Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng một nền kinh tế mở

TTHCM


 

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam không có tên trên bản đồ thế giới.

Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và công bố trước toàn thế giới, là một sự kiện trọng đại, đánh dấu thắng lợi mở đầu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Quốc hiệu, Quốc huy, Quốc ca, Quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập từ đó hiên ngang trên chính trường quốc tế, khẳng định quyền được bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới.

Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để đất nước bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới tự chủ. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép lại, mà là tự lực, tự cường, là sự tự vận động bằng chính các nguồn lực sẵn có ngay trong lòng dân tộc mình, đất nước mình, không trông chờ, ỷ lại vào bất cứ nguồn viện trợ nào dù đó là sự viện trợ vô tư và khách quan nhất (trong thực tế không có sự vô tư và khách quan tuyệt đối đó); đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ và hợp tác với các nước khác trên tinh thần đoàn kết và cùng có lợi, cùng vì mục tiêu hào bình và phát triển. Hồ Chí Minh viết:

anh tư tưởng HCM về xây dựng 1 nền kinh tế mở
Chủ tịch Hồ Chí Minh thǎm Nhà máy diêm Thống Nhất
trong những ngày đầu khôi phục kinh tế 1956

“Những nguyên tắc của Lênin về quyền dân tộc tự quyết, về chung sống hòa bình, không can thiệp vào việc nội bộ của các nước khác, về quyền bình đẳng và quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tất cả các nước, những nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của Liên Xô, đang chỉ cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc con đường đấu tranh giành thống nhất và độc lập dân tộc”.

Một nền kinh tế mở trước tiên phải xuất phát từ một nền xã hội mở, và một nền văn hóa mở. Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam hòa nhập cùng cách mạng thế giới, tự nguyện là một bộ phận của cách mạng thế giới. Sự nghiệp cách mạng của Người là cuộc đấu tranh bền bỉ để toàn nhân loại bị áp bức thoát khỏi kiếp nô lệ, tiến tới thế giới đại đồng. Người kêu gọi:

“Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới.

Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại !”.

Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc là sự mở rộng khẩu hiệu của V.I.Lênin và cả khẩu hiệu của C. Mac và F.Enghen trước đó.Nó cụ thể hơn, bản chất hơn; rằng thế giới sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã bước vào kỷ nguyên toàn thể nhân loại bị áp bức đồng loạt đứng lên “chặt đứt cả hai cái vòi của con đỉa” là chủ nghĩa đế quốc thực dân “hút máu” người lao động ở thuộc địa và cả ở chính quốc; rằng, đã đến lúc lao động toàn thế giới phải cùng nhau giành lại bằng được tất cả những quyền lợi mà chủ nghĩa tư bản dùng mọi thủ đoạn đã tước đoạt của họ, để từ đó bắt tay vào xây cuộc đời mới, cuộc đời tự do cho chính mình.

Đối với xã hội loài người, sự phát triển và tiến bộ của nó trước tiên và cũng là cứu cánh là làm sao thỏa mãn tối đa nhu cầu lao động của toàn thể nhân loại (thỏa mãn nhu cầu lao động chứ không phải thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ).

Lao động đã biến con người tự nhiên thành con người xã hội. Trong lao động và những thành quả của lao động mà con người đạt được, những giá trị của lao động được tích tụ thành những lớp trầm tích văn hóa để rồi từ đó lại tiếp tục kích thích con người lao động sáng tạo ra những văn hóa mới. Quá trình tích tụ văn hóa tiếp diễn không ngừng ngay cả trong các hình thái kinh tế – xã hội phân chia giai cấp; bởi chính nhu cầu sáng tạo trong lao động của người lao động tự giác duy trì nó, chứ không phải do mục đích của chế độ bóc lột duy trì nó. “Đỉnh cao” của chủ nghĩa tư bản khiến con người sớm nảy sinh mâu thuẫn đối kháng với nó, kịch liệt lên án nó, dễ dàng đồng lòng chống nó vì nó đã đưa sự bóc lột lao động thành “nghệ thuật”. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, người lao động bị vô sản hóa. Họ bị tước đoạt quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, mất cả quyền sở hữu cá nhân về mọi mặt; quyền ăn, ở, đi lại, phát biểu, ngôn luận,…Họ bị dồn vào các đô thị, họ đi lang thang. Họ buộc phải làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ,.. sức lao động của họ trở thành hàng hóa và mặc sức để bọn chủ bóc lột giá trị thặng dư của mình (điều mà C.Mác đã phát hiện). Ở thuộc địa, người lao động còn bị đối xử thậm tệ hơn. Bọn chủ tư bản coi họ chỉ là những công cụ biết chuyển động. Họ bị áp bức bằng chính sách ngu dân, chủ yếu là rượu và thuốc phiện (điều mà Nguyễn Ái Quốc đã công khai vạch trần ngay tại quê hương của chủ nghĩa tư bản).

