CHÚ THÍCH
1. Cách mạng Tháng Mười Nga: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga đứng đầu là V.I.Lênin, ngày 7-11 (tức ngày 25 tháng Mười, theo lịch Nga) năm 1917, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã vùng dậy lật đổ Chính phủ của giai cấp tư sản, thành lập Chính phủ Xôviết do Lênin làm Chủ tịch. Giai cấp công nhân Nga đã đập tan bộ máy thống trị của các giai cấp bóc lột, lập nên nhà nước kiểu mới – Chính quyền Xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản. Từ đó nước Nga Xôviết vững bước tiến lên xây dựng thành một nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh.
Cách mạng Tháng Mười, cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới, đã mở đầu một thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân bị áp bức, soi sáng con đường cho các dân tộc bị nô dịch đi tới cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tr.112.
2. Chiến dịch đường số 18 (còn lại là chiến dịch Hoàng Hoa Thám): Mở từ ngày 23-3-1951. Trong chiến dịch này, quân đội ta đã huy động 7 trung đoàn chủ lực cùng các lực lượng vũ trang địa phương đánh vào phòng tuyến của địch trên đường số 18 (khu vực từ Phả Lại đến Uông Bí). Bộ đội ta đã tấn công một số cứ điểm lớn của địch ở khu vực này, buộc chúng phải tăng cường lực lượng chi viện cho những cứ điểm bị tấn công. Tuy có một số trận ta đánh không thành công, nhưng một bộ phận sinh lực địch đã bị tiêu diệt, các lực lượng vũ trang của ta đã rút được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Ngày 5-4-1951, chiến dịch kết thúc. Tr.37.
3. Chiến dịch Lý Thường Kiệt: Mở từ ngày 1 đến ngày 10-10-1951 theo chủ trương của Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (3-1951), nhằm tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ để mở đầu và phối hợp với các chiến dịch tiêu diệt địch ở Tây Bắc, Trung du và các mặt trận vùng hữu ngạn sông Hồng.
Tháng 11-1951, thực dân Pháp tập trung lực lượng đánh ra vùng Hoà Bình hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường. Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh đã nhận định tình hình và quyết định tập trung một lực lượng lớn, kể cả lực lượng đang làm nhiệm vụ trong chiến dịch Lý Thường Kiệt, để tiêu diệt địch trong chiến dịch Hoà Bình. Tr.135.
4. Chiến dịch Hoà Bình: Bắt đầu từ ngày 25-11-1951.
Trung tuần tháng 11-1951, thực hiện kế hoạch của
Đờ Lát đờ Tátxinhi, thực dân Pháp đã mở cuộc càn quét lên vùng Hoà Bình, âm mưu lập lại hành lang Đông – Tây, chặn đường tiếp tế của ta, lập “xứ Mường tự trị” hòng chia rẽ các dân tộc thiểu số, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta và giành lại thế chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Lực lượng được chúng huy động cho cuộc hành quân này gồm 20 tiểu đoàn tinh nhuệ, lúc cao nhất lên tới 29 tiểu đoàn, có không quân, pháo binh và cơ giới yểm hộ.
Nắm chắc chủ trương và lực lượng của địch, ngày 24-11-1951, Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhiệm vụ phá cuộc tiến công lên Hoà Bình của địch. Chỉ thị vạch rõ, nhiệm vụ của ta trong chiến dịch này là tiêu diệt địch ở mặt trận chính diện, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, mở rộng các khu căn cứ du kích.
Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã chiến đấu dũng cảm trên các mặt trận. Ở mặt trận chính diện, quân ta đánh địch trên cả ba phân khu: Chợ Bến, sông Đà và Hoà Bình, với các chiến thắng vang dội từ Tu Vũ, đường số 6, sông Đà, v.v.. Ở mặt trận sau lưng địch, chiến tranh du kích phát triển rất mạnh ở Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, v.v.. Trước sự tiến công của ta ở cả hai mặt trận, ngày 23-2-1952, quân địch phải rút chạy khỏi Hoà Bình. Tổng kết chiến dịch, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 22.000 tên địch (riêng ở mặt trận Hoà Bình, số địch bị tiêu diệt là hơn 6.000 tên), bắn rơi 13 máy bay, bắn cháy 23 tàu chiến và canô, phá hủy 17 xe tăng, thu nhiều đồ dùng quân sự. Hơn 2 triệu dân và một vùng đất đai rộng lớn được giải phóng. Tr. 121.
5. Chiến dịch Quang Trung (còn gọi là chiến dịch Hà Nam Ninh): Bắt đầu từ ngày 28-5-1951. Trong chiến dịch này, bộ đội chủ lực của ta đã tấn công một loạt vị trí của địch ở Ninh Bình, nơi sơ hở của địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Được sự phối hợp và giúp đỡ của nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội ta đã tiêu diệt quân địch trong thị xã Ninh Bình và các vị trí Đại Phong, Non Nước, Gối Hạc, v.v..
Phối hợp với bộ đội chủ lực đang tiêu diệt địch ở Ninh Bình, các lực lượng vũ trang địa phương đã tiến hành một số trận phục kích, tập kích và chống địch càn quét ở Đống Lương (Vụ Bản, Nam Định), Cam Giá (Ninh Bình), Chợ Cháy (Hà Đông)… tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Qua chiến dịch Quang Trung, quân ta có thêm nhiều kinh nghiệm tác chiến ở chiến trường đồng bằng là nơi địch có lợi thế phát huy binh lực và hoả lực. Ngày 20-6-1951, chiến dịch Quang Trung kết thúc. Tr. 52.
6. Chiến dịch Tây Bắc: Được tiến hành theo quyết định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch ở Tây Bắc, giải phóng một phần lãnh thổ và nhân dân các dân tộc ở đây; phá tan mưu đồ lập “xứ Thái tự trị” của địch. Chiến dịch mở đầu bằng trận tiến công của bộ đội ta vào phân khu Nghĩa Lộ, ngày 14-10-1952.
Hoảng sợ trước sức tiến công của quân ta, ngày 29-10-1952, thực dân Pháp huy động lực lượng ở đồng bằng mở cuộc hành quân Loren lên càn quét vùng Phú Thọ hòng phá rối hậu phương của ta, hút bớt chủ lực của ta để đỡ đòn ở Tây Bắc.
Với quyết tâm cao, quân và dân ta không những liên tiếp tiến công các cứ điểm của địch ở Tây Bắc, đuổi chúng tới sát biên giới Việt – Lào, mà còn bẻ gãy cuộc hành quân Loren của thực dân Pháp, bảo vệ vững chắc hậu phương của ta.
Phối hợp với mặt trận chính, lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân ở vùng địch tạm chiếm cũng liên tiếp đánh địch ở Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, v.v., và đã tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch.
Sau hơn hai tháng chiến đấu, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 13.800 tên địch, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự. Một vùng lãnh thổ rộng lớn 28.500m2 với 25 vạn dân được giải phóng, căn cứ địa kháng chiến được củng cố và mở rộng, âm mưu lập “xứ Thái tự trị” của địch bị đập tan. Tr. 238.
7. Chiến dịch Thượng Lào: Từ ngày 8-4 đến ngày 3-5-1953, Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp cùng Quân giải phóng Pathét Lào mở chiến dịch Thượng Lào, tiến công quân Pháp ở Sầm Nưa.
Sau khi thất bại ở Tây Bắc, địch tăng cường phòng thủ Thượng Lào, xây dựng thị xã Sầm Nưa thành một tập đoàn cứ điểm có 3 tiểu đoàn đóng giữ. Liên quân cách mạng Lào – Việt đã tiến công tiêu diệt 3 tiểu đoàn và 10 đại đội địch. Toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lỳ với 30 vạn dân đã được giải phóng.
Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào là thắng lợi to lớn của tinh thần quốc tế vô sản, thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt – Lào. Tr. 295.
8. Cuộc chiến tranh Mỹ xâm lược Triều Tiên trong những năm 1950-1953: Trước sự khiêu khích ở giới tuyến quân sự của phía Nam Triều Tiên, ngày 25-6-1950 quân đội Bắc Triều Tiên đã tiến vào Nam Triều Tiên để giáng trả. Lấy cớ đó, Liên hợp quốc do Mỹ thao túng đã chấp thuận nghị quyết sai trái cho phép “Quân đội Liên hợp quốc” do Mỹ và các đồng minh của Mỹ vào tham chiến chống lại Bắc Triều Tiên.
Tháng 9-1950, quân đội Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ đã đổ bộ lên bán đảo Triều Tiên. Chẳng bao lâu phần lớn đất đai ở Bắc Triều Tiên đã rơi vào tay bọn can thiệp. Ngày 25-10-1950, Quân đội Triều Tiên và Quân tình nguyện Trung Quốc đã tiêu hao địch và chuyển sang phản công, đánh bật quân Mỹ và các nước phe Mỹ về phía nam vĩ tuyến 38.
Khi đế quốc Mỹ xâm lược Triều Tiên, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng tiến bộ trên thế giới đã đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh và giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên.
Trước sự đấu tranh kiên trì của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, tháng 7-1953, đế quốc Mỹ phải chấp nhận việc ngừng bắn và ký Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên. Tr. 66.
9. Đầu tháng 11-1953, chủ bút báo Expressen (Thụy Điển) gửi điện phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh về triển vọng giải quyết hoà bình vấn đề chiến tranh ở Việt Nam.
