Archive | 2012

Thủ khoa các trường đại học, học viện năm 2012 báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 26/8/2012, trong sắc nắng vàng rực rỡ của mùa thu Tháng Tám lịch sử, 107 thủ khoa tốt nghiệp các trường đại học, học viện và thủ khoa đầu vào trong kỳ thi tuyển sinh đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2012 đã tụ hội về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh để báo công với Bác về thành tích học tập của mình.

Thu khoa 2012 bao congThủ khoa tốt nghiệp các trường đại học,
học viện năm 2012 báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thầm nhuần lời dạy của Bác “Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập”; “Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự”; “ Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”, thế hệ sinh viên ngày nay tích cực học tập, lĩnh hội tri thức của nhân loại đóng góp công sức của mình vào phục vụ công cuộc xây dựng đất nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

107 thủ khoa năm nay là những thanh niên đã tốt nghiệp các trường đại học, học viện và dự thi tuyển đại học với số điểm cao nhất trong số hàng vạn sinh viên tốt nghiệp và thi tuyển đại học năm 2012 tại các khoa, ngành đào tạo của các trường thuộc thế hệ đào tạo tập trung, chính quy theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong số các thủ khoa tốt nghiệp các trường đại học, học viện năm 2012, có 40 người là đảng viên, 05 người vừa là thủ khoa tuyển sinh đại học vừa là thủ khoa tốt nghiệp, nhiều người là sinh viên nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhưng có tinh thần vươn lên, vượt khó trong học tập, đã có những công trình nghiên cứu khoa học, những đề tài, sáng kiến, giải pháp thiết thực, hiệu quả, được giải trong nước và quốc tế.

Thu khoa 2012 vieng BacThủ khoa tốt nghiệp các trường đại học,
học viện năm 2012 vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, các bạn đã vô cùng xúc động và vinh dự khi được về bên Lăng, đứng trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, kính dâng lên Người những thành tích học tập, nghiên cứu khoa học mà họ đã nỗ lực phấn đấu trong suốt thời gian qua và hứa với Bác: “Bước tiếp cha anh viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc, theo ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” sánh vai các cường quốc năm châu; nâng tầm Thủ đô Hà Nội xứng với truyền thống lịch sử ngàn năm văn hiến, trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá tầm cỡ khu vực và là niềm tự hào của mỗi người dân đất Việt”./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Các sự biến ở Trung Quốc (20-11-1926)

Của đặc phái viên chúng tôi

Quảng Châu, ngày 20-11-1926

Tình hình chung

Sự kiện nổi bật trong tuần qua là việc cải tổ cuối cùng hệ thống cai trị ở cấp tỉnh tại tỉnh Quảng Đông. Các viên chức được chọn ra để thực hiện kế hoạch mới, đã nhậm chức. Các biện pháp cần thiết cũng đã được thi hành và kết quả thì chẳng phải đợi lâu.

Các thành viên Chính phủ quốc dân đến Nam Xương không hàm ý là đã có quyết định dứt khoát sẽ dời trụ sở của Chính phủ về thành phố này hay về Vũ Xương. Như chúng tôi đã nói trong bài báo trước, sự di chuyển sẽ phụ thuộc vào kết quả hội nghị của đại diện Chính phủ với các tướng lĩnh quân sự, đứng đầu các đạo quân quốc gia và của đại biểu các tỉnh. Dư luận Trung Quốc tán thành chính sách này của Chính phủ, là sẽ không làm gì, không tiến hành những gì mà không được dân chúng ủng hộ.

Những chỉ thị của Hội đồng Chính phủ gửi các quan chức phụ trách hành chính cấp tỉnh trong các vùng do các lực lượng quốc gia đóng giữ đều yêu cầu củng cố các vùng lãnh thổ dưới sự kiểm soát của Quảng Châu. Các chỉ thị này, cho đến nay, đều được chấp hành nghiêm chỉnh và không có gì cho phép giả định rằng chúng sẽ không còn được chấp hành nghiêm chỉnh như thế nữa.

Sự thất bại của các đội quân chống quốc gia, do thống chế Tôn Truyền Phương chỉ huy ở Giang Tây đã loại bỏ hoàn toàn quyền lực của viên tướng này tại tỉnh đó. Thất bại này, xảy ra ngay khi thống chế Trương Tác Lâm triệu tập hội nghị quân sự ở Thiên Tân, dường như có gây được ảnh hưởng ít nhiều đến các sự biến ở miền Bắc. Chiến thắng của lực lượng quốc gia đối với quân đội của Tôn Truyền Phương làm thay đổi chính sách quân phiệt của Trương Tác Lâm. Trong khi giao cho phụ tá của mình là tướng Trương Tôn Xương, tỉnh trưởng Sơn Đông, lo bảo vệ tỉnh này chống mọi sự tấn công của quân quốc gia, ông ta về Bắc Kinh, và thái độ của thủ tướng Wellington Kou lúc ấy làm viên tướng quân sự cao cấp nhất ở miền Bắc rất lo ngại. Người ta không có tin tức cụ thể gì về thái độ của Trương Tác Lâm sau khi đến Bắc Kinh. Liệu ông ta có điều khiển được cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh hay ông ta sẽ bằng lòng làm kẻ bảo vệ cái Chính phủ này thôi?

Những điều kiện hiện nay của tình hình Bắc Kinh không làm ta yên tâm nếu xét trên những thông tin trên báo chí Bắc Kinh và Thiên Tân. Kỷ luật khó được duy trì trong binh lính đồn trú. Nhiều binh sĩ đã bị hành quyết trong tuần qua.

Tình hình tài chính ở Bắc Kinh xem chừng không có lối thoát. Số tiền vay nặng lãi và mấy triệu tǎng thuế hải quan không đủ để chi tiêu cho quân sự. Nhiều trường không được mở lại, giáo viên và giáo sư sẽ bãi giảng, nếu không được trả lương. Thái độ của các cường quốc nước ngoài đối với Hội nghị quốc tế về thuế quan chẳng thay đổi tí nào. Các cường quốc này chờ đợi mà cũng chẳng biết họ chờ đợi cái gì. Những đề nghị về một khoản công trái quốc tế thế chấp bằng việc tǎng thuế hải quan Trung Quốc, do hội nghị này thông qua, phải hủy bỏ. Bản thân Trương Tác Lâm phải đối phó với một tình hình tài chính đáng lo ngại hơn ở Mãn Châu. Sự phát hành tiền nhà binh, dưới cái tên là “Phụng phiếu” đã làm đảo lộn thương mại và công nghiệp. Không được nước ngoài trợ giúp, nước Mãn Châu sẽ phải phá sản. Không thể có ảo tưởng về vấn đề này. Dù các tỉnh rất giàu lập thành Mãn Châu quốc vẫn không đủ sức trả chiến phí cho bốn cuộc nội chiến và chi phí cho tất cả các xí nghiệp quân phiệt của Trương Tác Lâm. Người ta đặt ngay câu hỏi là Trương lấy đâu ra hàng triệu đồng để tiến hành các cuộc chiến tranh ấy, để duy trì quyền lực của mình và bành trướng quyền lực ra tận Bắc Kinh.

Chẳng bao lâu, Trương Tác Lâm sẽ bị cô lập và chỉ thu hẹp lại ở lực lượng và phương tiện của mình mà những cái này từ lâu không còn nữa. Sự liên minh của Trương với kẻ thù cũ của mình, Ngô Bội Phu, sẽ chỉ kéo dài trong thời gian cần thiết để có thể sử dụng sự liên minh này nhằm đánh thắng Quốc dân quân do thống soái Phùng Ngọc Tường chỉ huy. Sự liên minh này không nhận được sự giúp đỡ thiết thực nào của Trương, Trương đòi phải nhượng lại đất đai do Ngô Bội Phu kiểm soát. Những quan hệ với Tôn Truyền Phương không còn mờ nhạt hơn. Tôn đuổi quân của Trương đóng ở Giang Tô và tập hợp nǎm tỉnh: Chiết Giang, Giang Tô, An Huy, Giang Tây, Phúc Kiến và tự tuyên bố làm chủ những đất đai này. Thắng lợi của ông ta đối với Trương không phải là sự phát triển. Tạo ra cho mình một thế mạnh, ông ta theo đuổi một chính sách kiểm soát mà không ai cho là trung lập. Dù báo chí Trung Quốc nói đến một sự hợp tác có thể có giữa Trương và Tôn, chúng tôi vẫn tin rằng chỉ có vài thành viên thuộc hạ của chúng thương thuyết với nhau và báo chí đưa tin là đưa tin về điều ấy. Tôn không thể làm được điều đó bây giờ, vì trong hào quang thế lực của mình, Tôn không thể làm cho Trương chú ý về bất kỳ điều gì, vả lại thế lực ấy nay không còn nữa.

Sự kiện lí thú đáng ghi nhớ: trong khi các thủ lĩnh quân sự Tôn Truyền Phương và Ngô Bội Phu bị quân đội quốc gia đánh cho tan tác, bị loại trừ khỏi vũ đài chính trị – quân sự, thì lực lượng Quốc dân tập họp lại dưới trướng của thống chế Phùng Ngọc Tường, lại hoạt động trở lại. Hoạt động này, bây giờ dù không tấn công, cũng đã tỏ ra đáng gờm. Vùng mà Quốc dân đảng hoạt động hiện nay cách không xa biên giới Hồ Bắc, Hồ Nam, nơi Quốc dân đảng đóng. Việc liên lạc có thể dễ dàng.

Ở miền thượng Dương Tử, tỉnh Tứ Xuyên đang trong tình hình đêm trước của một cuộc cải tổ toàn diện. Tướng Nguyên Sâm, có dưới trướng 20.000 quân, đã đầu hàng Chính phủ quốc dân, nhận thi hành mệnh lệnh của Chính phủ và hợp tác thực hiện kế hoạch quốc gia. Một sự phục tùng như vậy nhất định có những hậu quả quan trọng đối với tình hình chung của Vân Nam, tỉnh này khó duy trì được thái độ thù địch đối với Chính phủ quốc dân. Về mặt này, ta sẽ có thể trông chờ những sự phát triển lý thú.

Thái độ của dân chúng các tỉnh rõ ràng là thuận lợi cho Chính phủ quốc dân. Như chúng tôi đã nhận xét ở trên, thái độ đúng đắn của binh lính quốc gia, lòng yêu nước và sự trong sạch của các thủ lĩnh dân sự và quân sự, sự đoàn kết giữa họ, lòng mong muốn thành thật và rõ ràng của họ là vì lợi ích chung, tất cả những cái đó làm cho dư luận dân chúng ủng hộ Chính phủ quốc dân. Dân chúng các huyện không bị đánh thuế, bị tịch thu, bị đối xử tàn tệ, họ thấy rằng của cải của họ được bảo vệ, và tự do của họ được tôn trọng, họ không bỏ lỡ cơ hội nào để chứng tỏ cảm tình của mình đối với quân giải phóng – đó là tên họ đặt cho binh lính quốc gia. Quân lính này đã nhiều lần thắng các lực lượng phản quốc gia vì nhờ được thông tin. Chẳng hạn việc nhanh chóng chiếm lại được Khúc Giang là nhờ những thông tin do dân cung cấp. Dân không giấu giếm rằng họ rất mong muốn được thấy các viên tướng đã bóp nặn họ phải chuồn đi nhanh chóng.

Ngoại giao với nước ngoài

Báo chí nước ngoài và Trung Quốc bàn cãi rất lâu về vấn đề công nhận Chính phủ quốc dân Quảng Châu. Điều không chối cãi được là chính phủ Anh chỉ xét vấn đề công nhận một chính phủ địa phương. Luân Đôn sẽ công nhận Quảng Châu như sẽ thừa nhận thủ lĩnh quân sự khác trong một hay nhiều tỉnh. Dư luận của nhân dân Trung Quốc phản đối mạnh mẽ một quan niệm như vậy. Nhằm mục đích tỏ rõ cho dư luận quốc tế thấy rằng Chính phủ có một cương lĩnh xây dựng lại quốc gia, Chính phủ quốc dân rất quan tâm áp dụng những biện pháp nhằm đạt mục đích ấy.