Một “đỉnh cao” khác cũng thuộc bản chất của chủ nghĩa tư bản là “nghệ thuật” tạo ra hố ngăn cách, ngày càng rộng và sâu, giữa giàu và nghèo có tính toàn cầu, gây cho thế giới sự mất ổn định triền miên, làm cho các dân tộc hùng hằn lẫn nhau. Và, có thể coi tâm lý ảo tưởng về “tự do”, “bình đẳng”, về cuộc sống “phồn hoa” hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ, gieo rắc dưới mọi hình thức và mọi thủ đoạn, là một “đỉnh cao” khác của chủ nghĩa tư bản. “Nghệ thuật gieo rắc” này, điển hình ngày nay là mỹ, càng đạt hiệu quả dẫn đến sự kiện Liên Xô tan rã và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Bức tranh về một thế giới hiện đại dưới sự ảnh hưởng tác động trực tiếp của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhất là những mặt trái của nó, hiện đang đẩy xã hội loài người vào sự khủng hoảng toàn diện và đồng thời nảy sinh những mâu thuẫn đối kháng quyết liệt. Bằng nhãn quan kiệt xuất và tâm hồn trong sáng, Hồ Chí Minh đã dự cảm đúng về tương lai cách mạng Việt Nam trong xu thế phát triển của thế giới ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. Người đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới,con đường đi tới của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do.

Người mong muốn và vận động, giáo dục nhân dân phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh trên cơ sở thực hiện đời sống mới để cải tạo bản thân, cải tạo bản thân, tiếp tục hun đúc cho nền văn hóa dân tộc ngày thêm bền vững và tỏa rạng mãi mãi. Tâm hồn và tư tưởng của Hồ Chí Minh gây xúc động mạnh mẽ tới nhà báo Liên Xô Ôxip Medenxtam ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Trên báo Ogonok số 39 ngày 23 tháng 12 năm 1923, Medenxtam viết: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị. Văn minh Châu Âu trên đất nước ấy dùng lưỡi lê và rượu độc và che dấu tất cả những cái đó dưới tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Sau này, Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng khẳng định điều đó khi tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc” và “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” và tổ chức kỉ niệm 100 năm Ngày sinh của Người trên toàn thế giới.

Khi xây dựng một xã hội mở, một nền văn hóa mở thì nền kinh tế trong đó không thể khép kín. Đó là một lôgic tất yếu. kinh tế có phát triển không và phát triển như thế nào, đều phụ thuộc trước tiên và cuối cùng cũng là nhân tố con người, trong đó quan trọng lại là ý thức lao động của quần chúng nhân dân. Tiến hành cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc thì đồng thời giải phóng nhân dân hỏi kiếp nô lệ; nhưng, để toàn dân có ý thức lao động đúng đắn thì cách mạng phải tiếp tục thực thi những nhiệm vụ nặng nề nhằm gột rửa những thói hư tật xấu do chế độ thực dân và phong kiến cai trị tạo ra đã ăn sâu thành thói quen, thành sức ì trong tâm thức người lao động. Hồ Chí minh là người thấu triệt sự cấp bách “phải có giáo dục đạo đức công dân”, phải “giáo dục tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính” không chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt mà cho cả công cuộc bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước trong dài lâu. Ý thức lao động chuyển từ địa vị kẻ nô lệ sang người chủ đất nước trong người lao động là sự dịch chuyển vừa có tính đột biên vừa chậm chạp, có tác động ảnh hưởng, trực tiếp hay gián tiếp, tới quá trình giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, tới quá trình xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất. Ý thức lao động ấy nếu không được giáo dục vận động thường xuyên lại có cơ hội nảy nở và phát triển những mặt xấu, tiêu cực một cách tràn lan như cỏ dại. Hồ Chí Minh đã nói: “Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới”; và, bằng nhiều cách lý giải khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau, Người kiên trì giáo dục cán bộ đảng viên và nhân dân rèn luyện đạo đức cách mạng. Bản thân Hồ Chí Minh luôn là tấm gương trong sáng về sự tự rèn luyện ấy.