Ngày 26-11-1953, trong những câu trả lời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ nguyên nhân và tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam; tuyên bố lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về việc giải quyết vấn đề Việt Nam.
Những câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới, mở hướng đi tới cuộc thương lượng hoà bình ở Hội nghị Giơnevơ năm 1954. Tr. 397.
10. Điện Biên Phủ: Châu lỵ của châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên), nằm giữa vùng Tây Bắc, gần biên giới Việt – Lào. Đây là vùng có vị trí chiến lược quan trọng đối với toàn bộ chiến trường Đông Dương.
Thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức, đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ (11-1953) và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Đây là cái xương sống trong Kế hoạch Nava của đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ. Lực lượng của chúng ở Điện Biên Phủ lên tới hơn 16.000 tên, bao gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải và 1 phi đội máy bay thường trực cùng nhiều vũ khí hiện đại của Pháp và Mỹ. Với lực lượng như vậy, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ âm mưu nhử quân chủ lực của ta lên đây để tiêu diệt, tạo điều kiện cho chúng tiến hành bình định đồng bằng và trung du hòng làm thay đổi cục diện chiến trường Đông Dương theo chiều hướng có lợi cho chúng. Chúng tuyên truyền rằng đây là một “cứ điểm đáng sợ”, “một pháo đài bất khả xâm phạm”. Điện Biên Phủ đã trở thành điểm quyết chiến chiến lược của ta và địch trên toàn bộ chiến trường Đông Dương.
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định tình hình và quyết định mở chiến dịch tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ.
Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, sau gần bốn tháng chuẩn bị, ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng mở đợt tấn công thứ nhất vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Sau 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ và anh dũng, ngày 7-5-1954, quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ, toàn bộ quân địch ở đây bị tiêu diệt, Bộ Chỉ huy tập đoàn cứ điểm bị quân ta bắt sống. Quân ta đã bắn rơi và phá hủy 62 máy bay, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự.
Chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ – chiến thắng lớn nhất của ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã đập tan Kế hoạch Nava của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ và có ý nghĩa quyết định nhất đối với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương. Tr. 412.
11. Hiệp ước Đại Tây Dương, còn gọi là Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (OTAN hay NATO): Ký ngày 4-4-1949 tại Oasinhtơn. Tham gia Hiệp ước có các nước: Mỹ, Pháp, Bỉ, Canađa, Đan Mạch, Ailen, Italia, Lúcxămbua, Na Uy, Hà Lan, Bồ Đào Nha. Đến năm 1952 có thêm Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ tham gia. Hiệp ước Đại Tây Dương là một hiệp ước liên minh quân sự do Mỹ cầm đầu, nhằm chống lại phong trào cách mạng ở châu Âu, thực hiện việc bao vây Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu, chuẩn bị gây chiến tranh thế giới mới. Tr. 125.
12. Hội nghị Nông dân cứu quốc lần thứ hai: Họp vào tháng 3-1951 để bàn về nhiệm vụ mới của Hội và sửa đổi Điều lệ Hội. Hội nghị vinh dự được đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đến thăm và phát biểu tại Hội nghị. Đồng chí đã nói rõ chính sách của Đảng đối với nông dân và nhấn mạnh, Đảng ta “rất chú ý đến quyền lợi của nông dân”, “Đảng coi nhiệm vụ cải cách ruộng đất là một trong những nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất”.
Hội nghị đã ra Nghị quyết đẩy mạnh tăng gia sản xuất nhằm bảo đảm cung cấp đủ lương thực cho tiền tuyến và hậu phương, kêu gọi hội viên tham gia tác chiến, phục vụ chiến dịch, thi hành đúng chính sách ruộng đất và xây dựng Hội vững mạnh. Tr. 33.
13. Hội nghị kinh tế thế giới: Họp từ ngày 3 đến ngày 12-4-1952 ở Mátxcơva gồm đại diện các nhóm kinh doanh, các nhà kinh tế, các nhà kinh doanh công đoàn và hợp tác xã của 49 nước. Hội nghị đã ra thông báo khẳng định rằng sự khác nhau giữa các chế độ kinh tế và xã hội không phải là những trở ngại cho việc mở rộng sự hợp tác quốc tế về mặt kinh tế, dựa trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.
Hội nghị cũng thông qua bản hiệu triệu gửi Đại hội đồng Liên hợp quốc; đề nghị triệu tập một cuộc hội nghị đại biểu các chính phủ có sự tham gia của các nhóm kinh doanh và các đoàn thể nhân dân của tất cả các nước, nhằm xúc tiến mở rộng thương mại quốc tế. Hội nghị kinh tế thế giới đã thành lập Ủy ban xúc tiến việc phát triển thương mại quốc tế. Tr. 264.
14. Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II): Họp từ ngày 25 đến ngày 30-1-1953. Hội nghị đã thảo luận và hoàn toàn nhất trí với báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bản báo cáo của đồng chí Trường Chinh về tình hình, nhiệm vụ và công tác trong năm 1953. Hội nghị đã kiểm điểm việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và quyết định chủ trương phát động quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức, tiến tới thực hiện cải cách ruộng đất ngay trong kháng chiến. Hội nghị cũng đã ra Nghị quyết về các mặt quân sự, kinh tế, tài chính, công tác vùng sau lưng địch và một số vấn đề về tổ chức, xây dựng Đảng.
Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong việc kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ cách mạng phản đế và phản phong của Đảng trong kháng chiến. Tr. 280.
15. Hội nghị cán bộ vùng địch hậu: Họp tháng 10-1953, để kiểm điểm công tác vùng sau lưng địch, vạch rõ âm mưu mới của địch ở đồng bằng Bắc Bộ, đề ra nhiệm vụ và phương châm công tác trước mắt để đẩy mạnh cuộc đấu tranh vùng sau lưng địch. Tr. 386.
16. Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II): Họp từ ngày 13 đến ngày 18-7-1954. Hội nghị đã nghe và thảo luận hai báo cáo chính trị về Tình hình mới và nhiệm vụ mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Để hoàn thành nhiệm vụ và đẩy mạnh công tác trước mắt của đồng chí Trường Chinh.
Trên cơ sở đánh giá sự lớn mạnh của ta trong cuộc kháng chiến, thái độ của Chính phủ Pháp và đặc biệt là âm mưu can thiệp và xâm lược Đông Dương của đế quốc Mỹ, Hội nghị đi tới khẳng định: đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của cách mạng Đông Dương. Hội nghị chỉ rõ những nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta lúc này là tăng cường lực lượng quân sự, xây dựng Quân đội nhân dân hùng mạnh, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới; tiếp tục thực hiện chính sách ruộng đất; phục hồi và phát triển sản xuất, chuẩn bị điều kiện xây dựng đất nước. Để thực hiện những nhiệm vụ đó, Hội nghị đã đề ra 10 công tác trước mắt.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu có ý nghĩa rất quan trọng, nó đã xác định kẻ thù chính của nhân dân ta và vạch ra những nhiệm vụ của nhân dân ta trong giai đoạn cách mạng mới. Tr. 476.
17. Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thụy Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin năm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm hai vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.
Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.
Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.
Bản tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956.
Dưới sự xúi giục của bọn can thiệp Mỹ, các lực lượng Liên hiệp Pháp đã có những hành động vi phạm Hiệp định Giơnevơ ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt là vi phạm điều 14C của bản hiệp định đình chiến và điều 9 của bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ quy định việc ngăn cấm các hành động báo thù những người tham gia kháng chiến. Chỉ trong hai tháng kể từ sau ngày ngừng bắn, trong khu vực tập kết của đối phương đã có 709 hành động báo thù, bắt bớ, tàn sát làm 619 người chết, 2.786 người bị thương và 6.112 người bị bắt giam. Tr. 470.
18. Hội nghị Béclin (1954): Hội nghị Ngoại trưởng bốn nước Liên Xô, Anh, Pháp và Mỹ họp từ ngày 25-1 đến ngày 18-2-1954 tại Béclin (Đức).
Chương trình nghị sự của Hội nghị do Đoàn đại biểu Liên Xô đề ra, gồm ba vấn đề: 1. Biện pháp làm dịu tình hình căng thẳng trong quan hệ quốc tế và việc triệu tập Hội nghị các Ngoại trưởng Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Quốc; 2. Vấn đề nước Đức và nhiệm vụ bảo đảm an ninh của châu Âu; 3. Hiệp ước về việc thống nhất nước Áo.
Do lập trường của các nước tham gia không giống nhau nên vấn đề thứ 2 và vấn đề thứ 3 được nêu ra trong Hội nghị không đi đến nghị quyết gì.
Các đại biểu tham dự Hội nghị cũng đã thảo luận việc triệu tập Hội nghị Giơnevơ bàn về vấn đề Triều Tiên và việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. Tr. 491.
19. Kế hoạch Marshall, G.C.( Mácsan): Kế hoạch viện trợ kinh tế của Mỹ cho các nước tư bản châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do Mácsan, Quốc vụ khanh Chính phủ Mỹ, đề ra ngày 5-6-1947.
Thực chất của Kế hoạch Mácsan là nhằm thực hiện mưu đồ của đế quốc Mỹ khống chế kinh tế, quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Các nước tiếp nhận Kế hoạch Mácsan phải dành cho Mỹ những đặc quyền có tính chất một chiều; phải ngưng buôn bán với Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân. Phần lớn số tiền mà các nước nhận được từ Kế hoạch Mácsan, do sức ép của Mỹ đều chi vào mục đích quân sự. Ngoài ra, đế quốc Mỹ còn được phép xây dựng nhiều căn cứ quân sự tại các nước. Tr. 185.
