Archive | 2012

Phát biểu tại phiên họp thứ bảy Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (13-10-1923)

Thưa các đồng chí,

Tất cả các đồng chí đều đã nói về tình hình của nông dân trong đất nước các đồng chí. Tôi sẽ không làm tròn bổn phận của tôi nếu có được quyền đến đây với các đồng chí mà tôi lại không nói một đôi lời về tình cảnh của nông dân tại đất nước tôi.

Để minh hoạ với các đồng chí tình cảnh của nông dân Đông Dương, tôi phải đưa ra một sự so sánh: một bên là người nông dân Nga và một bên nữa là người nông dân Đông Dương. Nông dân Nga giống như một người ngồi chễm chệ trong chiếc ghế bành, còn nông dân An Nam lại giống như một người bị trói vào một chiếc cột, đầu ngược xuống đất. Nói thế không phải là nói phóng đại đâu, sau đây các đồng chí sẽ thấy rõ.

Khi các đồng chí đi qua Hồng trường, các đồng chí thấy có khắc một dòng chữ “Nhà thờ là thuốc phiện của thế giới”; nhưng chúng tôi, nhờ nền văn minh phương Tây mà chúng tôi có cả Nhà thờ lẫn thuốc phiện.

Về thuốc phiện, tôi sẽ xin chỉ kể lại với các đồng chí rằng mỗi năm chính quyền Pháp ở thuộc địa đã bán cho dân An Nam gồm 20 triệu người, trên 400 triệu đôla (1) thuốc phiện. Và mặt khác, người ta đã tính ra rằng cứ 1.000 ty bán rượu và thuốc phiện thì không có được lấy 10 trường học. Đấy là những sự thật.

Bây giờ, tôi xin nói vắn tắt với các đồng chí về chuyện Nhà thờ.

Tôi đã nói với các đồng chí rằng những tên thực dân đã tước đoạt người An Nam như thế nào. Bây giờ, tôi xin nói để các đồng chí biết Nhà thờ Kitô đã tước đoạt nông dân như thế nào.

Trong cuộc xâm chiếm Đông Dương thì chính những nhà truyền đạo Thiên chúa đã đi do thám để báo cho đội quân chiếm đóng biết những kế hoạch phòng thủ của nước chúng tôi. Cũng chính những nhà truyền đạo đã dẫn đường những đội quân tấn công, cũng chính lại là những nhà truyền đạo đã lợi dụng tình trạng lộn xộn của đất nước để ăn cắp những văn bản chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất của người nông dân này nọ hay của một làng nào đó. Khi hoà bình được lập lại, nông dân trở về thì tất cả ruộng đất đều đã bị các nhà truyền đạo nắm được các văn bản nói trên, chiếm mất. Chính bằng cách đó, mà ở Nam Kỳ những nhà truyền đạo Thiên chúa có được trên một phần tư những đất đai cày cấy được. ở Campuchia, các nhà truyền đạo nắm trên một phần ba ruộng đất; ở Bắc Kỳ, chỉ riêng ở thủ phủ, trong thành phố Hà Nội, các nhà truyền đạo có những bất động sản rộng bao la.

Họ có được của cải và chiếm hữu ruộng đất của nông dân không phải chỉ bằng cách đó. Các đồng chí đều biết rằng trong các nước ven biển, nhất là trong những nước ở Viễn Đông, thường xảy ra giông bão và lụt lội làm cho mùa màng thất bát; các nhà truyền đạo lợi dụng những dịp đó để ứng trước tiền cho nông dân với những tỷ suất lãi rất nặng và một thời hạn rất ngắn. Biết rõ ràng làm như vậy thì nông dân không bao giờ có thể trả nợ được, nên các nhà truyền đạo đòi nông dân phải đem ruộng đất ra bảo đảm. Thế là khi đến thời hạn trả nợ, thì toàn bộ ruộng đất của nông dân đều rơi vào tay các nhà truyền đạo.

Các đồng chí đã thấy bọn thực dân bóc lột nông dân như thế nào và các giáo sĩ tước đoạt nông dân như thế nào.

Bây giờ, còn có những kẻ bóc lột khác nữa, chẳng hạn như Nhà nước. Dù mùa màng có xấu đến mức nào đi nữa, nông dân An Nam vẫn cứ phải đóng thuế; để đóng được thuế, nông dân phải bán mùa màng của mình đi; để khỏi bị bỏ tù (hễ đóng thuế chậm là họ bị bỏ tù), họ phải bán non mùa màng của họ, nghĩa là bán trước khi gặt; họ bán cho bọn lái buôn theo cách ước lượng bằng mắt. Bằng cách đó bọn lái buôn mua được lúa trước khi gặt bằng một giá rất rẻ và sau đó đem bán lại rất đắt. Như vậy là người nông dân An Nam không phải chỉ bị trói vào một chiếc cột như tôi đã trình bày với các đồng chí, mà họ bị đóng đinh câu rút bởi bốn thế lực liên hợp là: Nhà nước, tên thực dân, nhà thờ và tên lái buôn.

Chắc là các đồng chí sẽ hỏi rằng tại sao nông dân An Nam không tổ chức nhau lại, không làm như các đồng chí là thành lập hợp tác xã. Chỉ là vì họ không có thể làm như vậy được.

Tôi phải nói với các đồng chí rằng chúng tôi bị cai trị bởi một chế độ nô lệ. Chúng tôi không được quyền xuất bản báo. Chúng tôi không được quyền tự do đi lại; chẳng hạn như chúng tôi không thể đi từ Mátxcơva đến Pêtơrôgrát được, chúng tôi phải xin được một tờ giấy thông hành, nếu không họ sẽ bắt giữ và ném chúng tôi vào tù. Cũng vậy, chúng tôi không được quyền hội họp nghĩa là chúng tôi không được quyền họp với nhau trên 4 hoặc 5 người nếu không có một giấy phép đặc biệt của cơ quan cai trị Pháp.

Tôi cũng xin nhắc lại rằng các đồng chí đã lên tiếng chống chiến tranh, đòi hoà bình; các đồng chí đã nói đến một chính quyền vô sản và việc lật đổ chủ nghĩa tư bản. Nhưng tất cả những điều các đồng chí nói ở đây sẽ trở thành vô ích, nếu các đồng chí quên mất cái yếu tố quân phiệt thực dân. Các đồng chí đều biết những sự kiện. Trong chiến tranh thế giới, chỉ riêng ở nước Pháp, người ta đã đưa từ các thuộc địa về gần một triệu người bản xứ để tham gia chiến tranh. Trong những năm 1916-1917, người ta đã chở về 2 tỷ tấn ngũ cốc (1) , trong khi những dân bản xứ ở châu Phi và ở Đông Dương đang chết đói.

Thưa các đồng chí, để kết thúc, tôi phải nhắc lại với các đồng chí rằng Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia Quốc tế của các đồng chí (vỗ tay).

Phát biểu chiều 13-10-1923.
Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng

cpv.org.vn

“Chính sách thực dân” Anh (9-11-1923)

Chủ nghĩa tư bản Anh, tuy thèm muốn của cải vô tận của Trung Quốc, nhưng vì từ trước đến giờ, vẫn đành chỉ chiếm Hương Cảng (37) làm thuộc địa và thực hiện trên nội địa Trung Quốc chính sách mở cửa, một chính sách giúp cho họ có thể bóc lột đất nước này mà không làm cho nhân dân nổi dậy. Ngày nay, đối với họ như thế không đủ nữa. Họ muốn làm hơn thế nữa kia: họ muốn chiếm cả Trung Quốc làm thuộc địa.

Lợi dụng chuyện rắc rối ở Lâm Thành (38) , và vin cớ bảo đảm an ninh cho đồng bào của mình, đại sứ Anh ở Bắc Kinh vừa mới tiến hành giai đoạn đầu tiên của chính sách thực dân đó. Ông ta bắt đầu từ đường sắt. Đây là những điều ông ta đề nghị với Trung Quốc:

1. Tất cả những con đường xây dựng bằng vốn của Anh, hoặc vật liệu mua của Anh mà hiện nay chưa trả hết, đều sẽ đặt dưới sự kiểm soát của Anh;

2. Đất đai vùng lân cận những con đường đó cũng đều sẽ thuộc phạm vi kiểm soát ấy;

3. Ngoài chính sách đường sắt ra, nước Anh còn có quyền can thiệp vào chính sách đối nội của Trung Quốc;

4. Trong trường hợp xảy ra những vụ xung đột vũ trang giữa các đảng phái chính trị Trung Quốc, người Anh có quyền đồng ý hay từ chối cho đảng phái này hay đảng phái nọ sử dụng những con đường ấy;

5. Ưu tiên được trả dần những số tiền vay mà người Anh đã bỏ ra bằng cách được sử dụng những số thu nhập của ngành đường sắt.

Ngoài ra ông ta còn yêu cầu:

a) Đặt tại Bộ Giao thông ở Bắc Kinh, một phòng kiểm soát ngành đường sắt, trưởng phòng là một nhân viên người ngoại quốc (nên hiểu: một nhân viên Anh) có toàn quyền đối với tất cả mọi hoạt động của ngành đường sắt trên toàn cõi Trung Quốc;

b) Việc quản trị ngành đường sắt cũng phải giao cho các đại diện nước ngoài;

c) Tổ chức một đội tuần tra ngành đường sắt dưới sự chỉ huy của các sĩ quan nước ngoài;

d) Các chức vụ kế toán và quản trị ngành đường sắt đều phải do người nước ngoài đảm nhiệm.

Người Anh đã nắm được thuế muối và thuế quan Trung Quốc, bây giờ họ lại muốn chiếm lấy đường sắt. Khi người ta biết rằng trừ những con đường Nam Mãn Châu, Bắc Kinh – Hán Khẩu và Lũng Hải ra, – tất cả những con đường khác đều đã được xây dựng hoặc bằng vốn của Anh, hoặc bằng vật liệu mua chịu của các hãng buôn Anh, người ta sẽ hiểu rằng kế hoạch đó nếu được thực hiện, thì sẽ làm thiệt hại cho Trung Quốc như thế nào.

Tất cả mọi người Trung Quốc, không phân biệt chính kiến, đều phản đối chính sách thực dân trá hình đó. Hội Liên hiệp sinh viên Bắc Kinh đã lên tiếng kêu gọi giai cấp công nhân tất cả các nước hãy dùng ảnh hưởng của mình để ngăn chặn hành động đó, vi phạm tới nền độc lập của nhân dân Trung Quốc.

Mong rằng, trước sự đe doạ của chủ nghĩa tư bản Anh, những người con của Trung Quốc sẽ biết đoàn kết với nhau để phản kháng thắng lợi.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière,  ngày 9-11-1923.
cpv.org.vn

 

 

 

Câu lạc bộ Phô Bua, nhà văn Léo Poldes và vở kịch Con rồng tre của Nguyễn Ái Quốc.

CLBNguyễn Ái Quốc với đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.

Đầu những năm 20 của thế kỷ trước, Thủ đô Pa-ri, nước Pháp là nơi được chứng kiến nhiều hoạt động sôi nổi và phong phú của Nguyễn Ái Quốc,…Người đã dũng cảm đối đầu với nhà cầm quyền Pháp, tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của nhiều người, bằng mọi hình thức tuyên truyền, vận động, đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập. Câu lạc bộ Phô Bua, thành lập từ năm 1914, là một trong những nơi Nguyễn Ái Quốc thường đến dự và có những hoạt động tuyên truyền. Bài viết này của chúng tôi xin cung cấp cho bạn đọc một số thông tin về Câu lạc bộ Phô Bua, nhà văn Léo Poldès, chủ nhiệm Câu lạc bộ và vở kịch Con Rồng tre, do chính Léo Poldès và Bác Hồ của chúng ta kể lại.

Bác Hồ đã viết về Câu lạc bộ Phô Bua (Faubourg) (có nghĩa là ngoại ô) như sau:

“Câu lạc bộ Ngoại ô. Gọi tên nó như thế, là theo truyền thống đại cách mạng Pháp từ năm 1789. Sự thật thì không phải là một Câu lạc bộ chính cống mà cũng không ở ngoại ô. Một người trí thức phái tả tên là Pôn-đét (Poldès) có sáng kiến tổ chức “Câu lạc bộ” lưu động, mỗi tuần họp một lần, khi họp chỗ này, khi họp nơi khác ở Thủ đô Pa-ri. Thường có độ ba trăm người đến dự, đủ các xu hướng chính trị và các tầng lớp xã hội. Đại đa số là công nhân và tiểu tư sản “khai minh”. Nhưng cũng có ông nọ bà kia. Họ thảo luận những vấn đề thời sự, chính trị hoặc văn hóa xã hội. Một người trình bày vấn đề (có chuẩn bị trước). Sau đó, mọi người tự do phát biểu ý kiến.

Cuộc bàn cãi luôn luôn sôi nổi, nhưng rất thân mật. Mỗi lần họp, anh Nguyễn (tức Bác Hồ) đều phát biểu ý kiến. Và bất kỳ vấn đề gì anh cũng khéo lái nó về kết luận lên án thực dân. Một ví dụ: Trong một cuộc thảo luận về thuật “thôi miên”, sau khi nhiều người nói tin, nhiều người nói không tin, anh Nguyễn xin phát biểu ý kiến. Anh nói: “Tin cũng được, không tin cũng được. Nhưng tôi xin mạn phép nói thật rằng bác sĩ Cu-ê (người thạo giỏi thuật “thôi miên”) chưa giỏi bằng thực dân Pháp. Mỗi năm, với hàng nghìn tấn thuốc phiện, chúng đang làm cho hàng triệu người Việt Nam ngủ say đến nỗi quên mình là vong quốc nô”.

Anh Nguyễn được mọi người hoan nghênh. Vì thái độ anh khiêm tốn và lời lẽ của anh gọn gàng. Lại vì ở Câu lạc bộ và có lẽ ở cả Pa-ri chỉ có anh là người Việt Nam dám lên tiếng chống thực dân Pháp. Một kết quả tốt là nhiều người đồng tình với anh và anh đã trở thành người tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam”.

“Một lần khác Hội nghị thảo luận vấn đề Ái-nhĩ-lan và Triều Tiên. Tất nhiên những nhà diễn giả Pháp đều nghiêm khắc công kích chính sách của Anh, của Nhật và bênh vực nhân dân Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên. Ông Nguyễn phát biểu ý kiến:

Cũng là một dân tộc bị áp bức, tôi hoàn toàn đồng tình với những người bạn Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên, và đồng tình với Hội nghị kết án bọn thực dân Anh, Nhật. Nhưng tôi hỏi các ngài có nên kết án cả những bọn thực dân khác không? Có nên bênh vực nhân dân bị áp bức khác không? Có hay không? “… Mọi người đều trả lời là có. Thế là được dịp ông Nguyễn trình bày vấn đề Việt Nam”.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pari, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã làm cho Chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg Léo Poldès và nhiều người bạn khác một sự ngạc nhiên sửng sốt.

