QĐND Online – Trong căn nhà nhỏ ở ngõ 365 phố Mai Dịch, Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh, nguyên Chính ủy Trung đoàn 9, Chính ủy Quân đoàn 1, Hệ trưởng Hệ Quốc phòng (Học viện Quốc phòng) sau này, say sưa kể với tôi kỷ niệm đánh TP Huế hồi Tết Mậu Thân 1968. Ông tham gia đợt chiến đấu ấy với cương vị là Chính trị viên Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 9, Sư đoàn 968), lực lượng được Bộ điều động tăng cường cho K815 của Thành đội Huế.
22 dũng sĩ xóm Siêu Quần
Khoảng đầu tháng 10-1967, đơn vị chúng tôi gồm: Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 đang đứng chân ở sông Hai Gánh, phía Tây của TP Huế thì được trên phổ biến, thời gian tới sẽ đánh vào TP Huế. Nghe phổ biến như vậy ai trong chúng tôi cũng vui. Những ngày sau đó, chúng tôi tích cực làm công tác chuẩn bị với khí thế rất cao. Chúng tôi đi xuống Hương Thủy để lấy gạo, đạn và vũ khí. Đơn vị tổ chức tập huấn quán triệt nhiệm vụ, đồng thời huấn luyện bổ sung các hình thức chiến đấu. Đội ngũ cán bộ được phổ biến kỹ về các mục tiêu tác chiến và các yêu cầu phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Tiểu đoàn 1 của tôi được giao đảm nhiệm tiêu diệt khu vực Tam giác Huế, bao gồm các mục tiêu: Nhà ga, Tòa nhà quốc hội Trung phần (bây giờ là khách sạn Thuận Hóa), Dinh tỉnh trưởng và nhà lao Phủ Thừa, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy.
Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh say sưa kể chuyện
Chúng tôi vốn chẳng lạ kiểu tác chiến của bọn Mỹ, ngụy. Vì Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 đã được điều động vào tăng cường cho K815 của Thành đội Huế từ tháng 12-1966. Từ lúc vào Huế cho đến khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 diễn ra, đơn vị chúng tôi ở cùng dân; cùng dân chống càn, chống bình định và nhổ chốt. Chúng tôi đã nhiều lần chạm chán với quân Mỹ, điển hình là trận đánh lại 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ có pháo binh, xe tăng, cơ giới yểm trợ càn vào làng Siêu Quần (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền) của Trung đội 6, Đại đội 2 chúng tôi các ngày từ 20 đến 23-7-1967. Trung đội 6 lúc đó có 22 người mà đã đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch, thu nhiều vũ khí trang bị. Sau mỗi đợt tiến công không có kết quả, địch lại cho pháo kích dội xuống làng Siêu Quần. Trước đó, nhân cơ hội bộ binh địch rút ra ta cũng bí mật rút theo, nên khi địch bắn pháo ta không bị thương vong. Khi địch chuẩn bị tiến công, ta rút về trước củng cố công sự trận địa và đánh lại chúng. Đêm đến, khi địch cố thủ trong các các vị trí dã chiến, ta tổ chức lực lượng đánh tiêu diệt và lại nhanh chóng rút đi. Kết thúc 3 ngày chống càn, 22 cán bộ, chiến sĩ Trung đội 6 đã tiêu diệt nhiều xe tăng bọc thép của quân địch nhưng nhiều chiến sĩ đã bị thương và hy sinh. Sau này, Quân khu Trị Thiên tuyên dương công lao của Trung đội 6, phong họ là “22 dũng sĩ xóm Siêu Quần”.
Phá nhà lao Phủ Thừa
Chiều 31-1-1968, đơn vị tôi bí mật hành quân vượt sông Nguyễn Biểu (một nhánh của sông Hương) sau đó lại bí mật vòng tránh để vượt đồn Nam Giao, vượt cầu An Cựu và vào Lăng Gia Long (phía Tây Huế) trú quân. Rạng sáng ngày 1-2-1968, đơn vị chúng tôi nổ súng tiến công địch. Đến trưa cùng ngày, Đại đội 1 và 3 của Tiểu đoàn 1 chiếm được nhà ga Huế và Tòa nhà quốc hội Trung phần. 6 giờ ngày 1-2, Đại đội 2 của tôi đánh chiếm và cắm được cờ giải phóng trên nóc Dinh tỉnh trưởng, sau đó chúng tôi đột phá nhà lao Phủ Thừa, nhưng không thành công do ta chưa nắm chắc được nguyên tắc bố phòng của địch.