20. Luật cải cách ruộng đất: Được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua ngày 4-12-1953 tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khoá I. Luật cải cách ruộng đất nêu rõ mục đích, ý nghĩa cải cách ruộng đất là: Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ để thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, cải thiện đời sống nhân dân, đẩy mạnh kháng chiến.
Ngày 19-12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ban bố Luật cải cách ruộng đất.
Luật cải cách ruộng đất đã đáp ứng yêu cầu căn bản và cấp bách của hàng triệu nông dân; là chỗ dựa vững chắc cho nông dân đấu tranh xoá bỏ chế độ bóc lột phong kiến, đưa kháng chiến đến thắng lợi. Tr. 409.
21. Liên hợp quốc: Tổ chức quốc tế thành lập với mục đích ủng hộ và củng cố hoà bình, an ninh và phát triển hợp tác giữa các nước. Hiến chương Liên hợp quốc được các nước tham dự Hội nghị thành lập ở Xan Phranxixcô (Mỹ), ký ngày 26-6-1945 và có hiệu lực từ ngày 25-10-1945. Đến tháng 9-2006, Liên hợp quốc có 191 nước hội viên. Các cơ quan chính của Liên hợp quốc: Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội đồng bảo an, Ủy ban kinh tế xã hội, Ủy ban bảo trợ, Toà án quốc tế và Ban Thư ký. Trụ sở Liên hợp quốc đóng tại Niu Oóc. Tr. 251.
22. Mặt trận Liên Việt: Thành lập tháng 3-1951 trên cơ sở thống nhất hai tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) và Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt) nhằm củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào thời kỳ quyết liệt. Thành viên của Mặt trận Liên Việt gồm có Đảng Lao động Việt Nam, các đoàn thể, tôn giáo và các đảng phái yêu nước, đoàn kết đấu tranh cho mục đích chung là tiêu diệt thực dân Pháp, đánh bại can thiệp Mỹ, đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc đến thắng lợi.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, trước tình hình mới của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước, thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ tám (khoá II), nhằm mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân, tháng 9-1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập, tiếp tục sự nghiệp của Mặt trận Liên Việt. Tr. 25.
23. Năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình: Được đề ra lần đầu tiên trong Hiệp định giữa Ấn Độ và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về buôn bán và quan hệ của Tây Tạng (thuộc Trung Quốc) với Ấn Độ (4-1954) gồm:
1. Tôn trọng lãnh thổ toàn vẹn và chủ quyền của nhau;
2. Không tiến công nhau;
3. Không can thiệp vào công việc của nhau;
4. Bình đẳng và cùng có lợi;
5. Cùng tồn tại hoà bình.
Tại Hội nghị Băngđung năm 1955, những nguyên tắc này được khẳng định lại. Tr. 524.
24. Ngày 10-10-1954, ngày Thủ đô giải phóng: Thi hành Hiệp định Giơnevơ, quân đội Pháp phải trao trả lại cho ta Thủ đô Hà Nội đúng thời hạn 80 ngày kể từ khi Hiệp định được ký kết.
Trước khi rút, quân đội Pháp tìm mọi cách phá hoại, hòng gây cho ta nhiều khó khăn khi vào tiếp quản. Chúng lấy cắp tài liệu và tài sản công cộng; phá hỏng máy móc hoặc tháo gỡ mang đi những bộ phận quan trọng. Chúng ra sức dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam; cho bọn lưu manh gây rối trong thành phố. Chúng còn tìm cách phá hủy những di tích lịch sử và văn hoá của nhân dân ta.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Thành ủy Hà Nội, đồng bào Thủ đô, nhất là công nhân đã kiên trì đấu tranh chống lại âm mưu phá hoại của chúng và buộc chúng phải trao lại thành phố cho ta đúng thời hạn.
Ngày 9-10-1954, tốp lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên.
Sáng ngày 10-10-1954, các đơn vị tiếp quản Thủ đô, dẫn đầu là Trung đoàn Thủ đô, giương cao cờ “Quyết chiến Quyết thắng” từ 5 cửa ô tiến vào giải phóng Hà Nội. Đến 15 giờ chiều ngày 10-10, việc tiếp quản thành phố đã hoàn thành. Cùng chiều hôm đó, 15 vạn nhân dân Hà Nội đã dự lễ mừng chiến thắng và ngày 10-10 đã trở thành ngày hội lớn của nhân dân Thủ đô. Tr. 509.
25. Ngày toàn quốc kháng chiến: Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân ta cần có hoà bình để xây dựng đất nước và củng cố lực lượng về mọi mặt. Chúng ta đã nhân nhượng và ký với Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946. Nhưng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết chiếm nước ta một lần nữa.
Trước những hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, đêm ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
Từ đó ngày 19-12 hằng năm trở thành ngày kỷ niệm lớn của dân tộc ta: Ngày toàn quốc kháng chiến. Tr. 128.
26. Nhân đạo (L’Humanité): Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giăng Griôrét sáng lập năm1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.
Trong những năm hoạt động ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài đăng trên báo L’Humanité, tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa và kêu gọi nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa đấu tranh giành độc lập tự do. Nhờ những hoạt động tích cực của Người, trong những năm 20, báo L’Humanité thường xuyên mở mục đăng đều đặn các bài tuyên truyền vấn đề thuộc địa, giáo dục giai cấp công nhân Pháp nhận thức đúng vấn đề thuộc địa và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc. Tr. 303.
27. “Tỉnh ủy bí mật”: Một nhật ký công tác gồm ba tập của A. P. Phêđôrốp, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Trécnigốp thuộc Ucraina (Liên Xô trước đây). Nội dung những tập sách này phản ảnh tinh thần kháng chiến anh dũng của nhân dân Xôviết trong vùng bị phát xít Đức chiếm đóng. Trong từng trang nhật ký, tác giả đặc biệt chú ý đến nhiệm vụ gìn giữ bí mật, coi đó là nguyên tắc sống còn của mọi hoạt động trong lòng địch, để bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ cán bộ, bảo vệ phong trào kháng chiến: “Công việc làm phải hết sức bí mật”, “Tỉnh ủy bí mật phải tuyệt đối không cho ai biết”, “Nơi nào mà tổ chức bí mật của Đảng vững thì ở đó quần chúng đấu tranh rất hăng.”…
Thấy rõ nội dung “Tỉnh ủy bí mật” có thể giúp ích cho công cuộc kháng chiến của nhân dân ta, cuối năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới bút danh Nguyễn Du Kích đã lược dịch và giới thiệu “Tỉnh ủy bí mật” với lực lượng kháng chiến của ta. Đồng chí Trường Chinh nhận xét: Cuốn “Tỉnh ủy bí mật” của Phêđôrốp do đồng chí Hồ Chí Minh dịch ra tiếng Việt đã trở thành sách gối đầu giường cho nhiều cán bộ, chiến sĩ chúng tôi trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp. Tr. 121.
28. Thường thức chính trị: Gồm 50 bài viết của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, ký bút danh Đ.X, đăng trên nhiều số báo Cứu quốc trong năm 1953.
Năm 1954, các bài viết này được Nhà xuất bản Sự thật tập hợp lại và in thành cuốn sách: Thường thức chính trị để cung cấp tài liệu học tập và tuyên truyền trong cán bộ và nhân dân. Tr. 371.
29. “Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á” (SEATO): Khối quân sự – chính trị nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng tiến bộ ở khu vực Đông – Nam Á, thành lập trên cơ sở Hiệp nước Manila được ký kết giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Pakixtan, Thái Lan, Philíppin tại Manila (Philíppin) vào ngày 8-9-1954. Theo điều khoản của Hiệp ước, các thành viên của khối SEATO có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp một nước bị tấn công hay có “nguy cơ bị tấn công”. Không những thế, bản Hiệp ước còn cho phép các nước này tiến hành các hoạt động quân sự ngoài khu vực của các nước thành viên. Các nước tham gia Hiệp ước còn ký một văn kiện bổ sung cho phép thực hiện các điều khoản của Hiệp ước ở miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, vi phạm trắng trợn các nghị quyết của Hội nghị Giơnevơ năm 1954. SEATO đã tổ chức nhiều cuộc tập trận, tích cực ủng hộ và can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương. Do những mâu thuẫn trong nội bộ các nước thành viên, năm 1976, khối SEATO tự tuyên bố giải tán.Tr. 557.
BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI
B
BIÊRÚT BÔLEXLÁP (Boleslaw Bierut) (1892 – 1956). Nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng, Nhà nước Ba Lan và của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn trẻ và gia nhập Đảng Cộng sản Ba Lan ngay khi Đảng được thành lập (1918). Trong thời kỳ Ba Lan bị phát xít Đức chiếm đóng, ông hoạt động bí mật và là một trong những người lãnh đạo Đảng Công nhân và là Chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao từ tháng 1-1944.
Sau khi Ba Lan được giải phóng, ông được Đảng và Nhà nước Ba Lan cử giữ nhiều trọng trách như: Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan (1947 – 1952), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1952 – 1954), Chủ tịch Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan từ tháng 9-1949. Từ tháng 3-1954, ông là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Ban Chấp hành toàn quốc Mặt trận dân tộc Ba Lan.
