Archive | 2012

67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 2: Người mang lệnh Tổng khởi nghĩa vào Nam

Tên thật của chị là Cái Thị Tám nhưng mọi người thường biết đến chị với tên Nguyễn Thị Kỳ – phu nhân của đại tướng Văn Tiến Dũng. Chị kể cho chúng tôi về một thời gian khổ và anh hùng trong nỗi nhớ người chồng thân yêu…

Chị là con gái Hà Nội, sinh ra và lớn lên ở làng Đồng Nhân (nay thuộc Q.Hai Bà Trưng), tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, làm công tác binh vận dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Văn Thụ rồi làm giao thông viên giữa Xứ ủy Bắc kỳ và T.Ư Đảng.

Bà Nguyễn Thị Kỳ bây giờ Bà Nguyễn Thị Kỳ bây giờ – Ảnh: Ngô Vương Anh

Từ cuối năm 1943, chị thoát ly gia đình, tạm xa đàn em còn chưa kịp trưởng thành. Với gánh chè trên vai như người bán chè rong qua các làng dọc tuyến ATK của T.Ư và Xứ ủy từ Hưng Yên, Bắc Ninh qua Phúc Yên, Đông Anh về Từ Liêm, Thượng Cát, chị giữ mối liên lạc thường xuyên giữa đồng chí Trường Chinh – Tổng bí thư của Đảng và đồng chí Văn Tiến Dũng – Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ. Trong gánh chè trên vai cô gái trẻ xinh đẹp đó là báo Cờ giải phóng, báo Cứu quốc, truyền đơn – những “hàng nặng”, có lần đến cả chục cân. Chỉ thị, thư từ liên lạc giữa các đồng chí lãnh đạo thì được cuộn chặt lại như con sâu kèn rồi cuốn kỹ trong khăn vấn đầu. Bước chân cô gái len lỏi khắp vùng ATK: bến đò Tiếu, chợ Keo, chợ Bỏi, Cổ Loa, Dâu, Xù, Gạ, Đặng, vực Dê, ao Cả…  Có những ngày gánh bộ dọc đường đê gần 50 km từ Bần (Hưng Yên) về đến làng Gạ (Phú Thượng, Hà Nội)… Không ít phen thoát hiểm trong gang tấc ở chợ Cổ Loa, ở vườn hoa Cửa Nam… nhưng khó khăn, gian khổ, nguy hiểm không làm cho chị nhụt chí.

Vợ chồng đại tướng Văn Tiến Dũng - Nguyễn Thị Kỳ thời trẻ Vợ chồng đại tướng Văn Tiến Dũng – Nguyễn Thị Kỳ thời trẻ – Ảnh tư liệu do gia đình cung cấp

Con gái Hà Nội vừa xinh vừa trắng dù ở chùa cố làm ra vẻ thôn dã nâu sồng vẫn chẳng tránh khỏi mấy gã trai lẵng vnhẵng vơ ẩn: “Lại cắc cớ sao mới phải đi tu đây”. Thậm chí, gã lý trưởng nhất định đòi lấy về làm lẽ. Lúc ở làng Bỏi (Đông Anh) lại gặp một tên háo sắc là em trai của lý trưởng. Gã này luôn mò đến tán tỉnh, săm soi, mò cả vào buồng lục lọi đôi quang gánh của chị. Lần đó chị vừa chuyển đôi ru lô (con lăn dùng để in truyền đơn trên bàn in đá) về. Tên em trai lý trưởng thần hồn nát thần tính dù chẳng biết quả bom hình thù ra sao, thấy đôi ru lô đen sì vội chạy bán sống bán chết và hét tướng lên: “Bom… bom…”. Chị phải lập tức cất giấu tài liệu đồ dùng và chuyển đi.

Cuối tháng 3.1945, đồng chí Trường Chinh giao nhiệm vụ cho chị mang tài liệu và chỉ thị của T.Ư vào Nam. Ngày 5.4, một ngày trước khi lên đường, chị Kỳ được đồng chí Tổng bí thư bố trí gặp “anh Hoài” – Văn Tiến Dũng tại một điếm canh đê ở làng Dâu. Từ giữa năm 1944, anh Hoài đã trở thành người chồng thân yêu của chị Kỳ nhưng hai vợ chồng chỉ có ba tháng cùng công tác với nhau thì anh Hoài bị bắt. Hai vợ chồng gặp nhau được ít phút, mừng mừng tủi tủi, chẳng kịp nói hết chuyện, rồi hôm sau lại chồng Bắc vợ Nam…

Đây là chuyến vào Nam công tác đầu tiên của người giao thông viên T.Ư. Hành lý chỉ gồm hai vali, một chiếc có hai đáy để giấu tài liệu. Đến Touran (Đà Nẵng), một tên Nhật sinh sự bắt chị Kỳ xuống tàu giao cho bọn hiến binh. Anh Lý Chính Thắng giữ chiếc vali hai đáy nhưng cũng kịp dặn chị Kỳ “Thuyền 103 sông Hương là cơ sở tốt”. Ở Touran, tên thông ngôn người Việt nhận chị Kỳ là người nhà và bảo lãnh cho chị Kỳ với điều kiện chị nhận lấy hắn. Chị Kỳ nhờ tên thông ngôn đưa ra khỏi Sở hiến binh để đến chiều trốn khỏi nhà hắn, thuê xe trở ra Huế. Gặp lại anh Lý Chính Thắng ở nhà thuyền 103, hai người tiếp tục cuộc hành trình quan trọng. Đến Phan Rí, đường lại tắc. Một viên sĩ quan Nhật gặp tại khách sạn nói với anh Thắng: “Chưa bao giờ tôi gặp một cô gái Việt Nam đẹp như thế. Nếu ông bằng lòng gả cô em cho tôi, tôi sẽ đưa về Nhật để ăn học…”. Tên Nhật cũng về Sài Gòn và nhận chở hai người về cùng bằng chiếc xe mô tô thùng nhà binh của hắn. Đoạn đường còn lại của hai người ít nguy hiểm hơn từ phía lính Nhật nhưng lại canh cánh nỗi lo bị các đồng chí mình trong rừng cao su tưởng nhầm là Việt gian mà quẳng cho vài trái lựu đạn. Đến Sài Gòn, vali tài liệu được chị Kỳ chuyển đến tận tay các đồng chí Hà Huy Giáp và Ung Văn Khiêm.

Sau chuyến “giao liên xuyên Việt” đó, chị Kỳ còn được T.Ư cử đi hai chuyến nữa đưa cán bộ và tài liệu từ T.Ư vào, khi trở ra lại đưa đại biểu Nam kỳ ra họp Hội nghị Tân Trào rồi lại trở vào mang chỉ thị Tổng khởi nghĩa của T.Ư đến miền Nam. Dọc đường đi chuyến này chị Kỳ đã chứng kiến làn sóng giành chính quyền cuồn cuộn từ Bắc chí Nam. Rất nhiều tỉnh dù chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa  từ T.Ư nhưng căn cứ vào bản chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã nhạy bén sáng tạo phát động nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thành công. Vai trò, ý nghĩa của bản chỉ thị lịch sử đó được đánh giá cao không chỉ ở thời điểm nó ra đời mà cho tới cả những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng 8. Dù mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa trên đường từ Bắc vào Nam chỉ đi cùng, thậm chí đi sau các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh nhưng tinh thần nhanh chóng nắm thời cơ để khởi nghĩa kịp thời đã được chuyển vào từ trước đó bởi cùng một người.

Trong không khí sục sôi tiến tới tổng khởi nghĩa, chị Kỳ đi Nam mấy chuyến liên tiếp, hai vợ chồng chẳng gặp được nhau. “Anh Hoài” về chỉ huy giành chính quyền ở chiến khu Hà – Ninh – Thanh. Sau ngày Độc lập, đồng chí Hoàng Quốc Việt dẫn đầu đoàn cán bộ của T.Ư tăng cường cho Nam bộ kháng chiến gặp chị Kỳ ở Nam bộ, đồng chí giục: “Anh Văn Tiến Dũng đang đợi cô ở trụ sở Ủy ban Ninh Bình đấy”. Chuyến ra Bắc lần này của chị rợp cờ đỏ sao vàng và ngập tràn không khí hân hoan mừng nền độc lập…

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

>> 67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945

Công nhân Quốc tế

l. Lịch sử Công nhân quốc tế thế nào ?

Trước phải biết qua lịch sử công nhân vận động, sau sẽ nói đến lịch sử công nhân.

Lịch sử công nhân vận động chia làm 3 thời kỳ: a) trước Âu chiến, b) đương lúc Âu chiến, c) khi Âu chiến rồi.

a) Trước khi Âuchiến: Bên Âu và Mỹ có chừng 16 triệu thợ thuyền có tổ chức và có một hội gọi là “Vạn quốc công hội” 70 . Nhưng 16 triệu người ấy không vào “Vạn quốc công hội” cả. Những đoàn thể vào lại chia ra nhiều phái biệt:

1. Công đoàn chủ nghĩa 71 Anh và Mỹ chỉ lo sao thợ thuyền sinh hoạt khá, mà không nói đến đánh đổ tư bản.

2. Vô chính phủ công đoàn 72 các nước Latinh 1 , thì không muốn lập chính đảng.

3. Cải lương chủ nghĩa 73 thì chủ trương công hội nên giúp chính đảng, nhưng không nên hợp với chính đảng 1 .

4. Trung lập chủ nghĩa 74 chủ trương rằng công nhân không phải là nền cách mệnh.

5. Cộng sản chủ nghĩa, chủ trương đập đổ tư bản, công nhân là nền cách mệnh, phải có chính đảng để dắt công hội làm cách mệnh.

Vì mục đích và chủ nghĩa lộn xộn không thống nhất như thế, cho nên hội không có lực lượng.

b) Khi âu chiến: Hội này đi theo Đệ nhị quốc tế, nghĩa là công hội nước nào giùm tư bản nước ấy.

Vả lại, tiếng là Vạn quốc nhưng chỉ có thợ thuyền Âu và Mỹ, còn thợ thuyền á, Phi, úc thì không vào.

c) Sau khi âu chiến: Phần thì thợ thuyền cực khổ, phần thì phong triều cách mệnh Nga, công hội càng ngày càng to. Như:

Nǎm 1913 Nǎm 1919

Anh chỉ có 4.000.000 người 8.000.000 người

Pháp chỉ có 1.000.000 người 2.500.000 người

Tất cả các nước: 15.000.000 người 50.000.000 người

Công hội bên á – Đông cùng rầm rầm rột rột lập lên (Tàu, Nhật, ấn Độ, Java, Philíppin, vân v.).

2. Phong triều ấy kết quả ra thế nào ?

Tư bản các nước thấy thợ thuyền thịnh thì sợ, và kiếm cách làm cho êm dịu xuống. Nǎm 1919 có khai đại hội bên kinh đô Mỹ, để giải quyết việc thợ thuyền trong thế giới. Trong hội ấy có đại biểu các chính phủ, các tư bản, và các công hội các nước. Nhưng nó chỉ cho bọn Đệ nhị quốc tế đại biểu cho thợ thuyền. Nước nào công nhân thịnh đã đòi được 8 giờ (như Anh, Pháp), thì đại biểu Chính phủ nước ấy yêu cầu các nước kia cũng phải dùng 8 giờ làm lệ chung (vì sợ tư bản nước kia được lợi hơn tư bản nước nó).