Nội dung “Đời sống mới” do Hồ Chí Minh đề xuất bao hàm mối quan hệ hữu cơ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần do người lao động tạo dựng trực tiếp và chính họ trực tiếp hưởng những thành quả đó, vậy họ phải ý thức được ý nghĩa của việc thực hành “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” và lợi ích mà đời sống mới đem lại cho họ. Sự tự ý thức ấy chẳng có con đường nào khác là phải học để giệt giặc dốt trong bản thân mình, để nâng cao hiểu biết và từ đó có khả năng đổi mới tư duy. Vấn đề là ở chỗ cán bộ – những người tổ chức và hướng dẫn quần chúng – có tự nguyện và chân thành làm công bộc của dân hay không? Có ham học hỏi, có tự tu dưỡng đạo đức cách mạng hay không? Cán bộ không gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính không đi đầu thực hiện đời sống mới, thì hiển nhiên dân không kính, không yêu, vì dân không còn tin cán bộ.đó là những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên lượng và thường xuyên nhắc nhở cán bộ đảng viên.Người luôn chỉ ra rằng dân là tất cả, dân là trên hết, Đảng và Nhà nước có nhiệm vụ lo cho dân về mọi mặt, từ cái lớn đến cái nhỏ, bằng việc tổ chức cho nhân dân cách thức xây dựng cuộc sống, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tổ chức tốt thì phát huy được tính sáng tạo của dân, sức dân, để đưa đất nước đến giàu mạnh. Đồng thời, phải biết tiết kiệm tiền của của dân để phát triển lâu dài. Thời còn bôn ba trên đất khách quê người Hồ Chí Minh đã nhận thức rằng: Từ một nước thuộc địa đứng dậy giành độc lập, tự do và xây dựng xã hội mới, dân tộc Việt Nam sẽ thiếu thốn mọi điều kiện, trong đó cái thiếu quan trọng nhất là thiếu trình độ tổ chức. Người đã dày công tìm hiểu và viết tác phẩm “Đường kách mệnh”. Nội hàm của tác phẩm chính là phương thức tổ chức để tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà việc áp dụng hình thức hợp tác xã là một trong những biện pháp tổ chức sản xuất quá độ từ thánh phần kinh tế cá thể lên thành phần kinh tế tập thể, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một điều kiện tất yếu của tổ chức sản xuất, điều kiện đó đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với Việt Nam mới giành được độc lập, nền kinh tế đang ở tinh trạng lạc hậu, kém phát triển.

Trong “Thư gửi các giới công thương Việt Nam”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới công thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập vào “công – thương cứu quốc đoàn” cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích quốc lợi dân”. Chính sách mở cửa của chính phủ nước Việt Nam Dân chủ công hòa trên nguyên tắc đảm bảo quyền độc lập tự chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu thẳng thắn như sau:

“Có thể rằng: Những cơ sở mà người Pháp đã bỏ vổn ra gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu xét ra cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được chúng ta chuộc lại dần dần. Có thể rằng: Chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia.

Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu không vậy, thì không thể nói chuyện gì được cả”.

Phép “Dĩ bất biến ứng vạn biến” được Hồ Chí Minh vận dụng vào bất cứ hoàn cảnh nào, trong mọi lĩnh vực đối nội và đối ngoại, trong chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự. Nguyên tắc độc lập, tự chủ là trên hết, là bất di bất dịch, không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể lay chuyển nổi. Chỉ như vậy mới đảm bảo độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Bất cứ ai, việc gì làm lợi và có lợi cho nước, cho dân thì có thể sử dụng, huy động đến mức tối đa. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và khôn khéo, linh hoạt, tùy cơ ứng biến, thì mọi cái khó thì trở nên dễ dàng.

Người viết:

“Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng vào việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực vào việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta không lo gì thiếu cán bộ”.

Năm 1946, thời điểm đầy sóng gió đối với cách mạng Việt Nam, vận mệnh của nước Cộng hòa non trẻ như ngàn cân treo sợi tóc, trước khi lên đường sang Pháp làm thượng khách, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao quyền điếu hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Người nói với cụ Huỳnh cái phép “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Người nói chuyện với đồng bào:

“Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó.

…………….

