Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 6 (Chú thích và bản chỉ dẫn tên người)

123th Anniversary of Uncle Ho

CHÚ THÍCH

1. Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương: Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký ngày 21-7-1945 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ), với sự tham gia của các ngoại trưởng Liên Xô, Mỹ, Pháp, Anh, Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính quyền Sài Gòn, Vương quốc Lào, Campuchia.

Hiệp định gồm các điểm chính sau: Lập lại hòa bình ở Đông Dương, ngừng bắn cùng một lúc ở Việt Nam, Lào, Campuchia; Pháp công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước nói trên và rút quân đội Pháp khỏi Đông Dương, hai miền Nam và Bắc Việt Nam tạm ngăn cách bởi giới tuyến quân sự tạm thời (vĩ tuyến 17); sẽ tiến hành tổng tuyển cử tự do ở Lào và Campuchia vào năm 1955, ở Việt Nam vào năm 1956, dưới sự kiểm soát của Uỷ ban quốc tế gồm Ấn Độ, Canađa, Ba Lan và do Ấn Độ làm Chủ tịch.

Mỹ và chính quyền Sài Gòn tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt nước ta, nhân dân ta đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tới năm 1975 miền Nam mới được hoàn toàn giải phóng.

2. Hội nghị Băng Cốc: Hội nghị các nước khối SEATO (South-Eastern Asia Treaty Organization) họp tại Băng Cốc (Thái Lan) từ ngày 23 đến ngày 25-2-1955. Mục đích của Hội nghị Băng Cốc là âm mưu gây tình hình căng thẳng ở Viễn Đông, mở rộng xâm lược các nước châu Á và làm giảm ảnh hưởng của Hội nghị Á – Phi sắp khai mạc. Tại hội nghị này, Mỹ và đồng minh của Mỹ âm mưu lôi kéo vào khối này Campuchia, Lào và Nam Việt Nam nhằm xâm lược các nước Đông Dương, phá hoại Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương.

3. Hiệp ước Manila: Được ký kết giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ốxtrâylia, Niu Dilân, Pakixtan, Thái Lan, Philíppin tại Manila (Philíppin) vào ngày 8-9-1954. Nội dung căn bản của bản hiệp ước này là việc thành lập “Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á” (SEATO) – khối quân sự – chính trị nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng tiến bộ ở khu vực Đông Nam Á. Theo điều khoản của hiệp ước, các thành viên của khối SEATO có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp một nước bị tấn công hay có “nguy cơ bị tấn công”. Không những thế, bản hiệp ước còn cho phép các nước này tiến hành các hoạt động quân sự ngoài khu vực của các nước thành viên. Các nước tham gia hiệp ước còn ký một văn kiện bổ sung cho phép thực hiện các điều khoản của Hiệp ước ở miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia, vi phạm trắng trợn các nghị quyết của Hội nghị Giơnevơ năm 1954. SEATO đã tổ chức nhiều cuộc tập trận, tích cực ủng hộ và can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương. Do những mâu thuẫn trong nội bộ các nước thành viên, năm 1976 khối SEATO tự tuyên bố giải tán.

4. Hiệp ước Pari 1954: Ký ngày 23-10-1954, tại Hội nghị ngoại trưởng chín nước Mỹ, Anh, Pháp, Tây Đức, Hà Lan, Bỉ, Lúcxămbua, Italia, Canađa họp tại Pari (Pháp).

Hiệp ước Pari 1954, gồm 80 văn kiện chia thành ba loại: 1. Các văn kiện về “khôi phục chủ quyền của Tây Đức” và “xoá bỏ quy chế chiếm đóng Tây Đức” do các nước Mỹ, Anh, Pháp, Tây Đức ký; 2. Các văn kiện do chín nước tham gia Hội nghị ký kết, quy định sửa đổi lại Hiệp ước Brúcxen, tổ chức và vũ trang lại quân đội Tây Âu, cho Tây Đức và Italia gia nhập Hiệp ước Brúcxen; 3. Văn kiện quy định việc Tây Đức gia nhập Khối quân sự NATO với tư cách hội viên bình đẳng do Hội đồng khối NATO ký kết. Hiệp ước Pari có hiệu lực từ ngày 5-5-1955. Ký Hiệp ước Pari, Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ đã đi ngược lại các điều khoản đã ký kết tại Hội nghị các nước đồng minh chống phátxít năm 1945 tại Pốtxđam, cũng trái với các điều khoản của Hiệp ước Anh – Xô năm 1942, Hiệp ước Xô – Pháp năm 1944, làm căng thẳng tình hình ở châu Âu và thế giới.

5. Khối quân sự Đông Nam Á: Xem Hiệp ước Manila.

6. Hiệp ước hữu nghị liên minh và tương trợ Xô – Trung 1950: Ký ngày 14-2-1950, có giá trị trong 30 năm. Theo hiệp ước này, hai bên cam kết cùng nhau dùng mọi biện pháp nhằm không để cho Nhật hoặc một nước nào khác trực tiếp hay gián tiếp liên minh với Nhật tiến hành một cuộc xâm lược mới. Trong trường hợp một bên bị Nhật hoặc một nước khác liên minh với Nhật dùng các hành động xâm lược, tấn công thì hai bên cam kết giúp đỡ nhau ngay về quân sự và các mặt khác. Liên Xô và Trung Quốc tuyên bố sẵn sàng tham gia mọi hoạt động có mục đích bảo vệ hoà bình và an ninh quốc tế.

Sau khi hết hạn 30 năm, hai Chính phủ Trung Quốc và Liên Xô đã tuyên bố chấm dứt hiệp ước này đầu năm 1980.

7. Hội nghị lần thứ bảy (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khoá II): Họp từ ngày 3 đến ngày 12-3-1955, tại Hà Nội. Hội nghị phân tích tình hình từ sau Hội nghị Giơnevơ và kết luận: Kẻ thù cụ thể trước mắt của toàn dân ta hiện nay là đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phản hiệp định và bọn Ngô Đình Diệm; đế quốc Mỹ là kẻ thù đầu sỏ và nguy hại nhất. Hội nghị đã đề ra mục tiêu đấu tranh của nhân dân ta trong giai đoạn này là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Hội nghị vạch rõ mối quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam: Miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà; miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân.

Hội nghị đề ra nhiệm vụ và công tác cụ thể của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong giai đoạn trước mắt.

8. Kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa I: Họp từ ngày 20 đến ngày 26-3-1955, tại Hà Nội. Đây là kỳ họp đầu tiên của Quốc hội tại Thủ đô sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Tại kỳ họp, Quốc hội đề ra ba nhiệm vụ cho toàn dân ta trong giai đoạn mới:

1. Tiếp tục đấu tranh để thi hành triệt để Hiệp định đình chiến, củng cố hòa bình và tiến tới thực hiện thống nhất đất nước bằng Tổng tuyển cử.

2. Củng cố miền Bắc bằng cách đẩy mạnh và hoàn thiện cải cách ruộng đất, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, ra sức củng cố quốc phòng, củng cố chính quyền nhân dân, tăng cường công tác ngoại giao.

3. Mở rộng và củng cố đoàn kết nhân dân trong cả nước, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân toàn thế giới.

9. Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình: Được đề ra lần đầu trong Hiệp định giữa Ấn Độ và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về buôn bán và quan hệ của Tây Tạng (thuộc Trung Quốc) với Ấn Độ (tháng 4-1954) gồm: 1. Tôn trọng lãnh thổ toàn vẹn và chủ quyền của nhau; 2. Không tiến công nhau; 3. Không can thiệp vào công việc của nhau; 4. Bình đẳng và cùng có lợi; 5. Cùng tồn tại hòa bình.