Sau tư bản lập ra hội Vạn quốc, lại lập thêm một bộ công nhân, có 12 đại biểu cho các chính phủ, 6 đại biểu cho tư bản, và 6 đại biểu cho thợ thuyền. Nó lại dắt mấy anh công tặc 1 làm đại biểu thợ thuyền!

3. Tư bản làm như vậy, thợ thuyền các nước có làm gì không ?

Thợ thuyền có 31 quốc tế.

29 quốc tế nghề nghiệp, nghĩa là nghề nghiệp nào có riêng quốc tế nghề nghiệp ấy; 1 quốc tế gọi là Quốc tế Amxtécđam hay là Quốc tế “vàng” và 1 Quốc tế đỏ.

Quốc tế nghề nghiệp có đã lâu, ước chừng 20.000.000 hội viên. Trong 29 quốc tế ấy, nghề sắt to hơn hết (3.000.000 người); hai là nghề than (2.500.000 người); ba là thợ làm nhà máy (2.300.000 người), vân v..

Lúc Âu chiến, các quốc tế ấy cũng tan, Âu chiến rồi lập lại, nhưng vì bọn hoạt đầu cầm quyền, nên công việc không ra gì. Như nǎm 1921, 1.000.000 người đào than Anh bãi công, vì người đào than Mỹ, Đức và các nước không giúp mà thua. Qua nǎm 1922, 500.000 thợ đào than Mỹ bãi công, cũng vì không ai giúp mà thất bại. Nói tóm lại là các quốc tế ấy có danh mà không thực.

4. Sao gọi là Quốc tế Amxtécđam hay “vàng”?

Vì Quốc tế ấy lập ra tại Amxtécđam (kinh đô Holǎng 1 ). Trong tiếng mới, phản cách mệnh gọi là sắc vàng; cách mệnh gọi là sắc đỏ.

Nǎm 1919, các công hội theo Vạn quốc công hội hội nhau tại Amxtécđam lập nên quốc tế này. Khi đầu rất to, nhưng sau nhiều công hội bỏ vào Quốc tế “đỏ”, nay chỉ còn lại công hội 23 nước, tất cả 14.400.000 người.

Quốc tế này theo bọn hoạt đầu Đệ nhị quốc tế đề huề với tư bản, và làm nhiều việc phản cách mệnh như:

1. Tán thành điều ước Vécxây của đế quốc chủ nghĩa bắt Đức đền 400.000.000 đồng.

2. Đức không gánh nổi, Mỹ lại đặt ra kế hoạch (gọi là kế hoạch Đạo Uy Tư) 2 bắt Đức đền 132.000.000.000 đồng. Kế hoạch ấy làm cho công nông Đức hoá ra nô lệ. Thế mà Quốc tế Amxtécđam cũng tán thành.

3. Không cho công hội Nga vào.

4. Phản đối cộng sản rất kịch liệt, mà đối đãi fasity rất hoà bình.

5. Sao gọi là Công nhân quốc tế đỏ?

Quốc tế vàng đã đề huề với tư bản, những thợ thuyền thiệt cách mệnh kiếm cách lập ra quốc tế khác.

Nǎm 1920, tháng 7, chỉ có mấy người công nhân Anh, ý, Pháp, Tây Ban Nha và Nga lập ra một cơ quan tuyên truyền. Nǎm 1921, đã có nhiều công hội bỏ bên kia theo bên này. Ngày mồng 3 tháng 7 nǎm ấy, Công nhân quốc tế đỏ lập thành.

Quốc tế đỏ theo về Đệ tam quốc tế, quyết làm giai cấp cách mệnh.

Nay đã có công hội 47 nước, 11.750.000 người vào.

Tháng 5 nǎm 1925 bên á – Đông có những hội này vào:

Tàu: 450.000 người;

Java: 35.000 người;

Nhật: 32.000 người;

Cao Ly: 5.000 người;

Mông Cổ: 5.000 người;

Thổ Nhĩ Kỳ: 20.000 người;

An Nam: 000.

6. Quốc tế này đối với cách mệnh An Nam ra thế nào?

Xem trong Quốc tế vàng không có công hội á – Đông nào, Quốc tế đỏ thì có 8 hội thuộc địa vào.

Khi thợ thuyền Java, ấn Độ bãi công, Quốc tế đỏ hết sức giúp, còn Quốc tế vàng thì không ngó đến.

ở Tàu, thợ thuyền Thượng Hải bãi công hơn ba tháng, Hương Cảng bãi công hơn một nǎm rưỡi, Quốc tế đỏ đã giúp tiền bạc, phái đại biểu qua yên ủi, lại sức công hội các nước giúp. Quốc tế vàng chỉ in vài tờ tuyên ngôn rồi làm thinh.

Vậy thì biết nếu thợ thuyền An Nam biết tổ chức thì chắc Quốc tế đỏ sẽ hết lòng giúp cho mà làm cách mệnh. Nhưng muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã.

cpv.org.vn

—————————-

71: Công đoàn vô chính phủ). Tr.290.

72. Tức là chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ – một trào lưu cơ hội chủ nghĩa trong phong trào công nhân, chịu ảnh hưởng về tư tưởng và chính trị của chủ nghĩa vô chính phủ. Những người theo chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ cho rằng công nhân không cần tiến hành đấu tranh chính trị, phủ nhận sự cần thiết phải có một đảng chính trị độc lập của giai cấp công nhân, phủ nhận công đoàn phải đặt dưới sự lãnh đạo của đảng, phủ nhận sự tất yếu của chuyên chính vô sản. Họ cho rằng công đoàn là hình thức tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và đấu tranh kinh tế là phương pháp đấu tranh duy nhất phù hợp với lợi ích của giai cấp công nhân, coi tổng đình công kinh tế là hình thức đấu tranh cao nhất giúp cho các công đoàn có thể thủ tiêu được chủ nghĩa tư bản mà không cần đấu tranh cách mạng, để tước đoạt các tư liệu sản xuất và nắm lấy quyền điều khiển nền sản xuất. Cách mạng Tháng Mười Nga đã giáng một đòn chí tử vào chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ, vạch rõ sự vô cǎn cứ và những hậu quả nặng nề của nó đối với giai cấp công nhân. Tr.290.

73. Chủ nghĩa cải lương là trào lưu chính trị trong phong trào công nhân, đối lập với chủ nghĩa Mác và nhưng lợi ích cǎn bản của giai cấp vô sản. Những người theo chủ nghĩa cải lương chủ trương đấu tranh giành những cải cách nhỏ bé trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản – không động đến cơ sở của chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa – để thay thế cho cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân lật đổ chủ nghĩa tư bản. Mục đích chính của chủ nghĩa cải lương là lừa bịp giai cấp công nhân, điều hoà mâu thuẫn giữa công nhân và tư sản, thực hành lý luận hợp tác giai cấp, hòng đem giai cấp vô sản phục vụ quyền lợi của giai cấp tư sản, làm cho công nhân rời bỏ cuộc đấu tranh giai cấp triệt để giành thắng lợi cho chuyên chính vô sản và cho chủ nghĩa xã hội. Lênin và những người cách mạng chân chính đã đấu tranh không khoan nhượng chống mọi hình thức của chủ nghĩa cải lương, bóc trần bản chất tư sản của nó và chống mọi đại biểu của nó ở các nước. Tr.290.

74. Có thể ở đây tác giả nói đến chủ nghĩa phái giữa, một biến tướng của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân, đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin mà đại biểu về tư tưởng và lý luận của nó là Cauxky. Trong Quốc tế thứ hai, Cauxky và đồng bọn, về hình thức đã giữ lập trường trung gian giữa phái công khai theo chủ nghĩa cơ hội (Bécxtanh) và phái xã hội – dân chủ cánh tả (Ph.Mêrinh, R.Lúcxǎmbua và C.Lípnếch), do đó có tên gọi là phái giữa. Nhưng trong thực tế họ ủng hộ và đầu hàng chủ nghĩa cơ hội, chống lại chủ nghĩa Mác và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân. Lợi dụng những lời lẽ mácxít giả hiệu và núp dưới chiêu bài những người mácxít chính thống, những người theo chủ nghĩa phái giữa mưu toan xoá nhoà bản chất cách mạng của chủ nghĩa Mác, làm lu mờ mâu thuẫn giai cấp giữa công nhân và tư sản, chủ trương đem quyền lợi giai cấp của giai cấp vô sản phục tùng quyền lợi của giai cấp tư sản, phủ nhận sự tất yếu của cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản. Lênin và những người cộng sản chân chính đã phê phán kịch liệt bọn cơ hội chủ nghĩa Cauxky, vạch trần sự trá hình, giấu mặt hết sức nguy hiểm của chúng. Tr.290.

Cộng sản thanh niên Quốc tế

l. Cộng sản thanh niên quốc tế là gì?

Trước kia các đảng xã hội có xã hội thanh niên. Các đảng ấy hợp lại thành Đệ nhị quốc tế. Các thanh niên ấy cũng tổ chức xã hội thanh niên quốc tế. Khi Âu chiến, phần nhiều Đệ nhị quốc tế đề huề với tư bản, phần nhiều thanh niên cũng bắt chước đề huề.

Những người thanh niên cách mệnh bỏ hội ấy cũng như ông Lênin và những người chân chính cách mệnh bỏ Đệ nhị quốc tế ra.

Đến tháng 11 nǎm 1919, thanh niên cách mệnh 14 nước bên Âu hội nhau tại kinh đô Đức (Béclin) lập ra Thanh niên cộng sản quốc tế.

Nãm 1921 đã có thanh niên 43 nước theo vào.

Nǎm 1922 có 60 nước, 760.000 người.

Nǎm 1924 có hơn 1.000.000 (thanh niên Nga chưa tính).

2. Cách tổ chức ra thế nào?

Đại khái cũng theo cách tổ chức Đệ tam quốc tế. Thanh niên các nước khai đại hội, cử ra một Hội uỷ viên; Hội uỷ viên có quyền chỉ huy, và thanh niên các nước nhất thiết phải theo kế hoạch và mệnh lịnh Hội ấy.

ước chừng 16 đến 20 tuổi thì được vào Hội. Trước lúc Hội cho vào thì phải thử, công nông binh thì 6 tháng, học trò thì một nǎm, làm việc được mới cho vào.

Mục đích Cộng sản thanh niên quốc tế là:

1. Thế giới cách mệnh;

2. Bồi dưỡng nhân tài để đem vào đảng cộng sản;

3. Chuyên môn về việc kinh tế và chính trị, có quan hệ cho bọn thanh niên;

4. Tuyên truyền tổ chức và huấn luyện bọn thợ thuyền, dân cày, học trò và lính thanh niên;

5. Phản đối mê tín và khuyên dân chúng học hành.

3. Cách họ làm việc thế nào?

Nơi thì công khai, như ở Nga, nơi thì nửa công khai, nửa bí mật, như ở các nước Âu và Mỹ. Nơi thì bí mật như ở Cao Ly, Java, vân v..

Tuyên truyền và tổ chức thì theo hoàn cảnh. Phái người lòn vào ở lính, hoặc làm thợ, hoặc đi cày, hoặc đi học để tuyên truyền và kiếm đồng chí. Khi kiếm được một ít đồng chí rồi, thì lập ra tiểu tổ chức. Hoặc lập ra hội học, hội đá bóng, hội chơi để lựa đồng chí và tuyên truyền.

Nói tóm lại là họ làm hết cách để xen vào trong dân chúng.