C
CHU ÂN LAI (1898 – 1976). Nhà hoạt động của Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc, nguyên Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (1956 – 1976).
Năm 1919, ông theo học ở Pháp. Tại đây, ông tham gia thành lập tổ chức mácxít, rồi gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Cùng năm này, ông gặp Nguyễn Ái Quốc. Năm 1924, ông về nước và được cử làm Chủ nhiệm chính trị Trường Quân sự Hoàng Phố. Năm 1927, là một trongnhững người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Xương. Sau đó ông được cử làm Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1928, là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng. Ông là một trong những người lãnh đạo cuộc Vạn lý trường chinh (1934) và là người thay mặt Đảng Cộng sản Trung Quốc đàm phán với Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực hiện Quốc – Cộng hợp tác trong kháng chiến chống phát xít Nhật (1937 – 1945).
Cách mạng Trung Quốc thành công, là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Phó Chủ tịch Hội nghị Chính trị hiệp thương. Ông là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Hội nghị Giơnevơ (1954) và Hội nghị Băngđung (1955). Đầu tháng 7-1954, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gặp gỡ và trao đổi với Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình và phương án đấu tranh tại Hội nghị Giơnevơ.
CHU ĐỨC (1886 – 1976). Năm 1911, tham gia khởi nghĩa Vân Nam. Sau đó, là Thiếu tướng Lữ trưởng của quân đội Vân Nam. Năm 1922, sang Đức học và tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1925, học Đại học Phương Đông (Liên Xô) tại lớp huấn luyện quân sự bí mật. Năm 1926, về nước. Năm 1927, tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Xương. Năm 1934, tham gia Vạn lý trường chinh. Thời kỳ chiến tranh chống Nhật, ông giữ chức Tổng Chỉ huy và Tổng Tư lệnh Bát lộ quân, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân ủy Trung ương kiêm Phó Tổng Tư lệnh Chiến khu 2. Tháng 9-1949, được bầu làm Phó Chủ tịch Chính phủ nhân dân Trung ương. Tháng 10-1949, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc. Năm 1954, là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Năm 1955, được phong hàm Nguyên soái. Từ năm 1959, được bầu là Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc các khóa II, III, IV. Chu Đức được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khóa VI),được bầu vào Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm (khóa VI), vào Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Đại hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ VII, VIII, IX, X.
D
DAPÔTỐTXKY, ANTÔNIN (Antonin Zápotocki) (1884 – 1957). Nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản và Nhà nước Tiệp Khắc (cũ). Ông tham gia Đảng Xã hội – Dân chủ Tiệp Khắc từ năm 1902; gia nhập Đảng Cộng sản Tiệp Khắc ngay khi mới thành lập (1921) và giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước: Bí thư Trung ương Đảng (1922 – 1929), Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, Tổng Thư ký các công đoàn cách mạng Tiệp Khắc (1929 – 1939); Ủy viên dự khuyết rồi Ủy viên Ban Chấp hành Liên hiệp Công đoàn quốc tế; Chủ tịch Hội đồng Trung ương các Công đoàn Tiệp Khắc (1945); Phó Thủ tướng (1948) và Thủ tướng (1948 – 1953); Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Tiệp Khắc (1953 – 1957). Tr. 301.
DAVÁTXKI, ALẾCHXĂNGĐƠ (A. Zawadzki) (1899 – 1964). Nhà hoạt động của Đảng và Nhà nước Ba Lan, một trong những người tổ chứcLiên đoàn những người yêu nước và Quân đội nhân dân Ba Lan, là đảng viên Đảng Cộng sản Ba Lan từ năm 1923.
Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, ông là Tổng tham mưu Quân du kích Ba Lan, Phó Tư lệnh quân đội Ba Lan ở Liên Xô. Từ năm 1944 đến năm 1948, là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan. Từ năm 1949 đến năm 1952, làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan. Từ năm 1952, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan.
Đ
ĐẶNG VĂN NGỮ (1910 – 1967). Bác sĩ, liệt sĩ, Anh hùng lao động, quê ở làng An Cựu – thành phố Huế (nay là Thừa Thiên – Huế). Ông là một nhà khoa học tài năng, có nhiều đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Là người có nhiệt tình yêu nước, ngay từ khi còn trẻ ông đã nuôi chí làm bác sĩ, làm nhà khoa học để cứu giúp nhân dân, xây dựng đất nước. Năm 1937, tốt nghiệp Trường Đại học Y – Dược khoa Hà Nội loại xuất sắc, ông được giữ ở lại trường làm trợ lý nghiên cứu và giảng dạy. Năm 1941, được cử sang Nhật Bản tu nghiệp, chính trong thời gian này, ông đã phát minh cách nuôi cấy và tạo ra nấm Pênêxilin dùng làm thuốc kháng sinh.
Năm 1945, mặc dù nhận được rất nhiều lời chào mời đến làm việc tại các trường đại học danh tiếng ở Pháp và Hoa Kỳ, Bác sĩ Đặng Văn Ngữ vẫn quyết định trở về nước tham gia kháng chiến. Tại Chiến khu Việt Bắc, trong điều kiện cơ sở vật chất vô cùng thiếu thốn, khó khăn, ông vẫn miệt mài nghiên cứu và đã thành công trong việc nuôi cấy và chế ra dung dịch Pênêxilin, kịp thời cứu chữa hàng nghìn thương binh. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ còn là người đi đầu trong việc tiêu diệt các căn bệnh sốt rét, ký sinh trùng ở Việt Nam.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông trực tiếp vào chiến trường, khắp nẻo đường Trường Sơn để nghiên cứu, điều trị bệnh sốt rét cho bộ đội. Tháng 4-1967, Bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã hy sinh anh dũng trên chiến trường Vĩnh Linh – Quảng Trị. Tr. 463.
ĐỜ CÁTXTƠRI (Castries, Christian Marie Ferdinand de la Croisade De). Đờ Cátxtơri, sinh năm 1902, tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai và bị bắt làm tù binh nhưng sau đó trốn thoát và đi theo các lực lượng kháng chiến Pháp ở Bắc Phi.
Năm 1951, Đờ Cátxtơri sang Đông Dương, là chỉ huy quân Pháp khu vực Nam đồng bằng Bắc Bộ. Bị thương trở về Pháp. Tháng 8-1953, sang Đông Dương lần thứ hai với quân hàm Đại tá, được cử chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sau thăng quân hàm Thiếu tướng. Ngày 7-5-1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, Đờ Cátxtơri và toàn bộ Ban Tham mưu bị quân ta bắt làm tù binh. Tr. 452.
ĐUYCLÔ, GIẮC (Jacques Duclos) (1896 – 1975). Nhà hoạt động có tên tuổi của Đảng Cộng sản Pháp và của phong trào cộng sản quốc tế. Ông gia nhập Đảng Cộng sản năm 1921. Năm 1926 là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đồng thời là Nghị sĩ Quốc hội Pháp. Năm 1931, được cử vào Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1935, là Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.
Trong những năm nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, cùng với M.Tôrê, G.Đuyclô là một trong những người lãnh đạo cuộc đấu tranh của những người cộng sản và yêu nước Pháp, một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Pari (1944) giải phóng nước Pháp. Từ năm 1946, ông là Trưởng đoàn Đảng Cộng sản trong Quốc hội Pháp. G.Đuyclô là Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp (1946 – 1952), Thượng nghị sĩ Pháp (1959). Ông đã hoạt động và gặp gỡ với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vào các năm 1919, 1946, 1957 và là người đồng chí gần gũi, người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
G
GỐTVAN, CLÊMEN (Klement Gottwald) (1896 – 1953). Nhà hoạt động xuất sắc của Đảng Cộng sản và Nhà nước Tiệp Khắc, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Clêmen Gốtvan tham gia phong trào công nhân từ năm 1912 và gia nhập Đảng Cộng sản Tiệp Khắc ngay khi mới thành lập (1921), là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1925, và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tiệp Khắc (1929 – 1945); Ủy viên Ban Chấp hành rồi Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản (1935 – 1943). Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, C.Gốtvan đứng đầu Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc tại Liên Xô, đã tổ chức và chỉ đạo cuộc đấu tranh chống sự chiếm đóng của phát xít Đức.
Sau khi Tiệp Khắc được giải phóng, ông là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc và là Phó Chủ tịch Chính phủ Mặt trận dân tộc Séc và Slôvaki (1945 – 1946), rồi Chủ tịch Chính phủ Tiệp Khắc (1946 – 1948). Ông được bầu làm Thủ tướng Chính phủ (1946) và từ tháng 6-1948 ông là Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Tiệp Khắc cho đến khi qua đời.
GƠRÔDA, PÊTƠRU (Petru Groza) (1884 – 1958). Nhà hoạt động chính trị, xã hội Rumani. Ông là Chủ tịch Chính phủ liên hiệp các lực lượng dân chủ Rumani (1945 – 1947), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa nhân dân Rumani (1947 – 1952), sau đó là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa nhân dân Rumani (1952 – 1958).
GRỐTTƠVÔN, ỐTTÔ (Otto Grotwohl) (1894 – 1964). Nhà hoạt động có tên tuổi của phong trào công nhân và Nhà nước Đức, nhà hoạt động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Ông là một trong những người lãnh đạo phong trào đấu tranh thống nhất dân chủ chống phát xít ở nước Đức trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai.