X.

—————————–

Báo L’Annam, số 122, ngày 16-12-1926 (tiếng Pháp).
cpv.org.vn

Các sự biến ở Trung Quốc (24-12-1926)

Của đặc phái viên chúng tôi

Quáng Châu, ngày 24-12-1926

Chính sách ngoại giao của Anh ở Trung Quốc

Chính sách ngoại giao của Anh có thay đổi không?

Báo chí ở nước Anh và Trung Quốc gợi ý rằng nó đã hoặc sẽ thay đổi.

Chúng ta đã thấy một hoạt động ngoại giao của Anh được bảo đảm ở Trung Quốc, ngay sau khi người đại diện mới của Anh bên cạnh Chính phủ Bắc Kinh, ông M.Lamxơn đến Bắc Kinh.

Nhà ngoại giao này đến Hán Khẩu, ở đây ông được Ngoại trưởng của Chính phủ quốc dân tiếp, và hai bên hội đàm nhiều lần, những cuộc hội đàm này chúng ta biết được qua thông báo của hãng thông tấn Roitơ.

Thông báo không đưa ra một sự việc mới nào. Qua lối diễn đạt ngắn gọn và sự tuyên truyền của hãng thông tấn ấy cho biết những cuộc hội đàm không thể không có kết quả, bắt buộc chúng ta phải kết luận rằng người đại diện của Anh nhận được, từ miệng của uỷ viên Chính phủ quốc dân, người có thẩm quyền, lời tuyên bố khẳng định những nét lớn của cương lĩnh chính trị dân tộc chủ nghĩa.

Chính vào lúc tin tức về những cuộc nói chuyện ấy lan truyền ở Hán Khẩu, chúng tôi được biết, đại biện lâm thời của Anh ở Bắc Kinh đã trao cho các đại diện của những chính quyền ký kết Hòa ước Oasinhtơn một công hàm mà nội dung chưa được công bố.

Tuy nhiên, báo chí Anh ở chính quốc hình như được thông báo chính thức về nội dung của nó, rằng công hàm ấy đề nghị các chính quyền đã ký kết các hiệp ước cho phép thu ở Trung Quốc thuế phụ thu 2,5% của biểu thuế hải quan, mà phần do hải quan Trung Quốc thu sẽ trực tiếp trao cho chính quyền các tỉnh.

Báo chí dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc kịch liệt phê phán một đề nghị như vậy, vì nó chỉ là một phương tiện nguỵ trang để nước Trung Hoa dân quốc tham gia vào sự phòng giữ và duy trì những hiệp ước bất bình đẳng cần phải được xoá bỏ.

Những cơ quan dân tộc chủ nghĩa trên toàn Trung Quốc còn nhấn mạnh khi đặt ra thuế phụ thu 2,5% ấy ở Quảng Châu và các cảng do mình kiểm soát, Chính phủ quốc dân đã đề nghị giao cho Hải quan Trung Quốc thu; đề nghị ấy bị bác bỏ, các cường quốc cũng phản đối việc tǎng thuế, và sự phản đối ấy không thay đổi tí nào quyết định của chính quyền tỉnh.

Việc này sẽ được thực hiện ở tất cả những cảng khác dưới sự kiểm soát của Chính phủ quốc dân.

Việc bộ trưởng Lamxơn chấp nhận đề nghị sẽ có lợi cho những người chỉ huy quân sự chống chủ nghĩa dân tộc và Chính phủ Bắc Kinh.

Vì vậy dư luận nhân dân tố cáo kịch liệt mưu toan ngoại giao nhằm cung cấp cho kẻ thù của Chính phủ quốc dân những phương tiện để có tiền của chống lại Chính phủ ấy.

Hình như đại diện của Anh không đặt vấn đề công nhận Chính phủ quốc dân đối với toàn bộ Trung Quốc.

Cương quyết duy trì những lợi ích và đặc quyền do các hiệp ước bất bình đẳng đem lại và áp đặt cho Trung Quốc, Chính phủ Luân Đôn, liên kết với chính sách đế quốc chủ nghĩa được thực hiện ở Trung Quốc của những nước ngoài có những lợi ích và đặc quyền ấy, không thể chịu trách nhiệm về một cuộc vận động ngoại giao đòi công nhận không điều kiện Chính phủ quốc dân cho toàn Trung Quốc.

Bộ trưởng Lamxơn không chỉ hội đàm với những uỷ viên của Chính phủ quốc dân. Một thông tin, về sau bị cải chính, nói rằng ở Nam Kinh ông ta hội đàm với chỉ huy quân sự chống chủ nghĩa dân tộc là Tôn Truyền Phương, trong khi đó một bức điện từ Thiên Tân cho biết rằng khi Lamxơn qua Thiên Tân thì được một chỉ huy chống chủ nghĩa dân tộc là thống chế Trương Tác Lâm tiếp đón.

Tuy nhiên, những cuộc nói chuyện, mà Bộ trưởng Lamxơn tiến hành ở Hán Khẩu với Eugène Trần, cho phép ông ta có được mọi sự chính xác mong muốn về Cương lĩnh chính trị của Chính phủ quốc dân.

Báo chí Trung Hoa ở những trung tâm dân tộc chủ nghĩa lớn kể rằng trong nhiều cuộc hội họp của nhân dân đã thông qua những quyết định chống lại một đề nghị như vậy, có thể sẽ gửi đến cho Chính phủ quốc dân nhằm bảo đảm với Chính phủ sự ủng hộ của nhân dân trong cuộc đấu tranh mở rộng sự kiểm soát của những miền dân tộc chủ nghĩa ở toàn Trung Quốc và thực hiện cương lĩnh chính trị theo chủ nghĩa dân tộc.

Sự tǎng cường mới của hạm đội Anh ở Trung Quốc

Chúng tôi đã nói đến việc tǎng cường hạm đội Anh ở các biển của Trung Quốc bằng cách tǎng thêm đội tầu thứ 3 từ Mantơ đến và nhiều tuần dương hạm tách ra từ hạm đội Anh ở Địa Trung Hải.

Những bức điện gửi từ Anh trong tuần ấy báo tin đã gửi đến Trung Quốc một đội tàu khu trục từ l.200 đến 1.500 tấn, kèm theo một tuần dương hạm 7.000 tấn.

Những bức điện này cũng báo tin rằng 2 tuần dương hạm đã được tách ra khỏi hạm đội ấn Độ Dương để tǎng cường cho lực lượng hải quân ở Trung Quốc.

Dư luận Trung Quốc ngạc nhiên về sự gia tǎng nhanh lực lượng hải quân Anh ở các biển Trung Quốc.

Báo chí của phái dân tộc chủ nghĩa không che giấu sự bất bình lớn của mình, và đã có những lời bình luận không có lợi cho nước Anh.

Vấn đề chung là: ý đồ của Anh là gì khi tǎng cường lực lượng hải quân ở các biển của Trung Quốc?

Tình hình ở Dương Tử

Sự tiến bộ của những lực lượng dân tộc chủ nghĩa ở Triết Giang được khẳng định.

Một chiến dịch mùa đông hình thành rõ rệt.

Những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc đến Phố Khẩu và Nam Kinh đòi hỏi những hoạt động quân sự quy mô lớn về phía những lực lượng dân tộc chủ nghĩa.

Người ta cũng kể lại rằng những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc ở Kashing, cách Thượng Hải vài chục km, đã rút lui và đặt phòng tuyến về phía sau.

Sự vận động này hình như khẳng định rằng những sĩ quan của viên tướng chống chủ nghĩa dân tộc Tôn Truyền Phương tìm kiếm được một sự thoả hiệp với các chỉ huy dân tộc chủ nghĩa.

Chắc chắn thái độ của họ là do tác động của thái độ nhân dân tỉnh Triết Giang, trong nhiều cuộc hội nghị chính trị công khai phản đối những đội quân ǎn cướp của Trương Tác Lâm và người cộng sự của y, Trương Tôn Xương khi chúng kéo xuống lưu vực sông Dương Tử.

Từ vùng thượng lưu Dương Tử, chúng ta nhận được tin tức về các lực lượng dân tộc chủ nghĩa đã chiếm được Tương và giải giáp những trung đoàn đáng nghi ngờ.

Người ta chờ đợi những sự phát triển quân sự ở phía tây tỉnh Hồ Bắc, chủ yếu là ở vùng biên giới Hồ Bắc – Hồ Nam.

Việc quân Quốc dân đảng, dưới sự chỉ huy của tướng Phùng Ngọc Tường, tiến đến biên giới phía tây của Hồ Nam, được thuật lại, trong khi không một tin tức nào khác được công bố về những hoạt động quân sự của những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc do thống chế Ngô Bội Phu chỉ huy.

Những hoạt động quân sự chống tỉnh An Huy được thông báo, những đạo quân tham gia ở đây được đặt dưới sự chỉ huy của những viên tướng nổi lên trong chiến dịch đánh những tên chỉ huy

chống những người dân tộc chủ nghĩa đang kiểm soát tỉnh này.

Tình hình ở Bắc Kinh và Thiên Tân

Những điều kiện được thuật lại trong bài báo trước của chúng tôi về tình hình ở Bắc Kinh không thay đổi.

Tình hình tài chính luôn luôn là bấp bênh và cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh tồn tại một cách khó khǎn với những sự vay mượn nhỏ ở các chủ ngân hàng Trung Hoa ở địa phương.

Ở Thiên Tân, quân luật vẫn có hiệu lực.

Nhà cầm quyền chống chủ nghĩa dân tộc ở Phong Hàng tiếp tục thông qua những biện pháp mà họ cho là có khả nǎng ngǎn chặn mọi phong trào dân tộc chủ nghĩa và tiếp tục vận động để có sự cộng tác của nhà cầm quyền ở những tô giới nước ngoài đối với công việc mà họ đang thực hiện.

Quảng Đông

Tình hình chung đáng yên tâm.

Việc đàn áp nạn cướp phỉ vẫn tiếp tục.

ở biên giới Trung Hoa – Đông Dương, bọn cướp bị tiêu diệt.

Những bǎng tham gia ám sát công sứ Pháp ở Long Châu đã bị bắt, bọn chúng thú nhận đã tham gia giết viên công sứ ấy và lập tức bị hành hình.

Chính phủ gửi quân để quét sạch vùng Vịnh Blát, nơi ẩn náu của bọn cướp biển đã tấn công nhiều tàu trên đường Hồng Kông – Thượng Hải, cũng như các cảng khác nằm ở bờ biển giữa hai thành phố.

Chính phủ Hồng Kông được thông báo về chiến dịch ấy và được yêu cầu bắt những tên cướp trốn ở lãnh thổ Trung Quốc bị Anh thôn tính. Cần nói rằng trong những tên cướp này có những thủ lĩnh nguyên là sĩ quan của viên tướng chống chủ nghĩa dân tộc Trần Quýnh Minh mà tổng hành dinh được đặt ngay tại Hồng Kông.

X.