4. Cộng sản thanh niên đối với đảng cộng sản thế nào?

Hai đoàn thể ấy đối với nhau theo cách dân chủ, nghĩa là khi đảng có việc gì thì có đại biểu thanh niên dự hội. Khi thanh niên có việc gì, thì đảng có đại biểu dự hội. Đường chính trị, thì thanh niên theo đảng chỉ huy, nhưng việc làm thì thanh niên độc lập. Nếu đảng và thanh niên có việc gì không đồng ý, thì có hai Quốc tế xử phân.

Thanh niên cộng sản làm việc rất nỗ lực, rất hy sinh.

Trong nǎm 1921, Thanh niên Đức chỉ có 27.000 người và Mỹ chỉ có 4 chi bộ. Nǎm 1922 Đức đã có đến 70.000 người và Mỹ có đến 150 chi bộ.

Hồi lính Pháp đóng bên Đức, vì việc tuyên truyền, phản đối đế quốc chủ nghĩa trong quân đội, mà 120 thanh niên Pháp bị tù. Hồi Pháp đánh Marốc, cũng vì việc ấy mà hơn 3.000 thanh niên Pháp bị bắt.

Việc bãi khoá ở Tàu, vận động ở Cao Ly, bãi công ở Anh, vân v., Cộng sản thanh niên đều đứng đầu đi trước.

Ngày nay nước nào cũng có thanh niên cộng sản.

Chỉ An Nam là chưa !

cpv.org.vn

Quốc tế giúp đỡ

l. Quốc tế giúp đỡ là gì? 75

Nǎm 1921, nước Nga bị đại hạn mất mùa, dân chết đói nhiều. Đế quốc chủ nghĩa lợi dụng cơ hội ấy, bên thì muốn xui dân Nga nổi loạn, bên thì muốn kéo binh vào phá cách mệnh Nga. Phần thì đem các tàu bè vây biển Nga, không cho các tàu bè đi lại chở đồ ǎn bán cho dân Nga.

Những người có lòng tốt như ông Nanxǎn (người khoa học rất có danh tiếng nước Noócve 1 , ông ấy đi tàu bay qua Bắc cực), và các công hội đều có tổ chức hội cứu tế đi quyên tiền, đồ ǎn, và áo quần gửi cho dân Nga. Nhưng vì tổ chức tản mát cho nên sức lực yếu.

Đệ tam quốc tế và Công nhân quốc tế đỏ (mới tổ chức) xướng lên lập một hội Quốc tế giúp đỡ, để tập trung tất cả các hội cứu tế lại. Đệ nhị quốc tế và Công nhân quốc tế vàng không chịu vào, lập riêng ra một hội cứu tế riêng.

Tuy vậy, Quốc tế giúp đỡ cũng lập thành. Từ cuối nǎm 1921, đến nǎm 1922, Quốc tế này quyên được hơn 5.000.000 đồng bạc, và 40.000.000 kilô đồ ǎn cho dân Nga.

2. Khi Nga khỏi đói rồi, quốc tế này làm việc gì?

Nga khỏi đói rồi, Quốc tế này vẫn tiếp tục làm việc mãi. Bất kỳ xứ nào có tai nạn gì, Quốc tế này đều ra sức giúp. Như nǎm 1923 Ailan (Ireland) mất mùa, mấy vạn dân cơm không có ǎn, áo không có mặc, nhờ Quốc tế qua giúp mà khỏi chết đói. Nǎm 1924, thợ thuyền Đức bãi công hơn 60 vạn người, Quốc tế này lập ra nhà ǎn

không mất tiền, mỗi ngày hơn 25.000 người thợ tới ǎn. Lại lập ra nhà thương để nuôi những người bãi công đau ốm; lập ra nhà nuôi trẻ con của thợ thuyền, lập ra đội lữ hành đem trẻ con Đức qua gửi cho công hội các nước nuôi dạy. Lúc bãi công gần rồi mới đem về 1 .

Nǎm Nhật Bản có động đất, Tàu mắc lụt, Quốc tế này cũng chở đồ ǎn, đồ mặc và đồ làm nhà qua giúp.

Nói tóm lại là ở đâu mắc nạn lớn, là Quốc tế này đều giúp cả.

3. Quốc tế giúp đỡ lấy tiền đâu?

Quốc tế này không phải là một hộilàm phúc phát chẩn và bố thí như các hội của tư bản lập ra. Mục đích Quốc tế này là “thợ thuyền và dân cày trong thế giới là anh em, khi anh em xứ này rủi ro, thì anh em xứ khác phải giúp đỡ”, vậy nên, khi có việc thì hội viên ra sức quyên, khi vô sự thì phải góp hội phí. Hội phí tuỳ theo hạng người như thợ thuyền làm ra đồng tiền dễ, thì đóng nhiều hơn, dân cày ít tiền thì đóng ít. Nhưng ai cũng phải đóng.

Vì Quốc tế có chi bộ khắp cả 5 châu, và hội viên rất đông, nhất là ở Nga, cho nên chỉ hội phí góp lại cũng đã khá nhiều.

Quốc tế lại đem tiền ấy làm ra hoa lợi, như mở sở cày, làm hát bóng, mở nhà buôn, sở đánh cá, vân v.. Phần nhiều những công cuộc này đều là ở Nga. Chỉ một chỗ đánh cá ở Atrakan mỗi nǎm đánh được 4-5 triệu kilô cá.

Tiền bán ra đều để dành để giúp đỡ cho thế giới cả.

4. Quốc tế này đối với cách mệnh có ích gì?

Như nước An Nam gặp lúc vỡ đê vừa rồi, hay những khi đại hạn và lụt. Nếu Quốc tế biết, chắc có giúp đỡ. Song:

l. Là vì dân ta chưa ai biết đến mà kêu van;

2. Là Pháp sợ Quốc tế làm cho dân ta biết cách thân ái và liên hợp của vô sản giai cấp trong thế giới;

3. Nó sợ tuyên truyền cách mệnh cho nên nó hết sức giấu dân ta không cho biết rằng trong thế giới có một hội như thế và ngǎn trở Quốc tế ấy lọt vào đến An Nam.

Cái gì Pháp ghét, tất là có ích cho An Nam.

Còn như việc cách mệnh, Quốc tế này cũng giúp được nhiều. Xem như khi dân Nga đói, nhờ Quốc tế này mà không đến nỗi oán Chính phủ cách mệnh. Thợ thuyền Nhật nhờ Quốc tế này mà khôi phục được công hội lại mau. Thợ thuyền Đức nhờ Quốc tế này mà cứ việc phấn đấu, vân v., thì biết rằng Quốc tế này sẽ có ích cho cách mệnh An Nam nhiều.

cpv.org.vn

—————————-

75. Quốc tế giúp đỡ (tổ chức Giúp đỡ của công nhân quốc tế), được thành lập theo sáng kiến của Quốc tế Cộng sản vào tháng 9-1921 tại Béclin (Thủ đô nước Đức), từ cuộc Hội nghị quốc tế của các uỷ ban giúp đỡ nhân dân các vùng bị đói ở nước Nga Xôviết. Sau này tổ chức đó trở thành trung tâm quốc tế giúp đỡ các nạn nhân của chế độ tư bản. Từ nǎm 1935, tổ chức quốc tế này ngừng hoạt động; các chi bộ của nó tham gia vào các mặt trận nhân dân hoặc đấu tranh để thành lập các mặt trận nhân dân ở các nước. Tr.296.

Quốc tế cứu tế đỏ

l. Quốc tế cứu tế đỏ là gì? 76

Quốc tế giúp đỡ thì cứu tế cho dân bị tai nạn, và cũng cứu tế cho những người chính trị phạm nữa. Quốc tế cứu tế đỏ thì chuyên môn giúp đỡ cho chính trị phạm mà thôi.

Bây giờ là hồi tranh đấu; vô sản thì tranh đấu với tư bản, dân bị áp bức thì tranh đấu với đế quốc chủ nghĩa. Tư bản và đế quốc chủ nghĩa về một phe, vô sản và dân bị áp bức về một phe. Hai phe ấy cũng như hai quân đội đánh nhau. Quân đội cách mệnh thì theo cờ Đệ tam quốc tế. Quân phản cách mệnh thì theo cờ bọn nhà giàu. Đánh nhau thì chắc có người phải bắt 1 , người bị thương, người bị chết. Quốc tế cứu tế đỏ là như cái nhà thương để sǎn sóc cho những người bị thương, giùm giúp cho những người bị bắt, trông nom cho cha già mẹ yếu, vợ dại con thơ của những người đã tử trận cho cách mệnh.

2. Quốc tế cứu tế đỏ lập ra bao giờ?

Nǎm 1923, Đệ tam quốc tế khai đại hội, có hội “bị đày chung thân” và hội “những người cộng sản già” đề nghị, và Đệ tam quốc tế tán thành lập ra Quốc tế cứu tế đỏ. Trước hết lập ra tổng bộ tại Nga. Bây giờ nước nào cũng có chi bộ. (Chỉ có An Nam chưa).

Nga bây giờ có 50.000 phân bộ và 9 triệu hội viên. Tất cả công nhân và nhiều dân cày vào hội ấy, hoặc vào từng người, hoặc cả đoàn thể. Tất cả các người cộng sản và cộng sản thanh niên đều phải vào hội ấy.

Khi mới lập ra, ba tháng đầu đã quyên được 300.000 đồng. Bốn tháng sau thì quyên được 4.000.000 đồng. ở tỉnh Quảng Đông, Tàu mới lập chi bộ được 6 tháng mà đã được 250.000 hội viên.

Xem thế thì biết Quốc tế ấy phát triển rất chóng.

3. Quốc tế giúp cách thế nào?

Khi những người cách mệnh hoặc bị đuổi, hoặc bị bắt, hoặc bị tù, hoặc bị chết, thì Quốc tế giúp đỡ:

l. Chính trị;

2. Kinh tế;

3. Vật chất;

4. Tinh thần.

a) Giúp chính trị: Như có người bị bắt, bị giam, thì Quốc tế sức 1 cho các chi bộ khai hội và tuần hành thị uy. Như vừa rồi có hai người cách mệnh ý bị bắt tại Mỹ, toan phải án chết, Quốc tế sức chẳng những là thợ thuyền Mỹ làm như thế, mà lại nước nào, xứ nào có lĩnh sự 2 Mỹ thì thợ thuyền đều khai hội tuần hành và tuyên ngôn rằng: Nếu Chính phủ giết hai người ấy, thì thợ thuyền Mỹ bãi công, và thợ thuyền thế giới sẽ tẩy chay Mỹ. Mỹ thấy vậy thì không dám làm tội hai người ấy.

b) Giúp kinh tế: Hễ bị giam thì thường ǎn uống cực khổ, còn vợ con cha mẹ ở nhà thì không ai nuôi. Quốc tế gửi tiền cho để mua đồ ǎn trong nhà giam và giúp cho người nhà ít nhiều để khỏi phải đói rách. Như vậy thì những người bị giam cầm đã khỏi cực khổ quá, mà lại vui lòng. Hoặc Quốc tế xuất tiền thuê thầy kiện để chống án cho. Hoặc gửi áo quần sách vở cho.

c) Giúp tinh thần: Hoặc phái người hoặc gửi thơ đến thǎm.

1. Người ở giam biết rằng mình tuy hy sinh cho quần chúng mà quần chúng không quên mình, thế thì trong lúc bị giam đã không buồn sau được khỏi lại càng hết sức.

2. Là người ta biết rằng mình tuy phải giam một nơi, nhưng công việc cách mệnh vẫn cứ phát triển, vẫn có người làm thế cho mình.