Câu chuyện của hơn 20 năm trước, được Léo Poldès nhớ và ghi lại trong sự bàng hoàng, ngạc nhiên “Vì sao, Nguyễn Ái Quốc, người thợ ảnh giản dị kia đã chết năm 1933, mà nay năm 1946, đã là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”. Xin trích dẫn sau đây một đoạn trong bài viết của Léo Podès về Nguyễn Ái Quốc, vở kịch Con Rồng tre và về Câu lạc bộ Faubourg, đăng trên tuần báo “Pa-ri, số 53”, ngày 11, 12-6-1946. Câu chuyện nhẹ nhàng đưa chúng ta về với những sự kiện xảy ra từ nhiều năm trước như đi vào thế giới cổ tích:

Ngày xưa đúng thực là một câu chuyện cổ tích, có một bác thợ Việt Nam nghèo nàn, sống giản dị trên một căn gác thượng, trong ngõ hẻm Compoint, giữa một khu chen chúc toàn dân lao động. Tên bác ta là Nguyễn Ái Quốc, bác làm nghề rửa ảnh.

Một chiều kia, cách đây chừng 25 năm, hôm ấy có phiên họp các hội viên Câu lạc bộ Phô Bua tại rạp hát Printanis, ở góc đại lộ Clichy và phố Richaud, bác Nguyễn Ái Quốc đã tới đây ngập ngừng hỏi tôi xem liệu bác dù là một kẻ lao động xoàng xĩnh, có thể được hân hạnh vào góp lời trong những cuộc thảo luận của những tay tài ba lỗi lạc, đã làm rạng rỡ văn đàn Câu lạc bộ Phô Bua của chúng tôi được không.

Tôi bèn trả lời: “Ông chớ ngại điều đó. Với quan niệm chúng tôi, thì sự tự do phát biểu ý kiến, là của tất cả mọi người. Ý kiến xác đáng, hay ho của một người, dù người ấy chỉ là một người thợ, cũng được đặc biệt chú ý như những ý kiến của một vị Quốc trưởng”.

Bác nhún vai, mỉm cười, nói: “Podès quý ngài à, tôi chỉ là nhà cách mạng, ngài ví tôi với những vị quốc trưởng, tôi xin đưa ngài xem đây tập bản thảo của tôi. Tuy chỉ là một người thợ ảnh nghèo nàn, nhưng tôi cũng có viết được một kịch bản, nhan đề bản kịch đó là “”Con Rồng tre” (Le dragon de bambous) viết ra cốt là để công kích những vị Quốc trưởng.

Rồi ông tinh quái nói tiếp: “Chắc chắn là không ai dám đem diễn trên sân khấu đâu, ngay như ngài rồi ngài cũng đến quẳng vào sọt rác”. Nhưng ông Nguyễn đã nhầm.

Léo Podès đã nhận xét về vở kịch Con Rồng tre như sau:

Tôi đã đọc tập bản thảo, thật là hay, thật là đẹp, lời vừa trải chuốt gọn gàng, với những cái châm biếm dí dỏm của Aistophan bản kịch này có đủ ưu điểm để mang lên sân khấu.

“Con Rồng tre’ đầu đề kịch bản chỉ một vị Quốc trưởng Á-Đông, đớn hèn bất lực và ngu dốt, mà tác giả không hà tiện lời chế diễu một cách cay nghiệt, hóm hỉnh suốt trong ba hồi; khi ấy bản thân ông Nguyễn Ái Quốc không ngờ rằng bản kịch của mình đã bao lần chủ kịch bản từ chối không dám diễn mà lại được nhóm Phô Bua chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh, và nhất là ông lại không ngờ rằng 25 năm sau người thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint, tác giả “Con Rồng tre”, lại trở thành một vị Quốc trưởng với cái tên mới Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, dùng cơm với Tướng Leclerc, với Thượng sứ đô đốc D’Argenlieu, cùng đi duyệt một đạo binh Pháp, và được nghênh tiếp chính thức bởi vị Chủ tịch Pháp ở Pa-ri.”

Vở kịch Con Rồng tre viết về Vua bù nhìn Khải Định, vào dịp ông ta sang Pháp dự Triển lãm thuộc địa. Vở kịch bị Chính phủ Pháp cấm, nhưng được Câu lạc bộ Faubourg đem diễn. Vở kịch này hiện chưa sưu tầm được, chúng ta chỉ biết tới nội dung kịch bản qua mấy dòng kể tóm tắt của Bác như sau: “Có những cây tre thân hình quằn quẹo. Những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng nhưng thật ra chỉ là một khúc tre. Là khúc tre, nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng. Tuy vậy nó chỉ là một quái vật vô dụng”. Khải Định chính là một ông vua vô dụng.

Léo Podès còn nhớ và viết khá chi tiết về những buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Phô Bua mà Nguyễn Ái Quốc tham dự. Tờ Báo Le Pa-ria (Người cùng khổ), mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những người sáng lập, ra số đầu tiên ngày 1-4-1922. Ngay trên trang nhất của số báo này có đăng thông báo về đề tài Sân khấu Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc trình bày trong chương trình sinh hoạt tháng 4 năm 1922 của Câu lạc Phô Bua. Tài liệu của mật thám Pháp theo dõi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pa-ri cũng ghi lại những lần Nguyễn Ái Quốc đến dự sinh hoạt ở Câu lạc bộ Faubourg, trong đó có lần Nguyễn Ái Quốc phân phát cho những người dự sinh hoạt câu lạc bộ tờ Truyền đơn cổ động mua Báo Le Pa-ria .

Nguyễn Ái Quốc rời Pa-ri, Thủ đô nước Pháp, sang Mátxcơva, Liên Xô một cách lặng lẽ và bí mật. Cũng như nhiều người bạn Pháp, ông Chủ nhiệm Câu lạc bộ Phô Bua cũng không biết là Nguyễn Ái Quốc đã đi đâu. Chỉ đến khi có tin về Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc đã bị chết trong nhà tù của đế quốc Anh ở Hông Kông, Léo Poldès đã viết đăng tin trên tờ Phô Bua:

“Không phân biệt khuynh hướng khác nhau, hết thảy anh em chúng tôi đều lấy làm đau đớn khi hay tin ông Nguyễn Ái Quốc đã mệnh chung ở Hồng Kông”…

Tờ Faubourg ra ngày 1-7-1933 có trích đăng một bài sau: “Nói về Nguyễn Ái Quốc vị lãnh tụ Đảng Cộng sản”, tờ tạp chí Pháp – Việt có viết: “Ông không vắng mặt một buổi họp nào ở Câu lạc bộ Faubourg, ở đây ông ta đã từng đứng lên diễn thuyết trước mọi người. Ông ta đã viết báo. Người ta thường gặp ông hồi 6 giờ chiều ở những phòng trị sự các nhà báo. Ông mang lên đây những câu chuyện ngắn hay một tập truyện vì ông từng khảo cứu về văn nghệ, sau này ông hoàn toàn thiên về chính trị và ông đã thiết tha cống hiến cả một đời để phụng sự khuynh hướng ấy”. “Người chiến sĩ xấu số đã mệnh chung trong nhà giam. Người ta lại nhớ đến những cuộc họp ở Câu lạc bộ Phô Bua, đến những lời nói thông minh hóm hỉnh trong buổi họp, đến bản kịch bất hủ của ông: “Con Rồng tre”. Hỡi các vị thần linh của cõi Á – Đông, các ngài hẵy săn sóc giữ gìn lấy linh hồn ông”.

Khi được biết Nguyễn Ái Quốc vẫn còn sống, trở lại Pa-ri với tư cách khác, Léo Podès đã rất hóm hỉnh viết rằng: “Và những vị thần linh ấy đã giữ gìn linh hồn ông khỏe đến nỗi, ngày nay người thợ ảnh mày râu nhẵn nhụi kia đã sống lại giữa khuôn mặt đáng kính có thêm một nhúm râu dài của Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”. Léo Podès nhắn gửi rằng: “Hồ Chí Minh đức ngài, mai đây từng dãy người xếp hàng một diễu qua chào mừng đức ngài trước điện Chamos D’ Elysé, bên cạnh ngài khi ấy là vị Chủ tịch lâm thời nước Cộng hòa Pháp. Chúng tôi thiết tha mong đức ngài nhớ lại cái hồi đầu tiên của đức ngài trong Câu lạc bộ Phô Bua. Nhớ lại những vấn đề quỷ thần, sự tái sinh, và nhất là đức ngài hãy rủ lòng thương nhớ đến người thợ ảnh nhỏ bé ở ngõ Compoint khi xưa…”.

Nguyễn Ái Quốc không thể quên những ngày Pa-ri. Tháng 5 năm 1946, khi đến nước Pháp với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, là thượng khách của Chính phủ Pháp, ngoài chương trình làm việc chính thức, gặp gỡ với Chính phủ Cộng hòa Pháp, Người dành nhiều thời gian tiếp xúc, gặp gỡ kiều bào, các nhà văn, nhà báo, bạn bè cũ. Và đương nhiên là Người đã gặp lại nhà văn Léo Poldès. Nhật ký bốn tháng sang Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi lại: Ngày 8-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp vợ chồng nhà văn Poldès; Ngày 15-7-1946, vợ chồng nhà văn Poldès mời Người vê quê chơi, cách Pa-ri chừng 30 cây số. Nhà ông Poldès, rừng bao bọc xung quanh. Thanh vắng mát mẻ. Cây tốt hoa thơm. Ăn cơm rồi, Cụ Chủ tịch kéo ghế nằm dưới gốc cây. Thật đúng là:

“Thảnh thơi vui thú yên hà,

Tùng là bạn cũ, hạc là người quen”.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Câu lạc bộ Phô Bua, ngày 1-5-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng ông Léo Poldès, Chủ tịch của Câu lạc bộ Huy chương Hữu nghị của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Những câu chuyện kể về những tình cảm của những người bạn Pháp đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có ông Chủ nhiệm Câu lạc bộ Phô Bua là những dấu ấn đặc biệt trong những năm tháng hoạt động cách mạng sôi nổi, oanh liệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ở Thủ đô Pari. Năm tháng qua đi, song tình cảm của những người bạn Pháp đối với Bác Hồ kính yêu của chúng ta, mà cũng là đối với cách mạng Việt Nam, mãi mãi được giữ gìn, trân trọng, góp phần củng cố và xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước hôm nay.

Theo phuly.edu.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ

Ngày 23-4-1975, Tổng thống Mỹ G.Ford tuyên bố: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ”. Tiếp đó, Mỹ quyết định di tản người Mỹ ra khỏi Sài Gòn. Đô đốc Noel Gayler, chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương, quyết định thành lập một cầu hàng không tới Sài Gòn.

Lúc này thành phố Sài Gòn như lên cơn sốt. Địch đào các hố cá nhân, xây dựng nhiều chướng ngại vật hình chữ chi, tổ chức nhiều cụm súng máy, súng cối trên các ngõ đường vào Sài Gòn. Lực lượng phòng thủ Sài Gòn của địch lúc này còn khá đông.

Ở vòng ngoài, có các sư đoàn 5, 18, 25, 22 bố trí thành tuyến phòng thủ cách trung tâm Sài Gòn từ 30 đến 50km, từ Long An qua Tây Ninh, Biên Hòa đến Long Bình. Địch còn le lói hy vọng dựa vào các căn cứ và các cụm cứ điểm lớn, vững chắc để ngăn và đẩy lùi các cuộc tiến công của ta.

Ở vùng ven Sài Gòn, lực lượng địch có 3 lữ đoàn dù và thủy quân lục chiến, 3 liên đoàn biệt động quân được bố trí ở Hóc Môn, Tân Sơn Nhất, Bình Chánh, Gò Vấp, Nhà Bè làm nhiệm vụ khu vực và sẵn sàng cơ động ứng cứu cho vòng ngoài. Ở nội thành, địch tổ chức thành 5 liên khu với lực lượng chủ yếu là cảnh sát và phòng vệ dân sự.

Trong lúc này, tiên liệu được chiến thắng giải phóng Sài Gòn, Ban Bí thư đã chỉ đạo chuẩn bị khẩn trương nhà in và giấy để kịp ra báo ngay từ đầu khi giải phóng Sài Gòn.

Trước đó, Bộ Chính trị đã cho ý kiến về công tác tiếp quản Sài Gòn với các yêu cầu: tiếp quản tốt các cơ sở quân sự, kinh tế, chính trị, hành chính, văn hóa… của địch, giữ gìn tốt tài sản quốc gia; lập lại nhanh và giữ vững an ninh trật tự, quản lý tốt ngụy quân, ngụy quyền, trấn áp kịp thời bọn phản cách mạng; khôi phục nhanh chóng sinh hoạt bình thường của nhân dân; phát động được phong trào cách mạng trong quần chúng; đạt được ảnh hưởng chính trị tốt trong và ngoài nước.

NTHH tổng hợp

SGGP Online

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Chiến dịch Tây Nguyên (3/1975) sau 37 năm nhìn lại

Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi là kết quả của sự vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và nghệ thuật quân sự Việt Nam; trong đó, nổi bật ở việc: nhận định đánh giá đúng tầm quan trọng của địa bàn Tây Nguyên, chỉ đạo chiến lược tài tình, làm chuyển biến thế chiến lược, tạo thời cơ để Bộ Thống soái quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4 đến ngày 24-3-1975) là chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược, đã tiêu diệt và đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của Mỹ, nguỵ ở Tây Nguyên, tạo ra đột biến về chiến lược và điều kiện thuận lợi phát triển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Chúng ta cần nhìn nhận và đánh giá đúng những căn nguyên sâu xa và trực tiếp về sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng này; qua đó, đúc rút ra các bài học quý để góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang trong thời kì mới.