Tại Hội nghị Băngđung năm 1955, những nguyên tắc này được khẳng định lại.

10. Hội nghị nhân dân châu Á bảo vệ hòa bình: Họp từ ngày 6 đến ngày 10-4-1955 tại Niu Đêli (Ấn Độ). Tham gia hội nghị có 118 đại biểu của 14 nước châu Á.

Hội nghị đã thảo luận và thông qua năm nghị quyết về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và một nghị quyết kêu gọi tín đồ các tôn giáo ở châu Á ra sức bảo vệ hòa bình. Nghị quyết về các vấn đề chính trị gồm:

1. Việc cấm chỉ và kiểm soát các thứ vũ khí giết người hàng loạt.

2. Nguy cơ đối với châu Á do các hiệp ước và các liên minh quân sự chia rẽ các nước châu Á và do các căn cứ quân sự của ngoại quốc ở châu Á gây ra.

3. Địa vị hợp pháp của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ở Liên hợp quốc.

4. Khôi phục mục đích đầu tiên như lúc mới thành lập của Liên hợp quốc.

5. Bình thường hóa những mối quan hệ ngoại giao giữa các nước châu Á.

6. Vấn đề chống phân biệt chủng tộc.

7. Chủ nghĩa thực dân và sự can thiệp của ngoại quốc vào các nước khác.

8. Ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Ả rập giành tự do và độc lập dân tộc.

9. Điện gửi Hội nghị Băngđung.

10. Điện ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Bắc Phi.

11. Lời kêu gọi nhân dân châu Á.

12. Về năm nguyên tắc chung sống hòa bình…

11. Hội nghị Băngđung: Hội nghị 29 nước Á – Phi họp từ ngày 18 đến ngày 24-4-1955 tại Băngđung (Inđônêxia) theo sáng kiến của Hội nghị thủ tướng năm nước: Ấn Độ, Inđônêxia, Miến Điện, Pakixtan, Xri Lanca họp ở Côlômbô tháng 4-1954. Hội nghị đã thảo luận những vấn đề chung có quan hệ thiết thân đến nhân dân các nước Á – Phi. Hội nghị nhất trí thông qua bản Tuyên bố chung mà tinh thần chủ yếu là chống chủ nghĩa thực dân, đảm bảo độc lập dân tộc, tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá giữa các nước Á – Phi phù hợp với năm nguyên tắc chung sống hòa bình, đẩy mạnh sự nghiệp hòa bình và an ninh trên toàn thế giới.

Hội nghị Băngđung đánh dấu mốc quan trọng: Các nước Á – Phi bắt đầu bước lên vũ đài quốc tế tham gia tích cực vào việc giải quyết những vấn đề chung của khu vực và của toàn thế giới.

12. Chiến dịch Điện Biên Phủ: Chiến dịch lớn nhất của quân và dân ta trong kháng chiến chống Pháp, bắt đầu ngày 13-3 và kết thúc ngày 7-5-1954. Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Lai Châu, nằm giữa vùng Tây Bắc, gần biên giới Việt – Lào. Đây là vùng có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đối với toàn bộ chiến trường Đông Dương. Tháng 11-1953, thực dân Pháp được Mỹ giúp sức đã cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Lực lượng của chúng tại đây lên tới 16.000 tên, bao gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, ba tiểu đoàn pháo, một tiểu đoàn công binh, một đại đội xe tăng, một đại đội xe vận tải và một phi đội máy bay thường trực. Tập trung một lực lượng lớn binh lính và phương tiện chiến tranh ở Điện Biên Phủ, thực dân Pháp âm mưu kéo chủ lực của ta lên đây để tiêu diệt, tạo điều kiện cho chúng bình định ở đồng bằng và trung du hòng làm thay đổi cục diện chiến trường Đông Dương theo hướng có lợi cho chúng.

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định mở chiến dịch tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, sau gần bốn tháng chuẩn bị, ngày 13-3-1954 quân ta nổ súng mở màn đợt tấn công đầu tiên vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau 55 ngày đêm chiến đấu, ngày 7-5-1954 quân ta đã toàn thắng ở Điện Biên Phủ.

13. Thất bại của Pháp ở Mátxcơva năm 1812 và Oatéclô năm 1815:

– Năm 1812, Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược nước Nga. Ngày 7-9-1812, tại một địa điểm gần làng Bôrôđinô, sau một trận chiến đấu ác liệt, quân Nga đã tiêu diệt 1/2 số quân Pháp, phá tan kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Napôlêông. Sau trận này, quân Nga dưới sự lãnh đạo của Cutudốp đã quyết định rút khỏi Mátxcơva. Napôlêông chiếm Mátxcơva hoang vắng và bị bao vây. Sau đó quân Nga chuyển sang phản công tiêu diệt quân Pháp.

– Ngày 18-6-1815, liên quân Anh – Hà Lan do A.Oelinhtơn và quân Phổ do G.L.Blukhe chỉ huy đã đánh bại quân Pháp tại Oatéclô (một điểm dân cư phía nam Brúcxen – Bỉ). Thất bại này đã làm đế chế II của Pháp sụp đổ.

14. Hội nghị Vácsava: Hội nghị thành lập tổ chức Hiệp ước Vácsava họp vào tháng 5-1955. Tham gia hội nghị có đại diện chính phủ tám nước: Bungari, Hunggari, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan, Rumani, Liên Xô, Tiệp Khắc và Anbani.

Trước tình hình nền hòa bình ở châu Âu bị uy hiếp nghiêm trọng do Hiệp ước Pari 1954 được phê chuẩn, Tây Đức được tái vũ trang và tham gia khối NATO, ngày 15-5-1955, các nước tham gia hội nghị đã đi đến ký Hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ (gọi tắt là Hiệp ước Vácsava). Về bản chất, Hiệp ước Vácsava khác hẳn với Hiệp ước liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) và các liên minh quân sự khác. Tổ chức này mang tính chất phòng thủ tích cực, không đe dọa tấn công xâm lược. Mục tiêu cơ bản là thông qua các biện pháp cần thiết để bảo đảm an ninh cho các nước thành viên và duy trì hòa bình ở châu Âu và trên thế giới.

Do những biến động chính trị ở Liên Xô và các nước Đông Âu, ngày 1-7-1991, các nước thành viên đã ký nghị định thư chấm dứt hiệu lực của Hiệp ước Vácsava.

15. Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization, viết tắt: NATO): Liên minh quân sự – chính trị; thành lập trên cơ sở Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được ký kết giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp, Italia, Bỉ, Bồ Đào Nha, Ailen, Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch, Lúcxămbua ngày 4-4-1949, tại Oasinhtơn (Mỹ).

Mục đích của NATO là tập hợp hệ thống an ninh; thực chất là để chống lại hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc. Hiệp ước được ký kết với thời hạn là 20 năm. Tuy nhiên nó cho phép bất cứ nước nào đã gia nhập có quyền rút ra khỏi tổ chức một năm sau khi đã thông báo cho Chính phủ Mỹ biết việc mình xin ra khỏi hiệp ước. Hiệp ước quy định trong trường hợp có cuộc “tấn công vũ trang” vào một hoặc một số nước tham gia, các thành viên phải nhanh chóng giúp các nước đó kể cả việc sử dụng lực lượng vũ trang. Khi cần thiết khối NATO can thiệp trực tiếp vào công việc nội bộ của các nước đó. Tr.81.

16. Vạn lý trường thành: Công trình kiến trúc vĩ đại của Trung Hoa thời cổ đại, nằm ở phía bắc Trung Quốc. Vạn lý trường thành dài 12.000 dặm (lý), tức khoảng 6.000 km, từ tỉnh Cam Túc đến Hoàng Hải, cao 6,6 m, có đoạn đến 10 m, rộng 7 m. Xây dựng chủ yếu vào thế kỷ III trước Công nguyên. Mục đích xây dựng Vạn lý trường thành nhằm bảo vệ biên giới phía bắc Trung Quốc. Hiện nay còn giữ được nhiều đoạn.