4. Cách mệnh An Nam nên theo Quốc tế này không ?

Nên lắm. Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả. Đã là đồng chí, thì sung sướng cực khổ phải có nhau. Huống gì, dân An Nam là đương lúc tranh đấu với đế quốc chủ nghĩa Pháp, chắc là về sau sẽ có nhiều người cách mệnh phải hy sinh, phải khốn khổ, phải cần anh em trong thế giới giúp giùm.

cpv.org.vn

——————————-

76. Quốc tế Cứu tế đỏ: Một tổ chức cách mạng thành lập nǎm 1923 hoạt động theo đường lối của Quốc tế Cộng sản. Mục tiêu chủ yếu của Quốc tế Cứu tế đỏ là đoàn kết các lực lượng cách mạng để đấu tranh chống lại những hành động đàn áp, khủng bố của chính quyền đế quốc, đòi trả tự do cho những nhà hoạt động chính trị của giai cấp công nhân và của phong trào giải phóng dân tộc bị bọn thống trị bắt bớ, giam cầm. Hội còn động viên sự đóng góp của quần chúng lao động để giúp đỡ về tinh thần và vật chất cho những gia đình có người thân hy sinh hay bị tù đày vì hoạt động cách mạng. Quốc tế Cứu tế đỏ có chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới. Nǎm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu tổ chức này và nêu lên sự cần thiết phải thành lập một chi nhánh Cứu tế đỏ ở Đông Dương. Ngay sau khi Đảng ta được thành lập, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 đã quyết định thành lập Hội Cứu tế đỏ Đông Dương, một chi bộ của Quốc tế Cứu tế đỏ. Hội Cứu tế đỏ không phải là một tổ chức từ thiện, mà là một đoàn thể đấu tranh cách mạng, một tổ chức tương trợ cách mạng của đại đa số quần chúng, nên hoạt động của Hội chủ yếu hướng vào quần chúng công nông và những người bị áp bức. Đại hội lần thứ I của Đảng ta (nǎm 1935) ra Nghị quyết về Cứu tế đỏ Đông Dương vận động đã kiểm điểm hoạt động, rút kinh nghiệm và vạch ra những nhiệm vụ cần kíp của Hội. Cứu tế đỏ Đông Dương đã ra sức phát huy vai trò của quần chúng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng các dân tộc ở Đông Dương. Tr.299.

Cách tổ chức công hội

l. Tổ chức công hội làm gì ?

Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn lợi quyền cho công nhân; nǎm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới.

Đi lại không phải là bữa này người A có giỗ chạp thì người B tới ǎn; mai người B có cúng quảy lại mời người C tới uống rượu. Nhưng đi lại để bày vẽ cho nhau điều khôn lẽ phải, để giao hoán trí thức cho nhau.

Nghiên cứu chẳng những là giở sách vở, giở báo ra giảng; nhưng phải bàn bạc cách phấn đấu với tư bản và đế quốc chủ nghĩa 1 .

Sửa sang cách sinh hoạt như lập hiệp tác xã, mở hội học, hội chơi cho công nhân, vân vân.

Giữ gìn lợi quyền là khi hội đã có thế lực rồi, thì đòi thêm tiền công, bớt giờ làm, vân vân.

Giúp cho quốc dân và thế giới là đem lực lượng thợ thuyền cách mệnh làm cho ai cũng được bình đẳng tự do như thợ thuyền Nga đã làm từ nǎm 1917.

2. Cách tổ chức công hội thế nào ?

Tổ chức có hai cách, cách nghề nghiệp và cách sản nghiệp.

Nghề nghiệp là ai làm nghề gì thì vào hội nghề ấy. Như thợ may vào hội may, thợ rèn vào hội rèn.

Sản nghiệp là bất kỳ nghề gì, hễ làm một chỗ thì vào một hội. Như việc xe lửa, người đốt than, người sơn xe, người phát vé, người coi đường, người cầm máy; tất cả nhập vào một công hội xe lửa.

Tổ chức theo cách sản nghiệp thì mạnh hơn, vì thống nhất hơn. Thí dụ khi xe lửa muốn bãi công, nếu hội là sản nghiệp thì hội viên đều phải bãi công hết, thì tư bản sợ hơn. Nếu hội là nghề nghiệp, thì có khi người đốt lửa bãi công mà người cầm máy không, hoặc người phát vé bãi công mà người làm ga không, thế thì sức bãi công yếu đi.

3. Một người công nhân có thể vào hai hội không?

Không. Nếu hội ấy là nghề nghiệp, thì chỉ những người đồng nghề nghiệp được vào; ai đã vào hội sản nghiệp rồi thì không được vào hội nghề nghiệp nữa. Thí dụ: xe lửa đã tổ chức theo sản nghiệp, mấy người thợ việc 1 đã vào hội ấy rồi. Trong xứ ấy lại có một hội thợ mộc khác, những người thợ mộc trong hội xe lửa 2 không được vào.

Trong một nghề hoặc một sản nghiệp cũng không được lập hai hội.

Nhưng mà một công hội có phép vào hai tổng công hội. Thí dụ: Hội xe lửa Hà Nội đã vào Tổng công hội xe lửa An Nam lại vào tổng công hội ta nào 3 .

Nói tóm lại là đoàn thể thì có phép vào nhiều tổng công hội mà từng người thì chỉ được vào một hội mà thôi. Nếu giới hạn này không nghiêm thì sau hay bối rối.

4. Công hội với chính đảng khác nhau thế nào ?

Công hội chú trọng mặt kinh tế hơn. Đảng chú trọng mặt chính trị hơn. Ai là thợ thuyền thì được vào hội, dù tin Phật, tin đạo, tin cộng sản, tin vô chính phủ, tin gì cũng mặc, miễn là theo đúng quy tắc hội là được.

Đảng thì bất kỳ người ấy làm nghề gì, thợ thuyền hay là dân cày, học sinh hay là người buôn, miễn là người ấy tin theo chủ nghĩa đảng, phục tùng phép luật đảng 1 thì được vào.

Ai vào cả đảng và hội, chính trị thì theo đảng chỉ huy, mà kinh tế thì theo công hội chỉ huy. Đảng viên ai cũng phải vào hội để mà tuyên truyền chủ nghĩa của đảng. Nhưng không phải hội viên nào cũng vào được đảng.

5. Cái gì là hệ thống của công hội ?

Hệ thống là cách tổ chức ngang hay là dọc.

Ngang là như trong một tỉnh có hội thợ rèn, hội thợ may, hội thợ mộc, hội thợ nề, vân vân, tất cả các hội tổ chức thành tỉnh tổng công hội; hội nào cũng bình đẳng, bằng ngang nhau.

Dọc là như mỗi huyện có một hội thợ may, 4,5 hội huyện tổ chức một hội thợ may tuyền tỉnh, tất cả hội thợ may trong mấy tỉnh tổ chức một hội thợ may cả nước. ấy là dọc, nghĩa là từ dưới lên trên.

Đã ngang lại dọc, thế thì theo mệnh lịnh tổng công hội ngang hay là tổng công hội dọc ? Nếu quan hệ về sản nghiệp thì theo mệnh lịnh dọc. Nếu quan hệ về địa phương thì theo mệnh lịnh ngang.

6. Muốn hội vững bền thì phải tránh những việc gì ?

Đã vào công hội thì:

l. Nên bỏ giới hạn xứ sở, nghĩa là chớ phân biệt người này là Trung Kỳ, người kia là Nam Kỳ, người nọ là Bắc Kỳ. Và cũng không nên chia ra người An Nam, người Tàu hay là người nước nào. Đã một nghề, một hội tức là anh em cả, phải xem nhau như người một nhà.

2. Đàn ông, đàn bà đều phải bình đẳng.

3. Chớ có bỉ thử mình khéo hơn, lương cao hơn, mà khinh người vụng và ǎn tiền ít.

4. Chớ cậy mình là nhiều tuổi mà muốn làm đàn anh.

5. Chớ cho bọn tư bản vào hội.

7. Phải tổ chức thế nào cho kiên cố?

Công hội là cơ quan của công nhân để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa, cho nên tổ chức phải nghiêm nhặt, chỉ huy phải mau mắn, làm việc phải kín đáo. Muốn được như thế thì phải tổ chức như quân đội.

Quân lính thì có đội ngũ.

Thợ thuyền phải có tiểu tổ, chi bộ.

Thí dụ: Trong tỉnh có 5 nhà máy dệt vải, mỗi nhà máy phải có một chi bộ. Trong mỗi chi bộ lại chia làm mấy tiểu tổ; mỗi chi bộ phải cử 3 hoặc 5 người làm uỷ viên; (phần nhiều nên cử những người làm trong lò đã lâu, thuộc tình hình nhiều) mỗi tiểu tổ phải cử tổ trưởng. Mỗi tiểu tổ không được quá 10 người.

Tiểu tổ theo mệnh lịnh chi bộ, chi bộ theo tỉnh hội, tỉnh hội theo quốc hội 1 . Có thứ tự như thế thì trong hội có mấy mươi vạn người chỉ huy cũng dễ, và hành động cũng nhất trí.

8. Tiểu tổ làm những việc gì?

Cây có nhiều rễ mới vững, hội có nhiều tiểu tổ mới bền. Tiểu tổ phải:

1. Huấn luyện và phê bình anh em;

2. Thi hành những việc hội đã định;

3. Bàn bạc việc hội;

4. Điều tra tình hình trong lò máy;

5. Đề nghị những việc hội nên làm;

6. Thu hội phí; .

7. Báo cáo những việc làm cho chi bộ, để chi bộ báo cáo cho tỉnh bộ, vân vân.

Chi bộ nhiều người khó khai hội, khó xem xét. Tiểu tổ ít người, làm gần nhau, quen biết nhau, cho nên xem xét, huấn luyện, làm việc và khai hội dễ bí mật hơn và mau mắn hơn. Tiểu tổ là có ích như thế. Vả lại, nếu Chính phủ cấm công hội, mà tiểu tổ khéo tổ chức, thì công hội cứ tiến bộ, cứ làm việc được. Vậy cho nên người ta gọi tiểu tổ là gốc của hội.

9. Thứ tự trong công hội thế nào?

Tiểu tổ lên chi bộ.

Nếu trong tỉnh nhiều lò máy, 4, 5 chi bộ tổ chức một bộ uỷ viên (4, 5 lò ấy mỗi lò cử l hoặc 2 người).

Bộ uỷ viên lên tỉnh hội.

Tỉnh hội lên quốc hội.

ấy là thứ tự tổ chức. Còn quyền bính thì về dự hội, nghĩa là tất cả hội viên khai hội bàn định. Nếu hội viên nhiều quá, khai hội không tiện thì định mấy người cử một đại biểu dự hội, ấy là đại biểu đại hội. Đại hội nghị định việc gì, thì chấp hành uỷ viên hội phải thi hành. Khi hội tan thì quyền về chấp hành uỷ viên hội.

Đại biểu đại hội trong tỉnh một tháng khai hội một lần. Đại biểu đại hội trong nước, một nǎm một lần.

Đại biểu nên cử công nhân làm, không nên cử những người chức việc trong hội. Khi khai hội, đại biểu phải báo cáo tình trạng và ý kiến của công nhân (không phải ý kiến riêng mình), đề nghị và bàn bạc các việc. Khai hội rồi, phải về báo cáo việc hội cho công nhân.

10. Có việc gì thì giải quyết thế nào?

Từ tiểu tổ đến đại hội đều theo cách dân chủ tập trung. Nghĩa là có việc gì thì ai cũng được bàn, cũng phải bàn. Khi bàn rồi thì bỏ thǎm, ý kiến nào nhiều người theo hơn thì được. ấy là dân chủ. Đã bỏ thǎm rồi, thì giao cho hội uỷ viên làm, khi ấy thì tất cả hội viên phải theo mệnh lịnh hội ấy. ấy là tập trung. Ai không nghe lời thì uỷ viên hội có quyền phạt.