Bất kì bao giờ, bất kì ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích,làm cho ích nước lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc dân”.

Và, Người gửi thư tới đồng bào Nam bộ với lời lẽ thiết tha, xúc động:

“Tôi xin đồng bào cứ bình tĩnh. Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước.

…..

Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi!”.

Tại Pháp, với cương vị là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng tài tình phép “Dĩ bất biến ứng vạn biến” để nhằm đạt được mục tiêu của mình cũng như nguyện vọng chung của dân tộc. Với tinh thần, như Người trả lời phỏng vấn của báo Franc – Tireur: “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thề với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở nước Pháp”. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm mọi điều, bằng mọi cách để quảng bá chủ trương, chính sách đối ngoại của nước Việt Nam độc lập, để đấu tranh với tính ích kỉ, lòng hẹp hòi của những người cầm quyền Chính Phủ thực dân Pháp. Thông qua các cuộc tiếp xúc với đủ tầng lớp nhân dân tại Pháp. Người tuyên truyền lòng yêu chuộng hòa bình và ý chí sắt đá bảo vệ hòa bình của dân tộc Việt Nam, tinh thần tự lực tự cường phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường; Người vận động kêu gọi tình đoàn kết giữa các dân tộc, giữa nhân dân hai nước Việt – Pháp vì tương lai của một thế giới đại đồng. Trong diễn văn tại Lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1946) do Hội Liên hiệp Việt Kiều và Hội hữu nghị Pháp – Việt tổ chức tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Tôi tin tưởng rằng nước Pháp đã kháng chiến và giành được giải phóng sẵn sàng công nhận nền độc lập của chúng tôi, điều cần thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với các dân tộc khác.

Nước Pháp mới đặt ra cho mình mục đích là giải phóng các dân tộc. Tại sao nước Pháp mới lại vô tình trước số phận của nhân dân các nước đang theo đuổi những lí tưởng của chính mình?

Vả lại, hoàn toàn độc lập quyết không có nghĩa là đoạn tuyệt. Nước Việt Nam đã long trọng cam kết tôn trọng những lợi ích văn hóa và kinh tế của Pháp trên đất nước Việt Nam; hơn thế nữa, Việt Nam còn sẵn sàng phát triển nó bằng sự hợp tác anh em và trung thực. Việt Nam độc lập, chẳng những không làm hại đến lợi ích của Pháp, mà còn tăng cường vị trí và củng cố uy tín của Pháp ở Châu Á.

Sự đóng góp của Việt Nam cho sự vĩ đại của nước Pháp và cho sức mạnh của liên hiệp Pháp, điều đó tất nhiên tùy thuộc vào mức độ phồn vinh của Việt Nam, mà sự chia rẽ và chia cắt không thể mang lại phồn vinh. Thật là phi lý nếu toan tính dựa vào nước Việt Nam suy yếu, chia rẽ và bị chia cắt để đạt được sự hùng mạnh của Liên hiệp Pháp. Liên hiệp Pháp chỉ có được vai trò với điều kiện nó giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó củ nó, và điều kiện đó chỉ có thực hiện được khi mỗi thành viên của nó cũng giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó của mình.

Đó là cái giá phải trả cho tương lai của Liên hiệp Pháp. Chúng ta biết rằng nhân dân tất cả các nước ở Pháp quốc hải ngoại đều quan tâm đến việc thực hiện điều này. Thực vậy, việc liên kết các dân tộc tự do, bình đẳng và bác ái, gắn bó bởi một trong những sợi dây mạnh mẽ nhất, một lý tưởng chung,đó là lý tưởng dân chủ; việc liên kết đó hấp dẫn biết bao.

Liên hiệp Pháp sẽ có vai trò to lớn trong xã hội trong việc tổ chức xã hội loài người. Là một nước dân chủ, thành viên của Liên hiệp Pháp, nước Việt Nam mong muốn được đóng góp vào việc thiết lập và duy trì hòa bình và dân chủ trên thế giới, bên cạnh Liên hợp quốc”.

Cần thiết phải trích dẫn như trên là để thấy rõ một cách đầy đủ và logic của lý luận của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết các mối quan hệ đa chiều giữa lịch sử và thời đại, giữa chính trị, kinh tế và văn hóa, giữa dân tộc và quốc tế….. Thực tiễn ngót một thế kỷ qua đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh; và cũng chứng minh rằng, do bản chất và dã tâm đen tối của các đế quốc thực dân đã cố tình làm mất đi những cơ hội cho những hợp tác tốt đẹp trên nguyên tắc đảm bảo tính tự quyết của mỗi dân tộc và các bên cùng có lợi.