17. Cách mạng Tháng Tám: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam diễn ra và thắng lợi vào tháng 8-1945.

Ngày 9-3-1945, phátxít Nhật đảo chính thực dân Pháp ở Đông Dương, Đảng ta đã kịp thời phát động phong trào chống Nhật cứu nước, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 13-8-1945, được tin phátxít Nhật sắp đầu hàng Đồng minh, quân Nhật ở Đông Dương và bè lũ tay sai hoang mang cực độ, Đảng ta đã chớp lấy thời cơ ấy, quyết định tổng khởi nghĩa.

Từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhất tề vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2-9-1945, tại cuộc míttinh lớn ở vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

18. Đại hội toàn quốc Mặt trận dân tộc thống nhất: Họp từ ngày 5 đến ngày 10-9-1955 tại Hà Nội. Đại hội đã quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt. Đại hội đã thảo luận, thông qua dự thảo Cương lĩnh vàĐiều lệ của Mặt trận. Cương lĩnh tóm tắt của Mặt trận Tổ quốc gồm 10 điểm: 1. Hoàn thành độc lập dân tộc; 2. Thực hiện thống nhất nước nhà; 3. Xây dựng chế độ dân chủ; 4. Phát triển kinh tế, nâng cao sản xuất; 5. Cải cách ruộng đất; 6. Thi hành chính sách xã hội hợp lý; 7. Phát triển văn hoá giáo dục; 8. Củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; 9. Thi hành chính sách ngoại giao hòa bình, độc lập; 10. Nhân dân toàn quốc đoàn kết.

Quan hệ giữa các tổ chức trong Mặt trận dựa trên nguyên tắc thương lượng dân chủ đi đến thống nhất hành động; thân ái hợp tác, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, tôn trọng tính chất độc lập của mỗi tổ chức.

Đại hội đã bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận, cụ Tôn Đức Thắng là Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương và 98 ủy viên.

19. Kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa I: Họp từ ngày 15 đến ngày 20-9-1955, tại Hà Nội. Tại kỳ họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo kết quả chuyến đi thăm ba nước Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ của đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta. Kỳ họp đã thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông Phạm Văn Đồng giữ chức Thủ tướng Chính phủ. Các ông Võ Nguyên Giáp, Phan Kế Toại giữ chức Phó Thủ tướng. Quốc hội phê chuẩn việc tách Bộ Giao thông công chính thành hai bộ:

– Bộ Giao thông và Bưu điện;

– Bộ Thủy lợi và Kiến trúc.

Bộ Công thương tách thành hai bộ:

– Bộ Công nghiệp;

– Bộ Thương nghiệp.

Ủy ban Cứu tế xã hội thuộc Bộ Thương binh thành Bộ Cứu tế.

Đổi tên Bộ Tuyên truyền thành Bộ Văn hoá.

Quốc hội quy định thống nhất cách cắt ngôi sao ở Quốc kỳ, đặt Quốc huy và sửa một số câu trong Quốc ca.

20. Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam: Cuối năm 1944, tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến chuyển thuận lợi cho cách mạng. Trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển và lực lượng vũ trang nhân dân đang hình thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Theo chỉ thị đó, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Sam Cao thuộc tổng Hoàng Hoa Thám, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng). Đội gồm có 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Toàn đội đã đọc 10 lời thề danh dự dưới lá cờ đỏ sao vàng.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày thành lập Đội trở thành ngày lịch sử –ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

21. Liên hợp quốc: Tổ chức quốc tế, thành lập với mục đích ủng hộ và củng cố hòa bình, an ninh và phát triển hợp tác giữa các nước.Hiến chương Liên hợp quốc được các nước tham dự Hội nghị thành lập ở Xan Phranxixcô (Mỹ), ký ngày 26-6-1945, và có hiệu lực từ ngày 25-10-1945. Đến tháng 9-1992, Liên hợp quốc có 179 nước hội viên. Các cơ quan chính của Liên hợp quốc: Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an, Ủy ban Kinh tế – xã hội, Ủy ban Bảo trợ, Tòa án quốc tế và Ban Thư ký. Trụ sở Liên hợp quốc đóng tại Niu Oóc.

22. Hội nghị Carasi: Hội nghị hội đồng khối SEATO khóa thứ hai, tại Carasi (Pakixtan) từ ngày 6 đến ngày 8-3-1956. Trong hội nghị, Mỹ thúc ép các nước Thái Lan, Philíppin và Pakixtan tăng cường ngân sách quân sự, ký nghị định về vấn đề Casơmia và Pusơtunixtan (các khu vực này là vùng tranh chấp giữa Pakixtan với Ấn Độ và Ápganixtan). Các nước SEATO thỏa thuận thành lập một bộ tổng chỉ huy và cơ quan trinh thám tại Băng Cốc.

23. Hội nghị lần thứ chín (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam: Họp từ ngày 19 đến ngày 24-4-1956. Hội nghị quyết định tăng cường lãnh đạo tập thể trong Đảng và thực hiện mở rộng dân chủ nội bộ. Nghị quyết hội nghị nói rõ vai trò quần chúng nhân dân và vai trò cá nhân trong lịch sử, phân biệt rõ sự kính mến lãnh tụ với sùng bái cá nhân, đẩy mạnh việc học tập lý luận trong cán bộ, nâng cao công tác tư tưởng của Đảng; phát huy tự phê bình và phê bình, tăng cường mối liên hệ của Đảng với quần chúng, khắc phục bệnh quan liêu trong bộ máy Đảng và Nhà nước.

24. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: Họp từ ngày 26 đến ngày 31-5-1956. Tham dự đại hội có 425 đại biểu thuộc mọi tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, xu hướng chính trị. Đại hội vui mừng đón tiếp các đoàn đại biểu của Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế, Hội Phụ nữ Liên Xô, Hội Liên hiệp Phụ nữ dân chủ Trung Quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ dân chủ Triều Tiên, Hội Liên hiệp Phụ nữ Cộng hoà dân chủ Đức và Hội Phụ nữ Lào.

Đại hội đã kiểm điểm mọi mặt công tác từ Đại hội lần thứ nhất (1950), đề ra nhiệm vụ của phụ nữ trong giai đoạn cách mạng mới và bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

25. Hội nghị lần thứ 10 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam: Họp từ ngày 25-8 đến ngày 5-10-1956, tại Hà Nội. Hội nghị kiểm điểm công tác cải cách ruộng đất ở miền Bắc, khẳng định thắng lợi của công cuộc giải phóng nông dân, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, nhưng trong việc chỉ đạo thực hiện đã phạm những sai lầm nghiêm trọng. Hội nghị đề ra nhiệm vụ: kiên quyết sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, phát huy những kết quả và thắng lợi đã đạt được.

Hội nghị còn thảo luận ba vấn đề:

1. Mở rộng dân chủ, đảm bảo quyền tự do dân chủ và tăng cường chế độ pháp trị dân chủ.

2. Cải thiện đời sống công nhân, bộ đội, cán bộ và viên chức.

3. Đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hòa bình.

26. Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới (World Federation of Democratic Youth, viết tắt: WFDY). Tổ chức thanh niên quốc tế lớn nhất, được thành lập tháng 10-1945 tại Đại hội Thanh niên thế giới ở Luân Đôn (Anh) với sự tham gia của đại biểu 63 nước. Hiện nay, Liên đoàn tập hợp hàng trăm tổ chức thanh niên của hơn 100 nước. Mục tiêu của WFDY là đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc, vì lợi ích sống còn và quyền lợi của thế hệ trẻ.

27. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam: Họp từ ngày 25-10 đến ngày 4-11-1956. Đại hội đã kiểm điểm toàn bộ công tác của đoàn, xác định nhiệm vụ của đoàn trong giai đoạn cách mạng mới và theo đúng nghị quyết ngày 19-10-1955 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, đã quyết định đổi tên Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam.

28. Hội nghị lần thứ 11 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II: Họp từ ngày 3 đến ngày 7-12-1956, tại Hà Nội. Hội nghị kiểm điểm công tác kinh tế, tài chính trong 2 năm 1955-1956 và đề ra nhiệm vụ, phương châm công tác tài chính năm 1957. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời khai mạc và lời bế mạc trong hội nghị này.

29. Kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa I: Họp từ ngày 29-12-1956 đến 25-1-1957. Trong kỳ họp này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã báo cáo về công tác của Chính phủ từ ngày hòa bình lập lại. Quốc hội quyết định kiện toàn tổ chức, đẩy mạnh hoạt động của các đại biểu nhằm tăng cường liên hệ giữa đại biểu Quốc hội với nhân dân.

Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 1946, Nghị quyết về việc ban hành Luật công đoàn và thông qua bốn đạo luật:

1. Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của công dân.

2. Luật quy định quyền tự do hội họp.

3. Luật quy định về tự do lập hội.

4. Luật về chế độ báo chí.

30. Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I: Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam diễn ra ngày 6-1-1946. Mọi người dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ được hưởng quyền bầu cử và ứng cử. Cuộc bầu cử được tiến hành sôi nổi trong cả nước. Hơn 90% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh được hơn 98% số phiếu bầu. Ngay trong vùng đang có chiến tranh, đồng bào vẫn tìm mọi cách tham gia bỏ phiếu. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta và cũng là lần đầu tiên của các nước châu Á, các nước thuộc địa trên thế giới có một quốc hội dân chủ tiến bộ.

31. Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Họp cuối tháng 3-1957. Hội nghị bàn về hai nhiệm vụ:

– Kế hoạch nhà nước năm 1957;

– Xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng.

Về kế hoạch nhà nước năm 1957, hội nghị đề ra mục tiêu hoàn thành khôi phục kinh tế (ngang mức sản xuất năm 1939) để chuyển sang thời kỳ kiến thiết và có kế hoạch.

Về xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng, hội nghị quyết định xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại, củng cố quốc phòng nhằm bảo vệ miền Bắc, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai.

32. Tổ chức quốc tế các nhà báo (Organization of International Journalists, viết tắt: OIJ). Thành lập năm 1946 tại Côpenhaghen (Đan Mạch). Đây là tổ chức tập hợp các tổ chức nhà báo, các nhóm nhà báo tiến bộ của hơn 110 nước. Mục tiêu cơ bản của OIJ là bảo vệ hòa bình, củng cố tình hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc, đưa tin chính xác, đúng đắn, bảo vệ quyền tự do ngôn luận và quyền lợi của các nhà báo.

33. Công ước Giơnevơ về bảo vệ nạn nhân chiến tranh: Được ký kết ngày 12-8-1949, tại Giơnevơ bao gồm:

1. Công ước về cải thiện đời sống cho thương, bệnh binh tại ngũ, thay thế cho Công ước Giơnevơ năm 1929.

2. Công ước về cải thiện đời sống cho thương, bệnh binh cùng những người thuộc hải quân bị nạn đắm tàu thay thế cho Công ước La Hay năm 1907.

3. Công ước về vấn đề đối xử với tù binh, thay thế cho Công ước Giơnevơ năm 1929.

4. Công ước về bảo vệ thường dân trong thời kỳ chiến tranh.

34. Hội nghị 64 đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động trên thế giới: Nhân dịp đến Liên Xô dự lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, đại biểu các đảng cộng sản, công nhân và lao động các nước đã tổ chức một cuộc hội nghị từ ngày 16 đến ngày 19-11-1957 tại Mátxcơva. Tham dự hội nghị có 64 đoàn đại biểu của các đảng cộng sản, công nhân và lao động quốc tế. Tại hội nghị, các đại biểu đã trao đổi ý kiến về những vấn đề cấp bách của tình hình thế giới và ra bản Tuyên ngôn hoà bình, kêu gọi nhân dân toàn thế giới, những người có thiện chí hãy làm cho nhân loại thoát khỏi sự đe dọa của chiến tranh.

35. Ngày toàn quốc kháng chiến: Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta rất cần có hoà bình để xây dựng đất nước. Song, chỉ ba tuần sau ngày tuyên bố độc lập, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Nam Bộ. Chính phủ ta đã nhân nhượng và ký với Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9 nhằm cứu vãn hoà bình. Nhưng với mưu đồ cướp nước ta một lần nữa, thực dân Pháp ngày càng đẩy mạnh các hoạt động quân sự.

Trước những hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đáp lại lời kêu gọi cứu nước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc ta đã nhất tề đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Cũng từ đó, ngày 19-12 trở thành một ngày truyền thống lịch sử – Ngày toàn quốc kháng chiến.

36. Đại hội nhân dân Á – Phi: Hội nghị đoàn kết các nước Á-Phi họp ở Cairô (Thủ đô Ai Cập), từ ngày 26-12-1957 đến ngày 1-1-1958.

Dự hội nghị có các đoàn đại biểu của 45 nước châu Á và châu Phi. Tuy có chế độ chính trị khác nhau, nhưng các nước dự hội nghị đều đã thống nhất mục đích chung là đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, bảo vệ nền độc lập dân tộc, hoà bình và an ninh giữa các dân tộc.

Hội nghị tuyên bố ủng hộ những nguyên tắc đấu tranh cho hoà bình và tiến bộ xã hội của Hội nghị Băngđung. Đồng thời, kêu gọi chính phủ các nước có vũ khí hạt nhân hãy chấm dứt thử và sản xuất vũ khí hạt nhân để bước đầu đi đến tổng giải trừ quân bị.

Hội nghị tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc vì độc lập và tự do, trong đó có Việt Nam; lên án chính sách phân biệt chủng tộc; kêu gọi mở rộng việc buôn bán với tất cả các nước, không có sự phân biệt đối xử; cộng tác chặt chẽ giữa các nước Á-Phi trong việc phát triển công nghiệp và nông nghiệp. Hội nghị thành lập Hội đồng đoàn kết nhân dân Á-Phi và Ban Thư ký hội đồng.

BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI

A

ĂNGGHEN, PH. (1820-1895): Lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản quốc tế, đồng chí và bạn chiến đấu của Các Mác. Cùng với Mác, ông đã xây dựng lý luận về chủ nghĩa cộng sản khoa học và đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân.

Ăngghen không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại, ông còn là nhà triết học, kinh tế học, sử học, nhà khoa học tự nhiên, nhà quân sự, nhà văn và nhà ngôn ngữ học.

Sau khi Mác qua đời, Ăngghen tiếp tục hoàn thành việc xuất bản các trước tác của Mác và tiến hành cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân.

B

BẢO ĐẠI (Nguyễn Vĩnh Thụy) (1913 – 1997): Ông vua cuối cùng của triều Nguyễn, lên ngôi năm 1925, thoái vị vào tháng 8-1945. Từ tháng 9-1945, được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm Cố vấn của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tháng 3-1946, được cử sang Trùng Khánh thực hiện chính sách ngoại giao của Chính phủ ta với chính quyền Tưởng Giới Thạch. Nhân chuyến đi này, Bảo Đại ở lại Trung Quốc. Năm 1949, Bảo Đại được đưa về Việt Nam làm Quốc trưởng bù nhìn. Tháng 10-1955, bằng “trưng cầu dân ý”, Mỹ đã phế truất Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên thay. Sống lưu vong ở Pháp, mất năm 1997.