Gặp việc bất thường không kịp khai hội, thì uỷ viên có quyền xử trí, sau báo cáo cho hội.

Gặp việc bất thường lắm, thì hội uỷ viên cứ phép giao quyền cho một người, người này có quyền độc đoán, việc rồi 1 báo cáo với hội.

11. Sao hội viên phải nộp hội phí?

Có hội thì có phí tổn, như thuê nhà, bút mực, vân vân, ấy là

thường phí, hội viên phải gánh. Lại có bất thường phí, như để dành phòng lúc bãi công hoặc giúp những hội khác bãi công, hoặc giúp đỡ những người trong hội mất việc làm, hoặc làm các việc công ích, vân vân. Nếu hội không tiền thì làm không được. Cho nên hội viên phải “góp gió làm bão”.

Khi hội có tiền thừa thãi, thì nên làm những việc này:

l. Lập trường học cho công nhân;

2. Lập trường cho con cháu công nhân;

3. Lập nơi xem sách báo;

4. Lập nhà thương cho công nhân;

5. Lập nhà ngủ, nhà tắm, nhà hát;

6. Mở hiệp tác xã;

7. Tổ chức công binh 1 , đồng tử quân 2 , vân vân. Phải xem hoàn cảnh mà làm, chớ cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa chú ý. Hội tiêu tiền phải rất phân minh, cho hội viên đều biết. Hội phí không nên thu nặng quá; phải theo sức hội viên.

12. Cách tổ chức bí mật thế nào?

Khi hội được công khai, các tiểu tổ cũng phải giữ bí mật. Khi không được công khai, thì phải mượn tiếng hợp tác xã, trường học, hoặc câu lạc bộ (nhà xéc) vân vân, che mắt người ta. ở Tàu, ở Nhật nhiều nơi thợ thuyền lập nhà bán nước, ngoài thì bán bánh bán nước, trong thì làm việc hội. Thợ thuyền vào uống nước ǎn bánh, và bàn việc; cho nên ma tà mật thám không làm gì được. Có nơi lại giả hội cúng tế hoặc hội chơi, vân vân để che cho công hội.

Lại khi mới gây dựng ra hoặc ở nơi thợ thuyền ít, phải tuỳ cơ ứng biến, không nhất định cứ theo cách thường.

Đại khái cách tổ chức công hội phải thống nhất, bí mật, nghiêm nhặt, thì hội mới vững vàng.

cpv.org.vn

Tổ chức dân cày

l. Vì sao phải tổ chức dân cày?

Nước ta kinh tế chưa phát đạt, trong l00 người thì đến 90 người là dân cày. Mà dân cày ta rất là cực khổ, nghề không có mà làm, đất không đủ mà cày, đến nỗi cơm không đủ ǎn, áo không có mặc.

Xem như Trung Kỳ, tất cả chừng 5.730.000 người dân mà chỉ có chừng 148.015 mẫu ruộng.

Trước nǎm 1926, Tây đồn điền đã chiếm mất 62.000 mẫu. Từ nǎm 1926, 175 thằng Tây đồn điền lại chiếm hết:

l.982 mẫu ở Thanh Hoá,

35.426 mẫu ở Nghệ An,

17.076 mẫu ở Nha Trang,

13.474 mẫu ở Phan Thiết,

92.000 mẫu ở Kon Tum,

67.000 mẫu ở Đồng Nai.

Như thế thì dân ta còn ruộng đâu nữa mà cày!

2. Tây đồn điền choán ruộng cách thế nào?

Chúng nó dùng nhiều cách. Như tháng 6 nǎm 1922 1 , 20 thằng Tây rủ nhau xin Chính phủ Tây mỗi thằng 3000 2 mẫu trong lục tỉnh. Xin được rồi nhóm cả lại thành ra 60.000 mẫu, 19 thằng bán lại cho 1 thằng.

Tháng 8 nǎm 1926, nhà ngân hàng Đông – Pháp xin 30.000 mẫu, trong đám đất ấy đã có 6 làng An Nam ở. Khi nhà ngân hàng xin được rồi thì nó đuổi dân ta đi.

Nam Kỳ bị Tây đồn điền chiếm mất 150.000 mẫu ruộng tốt.

Phần thì Tây đồn điền cướp, phần thì các nhà thờ đạo chiếm. Các cố đạo chờ nǎm nào mất mùa, đem tiền cho dân cày vay. Chúng nó bắt dân đem vǎn khế ruộng cầm cho nó và ǎn lời thiệt nặng. Vì lời nặng quá, đến mùa sau trả không nổi, thì các cố xiết ruộng 1 ấy đem làm ruộng nhà thờ.

3. Chính phủ Pháp đãi 2 dàn cày An Nam thế nào?

Tư bản Tây và nhà thờ đạo đã choán gần hết đất ruộng, còn giữ được miếng nào thì Chính phủ lại đánh thuế thiệt nặng, mỗi nǎm mỗi tǎng. Như mỗi mẫu ruộng tốt mỗi nǎm tất cả hoa lợi được chừng 25 đồng, Tây nó đã lấy mất 2 đồng 5 hào thuế, nghĩa là 10 phần nó lấy mất một.

Nếu tính tiền thuê trâu bò, mua phân tro, mướn làm, tiền ǎn uống, thì mỗi mẫu mỗi nǎm đã hết chừng 30 đồng. Nghĩa là dân cày đã lỗ mất 5 đồng, mà Chính phủ lại còn kẹp 3 lấy cho được 2 đồng rưỡi.

Chẳng thế mà thôi. Dân ta cày ra lúa mà không được ǎn. Đến mùa thuế thì bán đổ bán tháo để nộp thuế. Tây nó biết vậy thì nó mua rẻ để nó chở đi bán các xứ, mỗi nǎm nó chở hết 150 vạn tấn. Nó chở đi chừng nào, thì gạo kém chừng ấy, thì dân ta chết đói nhiều chừng ấy.

4. Bây giờ nên làm thế nào?

Sự cực khổ dân cày An Nam là:

l. Ruộng bị Tây choán hết, không đủ mà cày.

2. Gạo bị nó chở hết, không đủ mà ǎn.

3. Làm nhiều, được ít, thuế nặng.

4. Lại thêm nước lụt, đại hạn, vỡ đê, mất mùa.

5. Đến nỗi chết đói, hoặc bán vợ đợ con, hoặc đem thân làm nô lệ như những người nó chở đi Tân thế giới.

6. Nào là chính trị áp bức (thử hỏi dân cày ta có quyền chính trị gì?) vǎn hoá áp bức (dân cày ta được mấy người biết chữ, trong làng được mấy trường học?).

Nếu dân cày An Nam muốn thoát khỏi vòng cay đắng ấy, thì phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng.

5. Cách tổ chức dân cày thế nào?

Cách tổ chức đại khái như sau:

1. Bất kỳ đàn ông đàn bà, từ những người tiểu điền chủ cho đến những dân cày thuê cày rẽ, từ 18 tuổi trở lên thì được vào. (Những người đại địa chủ, mật thám, cố đạo, say mê rượu chè, cờ bạc và a phiến 1 thì chớ cho vào hội).

2. Ai vào phải tình nguyện giữ quy tắc hội, và phải có hội viên cũ giới thiệu.

3. Làng nào đã có 3 người tình nguyện vào hội thì tổ chức được một hội làng, 3 làng có hội thì tổ chức hội tổng, 3 tổng có hội thì tổ chức hội huyện, 3 huyện có hội thì tổ chức hội tỉnh, 3 tỉnh có hội thì tổ chức hội nước.

4. Còn cách khai hội, tổ chức các bộ làm việc, tuyển cử, đề nghị, giải quyết, báo cáo thì cũng như công hội.

6. Hội dân cày nên đặt tiểu tổ hay không?

Dân cày trong làng không xúm xít đông đúc như thợ thuyền trong lò máy, cho nên hội dân cày làng thế cho tiểu tổ; người uỷ viên thế cho tổ trưởng cũng được.

Uỷ viên bên thì chỉ huy cho hội viên làm việc, bên thì thi hành mệnh lịnh từ thượng cấp truyền đến, bên thì báo cáo việc đại hội với hội viên, bên thì báo cáo công việc hội viên với đại hội.

Các hội viên thì phải:

l. Kiếm hội viên mới;

2. Điều tra cách ǎn làm và các việc trong làng;

3. Đề xướng làm các hợp tác xã;

4. Hết sức mở mang giáo dục, như lập trường, tổ chức nhà xem sách, vân vân;

5. Khuyên anh em dân cày cấm rượu, a phiến, đánh bạc;

6. Đặt hội cứu tế, vân vân.

Nói tóm lại là kiếm làm những việc có ích cho dân cày, có lợi cho nòi giống.

7. Nếu không có tiểu tổ sao giữ được bí mật?

ấy là nói về lúc bình thường, có lẽ công khai được. Nếu lúc phải giữ bí mật, thì:

l. Phải dùng cách tiểu tổ;

2. Chớ gọi là hội dân cày, nhưng gọi là phường lợp nhà, phường đánh cá, phường chung lúa, vân vân để mà che mắt thiên hạ. Vả trong làng xã An Nam hiện bây giờ cũng có nhiều phường hội như thế, muốn tổ chức dân cày thì nên theo hoàn cảnh mà lợi dụng những phường ấy. Cốt làm sao cho người ngoài đừng chú ý là tốt.

Khi hội đã vững, hội viên đã đông, lại nên đặt các bộ chuyên môn 1 như:

Bộ tập thể thao;

Bộ cải lương nghề cày cấy 2 ;

Bộ người cày thuê (đi cày thuê gặt mướn cho người ta, mình không có đất ruộng trâu bò gì cả);

Bộ người cày rẽ;

Bộ thủ công nghiệp (thợ thuyền trong làng tuy không cày ruộng, hoặc nửa cày nửa thợ, cũng phải cho vào hội dân cày);

Bộ thanh niên, bộ phụ nữ, bộ giáo dục, vân vân.

8. Có nông hội rồi đã khỏi những sự cực khổ nói trên chưa?

Sự tự do, bình đẳng phải cách mệnh mà lấy lại, hội nông là một cái nền cách mệnh của dân ta. Nếu thợ thuyền và dân cày trước tổ chức kiên cố, sau đồng tâm hiệp lực mà cách mệnh thì sẽ khỏi những sự cực khổ ấy. Dẫu chưa cách mệnh được ngay, có tổ chức tất là có ích lợi. Như mỗi nǎm Tây nó bắt dân ta hút 150 vạn kilô a phiến, nó lấy 1.500 vạn đồng lời. Nó bắt ta mua 173.000.000 lít rượu, nó lấy l000 triệu phrǎng lời. Nó vừa lấy lời vừa làm cho ta mất nòi mất giống. Nếu dân cày tổ chức mà khuyên nhau đừng uống rượu, đừng hút a phiến, thì đã cứu được nòi giống khỏi mòn mỏi, mỗi nǎm lại khỏi đem 1.000.000.000 phrǎng và 15.000.000 đồng bạc cúng cho Tây. Tây nó áp bức ta vì ta không thương yêu nhau, vì ta ngu dốt. Có hội hè rồi trước là có tình thân ái, sau thì khuyên nhau học hành. Chúng ta đã biết “cách mệnh” tinh thần, “cách mệnh” kinh tế, thì “cách mệnh” chính trị cũng không xa.

cpv.org.vn

“Rủ nhau đi làm cách mạng…”

TT – Đã 83 tuổi nhưng bác Sáu Chí (Nguyễn Văn Chí) hồ hởi ra mặt khi nghe nhắc chuyện Cách mạng Tháng Tám. “Ui chao, không khí những ngày ấy tuyệt vời lắm. Ngày ấy chúng tôi gọi là: rủ nhau đi làm cách mạng”. Câu chuyện về những ngày tổng khởi nghĩa cứ thế cuốn theo cái đà “rủ nhau” ấy…

Tham gia cách mạng và vào Đảng từ phong trào Nam kỳ khởi nghĩa 1940, đến thời kỳ tổng khởi nghĩa tôi làm bí thư quận Trung, tỉnh Chợ Lớn (một phần Long An bây giờ). Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, phong trào bị đàn áp nhưng cái mầm để khôi phục rất lớn, rất khỏe.

