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong không khí sôi động kỷ niệm 67 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9. Trước vận hội và cả vận mệnh của dân tộc hôm nay khiến chúng ta cần suy ngẫm về những bài học lịch sử mà dân tộc ta đã trải qua hơn 60 năm qua.

Đảng ta chỉ có non 5.000 đảng viên mà lãnh đạo được
nhân dân cả nước làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi

Ảnh: TL

Bài học lịch sử cũng là câu trả lời cho một vấn đề đặt ra: Vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam mới ra đời 15 năm đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công và sau đó trước vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, trước sự phá hoại của các nhóm người phản lại lợi ích dân tộc, chống phá Nhà nước dân chủ cộng hoà mà nền độc lập dân tộc và chế độ mới vẫn tồn tại, vẫn đứng vững và lớn mạnh. Điều này đã được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh lý giải sâu sắc. Trong Diễn văn tại Lễ mừng Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1946) tổ chức tại Paris (Pháp) Người nói: “Chính sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hoà của mình”. Sự đoàn kết đó được một đảng cách mạng chân chính lãnh đạo đã đem lại thành công. Trong Bài nói tại Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Từ ngày ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp (…). Trong 15 năm đấu tranh trước Cách mạng Tháng Tám và trong tám, chín năm kháng chiến, biết bao đảng viên ưu tú và quần chúng cách mạng đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh một cách cực kỳ oanh liệt (…). Hồi khởi nghĩa, Đảng ta chỉ có non 5.000 đảng viên mà lãnh đạo được nhân dân cả nước làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi”. “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác” – Người kết luận:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng núi cao
Ba mươi năm phấn đấu biết bao nhiêu tình
Đảng ta là đạo đức, là văn minh
Là thống nhất, độc lập, hoà bình ấm no”.

Nhìn từ góc độ đạo đức, chúng ta thấy rằng chính phẩm chất đạo đức cao cả của Đảng và của các đảng viên đã tạo nên sức hấp dẫn đối với nhân dân, tập hợp nhân dân đoàn kết toàn dân để tiến hành đấu tranh giành được thắng lợi và bảo vệ được thành quả cách mạng.

Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức của Đảng – người lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đồng thời là người “cầm quyền” nắm vận mệnh của đất nước. Từ năm 1968, khi chỉ đạo viết sách Người tốt việc tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu rơi vào chủ nghĩa cá nhân”.

Bài học về sự thất bại của Đảng Cộng sản Liên Xô càng giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về lời cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảng Cộng sản Liên Xô (tiền thân là Đảng Bônsêvích Nga) khi mới có 2 vạn đảng viên đã lãnh đạo nhân dân Nga làm Cách mạng Tháng Mười thành công, một sự kiện vĩ đại làm “rung chuyển thế giới”, đến khi có 2 triệu đảng viên lãnh đạo cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, chiến thắng phát xít Đức, cứu nhân loại khỏi hoạ phát xít. Thế nhưng khi có 20 triệu đảng viên thì Đảng Cộng sản Liên Xô không giữ nổi Nhà nước Liên Xô, không giữ nổi chế độ xã hội chủ nghĩa và đi đến tan rã. Tổng kết bài học lịch sử của Đảng Cộng sản Liên Xô, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên bang Nga ngày nay đã viết: “Không giữ được Liên Xô, trước hết là vì Đảng Cộng sản Liên Xô đã bị huỷ hoại bởi độc quyền về quyền lực, tham vọng giành cho mình độc tôn chân lý và sự quá tin tưởng vào tính tất yếu của một hình thái sở hữu duy nhất”. Nguyên nhân đó không chỉ là vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội mà còn là vấn đề đạo đức. Độc quyền chân lý là kiêu ngạo; độc tôn quyền lực là áp đặt; độc tín hình thức công hữu là thiếu dân chủ đối với các thành phần kinh tế khác và lợi dụng chế độ công hữu để tham nhũng, lãng phí… Đây là bài học lịch sử đương đại.

Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn xây dựng đất nước độc lập, tự chủ và xây dựng chế độ phong kiến cũng để lại nhiều bài học tích cực, có ý nghĩa đạo đức đối với người lãnh đạo, người cầm quyền. Đó là người cầm quyền phải vì quyền lợi của nhân dân, của đất nước và phải tôn trọng nhân dân – cái gốc của đạo đức. Đó là cái nhân, cái nghĩa của người lãnh đạo: “Nhân nghĩa duy trì thế nước an”, “Có nhân nghĩa có anh hùng” (Nguyễn Trãi).

Chính vì vậy, Lý Thái Tổ trong Chiếu dời đô đã khẳng định: “Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì đổi dời”. Lý Thường Kiệt trong Lộ bố văn (đánh quân Tống) cho rằng: Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khẳng định: Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, là quốc sách giữ nước. Nguyễn Trãi ao ước người cầm quyền: Chăm nuôi dân chúng khiến cho thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng hờn giận oán hờn, hoà bình là gốc của nhạc (yên ổn, tốt đẹp). Vua Lê Thánh Tông – ông vua có công xây dựng đất nước và đưa chế độ phong kiến đến cực thịnh – cũng tâm niệm rằng: “Thương yêu dân chúng, kính trời xanh”. Vua Minh Mạng thời Nguyễn đã ý thức rằng: “Người làm chính trị không thể làm trái ý chí của nhân dân”, “Dân là gốc nước, bởi vậy phải yêu cái dân yêu và ghét cái dân ghét”. Không những thế ông còn dạy những quần thần phải tôn trọng dân và không được hà hiếp dân. Ông mắng Diên Khánh Công vì đã bắt người trái phép: “Dân là gốc nước, dân không yêu thì người có thể hưởng giầu sang được không?”. Đây là những bài học trong truyền thống lịch sử dân tộc.

Hiện nay, trong Đảng đang có sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, “kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp” và theo nhận định của Giáo sư Lưu Văn Đạt – Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – đăng báo Thanh Niên ngày 29-6-2012 bắt đầu có sự đối lập hoàn toàn “giữa nhân dân với chính quyền”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã cảnh báo về nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ và được đề cập trực diện trong Nghị quyết TƯ 4 khoá XI. Điều đó càng làm cho chúng ta phải suy ngẫm về vấn đề vai trò của đạo đức người lãnh đạo (người cầm quyền) có ý nghĩa to lớn liên quan tới sự tồn vong của đất nước và chế độ như thế nào? Và phải thực sự thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. (Di chúc). Giữ gìn sự liêm chính, giữ gìn đạo đức cách mạng ấy cũng là cách thiết thực giữ vững thành quả cách mạng mà cha ông chúng ta đã giành được từ 67 năm trước.

PGS,TS. Lê Quý Đức
bqllang.gov.vn