Trước hết, thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên là thắng lợi của việc đánh giá đúng tình hình để chọn đúng hướng tiến công chiến lược. Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình một cách khoa học, Đảng ta nhận rõ thời cơ giải phóng miền Nam đã chín muồi. Bộ Chính trị đi đến thống nhất giải phóng miền Nam trong 2 năm: 1975-1976. Quá trình nghiên cứu, phân tích tình hình, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược, mở màn cho chiến cuộc 1975-1976; bởi đây là địa bàn có vị trí vô cùng quan trọng về chiến lược, nếu ta giải phóng được, sẽ làm rung chuyển toàn bộ chiến trường miền Nam. Nhận thức được vấn đề đó, để bảo đảm Chiến dịch chắc thắng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tiến hành công tác chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng, chu đáo và quyết định chọn Buôn Ma Thuột để đánh trận mở đầu-trận then chốt quyết định. Đây là một đòn đánh hiểm, đánh vào chỗ mạnh nhưng có sơ hở của địch (do ta cài thế, nghi binh, lừa địch điều chuyển binh lực ở đây). Bởi vì, nếu ta chiếm được Buôn Ma Thuột, sẽ phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, tạo ra thời cơ thuận lợi, nhanh chóng giải phóng Tây Nguyên. Cùng với đó, ta sẽ chia cắt chiến trường miền Nam thành hai cụm (một là Huế-Đà Nẵng, hai là Sài Gòn); đồng thời, còn phát triển lực lượng tiến công xuống đồng bằng khu 5 và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định tăng cường cho Tây Nguyên một số lượng lớn về lực lượng, vũ khí, trang bị và tổ chức Bộ Tư lệnh tiền phương bên cạnh Bộ Tư lệnh Chiến dịch để chỉ đạo trực tiếp Chiến dịch. Đây là nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp, đưa Chiến dịch Tây Nguyên đến toàn thắng. Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi là điều kiện tiên quyết để Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên là kết quả của sự vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Điều đó, được thể hiện rõ nét nhất là nghệ thuật bố trí một thế trận rất hiểm: “trói địch” lại trên các hướng, còn ta thì tập trung lực lượng đánh địch ở thế chúng hoàn toàn bị cô lập, lực lượng mỏng, yếu, ít có khả năng chi viện cho nhau. Xét về tương quan so sánh lực lượng, cho dù lực lượng chiến lược của địch còn rất mạnh, cũng không thể chi viện được cho Tây Nguyên, vì ta đã dùng lực lượng mạnh kìm chân địch ở hai đầu chiến tuyến. Trực tiếp tại chiến trường Tây Nguyên, mặc dù lực lượng Quân khu 2, Quân đoàn 2 của địch vẫn còn nguyên vẹn, cũng bị “vô hiệu hoá”, do ta đã dùng các sư đoàn, trung đoàn mạnh thực hiện chia cắt, bao vây, cô lập và đánh chiếm toàn bộ các trục đường địch có thể cơ động để tăng viện cho Buôn Ma Thuột; đồng thời, khống chế các sân bay, không cho máy bay địch cất, hạ cánh. Một điểm nổi bật nữa của Chiến dịch là, ta đã sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả để nghi binh, lừa địch. Có thể nói, đây là một chiến dịch mà ta nghi binh thành công nhất trong tất cả các chiến dịch ở hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã làm cho địch mất phương hướng, phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác, nhất là trong việc nhận định hướng tiến công của ta. Trong quá trình tổ chức thực hành chiến dịch, ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về “mưu kế và thế trận” để nghi binh, lừa địch và “trói chân địch lại mà đánh”- đây cũng là một nét đặc sắc, bổ sung và làm phong phú thêm nền nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Thắng lợi đó là kết quả của sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Bộ Thống soái; là thắng lợi của nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam, cộng với tinh thần quả cảm, mưu trí, sáng tạo của các lực lượng vũ trang và toàn dân. Với khí thế, tinh thần quyết tâm chiến thắng của quân và dân trên địa bàn Chiến dịch, chúng ta luôn chủ động trong mọi tình huống, biết tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ, phát triển thắng lợi vượt ra ngoài nhiệm vụ được giao. Trong tác chiến chiến dịch, các lực lượng luôn hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, tạo thế cho nhau và tạo ra thời cơ mới, rồi nhanh chóng chớp thời cơ, phát triển thắng lợi. Cuối cùng, mục tiêu, không gian chiến dịch cũng đã vượt phạm vi, nhiệm vụ được giao, đó là: giải phóng một phần Tây Nguyên; đồng thời, ta còn chủ động phát triển tiến công giải phóng toàn bộ Tây Nguyên. Hơn nữa, không gian Chiến dịch cũng đã vượt ra ngoài phạm vi Tây Nguyên; lực lượng chiến dịch đã phát triển tiến công xuống các tỉnh ven biển, kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương, giải phóng hoàn toàn 3 tỉnh ven biển khu 5, tạo ra bước ngoặt chiến lược cho chiến cuộc mùa Xuân 1975. Bài học sâu sắc nhất trong Chiến dịch là, việc chấp hành nghiêm Chỉ thị của Đại tướng Tổng Tư lệnh trước khi giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, là: “phải theo dõi, nắm chắc tình hình, tình hình có thể xảy ra đột biến, phải hết sức chủ động hành động, không chờ lệnh cấp trên, thời cơ có thể diễn ra rất nhanh, không được do dự, chậm trễ”.

Có thể thấy, Tây Nguyên là địa bàn có địa chính trị, địa chiến lược, địa quân sự cực kỳ quan trọng, nên trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ta và địch luôn đặc biệt quan tâm đến địa bàn chiến lược quan trọng này. Về phía địch, thực dân Pháp khi xâm lược nước ta cũng đã từng tuyên bố: nếu ai chiếm, giữ được Tây Nguyên thì sẽ làm chủ 3 nước Đông Dương. Đến khi, đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào xâm lược miền Nam, đồng thời với đổ bộ lên Đà Nẵng, chúng cũng nhanh chóng đưa đại quân vào khống chế địa bàn chiến lược này. Đế quốc Mỹ xác định, đây là mái nhà của bán đảo Đông Dương, do vậy để chiếm giữ, chúng đã đưa vào đây những sư đoàn, lữ đoàn tinh nhuệ nhất (Sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 – “Anh cả đỏ”, Sư đoàn 4 bộ binh tinh nhuệ, Sư đoàn 25 – “Tia chớp nhiệt đới”…) nhằm khống chế toàn bộ khu vực Trung Đông Dương, giữ thế cho chiến trường Trung Trung bộ và nối liền với chiến trường Trị Thiên ở phía Bắc, chiến trường Nam Trung Bộ ở phía Nam, cùng với chiến trường Trung Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia.

Về phía ta, để phát huy tối đa những lợi thế về địa hình, sở trường đánh địch ở địa hình rừng núi, chúng ta cũng chọn Tây Nguyên làm nơi đối chọi từ đầu đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ở đây, đã diễn ra những trận đánh, những chiến dịch, cùng với những thắng lợi vang dội đã từng tạo ra thế trận, cục diện có lợi cho ta. Điển hình là: chiến thắng oanh liệt ở Pleime (1965), ta đã diệt gọn tiểu đoàn Mỹ đầu tiên tham chiến tại chiến trường miền Nam. Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” cũng được bắt đầu thử nghiệm tại chiến trường này; tại đây trong vòng 1 tháng, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã đánh bại liên tiếp 3 cuộc hành quân (Bình Tây: 48, 49 và 50) của địch và gây cho chúng những tổn thất vô cùng nặng nề, buộc chúng phải tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Đó chính là dấu hiệu cáo chung cho sự sụp đổ không thể tránh khỏi của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Còn trong cuộc tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, ta chọn Buôn Ma Thuột đánh trận mở đầu-trận then chốt quyết định, đã tạo ra một thế trận mới thuận lợi hơn, để tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Quân khu 2, Quân đoàn 2 nguỵ, tiến tới giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, thừa thắng giải phóng 3 tỉnh đồng bằng khu 5. Chiến thắng Tây Nguyên đã phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng ngự liên hoàn của địch, tạo thế, tạo thời để ta mở tiếp đòn tiến công chiến lược thứ 2, giải phóng Huế-Đà Nẵng và kết thúc đòn tiến công chiến lược quyết định cuối cùng bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Có thể nói, nếu chiến dịch Tây Nguyên không thắng lợi thì cũng chưa có đòn tiến công chiến lược vào Huế-Đà Nẵng và càng không có trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, làm chuyển biến thế chiến lược có lợi cho ta để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi đó càng khẳng định địa bàn Tây Nguyên có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng cả trong chiến tranh giải phóng trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nhận thức rõ ý nghĩa chiến lược quan trọng đó, Đảng, Nhà nước ta đã luôn coi trọng xây dựng Tây Nguyên phát triển toàn diện, vững chắc; trước hết là xây dựng về chính trị, chăm lo củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Tây Nguyên, nhất là các dân tộc thiểu số, đập tan mọi mưu đồ chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch. Đảng và Nhà nước cũng đang ra sức xây dựng Tây Nguyên trở thành một trọng điểm phát triển kinh tế; đồng thời, chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, chủ động đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch tại Tây Nguyên. Cùng với đó, cấp uỷ, chính quyền các cấp cũng đang ra sức tuyên truyền, giáo dục nâng cao cảnh giác cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trước âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đồng thời, có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung làm cho Tây Nguyên ngày càng phát triển: vững về kinh tế-xã hội, mạnh về quốc phòng-an ninh, đúng với tầm vóc, vị trí của Tây Nguyên. Chúng ta phải quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu chiến lược quan trọng đó; vì đây là khát vọng của đồng bào cả nước, trước hết là đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và hơn nữa còn là tâm nguyện của Bác Hồ từ ngày đầu cách mạng.

Sau 36 năm nhìn lại, thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên vẫn còn nguyên giá trị cả về lí luận và thực tiễn. Trong đó, bài học sâu sắc nổi bật cho mọi thời kỳ, mọi giai đoạn cách mạng, lúc chiến tranh cũng như trong hoà bình xây dựng, đó là việc đánh giá đúng vị trí, ý nghĩa chiến lược của địa bàn Tây Nguyên; xác định đúng quyết tâm chiến lược và phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam. Do đó, ngày nay chúng ta phải không ngừng chăm lo xây dựng thế trận trên địa bàn chiến lược quan trọng này, cũng như xây dựng lực lượng vũ trang với xây dựng nền khoa học quân sự Việt Nam. Trong quá trình đó, phải luôn quán triệt đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, xây dựng tinh thần chủ động, sáng tạo, quyết đoán, bảo đảm cho lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên luôn sẵn sàng chiến đấu cao, hoàn thành thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Trung tướng NGUYỄN QUỐC THƯỚC
tapchiqptd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Trận Buôn Ma Thuột – đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch

Trận Buôn Ma Thuột – trận then chốt quyết định giành thắng lợi đã để lại nhiều bài học điển hình về nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch. Nó cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong điều kiện hiện nay.

Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975; trong đó, trận Buôn Ma Thuột là trận đánh mở đầu, trận then chốt quyết định, có tầm quan trọng đặc biệt, trực tiếp là với chiến dịch Tây Nguyên và ở góc độ nào đó, còn có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975.

Tây Nguyên là địa bàn chiến lược, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về quân sự đối với cả miền Nam. Nếu đánh và chiếm được Tây Nguyên sẽ chia cắt hoàn toàn hệ thống phòng ngự chiến lược của địch, buộc chúng lâm vào thế lúng túng, bị động đối phó; còn về phía ta có điều kiện phát triển lực lượng, tiếp tục triển khai hướng tiến công xuống các tỉnh ven biển, các tỉnh miền Đông Nam Bộ, góp phần thúc đẩy cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 giành thắng lợi trong thời gian ngắn.

Chiến dịch Tây Nguyên, vì thế, có ý nghĩa hết sức quan trọng, là sự lựa chọn rất đúng đắn, chính xác của ta. Theo đó, việc ta chọn Buôn Ma Thuột để đánh trận mở đầu, trận then chốt quyết định cũng vậy. Bởi vì, đánh chiếm được Buôn Ma Thuột sẽ tạo ra đột biến về chiến dịch, và chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi sẽ dẫn đến đột biến về chiến lược, tạo nên bước ngoặt quyết định, phá vỡ thế phòng ngự chiến lược của địch. Cho nên, mục tiêu kế hoạch của chiến dịch Tây Nguyên là phải thực hiện bằng được quyết tâm đó, để tạo khí thế, cổ vũ tinh thần chiến đấu cho quân và dân không chỉ ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên mà còn trên khắp chiến trường miền Nam. Qua đó, giáng những đòn chí mạng tiếp theo bằng những chiến dịch tiến công đánh bại ý chí chiến đấu của nguỵ quyền Sài Gòn, kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tiến công chiến lược bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Thắng lợi của trận then chốt quyết định – Buôn Ma Thuột đã thể hiện sự sắc sảo của nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch, nhất là trong tổ chức, chỉ huy và điều hành chiến dịch của Bộ Tư lệnh chiến dịch.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên nói chung và trận Buôn Ma Thuột nói riêng; trong đó, trước hết là nghệ thuật sử dụng không gian và thời gian mở chiến dịch. Việc chọn Buôn Ma Thuột là trận đánh mở đầu, then chốt quyết định là vấn đề hết sức quan trọng đối với chiến dịch. Vì, Buôn Ma Thuột có vị trí quan trọng trong hệ thống phòng ngự của địch ở Tây Nguyên; diện tích rộng, bình độ thấp so với xung quanh, lại tương đối bằng phẳng, rải rác có một số điểm cao độc lập cách thị xã 2-15 km. Như vậy, đối với ta, sẽ thuận lợi cho quá trình cơ động, triển khai và che dấu lực lượng; còn với địch, khi bị tiến công sẽ khó giữ và khó cơ động ứng cứu, chi viện cho nhau. Đặc biệt, các mục tiêu của địch ở trong và xung quanh thị xã hầu hết là lộ thiên, dễ bị ta phát hiện và tiêu diệt. Thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Chúng ta đã lợi dụng những yếu tố thuận lợi của địa hình để khai thác, khắc phục mặt yếu và phát huy mặt mạnh của ta; đồng thời, triệt để khoét sâu những điểm yếu và hạn chế những mặt mạnh của địch. Về mặt thời gian, thời điểm nổ súng tiến công của trận đánh Buôn Ma Thuột được Bộ Tư lệnh chiến dịch tính toán kỹ (2 giờ sáng ngày 10 tháng 3 ta mở màn chiến dịch và kết thúc vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 11 tháng 3); đó là thời điểm thuận lợi nhất để tổ chức tiến công. Trong thời điểm này, mọi hoạt động của địch đều lỏng lẻo và mất cảnh giác, ta cơ động triển khai, bố trí đội hình tiến công bảo đảm giữ được bí mật; khi triển khai xong lực lượng tiến công thì gần sáng, sương mù tan, tạo thuận lợi cho ta phát hiện dễ dàng các mục tiêu lộ thiên của địch để thực hành tiến công tiêu diệt. Ngoài ra, còn có một yếu tố quyết định đến thời gian kết thúc trận đánh, đó là yếu tố về thời tiết. Đây là mùa khô, chưa có mưa, sông suối cạn, rất thuận tiện cho các phương tiện xe cơ giới phát huy được tính năng kĩ thuật, chiến thuật.

Một yếu tố hết sức quan trọng, góp phần làm nên thắng lợi của trận then chốt quyết định, đó là: nghệ thuật xác định hướng, chọn mục tiêu tiến công. Để chọn hướng tiến công, trước hết, phải phân tích khách quan, toàn diện và cụ thể tình hình địch, ta và điều kiện địa hình, thời tiết… Về mặt nguyên tắc, chọn hướng tiến công thường phải chọn vào chỗ hiểm, yếu của địch; đó là nơi địch bố trí lực lượng, phương tiện phòng ngự mỏng, yếu, sơ hở; đồng thời, lại phù hợp với cách đánh, sở trường của ta. Trong chiến dịch Tây Nguyên, ta chọn hướng Nam Tây Nguyên làm hướng chủ yếu, bởi ở nơi đây lực lượng của địch tương đối yếu. Đánh chiếm Buôn Ma Thuột, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chọn 3 hướng tiến công: Bắc, Nam và Tây; trong đó, hướng Tây là hướng thọc sâu và chọn Sở chỉ huy sư đoàn 23 nguỵ là mục tiêu đột phá chủ yếu. Việc chọn hướng, mục tiêu tiến công đã thể hiện sự sắc sảo, sáng tạo của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên. Bởi vì, Sở chỉ huy Sư đoàn 23 nguỵ là trung tâm chỉ huy, có vị trí quan trọng nhất của địch ở Buôn Ma Thuột; đồng thời, còn là chỗ dựa vững chắc của địch ở khu vực này và Tây Nguyên. Như vậy, chọn Sở chỉ huy sư đoàn 23 nguỵ làm mục tiêu tiến công chủ yếu là ta đã điểm trúng huyệt, đánh vào nơi rất hiểm, nhưng tương đối yếu của địch. Đây là một nguyên tắc trong tác chiến chiến dịch: “bỏ chỗ vững, đánh chỗ núng, tránh chỗ thực, đánh chỗ hư”. Khi Sở chỉ huy sư đoàn 23 nguỵ bị tiến công, có nguy cơ bị tiêu diệt thì địch nhất thiết phải tăng viện, ứng cứu; đó là thời cơ mới để ta tiếp tục bố trí thế trận đón đánh lực lượng địch đến cứu viện ở phía Đông Buôn Ma Thuột. Diễn biến của trận đánh đúng với dự kiến của ta. Buôn Ma Thuột nhanh chóng bị thất thủ đã gây chấn động lớn đến toàn chiến trường Tây Nguyên và lan sang các chiến trường khác; đồng thời, tạo nên những đột biến dây chuyền lớn hơn tiếp theo, khiến chúng không thể chống đỡ nổi, đi đến sụp đổ hoàn toàn.