Tại Sài Gòn, hàng triệu đoàn viên và thanh niên trong cả nước đã hăng hái đi đầu trong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945 (ảnh tư liệu)

Nhà nào cũng cất giấu cờ đỏ sao vàng, bà con nào cũng say mê tấm ảnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Dân tản cư từ Sài Gòn ra để tránh bom đạn của liên quân cũng rất đông. Chính sách tàn bạo của Nhật thì ai cũng biết và khiếp sợ. Chúng tôi cứ dựa vào đó để dấy lên phong trào.

Các tổ chức đoàn hội bán công khai dưới danh nghĩa cứu tế được thành lập, thanh niên được vận động trốn lính, giúp dân từ việc làm ruộng đến việc tang ma. Chúng tôi giúp dân không lấy công, không ăn cơm nên họ rất tin tưởng. Những buổi tối, buổi trưa vãn việc, thanh niên trí thức lại tập họp dân chúng lại đọc báo, phổ biến tình hình cho bà con.

Từ những buổi nói chuyện này, chủ trương cách mạng đã được tuyên truyền tới nông dân, và tổ chức cũng nhận ra được những người nòng cốt, sẵn sàng sống chết với cách mạng. Tôi nhớ mãi hôm chúng tôi tổ chức đọc thư của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào cả nước. Trước đó, hết Pháp rồi Nhật loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết khiến mọi người hoang mang, thất vọng.

Rồi thư của Người đến: “Cơ hội giải phóng đã đến rồi. Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết. Ai là người Việt Nam đều phải gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, có của góp của, có sức góp sức, có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành độc lập, dù phải hi sinh tính mệnh cũng không nề”.

Người đọc cao giọng ở trên, người nghe sụt sùi ở dưới, nhưng sau đó là một không khí bừng bừng phấn khích. Mấy bà má tìm tôi: “Vậy là Nguyễn Ái Quốc còn sống, thế là yên tâm rồi”.

Thời bây giờ mà nhớ lại những ngày hoạt động ấy thì thấy buồn cười. Chúng tôi đi làm cách mạng mà cứ rủ nhau như là rủ ra ruộng làm đồng, hẹn giờ bằng đồng hồ mặt trời. Tình hình toàn cục thì cứ mua BáoDân Chúng để theo dõi, vì tài liệu của tổ chức đưa theo đường dây rất chậm, giao liên toàn đi bộ mà. Việc đảm bảo bí mật hoàn toàn dựa vào lòng tin và sự lan truyền của những người cùng dòng họ.

Thế mà việc cướp chính quyền lại thành công mỹ mãn. Đa số nhân dân không biết đọc, nhưng chỉ sau một đêm họp phổ biến bản Hiệu triệu của Xứ bộ Đảng Cộng sản Đông Dương, đi đến đâu cũng nghe bà con râm ran đọc thuộc lòng “Họ quyết tâm đưa chúng ta làm bia đỡ đạn cho họ. Quân đội họ nắm, kinh tế họ chiếm, ngoại giao họ lo, chính trị họ cầm cả. Cứu ta chỉ có ta thôi, trông cậy vào người là chết”.

Rằm tháng bảy năm ấy (tức khoảng 22, 23-8), nửa đêm Ủy ban Khởi nghĩa đánh trống quân tập hợp dân đi cướp chính quyền. Khắp các làng mọi người đổ ra, rầm rập tay đuốc, tay vũ khí, mà chỉ là dao, mác, roi tre, gậy tầm vông. Đội Thiếu niên tiền phong đã được tập từ trước nên hàng ngũ rất tề chỉnh. Không khí ấy khiến đám hương ước, hội tề trong làng rất kinh hoảng không dám chống cự.

Chúng tôi chiếm đóng nhà làm việc, và đến sáng thì chính quyền mới đã thành lập xong, đầy đủ các chức vị chủ tịch, ủy viên hành chính, quân sự, an ninh…, các chính sách lớn như bỏ thuế thân, tự do hội họp được công bố khiến bà con rất phấn khởi.

Ông Nguyễn Văn Chí (Sáu Chí), sinh năm 1921, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Hiện ông là ủy viên thường trực Ban chỉ đạo hội đồng biên soạn “Lịch sử Nam bộ kháng chiến”

Nhưng tất cả việc đó vẫn chỉ là hình thức của cách mạng. Cái lớn nhất mà công cuộc tập hợp nhân dân cướp chính quyền đã đạt được chính là điều được nhấn mạnh trong thư của Nguyễn Ái Quốc: Toàn dân đoàn kết.

Sự đoàn kết, thương yêu lẫn nhau trong những ngày ấy đạt đến mức gần như tuyệt đối. Đi đến đâu chúng tôi cũng gặp những gương mặt tươi cười, hào hứng, sẵn sàng đem tất cả những gì mình có để giúp người khác.

Những xích mích về bờ giậu, khoảnh ruộng, bờ ao mới hôm trước còn là những việc tày đình thì hôm nay mọi người vui cười bỏ qua trước sự chứng kiến của mặt trận Việt Minh. Các gia đình chia nhau nấu cơm cho anh em tự vệ, trước cửa nhà làm việc lúc nào cũng có mấy bà má xởi lởi mang sang rổ khoai, mớ bánh ú. Chuyện cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút mới cách đó ít lâu còn đầy rẫy thì nay bỗng vắng bóng.

Trong quy định của Việt Minh còn có khoản cấm rượu chè, nhưng ở tỉnh Chợ Lớn có làng Gò Đen nổi tiếng, dân địa phương quan niện “vô tửu bất thành lễ”. Biết không thể cấm được, chúng tôi đưa ra khuyến cáo “không được say xỉn”. Thế là cảnh thanh niên, đàn ông mặt mày đỏ gay, đi lại ngật ngưỡng không thấy xuất hiện nữa.

Tối tối, các lớp học bình dân rộn ràng tiếng đánh vần, ai cũng đi học, từ con nít đến ông bà già. Họ bảo nhau: “Không đi học làm sao đọc được thư của lãnh tụ”. Sáng 2-9, chúng tôi cũng tổ chức lễ độc lập, chủ tịch tỉnh đứng lên đọc các văn bản được tổ chức gửi xuống, đọc các tin tức trên báo chí.

Nghe tên Hồ Chí Minh, mọi người rất xôn xao, nhao nhao hỏi: “Hồ Chí Minh là ai?”. Chúng tôi giải thích đó là tên mới của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, rồi phải mang ảnh ra so sánh làm bằng chứng mọi người mới tin. Và từ đó lại càng nô nức đi học.

Những ngày tuyệt vời ấy tiếc thay lại chỉ có 29 ngày ngắn ngủi. Pháp quay trở lại. Đã biết kinh nghiệm của những ngày phong trào Nam kỳ khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu, một số người có tư tưởng hoang mang, dao động, chúng tôi lại tập họp, giải thích rằng lần này chúng ta đã có Nhà nước, có Chính phủ, thủ đô vẫn còn, Bác Hồ vẫn đó, chiến khu Việt Bắc đã được chuẩn bị sẵn…

Nghe đến tên Bác Hồ, mọi người lại yên tâm, lại bừng bừng khí thế và cứ thế nô nức đi thẳng đến những ngày Nam bộ kháng chiến…

PHẠM VŨ ghi
qdnd.vn

Ký ức những ngày tháng 8 lịch sử của vị đại tá già

(Dân trí) – Cách mạng về làng, từ “cậu ấm”, Nguyễn Đồng trở thành chiến sỹ cách mạng và gắn bó trọn đời mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những ngày tháng 8 lịch sử, ký ức về ngày đầu tham gia cách mạng lại sôi sục trong ông.

Đại tá Nguyễn Đồng tái hiện không khí của những ngày Cách mạng tháng TámĐại tá Nguyễn Đồng tái hiện không khí của những ngày Cách mạng tháng Tám

Trong những ngày cả nước cùng kỷ niệm ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8 (19/8/1945), ở căn nhà nhỏ tại xã Nghi Phú (Tp Vinh, Nghệ An), đại tá Nguyễn Đồng cũng sống dậy với ký ức hào hùng của bước đầu tham gia hoạt động cách mạng. Sinh năm 1927 tại làng Dương Liễu, tổng Nam Kim, huyện Nam Đàn (nay là xã Nam Trung, Nam Đàn, Nghệ An), với gia đình khá bề thế của mình, Nguyễn Đồng đi ra đường được người dân cung kính gọi bằng “cậu”. Với một ít vốn liếng chữ Quốc ngữ cộng với gia thế của mình, chàng thanh niên trẻ này cũng được định hướng làm Hương lý của làng.Lấy vợ khi cách mạng trong nước đang có những chuyển biến rõ rệt, Nguyễn Đồng cũng “bâng khuâng đứng giữa 2 dòng nước”. Ông nhớ lại: “Hồi đó phong trào thanh niên Phan Anh của Chính phủ Trần Trọng Kim cũng hoạt động hết sức sôi sổi, nó khác hoàn toàn với chế độ phong kiến đang tồn tại nên tôi có ý định tham gia. Tuy nhiên ý định của tôi đã bị bố và bác can ngăn. Đúng lúc đó, ông Nguyễn Trọng Trường (con địa chủ, tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm – PV) về làng tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Nhận thấy phong trào yêu nước của Việt Minh có nhiều tiến bộ ưu việt, tôi quyết định tham gia”.

Thời kỳ tiền khởi nghĩa, tổ chức của 30 thanh niên trong xã dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Trọng Trường hoạt động dưới mô hình như đội tự vệ đỏ của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930. Do yêu cầu của tổ chức nên đội hoạt động hết sức bí mật, chủ yếu sinh hoạt vào ban đêm, mặc dù vậy vẫn hết sức nghiêm túc. “Chúng tôi được hướng dẫn cách hoạt động du kích, cách đánh giặc, được tập hát các ca khúc cách mạng. Ai cũng say sưa hát những bài như Diệt phát xít, Quốc tế ca… Chúng tôi hoạt động ở đình làng, bí mật lắm, đến nỗi vợ tôi cũng không hề biết tại sao cứ đến tối là chồng lại biến mất”, ông Đồng kể.