Theo cơ sở báo cho ta thì nhà lao Phủ Thừa là nơi giam giữ khoảng hơn 2.200 người và có khoảng 100 cai ngục, ác ôn, lính bảo vệ. Đặc biệt, chúng đã gài bọc phá khắp nhà lao, nếu bị đánh mạnh, chúng sẽ cho nổ, tiêu diệt toàn bộ tù nhân và phá hủy nhà lao. Nhà lao có nhiều lớp hàng rào kiên cố bao bọc xung quanh, có hệ thống bốt canh và đại liên từ trên cao đánh xuống, rất lợi hại. Đến tối ngày 1-2, chúng tôi đánh thăm dò một lần nữa, nhưng vẫn không có kết quả. Từ sáng ngày 2-2, chúng tôi đã nhiều lần nghiên cứu và bàn phương án tác chiến, nhưng chưa lựa được phương án khả thi. Tối ấy, vào khoảng 20 đến 21 giờ, chúng tôi quyết định cử 1 tổ trinh sát gồm 7 đồng chí, do Phó đại đội trưởng Phạm Văn Nhang chỉ huy bí mật đi trinh sát. Rất may, sau đó chúng tôi bắt được một tên lính ngụy từ trong nhà lao trốn ra ngoài. Sau khi khai thác, chúng tôi đã động viên được tên này dẫn đường vào trong nhà lao. Phương án là cho 1 tiểu đội, do đồng chí Nhang trực tiếp chỉ huy vượt tường rào vào trong nhà lao. Tiểu đội được chia làm 2 tổ, tổ 1 đánh chiếm khu chỉ huy nhà lao; tổ 2 đánh ra cổng chính, hỗ trợ lực lượng chủ yếu mở cổng và tiến vào giải phóng tù nhân. Hiệu lệnh hiệp đồng là tiếng nổ ở bên trong.
Khoảng 3 giờ sáng ngày 3-2, chúng tôi triển khai đội hình xong. Gần 4 giờ sáng, khi bộc phá do tổ 2 bí mật gài ở trong nổ, bộ binh ở bên ngoài đánh mạnh vào cổng chính. Khi mở được cổng chính chúng tôi tràn vào, phối hợp với lực lượng bên trong tiêu diệt bọn địch. 30 phút sau chúng tôi mở được cửa các phòng giam tù nhân trong nhà lao. Tại đây, sau nhiều lần kêu gọi, các tù nhân mới ngóc đầu dậy và chỉ khi nhìn thấy quần áo; cờ đỏ, xanh quấn ở cánh tay trên các chiến sĩ quân giải phóng thì các tù nhân mới dám đứng lên. Vì bọn địch quy định, khi nghe tiếng súng, tất cả các tù nhân phải nằm úp mặt xuống đất, nếu ai ngẩng đầu lên sẽ bị bắn. Toàn bộ tường của các phòng đã bị địch ốp thuốc nổ, nếu tù nhân ồn ào là chúng điểm hỏa, từ nhân sẽ bị giết hại. Sau khi được giải phóng, các tù nhân đi tìm lính canh, cai ngục và ác ôn để tiêu diệt, chúng tôi phải liên tục ngăn cản, tuyên truyền, giải thích gần 4 giờ đồng hồ rất mệt mỏi thì các tù nhân mới thông; thành ra nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là bảo vệ bọn binh lính, cai ngục và ác ôn.
Đến sáng 3-2, lực lượng của Tiểu đoàn 1 và Thành đội Huế kéo đến, chúng tôi phải ghi tên, phân loại tù nhân; tuyên truyền chính sách của Mặt trận giải phóng; động viên họ phát hiện, tố cáo ác ôn và tham gia cùng lực lượng quân giải phóng chiến đấu. Có rất nhiều người tham gia vào các đơn vị phục vụ và trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu, riêng Đại đội 2 của tôi tiếp nhận thêm khoảng 70 người. Từ ngày 4 -2 trở đi, địch bắt đầu tổ chức phản kích quyết liệt, chúng tôi đã chiến đấu ngoan cường, chống lại hỏa lực và lực lượng địch đông gấp nhiều lần trong điều kiện hết sức khó khăn, thiếu đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men và cả nước uống. Trong thời gian ấy, có nhiều tấm gương chiến đấu rất dũng cảm, như đồng chí Khiêm, chiến sĩ B40, có ngày bắn tới 9 quả đạn (vượt 4 – 5 quả so với quy định) đến độ ù tai, người ngơ ngác. Đến ngày 24 và 25-2, chúng tôi rút khỏi TP Huế, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trên giao.
Thiếu tướng VŨ XUÂN SINH (kể) – MẠNH THẮNG (ghi)
qdnd.vn