Đánh chắc thắng trận đầu là một trong những truyền thống quý báu của quân đội ta. Điều đó càng được khẳng định khi nghệ thuật sử dụng lực lượng, bố trí đội hình tiến công đã đạt đến trình độ cao, là yếu tố quyết định thúc đẩy trận đánh Buôn Ma Thuột giành thắng lợi nhanh chóng. Quy luật của chiến tranh là mạnh được, yếu thua. Xét về tương quan lực lượng và vũ khí trang bị ban đầu ở chiến trường Tây Nguyên nói chung, trực tiếp trong trận Buôn Ma Thuột nói riêng, ta không chiếm ưu thế lớn hơn địch; nhưng ta có những ưu thế khác để tạo thành sức mạnh tổng hợp, mà địch không thể có được; đó là, tinh thần chiến đấu của toàn quân, toàn dân, đặc biệt là về nghệ thuật quân sự… Do nắm chắc quy luật chiến tranh và tư tưởng chỉ đạo đánh chắc thắng trận đầu cùng với sự chỉ đạo tài tình của Bộ Tư lệnh chiến dịch, chúng ta đã làm chuyển biến so sánh lực lượng có lợi cho ta, bất lợi cho địch ở vào thời điểm quyết định. Đây là nét độc đáo của nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch. Trong trận then chốt quyết định này, ta sử dụng lực lượng hơn 2 sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng để tiêu diệt lực lượng tương đương 1 trung đoàn tăng cường của địch. Trong khi đó, chúng ta còn phát huy cao độ chiến tranh nhân dân để tạo nên sức mạnh áp đảo đối với địch. Trong trận đánh Buôn Ma Thuột, ta đã tổ chức và bố trí lực lượng một cách khoa học, hợp lí; thành phần gồm: lực lượng tập trung và lực lượng phân tán; lực lượng tiến công và lực lượng nổi dậy; bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đỉnh cao của nghệ thuật chiến dịch ở đây là sự bố trí đội hình tiến công trên 3 hướng, tạo thành 5 mũi tiến công sắc, nhọn: hướng Bắc 2 mũi, hướng Nam 2 mũi; riêng hướng Tây tổ chức 1 mũi (đây là mũi thọc sâu, đánh thẳng vào mục tiêu chủ yếu là Sở chỉ huy tiền phương – Sư đoàn 23 nguỵ). Trong 5 mũi tiến công thì 4 mũi có xe tăng phối hợp với bộ binh trong đội hình chiến đấu. Với sự sáng suốt của Bộ Tư lệnh chiến dịch trong việc xác định không gian, thời gian mở chiến dịch cộng với nghệ thuật chọn hướng, mục tiêu tiến công và nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng và bố trí đội hình tiến công, ta đã đánh trận mở đầu giành thắng lợi trong thời gian ngắn, tạo ra những thuận lợi mới cho các trận truy kích và tổ chức đánh các trận kế tiếp thắng lợi.

Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) chắc chắn sẽ có những phát triển mới do có sự phát triển mạnh mẽ về vũ khí, trang bị và trình độ tác chiến của cả ta và đối tượng tác chiến. Thế nhưng, nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung và của trận Buôn Ma Thuột nói riêng vẫn còn nguyên giá trị. Điều đó cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, một khi địch liều lĩnh gây chiến tranh xâm lược đối với đất nước ta.

Thượng tá, ThS. ĐỖ HẢI ÂU
tapchiqptd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

“Chia lửa” với chiến trường Tây Nguyên

Đầu tháng 3-1975, để phối hợp với trận đánh mở màn vào Buôn Ma Thuột, mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, Bộ tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 2, Lữ đoàn 52, các trung đoàn: Pháo binh 368, 572, Cao xạ 573 phối hợp với các LLVT tỉnh Quảng Nam nổ súng tiến công các căn cứ của địch trên địa bàn Quảng Nam. Tỉnh ủy Quảng Nam lựa chọn đột phá vào cứ điểm Phước Lâm-Tiên Phước để đánh trận mở màn. Giành thắng lợi ở Phước Lâm-Tiên Phước sẽ góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng, tạo thế chia cắt, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự phía Nam vùng chiến thuật của địch, tạo điều kiện và mở ra thời cơ thuận lợi để quân ta tiến về giải phóng Tam Kỳ, Đà Nẵng.

Bộ đội chủ lực và LLVT địa phương tiến vào giải phóng thị xã Tam Kỳ.

Tiên Phước-Phước Lâm là cụm cứ điểm tiền tiêu của địch, án ngữ và bảo vệ từ phía Tây cho tỉnh lỵ Quảng Tín, vừa là bàn đạp uy hiếp hậu phương ta. Đây là mắt xích quan trọng của địch, nên chúng đã xây dựng cả vùng thành cụm cứ điểm kiên cố, liên hoàn, với lực lượng đông và thường xuyên được chi viện bởi các căn cứ của địch từ thị xã Tam Kỳ và các nơi khác ở Quảng Ngãi… Toàn cụm phòng thủ của địch có 77 cứ điểm chia làm 3 khu, trong đó, Tiên Phước là khu then chốt, nếu mất Tiên Phước, địch khó giữ vững các khu phòng thủ khác. Khu Suối Đá là khớp nối giữa Tam Kỳ và Tiên Phước, gồm một dãy núi liên hoàn, nếu ta chiếm được Suối Đá, tức là đã “cài được then”, khóa chặt lực lượng địch để tiêu diệt.

Để đánh vào Phước Lâm-Tiên Phước, Tỉnh ủy Quảng Nam và Bộ tư lệnh Quân khu 5 thống nhất: Các Trung đoàn 31 và 38 tiêu diệt Chi khu quận lỵ Tiên Phước; Lữ đoàn 52 tiêu diệt địch ở Suối Đá; Trung đoàn 36 tiêu diệt cứ điểm Hàn Thôn, bao vây bức hàng Chi khu quận lỵ Hậu Đức; Trung đoàn Ba Gia dự bị. Trung đoàn pháo 572 chi viện hỏa lực cho Lữ đoàn 52; Trung đoàn pháo binh 368 chi viện cho các Trung đoàn 31 và 38; Trung đoàn cao xạ 573 của Quân khu 5 bảo vệ đội hình cho các đơn vị chiến đấu Tiên Phước, Suối Đá.

Đêm 8-3-1975, các lực lượng ta vào vị trí xuất phát tiến công. Cùng giờ mở màn trận đánh Buôn Ma Thuột, tức rạng sáng 10-3, các đơn vị thuộc Quân khu 5 và Bộ đội địa phương Quảng Nam đồng loạt nổ súng. Đến 16 giờ cùng ngày, quân ta hoàn toàn làm chủ các mục tiêu trong phương án tác chiến, đánh tan rã toàn bộ lực lượng địch.

Bị một đòn choáng váng, địch điều Sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra Tam Kỳ, chuẩn bị cho cuộc hành quân giải tỏa. Ngày 11-3, Liên đoàn biệt động 12 cùng tiểu đoàn bảo an, chi đoàn xe bọc thép của địch từ Tuần Dưỡng lên Cẩm Khê; Trung đoàn 5 và Trung đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra phối hợp cùng 2 tiểu đoàn bảo an, có xe thiết giáp chi viện, đánh lên Dương Leo, Dảy Thám. Địch còn chi viện Trung đoàn 4 thuộc Sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra và Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 ngụy từ Quảng Đà vào để phản kích Phước Lâm-Tiên Phước.

Để phối hợp đánh địch, lực lượng vũ trang Quảng Nam phát động quần chúng nổi dậy, tiêu diệt địch. Đêm 23-3-1975, các đơn vị tham chiến trận đánh Phước Lâm-Tiên Phước được lệnh phản công địch, tiêu diệt gọn Sư đoàn 2 và hai lữ đoàn biệt động ngụy, giải phóng thị xã Tam Kỳ. Tuyến phòng ngự lâm thời phía Tây thị xã Tam Kỳ của địch bị phá vỡ. Trên thế thắng, ta phát triển lực lượng, giải phóng huyện Thăng Bình và đến ngày 27-3-1975 giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Nam, đồng thời cắt đứt quốc lộ 1, cô lập địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực và các lực lượng vũ trang giải phóng Đà Nẵng.

Dương Hà
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Vì sao Buôn Ma Thuột?

Buôn Ma Thuột, theo sử sách chính thức ghi nhận, được giải phóng vào đúng 11 giờ trưa ngày 11 tháng 3 năm 1975, song vào ngay những ngày ấy đối với anh em bộ đội cấp lính thường ở đơn vị thì sự kiện lịch sử đó và thời điểm cụ thể của nó không phải là đã hiển hiện ra một cách tức khắc, rõ ràng và chắc chắn trăm phần như vậy. Hồi ấy, phải non một tuần sau buổi trưa ngày 11 tức là vào đêm ngày 16, Trung đoàn Plâyme (E66) của Sư đoàn 10 mới dứt điểm xong Căn cứ 53 và sân bay Hoà Bình. Xong được hai cứ điểm khó đánh nhất này thì mới có thể coi là đã xong được Buôn Ma Thuột. Hoặc thậm chí có thể là phải tính thời điểm giải phóng muộn hơn thế nữa, là vào hai ngày 17 và 18 tháng 3, khi đạo quân địch đổ bộ xuống tái chiếm thị xã bị bộ đội Sư đoàn 10 đập tan và quét sạch tại khu vực Phước An – Nông Trại. Chỉ đến khi đó, khi quân ta đã tận diệt và xoá sổ vĩnh viễn Sư đoàn 23 ngụy thì Buôn Ma Thuột mới thực là đã được giải phóng.

(ảnh minh họa. Nguồn: BBC)

Tuy nhiên, hồi ấy, ngay cả khi đã giải quyết hết bọn Sư đoàn 23 rồi, anh em chúng tôi cũng chẳng thể cầm chắc được điều gì. Ở cấp tiểu đội, trung đội, đại đội, người chiến sĩ chỉ trực diện với nhiệm vụ mà mình và đơn vị mình được giao. Biết là đơn vị mình, đơn vị bạn đang thắng, đang tiếp tục trên đà tấn công thắng lợi, nhưng mức độ và qui mô của thắng lợi trên toàn cục chiến dịch như thế nào lính thường khó lòng hình dung. Vả lại ngay trước mắt mình, xung quanh mình chiến trận càng lúc càng ác liệt không hề thuyên giảm. Địch không những ngoan cố tử thủ mà còn không ngừng tiến hành phản kích. Nhiệm vụ của tiểu đội, trung đội, đại đội mình vẫn đầy cam go, căng thẳng, quyết liệt và diễn biến không lường trước được qua từng giờ từng phút, từng bờ tường góc phố. Tóm lại là cho tới khi đã giải quyết xong Phước An bắt đầu truy kích địch trên đường 21, anh em chúng tôi lính ở đại đội vẫn chưa thể tin chắc là Buôn Ma Thuột đã vĩnh viễn về tay quân ta.

Thế nhưng, tôi nhớ là vào khoảng ngày 19 tháng 3, khi chuẩn bị tấn công Chư Cúc, chúng tôi được liên lạc tiểu đoàn chuyển xuống cho một thông báo, rất vắn tắt, song đã tạo nên một sự gần như là đột biến trong nhận thức của chúng tôi. Ấy là: Toàn bộ Quân đoàn 2 ngụy đã rút khỏi cả Kon Tum lẫn Plei-cu và chúng đang bị sư đoàn bạn truy đuổi tiêu diệt trên đường tháo chạy xuống đồng bằng!

Mặc dù không bộc lộ ra một cách ầm ĩ, ồn ào nhưng mừng vui phấn khởi trong lòng chúng tôi trước cái tin ấy có thể nói là vô bờ. Là cán bộ đại đội hay là chiến sĩ, là lính cũ hay lính mới vừa bổ sung từ Bắc vào cũng đều lập tức biết ra một điều rằng: Thế là Buôn Ma Thuột đã trọn vẹn được giải phóng, địch không còn một chút cơ may nào chiếm lại. Đấy là điều được nhận thức ra trước nhất. Nhưng sau nữa và hơn thế, chúng tôi khi ấy mới thực sự nhận thức một cách sâu sắc và thấm thía hiệu quả lớn lao vĩ đại của đòn giáng Buôn Ma Thuột. Một đòn giáng ghê hồn, một đòn chết tươi không thể đỡ táng thẳng vào tung thâm sống còn của Mỹ-ngụy. Chúng đã bể trận và sẽ thực sự bắt đầu quị xuống từ đây. Chẳng phải tham mưu thao lược tầm cỡ gì, chỉ là những anh lính thường ở tổ tam tam mà chúng tôi cũng nhận ra được điều đó ngay lập tức khi hay tin địch rùng rùng xô nhau tháo chạy khỏi Cánh Bắc cao nguyên.

*

* *

Từ sau năm 1975 tới giờ, qua 35 năm sinh sống đời thường, đi nhiều, gặp gỡ nhiều, tôi đã dần quen biết với không ít những người đồng niên từng tại ngũ trong quân đội Sài Gòn. Dẫu có thể là không quá mật thiết, không phải chí thân, song những khi tôi vào đấy hay là mấy anh ra đây vẫn thường tìm đến nhau. Cũng như tôi thôi, mấy ông bạn “đối phương” ngày xưa ấy chẳng ai giàu có đình đám nhưng bởi vì đều đã lớn tuổi, sóng gió trong đời đã lặng, nên tất cả đều đã một cuộc sống tàm tạm, yên bề và bình ổn. Ngó mấy anh già tụm ba tụm tư lai rai nhậu với nhau bên bờ hồ Tây thiên hạ khó mà hình dung nổi cái sự tụi tôi ngày xưa quân ta quân địch.

Tôi không giỏi nói nhưng bởi làm nghề viết văn nên giỏi nghe và thích nghe, có thể thoải mái làm cho những anh em vốn là lính và sĩ quan trong quân đội cựu thù vượt qua bao điều e ngại để cởi mở tâm tình cùng tôi những chuyện quá khứ. Ngoài những hồi ức về thời thơ ấu, tuổi học đường, về cha mẹ ông bà, nói chung về đời sống người bình dân miền Nam ở nhiều vùng quê khác nhau thời sau 1954, sau rốt rồi mấy anh bạn của tôi cũng sẽ cùng với tôi về lại với những năm binh lửa. Ký ức chiến tranh chồng chất và dù muốn hay không vẫn mãi mãi in hằn sâu đậm trong tâm trí mỗi người. Chỉ cần cởi mở được với nhau là mỗi người mỗi kho tàng kỷ niệm để có thể dẫn chứng và lý sự.