BIÊRÚT, B. (1892-1956): Nhà hoạt động chính trị Ba Lan, đảng viên Đảng Cộng sản Ba Lan từ năm 1918. Trong thời kỳ Ba Lan bị phátxít Đức chiếm đóng, hoạt động bí mật và là một trong những người lãnh đạo Đảng Công nhân, là Chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao từ tháng 1-1944.

Là Chủ tịch nước Cộng hoà Ba Lan từ 1947-1952, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ba Lan từ 1952-1954, Chủ tịch Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan từ tháng 9-1949. Từ tháng 3-1954, là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Ban Chấp hành toàn quốc Mặt trận dân tộc Ba Lan.

BÙI BẰNG ĐOÀN (1889-1955): Nhân sĩ, quê làng Liên Bạt Chùa, phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Tây).

Xuất thân trong một gia đình Nho học và quan lại. Tháng 3-1933, làm Thượng thư (Bộ trưởng) Bộ Tư pháp trong nội các của Bảo Đại. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, ông về sống ẩn dật tại quê nhà.

Sau Cách mạng Tháng Tám, tham gia các tổ chức yêu nước ở Hà Nội. Ông được bầu là Trưởng Ban thường trực Quốc hội từ tháng 11-1946 cho đến khi mất.

BÙI KỶ (1887-1960): Học giả, hiệu là Ưu Thiên, quê làng Châu Cầu, huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Đậu cử nhân năm 1909, đậu phó bảng năm 1910, sau đó du học bên Pháp. Trở về nước, phục vụ trong ngành giáo dục, viết sách, làm báo. Sau Cách mạng Tháng Tám, làm Chủ tịch Hội Văn hoá kháng chiến Liên khu 3. Hoà bình lập lại, làm Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Trung. Mất tại Hà Nội năm 1960. Ông đã để lại nhiều tác phẩm khảo cứu văn học và dịch thuật có giá trị.

BUNGANIN, N.A. (1895-1975): Nguyên soái Liên Xô. Từ năm 1917, là đảng viên Đảng Cộng sản Nga; từ 1947-1949, là Bộ trưởng Bộ Các lực lượng vũ trang Liên Xô; từ năm 1947, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô; từ 1953-1955, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; từ 1955-1958, là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô; từ 1937-1962, là đại biểu Xôviết tối cao Liên Xô; từ 1934-1961, là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô; từ 1948 – 1958, là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 2-1960, nghỉ hưu.

C

CAĐA, I. (1912-1989): Nhà hoạt động chính trị Hunggari. Năm 1942, là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Hunggari; năm 1943, là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ 1946-1950, là Phó Tổng bí thư. Từ 1956, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Hunggari; từ năm 1957, là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari; từ 1961-1965, là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà nhân dân Hunggari; từ năm 1965, là Ủy viên Đoàn Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Hunggari.

CHU ÂN LAI (1898-1976): Nhà hoạt động chính trị Trung Quốc. Từ 1917-1919, học tại Nhật. Từ 1920-1924, học tại Pháp, cùng với một số thành viên Trung Quốc thành lập tổ chức mácxít ở Pari rồi gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1924, về nước và được cử làm Chủ nhiệm chính trị Trường quân sự Hoàng Phố. Năm 1927, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Nam Xương, là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương. Năm 1928, là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng. Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập (1-10-1949), liên tục được bầu làm Thủ tướng Quốc vụ viện. Từ 1949-1958, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng thời là Phó Chủ tịch Hội nghị chính trị hiệp thương nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

D

DAPÔTỐTXKI, A. (1884-1957): Nhà hoạt động chính trị Tiệp Khắc, là đảng viên Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ năm 1921; Bí thư Trung ương Đảng (1922-1929); Tổng thư ký các công đoàn cách mạng Tiệp Khắc (1929-1939); Ủy viên Ban Chấp hành Liên hiệp Công đoàn thế giới và Chủ tịch Hội đồng trung ương các công đoàn Tiệp Khắc (1945-1949); Phó Thủ tướng (1948); Thủ tướng Chính phủ (1948-1953); Chủ tịch nước Cộng hoà Tiệp Khắc (1953-1957).

DAVÁTXKI, A. (1899-1964): Nhà hoạt động chính trị Ba Lan, đảng viên Đảng Cộng sản Ba Lan từ năm 1923. Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, là Tổng Tham mưu trưởng quân du kích Ba Lan, Phó Tư lệnh quân đội Ba Lan ở Liên Xô. Từ 1949-1952, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ba Lan. Năm 1952, là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hoà nhân dân Ba Lan. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 10-1956) và Đại hội lần thứ III, được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan.

Đ

ĐALÉT, GI. (1888-1959): Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ từ 1952-1959. Đalét là người hoạt động tích cực cho phái “diều hâu” trong chính giới Mỹ.

ĐAMIANỐP, G. (1892-1958): Nhà hoạt động chính trị Bungari. Trong những năm 1914-1918, tham gia lãnh đạo phong trào công nhân cách mạng trong binh lính ngoài mặt trận, là một trong những người lãnh đạo phong trào chống phátxít năm 1923. Từ năm 1944, phụ trách công tác quân sự của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Bungari. Là Ủy viên Bộ Chính trị từ tháng 5-1945; Bộ trưởng BộQuốc phòng từ 1946-1950. Từ năm 1950, được bầu làm Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà nhân dân Bungari.

ĐIMITƠRỐP, G. (1882-1949): Nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lãnh tụ của Đảng và Nhà nước Bungari. Là đảng viên Đảng Xã hội dân chủ Bungari năm 1902; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1909. Năm 1923, tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của công nhân và nông dân Bungari. Sau khi khởi nghĩa thất bại, phải rời Tổ quốc, tiếp tục hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Từ 1935-1943, được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Từ năm 1942, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc đoàn kết tất cả các lực lượng chống phátxít ở Bungari. Sau khi Bungari được giải phóng, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản và là người lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Bungari.

E

ÊRIÔ, E: Nhà chính trị và nhà văn Pháp, là một trong những lãnh tụ của Đảng Xã hội cấp tiến. Là thị trưởng thành phố Liông năm 1905, Chủ tịch Quốc hội Pháp từ 1947-1954.

G

GÍPCỐP, T: Nhà hoạt động chính trị Bungari, sinh năm 1911. Vào Đảng Cộng sản Bungari năm 1932. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ huy lực lượng du kích chiến đấu chống phátxít. Được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương (1945); Ủy viên chính thức (1948); Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị (1950); Ủy viên chính thức Bộ Chính trị; Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Bungari (1951). Từ năm 1945, là đại biểu Quốc hội Bungari.

GƠRÔDA, P. (1884-1958): Nhà hoạt động chính trị – xã hội Rumani. Năm 1933, sáng lập và lãnh đạo tổ chức Nông dân dân chủ Rumani. Năm 1944-1945, là Phó Chủ tịch, và từ 1945-1947, là Chủ tịch Chính phủ liên hiệp các lực lượng dân chủ Rumani. Là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng từ năm 1947-1952, và từ 1952-1958, là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Quốc hội Cộng hoà nhân dân Rumani.

GƠRỐTTƠVÔN, Ô. (1894-1964): Nhà hoạt động chính trị Đức, là đảng viên phái tả trong Đảng Xã hội dân chủ Đức. Năm 1945, là người đứng đầu Đảng Xã hội dân chủ ở Đông Đức. Sau khi Đảng Xã hội thống nhất Đức thành lập, cùng với Vinhem Pích là đồng Chủ tịch Đảng (tháng 4-1946). Là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Hội đồng nhân dân Đức và Chủ tịch Hội đồng lập hiến (1948-1949). Từ tháng 10-1949, là Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà dân chủ Đức.