Đại tá Nguyễn Đồng tái hiện không khí của những ngày Cách mạng tháng Tám“Nếu không có cách mạng, có khi tôi sẽ trở thành Hương lý, đứng ở chiến tuyến đối chọi với người dân”

“Đầu tháng 8/1945, ông Trương cho biết, thời cơ cách mạng đã chín muồi, sẽ có một cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, anh em ai cũng phấn chấn lắm. Chúng tôi tự trang bị vũ khí, chủ yếu là dao găm, giáo mác. Hết thời hoạt động bí mật, chúng tôi chuyển sang hoạt động công khai. Anh em vác vũ khí trên vai, rùng rùng kéo đi cướp chính quyền ở xóm, xã. Lúc này chính quyền phong kiến đã hết sức rệu rã nên việc cướp chính quyền hết sức thuận lợi. Quân khởi nghĩa đi đến đâu, Hương lý run rẩy nộp hết con dấu, giấy tờ sổ sách tới đó. Lực lượng cách mạng đứng hai bên đình, chứng kiến cuộc trao con dấu, báo cáo quỹ của lý trưởng cho chính quyền mới quản lý. Giây phút đó chúng tôi hiểu rằng cuộc đời của người dân cùng khổ đã bước sang trang mới, được làm chủ cuộc sống của mình, thoát khỏi ách kìm kẹp của chế độ phong kiến và tay sai”.

Kết thúc cướp chính quyền ở xóm, xã, chuẩn bị cho cuộc cướp chính quyền ở huyện, ông hồi hộp thức trắng đêm. Cả làng không ngủ, đàn ông chuẩn bị vũ khí, phụ nữ chuẩn bị cơm nắm, nước chè xanh để ngày mai kéo lên huyện. “Hồi đó, phụ nữ trong làng đều mặc váy đụp. Nghe bảo thời đại mới mặc váy người ta cười cho, phải mặc quần, phụ nữ trong làng thức trắng đêm để… may quần. Vợ tôi tháo cái áo cưới may được 2 cái quần dài, một cho mẹ, một cho mình để sáng mai đi cướp huyện lỵ”, ông hóm hỉnh kể lại câu chuyện chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa ở làng mình.

Sáng ngày hôm sau, đoàn biểu tình làng Dương Liễu, tổng Nam Kim kéo nhau theo đê sông Lam tiến lên huyện lỵ. Các bà, các cô gánh thêm những gánh cơm nắm muối vừng để phục đoàn biểu tình. Đi qua đò, cơm bị nhúng nước, nát vụn. Đoàn quân mang theo cờ đỏ búa liềm rợp đỏ cả dòng Lam rồi nhập vào đoàn biểu tình của các xã khác kéo dài đến hàng km. “Chúng tôi vừa đi vừa hô khẩu hiệu, hát các bài hát cách mạng, quên cả mệt. Lên đến nơi đúng lúc chính quyền lâm thời công bố Phạm Nghiêm – làng Đông Sơn làm chủ tịch huyện, trong làng tôi có ông Nguyễn Hoài Sâm – làm ủy viên quân sự huyện.

Phấn khởi quá, giờ mình đã làm chủ cuộc sống của mình rồi. Sau khi cướp chính quyền, chúng tôi được tập trung nghe phổ biến chủ trương của chính quyền non trẻ. Khỏi phải nói, lần đầu tiên người dân thấy được quyền làm chủ của mình, được thông báo, được tham gia ý kiến vào các hoạt động của chính quyền non trẻ, nên ai cũng hăng hái tham gia ủng hộ tuần lễ Vàng, bình dân học vụ, các hoạt động bài trừ mê tín dị đoan và tham gia vào các đoàn thể xã hội. Nếu không có cách mạng thì biết đâu tôi sẽ làm hương lý, đứng vào hàng ngũ đối chọi với người dân. Cách mạng đã cho tôi nhiều rất nhiều thứ…”, đôi mắt của người chiến sỹ cách mạng bước sang tuổi 85 như có lửa khi nhớ về những ngày đầu tham gia cách mạng.

Giới thiệu cuốn hồi ký những ngày hoạt động cách mạng với phóng viênGiới thiệu cuốn hồi ký những ngày hoạt động cách mạng với phóng viên

Cướp chính quyền thành công, ông được giao làm Bí thư đoàn thanh niêm kiêm đội trưởng đội tự vệ xã. Vốn có ít chữ nghĩa, ông được phân công tham gia giảng dạy lớp bình dân học vụ. Năm 1947 ông vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng và được phân công đi học quân sự của huyện. Năm 1948, kết thúc lớp học chi ủy viên ở huyện, ông được cử làm Phó Bí thư Đảng ủy xã Khánh Tân (được hợp nhất từ 2 xã Tân Hợp và Khánh Tân). Đầu năm 1949, ông được cử làm Trợ lý dân vận huyện nhưng chỉ được 1 tháng sau lại được điều lên Văn phòng Tỉnh ủy phụ trách công tác văn thư.

Chuẩn bị cho cuộc tổng phản công đánh đuổi giặc Pháp, năm 1950, ông được cử đi học lớp chính trị viên đại đội rồi gia nhập quân đội, tham gia chiến dịch Hòa Bình (1951), chiến dịch Thượng Lào, Điện Biên Phủ. Kết thúc kháng chiến chống Pháp, ông có 10 năm làm việc ở Tổng cục chính trị trước khi tham gia chiến trường B. Kết thúc chiến tranh, ông về địa phương đảm nhận nhiều chức vụ trong quân đội. Trước khi về hưu, ông Nguyễn Đồng với hàm đại tá, là phó Sư đoàn trưởng về chính trị của Sư đoàn 348 Quân khu 4. Về hưu năm 1986, ông tiếp tục tham gia công tác địa phương từ xóm trường, bí thư chi bộ, hội cựu chiến binh…

Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi ông dành nhiều tình cảm tốt đẹp cho người vợ của mình, bà Phạm Thị Sáu (SN 1927). Công việc của tổ chức phân công, ông đi suốt nên mọi công viêc đồng án, kinh tế trong nhà, dạy dỗ 4 đứa con khôn lớn đều một tay bà lo toan để ông yên tâm hoạt động cách mạng. 45 lấy nhau nhưng thời gian bà sống gần chồng rất ít. “Chiến tranh mà, bao nhiêu người phụ nữ đều phải chấp nhận như thế chứ có phải một mình tôi đâu”, bà cười đáp lại những lời nói tốt đẹp chồng dành cho mình.

Những ngày cuối đời, ông bà có thể mỉm cười hài lòng với những gì mình đang có. 4 người con của ông bà đều thành đạt, có vị trí trong xã hội. Với ông, được quây quần với các cháu chắt trong ngôi nhà nhỏ ở xóm “gia binh” là hạnh phúc tuổi già.

Hoàng Lam
dantri.com.vn

Cách mạng Tháng 8: thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân

Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc. Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã lật nhào chính quyền tay sai của phát-xít, thực dân, phong kiến, giành chính quyền cách mạng trên cả nước, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 là thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa lịch sử của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðó là thắng lợi rực rỡ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới cho Việt Nam: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh, mở đường cho hàng loạt thắng lợi vẻ vang của dân tộc hơn 60 năm qua.

Thời cơ lớn để Tổng khởi nghĩa là lúc phát-xít Nhật thua trận. Thời cơ đó đã được Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp tại Khuổi Nậm (Cao Bằng) năm 1941, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ và đã xác định những công việc lớn cần xúc tiến như phát triển lực lượng chính trị, lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, các căn cứ địa. Không có chuẩn bị, không có lực lượng thì không nắm được thời cơ thuận lợi. Nhiều nước ở châu Á năm 1945 cùng đứng trước thời cơ lịch sử này nhưng không nổi dậy được. Rõ ràng nội lực là yếu tố quyết định thắng lợi. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 8 (1941), Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp ở Ðình Bảng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường-Chinh ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, đã ra chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta!”. Chỉ thị ngày 12-3-1945 đã nói rõ: “Dù sao ta không thể đem việc quân Ðồng Minh đổ bộ vào Ðông Dương làm điều kiện tất yếu cho Tổng khởi nghĩa của ta, vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu giặc Nhật mất nước, như Pháp năm 1940 và quân viễn chinh Nhật mất tinh thần, thì khi ấy, dù quân Ðồng Minh chưa đổ bộ, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”.

Ngày 20-7-1945, tỉnh Quảng Yên; ngày 15-8-1945, tỉnh Quảng Ngãi đã khởi nghĩa thắng lợi.

Ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa do Tổng bộ Việt Minh thành lập ra “Quân lệnh số 1”, hạ lệnh cho quốc dân đồng bào cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa. Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào gồm 60 đại biểu bắc, trung, nam và đại biểu kiều bào ở nước ngoài, đại diện các đảng phái, đoàn thể nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, đoàn thể nhân dân, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Tổng bộ Việt Minh. Ngày 19-8-1945, Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi; đến ngày 25-8-1945, Sài Gòn khởi nghĩa thắng lợi. Như vậy là, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước ta từ bắc chí nam, hầu như đã đồng loạt vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi vẻ vang, tái sinh ra sức mạnh thống nhất của cả nước, của các dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo thống nhất của một Ðảng duy nhất. Việt Nam là một nước trên một dải đất dài, có 54 dân tộc anh em, lại bị thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị, những thủ đoạn lừa bịp về độc lập giả hiệu, khối đại đoàn kết Ðông Á của phát-xít Nhật mê hoặc, đi đôi với sự đàn áp tàn bạo những người yêu nước, cho nên phải có một Ðảng thống nhất lãnh đạo, vừa kiên cường vượt qua mọi thử thách, vừa thể hiện tập trung ý chí và tầm cao trí tuệ của dân tộc, mới giành được thắng lợi nhanh gọn khi có thời cơ thuận lợi. Ðảng có cơ sở tổ chức trên toàn quốc làm nòng cốt lãnh đạo các địa phương vùng lên kịp thời, chớp được thời cơ “ngàn năm có một” đã giành được chính quyền cách mạng trên cả nước.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám-1945 là sự vùng lên của hàng chục triệu nhân dân cả nước, cả ở rừng núi, nông thôn và thành thị, đập tan chính quyền phản động, mà đòn quyết định cuối cùng là ở các thành thị lớn. Lực lượng cách mạng của quần chúng đã áp đảo lực lượng phản động, làm nổi bật sức mạnh “xoay trời chuyển đất” chưa từng có của khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ bắc đến nam. Lực lượng vũ trang cách mạng tuy còn nhỏ nhưng đã là những đội quân xung kích, đã từng đánh Pháp, đánh Nhật với những trận nổi tiếng như Phai Khắt – Nà Ngần, Tam Ðảo, Sơn Dương, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Quảng Yên… Các đội vũ trang cách mạng đã hỗ trợ, bảo vệ quần chúng biểu tình, tuần hành thị uy, tiến công các đồn bốt, các trại bảo an, trấn áp bọn Việt gian, bọn phản động, chiếm các công sở, phá các nhà tù, kho súng. Không có lực lượng vũ trang cách mạng, chính quyền tay sai Nhật không tan rã nhanh chóng, không hạn chế được sự chống đối của kẻ thù cầm súng. Không có lực lượng vũ trang cách mạng không thể làm tăng thêm sức mạnh tiến công của lực lượng chính trị của quần chúng, đưa cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh gọn. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là cuộc khởi nghĩa vũ trang, song lực lượng chính trị của quần chúng có sức mạnh quyết định.