——————————

Báo L’Annam, ngày 31-l-1927, (Bản tiếng Pháp).
cpv.org.vn

 

 

 

Các sự biến ở Trung Quốc (14-2-1927)

Quảng Châu, ngày 14-2-1927

Thái độ của các cường quốc nước ngoài

Những đơn vị đầu tiên của đạo quân viễn chinh mà Anh gửi sang Trung Quốc, gọi là để bảo vệ tính mạng và tài sản của kiều dân, đến Hồng Kông vào tuần vừa qua. Lúc bấy giờ người ta có nói đến việc chúng đổ bộ và lưu lại ở cảng này. Người ta cũng nói rằng chính quyền Hồng Kông có những biện pháp cần thiết để sắp xếp nơi trú quân cho đến khi chúng được gọi về. Một số thông tin nhận được từ Luân Đôn nói đến những yêu cầu gửi Chính phủ Luân Đôn đòi phải từ bỏ cuộc viễn chinh chống Trung Quốc, khiến cho những đạo quân Anh phải dừng lại ở Hồng Kông. Nhưng đó chỉ là những tiếng xì xào sai, vì những đơn vị đầu tiên của Anh, từ ấn Độ đến sau khi dừng lại 24 giờ ở cảng Hồng Kông, được đưa đến Thượng Hải, nơi tập trung lực lượng của đạo quân viễn chinh Anh.

Những nguồn thông tin khác của Anh thuật lại sự xuất phát từ Anh của những đơn vị khác của đạo quân viễn chinh ấy, cũng như việc gửi những đơn vị hải quân mới đến các biển của Trung Hoa. Một bức điện từ Hán Khẩu cho biết những cuộc nói chuyện giữa ngoại trưởng của Chính phủ quốc dân và phái viên Anh được nối lại. Những cuộc nói chuyện này bị gián đoạn do chính sách có tính chất hǎm doạ rõ rệt của Anh, nó chỉ có thể được nối lại với sự cam đoan dứt khoát của phái viên Anh đối với Ngoại trưởng Chính phủ

quốc dân về những ý đồ của Anh. Chính sách ngoại giao hiện nay của Anh ở Trung Quốc, với tất cả những sự khất hoãn, hình như chịu ảnh hưởng của hai trào lưu tuy có biểu hiện trái ngược nhau nhưng vẫn nhằm cùng một mục đích. Có thể Chính phủ Luân Đôn hoàn toàn được thuyết phục rằng việc trả lại những tô giới của nước ngoài cho Trung Hoa là một việc không thể tránh được và những biến cố ở Hán Khẩu vào đầu tháng 1 chỉ thúc đẩy thời hạn trả lại. Công khai chấp nhận sự ngẫu nhiên ấy là một sự mất mặt, làm ảnh hưởng đến uy tín của Anh. Khéo léo tìm kiếm những mánh khoé có thể che đậy được thực tế này, giới ngoại giao Anh khǎng khǎng đẩy mạnh việc gửi quân viễn chinh đến Trung Quốc, nhằm chứng tỏ rằng nước Anh sẽ bảo vệ tính mạng và tài sản của kiều dân ở Trung Hoa. Và nếu sau này giới ngoại giao Anh tán đồng những quan điểm của những người dân tộc chủ nghĩa, thì những nhân viên của nó sẽ có thể giải thích rằng họ chỉ tuân theo tình cảm hữu nghị và đoàn kết với Trung Quốc, tình cảm luôn luôn hướng dẫn chính sách của Anh. Các biến cố sẽ nói rõ rằng sự giải thích thái độ hiện tại của Anh trong việc nối lại các cuộc nói chuyện với Chính phủ quốc dân và đẩy mạnh việc gửi những đơn vị quân viễn chinh sang Anh, là đúng đắn.

Một số giới Trung Hoa thấy trong thái độ hiện nay của Anh thủ đoạn để thuyết phục những cường quốc khác ký hiệp ước liên kết với mình để trở lại chính sách thống nhất, chính sách rất có lợi cho quyền lợi của nước ngoài trong quá khứ. Cũng những giới này đã vui lòng nhận rằng dư luận ở Anh không nhất trí ủng hộ chính sách của chính phủ Luân Đôn, và những người theo Công đảng Anh liên kết với một số phần tử tự do, đòi Chính phủ từ bỏ những phương pháp hǎm doạ và tìm một giải pháp bằng thương lượng.

Dư luận nhân dân Trung Hoa nhất trí trong việc phản đối chính sách hǎm doạ của Anh. Báo chí do các viên chỉ huy quân sự ở miền Bắc kiểm soát và những cơ quan ở các trung tâm lớn của miền Bắc cũng tố cáo một chính sách như vậy. Thái độ này là một sự cải chính dứt khoát với điều quyết đoán của báo chí Anh ở Trung Hoa cho rằng một số giới Trung Quốc không những muốn mà còn mong đợi sự can thiệp của nước ngoài ở Trung Quốc.

Báo chí chính thức và không chính thức của Anh không ngừng nêu lên những lý do khéo léo nhất để che đậy mục đích thực sự của chính sách hǎm doạ của Anh. Khi thì họ khẳng định rằng nếu những phần tử Quốc dân đảng ôn hoà khống chế trong những hội đồng của đảng này, thì một sự thoả thuận với Anh sẽ nhanh chóng được thực hiện, khi họ tố cáo những sự xúi giục của nước Nga Xôviết là trở ngại duy nhất cho một sự thoả thuận như vậy.

Ở Trung Quốc, cũng như ở châu Âu, chính sách đối ngoại của Anh hình như bị chi phối bởi nỗi lo sợ thấy chủ nghĩa bônsêvích lan rộng trên lãnh thổ của mình, hay ở những nước tự trị và thuộc địa, trong những thần dân của Anh. Các nhà chính khách Anh không ngần ngại tuyên bố rằng đường lối xôviết ở Trung Quốc chỉ có mục đích làm áp lực đối với chính sách của Anh ở châu Âu, nhằm làm cho chính sách của Anh mềm đi và bớt cứng rắn theo quan điểm xôviết.

Tình hình ở Hán Khẩu

6 tuần đã qua từ khi Chính phủ quốc dân quản lý nhượng địa của Anh là Hán Khẩu. Không có một sự thay đổi nào trong nền hành chính hiện hành. Bốn phái viên của Chính phủ bảo đảm giải quyết những công việc hành chính và duy trì trật tự công cộng. Trong 6 tuần lễ ấy, không một sự kiện nào xảy ra làm cho người ta nghi ngờ việc chính quyền dân tộc đã trung thành với tất cả những lời hứa của mình. Tất cả các tin tức, kể cả những tin tức chống chủ nghĩa dân tộc, đều nhất trí thừa nhận rằng tình hình hiện tại ở Hán Khẩu là yên tĩnh. Nếu trong những cộng đồng người nước ngoài còn có một sự gò bó và e sợ về sự bất ổn của tương lai, thì điều đó là do chiến dịch báo chí Anh cho rằng một nguy cơ lớn đe doạ tính mạng và tài sản của người nước ngoài ở Anh, mặc cho những sự kiện xảy ra hằng ngày.

Hãy điểm qua tuyên bố của ông Eugène Trần, Ngoại trưởng, với báo chí Trung Hoa và nước ngoài, ông ta nhấn mạnh sự già cỗi của những chính sách của Chính phủ Anh bị sa lầy vào một con đường cũ (con đường Bắc Kinh) và luôn đề nghị với cái gọi là chính phủ tồn tại ở thành phố ấy giải quyết những vấn đề do những người dân tộc chủ nghĩa nêu lên. Ông Eugène Trần tuyên bố rằng chính Anh phải quyết định rằng quyền lợi kinh tế của Anh ở Trung Quốc sẽ phát triển tốt hơn với sự bảo hộ của Chính phủ quốc dân có cương lĩnh chính trị và quyền lực cần thiết để bảo đảm những cam kết trong một nước Trung Hoa cải tổ và tái thiết bởi những người dân tộc chủ nghĩa, hơn cái gọi là chính phủ ở miền Bắc Trung Hoa.

Ở miền Bắc Trung Hoa

Tin tức từ Bắc Kinh trong tuần qua nêu rằng thống chế Trương Tác Lâm tự xưng là tổng tư lệnh của những “An quốc quân”, tức là lực lượng tái lập hoà bình ở Trung Quốc, ông ta chuẩn bị tái lập đế chế. Không có gì đáng ngạc nhiên về một thông báo như vậy, việc tái lập ấy sẽ có những hậu quả quá quan trọng khiến thủ lĩnh quân phiệt Trương phải tuyên bố ngay.

Chính phủ của ông ta không đạt kết quả gì. Việc cải tổ nội các chỉ là một sự thay đổi người, những bộ trưởng Trung Hoa mới được chọn, cũng như những người cũ, phải thực hiện những ý muốn của ông chủ. Tình hình tài chính không hề thay đổi, và cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh tiếp tục sống bằng những xoay xở.

Những mâu thuẫn xẩy ra ngay trong việc quản lý tài chính của Bắc Kinh. Ngài Phrǎngxit Aglen, tổng thanh tra thuế quan Trung Hoa, từ chối gửi cho viên chức nước ngoài làm việc ở cơ quan này những chỉ thị về việc thu thuế phụ thu 2,5%, bị chính phủ ở Bắc Kinh cách chức, việc này gây nên những sự phản đối của đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh. Một bức điện mà Bắc Kinh nhận được ngày 12-1, cho biết rằng người bị cách chức không chịu bàn giao công việc. Chắc chắn là thanh tra Aglen, nhân một dịp phát hành trái phiếu kho bạc Trung Hoa, đã đứng tên những trái phiếu bán ra, nên không muốn làm lâu công việc của mình, vì vậy mà thủ lĩnh quân phiệt kiểm soát chính phủ Bắc Kinh bất bình, và viên thanh tra ương ngạnh bị cách chức.

Hoạt động quân sự ở Dương Tử

Trừ những tin tức xuất hiện trong báo chí Trung Quốc và nước ngoài ở miền Bắc về hoạt động của những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc, không một sự kiện nào đánh dấu hoạt động của những lực lượng ấy. Về phía lực lượng dân tộc cũng không có một tin tức nào nói tới. Có việc tập trung lực lượng quân sự ở cả hai phía.

Những thông tin khác làm nổi bật sự đi lên của đảng Phụng Thiên cũng như sự đi xuống của đảng Tchéty (?) và thủ lĩnh của nó, thống chế Ngô Bội Phu. Người cộng tác chính của thống chế Trương Tác Lâm vẫn là tướng Trương Tôn Xương, thủ hiến tỉnh Sơn Đông, tìm cách chiếm tỉnh Giang Tô và lúc này tự bằng lòng với điều đó. Việc chiếm đóng này gây nên sự bất bình lớn trong nhân dân tỉnh này.

Sự thiếu phối hợp giữa quân của Trương Tôn Xương và quân của tướng Tôn Truyền Phương, cộng tác viên của thống chế Trương Tác Lâm, ngày càng rõ, và báo chí quân phiệt ở miền Bắc thông báo rằng chỉ có quân của Phụng Thiên là sẽ tiến hành chiến dịch chống những lực lượng dân tộc chủ nghĩa.

Việc bảo vệ người nước ngoài

Báo chí nước ngoài đǎng những chỉ thị của Chính phủ quốc dân gửi nhà cầm quyền các tỉnh và các chỉ huy quân sự phải bảo vệ tính mạng và của cải của người nước ngoài sống ở các tỉnh của Trung Quốc, điều đó chứng tỏ rằng những lãnh tụ của Chính phủ này biết trách nhiệm và nhiệm vụ của mình.

X.

—————————-

Báo L’Annam số ra ngày 14-3-1927.
(Bản tiếng Pháp).
cpv.org.vn

Quốc tế ca

Điệp khúc:

Trận này là trận cuối cùng
ầm ầm đoàn lực, đùng đùng đảng cơ,
Lanhtécnaxiônanlơ
ấy là nhân đạo, ấy là tự do.

Đoạn I

Hỡi ai nô lệ trên đời,
Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên!
Bất bình này chịu sao yên,
Phá cho tan nát một phen cho rồi!
Bao nhiêu áp bức trên đời,
Sạch sành sanh phá cho rồi mới tha!
Cuộc đời này đã đổi ra,
Xưa kia con ở nay là chủ ông!