Trong “Lời tựa” cho lần xuất bản cuốn thứ nhất cuốn “Pari – Sài Gòn – Hà Nội”, Philippe Devillers viết: “Năm1946, chúng ta suýt nữa đã hiểu nhau và thỏa thuận được với nhau. Chỉ cần một chút nữa thôi là chúng ta đã có được không phải một “thỏa hiệp” hay một “tạm ước” mà văn bản một sự liên kết, hơn thế nữa, một sự đồng minh giữa hai dân tộc tự hào và tự do, trong khuôn khổ một tổng thể mà hai bên sẽ cùng nhau quy định. Lỡ mất bao nhiêu cơ hội tốt”. Điều này cho thấy một sự nuối tiếc của những công dân nước Pháp, họ ý thức được những mất mát trong lịch sử Pháp – Việt, đã đem lại thiệt thòi cho cả hai dân tộc đáng lí không nên có. P.Dellivers cũng thừa nhận: “Ngay từ cuối 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu nhân dân Việt Nam phải tập phân biệt giữa những người Pháp: Một bên là thực dân đế quốc, một bên là những người dân chủ tin tưởng một cách chân thành vào các giá trị của tự do, công bằng, bác ái và hành động đi đôi với lòng tin”; và “ Bất hạnh đã đến, không phải không được kiểm soát cẩn thận. Sau đó, Chính phủ Pháp không muốn lên án chúng nên đã thi hành trong nhiều năm, vẫn trong bí mật, một chính sách mà lịch sử ngày nay lên án”. Trong cuốn sách này cũng trích thư của Charle de Gaulle gửi chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 2 năm 1966: Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay sau đại chiến thế giới thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giằng xé đất nước ngài hôm nay”. Đây thực sự là một nhận thức muộn màng. Vì cách đó hai mươi năm, ngày 18 tháng 6 năm 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời Hãng thông tấn AFP: “Tôi rất tin cậy ở kết quả Hội nghị Pháp – Việt này. Hai nước Pháp – Việt xa nhau không phải vì văn hóa, lý tưởng mà chỉ vì quyền lợi của một vài cá nhân. Mục đích của Pháp là tự, bình đẳng, bác ái, nếu Pháp thi hành đúng thì chắc chắn sẽ mua được tình thân thiện của nước Việt Nam”. Ngày ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng tất cả mọi nỗ lực để tránh cho hai dân tộc một cuộc chiến tranh đổ máu, đồng thời mở ra mối quan hệ cho sự phát triển trong hòa bình, độc lập.

Song, chiến tranh đã đóng sập cánh cửa của sự Phát triển đó không chỉ trong chín năm mà kéo dài tới tận tới 1975. Xâm lược Việt Nam và sau này đánh phá miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ theo vết xe đổ của thực dân Pháp tự mình chuốc lấy những thất bại đắng cay và cũng lại phải chua xót thừa nhận những đắng cay của mình, chẳng hạn như trường hợp của Robert S.McNamara – cượu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ. Trong cuốn “Nhìn lại quá khứ – tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, tuy bảo thủ và không được chân thành như người Pháp, nhưng McNamara vẫn phải rút ra “11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của chúng ta tại Việt Nam” và đi đến nhận định: “Tóm lại đó là những thất bại chính của chúng ta. Mặc dù chúng xuất hiện rời rạc nhưng ở một mức nào đó,chúng có liên quan với nhau: Thất bại ở một khía cạnh này lại góp phần tạo nên thất bại ở khía cạnh khác. Mỗi thất bại đó, đến lượt mình, lại trở thành mớ bòng bong”. Thực ra, thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc xâm lược Việt Nam đã bắt nguồn từ lúc Chính phủ Hoa Kỳ chưa chính thức can thiệp vào Đông Dương. Cũng ngay từ năm 1946, ngày 16 tháng 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đường lối đối ngoại và thiện chí của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thư gửi Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “….mục tiêu của chúng tôi là hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa kỳ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”. Tiếp theo, trong “Lời kêu gọi Liên hợp quốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “….nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a. Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kĩ nghệ của mình.

b. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

c. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

…………….