Cách mạng Tháng Tám đã thể hiện nổi bật sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc mới xuất hiện, sau một thời gian dài hàng trăm năm bị phân tán, chia rẽ, xói mòn. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đã mở ra bước ngoặt trong việc tập hợp lực lượng toàn dân tộc ở nước ta. Ngày 20-11-1941, Mặt trận Việt Minh đã nêu rõ mục tiêu là làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do. Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với tiến bộ xã hội. Ðánh đuổi được Nhật, Pháp, nước ta xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa, thực hiện phổ thông đầu phiếu, ban bố các quyền tự do dân chủ, nam nữ bình đẳng, các dân tộc thiểu số có quyền tự quyết, thực hiện giảm tô, chia lại công điền, thực hiện ngày làm 8 giờ, phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, khuyến khích trí thức phát triển y tế, giáo dục, văn hóa văn nghệ, thể dục – thể thao… Mặt trận Việt Minh tập họp mọi lực lượng yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, trên nền tảng liên minh công nông và lao động trí óc, đoàn kết với mọi tầng lớp, không phân biệt ngành nghề, sắc tộc, tôn giáo, mọi nhân sĩ, không thành kiến với quá khứ, cùng hợp tác vì mục tiêu cao nhất là độc lập, thống nhất cho đất nước. Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào là một hình ảnh tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc. Trong cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, tại Bắc Bộ Phủ, ta bắt được Ngô Ðình Diệm, muốn ông ta cùng phấn đấu cho nước nhà độc lập, nhưng Diệm từ chối và ta đã trả tự do cho ông ta. Chính phủ lâm thời nước ta lập nên sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, gồm những nhà cách mạng từng trải và các nhân sĩ, trí thức, cả những người từng tham gia chính phủ Trần Trọng Kim theo Nhật. Thực hiện được đại đoàn kết dân tộc là do Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh có chính sách đúng, vừa coi trọng củng cố nền tảng vững chắc là công nông liên minh, vừa ra sức mở rộng Mặt trận, xác định đúng quyền lợi và nghĩa vụ với mọi tầng lớp, phát huy mọi khả năng phục vụ Tổ quốc, không thành kiến, hẹp hòi, lắng nghe các ý kiến khác nhau – coi đó là lẽ thường tình, chỉ trừ những kẻ chống đối, có ý kiến và hành động chống lại nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc.Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc, của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của dân tộc Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám.

Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công! Khẩu hiệu đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra và thực hiện một cách tuyệt vời trong lãnh đạo cách mạng.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã mở đường cho những thắng lợi vẻ vang của nước ta trong sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, trong sự nghiệp đổi mới ngày nay.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo của Ðảng, đồng thời xây dựng các nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ðó là:

– Sự lãnh đạo của một Ðảng duy nhất – lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

– Một Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

– Một Mặt trận đại đoàn kết dân tộc.

– Một quân đội cách mạng kiên cường chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Mối quan hệ quốc tế gắn liền Việt Nam với thời đại, tiến kịp với thời đại. Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đồng thời ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các nước.

Ngày 21/08/2009
Ban biên tập Website
(Theo báo Nhân dân)

impe-qn.org.vn

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)

(BGĐT)- Những năm 1943, 1944 cơ sở Đảng và quần chúng cách mạng ở Bắc Giang được phát triển rộng. Các đoàn thể cứu quốc được tổ chức chặt chẽ hơn. Thời gian này, bộ máy thống trị của địch bắt đầu bị lung lay. Nhiều địa phương, chính quyền địch đã bị tê liệt.

Bến đò năm xưa qua sông Cầu thuộc địa phận huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) đã từng đưa đón cán bộ cách mạng của ta trước Cách mạng tháng Tám- 1945. Ảnh tư liệu.

Các cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng cách mạng ở vùng Hiệp Hoà, Yên Thế đã hoạt động nửa công khai, nửa bí mật. Bọn hào lý hầu như không đàn áp như trước. Có nơi bọn chúng gặp Việt Minh để xin giao lại quyền giải quyết mọi công việc của địa phương. Trong khi đó, một số địa phương các đảng phái phản động, thổ phỉ nổi lên tranh giành quyền lực với Việt Minh như ở Phủ Lạng Thương, Việt Yên, Yên Dũng, Lục Ngạn, làm ảnh hưởng đến việc mở rộng phong trào cách mạng của ta.

Những năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 sắp kết thúc, Liên Xô và phe đồng minh tiến công vào xào huyệt của phát xít Đức. Ở nước ta mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp tiến lên gay gắt, ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp chiếm Đông Dương.

Ở tỉnh Bắc Giang, bộ máy thống trị của thực dân Pháp đã nhanh chóng hạ vũ khí đầu hàng phát xít Nhật. Chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12-3-1945 của Ban thường vụ Trung ương Đảng đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang trong suốt cao trào chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Thấy điều kiện vận dụng được chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương vào hoàn cảnh cụ thể ở Hiệp Hoà, đồng chí Lê Thanh Nghị, Nguyễn Trọng Tỉnh đã quyết định phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã, phá các kho thóc của Nhật- Pháp để giải quyết nạn đói cho nhân dân, động viên tinh thần cách mạng của đông đảo quần chúng ở Bắc Giang.

Một địa điểm hoạt động của cán bộ ta trước Cách mạng tháng Tám 1945 ở huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Ảnh tư liệu.

Tối 12-3-1945, tại xã Xuân Biều (huyện Hiệp Hòa) một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại đình có 30 tự vệ và hơn 300 quần chúng tham gia. Tại cuộc mít tinh, ta công bố thủ tiêu chính quyền bù nhìn, lập uỷ ban dân tộc giải phóng. Đây là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi cấp xã đầu tiên của tỉnh Bắc Giang, thực hiện chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương Đảng về khởi nghĩa từng phần, tạo điều kiện tiến tới tổng khởi nghĩa. Ngay đêm 12-3-1945, kế hoạch phá kho thóc, đồn điền Vát của TáctaRanh được đặt ra. Tiếp theo cuộc phá kho thóc đồn điền Vát, hàng chục các kho thóc của Nhật- Pháp phá ở Chàng (Việt Yên), Gió (Hiệp Hoà), Bến Bò (Lục Ngạn), Nhã Nam (Yên Thế)…Chính quyền cách mạng được thành lập ở Vân Xuyên, Lạc Yên, Trung Định (Hiệp Hoà). Chính quyền cách mạng đã lãnh đạo nhân dân diệt trừ trộm cướp và nhiều tên phản cách mạng, an ninh trật tự xóm làng được ổn định.

Khí thế cách mạng của quần chúng ở Hiệp Hoà hừng hực, binh lính ở đồn Trị Cụ rút lui hoàn toàn. Ngày 16,17-3-1945, ban cán sự tỉnh Bắc Giang đã họp hội nghị tại Đồng Điều (Yên Thế) rút kinh nghiệm diễn biến vừa qua ở Hiệp Hoà và phổ biến chỉ thị ngày 12-3-1945 của thường vụ Trung ương Đảng, hội nghị đã quyết định phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trong toàn tỉnh và đề ra một số công tác lớn: Phá kho thóc Nhật, Pháp để cứu đói, chống thu thuế, phá việc trồng đay của Nhật; diệt trừ lưu manh trộm cắp, phản động, bảo vệ an ninh trật tự; mở rộng cơ sở cách mạng; tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển các đội tự vệ địa phương; đẩy mạnh việc huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ; đẩy mạnh tuyên truyền cách mạng. Ngay sau đó, đội du kích thoát ly được thành lập gồm các tự vệ chiến đấu trung kiên và một số thanh niên lao tù cứu quốc. Đó là đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh gồm 13 người với 12 khẩu sung do đồng chí Lương Văn Đài uỷ viên ban cán sự Tỉnh trực tiếp phụ trách.

Để đẩy mạnh phong trào cách mạng lên cao hơn nữa, từ sáng 9-3-1945, Trung ương và xứ uỷ Bắc Kỳ tăng cường cho Bắc Giang các đồng chí Hồ Công Dự, Phạm Yên, Hồ Công Lạng, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Đức Quỳ… Từ cuối tháng 3-1945, cơ sở cách mạng tỉnh đã được mở rộng ở huyện Hiệp Hoà phát triển xuống Lương Phong, Đoan Bái, Đông Lỗ… Ở huyện Việt Yên cơ sở được xây dựng tại tổng Tự Lạn, Hoàng Mai, Dĩnh Sơn, Mật Ninh, Thiết Sơn, Tiên Lát…Tự vệ Hùng Lãm, My Điền chặn các đoàn xe trở thóc của Nhật để lấy thóc chia cho dân. Tại Bích Động, Việt Minh cũng tổ chức phát thóc gạo cứ đói cho dân. Ở đây, cao trào cách mạng của quần chúng đã làm tê liệt bộ máy chính quyền của địch.

(Còn nữa)

Nam- Thanh
baobacgiang.com.vn

Đại đoàn kết – Bài học tuyệt vời từ Cách mạng Tháng Tám

Đến thời điểm này, những bài học quý báu mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Trong đó, bài học tuyệt vời nhất chính là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tính đến thời điểm này, sau 66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Khát vọng độc lập, tự do, cùng với một đường lối chính trị đúng đắn và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ, góp phần làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kiến lập ra một Nhà nước Việt Nam mới.

Sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là tiền đề tốt cho ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định một chân lý: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.

Ảnh minh họaCách mạng Tháng Tám năm 1945 một dấu son chói lọi trong lịch sử Việt Nam- Ảnh: Tư liệu

Theo GS Lê Mậu Hãn, việc tuyên bố chủ quyền trong “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2/9/1945 đã thể hiện rõ ràng một chân lý: Khi một dân tộc kiên quyết đứng lên chiến đấu cho độc lập tự do thì không một kẻ thù nào có thể chiến thắng. “Việc chọn ngày 19/8 để mở đầu cho thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám 1945 cũng là một dịp để khẳng định với thế giới về tư tưởng mỗi dân tộc có quyền chọn con đường để giành độc lập tự do riêng và các dân tộc có quyền tự quyết của mình. Riêng dân tộc Việt Nam trong tình thế này chủ trương là thay đổi chiến lược cách mạng, đó là giải phóng dân tộc, đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập tự do”, GS Lê Mậu Hãn nói.

Cũng theo GS Lê Mậu Hãn, một điểm đặc biệt khác của Cách mạng tháng Tám 1945 mà chúng ta ít nhắc đến đó là một cuộc cách mạng không đổ máu. Thể hiện ở việc ngày 30/8/1945, Hoàng đế Bảo Đại – vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho cách mạng, kết thúc sự trị vì của triều đại phong kiến này. Việc thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại đã khiến cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc của Việt Nam càng rõ ràng và khác hẳn các cuộc cách mạng khác trên thế giới.

Đến thời điểm này, những bài học mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự như bài học về nắm bắt thời cơ, bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong đó, theo GS Lê Mậu Hãn, bài học tuyệt vời nhất là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. “Thắng lợi lớn lao của cách mạng Việt Nam là không tạo ra giai cấp, khi mọi người đều bình đẳng thì tất cả sẽ dấn thân để giành thắng lợi cuối cùng”, GS Hãn nói.

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 16/8, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã nhất trí thông qua đề nghị Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, và thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc. Sáng ngày 17/8, các thành viên trong Uỷ ban giải phóng dân tộc vừa được Đại hội bầu đã ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ trước sân đình Tân Trào. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên Quốc kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đọc lời tuyên thệ.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ.

Trong ngày 17/8, cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa. Sáng ngày 19/8, theo lời hiệu triệu của Việt Minh, với rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội xuống đường, tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh, biến cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn,v.v.. Ngày 19/8 trở thành mốc son lịch sử thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội.

Ảnh minh họaThắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng là thắng lợi của việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Ảnh: Tư liệu

Từ bài học Cách mạng tháng Tám 1945 để lại, trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, nắm vững thời và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới và hội nhập. Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết định đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị; vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ, tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đất nước chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,v.v..mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế

Nguồn : vnmedia.vn
tinmoi.vn