Đoạn II

Công nông ta có đảng to,
Có nhờ ta mới có kho có tài.
Trời sinh đất để cho người,
Những đồ lười biếng thì mời đi đi,
Những đồ ǎn xổi ở thì,
Mình làm chúng hưởng lẽ gì xưa nay.
Nếu đem diệt sạch lũ này,
Mặt trời vẫn cứ ngày ngày xuân dung!

Đoạn III

Việc ta ta phải gắng lo,
Chẳng nhờ trời phật chẳng nhờ thần linh.
Công nông mình cứu lấy mình,
Sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền.
Muốn cho đánh đổ cường quyền,
Tự do bình đẳng vẹn tuyền cả hai.
Thụt lò ta phải ra tay,
Sắt kia đang nóng đập ngay mà dùng!

Dịch nǎm 1925

—————————-

In trong sách Thơ ca cách mạng, 1925-1945, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, tr.111-112.
Theo bài in trong sách Thơ ca cách mạng 1925-1945
cpv.org.vn

Chánh cương vắn tắt của Đảng (1930)

Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngǎn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.

A. Về phương diện xã hội thì:

a) Dân chúng được tự do tổ chức.

b) Nam nữ bình quyền, v.v..

c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoá.

B. Về phương diện chính trị:

a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.

b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.

c) Dựng ra chính phủ công nông binh.

d) Tổ chức ra quân đội công nông.

C. Về phương diện kinh tế:

a) Thủ tiêu hết các thứ quốc trái.

b) Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý.

c) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo.

d) Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo.

e) Mở mang công nghiệp và nông nghiệp.

f) Thi hành luật ngày làm 8 giờ.

————————–

Tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Cách mạng tháng Tám (19/8/1945) và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945)

I. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 – sự kiện vĩ đại của dân tộc và cách mạng Việt Nam.

1. Bối cảnh lịch sử và diễn biến

1.1. Diễn biến chung trong cả nước

Đầu năm 1945, quân đội Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường Châu Âu, giải phóng một loạt nước. Ngày 16/4/1945 chiến dịch tiến công Beclin thắng lợi, phát xít Đức buộc phải ký văn bản đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh vô điều kiện, lò lửa chính của chiến tranh thế giới thứ hai bị dập tắt. Ngày 8/8/1945 Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Chiến thắng của Hồng quân Liên Xô và các lực lượng chống phát xít đối với quân phiệt Nhật đã chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai, tạo điều kiện cho nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa châu Á trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong nước, trải qua nhiều thử thách cam go và các cuộc diễn tập quan trọng như Cao trào Xô – Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931, Cao trào Dân chủ 1936 – 1939, phong trào kháng Nhật cứu nước ngày càng dâng lên mạnh mẽ.

Tình hình quốc tế, trong nước có nhiều thuận lợi đòi hỏi Đảng ta phải có những quyết sách sáng suốt nhằm đẩy mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 9/3/1945, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động phong trào kháng Nhật, cứu nước. Ngày 12/3/1945 ban hành rộng rãi Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị quan trọng này đã thể hiện sự lãnh đạo kiên quyết, chủ động và sáng tạo của Đảng, chỉ rõ phương hướng và biện pháp hành động cách mạng đúng đắn trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, mở đường đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.

Từ ngày 15 đến ngày 20/4/1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp, quyết định phát triển lực lượng vũ trang, nửa vũ trang và thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân, xây dựng 7 chiến khu chống Nhật trong cả nước.

Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “về việc tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng” và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật, cứu nước dâng lên mạnh mẽ, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang phát triển nhanh, phong trào đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần diễn ra khắp các địa phương. Nhiều hoạt động được đẩy mạnh như tuyên truyền xung phong có vũ trang cướp kho thóc của Nhật để cứu đói, xây dựng các đội tự vệ vũ trang du kích cứu quốc, mở trường đào tạo cấp tốc cán bộ quân sự, phát động chiến tranh du kích ở những nơi có đủ điều kiện, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng… Các lực lượng cách mạng đã phối hợp với quần chúng giải phóng một loạt các xã, châu, huyện thuộc các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Bắc Giang.

Ngày 12/8/1945, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng ra mệnh lệnh khởi nghĩa. Ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 14 và 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng bàn kế hoạch phát động và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa.

Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội tại Tân Trào đã nhiệt liệt tán thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước ta đồng loạt đứng dậy, tiến hành cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, chúng ta đã giành một phần ở miền Nam và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, QuảngNam. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội ngày 19/8 đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ các tỉnh, thành phố khác vượt qua mọi khó khăn, gấp rút nổi dậy giành chính quyền. Ngày 23/8 khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và các thị xã: Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Tân An, Bạc Liêu. Thắng lợi của khởi nghĩa Sài Gòn ngày 25/8 có ảnh hưởng quyết định đối với khởi nghĩa ở các tỉnh miền Nam như Sóc Trăng, Vĩnh Long, Thủ Dầu Một, Châu Đốc, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre, Sa Đéc… Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền, làm chủ trên đảo.

Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, Cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền trong cả nước thuộc về tay nhân dân.

Ngày 2/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), trước hàng chục vạn nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ công hòa ra đời.

1.2. Ở Phú Thọ

Cuộc khởi nghĩa ở Phú Thọ diễn ra trong hoàn cảnh có nhiều thuận lợi rất cơ bản. Lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị quần chúng đông đảo và lực lượng vũ trang khá mạnh, đều đã qua thử thách và sẵn sàng chờ lệnh khởi nghĩa. Tiếng vang khởi nghĩa thắng lợi ở các tỉnh trong khu giải phóng, nhất là ở Hà Nội và các tỉnh khác dồn dập dội về. Trong tỉnh, quân ta đánh chiếm huyện Phù Ninh, khởi nghĩa thắng lợi ở hai huyện Hạ Hòa và Thanh Sơn, tước súng địch ở châu lỵ Đoan Hùng…càng thôi thúc nhân dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Tuy nhiên, Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ cũng gặp không ít khó khăn. Phát xít Nhật tuy đã đầu hàng Đồng minh, những bọn Nhật ở Việt Nam không tự rời bỏ địa vị thống trị, không bao giờ tự nguyện trao lại chính quyền cho Việt Minh. Trái lại, chúng vẫn gây nhiều khó khăn cho ta, thậm chí ngày 22/8, bọn Nhật còn khủng bố nhân dân thị xã Phú Thọ. Mặt khác khi thời cơ khởi nghĩa đã đến thì nạn đói vẫn đang hoành hành, lại thêm nạn ngập lụt, vỡ đê chưa từng thấy, gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng của nhân dân. Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cứu quốc các làng ven đê vừa phải lo chuẩn bị khởi nghĩa, vừa phải lo cứu đê, cứu nhân dân bị ngập lụt. Do lũ lụt nên giao thông, liên lạc giữa các cơ sở trong tỉnh, giữa tỉnh với Xứ ủy và Trung ương gặp nhiều khó khăn, công tác chỉ đạo khởi nghĩa gặp rất nhiều trở ngại. Về mặt chủ quan, khi Trung ương đã có lệnh tổng khởi nghĩa, nhưng tỉnh chưa có sự chỉ đạo tập trung, chưa có kế hoạch khởi nghĩa thống nhất, dẫn đến khởi nghĩa ở các huyện do từng đồng chí cán bộ phụ trách khu vực lãnh đạo tiến hành.

Mặc dù có nhiều khó khăn và lệnh khởi nghĩa của Trung ương về đến địa phương chậm, nhưng khi thời cơ đến, Ban cán sự Phú – Yên, cán bộ Đảng và Việt Minh phụ trách từng vùng đã chủ động huy động lực lượng tiến hành khởi nghĩa.

Ngoài hai huyện Hạ Hòa và Thanh Sơn đã khởi nghĩa từ đầu tháng 8, chỉ trong một tuần lễ (từ ngày 15 đến ngày 22 tháng 8 năm 1945), 9 huyện còn lại lần lượt khởi nghĩa.

Ngày 16/8 huyện Đoan Hùng khởi nghĩa; ngày 17/8, huyện Cẩm Khê, Phủ Thanh Ba khởi nghĩa giành chính quyền; ngày 18/8, khởi nghĩa huyện Tam Nông và châu Yên Lập; ngày 20/8 khởi nghĩa Hạc Trì và phủ Lâm Thao và ngày 22/8/1945, khởi nghĩa ở huyện Thanh Thủy. Như vậy đến ngày 22/8/1945 tất cả các phủ trong tỉnh đã hoàn thành khởi nghĩa giành chính quyền.

Sau khi khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện xong, chính quyền cách mạng và huyện bộ Việt Minh huy động lực lượng tự vệ tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh và cử cán bộ về các làng xã lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời làng xã trong huyện; Ban cán sự Phú – Yên tập trung lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền cấp tỉnh và thị xã Phú Thọ.

Thị xã Phú Thọ trong những ngày tháng Tám năm 1945, kẻ thù còn lực lượng đông, còn vũ khí và vẫn chống phá cách mạng đến cùng. Bọn Nhật thu quân ở Đoan Hùng và các tỉnh lân cận về tập kết tại đây. Trong những ngày 22 và 23 tháng 8, chúng cho quân đến các phố khủng bố và uy hiếp dân, tước súng của bảo an binh và nghi lực lượng này theo Việt Minh. Bọn việt gian, Đại Việt vẫn ngoan cố làm tay sai cho Nhật chống phá cánh mạng. Vì vậy, cuộc khởi nghĩa ở tỉnh gặp nhiều khó khăn, trở ngại, không nhanh chóng, thuận lợi như khởi nghĩa ở các huyện. Đảng ta đã nhận định đúng trước khi khởi nghĩa “Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do” nhiều sự gay go, trở ngại sẽ xảy ra.

Trước tình hình đó, đồng chí ủy viên Ban cán sự Phú – Yên phụ trách Phú Thọ đã triệu tập đại diện các đơn vị lực lượng vũ trang trong tỉnh và đại diện đơn vị bộ đội giải phóng quân đóng tại Phú Thọ họp hội nghị quân sự tại nhà Đoàn (cạnh đền Đõm thị xã) chiểu 23/8. Hội nghị quân sự đã cử ra Ủy ban khởi nghĩa tỉnh và đặt các lực lượng vũ trang toàn tỉnh dưới sự chỉ huy thống nhất của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh do đồng chí Lê Quang Ấn làm chủ tịch. Ngay tối hôm đó, hội nghị cán bộ Việt Minh các cơ sở trong tỉnh cũng được triệu tập họp tại đình Cao Du (thị xã Phú Thọ) để cử ra Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh và quyết định tiến hành khởi nghĩa tỉnh Phú Thọ vào ngày 25/8.

Sáng ngày 25/8/1945, theo đúng kế hoạch đã vạch ra, các thành viên Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh đã dẫn đầu từng đơn vị lực lượng vũ trang đến tiếp quản các công sở. Tỉnh trưởng Nguyễn Bách bị du kích bắt và giao nộp cho chính quyền cánh mạng. Một phái đoàn Việt Minh đến doanh trại Nhật báo cho chúng biết Việt Minh chính thức nắm chính quyền tỉnh Phú Thọ. Công việc chiếm đóng các công sở, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai Nhật diễn ra mau lẹ, thuận lợi. Sau đó, trong một cuộc mít tinh lớn, tổ chức tại sân vận động thị xã, hàng vạn nhân dân các dân tộc trong tỉnh tham dự, Ủy ban khởi nghĩa tỉnh đã long trọng công bố danh sách Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Phú Thọ do đồng chí Phạm Huy Chữ làm chủ tịch, đồng chí Trần Văn Cần làm phó chủ tịch.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chấm dứt thời kỳ đen tối của các tầng lớp nhân dân dưới ách thống trị của đế quốc, tay sai, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người dân tự do, làm chủ vận mệnh của mình.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Phú Thọ là sự đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ vào thắng lợi chung của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng tháng Tám năm 1945 trên cả Nước, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở đầu cho kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

2. Nguyên nhân thắng lợi.

– Cách mạng Tháng Tám thành công do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, kiên quyết và khôn khéo của Đảng.