GỐTVAN, C. (1896-1953): Nhà hoạt động chính trị Tiệp Khắc. Tham gia phong trào công nhân từ năm 1912, tham gia Đảng Cộng sản Tiệp Khắc năm 1921. Là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương năm 1925, năm 1927 được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tiệp Khắc; Ủy viên Ban Chấp hành, Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản từ 1935-1943. Trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đứng đầu cơ quan hải ngoại của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc tại Liên Xô, tham gia chỉ đạo và tổ chức cuộc đấu tranh chống phátxít Đức.

Sau khi Tiệp Khắc được giải phóng, là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc và là Phó Chủ tịch Chính phủ Mặt trận dân tộc Séc và Xlôvaki (1945-1946); Chủ tịch Chính phủ Tiệp Khắc (1946-1948); Thủ tướng Chính phủ từ năm 1946. Từ tháng 6-1948, là Chủ tịch nước Cộng hoà Tiệp Khắc.

H

HOÀNG VĂN THÁI (1915-1986): Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, tên khai sinh là Xiêm, sau đổi tên là Thái, người tỉnh Thái Bình. Tham gia cách mạng từ thời còn trẻ, tích cực hoạt động trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ giành độc lập, tự do cho đất nước, ông có nhiều công lao trong lĩnh vực quân sự và kháng chiến.

Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng, Nhà nước: Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, đại biểu Quốc hội. Được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh.

HOÀNG QUỐC VIỆT (1905-1992): Tên thật là Hạ Bá Cang. Tham gia cách mạng từ năm 1925, gia nhập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1928. Năm 1930, là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1941, là Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương. Năm 1951, là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Năm 1960, là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Năm 1961, là Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Năm 1977, là Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

I

IUGỐP, A: Sinh năm 1904, nhà hoạt động chính trị Bungari, vào Đảng Cộng sản Bungari năm 1928. Từ năm 1937, là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng; năm 1942, là Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Bungari; từ năm 1952, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; từ năm 1956, là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà nhân dân Bungari.

K

KIM NHẬT THÀNH (1912-1994): Nhà hoạt động chính trị, lãnh tụ của Đảng Cộng sản và Nhà nước nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Là đảng viên Đảng Cộng sản Triều Tiên từ năm 1931. Năm 1934, tổ chức các đội du kích Triều Tiên tại Mãn Châu (Trung Quốc), sau đó là người chỉ huy Quân đội cách mạng Triều Tiên, tham gia cuộc chiến tranh giải phóng đất nước khỏi ách chiếm đóng của phátxít Nhật.

Từ năm 1946, được bầu làm Bí thư thứ nhất Bộ Tổ chức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Triều Tiên và là Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời Bắc Triều Tiên, sau đó làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên. Trong những năm chống Mỹ (1950-1953), được cử làm Chủ tịch Ủy ban quân sự; Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Triều Tiên.

KHƠRÚTSỐP, N.X. (1894-1971): Nhà hoạt động chính trị Xôviết, đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1918.

Từ năm 1931, là Bí thư Đảng khu Bauman, khu Crátxnaia Prétnia ở thành phố Mátxcơva. Từ năm 1932-1934, là Bí thư thứ hai rồi Bí thư thứ nhất Thành uỷ Mátxcơva. Năm 1934, được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1938, là Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ucraina, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị; năm 1939, Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô.

Năm 1947, làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ucraina, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ucraina, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1949, được bầu lại làm Bí thư thứ nhất Thành uỷ Mátxcơva.

Tháng 9-1953, được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ tháng 2-1958 đến cuối năm 1964 là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, Ủy viên Chủ tịch Đoàn Xôviết tối cao Liên Xô.

L

LÊNIN, V.I. (1870-1924): Lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới, người sáng lập Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xôviết – Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử loài người, sáng lập Quốc tế Cộng sản. Là học trò trung thành và xuất sắc nhất của Mác và Ăngghen, Lênin đã đấu tranh kiên quyết để bảo vệ tinh thần cách mạng của chủ nghĩa Mác, chống lại mọi sự xuyên tạc của bọn cơ hội chủ nghĩa, phát triển thiên tài cả ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác (triết học mácxít, kinh tế chính trị học mácxít, chủ nghĩa xã hội khoa học), giải quyết đúng đắn về lý luận và thực tiễn các vấn đề đặt ra cho cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.

M

MALENCỐP, G.M. (1902-1988): Nhà hoạt động chính trị Xôviết. Năm 1953, sau khi Xtalin từ trần, được cử làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Năm 1955, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.

MAO TRẠCH ĐÔNG (1893-1976): Nhà hoạt động chính trị nổi tiếng Trung Quốc. Năm 1921, tham gia Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau đó phụ trách Bí thư Khu ủy khu vực Hồ Nam. Năm 1923, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, làm Bí thư Trung ương cục phụ trách công tác tổ chức. Năm 1930, làm Tổng Chính uỷ Hồng quân Trung Quốc; tháng 11-1931, là Chủ tịch Chính phủ Dân chủ công nông Trung Hoa; tháng 1-1933, là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 2-1943, được bầu làm Chủ tịch Bộ Chính trị và Chủ tịch Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ 1949-1954, là Chủ tịch Chính phủ nhân dân Trung ương; từ 1954-1959, là Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

MÁC, C. (1818-1883): Lãnh tụ của giai cấp công nhân thế giới, nhà tư tưởng vĩ đại nhất, người cùng Ăngghen sáng lập ra nền triết học mới – triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội học. Ba bộ phận này có quan hệ hữu cơ với nhau, cấu thành học thuyết Mác, trở thành hệ tư tưởng, thế giới quan, lý luận về chiến lược và sách lược của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Mác không chỉ là nhà lý luận thiên tài mà trước hết Mác là nhà cách mạng vĩ đại. Năm 1847, Mác và Ăngghen tham gia sáng lậpLiên đoàn những người cộng sản. Năm 1864, Mác sáng lập và là linh hồn của Quốc tế I. Mác đã đấu tranh không khoan nhượng với mọi thứ chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa vô chính phủ trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Người đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và toàn thể loài người.

MICAIAN, A.I. (1895-1978): Nhà hoạt động chính trị Xôviết, là đảng viên Đảng Cộng sản Nga từ năm 1915. Từ 1926 – 1930, ông là Ủy viên nhân dân Ngoại thương Liên Xô. Từ năm 1930, là Ủy viên nhân dân Cung cấp; từ 1934-1946, là Phó Chủ tịch Hội đồng Ủy viên nhân dân Liên Xô, Ủy viên nhân dân Ngoại thương.

Từ năm 1946, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Từ năm 1953, là Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp Liên Xô. Năm 1955, được bầu lại làm Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô kiêm Bộ trưởng Bộ Thương mại. Là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng từ năm 1923, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị từ năm 1926, Ủy viên Bộ Chính trị từ năm 1936. Từ năm 1952, là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ 1964-1965, là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô.

N

NAVA, H: Sinh năm 1898, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương (1953-1954); nguyên Tổng Tham mưu trưởng lục quân khối NATO. Nava là tác giả kế hoạch tác chiến của quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương trong những năm 1953-1954, âm mưu giành lại thế chủ động đã mất trên chiến trường và rút ra khỏi chiến tranh trong danh dự.

Nhưng kế hoạch của Nava đã bị phá sản. Tháng 6-1954, Nava bị triệu hồi về nước.

