Vì lý do sức khỏe và hoàn cảnh gia đình (bố mẹ già yếu, mấy anh, em đã đi B), vài lần bác sỹ Nguyễn Thế Khởi nộp đơn tình nguyện đi B nhưng đều bị từ chối. Thế nên, ông không nghĩ mình lại được có mặt trong đoàn người tham gia tiếp quản Sài Gòn sau ngày 30.4.1975 lịch sử…
Sau khi ký Hiệp định Paris, ai cũng hiểu cuộc chiến đang vào giai đoạn cuối, nhưng vẫn không kém phần ác liệt. Miền Nam đã có một số vùng được giải phóng, rất cần bác sỹ bảo vệ sức khỏe cho quân và dân tiếp tục chiến đấu và sản xuất. Vì thế, cuối tháng 3.1972, bác sỹ Nguyễn Thế Khởi, khi đó 24 tuổi, là y sỹ khoa hồi sức cấp cứu tại Bệnh viện Thanh Hà, Hải Dương, cùng một số y, bác sỹ miền Bắc được triệu tập về Trường Bồi dưỡng cán bộ 105 ở Hòa Bình, thuộc Ban Thống nhất Trung ương, chuẩn bị đi B. Hồi đó, bộ đội chủ yếu đóng quân ở vùng rừng núi, bệnh sốt rét nhiều, nên trước khi vào Nam, ông và đồng nghiệp được tập huấn về căn bệnh này. Sau một thời gian rèn thể lực và tập huấn nghiệp vụ, các y, bác sỹ cùng hàng chục giáo viên, kỹ sư… lên đường, với niềm tin miền Nam sẽ sớm được giải phóng, non sông sớm thu về một mối. Mặc dù khi đó đã có đường Tây Trường Sơn, nhiều chặng đi ôtô, nhưng cũng nhiều đoạn mọi người phải đi bộ, ròng rã gần 6 tháng trời, đoàn mới đến Ban Dân y (BS67)å của Trung ương Cục miền Nam (N3072), thuộc Tây Ninh hiện nay. Sau 5 – 6 tháng đóng tại đây (Cứ C30), ông Nguyễn Thế Khởi được điều lên căn cứ Bù Đốp, Lộc Ninh – hai huyện đã giải phóng, vừa phòng chống sốt rét cho nhân dân, vừa nghiên cứu mùa truyền bệnh của muỗi, sử dụng thuốc diệt muỗi… Ở đó chừng 2 năm, ông trở lại căn cứ ở Tây Ninh.
Trước ngày 30.4.1975, ông Nguyễn Thế Khởi và một số đồng nghiệp được tập trung học chính trị, không ai nói nhưng ai cũng biết là để chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn sau giải phóng. Các ông học chính sách của Chính quyền Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam về sử dụng người của chế độ cũ. Theo đó, với những người hưởng nhiều đặc ân của chế độ cũ, phải có thái độ kiên quyết, dứt khoát, còn với những người chỉ làm công ăn lương thì có thái độ thân thiện, tận dụng kiến thức, kinh nghiệm của họ. Thời gian tập huấn cũng cung cấp kiến thức về phong tục, tập quán của người dân để việc tiếp cận, làm việc sau này dễ dàng và hiệu quả hơn.
Sài Gòn ngày 30.4.1975 Ký họa của họa sỹ Trung Sơn
Ngày 28.4.1975, các đoàn cán bộ từ Tây Ninh đồng loạt tiến về Sài Gòn, tập trung ở vùng ven thành phố như Trảng Bàng, Củ Chi. Nghe ngóng tình hình chiến sự qua radio, ai cũng đoán già đoán non giờ G sắp đến, nhưng không nghĩ nó lại đến sớm thế. Trưa 30.4.1975, tin quân ta đánh chiếm dinh Độc lập được thông báo qua radio và qua những người làm công tác quân quản. Mọi người đều mừng vui khôn tả. Sau mấy chục năm chiến tranh, Sài Gòn đã được giải phóng, Bắc – Nam sum họp một nhà.
Chiều cùng ngày, từng đoàn người tiến vào tiếp quản thành phố. Đến sáng 1.5.1975, các cán bộ y tế được đưa đến tiếp quản Nha y tế công cộng – bộ phận y tế dự phòng của chính quyền Sài Gòn. Bác sỹ Nguyễn Thế Khởi nhớ lại: những người có trách nhiệm của Nha y tế công cộng vẫn ở đó đón chúng tôi và bàn giao, nhưng nhiều nhân viên đã sợ hãi, bỏ đi. Sau đó, chúng tôi phải mời họ đến, phỏng vấn, kê khai và phân chia các nhóm đối tượng cụ thể. Nhiều người được sử dụng lại, họ đã làm tốt công việc của mình, gắn bó và cống hiến cho đến khi nghỉ hưu. C30 chỉ có khoảng 30 người, nhưng phải tiếp quản 21 tỉnh, thành, nếu không dựa vào lực lượng này, chương trình phòng chống sốt rét nói riêng, việc bảo vệ sức khỏe cho quân và dân nói chung những năm mới giải phóng khó đạt kết quả.
Phải hơn một tháng sau ngày 30.4.1975, ở quê nhà mới nhận được thư ông Khởi – một niềm vui xen lẫn tự hào và cả mong ngóng ngày ông trở về. Nhưng sau giải phóng, số bộ đội từ trong rừng ra mang theo ký trùng sốt rét, nhân sự bị xáo trộn, TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang… bùng nổ dịch sốt rét. Lực lượng y tế của các tỉnh còn mỏng, nên những cán bộ y tế từ miền Bắc vẫn phải tiếp tục công tác điều trị, chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân, đồng thời tham gia chống dịch. Phấn khởi vì đất nước thống nhất, cộng với sức trẻ và nhiệt huyết, ai cũng hăng hái làm việc, nguyện vọng về Bắc tạm gác sang một bên. Thời gian cứ thế trôi đi, ông Khởi không nghĩ mình lại gắn bó với thành phố đến tận bây giờ, được chứng kiến những đổi thay, phát triển của mảnh đất này. Gia đình ông từ ngoài Bắc cũng đã chuyển vào TP Hồ Chí Minh. Ông tiếp tục sự nghiệp phòng chống sốt rét cho đến ngày nghỉ hưu.
Giờ đây, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, bác sỹ Nguyễn Thế Khởi và đồng nghiệp công tác tại Ban Dân y miền Nam năm xưa lại tập trung, ôn lại một thời khó khăn, gian khổ nhưng đầy hào hùng. Nhà truyền thống Ban Dân y Nam bộ được xây dựng ở căn cứ Chàng Riệc, trên chính quả đồi ngày xưa, để lưu giữ những kỷ vật, ký ức giai đoạn đó; đồng thời góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống của cha ông.
Ng.Anh ghi
daibieunhandan.vn