– Cách mạng Tháng Tám thành công do Đảng ta đã dày công rèn luyện lực lượng chủ lực của cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân qua các cao trào cách mạng; đã khơi dậy và phát huy cao độ truyền thống yêu nước của dân tộc, tập hợp được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc cách mạng.

– Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ.

– Trải qua 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có biết bao đồng bào, chiến sĩ đã không hề tiếc máu xương, hy sinh oanh liệt vì mục tiêu độc lập dân tộc.

– Cuộc Cách mạng Tháng Tám được tiến hành trong bối cảnh quốc tế thuận lợi. Chủ nghĩa Phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh.

3. Ý nghĩa lịch sử:

– Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, đế quốc trong gần một thế kỷ và chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm, lập nên nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng ta từ một đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một Đảng cầm quyền. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

– Cách mạng Tháng Tám đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đây là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với những tư tưởng cách mạng và khoa học của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

– Với thắng lợi này, cách mạng nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, nước ta không những trở thành một nước độc lập, tự do mà còn trở thành một trong những nước đi tiên phong trong việc xây dựng chế độ mới – chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội.

– Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn khẳng định rằng, trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản kém phát triển, nơi mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc mà còn có thể thành công ở ngay một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu để đưa cả dân tộc đó đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội. Đây là sự phát triển đầy sáng tạo lý luận Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cổ vũ phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, báo hiệu một kỷ nguyên mới của loài người: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

4. Một số bài học chủ yếu.

Cách mạng tháng Tám thành công, để lại cho cách mạng Việt Nam nhiều bài học quí báu, nhưng có thể nói bài học lớn nhất, sâu sắc nhất soi đường cho cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hoàn thành công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước giành được những thành tựu quan trọng trong quá trình đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế, đó là:

– Trước hết, phải có một đảng tiên phong thật sự cách mạng, tiếp thu được chủ nghĩa Mác – Lênin – đỉnh cao của trí tuệ thời đại được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng, nắm vững hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng của đất nước, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, có phương pháp, hình thức đấu tranh phong phú, linh hoạt, biết nắm bắt thời cơ, xây dựng lực lượng và tổ chức, sử dụng lực lượng đúng lúc, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫn dắt quần chúng tiến lên giành và giữ chính quyền.

Cách mạng tháng Tám khẳng định rằng: nếu không có một đảng cách mạng, một vị lãnh tụ kiệt xuất, một bộ phận tham mưu tài giỏi, một lý luận tiên tiến, tư tưởng thống nhất, tổ chức chặt chẽ, đường lối đúng đắn hợp lòng dân thì khó tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc để làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, chỉ trong vòng nửa tháng đã giành thắng lợi và xác lập chính quyền dân chủ nhân dân trong phạm vi toàn quốc. Đây là những kinh nghiệm quí báu để Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược suốt 30 năm, tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới và giành được những thành tựu quan trọng trong hơn 20 năm gần đây, đưa đất nước bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

– Thứ hai, là giành và giữ chính quyền, đó là mục tiêu của bất cứ một cuộc cách mạng nào. Ngay từ đầu, Đảng ta xác định việc giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng chính quyền của dân và phục vụ nhân dân. Chính vì thế, Đảng đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân – trí thức dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, khai thác và phát huy tối đa động lực tinh thần, nêu cao ý chí Việt Nam, tinh thần dũng cảm, sáng tạo, sẵn sàng xông lên cứu nước, cứu nhà, tạo thành nguồn động lực to lớn để đưa Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi hoàn toàn, giành chính quyền về tay nhân dân. Để giữ vững chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã dựa chắc vào nhân dân, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để đấu tranh thắng lợi với thù trong, giặc ngoài; đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh với kẻ thù và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Từ bài học này và thực tiễn cách mạng Việt Nam 67 năm qua (kể từ khi Cách mạng tháng Tám thành công), chúng ta có thể khẳng định giành chính quyền về tay nhân dân, bảo vệ và xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân, có như vậy mới thực sự mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, làm cho đất nước phồn vinh và phát triển.

– Thứ ba, là vấn đề nắm bắt thời cơ, đề ra được những quyết định chính xác và kịp thời. Bất cứ một cuộc cách mạng nào đều phải biết tạo ra thời cơ và nắm bắt thời cơ. Chọn đúng thời cơ là một khoa học và một nghệ thuật. Điều này đã thể hiện rất rõ trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, cũng như trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975) giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nếu chọn đúng thời cơ thì sức mạnh của nhân dân ta tăng lên gấp bội và giành thắng lợi, ngược lại nếu phát động sớm hơn khi thời cơ chưa chín muồi thì sẽ gây tổn hại đến cách mạng, đến nhân dân; nếu muộn hơn thì sẽ mất đi thế chủ động và gặp nhiều khó khăn khác. Bài học này càng có ý nghĩa sâu sắc khi đất nước ta mở cửa, hội nhập nền kinh tế quốc tế, phải biết tận dụng thời cơ, đẩy lùi những nguy cơ, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

– Thứ tư, là vấn đề sử dụng lực lượng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân  – trí thức, tạo nên một nguồn động lực mạnh mẽ đưa cách mạng tiến lên. Dưới ánh sáng của đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng yêu nước và sức mạnh của toàn dân được thổi bùng lên trong Cách mạng tháng Tám đã tiếp tục được phát huy cao độ trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc xâm lược và trong công cuộc đổi mới đất nước.

II. Giá trị thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám 1945 trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước 67 năm qua.

1. Cách mạng Tháng Tám với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

1.1- Cách mạng Tháng Tám đã mở đầu sự đổi mới sâu sắc và toàn diện cho dân tộc ta, nhất là sự thay đổi về chính trị. Chế độ thuộc địa và chuyên chế phong kiến đã được thay thế bới chính thể dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tư tưởng, quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam được khởi nguồn từ cách mạng Tháng Tám đã khẳng định sự đổi mới căn bản thể chế chính trị, tạo động lực mới cho việc xây dựng và phát triển đất nước từ đó đến nay.

1.2- Cách mạng Tháng Tám khởi đầu sự giải phóng xã hội. Nhà nước cách mạng ngay từ khi thành lập đã quan tâm đến quyền tự do, dân chủ, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, quyền ứng cử, bầu cử, tham gia xây dựng chính quyền. Các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 ra đời là sự tiếp nối tư tưởng, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám, bảo đảm ngày càng đầy đủ quyền tự do dân chủ cho nhân dân.

1.3- Đảng và Nhà nước ta đã phát huy bài học của Cách mạng Tháng Tám trong việc huy động lực lượng quần chúng tham gia các phong trào cách mạng, phng trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn trong toàn xã hội, quan tâm đến lợi ích chính đáng, trực tiếp của nhân dân, dựa vào dân, phát huy vai trò sáng tạo của nhân dân để lãnh đạo công cuộc tái thiết đất nước, khắc phục hậu quả chiến tranh, cải tạo nền kinh tế, xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất… Đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang được thể chế hóa, hệ thống pháp luật, chính sách ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, tạo điều kiện khơi dậy sức mạnh nội lực, tranh thủ ngoại lực cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

1.4- Từ Cách mạng Tháng Tám, các quan điểm chiến lược về con người, về giáo dục và đào tạo con người mới được hình thành và phát triển. Nhiều chủ trương, chính sách lớn về phát triển văn hoá, giáo dục được ban hành, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, quyền lợi của mọi người dân, góp phần nâng cao dân trí, phục vụ tốt cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Những chính sách về lao động, việc làm, bảo vệ người lao động, chăm sóc thương binh, gia đình thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng… được chú trọng hoàn thiện. Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội từng bước được mở rộng, hướng tới bảo đảm công bằng trong các chính sách hỗ trợ, không để sót đối tượng, nhằm bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội được bảo vệ về cuộc sống.

1.5- Phát triển những tư tưởng chiến lược về ngoại giao từ Cách mạng Tháng Tám, chúng ta đã giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, sự lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, ổn định chính trị – xã hội và trật tự, an toàn xã hội, phát triển quan hệ đối ngoại mạnh mẽ.

2. Cách mạng Tháng Tám 1945 với các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

2.1- Từ kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám, chúng ta luôn nắm vững đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ quốc tế, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, con đường kiên quyết dùng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng, giương cao ngọn cờ hòa bình, tranh thủ các khả năng hòa bình có thể được nhằm tạo dựng nền hòa bình lâu dài trong độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

2.2- Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh đoàn kết mới cho tất cả những người Việt Nam yêu nước, tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt trai, gái, trẻ, già, giàu nghèo, tín ngưỡng, dân tộc… dựa trên nền tảng liên minh công – nông – trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến cứu nước là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, là bước phát triển mới về chất của chiến tranh yêu nước Việt Nam.

2.3- Phát triển những quan điểm về xây dựng lực lượng vũ trang toàn dân từ Cách mạng Tháng Tám, qua hai kháng chiến cứu nước, chúng ta đã xây dựng và tổ chức quân đội kiểu mới – quân đội của dân tộc, của nhân dân, từ nhân dân và vì nhân dân. Đường lối chiến tranh vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, xây dựng kết hợp với bảo vệ và củng cố chế độ mới, xây dựng căn cứ địa trong chiến tranh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiền tuyến và hậu phương được vận dụng và phát triển sáng tạo.

III- Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, thành tựu 67 năm xây dựng và bảo vệ đất nước vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN giai đoạn hiện nay.

1. Tích cực, chủ động nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ và thách thức trong thời kỳ đổi mới, hội nhập hiện nay.

Phát huy tinh thần giữ vững nguyên tắc, mềm dẻo, sáng tạo trong sách lược, chủ động nắm bắt thời cơ, hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đang chung sức giải quyết những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách để đưa đất nước phát triển bền vững. Chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra và vận dụng thành công trong thời kỳ giành và giữ chính quyền năm 1945 – 1946, phân tích, dự đoán, nắm chắc và tận dụng thời cơ để mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia, cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trải qua thử thách thời gian và lịch sử, cuộc Cách mạng Tháng Tám không chỉ khẳng định ý nghĩa thời sự nóng bỏng mà ngày càng khẳng định những giá trị lịch sử lâu bền. Những giá trị đó đang được phát huy bởi các mục tiêu, nhiệm vụ: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội gắn bó mật thiết và thống nhất trong toàn bộ tiến trình cách mạng và trong công cuộc đổi mới hiện nay.

3. Nắm vững các quan điểm phát triển trong sự nghiệp CNH – HĐH, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước.

Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững. Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hành dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

4. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị.

Nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng cần tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp sau: tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, nang cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng về hệ thống chính trị; kiện toàn tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tiếp tục đổi mới, phương thức lãnh đạo của Đảng.

Đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và mọi mặt đời sống xã hội; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật; tăng cường pháp chế XHCN và kỷ luật, kỷ cương. Xây dựng thể chế và cơ chế vận hành cụ thể bảo đảm nguyên tắt tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và nguyên tắt quyền lực là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi các văn bản pháp luật; các thiết chế thi hành pháp luật được bảo đảm vận hành có hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và thực hiện các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Tiếp tục xây dựng từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, hiệu lực. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng hiện đại, tinh gọn và hợp lý. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý. Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí; chú trọng các biện pháp phòng chống tham nhũng có hiệu quả. Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ. Xử lý nghiêm minh, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tích cực đấu tranh chống tham nhũng. Phát huy vai trò của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức, phát hiện đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2-9 trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, chúng ta càng hiểu rõ giá trị lịch sử, thực tiễn sâu sắc mà Cách mạng Tháng Tám đã mang lại; nhận thức đầy đủ trách nhiệm của thế hệ sau trong việc vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm quý giá, những tư tưởng mang tầm thời đại của cách mạng Tháng Tám vào công cuộc đổi mới và đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trích từ bài “Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945); Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 02/9/1945) và kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về thăm tỉnh Phú Thọ (19/8/1962 – 19/8/2012

Nguồn: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Thọ
phutho.gov.vn

Hào khí của Cách mạng tháng Tám

(Congannghean.vn)-Trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã viết nên nhiều trang sử vẻ vang với những chiến công chói lọi chống xâm lược và chống ách thống trị của nước ngoài. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ vang, chói lọi nhất, là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc.