Rất nhiều điều để kể, để nghe, bàn luận, tranh luận sòng phẳng với nhau, nhưng tất cả đều tựu lại ở câu hỏi cuối cùng: Do đâu mà có 30-4-1975? Nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân gián tiếp thì nhiều, và cố nhiên là tôi với mấy anh ấy không đồng thuận được với nhau ở rất nhiều điểm. Song, nguyên nhân cụ thể và trực tiếp thì các anh không thể không nhất trí với tôi: Ấy là bởi trận Buôn Ma Thuột. Nói theo cách của họ: Đại bại Buôn Ma Thuột và đại di tản khỏi Cao nguyên Trung phần coi như là quân đội và chế độ Việt Nam cộng hoà đã chết chắc rồi, còn nốt cái tháng 4 sau đó chỉ là thời gian ngắc ngoải.

Nhưng, vì sao mấy anh bại trận Buôn Ma Thuột? Vì sao mấy anh chạy khỏi Kon Tum và Plei-cu? Tới đây thì tôi và mấy anh lại suy nghĩ khác nhau. Hầu hết họ đều cho rằng: Thứ nhất, ở trận Buôn Ma Thuột quân Giải Phóng quá mạnh, cả về quân số lẫn hoả lực áp đảo hoàn toàn quân Sài Gòn đồn trú thị xã; thứ nhì, do Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên trên chóp bu với cả đám tướng lãnh chỉ huy Vùng 2 quá đỗi bất tài và hèn nhát. Mấy anh ấy nói vậy không sai, có điều là quá nhấn mạnh vào hai nguyên nhân ấy và cho rằng chỉ bởi hai nguyên nhân ấy, thì lại không đúng. Tôi nghĩ vậy.

Đúng là lực lượng quân ta trong trận Buôn Ma Thuột rất hùng hậu. Song, quân ngụy chốt trong thị xã và toàn bộ tiểu khu mặc dù đã bị quân ta nghi binh khiến cho phân tán dàn mỏng ra, vẫn không hề yếu. Quân số ít hơn ta nhưng ta phải đánh công kiên còn họ thì chốt tại các hậu cứ quen thuộc và trong công sự vững chắc, hoả lực dày đặc. Phi pháo yểm trợ, nhất là của không quân, cực mạnh và quyết liệt. Quân ứng cứu đường bộ và đổ bộ đường không thì hoàn toàn thuận lợi về khoảng cách và địa hình.

Ngày nay thường thấy người ta nói rằng viết rằng, do Mỹ cắt giảm viện trợ khiến quân Sài Gòn cạn đạn cạn bom, không còn hoả lực để cự lại Quân giải phóng nên thua là phải, nhưng nhớ lại những ngày Buôn Ma Thuột tôi thấy những nhận định ấy chẳng đúng. Quân ngụy thua là tất nhiên, song không phải vì đã hết hơi.

Và dĩ nhiên thiên hạ, nhất là các ông nhà báo với sử gia Mỹ, cũng thường qui nguyên nhân bại trận năm 1975 cho sự bất tài của Thiệu. Thua là bởi Thiệu nhất quyết tin chắc Quân giải phóng sẽ đánh Kon Tum. Thua là bởi Thiệu rồ dại ra lệnh bỏ Cao nguyên.

Bất tài? Có thể, song quyết định của Thiệu không thể là độc tôn duy nhất. Trên y còn ông chủ Mỹ: Nhà Trắng, Lầu Năm góc, CIA, toà Đại sứ… Vả chăng, nói Thiệu bất tài là ngày nay nhìn lại thấy thế, chứ nhìn vào ngay thực cảnh chiến trường lúc bấy giờ thì những nhận định và quyết định của Thiệu là đúng bài bản. Y không dốt nát, có điều tài trí của y chỉ đến thế mà thôi.

Mùa khô 1975 bộ đội B3 sẽ tập trung đánh thị xã Kon Tum, đấy là một nhận định hoàn toàn hợp lý đối với một ông tướng kiểu Tây kiểu Mỹ. Không chỉ Thiệu, ngay những anh bạn tôi, là lính và sĩ quan Sài Gòn cấp thấp, cũng thừa nhận là hồi đó đều thấy rằng chiến cuộc 75 sẽ mở màn ở Kon Tum là điều đương nhiên.

Còn bảo rằng việc Thiệu ra lệnh tháo chạy khỏi Tây Nguyên là điên rồ mất trí cũng là “oan” cho y. Chịu một đòn thình lình và khủng khiếp như đòn Buôn Ma Thuột, gan mật vỡ tung ra rồi, thử hỏi Mỹ – Thiệu còn có thể hành động thế nào khác? Co cụm phòng thủ Plei-cu, Kon Tum thì quân đâu giữ đồng bằng nam Trung Bộ. Không còn Tuy Hoà – Nha Trang lẽ đương nhiên là đi đời cả Vùng Một chiến thuật. Chưa nói rằng, từ Buôn Ma Thuột xe tăng và bộ binh Quân giải phóng sẽ dễ dàng từ cao nguyên Di Linh theo lộ 20 trực chỉ Sài Gòn – Gia Định. Cho nên trong đại cảnh rối loạn, bê bối đáng sợ như vậy, Thiệu ra lệnh cho Quân đoàn 2 co về đồng bằng là đúng bài bản nhà binh nước Mỹ, tất nhiên chỉ đúng với điều kiện là rút lui được êm xuôi. Nhưng êm xuôi sao được. Vận nước, lòng dân, sức mạnh và ý chí Quân Giải phóng không cho phép như vậy.

*

* *

Bất tài hay là ngược lại có tài giời, Mỹ-Thiệu cũng phải thua. Điều ấy ai cũng biết và nếu được trực tiếp chứng kiến tất nhiên càng thấm thía hơn.

Trong trận Buôn Ma Thuột, sức mạnh, bản lĩnh và ý chí của Quân giải phóng được thể hiện cụ thể và trước nhất có lẽ ở việc giữ được bí mật chiến trường trước giờ nổ súng. Hơn 3 sư đoàn bộ binh với nhiều trung đoàn tăng pháo và vận tải phối thuộc, nghĩa là hàng chục ngàn bộ đội với vũ khí đủ loại, xe cộ, kho tàng, lán trại, hành quân từ Cánh Bắc xuống Cánh Nam B3 áp sát Buôn Ma Thuột và Đức Lập, thậm chí ăn Tết rồi mới vào trận, mà địch không hề hay biết. Một bí mật cả chục ngàn người biết mà vẫn bí mật tuyệt đối, quả thực là một sự thần kỳ chỉ có ở bộ đội ta.

Khi địch vỡ trận ở Buôn Ma Thuột, bắt đầu rút chạy khỏi Tây Nguyên theo lộ 7 và lộ 21, nếu chúng co cụm lại được ở Tuy Hoà và đèo Phượng Hoàng, ngày Toàn thắng có lẽ không phải 30-4 mà phải lùi xa hơn. Nhưng địch không thể co cụm nổi, bởi chúng bị quân ta, với ý chí tột đỉnh vượt lên trên hẳn sức lực bình sinh của mỗi người, truy đuổi và chặn đánh trên từng thước đường. Ngày nay, nhìn trong các thước phim và tranh ảnh, cảnh quân đội Sài Gòn, hàng tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn trang bị vũ khí tận răng phải quăng súng, cởi áo, tháo giày cuống cuồng bỏ chạy trên các trục lộ, người ta hỏi là vì đâu?

Vì rằng, truy đuổi chúng là những chiến sĩ xe tăng và bộ binh Giải phóng sức lực đã cùng kiệt, không ngủ đã cả vài tuần rồi, mắt sưng đỏ, cổ khô cháy khát, bàn chân phồng rộp, dừng chân nghỉ một lát thôi là ngã dụi, nhưng kiên quyết không buông cho quân địch được một giây phút lại sức và lại hồn. Như trong cuộc truy rượt trên đường 21 xuống Ninh Hoà, chỉ huy các đại đội luôn luôn một lời động viên: Cố lên anh em, cố lên một chốc nữa thôi, một chốc nữa! Những chốc lát nữa ấy liên miên kéo dài, gộp lại thành tháng Ba chiến thắng.

Ngày 31-3-1975, sau khi đập tan Lữ dù 3, bộ đội Sư 10 tiến lên đỉnh đèo Phượng Hoàng. Chiến dịch Tây Nguyên đã kết thúc thắng lợi. Cả ngàn quân muốn ngủ rục xuống ngay. Nhưng trước mắt kia là đồng lúa và nữa là biển xanh mênh mông bát ngát. Đến bây giờ trong tâm trí tôi vẫn còn văng vẳng hiệu triệu của chỉ huy mặt trận: Anh em cố lên, đánh một lần này cho xong, trả thù cho anh em và đồng bào mình đã ngã xuống từ năm 1946 đến nay!

BẢO NINH
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

26 ngày đêm, sôi động tác chiến Binh đoàn

Tác phẩm ” Chiến trường mới” của Tướng Nguyễn Hữu An

Tây nguyên rung chuyển trong tháng 3 năm 1975, từ sai lầm về chiến dịch, Quân lực VNCH, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng thống Thiệu mắc tiếp những sai lầm có tính chiến lược, cả trong điều binh, rút quân, phòng thủ.

Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, với cương vị Tư lệnh Binh đoàn Hương Giang tháng 3 năm 1975, trong tác phẩm “Chiến trường mới” ông đã mô tả những hoạt động rất nhạy bén, kịp thời của “Quả đấm chủ lực”, tại chiến trường Huế – Đà Nẵng. Cùng với những mũi tiến quân của Bộ đội Tây Nguyên tác chiến tấn công băng qua những con đèo như Tu-Na đường số 7, Ma-đrăk đường số 21, An Khê đường số 19 về duyên hải, Binh đoàn Hương Giang vừa thành lập đã trở thành mũi dùi sắc nhọn, chiếm đường số 1 đánh thốc vào nam, chiếm đèo Mũi Né, Phước Tượng, rồi… qua đèo Hải Vân giải phóng Đà Nẵng, căn cứ quân sư liên hợp khổng lồ có đủ hải lục không quân, tạo đà, tạo lực, tạo thế hình thành một cánh quân Hướng Đông rất lợi hại.

Xin trích đăng những diễn tiến khẩn trương của Binh đoàn qua mô tả của “vị tướng trận mạc”:

Gọng kìm lớn

Hệ thống phòng thủ Tây Nguyên hoàn toàn tan vỡ, như tiếng sét kinh hoàng, cộng với sự tấn công mãnh liệt của quân và dân Trị – Thiên trong chiến dịch „K.175“ làm cho toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân khu 1 ngụy rạn nứt, vỡ từng mảng và đang trên đà tan vỡ hoàn toàn. Thời cơ đến, Quân đoàn 2 chúng tôi đã “nhảy vọt” vượt qua các bước, các mục tiêu cơ bản của kế hoạch tác chiến chiến dịch, mà vẫn cảm thấy mình còn chậm trễ.

Tình hình chiến sự phát triển rất nhanh. Qua đài quan sát và các đơn vị báo cáo về, tôi thấy đội hình địch có hiện tượng rối loạn, mất chỉ huy, trên sóng vô tuyến chúng không còn dùng mật ngữ, chúng kêu cứu, chửi bớt tục tĩu…

Ở sở chỉ huy tiền phương quân đoàn, chúng tôi thấy khả năng tiêu diệt sư đoàn 1 và một số liên đoàn biệt động quân nằm trong tầm tay; giải phóng thành phố Huế chỉ còn là ngày một, ngày hai; phải chuyển tốc độ tấn công nhanh hơn nữa.

Nếu quân ta giữ vững được đoạn đường số 1. Nếu địch thấy không còn khả năng giữ nổi Huế mà muốn co cụm về Đà Nẵng chỉ còn lối thoát ra biển qua cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Từ sự phán đoán đó chúng tôi xác định quyết tâm phối hợp với Quân khu Trị – Thiên giải phóng thành phố Huế và giao nhiệm vụ tác chiến tiếp theo cho các đơn vị:

Sư đoàn 325 dùng một trung đoàn nhanh chóng phát triển tiến công tiêu diệt căn cứ Lương Điền, hợp cùng với sư đoàn 324 theo đường số 1 đánh lên Phú Bài và Huế. Một trung đoàn đánh vào phía nam diệt chi khu Phú Lộc, chiếm đèo Mũi Né, Phước Tượng, đưa lực lượng bịt cửa Tư Hiền và sẵn sàng bẻ gãy các lực lượng địch từ Đà Nẵng tiến ra giải tỏa đường số 1.

Sư đoàn 324 đang tác chiến ở Núi Bông, Núi Nghệ, 303 – Mỏ Tàu, nhanh chóng cho trung đoàn 1 và trung đoàn 2 tìm đường vòng cơ động thọc sâu xuống đồng bằng ven biển, hình thành thế bao vây chiến dịch từ phía đông và phía đông nam, không cho địch chạy ra cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Trung đoàn 3 được tăng cường một đại đội xe tăng của lữ 203 nhanh chóng tiến xuống diệt căn cứ La Sơn và phát triển về phía bắc phối hợp với các đơn vị bạn tiêu diệt địch giải phóng Huế. L ữ đoàn pháo binh 164 nhanh chóng di chuyển ít nhất được hai khẩu pháo 130 ly về chiếm lĩnh điểm cao 75 – 76 bắn xuống cửa biển Thuận An, Tư Hiền.

Cuộc chiến đấu hành tiến thần tốc. Sau một đêm sư đoàn 324 rời ra vùng rừng núi (23-3), mũi thọc sâu của quân đoàn là trung đoàn 1 và 2 đã có mặt ở đồng bằng Phú Lộc và tiếp tục tiến về cửa Thuận An. Số quân còn lại trung đoàn 3 bao vây Núi Bông, Núi Nghệ, 303; chiều ngày 23 tháng 3 được đại đội 4 xe tăng từ A Lưới vào chi viện cho tiểu đoàn 7 (trung đoàn 3) tiến công chiếm Núi Bông, Núi Nghệ và căn cứ 303. Tiếp đó trung đoàn 3 và đại đội 4 xe tăng lao thẳng xuống đường số 1.

Địch thấy không còn khả năng rút chạy vào Đà Năng bằng đường số 1, Tướng Ngô Quang Trưởng, quyết định “rút” bằng đường biển. Một bộ phận qua cửa Thuận An, một bộ phận qua cửa Tư Hiền. Nhưng chúng chưa kịp thực hiện, thì chiều ngày 23 tháng 3 trung đoàn 1 và 2 (sư đoàn 324) đã chiếm cửa Thuận An, trung đoàn 18 (sư đoàn 325) cùng bộ đội địa phương đã áp sát cửa Tư Hiền. Thành phố Huế lúc này nằm trong gọng kìm lớn của Quân đoàn 2 và Quân khu Trị – Thiên.