Sau khi Nhà nước Đức quốc xã sụp đổ, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Đảng Xã hội – Dân chủ Đức. Tại Đại hội thống nhất Đảng Cộng sản và Đảng Xã hội – Dân chủ Đức (4-1946), được bầu làm đồng Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức cùng với Vinhem Pích, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Hội đồng lập hiến (1948 – 1949), Thủ tướng nước Cộng hòa dân chủ Đức từ ngày thành lập (1949).
GHÊOÓCGHIU ĐÊ, GIOÓC (Gheorghe Gheorghiu – Dej) (1901 – 1965). Gia nhập Đảng Cộng sản Rumani (1930), là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1935), Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1945, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1955. Ông là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1952 – 1955), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa nhân dân Rumani từ năm 1961.
H
HOÀNG HOA THÁM (tức Đề Thám) (1862 – 1913). Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở vùng Yên Thế (Bắc Giang). Ông tham gia khởi nghĩa từ năm 1888, nhờ dũng cảm và tài thao lược, ông trở thành thủ lĩnh của nghĩa quân. Cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo kéo dài 30 năm và gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại.
Năm 1913, Hoàng Hoa Thám bị một tên tay sai của thực dân Pháp sát hại, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.
HOÀNG QUỐC VIỆT (1905 – 1992). Tên thật là Hạ Bá Cang, quê ở Đáp Cầu, Bắc Ninh. Tham gia cách mạng từ năm 1925, gia nhập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1928. Năm 1930, được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1931, bị Pháp bắt và kết án khổ sai, đưa đi đày ở Nhà tù Côn Đảo. Năm 1936, ra tù ông lại tiếp tục hoạt động. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (8-1937), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, làm Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951), ông được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, là Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tại Đại hội Đảng lần thứ III (9-1960), ông được bầu lại làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, làm Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Năm 1961, là Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Năm 1977, là Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
HỒ TÙNG MẬU (1896 – 1951). Tên thật là Hồ Bá Cự, quê ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ lúc còn trẻ và đã nhiều năm hoạt động ở Thái Lan và Trung Quốc. Năm 1923, cùng Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái lập nhóm Tâm tâm xã.
Ông là một trong những người đầu tiên tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức tiền thân của Đảng ta và đã tham dự các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc do Nguyễn Ái Quốc tổ chức.
Ông còn là người tích cực liên hệ với Hội quốc tế Cứu tế đỏ và vận động Luật sư H.Lôdơbi đấu tranh về mặt pháp lý đòi chính quyền Anh ở Hồng Kông phải trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc khi Người bị chúng bắt giam trái phép tại Hồng Kông (1931). Ông bị cảnh sát Anh tại Hồng Kông bắt tháng 6-1931 và trục xuất khỏi tô giới Anh đưa về nước, bị kết án tử hình, sau giảm xuống chung thân. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông đã được Đảng và Nhà nước ta giao giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu V (1946), Tổng thanh tra Chính phủ (1947). Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951), ông được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Hồ Tùng Mậu đã hy sinh trên đường đi công tác tại Thanh Hóa ngày 23-7-1951. Ông được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
HỐTGIA, ĂNGVE (Enver Hodja) (1908 – 1985). Nhà hoạt động có tên tuổi của Đảng và Nhà nước Anbani. Ông là một trong những người tích cực hoạt động cho việc thành lập Đảng Cộng sản Anbani (từ năm 1948 đổi tên thành Đảng Lao động Anbani) và tham gia phong tràogiải phóng dân tộc chống sự chiếm đóng của phát xít Italia, bị tòa án phát xít kết án vắng mặt tội tử hình. Đảng viên Đảng Cộng sản Anbani rồi Ủy viên Trung ương Đảng từ năm 1941.
Khi nước Cộng hòa nhân dân Anbani ra đời, ông liên tục được cử giữ những chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Bộ trưởng Ngoại giao (1946 – 1952), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1946 – 1954), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Anbani (1948) và Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Anbani (1948 – 1985). Từ năm 1957, E.Hốtgia là Tổng Tư lệnh lực lượng vũ trang và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Anbani.
K
KIM NHẬT THÀNH (1912 – 1994). Lãnh tụ Đảng và Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Ông tham gia cách mạng thời còn niên thiếu và gia nhập Đảng Cộng sản Triều Tiên năm 1931. Năm 1934, ông tổ chức các đội du kích Triều Tiên tại Mãn Châu, sau đó, là người chỉ huy quân đội cách mạng Triều Tiên và tham gia cuộc chiến tranh giải phóng đất nước khỏi ách chiếm đóng của phát xít Nhật.
Từ năm 1946, ông được bầu làm Bí thư thứ nhất Bộ Tổ chức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Triều Tiên và làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời Bắc Triều Tiên, sau đó làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên. Trong những năm chống Mỹ (1950 – 1953), Kim Nhật Thành được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Triều Tiên.
L
LA QUÝ BA. Sinh năm 1905, người tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1931. Sau khi ở Liên Xô về, ông làm công tác chính trị trong Quân đoàn 6 Hồng quân công nông (1935), tham gia Vạn lý trường chinh. Sau đó, làm Bí thư Đảng ủy Khu Tây Bắc Sơn Tây, Chính ủy Bộ Tổng chỉ huy Tân quân khu Tây Bắc Sơn Tây, Chính ủy kiêm Tư lệnh Phân khu 8 quân khu Tây Bắc Sơn Tây, Chính ủy Quân đoàn 8 dã chiến quân thứ nhất…
Sau năm 1949, làm Chủ nhiệm Văn phòng Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Văn phòng đối ngoại Quân ủy Trung ương, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền đầu tiên của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, cố vấn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Ủy viên Hội nghị Hiệp thương chính trị toàn quốc, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa VIII, là Ủy viên Ủy ban cố vấn Trung ương Đảng khóa XII, XIII.
Đầu những năm 50, La Quý Ba là Trưởng đoàn cố vấn chính trị Trung Quốc tại Việt Nam.
LAVAN PIE (Pierre Laval) (1883 – 1945). Nghị sĩ Quốc hội Pháp trong thời gian 1914 – 1919 và 1924 – 1927, Thủ tướng nước Pháp trongnhững năm 1931 – 1932 và 1935 – 1936.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, P.Lavan là người thay mặt Chính phủ Pêtanh ký “Hiệp ước hòa bình”, đầu hàng phát xít Đức, trở thành người đứng đầu Chính phủ bù nhìn Visi (1942 – 1944).
Khi nước Pháp được giải phóng (1944), P.Lavan bỏ chạy ra nước ngoài. Tháng 8-1945, P.Lavan bị Chính phủ Áo trao trả cho Chính phủ Pháp và bị xử như kẻ phản bội.
LANIEN, G. (G.Laniel) (1889 – 1975). Nghị sĩ Quốc hội, nhiều lần làm Bộ trưởng các bộ: Tài chính, Bưu điện; nguyên Thủ tướng nước Cộng hòa Pháp (1953 – 1954).
Sau khi lên làm Thủ tướng nước Pháp (6-1953), Chính phủ G.Lanien được Quốc hội Pháp cho “toàn quyền hành động” trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Từ chỗ dựa vào viện trợ Mỹ đến chỗ lệ thuộc vào Mỹ trong chính sách đối nội và đối ngoại, chính quyền Lanien đã cùng với giới chức thực dân ở Đông Dương chủ trương giành thế chủ động trên chiến trường và rút khỏi chiến tranh trong danh dự. Nhưng Chính phủ G.Lanien đã sụp đổ cùng với sự thất bại của chủ trương này (6-1954).
LÊNIN, V.I. (1870 – 1924). Lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới, người sáng lập Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên Xô, người tổ chức và lãnh đạo thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga, sáng lập Quốc tế Cộng sản.
Kế tục sự nghiệp của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là người kiên quyết đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác và phát triển sáng tạo cả ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác (triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa cộng sản khoa học).
Lênin còn là người đưa ra nhiều luận điểm cơ bản và quan trọng về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Tư tưởng của V.I.Lênin đã ảnh hưởng lớn đến việc chuyển biến về chất lượng tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giúp Người tìm thấy con đường giải phóng dân tộc Việt Nam.
LÊ VĂN HIẾN (1904 – 1997). Người xã Phước Ninh, thành phố Đà Nẵng, xuất thân trong một gia đình lao động.
Học xong trung học, năm 1922 trúng tuyển vào làm nhân viên bưu điện Đà Nẵng. Năm 1927, ông cùng một số đồng chí thành lập chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1929 bị bắt, sau được tha, phải đổi vào làm việc ở Nha Trang (Khánh Hoà). Tại đây, ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1930, lại bị bắt, chịu án 5 năm tù khổ sai, giam ở ngục Kon Tum.
Năm 1935, mãn hạn tù ông về Đà Nẵng, được phân công làm công tác tài chính của Đảng. Tháng 5-1940 bị bắt lần nữa. Tháng 5-1945, tham gia chuẩn bị khởi nghĩa ở Đà Nẵng.
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông được giao nhiều trọng trách: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đà Nẵng rồi Bộ trưởng Bộ Lao động (1945), Bộ trưởng Bộ Tài chính (1946 – 1959), Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao (1948), Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (1958).
Từ năm 1962, ông được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Vương quốc Lào trong suốt 15 năm liên tục.