*Nguyện xứng danh chiến sỹ công an trên quê Bác

Đánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Cách mạng tháng Tám, nhân dân ta đã giành lại được độc lập dân tộc trong tay phát xít Nhật và thực dân Pháp, đưa đất nước thoát khỏi cảnh mất nước, lầm than, chìm đắm trong vòng nô lệ hơn 80 năm; đồng thời đây cũng là phát súng lệnh mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc trên toàn thế giới, tạo điều kiện cho hàng loạt nước Á – Phi giành được độc lập dân tộc dưới các mức độ khác nhau, chấm dứt về cơ bản chủ nghĩa thực dân cũ thống trị hơn 300 năm nhiều dân tộc trên thế giới.

Thành công của Cách mạng tháng Tám gắn liền với vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám để lại nhiều bài học lớn mang tính nguyên lý có giá trị vĩnh hằng và hiện thực cho nhân dân ta và nhiều dân tộc khác cùng cảnh ngộ tương đồng trên thế giới.

Đó là bài học “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (Nguyễn Ái Quốc). Nhờ vậy mà một dân tộc người không đông, diện tích không rộng, nhưng dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ với trên 6.000 đảng viên cộng sản đã động viên, tổ chức được sức mạnh phi thường của hơn 20 triệu nhân dân giác ngộ, cả nước nhất tề đứng lên, chỉ sau một tuần lễ đã đập tan bộ máy cai trị thực dân – phong kiến từ làng, xã đến triều đình phong kiến và bộ máy cai trị thực dân để giành được chính quyền về tay nhân dân, thiết lập ra chế độ Cộng hòa Dân chủ.

Đó là bài học giành độc lập dân tộc phải đi đôi với đưa lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Do vậy ngay sau khi chính quyền cách mạng mới được thành lập, Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phát động đồng thời ba cuộc vận động lớn “diệt giặc đói”, “diệt giặc dốt”, “diệt giặc ngoại xâm”, và chủ trương “Tín ngưỡng tự do và Lương giáo đoàn kết” với quan điểm xuyên suốt “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Đó là bài học giành chính quyền phải đi đôi với bảo vệ chính quyền. Bài học này không chỉ khi chính quyền cách mạng còn non trẻ như “ngàn cân treo sợi tóc”, mà cả khi phải liên tục tiến hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ, vô cùng gian khổ, không nề hy sinh để bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng Tám và hoàn thành sự nghiệp vĩ đại của Cách mạng tháng Tám là giải phóng hoàn toàn dân tộc, thống nhất đất nước, thu giang sơn gấm vóc Việt Nam về một mối, chấm dứt vĩnh viễn ách nô lệ ngoại bang và họa chia cắt đất nước.

Đó là bài học về xây dựng, đổi mới thượng tầng kiến trúc xã hội phải đi đôi và được xây dựng trên nền tảng xã hội vững mạnh và cơ sở vật chất – kỹ thuật hùng cường.

Trong chiến tranh, đó là xây dựng và phát triển nền kinh tế thời chiến, làm cơ sở hậu phương vững chắc cho tiền tuyến và bồi dưỡng sức dân cho chiến đấu lâu dài. Khi đất nước sạch bóng quân thù là phải kịp thời chuyển nền kinh tế thời chiến sang thời bình; quan trọng hơn là kịp thời đổi mới toàn diện nền kinh tế – thực chất là xây dựng mới nền kinh tế – nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong thời kỳ mới phù hợp với sự phát triển bứt phá của nền kinh tế thế giới được thúc đẩy bằng sự bùng nổ về khoa học – công nghệ của kỷ nguyên kinh tế tri thức. Sự đổi mới và phát triển kinh tế cũng phải theo tinh thần “Đem sức ta mà làm nên sự nghiệp của ta” – “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhệm của dân” (Hồ Chí Minh 15/10/1949).

Những bài học bất hủ của Cách mạng tháng Tám có giá trị vĩnh hằng được Đảng ta kế tục và vận dụng sáng tạo, là tiền đề nhận thức – tư tưởng và quan điểm phát triển, đã và đang là động lực to lớn đưa nước ta tiếp tục phát triển đi lên trong xây dựng và phát triển toàn diện đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nay càng thêm hoàn thiện bằng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Trong những ngày hân hoan này làm chúng ta nhớ lại và biết ơn sâu sắc những con người kiên trung, bất khuất của Đảng, những người con ưu tú của dân tộc và giai cấp quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, để bảo vệ và phát huy thành quả của Cách mạng tháng Tám, mà tiêu biểu là các liệt sỹ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng và các anh hùng.

Từ thắng lợi của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, sự thành công của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp vừa qua chúng ta tuyệt đối tin tưởng và lạc quan về tương lai tươi sáng của dân tộc. Toàn Đảng, toàn dân ta và toàn quân cùng ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 mà Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra.

Nguyễn Văn Thanh
congannghean.vn

Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa và kinh nghiệm lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám

Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh khách quan rất thuận lợi: kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phátxít Nhật đã bị Liên Xô và Đồng minh đánh bại, quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu, chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã. Đảng Cộng sản Đông Dương đã chớp thời cơ đó phát động toàn dân nổi dậy nên đã giành được thắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu.

Cách mạng Tháng Tám là kết quả và đỉnh cao của 15 năm đấu tranh của toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Trong quá trình đó, Đảng đã xây dựng được một lực lượng chính trị hùng hậu; từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng và đùm bọc, có chỗ đứng chân ngày càng vững chắc trong căn cứ địa cách mạng, giữ vai trò nòng cốt, xung kích, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Đảng Cộng sản Đông Dương là người tổ chức và lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám. Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, bắt rễ sâu trong quần chúng, đoàn kết và thống nhất, quyết tâm lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản nhất, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Trong 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng, biết bao đảng viên cộng sản và quần chúng cách mạng đã hy sinh oanh liệt. Hồ Chí Minh nói: “Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay.

Tất cả chúng ta phải noi theo các gương anh dũng, gương chí công vô tư ấy, mới xứng đáng là người cách mạng”1. 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 2002, t.6, tr. 159 – 160.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo, lần đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ trên đất nước ta, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, người làm chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập và tự do. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, không hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, “Chẳng những giai cấp lao động mà nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”2. 2. Sđd, tr. 159.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do.

Về mặt quốc tế, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã chọc thủng một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, góp phần cống hiến lớn lao vào sự nghiệp giải trừ chủ nghĩa thực dân và giải phóng dân tộc trên thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh và đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Nó chứng tỏ rằng: ở thời đại chúng ta, một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa. Cuộc cách mạng đó quan hệ mật thiết với cách mạng vô sản ở “chính quốc”, nhưng không lệ thuộc vào cách mạng ở “chính quốc”. Trái lại, nó có thể giành được thắng lợi trước khi giai cấp công nhân “chính quốc” lên nắm chính quyền.

Cách mạng Tháng Tám thành công để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc. Những kinh nghiệm chính là:

Một là: Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.

Con đường cứu nước của Nguyễn ái Quốc và Cương lĩnh của Đảng đã xác định cách mạng nước ta trải qua hai giai đoạn, trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ, sau đó chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến không thể tách rời nhau. Trải qua ba cao trào cách mạng, Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ đó và xác định: tuy hai nhiệm vụ không tách rời nhau nhưng nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu cụ thể như: giảm tô, giảm tức, chia ruộng đất công, chia ruộng đất của bọn phản động cho nông dân nghèo, tiến tới cải cách ruộng đất. Phân tích mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Đảng chủ trương chĩa mũi nhọn của cách mạng vào đế quốc phátxít Nhật – Pháp và bè lũ tay sai nhằm tập trung giải quyết yêu cầu chủ yếu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc. Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của sự kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.

Hai là: Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công – nông

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi là nhờ cuộc đấu tranh yêu nước anh hùng của hơn 20 triệu người Việt Nam. Nhưng cuộc nổi dậy của toàn dân chỉ có thể thực hiện được khi có đạo quân chủ lực là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đạo quân chủ lực này được xây dựng, củng cố qua ba cao trào cách mạng và lớn mạnh vượt bậc trong tổng khởi nghĩa. Dựa trên đạo quân chủ lực làm nền tảng. Đảng xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, động viên toàn dân tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Ba là: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù

Đảng ta đã lợi dụng được mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc phátxít, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và một bộ phận thế lực địa chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàng ngũ ngụy quyền tay sai của Pháp và của Nhật, cô lập cao độ kẻ thù chính là bọn đế quốc phátxít và bọn tay sai phản động; tranh thủ hoặc trung lập những phần tử lừng chừng. Như vậy, Cách mạng Tháng Tám giành được thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu.

Bốn là: Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân

Trong Cách mạng Tháng Tám, bạo lực của cách mạng là sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp nổi dậy của quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng ở cả nông thôn và thành thị, trong đó vai trò quyết định là các cuộc tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Cách mạng Tháng Tám là kết quả của sự kết hợp tất cả các hình thức đấu tranh kinh tế và chính trị, hợp pháp và không hợp pháp của quần chúng, từ thấp đến cao, từ ở vài địa phương lan ra cả nước, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp thống trị, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân.

Năm là: Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ

Đảng ta coi khởi nghĩa là một nghệ thuật, vừa vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của cách mạng thế giới, vừa tổng kết những kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở nước ta. Trong rất nhiều văn kiện của Đảng từ năm 1939 đến nửa đầu năm 1945, Đảng đã vạch ra những điều kiện làm thời cơ cho tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi chứng tỏ Đảng đã chọn đúng thời cơ. Đó là lúc bọn cầm quyền phátxít ở Đông Dương hoang mang đến cực độ sau khi Nhật đầu hàng; nhân dân ta không thể sống nghèo khổ như trước được nữa (khi hơn hai triệu người đã bị chết đói…). Đảng đã chuẩn bị sẵn sàng các mặt chủ trương, lực lượng và cao trào chống Nhật, cứu nước làm điều kiện chủ quan cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sáu là: Xây dựng một Đảng Mác – Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Đảng ta ngay từ đầu đã xác định đúng đường lối chiến lược và sách lược cách mạng, không ngừng bổ sung và phát triển đường lối chiến lược và sách lược đó. Điều đó đòi hỏi Đảng phải biết vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, kịp thời tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng.

Đảng ta rất coi trọng việc quán triệt đường lối chiến lược và sách lược, chủ trương của Đảng trong đảng viên và quần chúng cách mạng, không ngừng đấu tranh khắc phục những khuynh hướng lệch lạc. Đảng chăm lo công tác tổ chức, cán bộ, giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên về ý chí bất khuất, phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, xây dựng Đảng vững mạnh và trong sạch. Đảng biết phát huy triệt để vai trò của Mặt trận Việt Minh với hàng triệu hội viên và thông qua Mặt trận để lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

Với những yếu tố như trên và được tôi luyện qua 15 năm đấu tranh mặc dù chỉ có 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công.