Thời cơ giải phóng Huế đã xuất hiện. Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 quyết định sử dụng trung đoàn 101 (sư đoàn 325) nhanh chóng đánh chiếm Phú Bài mở đường cho quân đoàn tiến vào giải phóng Huế. Trung đoàn trưởng Hồ Hữu Lạn đã thực hiện đúng phương án chúng tôi vạch ra: dùng một tiểu đoàn vu hồi đánh chiếm quận lỵ Hương Thủy, đại bộ phận trung đoàn dưới sự yểm trợ hỏa lực của đại đội 4 xe tăng theo đường số 1 tiến công chính diện căn cứ Phú Bài.

Tảng sáng ngày 25 tháng 3 tiểu đoàn 3 đã nổ súng đánh chiếm quận lỵ Hương Thủy, cùng lúc trung đoàn 101 đánh vào Phú Bài. Địch bị bất ngờ tháo chạy hỗn độn, bỏ lại toàn bộ vũ khí trang bị kỹ thuật, trong đó có một đoàn xe cơ giới đang nổ máy. Đại đội 4 xe tăng của ta đã thu dụng ba chiếc xe tăng M.48, hai xe bọc thép M.113 để tăng cường lực lượng của mình.

Sau khi giải phóng Phú Bài và Hương Thủy, trung đoàn 101, tiếp theo là trung đoàn 3 bộ binh có xe tăng đi cùng được nhân dân địa phương giúp phương tiện (xe lam, xe tải và cả xe hon đa) vận chuyển tiến rất nhanh vào nội đô Huế. Đúng 13 giờ ngày 25 tháng 3 tiểu đội phó tiểu đội trinh sát Nguyễn Văn Phương đã cắm cờ chiến thắng lên Phú Văn Lâu.

Một bộ phận của trung đoàn 3 (sư đoàn 324) cùng xe tăng, chiều ngày 25 tháng 3 đã tiến vào sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy ở Mang Cá và tới giải phóng cho hơn 2.000 tù chính trị ở nhà lao Thừa Phủ… Cùng thời gian đó các lực lượng của Quân khu Trị – Thiên từ hướng bắc cũng tràn vào đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố.

Một ngày bằng hai mươi năm

Chiều 25 tháng 3 sở chỉ huy tiền phương vào đóng trong thành Mang Cá. Các cán bộ của sư đoàn 325 và trung đoàn 6 Trị – Thiên cũng có mặt ở đây. Một lát sau tôi gặp Tổng tham mưu phó Giáp Văn Cương và tư lệnh phó Trị – Thiên Dương Bá Nuôi. Chúng tôi vui mừng chào nhau bằng cái bắt tay siết chặt.

Qua kẻ địch bị tiêu diệt, tan vỡ ở Trị – Thiên – Huế và những tin tức các chiến trường khác chúng tôi thu lượm được, thấy khả năng thứ hai đã rõ. Và những gì chúng tôi đã làm là đúng hướng, chỉ cần tổ chức đôn đốc khẩn trương hơn.

Bộ tư lệnh Quân đoàn hội ý khoảng một giờ, mục đích phân công và bàn giao lại một số việc cho địa phương. Tôi cùng anh Công Trang phó chính. ủy và tham mưu trưởng quân đoàn Bùi Công Ái trực tiếp chỉ huy “cánh quân đường 14,” gồm sư đoàn 324, trung đoàn 9 (sư đoàn 304) và tiểu đoàn xe tăng, những đơn vị vất vả bao năm trên rừng núi, đánh vào Phước Tượng sở chỉ huy sư đoàn 3 ngụy rồi phát triển xuống Đà Nẵng.

Phó tư lệnh quân đoàn Hoàng Đan trực tiếp chỉ huy cánh quân theo đường số 1 gồm trung đoàn 18 (sư đoàn 325) và lực lượng tại chỗ của Quân khu 5, đánh chiếm đèo Hải Vân vào Đà Nẵng

Tôi điện cho sư đoàn 304 từ Thượng Đức đánh xuống tây nam Đà Nẵng; giao cho cơ quan tham mưu làm kế hoạch hiệp đồng nội bộ quân đoàn và hiệp đồng với Quân khu 5, giao cho hậu cần nhanh chóng thu hồi các cơ sở hậu cần của địch để kịp phục vụ cho các hướng tiến công của quân đoàn…

Như vậy Binh đoàn Hương Giang đã chủ trương hai hướng đánh chủ yếu, từ ngang sườn đất nước, và đánh dọc đường số 1 từ Bắc vào Nam. Nếu không có chiến thắng Thượng Đức, Nông Sơn…, làm sao ta có những căn cứ bàn đạp để nhanh chóng chớp thời cơ “ Một ngày bằng hai mươi năm” như thế. (TDB)

Cách đánh chung cho các hướng: tiến công trong hành tiến.Tôi rất tự hào về đội ngũ cán bộ quân đoàn. Mỗi khi quyết tâm chung được xác định, hoặc một mệnh lệnh của tư lệnh phát ra là guồng máy cơ quan đồng cấp, trên dưới ăn ý nhau chuyển động rất nhịp nhàng. Lữ đoàn công binh 219 khẩn trương sửa đường, bắc lại cầu Truồi để lực lượng cơ giới cơ động.

Trung đoàn thông tin 463 nhanh chóng xây dựng mạng thông tin vô tuyến kịp thời cho tổ chức thông tin chỉ huy… Ở hướng đường số 1, trung đoàn 18 (sư đoàn 325) dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Hồng Lẫm và quân đoàn phó Hoàng Đan hết sức chủ động linh hoạt. Ngày 23 tiêu diệt chi khu Phú Lộc xong lập tức phát triển, ngày 24 tháng 3 đã đánh chiếm căn cứ lữ đoàn 258 lính thủy ở đèo Tượng, và ngày 26 trung đoàn tiếp tục diệt cứ điểm Thổ Sơn…

Sau khi mất Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Ngãi, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gửi cho các tư lệnh quân khu bức công điện số 015/TT/CĐ ngày 25 tháng 3 năm 1975, trong đó yêu cầu: “Tất cả những tỉnh, những phần đất còn lại của Việt Nam Cộng hoà hiện còn đến ngày 25-3-1975 phải được tử thủ và bảo vệ đến cùng… chỉ huy các cấp phải vận dụng mọi sáng kiến và phương tiện để phản công”. Thực hiện lệnh này, ngày 26 tháng 3, trung tướng Ngô Quang Truởng cố gắng thu gom các đơn vị còn lại với tổng số quân trên dưới 75.000 người về phòng thủ thành hai tuyến quanh Đà Nẵng.

  • Tuyến ngoại vi: Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến (thiếu) và Liên đoàn bảo an 914 giữ Hải Vân từ Phước Tuờng đến Liên Chiểu. Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến và trung đoàn 57 (sư đoàn 3) giữ Đại Lộc và Đồng Lâm. Lực lượng còn lại của lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến (khoảng 1 tiểu đoàn) và Bộ tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến giữ sân bay Nuớc Mặn. Trung đoàn 56 (sư đoàn bộ binh 3) giữ Vĩnh Điện. Trung đoàn 2 (sư đoàn 3) ở Ninh Quế. Liên đoàn 15 biệt động quân giữ Bà Rén.
  • Tuyến tử thủ: Liên đoàn 912 bảo an, các đơn vị còn lại của các thiết đoàn 11 và 20 phòng thủ địa đoạn Phước Tường – Hòa Mỹ. Ba tiểu đoàn còn lại của sư đoàn 1, sư đoàn 2 bộ binh và liên đoàn 12 biệt động quân và 3.000 tân binh của trại huấn luyện Hòa Cầm phòng thủ khu vực từ căn cứ Hòa Cầm đến căn cứ Nuớc Mặn. Các tiểu đoàn bảo an độc lập làm dự bị cơ động trong nội đô.

Tướng Trưởng vẫn còn trong tay 12 tiểu đoàn pháo binh các loại (trong đó có 4 tiểu đoàn được tái trang bị) và sư đoàn 1 không quân bố trí tại các sân bay Đà Nẵng và Nước Mặn là những đơn vị hầu như chưa bị tổn thất để yểm hộ cho các tuyến phòng thủ

Tư liệu tham khả0

Thấy nguy cơ Đà Nẵng bị uy hiếp, bộ chỉ huy quân đoàn 1 ngụy vội vã lệnh cho lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ và liên đoàn 914 bảo an phá cầu Thừa Lưu, rút về đèo Phú Gia, Lăng Cô, Hải Vân xây dựng trận địa lâm thời phòng ngự. Ngày 27 tháng 3 trung đoàn 18 tiến đánh đèo Phú Gia. Trung đoàn pháo binh 84 vừa mới xuống núi đã linh hoạt sử dụng ngay pháo của địch ở Phú Lộc, Phước Tượng chi viện cho trung đoàn 18. Đến lúc này mọi người mới thấy tác dụng của việc huấn luyện cho bộ đội biết sử dụng xe pháo và vũ khí của địch là cực kỳ quan trọng.

Địch ở Phú Gia chống cự quyết liệt. Máy bay, pháo binh của chúng bắn phá dữ dội để chi viện cho bọn lính thủy đánh bộ bảo vệ vòng ngoài của Đà Nẵng, nhưng cuối cùng chúng vẫn phải rút chạy. Thừa thắng quân ta tiến lên giải phóng luôn Sơn Hải, An Hải và Loan Lý. Chiều ngày 28, bộ phận đi đầu của trung đoàn đã tới chân đèo Hải Vân.
Trận đánh ở khu vực Lăng Cô chân đèo Hải Vân diễn ra căng thẳng giằng co (nhất là khu vực cầu Lăng Cô) gần hết một ngày, mãi tới 20 giờ ta mới hoàn toàn làm chủ. Và cũng từ giờ phút đó cửa vào Đà Nẵng đã mở xong.

Trên hướng đường 14, khoảng cách từ điểm xuất phát tới vị trí tập kết khoảng 70 cây số, vừa đi vừa phải gỡ mìn, vừa phải xua bọn địch ở ven đường, nên mãi tới tối 28 trung đoàn 9 và các đơn vị phối thuộc mới tới khu tập kết. Các đơn vị đang chuẩn bị đánh Đá Đen, chưa kịp đánh địch đã rút chạy.

Cùng ngày 28 có nhiều sự kiện quan trọng. Theo chỉ thị của Bộ, tôi hạ lệnh cho lữ đoàn pháo 164 cho trận địa pháo tầm xa đặt ở Mũi Trâu, nhanh chóng cùng các trận địa pháo của toàn mặt trận bắn uy hiếp dữ dội vào quân cảng, sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy và sân bay Đà Nẵng. Sau vài giờ pháo binh của ta phát hỏa, tôi nhận được nhiều tin. Tình hình thành phố Đà Nẵng trở nên rối loạn. Từng toán binh lính ngụy xông vào nhà dân cướp bóc, hãm hiếp. Sân bay bị tê liệt. Từng đoàn xe, đoàn người chầu chực chuẩn bị di tản, lại rồng rắn trở vế thành phố. Khu trung tâm thông tin ở Đà Nẵng bị phá hủy; liên lạc Đà Nẵng – Sài Gòn bị cắt đứt. Trên các làn sóng vô tuyến luôn chen chúc tiếng kêu cứu, tiếng chửi rủa của bọn lính ngụy…

7 giờ sáng 25 tháng 3 Quảng Ngãi đã hoàn toàn giải phóng. Như vậy hai phía đường1 ta đã làm chủ. Đà Nẵng bị cô lập đường bộ hoàn toàn. Chúng tôi thấy thời cơ tổng công kích vào Đà Nẵng đã tới, tôi hạ lệnh cho các đơn vị ở các hướng khẩn cấp tiến lên. Đơn vị nào có điều kiện tiến nhanh hơn thì vào sớm, không phải chờ đợi.

Ở hướng đường số 1, ngay trong đêm 28 anh Hoàng Đan đã điều động đại đội xe tăng PT.85 tăng cường cho sư đoàn 325. Trung đoàn 84 pháo binh vừa hành quân tới đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa pháo 105 và 155 ly cua địch ở Lăng Cô và Phú Gia; chuẩn bị ngay phần tử bắn sẵn sàng chi viện cho bộ binh chiếm đèo Hải Vân.

5 giờ sáng ngày 29 phó tư lệnh quân đoàn Hoàng Đan phát lệnh tiến công. Đạn pháo của trung đoàn 84 đồng loạt nổ liên hồi trong khu vực phòng ngự của lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ. Sư đoàn 325 cùng các đơn vị binh chủng phối thuộc ào ào chuyển động theo đường số 1. Pháo binh vừa chuyển làn, bộ binh, xe tăng của sư đoàn đã có mặt ngay trước trận địa địch. Địch bị bất ngờ, hoảng hốt chạy tan tác vào rừng. Khi ta tới đỉnh đèo, từng toán địch lẻ tẻ ra ngăn chặn.

Được pháo binh và xe tăng yểm trợ đắc lực, các đơn vị đi đầu của sư đoàn vẫn giữ nguyên cách đánh trong hành tiến. Đại đội 6 dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Nguyễn Tiến Lai, liên tiếp tiêu diệt các toán địch chốt chặn, mở đường cho sư đoàn tiến quân.

Tới 8 giờ, khi quân ta xuống gần chân đèo phía nam, gặp một cánh quân địch hành quân bằng cơ giới có xe tăng đi cùng. Một trận đụng độ quyết liệt diễn ra trong vài chục phút, cánh quân dịch hoàn toàn bị tiêu diệt và tan rã. 9 giờ 30 phút sư đoàn 325 cùng các đơn vị binh chủng phối thuộc vào tới cầu Nam Ô. Đồng bào ào ra chào đón, đứng chật hai bên đường. 10 giờ 30 sư đoàn 325 đã vào trung tâm thành phố chiếm cảng Đà Nẵng và tiến đánh bán đảo Sơn trà, cắt đứt hoàn toàn đường rút chạy của địch.

Trên hướng đường số 14, tối 28 tháng 3 nhận lệnh cấp tốc hành quân tiến công vào sở chỉ huy sư đoàn 8 của địch ở Phước Tượng. Đến 12 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 trung đoàn 9 cùng các đơn vị phối thuộc đã đánh chiếm Phước Tượng, Hòa Khánh sở chỉ huy sư đoàn 3. Tiếp sau đó tiến xuống phối thuộc với trung đoàn 18 (sư đoàn 325) đánh chiếm Đà Nẵng. Tôi đi theo tiểu đoàn xe tăng ra chiếm bán đảo Sơn Trà. Tới đây tôi gặp quân đoàn phó Hoàng Đan, anh đang tổ chức cho pháo bắn theo tàu chiến địch hối hả bỏ chạy. Có tin trung tướng ngụy Ngô Quang Trưởng đã không chờ “Việt cộng bước qua xác” mà đang ở trong một con tàu nào đó chạy ra khơi.

Trên hướng tây nam, sư đoàn 304 (trừ trung đoàn 9) đã đánh tan lực lượng địch ngăn chặn ở Ái Nghĩa và truy theo bọn tàn quân của lữ đoàn 369 lính thủy đánh bộ suốt dọc đường dài hơn 30 ki-lô-mét, rồi cùng các lực tượng của Quân khu 5 đánh chiếm sân bay, khu hành chính thành phố và nhiều mục tiêu quan trọng khác.

