Ý Ðảng lòng dân là một

Cách mạng Tháng Tám

Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở châu Âu, Pháp bị Ðức chiếm đóng. Tháng 9-1940, quân Nhật tràn vào Ðông Dương, chính quyền thuộc địa của Pháp ở Việt Nam trở thành công cụ của phát-xít Nhật.

Sớm xây dựng lực lượng cách mạng

Trước tình hình đang chuyển biến nhanh chóng, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành T.Ư Ðảng (5-1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã quyết định thành lập Việt Nam Ðộc lập Ðồng minh – gọi tắt là Mặt trận Việt Minh – là liên minh chính trị tự nguyện của những cá nhân, tổ chức đảng phái, giai cấp, dân tộc, đoàn thể cứu quốc ở Việt Nam nhằm mục đích đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập tự do cho dân tộc. Mặt trận Việt Minh nêu rõ hai nhiệm vụ cốt yếu trong Chương trình của mình là: “1- Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, 2- Làm cho dân tộc Việt Nam được sung sướng tự do”.

Mặt trận Việt Minh tập hợp mọi lực lượng, các tổ chức và cá nhân, các giai cấp, tầng lớp trong xã hội cùng nhau thực hiện mục tiêu chung, “cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn”. “Cứu quốc” đã trở thành khẩu hiệu hành động thiêng liêng của cả dân tộc. Các đoàn thể Cứu quốc của Việt Minh (Công nhân Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Văn hóa Cứu quốc, v.v.) được thành lập để tổ chức các phong trào quần chúng. Nhờ có phương pháp vận động, tổ chức phù hợp với tình hình, đặc điểm của các tầng lớp xã hội nên ngay sau khi ra đời, Việt Minh đã thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia ngày càng rộng rãi. Thông qua Mặt trận Việt Minh, Ðảng đã xây dựng được một lực lượng quần chúng mạnh mẽ, được rèn luyện qua những phong trào cách mạng, trên mọi địa bàn. Do vậy, Ðảng đã có điều kiện tổ chức các đội du kích, xây dựng những khu căn cứ địa cách mạng, hình thành lực lượng vũ trang từ thấp tới cao. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hồ Chí Minh và Thường vụ T.Ư Ðảng trong những năm 1941 – 1944, những đội du kích, đội tự vệ được xây dựng ở nhiều xã, nhiều huyện thuộc tỉnh Cao Bằng. Những trung đội Cứu quốc quân 1, 2, 3 – lực lượng vũ trang cách mạng được duy trì sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tiếp tục được củng cố. Ðây là lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho phong trào của quần chúng đang dâng cao, đặc biệt trong các tỉnh thuộc Khu giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên. Tại nhiều tỉnh ở Việt Bắc, cao trào tiến tới Tổng khởi nghĩa đã xuất hiện những xã hoàn toàn, châu hoàn toàn giải phóng. Tại những nơi đó, Việt Minh nắm chính quyền, bước đầu thử nghiệm mô hình chính quyền nhân dân, xây dựng cuộc sống mới.

Khi viết về thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, nhà sử học Pháp Phi-li-pê Ðờ-vin-lê đã nhận định: “Nó còn là kết quả logic của Việt minh trong mọi khu vực của đời sống đất nước” (H). Cụ thể hơn, đó là kết quả của đường lối đúng đắn kiên trì xây dựng lực lượng cách mạng. Ðó là lực lượng tổng hợp – là sự kết hợp sức mạnh của các lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lực lượng lãnh đạo, lực lượng quần chúng… Nhờ đã có lực lượng mạnh mẽ trong tay, khi “khoảng thời gian vàng” đã đến, Ðảng ta đã kịp thời lãnh đạo Tổng khởi nghĩa. Cuộc Tổng khởi nghĩa bùng nổ trên phạm vi cả nước, trong đó giữ vai trò quyết định là các trung tâm đầu não của địch (Hà Nội, Huế, Sài Gòn), đập tan bộ máy thống trị của thực dân phong kiến, lập nên chính quyền nhân dân trước khi quân Ðồng minh vào Ðông Dương để tước vũ khí của quân Nhật.

Ý Ðảng lòng dân – cội nguồn của thành công

Ðó cũng là bài học kinh nghiệm quý báu đã được rút ra từ thực tiễn, không chỉ từ cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lịch sử mà trong tất cả các giai đoạn cách mạng dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam suốt 83 năm qua. Mục tiêu lý tưởng đấu tranh: Ðộc lập cho Tổ quốc, Tự do cho nhân dân được Ðảng nêu cao trong những năm 1941 – 1945 đã trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết hết thảy mọi lực lượng cách mạng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ðảng đã nắm bắt đúng nguyện vọng thiêng liêng, cấp bách nhất của toàn dân tộc khi đặt nhiệm vụ đấu tranh giành độc lập lên hàng đầu, coi quyền lợi dân tộc là tối cao. Trong những năm 1941 – 1945, đặc biệt là giai đoạn từ tháng 3-1945 đến tháng 8-1945, lực lượng cách mạng phát triển mạnh mẽ với tốc độ nhanh và quy mô rộng khắp trong cả nước. Trong không khí cách mạng sục sôi những ngày tháng đó, mỗi người dân Việt Nam ai cũng căm ghét ách áp bức cai trị của Nhật, Pháp, ai cũng mong muốn sớm giành lại được độc lập, tự do. Hai tiếng “Ðộc lập – Tự do” thiêng liêng, chỉ cần một người xướng lên là vạn người ủng hộ. Ðiều đó giải thích vì sao chỉ với số lượng đảng viên ít ỏi, nhiều tổ chức cơ sở đảng mới được tái lập, thậm chí lệnh khởi nghĩa chưa tới kịp một số địa phương nhưng các tổ chức Ðảng vẫn chớp thời cơ lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền thành công, dù cho lực lượng của địch vẫn còn nguyên bộ máy tổ chức và đầy đủ vũ khí. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Ðảng đã kết thúc thắng lợi nhanh chóng trong cả nước bằng phương thức khởi nghĩa toàn dân, thể hiện sức mạnh vĩ đại của ý chí độc lập và khát vọng tự do của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Ðảng đấu tranh để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Mục tiêu đó cũng là “chất gắn kết” để Ðảng tập hợp, đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam – từ những ngày đấu tranh gian khổ đầu tiên và trong suốt những chặng đường cách mạng tiếp theo của dân tộc. Ðây là yếu tố quan trọng nhất để Ðảng có thể lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành để giải phóng dân tộc mình. Ðó là cuộc cách mạng của nhân dân, do nhân dân tiến hành và vì lợi ích của nhân dân, để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, đem lại quyền làm người cho mỗi người dân.

—————

(*) Ph.Devillers – Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952 – Nxb Seuil – Paris – 1952 – tr 132 – Dẫn lại từ cuốn Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 – Ðoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu – Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 1999, tr 473.

NGÔ VƯƠNG ANH

Nguồn: nhandan.com.vn
Vkyno (st)