Theo lichsuvietnam.vn
dostquangtri.gov.vn

Tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám 1945

Cuộc cách mạng nhân dân năng động và sáng tạo của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi vào tháng Tám năm 1945. Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo đầu tiên và duy nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa trong lịch sử nhân loại thế kỷ XX.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam đã đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp cấu kết với chế độ phong kiến gần một trăm năm, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Nó chẳng những khẳng định giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực, chiến đấu quả cảm đã “vung ra nghị lực phi thường” nhất tề đứng lên giành độc lập tự do mà còn khẳng định sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối chiến lược và sự thay đổi sách lược đúng đắn chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân, đưa Việt Nam gia nhập đại gia đình vô sản quốc tế sánh vai với các cường quốc văn minh trên thế giới.

Trong bối cảnh lịch sử thế giới thế kỷ XX, thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa thời đại to lớn.

1. Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trên toàn thế giới

Đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn thứ hai trong lịch sử phát triển. Đó là sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc mà V.I.Lênin khẳng định đó là “Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Là người đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phi mác xít của “phái hữu” và “phái giữa” trong Quốc tế Hai sau khi Ăngghen mất năm 1895, Lênin đã đấu tranh để vạch rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Theo Người, nó không phải là “Khai hoá văn minh” cho các dân tộc thuộc địa lạc hậu như một số lãnh tụ của Quốc tế Hai từng cổ suý mà nó là xâm lược, nô dịch, ăn bám, thối nát và với sự chống đối từ mọi phía. Lênin khẳng định nó tự làm suy yếu, tự nó đưa nó đến chỗ diệt vong.

Trước sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc trên tư bản. Vấn đề đấu tranh chống lại sự xâm lược và ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong đời sống chính trị quốc tế đầu thế kỷ XX. Vận dụng quan điểm “cách mạng không ngừng” của Mác – Ăngghen vào tình hình cụ thể. V.I.Lênin đã khẳng định vấn đề dân tộc – thuộc địa là vấn đề sinh tử và là trung tâm của thời đại mới. Chính Người đã chủ động chuẩn bị và lãnh đạo công nông binh Nga biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười mở đầu kỷ nguyên mới, thời đại mới. Chính Người đã chuẩn bị và thành lập Quốc tế cộng sản (QTCS) – Tổ chức quốc tế của các Đảng Cộng sản có sự tham gia lần đầu tiên của các dân tộc thuộc địa. Người đã đề ra Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa, coi vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức là trọng tâm của đời sống cộng sản quốc tế, là điều kiện được ghi trong Điều lệ để kết nạp các Đảng Cộng sản vào QTCS.

Giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhiệm vụ hàng đầu của các Đảng Cộng sản toàn thế giới lãnh đạo quần chúng nhân dân các thuộc địa. Giải phóng các dân tộc khỏi ách thống trị thực dân là nhiệm vụ trọng tâm của thời đại mới.

Là người tiếp thu học thuyết Mác – Lênin, là người có thực tiễn hoạt động phong phú trong QTCS, từng khảo sát tại các nước tư bản đế quốc nhiều thuộc địa, lớn mạnh nhất đến các nước thuộc địa lạc hậu nhất, Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận và thực tiễn vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Với những hoạt động không mệt mỏi trong 1/4 thế kỷ (từ năm 1920-1945) Hồ Chí Minh đã biến học thuyết Lênin trở thành hiện thực, điều mà trước đó Lênin vĩ đại đã bổ sung, sáng tạo biến học thuyết Mác – Ăngghen trở thành hiện thực thể hiện qua cách mạng Nga. Là người hiểu và trung thành trong đấu tranh bảo vệ và kiên trì tổ chức thực hiện tư tưởng của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, sau khi gia nhập gia đình cộng sản, Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản – bộ tham mưu của giai cấp và dân tộc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Người trực tiếp đề ra chiến lược, sách lược và phương thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, tổ chức, lãnh đạo chuẩn bị xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lãnh đạo chớp thời cơ một cách mau lẹ chính xác làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Đây là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, do đó, thành công của cách mạng là triệt để, là “đến nơi” như Hồ Chí Minh khẳng định. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Thắng lợi của cách mạng đã đập đổ ách thống trị thực dân hàng trăm năm, ách thống trị phong kiến hàng nghìn năm đưa dân tộc Việt Nam vào thời đại mới – thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, thời đại độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trở thành một hình mẫu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chiến thắng các thế lực xâm lược có thể có nhiều con đường giành thắng lợi, song cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cách mạng giải phóng triệt để nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia. Và do vậy thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự mở đầu của trào lưu phi thực dân hoá trên phạm vi quốc tế. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Mười mở đầu thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và Cách mạng Tháng Tám mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trong trào lưu cách mạng giải phóng dân tộc toàn thế giới.

Sau Cách mạng Tháng Tám và tiếp tục con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân Việt Nam tiếp tục đi đầu trong việc đánh thắng, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân cũ, đánh bại một bước nặng nề chủ nghĩa thực dân mới đã làm cho Việt Nam và Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Cách mạng Tháng Tám với ý nghĩa đó trở thành cuộc cách mạng mở đầu cho trào lưu phi thực dân hoá và biến lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc thế giới thế kỷ XX giành được toàn thắng. Đến nay không còn có nước nào không giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân hoàn toàn bị tiêu diệt trong thế kỷ XX mà Cách mạng Tháng Tám là sự mở đầu trào lưu phi thực dân hoá, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh.

2. Cách mạng Tháng Tám khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh trong dự báo cách mạng thuộc địa có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, bổ sung và phát triển Học thuyết Mác – Lênin

Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin tận gốc lại có thực tiễn khảo sát 28 nước ở 4 châu lục, điều mà các lãnh tụ kinh điển trước Người chưa có điều kiện, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đưa ra một dự báo mang tính lý luận từ rất sớm về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước cách mạng chính quốc.

Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ tự do cạnh tranh cũng như nghiên cứu chủ nghĩa tư bản thời kỳ chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, các nhà kinh điển chỉ đưa ra dự báo cách mạng các nước tư bản (chính quốc) giành thắng lợi trước mới tạo điều kiện, mới ảnh hưởng, mới giúp đỡ cho cách mạng giải phóng dân tộc. Những dự báo của Mác – Ăngghen về khả năng giành thắng lợi của cách mạng Aixơlen trước Anh mới là một dự báo chưa thành hiện thực. Thời đại Lênin tuy ông có dự báo cách mạng chính quốc phải thắng lợi trước mới giúp cho cách mạng thuộc địa dù Người đã dự báo cách mạng có thể giành thắng lợi ở một nước tư bản. Điều dự báo Lênin đã thực hiện thành công ở nước Nga thông qua Cách mạng Tháng Mười. Các lãnh tụ kinh điển chưa nói đến khả năng cách mạng thuộc địa có thể thắng lợi trước chính quốc.

Đến lượt mình luôn trung thành với học thuyết Mác – Lênin, coi đó là “chân chính nhất, cách mạng nhất” song Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn nghiên cứu sự vận động của thế giới trong thời đại mới. Nghiên cứu các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ đặc biệt là các thuộc địa của Pháp, tính chất đế quốc Pháp là chủ nghĩa đế quốc “cho vay nặng lãi” (khẳng định của Lênin) ngay từ những năm đầu mới tiếp thu Học thuyết Mác – Lênin Người đã đưa ra dự báo: cách mạng thuộc địa (thậm chí ở một nước riêng biệt) không những có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, còn có thể giúp cho những người anh em phương Tây trong sự nghiệp giải phóng khỏi mọi ách áp bức dân tộc, áp bức giai cấp của chủ nghĩa tư bản. Đây là một dự báo hết sức táo bạo, một sự khẳng định tưởng như không có cơ sở trong những năm 20 của thế kỷ XX.

Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập đã tiến hành một “núi” các công việc khổng lồ để làm cho dự báo thành hiện thực. Đó là xây dựng được một đảng cách mạng tiên phong có lý luận soi đường được vũ trang bằng chủ nghĩa “Mã Khắc Tư và Lênin”, có chiến lược và sách lược đúng đắn phù hợp tình hình đặc điểm của mỗi giai đoạn cụ thể, luôn chú trọng điều chỉnh chiến lược và thay đổi đối sách lược kịp thời. Chuẩn bị lực lượng mọi mặt, dự báo chính xác chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam trong cao trào kháng Nhật cứu nước, chớp thời cơ giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chứng minh dự báo của Nguyễn Ái Quốc về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng Pháp. chính QTCS đã thấy trước vấn đề này. Tại Hội nghị toàn thể lần thứ 11 của QTCS tháng 4 năm 1931, QTCS đã thấy về lĩnh vực dân tộc thuộc địa các đảng ở chính quốc phải “học tập các đồng chí Trung Quốc và Đông Dương”. Trưởng thành qua tổng kết thực tiễn các cao trào 1930-1931, cao trào dân chủ 1936-1939 và cao trào kháng Nhật 1939-1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã biến tư tưởng Hồ Chí Minh về thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước chính quốc thành hiện thực. Đây là sự phát triển sáng tạo và bổ sung quan trọng vào kho tàng lý luận Mác – Lênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa. Hồ Chí Minh không chỉ là trung thành vận dụng sáng tạo vào thực tiễn mà còn phát triển lý luận bổ sung cho chủ nghĩa Mác – Lênin lý luận vấn đề dân tộc và thuộc địa. Nó đã làm cho Cách mạng Tháng Tám không chỉ của Việt Nam mà là những vấn đề lý luận và thực tiễn mang tầm vóc quốc tế, có ý nghĩa thời đại.

3. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã bổ sung vào kho tàng lý luận Mác – Lênin, làm rõ nhiều vấn đề cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, khắc phục sai lầm tả khuynh của QTCS trong việc đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống phong kiến. Cách mạng Tháng Tám trong việc tập hợp lực lượng tham gia đã khẳng định đường lối sách lược trong tập hợp lực lượng đông đảo toàn dân tộc của Hồ Chí Minh là đúng đắn. Chỉ đến khi Cách mạng Tháng Tám trở lại đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược, sách lược cách mạng giải phóng dân tộc thì cách mạng mới thành công.

Cách mạng Tháng Tám còn làm rõ và bổ sung lý luận Mác – Lênin về vấn đề bạo lực cách mạng và vấn đề khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Với việc xác định đúng đắn bạo lực cách mạng là sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp chính trị với vũ trang, kết hợp khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa, đưa khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám lên tầm mẫu mực nghệ thuật trong đấu tranh giành chính quyền. Khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám trở thành một trong bốn điển hình trong đấu tranh giành chính quyền trong lịch sử thế giới thế kỷ XX.

Cách mạng Tháng Tám bổ sung lý luận của Lênin về thời cơ và nâng lên thành nghệ thuật chớp thời cơ trong bối cảnh diễn biến của tình hình thế giới hết sức phức tạp. Toan tính của các nước lớn, sự đầu hàng đồng minh của phát xít Nhật, sự yếu thế của Pháp khi chiến tranh kết thúc nếu không có sáng tạo, quyết đoán và mau lẹ chớp thời cơ thì không thể giành thắng lợi. Đây là lý do cùng ở Đông Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương nhưng chỉ có Việt Nam là giành được chính quyền trước khi quân Đồng Minh vào.

Trên ý nghĩa đó thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ngoài ý nghĩa cụ thể với dân tộc Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám còn để lại nhiều ý nghĩa mang tầm vóc thời đại. Nó chẳng những bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lênin mà còn nêu một mẫu mực đấu tranh giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Chính vì vậy các dân tộc thuộc địa coi Việt Nam là chiến sỹ tiên phong, anh hùng giải phóng dân tộc.
Thành quả của cuộc cách mạng mang lại vẫn đã và đang phát triển vững chắc 65 năm qua và sẽ tiếp tục phát triển trong thế kỷ XXI, đưa dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới./.