Trải qua 26 ngày đêm, Quân đoàn 2, Binhđoàn Hương Giang đã phối hợp chặt chẽ cùng với Quân khu Trị – Thiên và Quân khu 5 chiến đấu liên tục, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân đoàn 1, quân khu 1 và sư đoàn lính thủy đánh bộ của địch, thu toàn bộ cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của chúng, giải phóng hoàn toàn Trị – Thiên – Huế và Quảng Nam – Đà Nẵng.

* * *

Trải qua chiến dịch này, chúng tôi rút ra được nhiều bài học quý giá. Quân đoàn đã hiểu đúng tình hình địch, ta và nhiệm vụ được trên giao, qua đó chọn đúng hướng tiến công chủ yếu, chọn đúng đối tượng và mục tiêu chủ yếu. Khi thời cơ xuất hiện đã kịp thời nắm bắt tận dụng thời cơ; kiên quyết liên tục, nâng cao tốc độ tiến công tạo thêm thời cơ mới. Chủ động linh hoạt sử dụng cách đánh thích hợp, từ cách đánh tiến công có chuẩn bị chuyển sang tiến công trong hành tiến đã làm cho quân địch không kịp trở tay…

TDB (biên tập, giới thiệu)
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Căng địch ra mà đánh…phối hợp với Tây Nguyên

Trận then chốt thứ nhất, thứ hai…đã diễn ra trên rừng núi Cao Nguyên, BCH chiến dịch chỉ thị cho trinh sát các đơn vị nắm chắc tình hình địch và không bỏ qua một động thái nào của chúng. Tại Tổng hành dinh, cấp trên đã tính toán đến khả năng địch đổ quân phản kích chiếm lại địa bàn. Cấp trên không chỉ có tin hàng giờ về động thái của quân đoàn 2 Nguỵ mà còn “để mắt” đến lực lượng trù bị chiến lược của Quân lực VNCH, là sư đoàn Dù, sư đoàn Thuỷ quân lục chiến đang bị “treo chân” tại Quân khu 1. Liệu hai sư đoàn cơ động chiến lược này có thể điều binh “chữa cháy” cho Vùng 2 chiến thuật được không? Câu chuyện của Thiếu tướng Phan Hàm sau đây cho thấy, Tổng hành dinh đã chỉ đạo Quân Khu Trị -thiên và Binh đoàn Hương Giang phối hợp chiến trường rất kịp thời, khiến cho lực lượng dự bị chiến lược bị “dính chân”, trở thành lực lượng đồn trú, chữa cháy ngay tại Quân khu 1 còn không xong, nói chi đến có thể đi phản kích “giúp người”.

Không chỉ giam chân địch, Chiến trường Trị -Thiên, Huế cũng bùng lửa nơi nơi, khiến cho địch lung túng khắp các vùng . “Căng địch ra mà đánh” đã là một binh pháp được ứng nghiệm rất thành công giữa những ngày tháng 3 nóng bỏng này.

Đầu tháng 3 năm 1975, bầu không khí Trung Bộ đang êm ắng, bỗng trở nên náo nhiệt hẳn lên. Ngày 5 tháng 3 ta đánh sập cầu An Lỗ, tiếp đến phục kích trên đèo Hải Vân, vây ép một số điểm cao ở bắc Quảng Trị: 365-Động Ong Do-235. (Thực hiện đúng chỉ thị của Tổng hành dinh, sớm hoạt động tác chiến, vừa thu hút chú ý của địch, nghi binh chiến lược, vừa giam chân lực lượng hai sư đoàn trù bị, không cho chúng rảnh tay ứng cứu cho nhau, vừa tạo thế chiến lược cho toàn miền…Sập cầu An Lỗ, đồng bằng sông An Lỗ bị uy hiếp, địch rất sợ điều này, bởi đây là khúc dễ chia cắt nhất . Tướng Lê Quang Lưỡng, sư trưởng sư Dù, từ năm 1974, khi phải điều các lữ dù đi cứu Thượng Đức đã sớm nhận ra mối nguy kịch, nếu “ Cộng quân cắt đồng bằng sông An Lỗ-TDB)

Những hoạt động của ta ở bắc Quảng Trị lần này, theo chúng nắm được, hình như đều có bộ binh, xe tăng, bộ đội địa phương tham gia. Hơn nữa, chúng còn phát hiện thêm là mạng thông tin VTĐ ở Ba Lòng vẫn còn nằm nguyên tại chỗ, lên tiếng đều đều. Sự kiện giật gân nhất là tin sư đoàn 308 sẽ vượt sống Thạch Hãn và tiến công thẳng vào thành phố Quảng Trị… Tất cả những bằng chứng ấy đều đi đến một kết luận dứt khoát là: “Rõ ràng Việt Cộng đã lặp lại cái trò chiến dịch Quảng Trị năm 1972 rồi…”!!!

Trong những đêm 5, 6, 7, 8 tháng 3 năm 1975,những ngày đó, mặt trận Tây Nguyên, ta đang nín thở lần lượt tạo các đòn đánh cài thế, chia cắt. Cũng lúc này địch căng mắt ra để theo dõi những hoạt động của các đơn vị chủ lực của ta, thì dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Thường vụ Quân khu uỷ Khu 5 và Bộ tư lệnh mặt trận, 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, gần 100 đội công tác và các đôi vũ trang địa phương, cùng với lực lượng chính trị và cơ quan chỉ huy, lãnh đạo các cấp tỉnh, huyện cả thảy hơn 3.000 tay súng, lặng lẽ đột nhập đồng bằng, hướng về các địa bàn trọng điểm. Dưới ánh sáng sao, từng đoàn người lặng lẽ vượt qua đường quốc lộ, băng qua những bãi cát trắng, những cánh đồng lâu ngày bị bỏ hoang, cỏ mọc lút đầu người, rồi chia tay nhau về các khu tập trung, theo sự phân công từ trước. Ngọn lửa cách mạng lâu nay ấp ủ trong lòng người dân Trị Thiên, đang chờ một lần gió nhẹ, để ngùn ngụt bốc lên.

Giữa lúc ấy, thì quang cảnh ở vùng giáp ranh, vùng rừng núi lại khác hẳn. Một tiểu đoàn công binh của trung đoàn 219 và toàn bộ sư đoàn bộ binh 324, ngày đêm dồn dức ra làm đường lên Động Truồi, một cao điểm trên 1 nghìn mét, cố đưa cho được nửa số pháo trong biên chế lên bố trí trên các mỏm, nòng chĩa thẳng vào các vị trí của địch ở phía nam Huế.

Ngày 8 tháng 3, trước khi nam Tây Nguyên nổ súng một ngày, các trung đoàn của Quân khu và Quân đoàn 2 đồng loạt tiến công trên hai hướng: phía bắc là Phong Sơn, phía nam là đường 14. Một bộ phận lực lượng tập trung của Quảng Trị tiến công vào quận lỵ Hải Lăng. Địch hoảng sợ, rút bỏ 11 điểm chốt. Trên đường 14, đúng 5 giờ 45 phút, sư đoàn 324 nổ súng tiến công. Sau 30 phút đánh dồn dập, pháo chuyển làn vào sân bay Phú Bài và các trận địa pháo của địch ở La Sơn, Ấp 5.

Cuộc chiến đẫu diễn ra gay go ngay từ ngày đầu. Đơn vị đảm nhiệm hướng chủ yếu đến chậm, chiếm lĩnh rất khó khăn. Tiểu đoàn 6 ba lần xung phong đều bị đánh bật, phần thì bị pháo bắn chặn, phần thì bị hoả lực súng máy tạt sườn. Ở cao điểm 309, hai tiểu đoàn địch chống trả quyết liệt. Thương vong ngày càng nhiều. Trên hướng thứ yếu, sau một giờ chiến đấu ta dã chiếm được các cao điểm 75, 76 ven theo đường 14. Ngày 10 tháng 3 sư đoàn tổ chức một bộ phận trinh sát tập kích vào cụm xe tăng ở núi Nghệ, bắn 4 phát hoả tiễn, diệt luôn 4 xe. Đến 14 giờ cùng ngày tiểu đoàn 4, trung đoàn 2 đột kích vào cao điểm 204. Bị đánh bất ngờ trong lúc chúng đang ăn cơm, nên chỉ sau 45 phút chiến đấu ta dứt điểm. Trong lúc đó, trung đoàn 3 ở Thượng Đức mới trở về đội hình của sư đoàn đã nhanh chóng triển khai đội hình tiến công và làm chủ cao điểm 273.

Quân đội VNCH chở quân phản kích,
nhưng không cứu vãn được

Chiến sự ở cao điểm 303 ngày càng trở nên ác liệt: địch cố giữ, chúng tăng cường thêm trên hướng này 2 tiểu đoàn 61 và 94 của lữ đoàn 14, tập trung phi cơ ném bom có ngày lên đến 170 lần chiếc. Suốt cả một tuần lễ địch giành đi giật lại với ta từng cao điểm, kiên quyết ngăn chặn ta trên tuyến núi Bông, núi Nghệ ở tây nam Phú Bài.

Mặt trận chủ trương: sư đoàn 324 phải giữ vững các khu vực đã chiếm được, sư đoàn 325 thì gấp rút chuẩn bị để tiến công vào khu vực Kim Sắc, cao điểm 560 để phối hợp, đồng thời bước đầu thực hiện việc chia cắt quốc lộ 1. Vì công tác chuẩn bị có gặp trở ngại, nên thời gian nổ súng phải lùi lại mấy hôm. Địch như phát hiện được lực lượng của ta, phán đoán hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch, nên tập trung các trung đoàn 1, liên đoàn 15 biệt động quân và một tiểu đoàn của trung đoàn 51 liên tục phản kích.

Nhân lúc đồng bằng sơ hở, đêm 8 rạng ngày 9 tháng 3, theo đúng kế hoạch cả tám huyện và vùng ven đô, đồng loạt nổi dậy. Lực lượng chính trị, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương, đánh vào một số chi khu, 30 phân chi khu, chủ yếu nhằm diệt các bộ máy kìm kẹp, kết hợp với vũ trang tuyên truyền trên một diện rộng có 53 xã, 150 thôn với 20 vạn dân. Ở nam Quảng Trị, ta tiêu diệt chi khu Mai Lĩnh, diệt gọn ba phân chi khu, ở bắc Thừa Thiên, diệt 5 phân chi khu: Phong Chương, Phong Hoà, Phong Bình, Phong Niên và Quảng Phú; ở nam Thừa Thiên, đánh vào 10 phân chi khu; diệt gọn 3. Ở phía bắc, kho xăng Động Toàn bị đánh cháy; ở khu giữa ta bắn pháo vào Mỹ Chánh, Đồng Lâm, Hiệp Khánh và ở phí nam, đèo Hải Vân bị uy hiếp. Cả đồng bằng Trị Thiên, dài trên 100 cây số, đâu đâu cũng vang rền tiếng súng tiến công, tiếng reo hò nổi dậy, Nhân dân như sống lại những ngày tưng bừng của Tết Mậu Thân.

Sự phối hợp tuyệt đẹp giữ đồng bằng và vùng giáp ranh trong những ngày này, đã làm cho đối phương vô cùng hoảng sợ. Bộ máy kìm kẹp mà Mỹ nguỵ đã ra sức xây dựng trong bao nhiêu năm bị tan rã nhanh chóng, chúng bỏ chạy toán loạn, đi đâu cũng bị đánh. Một bầu không khí hoang mang dao động lan tràn trong hàng ngũ tay sai.

Biện pháp đối phó trước tiên là vội vã rút bỏ một số chốt không quan trọng để co về những nơi hiểm yếu hơn ở vùng giáp ranh be bờ, cố thủ. Đến ngày 10 tháng 3, địch bắt đầu phản kích lại trên từng hướng. Ở những nơi có lực lượng của ta trụ lại, thì dùng những phân đội bộ binh nhỏ, có xe tăng yểm hộ, đánh phá quyết liệt và có gây thương vong trong các lực lượng vũ trang địa phương.

Sớm dự kiến tình huống có thể xảy ra, ngày 12 tháng 3, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho các chiến trường: “Địch đang có bước sa sút mới sau thắng lợi của ta ở Tây Nguyên. Ta có khả năng giành thắng lợi to lớn hơn với nhịp độ nhanh hơn dự kiến. Cần phải quán triệt tinh thần khẩn trương, mạnh bạo, kịp thời lợi dụng điều kiện mới, giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch trong trong khi chúng rút chạy…”.Được sự chỉ đạo kịp thời của trên, Thường vụ Khu uỷ và Quân khu uỷ đã họp, đánh giá tình hình, khẳng định những thắng lợi bước đầu và đề ra những chỉ thị bổ sung cần thiết, cho các đơn vị. Ngày 13 tháng 3, trung đoàn 6 của tính bắt đầu tiến công trên đường 12, chiếm Chúc Mao, diệt địch ở cao điểm 300, uy hiếp Bình Điền, Động Trạch. Phòng tuyến giữa, ở ngay sát nách Huế có nguy cơ bị chọc thủng. Ngày 15 tháng 3, địch rút bỏ một khu vực lớn từ Đèo Đông đến cao điểm 551.

Về phía đối phương trong những ngày này, cơn sóng gió không chỉ diễn ra trên chiến trường mà cả trong nội bộ họ nữa. Được hậu thuẫn mạnh mẽ, sau ngày 6 tháng 3, Ngô Quang Trưởng tỏ ra bướng bỉnh không chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu quân đội Cộng hoà. Ông ta chần chừ mãi đến ngày 13 tháng 3 mới bay về Sài Gòn. Viên gạt nhẹ quả bóng: “Đây là lệnh của Thiệu”. Trưởng báo cáo với Thiệu là không nên rút lui về Đà Nẵng, vì đối phương đang uy hiếp quốc lộ 1. Tốt nhất là nên ở lại Huế và chuẩn bị chiến đấu, may ra còn có thể đem lại cho nhân dân một ít lòng tin. Trưởng thấy còn có các căn cứ phòng thủ khá tốt chung quanh Huế và có thể tập trung quân co cụm vào ba nơi trong phạm vi vùng 1 chiến thuật: Huế, Đà Nẵng, Chu Lai. Kỳ kèo mãi, Thiệu mới đồng ý kéo dài việc rút quân được mấy hôm: dự kiến ngày 17 tháng 3, sẽ rút lữ đoàn dù thứ nhất, ngày 25 tháng 3, rút lữ đoàn thứ hai và đến cuối tháng 3, rút xong lữ đoàn cuối cùng. Khi trưởng hỏi về sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, Thiệu trả lời là sẽ đê nguyên ở vùng 1 và sẽ cố thủ Huế. Trưởng cảm thấy hơi an tâm. Nhưng trong lúc ăn cơm, hỏi lại Khiêm, thì Khiêm lại rỉ tai là Thiệu đang nghiên cứu cả việc rút sư đoàn lính thuỷ đánh bộ về, thực hiện chiến lược mới: nhẹ ở đầu, nặng ở đấy. Đầu là vùng 1 và đáy là Sài Gòn. Như vậy có nghĩa là sẽ hy sinh các tỉnh phía bắc và cả Tây Nguyên.

* * *

Ngày 17 tháng 3, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho Quân khu và Quân đoàn cụ thể thêm: “Phải táo bạo đưa lực lượng vượt qua tuyến phòng thủ bên ngoài, thọc xuống cắt đứt đường số 1, đánh chiếm Phú Lộc, chuẩn bị hoả lực đánh vào Huế và đôn đốc đánh sớm hơn dự kiến…” (Điện số 517, ngày 17 tháng 3).