Trong cuộc đấu tranh vì quyền thiêng liêng của mình, nhân dân Việt Nam có một niềm tin sâu sắc rằng họ cũng chiến đấu cho một sự nghiệp chung: Đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế và một tổ chức hiệu quả hiệu quả cho an ninh ở Viễn Đông”.

Chính sách mở cửa của Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước thế giới một cách thẳng thắn, chân thành và mạch lạc. Tư duy của Hồ Chí Minh cho thấy: Tuy mới thoát khỏi ách nô lệ kéo dài gần tám mươi năm, nhưng khi dành được độc lập dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng hội nhập với thế giới trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau sâu sắc và tầm nhìn thời đại. Đó là thái độ chủ động của một tư duy lược về sự hợp tác để đem lại những lợi ích thiết thực cho mọi quốc gia, cho mọi dân tộc, xóa bỏ những hận thù, những âm mưu, thủ đoạn can thiệp vào công việc nội bộ, quyền tự quyết của quốc gia này đối với quốc gia khác. Nhưng lịch sử – chính lịch sử của các cuộc xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã ngăn cản và làm chậm bước tiến đến hiện thực mà tư duy trong sáng của Hồ Chí Minh đã nêu lên từ giữa thế kỷ XX, để sau này bản thân họ phải hối tiếc cho chính những việc làm thiển cận của mình. Bởi, chiến tranh không chỉ đem đến cho dân tộc Việt Nam tang thương và thiệt thòi mà cũng đã cướp đi của dân tộc Pháp, dân tộc Mỹ và các quốc gia tham chiến những người con ưu tú, làm hoen ố những giá trị tinh thần cao cả và để lại những kí ức nặng nề cho các thế hệ sau đó. Tuy nhiên, mặc dù đã tự rút ra những bài học xương máu từ cuộc gây chiến với Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc nói chung, đế quốc Mỹ nói riêng vẫn chưa chịu sửa chữa những lỗi lầm, tiếp tục gây ra xung đột vũ trang trên thế giới và can thiệp vào các quyền tự quyết của các dân tộc khác. Hiện thực đó nói lên rằng: Bản chất của chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản –là không thay đổi; mặt khác nó biểu hiện con đường suy thoái không thể tránh khỏi của một hình thái kinh tế – xã hội đang mắc vào sự khủng hoảng toàn diện và triền miên không tìm ra lối thoát. Các nhà trí thức tiến bộ Phương tây đã và đang tiếp tục tìm kiếm cách lí giải sự bế tắc này dưới nhiều góc độ khác nhau trên các lĩnh vực kinh tế văn hóa, xã hội từ đó phê phán tùy theo mức độ và theo các quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, Alain Touraine nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp, trong cuốn “Phê phán tính hiện đại” đã phân tích những vấn đề do tính hiện đại đặt ra trong quá khứ cũng như hiện nay dưới góc độ triết học, cũng là sự tự phê phán chính những kinh nghiệm về tính hiện đại của Phương tây. A.Touraine viết: “Chúng ta ngày càng sợ rằng sự tăng trưởng phá vỡ mất những cân bằng tự nhiên cơ bản, làm tăng thêm những bất bình đẳng ở trình độ thế giới, áp đặt lên tất cả mọi người một cuộc chạy đua kiệt sức tới sự thay đổi. Đằng sau những nỗi lo ngại ấy đang hiện là một sự hoài nghi sâu xa hơn: Loài người phải chăng đang phá bỏ sự liên kết của nó với tự nhiên, đang trở thành dã man khi nó tưởng rằng đã được giải thoát khỏi sự bó buộc truyền thống và làm chủ được số phận của mình ?”. Điều này có nghĩa là, trải qua mấy trăm năm tồn tại, chủ nghĩa tư bản đem lại rất ít tiến bộ cho xã hội, ở chỗ nó không giải phóng thực sự để con người tự làm chủ số phận của mình, trái lại nền văn minh vật chất tăng trưởng ngày càng biểu hiện những mặt tiêu cực đến độ dã man trong các mối quan hệ ứng xử giữa con người với nhau. Người phương Tây đang phải tự nhìn lại chính mình và đối chiếu tư tưởng triết học của họ với tư tưởngminh triết phương Đông. Và, trong sự đối chiếu ấy họ nhận thức được Hồ Chí Minh là một nhà hiền triết, rằng Người đã quy tụ và phát huy một cách đầy đủ những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, của cả phương Đông và phương Tây đến độ thăng hoa của thế kỷ XX và trở thành “Anh hùng giải phóng dân tộc” và “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nhất tôn vinh nhân dịp kỉ niệm 100 năm Ngày sinh của Người. UNESCO cũng đồng ý với nhận định: Hồ Chí Minh là “Hiện thân những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định diện mạo của mình và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau”.