Theo baomoi.com
dostquangtri.gov.vn

Vĩnh Yên trong Cách mạng Tháng tám, kháng chiến chống thực dân Pháp

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, để lãnh đạo phong trào cách mạng ở Thị xã lên một bước cao hơn đòi hỏi phải có một tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo.

Trước yêu cầu đó, Ban cán sự Đảng Thị xã Vĩnh Yên được thành lập vào tháng 4/1941. Ban cán sự gồm có 3 đồng chí, do đồng chí Đỗ Đạc làm Bí thư.

Ban cán sự có nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng ở Thị xã, tập hợp những thanh niên, học sinh, dân nghèo và tổ chức phản đế tiến hành những cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và phát xít Nhật.

Từ năm 1940 trở đi phong trào cách mạng diễn ra liên tục rộng khắp. Đến tháng 6/1945 phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ ở Tích Sơn, Khai Quang, Định Trung… không khí chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền ở Thị xã đã sục sôi.

* Cách mạng tháng Tám và cuộc đấu tranh chống quân Tưởng, tay sai (8/1945 – 8/1946).

Ngày 31/8/1945 hàng vạn quần chúng trong đó có hàng ngàn tự vệ và du kích đã giương cao cờ đỏ sao vàng từ nhiều hướng tiến về Thị xã giành chính quyền nhưng khởi nghĩa không thành công do thời cơ khởi nghĩa không đúng, quân Tưởng đã kéo vào Thị xã. Do đó Vĩnh Yên phải kiên trì, anh dũng chiến đấu chống quân Tưởng và tay sai phản động, sau đó đã giành được chính quyền về tay nhân dân vào 31/8/1946.

Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng ngay chính quyền dân chủ nhân dân bằng cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ngày 23/12/1945 nhân dân Thị xã Vĩnh Yên đã nô nức tham gia bầu cử. Chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập thông qua bầu cử của nhân dân. Đó là cơ sở chính trị để chúng ta bước vào giai đoạn cách mạng mới, bảo vệ thành quả cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội, nhân dân đã tiến hành bầu cử HĐND và UB hành chính từ cấp tỉnh đến cấp xã. Tháng 4/1946 các đơn vị cơ sở đã bầu cử HĐND và UB hành chính.

Sau hơn 1 năm đấu tranh gian khổ, khó khăn, nhân dân Vĩnh Yên đã quét sạch quân Tưởng và tay sai, đập tan âm mưu của kẻ thù, thành lập chính quyền dân chủ nhân dân đầu tiên của Thị xã. Vĩnh Yên bước vào thời kỳ củng cố và xây dựng lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
* Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1947 – 1954).

Thực hiện Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch, nhân dân Vĩnh Yên đã tích cực tăng gia sản xuất, giải quyết nạn đói, quyên góp tiền vàng, ủng hộ kháng chiến, xoá nạn mù chữ. Đồng thời tiếp tục củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.
Tháng 4/1949 cử tri Vĩnh Yên đã hăng hái đi bầu cử HĐND cấp xã khoá II, nâng cao một bước hiệu lực của chính quyền dân chủ nhân dân.

Ngày 18/8/1949 thực dân Pháp đánh chiếm thị xã Vĩnh Yên, nhân dân Vĩnh Yên bước vào cuộc kháng chiến bảo vệ quê hương.

Quân và dân Vĩnh Yên đã tích cực chủ động kết hợp với bộ đội chủ lực đánh địch nhiều trận.

Từ ngày 26/12/1950 – 17/1/1951 Bộ đội chủ lực mở chiến dịch Trung du (Trần Hưng Đạo) địa bàn chủ yếu nằm trên đất Vĩnh Phúc. Quân và dân Vĩnh Yên đã tham gia cùng bộ đội chủ lực đánh một số trận nổi tiếng.

Ngày 15/1/1951 tiến hành phục kích đánh địch ở Mậu Thông (Khai Quang). Đặc biệt là trận đánh tiêu diệt địch ở núi Đinh đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như một chiến công vang dội.

Những trận đánh vang dội của quân và dân Vĩnh Yên đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng lớn của chiến dịch Trung du, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, giải phóng 9 xã, 3 thôn, mở rộng cơ sở kháng chiến ở 353 thôn khác trong tỉnh.

Từ cuối năm 1951 đến năm 1954, quân và dân Vĩnh Yên đã tổ chức nhiều đợt tấn công địch cả về chính trị, quân sự và binh vận.
Ngày 7/5/1954 tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp bị tiêu diệt, đây là thời cơ thuận lợi để toàn quân và dân ta trên khắp đất nước đứng lên đánh đuổi quân Pháp.

Đến giữa tháng 7, quân địch ở Vĩnh Yên hoang mang, dao động cao độ, chúng rút dần lực lượng về Hà Nội để tránh bị bộ đội ta tấn công tiêu diệt.
9h30 phút ngày 31/7/1954 tên lính Thực dân Pháp cuối cùng đã phải rút khỏi Thị xã. Thị xã đã tổ chức mít tinh rầm rộ chào mừng thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp.

5 năm trực tiếp kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Vĩnh Yên đã tổ chức đánh địch trên 30 trận lớn nhỏ, trong đó có những trận đánh nổi tiếng đi vào lịch sử quân đội như trận đánh ở núi Đinh, trận phục kích địch ở xã Hạnh Phúc (phường Khai Quang ngày nay).

Trong kháng chiến Vĩnh Yên đã tiễn đưa 480 thanh niên lên đường nhập ngũ, huy động 1400 người tham gia dân công hoả tuyến, trong đó có nhiều chiến sỹ đã lập công lớn. Tiêu biểu là chiến sỹ Hoàng Cầm ở xã Tam Đảo là người phát minh ra bếp Hoàng Cầm cho quân đội ta và được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc. Vĩnh Yên có 205 liệt sỹ, 78 thương binh, 8 gia đình có công với nước, 34 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đảng bộ và nhân dân thị xã đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba. Ngày 10/4/2001 Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Thị xã Vĩnh Yên vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Pháp xâm lược.

Theo vinhyen.vinhphuc.gov.vn
dostquangtri.gov.vn

Lễ báo công dâng Bác của cán bộ Công đoàn cơ sở giỏi Công ty VinaPhone

Sáng ngày 25/8/2012, trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, Đoàn đại biểu cán bộ công đoàn cơ sở giỏi giai đoạn 2008-2012 của Công ty VinaPhone đại diện cho 2.365 cán bộ, công nhân viên công ty đã tổ chức lễ báo công dâng Bác những thành tích đã đạt được.

Vinaphone1Lễ báo công dâng Bác của
cán bộ Công đoàn cơ sở giỏi Công ty VinaPhone

Từ năm 1996, mạng di động VinaPhone thuộc Tập đoàn VNPT (khi đó là Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam – VNPT) ra đời với một sứ mệnh to lớn là xã hội hóa, phổ cập hóa các dịch vụ thông tin di động. Thực hiện sứ mệnh này, năm 1999 VinaPhone là mạng tiên phong phủ sóng trên 100% các tỉnh, thành phố. Sau đó 7 năm, tháng 6 năm 2006, VinaPhone lại một lần nữa là mạng di động đầu tiên thực hiện phủ sóng 100% số huyện trên địa bàn cả nước kể cả các huyện miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Nỗ lực đầu tư, mở rộng vùng phủ sóng của VinaPhone không chỉ đem lại ý nghĩa lớn trong việc góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước, mà còn giúp cho người dân trên khắp mọi miền đất nước, đặc biệt là bà con ở các vùng xa xôi hẻo lánh được tiếp cận với các dịch vụ thông tin liên lạc di động tiện ích và thiết thực.

Dựa trên tiềm lực và chiến lược phát triển đúng đắn của Tập đoàn VNPT, mạng di động VinaPhone được đầu tư và phát triển đi thẳng vào công nghệ hiện đại nhất. Những mốc phát triển của VinaPhone luôn gắn với các dấu mốc phát triển của cả ngành thông tin di động Việt Nam. Năm 1999, VinaPhone là mạng đầu tiên triển khai dịch vụ chuyển vùng quốc tế, cho phép các thuê bao Việt Nam ra nước ngoài vẫn sử dụng được số điện thoại trong nước để nghe gọi và nhắn tin. Luôn dẫn đầu trong các xu hướng công nghệ mới, VinaPhone là mạng đầu tiên nâng cấp từ công nghệ 2G lên 2,5G và đến tháng 10/2009 VinaPhone là mạng di động đầu tiên triển khai công nghệ 3G băng thông rộng, tốc độ cao ở Việt Nam.

Vinaphone2Đồng chí Hồ Đức Thắng, Uỷ viên BCH Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam,
Phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Giám đốc, Chủ tịch Công đoàn Công ty VinaPhone trao Bằng khen cho các đại biểu

Nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng, VinaPhone đang cung cấp hơn 50 dịch vụ gia tăng trên mạng di động và đang trở thành mạng cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích nhất cho khách hàng. Trên nền công nghệ mạng hiện đại, các dịch vụ tiện ích của VinaPhone độc đáo và đa dạng. Đến nay VinaPhone có hơn 22.000 trạm thu phát sóng, hơn 7.000 trạm thu phát sóng 3G, bảo đảm thuê bao của VinaPhone đi bất kỳ đâu đều sử dụng được dịch vụ với chất lượng tốt nhất. Về công nghệ, VinaPhone là mạng có công nghệ tiến tiến và hiện đại nhất, đó là điều kiện để VinaPhone phát triển các dịch vụ gia tăng mới đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của các khách hàng. Với ý thức là một doanh nghiệp của xã hội, trong suốt 16 năm qua, VinaPhone thường xuyên tổ chức các hoạt động xã hội từ thiện như tặng nhà tình nghĩa, nuôi dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, cứu trợ đồng bào gặp thiên tai bão lũ… Gần đây, VinaPhone cùng khách hàng đã quyên góp gần 2 tỷ đồng cho chương trình Góp đá xây Trường Sa…

Có được những kết quả như trên là công lao đóng góp của toàn thể cán bộ trong Công ty, trong đó có những cán bộ công đoàn giỏi luôn đồng hành cùng chuyên môn trong việc xây dựng và phát triển Công ty. Ghi nhận những thành tích đã đạt được của Công ty liên tục nhiều năm Vinaphone đã được nhận Cờ thi đua của Chính phủ và năm 2009 Vinaphone đã vinh dự đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng và nhà nước Huân chương Lao động hạng Nhì; tổ chức công đoàn liên tục các năm được nhận Cờ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và nhiều hình thức khen thưởng khác trên các mặt công tác và phong trào công đoàn. Đặc biệt, VinaPhone tự hào được nhận hai giải thưởng xuất sắc nhất: Giải thưởng Doanh nghiệp viễn thông di động cung cấp dịch vụ trả sau xuất sắc nhất và Giải thưởng Doanh nghiệp viễn thông di động cung cấp dịch vụ mới xuất sắc nhất trong Giải thưởng Công nghệ thông tin – Truyền thông Việt Nam 2009.

Thấm nhuần lời dạy của Bác “Cán bộ là gốc của mọi công việc’’, những cán bộ công đoàn giỏi Công ty VinaPhone xin hứa với Bác luôn gương mẫu tu dưỡng rèn luyện, là những tấm gương cho đoàn viên công đoàn noi theo, góp phần giữ vững thương hiệu của VinaPhone, tiếp tục vươn xa, đồng hành với sự phát triển của kinh tế – xã hội và gắn kết với khách hàng trên khắp mọi miền đất nước.

Trong giờ phút thiêng liêng tại lễ báo công, bằng tất cả tình cảm biết ơn sâu sắc nhất, các đại biểu xin kính cẩn dâng lên Bác những bông hoa tươi thắm tượng trưng cho các việc làm tốt của cán bộ, công nhân viên Công ty VinaPhone trong thời gian qua.

Lan Hương
bqllang.gov.vn