LÝ THƯỜNG KIỆT (1019 – 1105). Anh hùng dân tộc, nhà quân sự lỗi lạc thời Lý, người phường Thái Hòa, Thăng Long – nay là Hà Nội, là người tinh thông văn, võ, tên thật là Ngô Tuấn, được ban họ vua và được phong làm Phụ quốc Thái úy đời Lý Nhân Tông.
Ngày 27-10-1075, Lý Thường Kiệt với cương vị người đứng đầu quân đội đã chủ động mang quân tiến đánh thành Ung Châu trước khi quân Tống chuẩn bị tiến đánh nước ta. Sau đó, ông rút quân về bố phòng ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) sẵn sàng đón đánh quân Tống.
Trong những năm 1076 – 1077, Lý Thường Kiệt là người chỉ huy và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống.
M
MÁC, CÁC (Karl Marx) (1818 – 1883). Lãnh tụ vĩ đại và người thầy của giai cấp công nhân quốc tế, người sáng lập chủ nghĩa cộng sảnkhoa học.
C.Mác không chỉ là nhà lý luận thiên tài mà còn là nhà cách mạng vĩ đại. Năm 1847, ông gia nhập Liên minh những người cộng sản. Năm 1864, ông là người sáng lập và là linh hồn của Quốc tế thứ I. Năm 1848, C.Mác cùng với Ph.Ăngghen hoàn thành tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản – Cương lĩnh có tầm quan trọng đặc biệt, đầu tiên của giai cấp vô sản. Sau đó, C.Mác hoàn thành bộ Tư bản (tập I, xuất bản năm 1867; tập II, III xuất bản sau khi C.Mác qua đời với sự cộng tác của Ph.Ăngghen vào các năm 1885 và 1894). Cùng với hàng loạt tác phẩm khác của mình, bộ Tư bản của C.Mác đã chứa đựng những nguyên lý quan trọng của chủ nghĩa cộng sản khoa học, trong đó, có học thuyết về giá trị thặng dư, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử… Từ sự phân tích sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, C.Mác đã chỉ rõ sự phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại là đi tới chủ nghĩa cộng sản.
MÁCSAN, GIOÓCGIƠ (George Marshall) (1880 – 1959). Đại tướng Mỹ (1944), Tham mưu trưởng lục quân Mỹ từ năm 1939, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ (1947 – 1948), tác giả của “Kế hoạch Mácsan”.
Trong thời gian là quốc vụ khanh (1950 – 1951), G.Mácsan là một trong những người tích cực thi hành chiến lược “chiến tranh lạnh” chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, là một trong những người đề xướng việc thành lập Khối liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO).
MAO TRẠCH ĐÔNG (1893 – 1976). Quê ở huyện Tương Đàm, Hồ Nam (Trung Quốc).
Sau khởi nghĩa Vũ Xương năm 1911, tham gia Tân quân Hồ Nam. Một trong những người sáng lập Tân dân học hội (4-1918), sau đó, lên Bắc Kinh làm trợ lý thư viện Trường Đại học Bắc Kinh. Năm 1919, về Hồ Nam lãnh đạo phong trào phản đế phản phong, sáng lập và chủ biên tờ Tương giang bình luận. Năm 1920, đứng ra tổ chức Văn hóa thư xã và Hội Nghiên cứu Nga. Tháng 7-1921, đại biểu nhóm cộng sản Trường Sa dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau đó, phụ trách Bí thư Khu ủy khu vực Hồ Nam,…
Tại Đại hội III Đảng Cộng sản Trung Quốc (6-1923), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Trung ương Cục, là Bí thư Trung ương Cục kiêm phụ trách công tác tổ chức.
Năm 1924, giúp Tôn Trung Sơn cải tổ hoạt động của Quốc dân Đảng. Tại Đại hội I và II của Quốc dân Đảng, được bầu là Ủy viên dự khuyết, làm Tổng biên tập tờ Tuần báo chính trị của Quốc dân Đảng. Tháng 11-1926, là Bí thư Ủy ban nông dân của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu là Ủy viên Trung ương dự khuyết (1927), Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương (1928). Tại Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khóa VI) trúng cử Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, rồi Ủy viên chính thức Bộ Chính trị (1933).
Năm 1931, Mao Trạch Đông trúng cử Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương nước Cộng hòa Xôviết Trung Hoa và Chủ tịch Chính phủ dân chủ công nông Trung ương. Sau đó, tham gia lãnh đạo cuộc Vạn lý trường chinh (10-1934). Tại Hội nghị Tuân Nghĩa, được bầu vào Thường vụ Bộ Chính trị (1-1935), là Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương (12-1936), làm Chủ tịch Bộ Chính trị và Chủ tịch Ban Bí thư Trung ương (2-1943).
Tháng 9-1949, Hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc lần thứ nhất bầu ông làm Chủ tịch Chính phủ nhân dân Trung ương và Chủ tịch Hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc. Mao Trạch Đông có nhiều lần gặp gỡ, trao đổi, hội đàm với Hồ Chí Minh.
N
NAVA, HĂNGRI (Henri Navarre). Sinh năm 1898, Đại tướng Pháp, từng tham gia đàn áp nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa Pháp ở châu Phi như: Xiri, Marốc, Angiêri, v.v.. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, H.Nava được cử làm Tham mưu trưởng lục quân Khối liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO).
Tháng 5-1953, H. Nava được Chính phủ Pháp cử sang làm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Chính H. Nava vạch ra một kế hoạch quân sự hòng bình định Đông Dương trong 18 tháng. Nhưng ngay sau thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ, Kế hoạch Nava bị phá sản và Nava bị triệu hồi về nước (6-1954).
NÊRU, GIAOAHARƠLAN (Jawaharlal Nehru) (1889 – 1964). Nhà hoạt động chính trị và nhà nước nổi tiếng của Ấn Độ. J.Nêru là học trò và người kế tục sự nghiệp của M.Găngđi trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của Ấn Độ.
Năm 1912, J.Nêru gia nhập Đảng Quốc đại và là Ủy viên Ủy ban toàn Ấn Độ của Đảng. Năm 1929, ông là Tổng Thư ký của Đảng và là Chủ tịch Đảng trong các năm 1929 – 1930, 1935, 1936 – 1937, 1946, 1951 – 1954. Ông là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao (1946). Khi Ấn Độ tuyên bố độc lập (1947), ông giữ chức Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. J.Nêru là người có nhiều đóng góp vào sự nghiệp hòa bình thế giới. Ông là một trong những người đề xướng năm nguyên tắc chung sống hòa bình tại Hội nghị Băngđung (Inđônêxia) và là một trong những người sáng lập Tổ chức các nước Không liên kết.
NGÔ ĐÌNH DIỆM (1901 – 1963). Quê ở tỉnh Quảng Bình. Đã học đỗ Thành chung, tốt nghiệp trường Hậu bổ, làm Tri huyện Hương Trà, Tri phủ Hải Lăng, Quản đạo Ninh Thuận, rồi Thượng thư Bộ Lại (4 tháng) trong Chính phủ Nam triều (1933).
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Nhật lập Chính phủ Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm vào miền Nam ở với anh là Ngô Đình Thục, Giám mục địa phận Vĩnh Long. Từ năm 1950 đến năm 1954, Ngô Đình Diệm qua Nhật, Italia rồi đến Mỹ, Bỉ, Pháp. Trong thời gian này Ngô Đình Diệmđược Hồng y giáo chủ Spenman đỡ đầu, liên hệ với nhiều chính khách.
Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Chính phủ Mỹ vận động Pháp và Bảo Đại chấp nhận để Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng ở miền Nam. Tháng 10-1955, với thủ đoạn “trưng cầu dân ý”, Ngô Đình Diệm đã lật Bảo Đại lên làm Tổng thống, cầm đầu “Chính phủ Việt NamCộng hòa”. Ngô Đình Diệm không chỉ phá hoại Hiệp định Giơnevơ mà còn thi hành đường lối chia cắt Bắc Nam, “chống cộng”, đàn ápphong trào dân chủ, đàn áp tôn giáo,… Cùng với chế độ gia đình trị, Ngô Đình Diệm liên tiếp bị phản đối và bị bắn chết trong vụ đảo chính ngày 2-11-1963.
NGUYỄN LƯƠNG BẰNG (tức Sao Đỏ) (1904-1979). Quê ở xã Thanh Tùng, Thanh Miện, Hải Dương. Khi lớn lên, làm công nhân tàu biển. Năm 1925, gặp Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc) và bắt đầu hoạt động cách mạng, được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cử về nước hoạt động. Năm 1928, từ Hải Phòng, được tổ chức phái đi công tác tại Hồng Kông, Quảng Châu, Thượng Hải. Ông gia nhập nhóm cộng sản đầu tiên của người Việt Nam ở Trung Quốc.
Năm 1931, bị mật thám Pháp bắt đưa về nước và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Năm 1932, vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1933, lại bị thực dân Pháp bắt, bị kết án tù chung thân và đày đi Sơn La. Năm 1943, lại vượt ngục và trở về hoạt động cách mạng. Năm 1944, được Đảng chỉ định làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác tài chính và binh vận. Năm 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng, được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám, liên tục là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông là Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Ông đã lần lượt giữ các chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Liên Xô; Tổng Thanh tra của Chính phủ. Tại Quốc hội khoá III, kỳ họp thứ năm, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI đã bầu ông làm Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
NGUYỄN HUỆ – QUANG TRUNG (1753 – 1792). Anh hùng dân tộc, nhà quân sự thiên tài của nước ta thế kỷ XVIII.
Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nhân dân Tây Sơn, Bình Định (1781), sau đó, phát triển thành cuộc chiến tranh nông dân trong cả nước, lật đổ chế độ phong kiến nhà Nguyễn ở Đàng Trong, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến Xiêm (1784 – 1785), lãnh đạo nghĩa quân lật đổ chế độ phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài, xóa bỏ triều đại phong kiến nhà Lê mục nát (1786).
Trước sự xâm lược của phong kiến Mãn Thanh, cuối năm, tại Kinh đô Phú Xuân (Huế), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, thống lĩnh quân đội mở cuộc hành quân thần tốc ra Bắc. Chỉ trong 5 ngày đêm, đầu Xuân Kỷ Dậu (1789), quân đội của Quang Trung đã quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, khôi phục nền độc lập, thống nhất của nước ta.
NGUYỄN VĂN HUYÊN (1908 – 1975). Giáo sư, tiến sĩ văn học. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, làm Giám đốc Vụ Đại học kiêm Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội. Từ tháng 11-1946, làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Ông là đại biểu Quốc hội các khoá II, III, IV, V; Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
NGUYỄN VĨNH THỤY (1913 – 1998). Niên hiệu Bảo Đại – ông vua cuối cùng của triều đình phong kiến nhà Nguyễn (ở ngôi từ năm 1925 đến tháng 8-1945). Từ tháng 9-1945, Bảo Đại được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm Cố vấn của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 3-1946, Bảo Đại được cử sang Trùng Khánh thực hiện chính sách giao hảo của Chính phủ ta với chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó đi Hồng Kông và không về nước. Năm 1949, Bảo Đại được Pháp đưa về làm Quốc trưởng chính phủ bù nhìn. Đến tháng 10-1955, Bảo Đại bị Mỹ phế truất và đưa Ngô Đình Diệm thay thế.
P
PHẠM VĂN ĐỒNG (1906 – 2000). Quê xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tham gia phong trào học sinh sinh viên để tang chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Năm 1926, dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu. Năm 1927, về hoạt động ở Nam Kỳ và được cử vào Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, bị bắt và bị kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo. Năm 1936, được trả lại tự do, ra hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940-1941, hoạt động tại miền Nam Trung Quốc, sau đó trở về nước tham gia tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng Cao – Bắc – Lạng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, được cử vào Chính phủ lâm thời làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, được bầu vào Quốc hội liên tục từ khóa I đến khoá VII.
Từ năm 1947, được cử giữ nhiều trọng trách: Đại diện Chính phủ tại Nam Trung Bộ, Phó Thủ tướng Chính phủ (1949), rồi Thủ tướng Chính phủ (1955), sau đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến năm 1987. Ông là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tham gia các Hội nghị Phôngtennơblô (1946), Hội nghị Giơnevơ (1954), Hội nghị Băngđung (1955) và nhiều hội nghị quốc tế khác.
Ông là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng (1947), Ủy viên chính thức (1949). Từ năm 1951, ông liên tục được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng cho đến năm 1986. Từ năm 1987 đến năm 1991 là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
PHAN ANH (1912 – 1990). Người xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông là Chủ tịch Tổng hội sinh viên, tốt nghiệp Khoa Luật Đại học Đông Dương, luật sư và giáo sư Trường tư thục Thăng Long (Hà Nội), thành viên tích cực của cuộc vận động truyền bá quốc ngữ và phong trào thanh niên.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, là Chủ tịch Ủy ban kiến thiết quốc gia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ kháng chiến, Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đi dự Hội nghị Phôngtennơblô ở Pháp (1946). Trong kháng chiến chống Pháp, từng là Bộ trưởng Kinh tế,
Bộ trưởng Công thương, Bộ trưởng Thương nghiệp, Bộ trưởng Ngoại thương. Ông được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa I và khoá II, Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá IV. Là đại biểu Quốc hội từ khoá II tới khoá VIII. Luật sư Phan Anh còn là một trong những người sáng lập Hội Luật gia Việt Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Luật gia quốc tế, Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Hoà bình thế giới.
PHÊĐÔRỐP, A. P. Sinh năm 1901, là một nhà lãnh đạo phong trào du kích ở Ucraina (thuộc Liên Xô trước đây) trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô. Là đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1927; từ năm 1938 là Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Trécnigốp (từ tháng 9-1941 hoạt động bí mật), là Tư lệnh Binh đoàn du kích Trécnigốp. Phêđơrốp hai lần là Anh hùng Liên Xô. Từ năm 1957 đến năm 1979 là Bộ trưởng trong Chính phủ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Ucraina, đại biểu Xôviết tối cao Liên Xô.
PÍCH, VINHEM (Wilhelm Pieck) (1876 – 1960). Lãnh tụ của Đảng và Nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức, chiến sĩ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Năm 1895, V.Pích gia nhập Đảng Xã hội Dân chủ Đức, là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Đức (1918) và Đảng Xã hội thống nhất Đức (1946). Năm 1918, là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1935, là Chủ tịch Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Đức. V.Pích là Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản (1928 – 1943), rồi Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản (1931 – 1943). Thời kỳ 1943 – 1945, là một trong những người lãnh đạo Ủy ban “nước Đức tự do”, là một trong hai Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức (1946 – 1954), là Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ Đức (10-1949).
T
TÁTXINHI, ĐỜ LÁT ĐỜ (Jean-Marie, de Lattre de Tassigny) (1889 – 1952). Đại tướng Pháp, nguyên Tổng Thanh tra quân đội Pháp.
Chỉ huy Quân đoàn I Pháp (1944 – 1945), Đ.Tátxinhi được cử sang làm Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương (1950).
Hòng cứu vãn thế thất bại của Pháp ở Đông Dương, Đ.Tátxinhi chủ trương đẩy mạnh chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Sau khi phát triển quân ngụy, tăng cường khối cơ động chiến lược và xây dựng phòng tuyến boongke vây quanh đồng bằng Bắc Bộ, Đ.Tátxinhi mở cuộc tiến công ra Hòa Bình (14-11-1951) nhưng đã bị quân dân ta đánh bại, làm cho kế hoạch đó hoàn toàn phá sản. Một tuần sau Đ.Tátxinhi về Pháp chữa bệnh và chết.
TÔN ĐỨC THẮNG (1888-1980). Người xã Mỹ Hoà Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Năm 1910, ông làm thợ trong xưởng máy của Hải quân Pháp tại Sài Gòn. Năm 1912, ông tổ chức cuộc bãi công ở Nhà máy sửa chữa tàu thuỷ Ba Son; sau sự kiện đó, bị mật thám Pháp truy bắt phải bỏ trốn sang Pháp, làm thợ máy trong lực lượng hải quân Pháp.
Năm 1919, ông tham gia cuộc binh biến của công nhân và thuỷ thủ Pháp tại biển Đen nhằm chống lại cuộc chiến tranh can thiệp phản cách mạng của bọn đế quốc vào nước Cộng hoà Xôviết Nga.
Năm 1920, ông trở về nước, xây dựng Công hội bí mật tại Sài Gòn – Chợ Lớn và lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son tháng 8-1925 thắng lợi. Năm 1927, được cử vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Cuối năm 1929, trong vụ án đường Bácbiê (Sài Gòn), ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo.
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, được chính quyền cách mạng đón về, ông tham gia ngay vào cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Bộ.
Năm 1951, ông là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, năm 1955 là Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ năm 1960, ông là Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tạ thế, ông được cử giữ chức Chủ tịch nước và giữ chức vụ đó cho đến khi qua đời. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng và nhiều huân chương cao quý khác.
TƠRUMAN, HARI (Harry Truman) (1884 – 1972). Thuộc Đảng Dân chủ Mỹ, là Tổng thống thứ 33 của nước Mỹ (1945 – 1953), người hạ lệnh ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima và Nagadaki (Nhật Bản). H.Truman là một trong những người khởi xướng đường lối “chiến tranh lạnh” sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
TRẦN CANH (1903 – 1961). Người Tương Hương, Hồ Nam (Trung Quốc), gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1922), vào học Trường Quân sự Hoàng Phố (1924, khóa I), đi học ở Liên Xô (1926), tham gia khởi nghĩa Nam Xương (1927), giữ chức Tiểu đoàn trưởng. Sau đó, đi Thượng Hải làm công tác tình báo… Tham gia Vạn lý trường chinh (1934), sau đó, làm Tư lệnh Quân khu Thái Nhạc.
Sau năm 1949, làm Phó Tư lệnh Quân khu Tây Nam kiêm Tư lệnh Quân khu Vân Nam. Chủ tịch Chính phủ nhân dân tỉnh Vân Nam, Phó Tư lệnh Quân chí nguyện nhân dân Trung Quốc tại Triều Tiên, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, được phong hàm Đại tướng năm 1955.
Trần Canh là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa VII, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa VIII.
Những năm 1949 – 1950, Trần Canh được cử giữ chức cố vấn quân sự bên cạnh Quân đội nhân dân Việt Nam, nhiều lần được làm việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
TRẦN ĐĂNG NINH (1909-1955). Nhà hoạt động Đảng và Nhà nước Việt Nam, là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1936. Năm 1940, tham gia lãnh đạo phong trào đấu tranh vũ trang ở Bắc Sơn. Năm 1941, là Ủy viên Trung ương Đảng. Năm 1945, là Uỷ viên Ủy ban khởi nghĩa. Năm 1947, phụ trách công tác kiểm tra Đảng và sau đó làm Phó Tổng thanh tra Chính phủ. Từ năm 1950, là Tổng cục trưởng Tổng cục Cung cấp Bộ Quốc phòng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, ông được bầu lại làm Uỷ viên Trung ương Đảng.