Thực tế cho thấy, muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau thì các dân tộc, các quốc gia phải thực sự và thành tâm “mở lòng” mình bằng việc xây dựng chính sách đối ngoại mở, chính sách kinh tế mở trên các nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, hợp tác để cùng nhau phát triển, tức là ai cũng có lợi trong sự hợp tác ấy.

Những phát biểu của Hồ chí Minh đều xuất phát từ quyền lợi của dân tộc, của nhân dân mình và gắn với quyền lợi chung của các dân tộc trên thế giới, vì nền hòa bình thế giới và vì một thế giới đại đồng. Quan điểm về một nền kinh tế mở là một bộ phận khăng khít trong toàn bộ hệ thống quan điểm cách mạng của Người.

Đề ra chính sách mở cửa và hợp tác với các nước trong mọi lĩnh vực, hơn ai hết Hồ Chí Minh rất thấu hiểu tình cảnh của một dân tộc bị o uế bởi phương thức sản xuất tự cấp tự túc, rằng nền kinh tế tiểu nông chỉ đem lại nghèo nàn và lạc hậu, không tạo ra được những cơ hội tiếp thu kĩ nghệ tiên tiến và như vậy không có cơ may để tiến kịp các dân tộc khác. Không những thế, chính sách “khai hóa” của thực dân đế quốc ( kiểu cũ hay kiểu mới cũng cùng bản chất) càng nhấn chìm dân tộc Việt Nam xuống bùn đen.Đấu tranh dành độc lập dân tộc, một mặt để thoát khỏi ách nô lệ, mặt khác để vươn ra thế giới, từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh. Một quốc gia không có nền độc lập, tự chủ thì không thể và không bao giờ đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh.

Ngược lại, khi đã giành được độc lập mà không có chính sách mở cửa và hợp tác với các nước khác trên cơ sở của các nguyên tắc đã được cộng đồng quốc tế quy định, thì quốc gia cũng không thể phát triển theo đúng quỹ đạo, có khi còn lâm vào tình trạng bế tắc, thậm chí bị các quốc gia mạnh hơn chi phối và đi đến mất quyền độc lập và tự chủ. Thực tế của thế giới ngày nay đã diễn ra như vậy. Vì vậy, xây dựng một xã hội mở, trong đó nền kinh tế mở có vai trò trực tiếp và quan trọng, là một yêu cầu khách quan.

Một nền kinh tế mở là một nền kinh tế bao gồm đầy đủ hai nhóm nhân tố: Nội lực và ngoại lực; trong đó nhóm nhân tố nội lực mang tính quyết định. Tư duy của Hồ Chí Minh đã giải quyết thấu đáo mối quan hệ nhân quả này ngay từ khi Người còn bôn ba trên thế giới và đặc biệt sáng tỏ, khúc chiết sau khi nước nhà giành được chính quyền và lập nên nhà nước dân chủ nhân dân. Cho dù tư duy của Người đã bị các thế lực phản động ngăn cản bằng các cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài, thì tính đúng đắn của tư duy ấy vẫn được Đảng và nhân dân của Người thực hiện thành công, để cuối cùng dành được thắng lợi huy hoàng. Chính thực lực vốn có và thực lực ấy luôn được phát huy cao độ vừa là nhân tố thu hút sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ tận tình của bầu bạn và nhân dân trên thế giới, vừa là nhân tố quyết định đánh bại ý chí xâm lược của các cường quốc đế quốc mạnh gấp nhiều lần; và, đó cũng là nền tảng để sau khi chiến tranh chấm dứt, dân tộc Việt Nam đã “khép lại quá khứ”, “gác lại hận thù” nhanh chóng bắt tay với các nước trên tinh thần học hỏi để khôi phục và xây dựng đất nước giàu mạnh.

Tư duy về một nền kinh tế mở của Hồ Chí Minh mang tầm chiến lược, vì đã kết tinh đầy đủ tính dân tộc và tính thời đại, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới ngày nay./.

Theo Cao Ngọc Thắng/Tư tưởng Hồ Chí Minh/NXB Thanh niên
Kim Yến (st)

Advertisements