NÁTXE, GAMAN ÁPĐEN (1918-1970): Nhà hoạt động chính trị Ai Cập. Là người khởi xướng, lãnh đạo tổ chức “sĩ quan tự do” đấu tranh chống chế độ phong kiến, chống ách áp bức của nước ngoài, chống sự thối nát của bộ máy nhà nước. Năm 1952, tổ chức này với sự ủng hộ của quân đội đã làm cách mạng thủ tiêu chế độ quân chủ và thành lập nước Cộng hoà Ai Cập.

Ngày 23-6-1956, được bầu làm Tổng thống Ai Cập. Tháng 2-1958, Ai Cập và Xiri thống nhất làm một nước lấy tên là Cộng hoà Ảrập thống nhất, được cử giữ chức Tổng thống nước Cộng hoà Ảrập thống nhất. Ông là một trong những người sáng lập Phong trào không liên kết.

NÊRU, G. (1889-1964): Nhà hoạt động chính trị Ấn Độ, học trò và người kế tục sự nghiệp của Găngđi. Năm 1929, được bầu là Tổng thư ký Đảng Quốc đại; trong những năm 1929-1930, 1936, 1937, 1946, 1951-1954, là Chủ tịch Đảng Quốc đại. Năm 1946, là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Ấn Độ. Từ 1947 – 1964, là Thủ tướng Ấn Độ. G. Nêru là người có nhiều đóng góp vào sự nghiệp hoà bình thế giới, là một trong những người đề xướng năm nguyên tắc chung sống hoà bình và là một trong những người sáng lập Phong trào không liên kết.

NGÔ ĐÌNH DIỆM (1901-1963): Tổng thống chính quyền Sài Gòn từ 1956-1963. Ngô Đình Diệm làm quan từ năm 1920; năm 1933, là Thượng thư Bộ Lại; năm 1934, từ quan do mâu thuẫn với Phạm Quỳnh. Năm 1950, sang Mỹ. Năm 1954, được Mỹ đưa về làm Thủ tướng thay Bửu Lộc. Sau khi lên cầm quyền, Ngô Đình Diệm với sự giúp sức của Mỹ, đã lật đổ Bảo Đại. Từ đó Ngô Đình Diệm dưới sự điều khiển của Mỹ đã tiến hành đàn áp nhân dân và chống phá cách mạng quyết liệt. Ngày 2-11-1963, Ngô Đình Diệm chết trong cuộc đảo chính của lực lượng chống đối do Mỹ dàn dựng.

NGUYỄN LƯƠNG BẰNG (1904-1979): Nhà hoạt động cách mạng, bí danh Sao Đỏ, Anh Cả. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925, bị địch bắt nhiều lần. Năm 1943, là Ủy viên Trung ương Đảng.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương, Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Liên Xô, Tổng Thanh tra Chính phủ, Phó Chủ tịch nước.

Ông mất ngày 20-7-1979, tại Hà Nội.

NGUYỄN SINH SẮC (1862-1929): Thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, quê làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An.

Năm 1894, đỗ cử nhân; năm 1901, đỗ phó bảng. Năm 1902, làm Hành tẩu ở Bộ Lễ (Huế), sau làm Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

Trong thời gian làm Tri huyện Bình Khê, nhiều lần chống đối viên Công sứ Pháp nên bị cách chức và buộc phải định cư vĩnh viễn ở Nam Kỳ.

Năm 1927, ông ngụ tại Sài Gòn, làm nghề Đông y, luôn bị thực dân Pháp theo dõi. Sau đó, chúng cưỡng bức ông lưu trú tại Cao Lãnh (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Tại đây, ông làm Đông y và thường liên lạc với các chí sĩ yêu nước khác đang bị thực dân Pháp “an trí” tại các địa phương lân cận như Dương Bá Trạc ở Long Xuyên, Võ Hoàng ở Sa Đéc, Nguyễn Quyền ở Bến Tre, Trương Gia Mô ở Rạch Giá.

Năm 1929, ông qua đời tại Cao Lãnh, thọ 67 tuổi.

NGUYỄN VĂN HUYÊN (1908-1975): Giáo sư, tiến sĩ văn học. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, làm Giám đốc Vụ Đại học kiêm Giám đốc Viện Đông phương Bác cổ Hà Nội. Từ tháng 11-1946, làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Ông là đại biểu Quốc hội các khoá II, III, IV, V; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

NÍCHXƠN, R. (1913-1994): Là Tổng thống Mỹ thứ 37, người của Đảng Cộng hoà; là Phó Tổng thống Mỹ từ 1953-1961. Năm 1969, Níchxơn trúng cử Tổng thống Mỹ và là tác giả của chính sách “Việt Nam hoá chiến tranh” ở Việt Nam. Năm 1974, phải từ chức Tổng thống vì dính líu vào vụ bê bối Oatơghết.

P

PÍCH, V. (1876-1960): Nhà hoạt động chính trị Đức. Năm 1815, gia nhập Đảng Xã hội dân chủ Đức; năm 1918 là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; năm 1928, là Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản; năm 1931, là Ủy viên Đoàn Chủ tịch và tham gia Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản. Năm 1935, được bầu làm Chủ tịch Đảng Cộng sản Đức; năm 1946, là Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức. Từ tháng 10-1949, là Chủ tịch nước Cộng hoà dân chủ Đức.

PHẠM VĂN ĐỒNG (1906 – 2000): Nhà hoạt động cách mạng, tên gọi thân mật là Anh Tô, quê xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tham gia cách mạng từ 1925. Năm 1929, là Bí thư Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Kỳ. Từ 1929-1936, bị địch bắt đày ra Côn Đảo. Năm 1941, tham gia Mặt trận Việt Minh và phụ trách báo Việt Nam độc lập. Năm 1945, là Bộ trưởng Bộ Tài chính. Năm 1949, được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ. Từ 1955-1987, là Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Cuối năm 1947, là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1951, được bầu vào Trung ương Đảng và là Ủy viên Bộ Chính trị. Từ năm 1986, là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông còn là tác giả của nhiều công trình văn hoá có giá trị.

PHRĂNGCƠLANH, B. (1706-1790): Nhà hoạt động chính trị, nhà vật lý, nhà triết học và nhà báo Mỹ. Là một trong những người sáng lập nền độc lập của nước Mỹ và là người phát minh ra cột thu lôi.

PƠRAXÁT, R. (1884-1963): Nhà hoạt động chính trị Ấn Độ. Chủ tịch Quốc hội lập hiến Ấn Độ (1946); Chủ tịch Đảng Quốc đại (1947); Tổng thống Chính phủ lâm thời Ấn Độ (1950); Tổng thống nước Cộng hoà Ấn Độ (1952-1962).

Q

QUYRI, G. (1900-1958): Nhà vật lý người Pháp, là người phát minh ra cấu trúc nguyên tử và được tặng giải thưởng Nôben về hoá học năm 1933. Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, tích cực tham gia phong trào chống phátxít; năm 1942, tham gia Đảng Cộng sản Pháp. G. Quyri là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Từ năm 1951, là Chủ tịch Hội đồng hoà bình thế giới.

R

RAIMAIN MÁCXƠ (1898-1977): Đảng viên Cộng sản từ khi thành lập Đảng Cộng sản Đức (1919); từ năm 1928-1932 làm Bí thư thứ nhất Đảng bộ Đảng Cộng sản ở Kham. Bị phátxít Đức giam giữ trong nhiều năm. Ông hoạt động bí mật trong nước và ở nước ngoài. Đầu năm 1948, là Chủ tịch Đảng Cộng sản Đức. Tháng 12-1954, được bầu là Bí thư thứ nhất Hội đồng Trung ương Đảng Cộng sản Đức. Từ tháng 9-1956, là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đức. Từ năm 1971, được bầu làm Chủ tịch danh dự Đảng Cộng sản Đức (DKP); từ năm 1973, là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Đức (DKP).