TRẦN QUỐC TUẤN (Trần Hưng Đạo) (? – 1300). Thuộc dòng dõi hoàng tộc, quê ở Nam Định. Ông là nhà quân sự thiên tài thời Trần, anh hùng dân tộc. Với cương vị Quốc công tiết chế (Tổng Chỉ huy quân đội), Trần Quốc Tuấn là người lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên thắng lợi thế kỷ XIII. Ông luôn luôn coi lợi ích dân tộc là tối cao, chủ động giải quyết mọi sự bất hòa trong hoàng tộc nhằm củng cố khối đoàn kết dân tộc. Ông là tác giả Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư – những kiệt tác binh thư trong lịch sử nước nhà. Sau khi mất, Trần Quốc Tuấn được truy phong là Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công, tước Nhân Võ Hưng Đạo Đại Vương.
TRƯỜNG CHINH (1907-1988). Tên thật là Đặng Xuân Khu, nhà hoạt động cách mạng, nhà tư tưởng lý luận, nhà thơ (bút danh Sóng Hồng), nhà báo, quê ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925, gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1927. Từ năm 1936 đến năm 1939, là Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương trong Ủy ban Mặt trận dân chủ Bắc Kỳ. Năm 1940, là quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương và năm 1951 được bầu lại là Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1958, là Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ tịch Ủy ban Khoa học Nhà nước. Tại Đại hội III (9-1960), Đại hội IV (12-1976), Đại hội V (3-1982) được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là Ủy viên Bộ Chính trị. Từ năm 1960 đến năm 1981 là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Năm 1981 được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tháng 7-1986 đến trước Đại hội VI của Đảng, lần thứ ba ông được bầu vào cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
TƯỞNG GIỚI THẠCH (1887 – 1975). Người tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Học quân sự ở Nhật. Năm 1923, giữ chức Tham mưu trưởng Tổng hành dinh Chính phủ quân sự Quảng Đông. Năm 1924, được Tôn Trung Sơn cử đi khảo sát về quân sự ở Liên Xô, rồi về nước giữ chức Hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố. Sau khi Tôn Trung Sơn mất, Tưởng Giới Thạch giữ chức Chủ tịch Ban Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng, Tổng Tư lệnh quân cách mạng quốc dân. Năm 1943, tái nhiệm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân Đảng. Năm 1948, giữ chức Tổng thống. Tháng 1-1949, Tưởng Giới Thạch từ chức; cùng năm rút ra Đài Loan tiếp tục giữ chức Tổng tài Quốc dân Đảng và Tổng thống Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan.
V
VI QUỐC THANH (1913 – 1989). Người dân tộc Choang, Quảng Tây (Trung Quốc), gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1931), tham gia Vạn lý trường chinh (1934). Trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, ông lần lượt giữ các chức vụ: Phó Hiệu trưởng Phân hiệu Trường Đại học quân chính kháng Nhật, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 9 thuộc Sư đoàn 3 Tân tứ quân, Sư đoàn phó Sư đoàn 4, Tân tứ quân.
Thời kỳ chiến tranh giải phóng, là Tư lệnh Binh đoàn Tô Bắc dã chiến quân Hoa Đông, Chính ủy Binh đoàn số 10 dã chiến quân số 3.
Năm 1950, được cử sang Việt Nam làm Trưởng đoàn cố vấn quân sự. Năm 1955, được phong quân hàm Thượng tướng.
Sau năm 1956, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Tây, Chủ tịch Chính phủ kiêm Bí thư thứ nhất Khu ủy Khu tự trị Choang Quảng Tây, Chính ủy Quân khu Quảng Tây, Bí thư thứ hai Trung Nam Cục Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Quảng Đông, Bí thư thứ nhất Quân khu Quảng Châu, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng…
Sau năm 1965, là Phó Chủ tịch Hội nghị chính trị hiệp thương toàn quốc khóa IV, khóa V.
Tại Đại hội VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông được bầu làm ủy viên dự khuyết, sau chuyển lên ủy viên chính thức. Từ Đại hội IX đến Đại hội XII Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông đều được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị.
VÕ NGUYÊN GIÁP. Sinh ngày 25-8-1911, tại làng An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình. Sớm tham gia phong trào yêu nước và gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng. Thời kỳ 1936-1939, hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940, sang Trung Quốc, được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau đó cùng Người trở về tham gia xây dựng căn cứ địa ở Cao – Bắc – Lạng. Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại Hội nghị toàn quốc của Đảng năm 1945 ở Tân Trào (Tuyên Quang), được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được cử giữ nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị trù bị Đà Lạt. Năm 1948 được phong quân hàm Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ông được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy quân đội qua nhiều chiến dịch từ Việt Bắc, Thu Đông 1947 đến Biên giới 1950, Điện Biên Phủ 1954, và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975.
Từ Đại hội II (2-1951) đến Đại hội IV (12-1976) liên tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Đại hội V (3-1982) được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII. Từ năm 1955 được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ, sau này là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng liên tục cho đến năm 1991. Hiện là Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
VÔRÔSILỐP, KLÊMENT EPHÊMÔVÍCH (1881 – 1969). Nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô, Nguyên soái Liên Xô (1935). Ông gia nhập Đảng Xã hội Dân chủ Nga năm 1903 và đứng về phía những người bônsêvích. K.E.Vôrôsilốp là một trong nhữngngười tổ chức và lãnh đạo Hồng quân, Anh hùng vệ quốc Liên Xô, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước Liên Xô: Ủy viên Bộ Chính trị (1926 – 1960), Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (1956), Ủy viên nhân dân phụ trách quân sự và hải quân (1925), Ủy viên nhân dân quốc phòng Liên Xô (1934 – 1940), Ủy viên Hội đồng Quốc phòng Nhà nước (1941 – 1945), Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (1946), Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô (1953 – 1960)…
X
XALĂNG, RAUN (Raoul Salan) (1899 – 1984). Đại tướng trong quân đội thực dân Pháp, đã nhiều lần sang Đông Dương, kể từ những năm 20 của thế kỷ XX, khi còn là trung úy. Tháng 10-1947, R.Xalăng trực tiếp chỉ huy chiến dịch tiến công lên Việt Bắc, nhưng bị thất bại và bị triệu hồi. Từ cuối năm 1950, trở lại Đông Dương làm Phó tướng của Đ.Tátxinhi. Từ năm 1952, giữ chức Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Do liên tiếp bị thất bại trong các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc (1952) và Thượng Lào (1953), R.Xalăng lại bị gọi về nước (5-1953).
XANHTƠNY, GIĂNG (Jean Sainteny) (1907 – 1978). Là nhân viên ngân hàng ở Đông Dương từ năm 1929 đến năm 1931 và ở Pari từ năm 1932 đến năm 1939, rồi phục vụ trong phong trào kháng chiến chống phát xít ở Pháp. Năm 1945, đến Trung Quốc, cầm đầu phái đoàn quân sự Pháp tại Côn Minh gọi tắt là M.M5; J.Xanhtơny đến Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1947. Trong thời gian này, J.Xanhtơny có nhiều lần tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là thành viên của Pháp tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954. Sau năm 1954, J.Xanhtơny là Tổng lãnh sự Pháp đầu tiên tại Hà Nội. Ông là người tổ chức các cuộc tiếp xúc bí mật giữa Henry Kítxinhgiơ và đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Pari năm 1969.
XTALIN, V.V. (1879 – 1953). Nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô. Năm 1898, gia nhập Đảng Công nhân xã hội – dân chủ Nga rồi trở thành đảng viên bônsêvích sau Đại hội lần thứ II của Đảng. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương do Hội nghị đại biểu toàn Nga lần thứ VI, 1912 bầu ra, được cử vắng mặt vào Ban Chấp hành Trung ương.
Thời kỳ chuẩn bị tiến hành cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Xtalin là Ủy viên trong Trung tâm quân sự cách mạng do Trung ương thành lập để lãnh đạo khởi nghĩa.
Thời kỳ nước ngoài vũ trang can thiệp và nội chiến, Xtalin là Ủy viên Hội đồng Quân sự cách mạng. Năm 1922, được bầu là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1941, Xtalin được cử làm Chủ tịch Hội đồng Ủy viên nhân dân Liên Xô.
Trong chiến tranh vệ quốc (1941 – 1945), là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng và là Ủy viên nhân dân Bộ Quốc phòng Liên Xô, Tổng Tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô. Ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm lý luận.
XUPHANUVÔNG (1909 – 1995). Nhà hoạt động của Đảng và Nhà nước Lào, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Chủ tịch Mặt trận Lào xây dựng đất nước (Neo Lào Hắcxạt).
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Xuphanuvông đã giữ nhiều trọng trách: Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào, Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắcxạt). Ông là đại biểu các lực lượng cách mạng Lào tham gia các Chính phủ liên hiệp Lào lần thứ nhất (1957 – 1958), lần thứ hai (1962 – 1964) và lần thứ ba (1974 – 1975). Ông là người có nhiều cống hiến to lớn vào việc xây dựng và củng cố tinh thần đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị Lào – Việt.
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)
Bạn phải đăng nhập để bình luận.