T

TITÔ (BƠRƠDÔ), I. (1892-1980): Nhà hoạt động chính trị Nam Tư. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nam Tư từ năm 1936 và sau đó là Chủ tịch Liên đoàn những người cộng sản Nam Tư. Là người tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Tư chống phátxít (1941-1945). Từ năm 1945, là người đứng đầu Chính phủ Nam Tư; năm 1953, là Tổng thống nước Cộng hoà Nam Tư, sau này là Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Liên bang Nam Tư. Là một trong những người sáng lập Phong trào không liên kết.

TÔN ĐỨC THẮNG (1888-1980): Nhà hoạt động chính trị. Tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1927. Tháng 7-1929, bị địch bắt; năm 1930, bị đày ra Côn Đảo. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trở về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng và được bầu làm Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, đại biểu Quốc hội khoá I, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (cuối năm 1947); Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng Ban thường trực Quốc hội. Từ tháng 6-1960, được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1969, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, được cử giữ chức Chủ tịch nước.

TRẦN CANH (1903-1961): Nhà chỉ huy quân sự Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1922, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc; tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố. Sau khởi nghĩa Nam Xương (1-8-1927), được cử giữ các chức vụ: Hiệu trưởng Trường Hồng quân, Tư lệnh binh đoàn, Phó Tư lệnh quân chí nguyện Trung Quốc tại Triều Tiên. Năm 1950, Trần Canh được cử sang giúp Việt Nam xây dựng phương án tác chiến trong Chiến dịch Biên giới. Năm 1955, được phong hàm Đại tướng và là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc năm 1959.

TRƯỜNG CHINH (1907-1988): Tên thật là Đặng Xuân Khu, nhà hoạt động cách mạng, nhà thơ với bút danh Sóng Hồng, nhà báo, quê Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tham gia cách mạng từ năm 1925; gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1927. Năm 1930, được cử vào Ban Tuyên truyền cổ động của Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ 1936-1939, là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương trong Uỷ ban Mặt trận dân chủ Bắc Kỳ. Năm 1940, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và là Quyền Tổng Bí thư. Là chủ bút Tạp chí Cộng sản, báo Cờ giải phóng, cơ quan ngôn luận Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: từ 1941-1956 là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; từ 1960-1981 là Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; từ năm 1981 là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng.

Tháng 7-1986, được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 12-1986, là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

TƯỞNG GIỚI THẠCH (1887-1975): Học quân sự ở Nhật. Năm 1923, giữ chức Tham mưu trưởng Tổng hành dinh Chính phủ quân sự Quảng Đông. Năm 1924, được Tôn Trung Sơn cử đi khảo sát về quân sự ở Liên Xô, rồi về nước giữ chức Hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố. Sau khi Tôn Trung Sơn mất, Tưởng Giới Thạch giữ chức Chủ tịch Ban Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1948, giữ chức Tổng thống. Tháng 1-1949, Tưởng Giới Thạch từ chức; cùng năm rút ra Đài Loan tiếp tục giữ chức Tổng tài Quốc dân Đảng và Tổng thống Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan.

U

U NU: Sinh năm 1907, nhà hoạt động chính trị Mianma. Là thành viên Đảng Tabin, một đảng đấu tranh đòi độc lập cho Mianma từ năm 1933; là Bộ trưởng Ngoại giao từ 1943-1945. Từ 1948-1956, tháng 2-1957, 1958, 1960-1962 là Thủ tướng Chính phủ. Là người tham gia sáng lập Phong trào không liên kết.

V

VÕ NGUYÊN GIÁP: Sinh năm 1911, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946 – 8-1947,
8-1948 – 1980). Quê xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Tham gia cách mạng từ năm 1925. Thời kỳ 1936-1939, hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940, sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau đó về nước tham gia xây dựng căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng. Năm 1945, chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Năm 1945, được bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giữ các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội. Từ 1951-1982, là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội V (1982) được bầu lại làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ 1955 – 1991, là Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khoá VII.

VÔRÔSILỐP, K.E. (1881-1969): Nhà hoạt động chính trị Liên Xô, Nguyên soái Liên Xô. Là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1962; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1952; Ủy viên nhân dân phụ trách quân sự và hải quân (1925); Ủy viên nhân dân quốc phòng Liên Xô (1934-1940); Ủy viên Hội đồng Quốc phòng Nhà nước (1941-1945); Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1946); Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô (1953-1960).

X

XANHTƠNY, GI. (1907-1978): Chính khách Pháp, nguyên nhân viên Nhà băng Đông Dương từ 1929-1931. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phục vụ trong phong trào kháng chiến Pháp. Năm 1945-1946, là đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội, nhiều lần tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuối năm 1954, Xanhtơny là Tổng đại diện Cộng hoà Pháp tại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1969, ông thay mặt Chính phủ Pháp dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội.

XÊĐENBAN, I: Sinh năm 1916, nhà hoạt động chính trị Mông Cổ. Năm 1940, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Mông Cổ và làm Tổng Bí thư; Phó Thủ tướng Chính phủ (1945), Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1945-1948); từ năm 1952, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà nhân dân Mông Cổ.

XIHANÚC, NÔRÔĐÔM: Sinh năm 1922. Nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của Campuchia. Từ 1930-1940, học tại Phnôm Pênh và Sài Gòn; tháng 4-1941, lên ngôi vua; từ 1946-1948, học tại Pháp. Năm 1955, thoái vị và được cử làm Thủ tướng; năm 1956, tham gia sáng lập Phong trào không liên kết. Năm 1960, được bầu làm Quốc trưởng. Sau cuộc đảo chính của Lon Non tháng 3-1970, ra nước ngoài. Năm 1975, về nước làm Chủ tịch Hội đồng dân tộc tối cao, sau đó là Quốc trưởng. Tháng 9-1993, được bầu làm Quốc vương Campuchia.

XIRĂNGKIÊVÍCH, I: Nhà hoạt động chính trị Ba Lan, sinh năm 1911. Tham gia chiến tranh chống chủ nghĩa phátxít và đã bị giam cầm trong trại tập trung nổi tiếng của Đức Quốc xã Ôsơvensim. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Xã hội Ba Lan (1945); Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan (1948). Từ tháng 3-1954, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà nhân dân Ba Lan.

XIRÔKI, V. (1902-1971): Nhà hoạt động chính trị Tiệp Khắc. Gia nhập Đảng Cộng sản Tiệp Khắc ngay từ khi Đảng mới thành lập (1921); là Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng từ năm 1931. Tháng 4-1945, là Phó Thủ tướng Chính phủ; từ tháng 3-1953, là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc.

XUCÁCNÔ, A. (1901-1970): Nhà hoạt động chính trị Inđônêxia; người sáng lập Đảng Quốc dân Inđônêxia (1927); Chủ tịch Đảng Inđônêxia (1932); Tổng thống nước Cộng hoà Inđônêxia từ 1945-1965. Là một trong những người có sáng kiến đề ra việc triệu tập Hội nghị Băngđung (1955).

XUPHANUVÔNG (1909-1995): Hoàng thân, nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của Đảng và Nhà nước Lào, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Chủ tịch Mặt trận Lào xây dựng đất nước.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông giữ nhiều trọng trách: Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào, Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước. Là đại biểu các lực lượng cách mạng Lào tham gia Chính phủ liên hiệp Lào lần thứ nhất (1957-1958), lần thứ hai (1962-1964), lần thứ ba (1974-1975). Là người có nhiều cống hiến to lớn vào việc xây dựng và củng cố tinh thần đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị Lào- Việt.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)