Thường vụ Khu uỷ và Thường vụ Đảng uỷ mặt trận lại họp và nhận định: thời cơ thuận lợi mới đã xuất hiện, nên đã hạ quyết tâm, khẩn trương, mạnh bạo tiến công, dùng lực lượng tại chỗ đánh mạnh vào phòng tuyến địch, kết hợp với thọc sâu, chia cắt, phá thế co cụm, giành thắng lợi lớn ở đồng bằng, tiến tới bao vây, cô lập Huế.

Thực hiện các chỉ thị, mệnh lệnh cnói trên, trong ngày hôm ấy Bộ tư lệnh Quân khu dùng toàn bộ lực lượng của tỉnh Quảng Trị đang từ trong thế phòng ngự phía bắc, chuyển sang tiến công trên hai hướng: hướng đông, từ Thành Hội theo trục đường 86; hướng tây từ Tích Tường, Như Lệ, theo đường 1, tiến vào. Các lực lượng đã rút lên vùng giáp ranh để củng cố, phải lập tức quay trở lại đồng bằng, đánh địch, phát động quần chúng nổi dậy. Phía bắc Huế, trung đoàn 4 bộ binh, thọc ra cắt đường quốc lộ 1, hướng nam Huế thì bỏ khu vực đường 14 và các cao điểm đang giành đi giật lại với địch, mà chuyển xuống cắt giao thông ở khu vực Lương Điền, Đá Bạc.

Cũng trong ngày 17, về phía địch, Trưởng ngậm đắng nuốt cay tiễn chân lữ đoàn dù về Nam và triển khai lại lực lượng. Lần thứ hai trong vòng hai tuần lễ, lại một lữ đoàn thuỷ quân lục chiến nữa phải rút khỏi phòng tuyến phía bắc Huế, để co về khu vực đồi núi đèo Hải Vân nhằm tăng cường cho tuyến phòng thủ Đà Nẵng, vì giữa hai thành phố Huế và Đà Nẵng, thì Huế là đầu mà Đà Nẵng là đáy. Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ cuối cùng còn lại trên đất Quảng Trị, chỉ còn làm nhiệm vụ của một tấm lá chắn bảo vệ cho sư đoàn 1, tức là thực hiện giai đoạn hai trong kế hoạch chiến lược của Trưởng.

3 giờ sáng ngày 19 tháng 3 cờ Mặt trận đã cắm trên Thành cổ Quảng Trị, và đến 15 giờ hôm áy, pháo lớn đã bắt đầu giội bão lửa xuống khu vực Tây Lộc, Mang Cá, trong thành phố Huế. Cái gọi là tuyến tác chiến trì hoãn, thực ra đã không trì hoãn được phút giây nào cả, mà chỉ lo giẫm lên nhau chạy dài. Sau một ngày tiến công, toàn tỉnh Quảng Trị được giải phóng.

( Trích đoạn giao nhiệm vụ nổ súng gấp cho mặt trận Huế- Trị Thiên- Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng của đại Tướng Võ Nguyên Giáp)

Ngày 28-2-1975, đồng chí Thanh Quảng, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu Trị – Thiên và đồng chí Hoàng Đan, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn II ra Bộ báo cáo quyết tâm cuối cùng.

Các đồng chí có mặt rất đúng giờ tại Tổng hành dinh.

Cùng dự nghe báo cáo với tôi, có các anh Lê Trọng Tấn, Lê Hữu Đức. Với tinh thần phấn chấn, các đồng chí trình bày kế hoạch tác chiến với những mục tiêu, nhiệm vụ còn cao hơn cả những mục tiêu, nhiệm vụ được giao.
Nghe báo cáo xong, tôi hỏi:

– Thế nếu thời cơ thuận lợi, các đồng chí đã có kế hoạch phảt triển tiến công giải phóng Trị – Thiên – Huế chưa?

Đang có tâm trạng phấn khởi, hai đồng chí bỗng hoá ra lúng túng. Tôi hỏi thêm:

– Kế hoạch cơ bản như thế này là được. Nhưng các đồng chí phải làm ngay một kế hoạch phát triển tiến công khi thời cơ thuận lợi, mà mục tiêu của nó là giải phóng Trị – Thiên – Huế. Các đồng chí đã rõ chưa?

Sau giây phút ngỡ ngàng, nét mặt hai đồng chí tươi hẳn lên. Cả hai đồng chí đồng thanh trả lời: Rõ!

Về thời gian mở màn chiến dịch, các đồng chí đề nghị cho lui thời gian chuấn bị thêm năm ngày, tức là đến hết ngày 9-3. Vừa nghe mấy tiếng
“9-3”, anh Lê Trọng Tấn đứng phắt dậy nói ngay, giọng gay gắt: Trong chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, hiệp đồng nhiều chiến trường mà các đồng chí muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được hay sao? Các đồng chí lùi lại thì địch đưa sư dù dự bị chiến lược lên nam Tây Nguyên, hướng chính của ta sẽ bị vỡ, cuộc Tổng tiến công sẽ đi đến đâu?…
Anh Tấn nói với hai đồng chí:

– Tôi cũng biết các đồng chí khó khăn. Nhưng các đồng chí phải biết chiến dịch của các đồng chí là nằm trong chiến cuộc chung của toàn quốc. Vậy thời gian phải hết sức chặt chẽ, không thể ai muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được.
Hôm sau, tôi gặp lại hai đồng chí nói thêm:
Nhớ rằng chiến dịch này không như các chiến dịch khác. Các đồng chí có thể phát huy sáng kiến đánh thật hay để hoàn thành vượt mức kế hoạch, nhưng cần chú ý những việc Bộ Tổng tư lệnh đã quy định cụ thể thì tuyệt đối không được linh hoạt, phải chấp hành thật nghiêm. Phải tích cực sảng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế. Tiêu diệt sinh lực địch là rất quan trọng, nhưng làm đường cơ động cũng quan trọng không kém, các đồng chí phải huy động mọi lực lượng mở đường cơ động, vì có đường thì mới phát triển tiến công được thuận lợi khi có thời cơ.

Hai đồng chí hứa sẽ hoàn thành tất cả các nhiệm vụ Bộ giao, cả về thời gian, địa điểm và khối lượng.

TDB-sưu tầm

Cũng như ở các nơi khác, dẫn đầu các cuộc di tản bao giờ cũng là các binh sĩ rã ngũ. Cũng không có gì lạ, vì những quân nhân bao giờ cũng “nhạy bén” với tin tức hơn ai. Lại nữa, được bộ máy chiến tranh tâm lý tác động mạnh, nên họ sẵn có ấn tượng rất sâu sắc về những cuộc tắm máu, về cái thuyết Domino mà Mỹ, nguỵ hàng ngày nhồi nhét vào đầu óc họ. Lẽ thứ ba là so sánh với thường dân, họ có phương tiện đây đủ hơn và được giành nhiều ưu tiên hơn. Cùng đi với các quân nhân là gia đình họ. Lý luận của các cấp chỉ huy ở Sài Gòn là quân đội sẽ chiến đấu tốt hơn nếu có vợ con bên cạnh, cho nên đã có quyết định cho gia đình ở cạnh binh lính, dù là Huế, Đà Nẵng, Phú Bài, hay ở một tiền đồn xa xôi. Ngoại lệ duy nhất là các sư đoàn lính thuỷ đánh bộ và lính dù.

Trong trường hợp rút lui, các cấp chỉ huy của quân đôi Cộng hoà, mới nhận thấy đây là một trở ngại khủng khiếp, lính không còn ra lính nữa. Họ đã hoà mình trong làn sóng người đang trôi dạt về phía nam, lôi kéo luôn cả một số thường dân có máu mặt: xe gíp, xe honda, xe buýt chật đường. Trong những ngày này, trên đài Sài Gòn, Thiệu ra rả đổ tội cho các chiến sĩ đặc công của ta, đã tìm cách len lỏi vào giữa đám người di tản, rỉ tai hù dọa, tác động tinh thần. Của đáng tội! Binh chủng đặc công, trong lúc này, làm gì có đủ thì giờ để làm cái việc mà Thiệu suy luận và “phịa” ra này.

(Vào thời điểm này, cuộc triệt thoái Cao Nguyên của Quân đoàn 2, Quân khu 2 của Tướng Trưởng trên đường 7 đã sang hồi kết. Huế rụng rời, hai sư đoàn trù bị có lệnh rút… bị chặn…bối rối, còn tâm sức đâu mà đi ứng cứu. Động thái hạ tuần tháng 3 thấy được là lữ dù 3 được chỉ huy quân lực VNCH xé ra, đi chặn đèo Mađrak, để rồi vào ngày 31 tháng 3 phải bỏ chạy xuống đèo, đúng vào ngày Đà Nẵng tan vỡ-TDB)

TDB –biên tập, giới thiệu
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Đuổi giặc ở đèo Phượng Hoàng

Những ngày cuối tháng 3-1975, chiến trường Tây Nguyên sôi động hẳn lên. Đại quân ta từ trên cao nguyên chiến lược vừa được giải phóng, như những dòng thác lớn ào ạt tràn xuống phối hợp với các lực lượng tại chỗ giải phóng các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung.

Về phía địch, để giữ thành phố Nha Trang và quân cảng Cam Ranh – hai vị trí chiến lược quan trọng đang bị Sư đoàn 10 chúng tôi uy hiếp, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy phải cố giữ bằng được đèo Phượng Hoàng trên đường 21. Đèo Phượng Hoàng là một đỉnh của dãy Trường Sơn, ngăn cách giữa hai tỉnh Đắc Lắc và Khánh Hòa. Đèo dài 15km, chạy quanh co, khúc khuỷu theo các triền núi, một bên là núi cao, một bên là vực thẳm. Trên đường đèo có nhiều cầu cống và eo núi, nếu bị phá rất khó khắc phục.

Quân ngụy tháo chạy khỏi Cam Ranh. Ảnh tư liệu.

Sư đoàn dù – lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân ngụy đang ở Quân khu 1, được Thiệu điều gấp về bảo vệ Sài Gòn. Nhưng trước nguy cơ Nha Trang và Cam Ranh bị mất, không còn cách nào khác ông ta buộc phải điều Lữ dù 3 lên đèo Phượng Hoàng lập tuyến phòng ngự ngăn chặn ta từ xa. Chúng tôi được biết, lực lượng của lữ đoàn này có 3.800 quân, biên chế 3 tiểu đoàn bộ binh, một chi đoàn thiết giáp. Sau khi chiếm đèo Phượng Hoàng, Lữ dù 3 bắt tay ngay vào củng cố công sự, hầm hào, các trận địa pháo đặt ở các eo núi, xe tăng thiết giáp được ngụy trang phục sẵn ven đường. Trong quá trình đánh địch trên đường 21, ta đã nghĩ tới địa hình hiểm trở và dự kiến khả năng địch đưa quân lên chiếm đèo, ngăn chặn ta tiến xuống đồng bằng. Do đó, ngày 19-3, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã lệnh cho Trung đoàn 25 đưa lực lượng lên phía bắc chiếm đèo Phượng Hoàng. Do phải vòng xa trên địa hình hiểm trở nên Trung đoàn 25 đã không thực hiện được ý định của trên. Trước tình hình đó, ngày 25-3, đồng chí Đặng Vũ Hiệp – Chính ủy và đồng chí Vũ Lăng, Phó tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã có mặt tại sở chỉ huy Sư đoàn 10 trực tiếp chỉ huy trận đánh. Chủ trương của ta: Diệt gọn từng tiểu đoàn địch bằng đột phá chính diện với bao vây chia cắt đánh địch hai bên sườn, đưa lực lượng vòng về phía đông đèo khóa chặt không cho chúng rút chạy. Phải đánh nhanh, diệt gọn địch nhưng ta ít thương vong để có lực lượng phát triển ngay xuống đồng bằng.

Sáng ngày 29-3-1975, giữa lúc Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin bộ đội ta sau khi giải phóng hoàn toàn Trị – Thiên – Huế đang tiến vào giải phóng Đà Nẵng thì tiếng pháo mở đầu cuộc tiến công tiêu diệt Lữ dù 3 của chúng tôi cũng rền vang, làm rung chuyển vùng rừng núi đèo Phượng Hoàng. Những khẩu pháo ta vừa thu được ở Buôn Ma Thuột và những xe đạn pháo thu ở khu kho Mai Hắc Đế được chuyển đến đã giáng những đòn sấm sét xuống Lữ dù 3. Đạn pháo lớn, đạn pháo hỏa tiễn của ta liên tiếp chụp xuống các trận địa pháo và các cụm quân địch. Phối hợp với pháo tầm xa, là các cụm hỏa lực bộ binh của ta bí mật áp sát cụm quân địch cũng bất ngờ nã những đường đạn chính xác vào chúng, gây cho địch tổn thất nặng nề. Sau một giờ đánh phá bằng hỏa lực, Trung đoàn 66 của tôi được lệnh tiến công Tiểu đoàn 5 dù. Được xe tăng dẫn đường, chúng tôi lao thẳng vào Sở chỉ huy tiểu đoàn địch trên cao điểm 609. Trước sức tiến công mạnh mẽ bất ngờ, ban chỉ huy Tiểu đoàn 5 vội vã tháo chạy. Chúng tôi lập tức truy kích, bắn cháy hai xe kéo pháo, một xe M113 và hai xe FMC chở đầy lính. Tiểu đoàn 5 bị xóa sổ, đơn vị của tôi bắt gần 300 tù binh. Trong lúc Trung đoàn 66 của tôi tiến công Tiểu đoàn 5 dù thì Trung đoàn 28 đã tiêu diệt và bắt sống hơn 200 tên, trong đó có toàn bộ ban chỉ huy Tiểu đoàn dù 6.

Sau một ngày giao chiến, Lữ dù 3 đã bị loại khỏi vòng chiến đấu hai tiểu đoàn bộ binh, một phần ba trọng pháo và xe thiết giáp. Đêm 30-3, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3 xin cấp trên được rút chạy để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn. Được tin, cả Sư đoàn 10 chúng tôi chạy đua với thời gian, vượt lên trước địch, kiên quyết không để chúng chạy thoát. Suốt đêm 31- 3, địch cho máy bay C130 thay nhau thả pháo sáng, bắn đạn 20mm dọc theo đường 21. Pháo địch từ căn cứ Lam Sơn, Dục Mỹ cũng bắn như vãi đạn để trấn an cho số quân dù còn lại.

Rạng sáng ngày 1-4-1975, Sư đoàn 10 chia thành nhiều mũi tiến công vào toàn bộ các cụm quân còn lại và Sở chỉ huy Lữ dù 3. Mọi sự kháng cự của địch nhanh chóng bị đè bẹp, chúng tôi hoàn toàn làm chủ trận địa.

Lữ đoàn dù 3 bị diệt, lá chắn phía tây tỉnh Khánh Hòa bị đập tan, đường xuống đồng bằng đã mở. Cả Sư đoàn 10 bừng bừng khí thế tiến về đồng bằng. Đơn vị nào có xe thì hành quân xe, không có xe thì hành quân bộ. Khó có thể nói hết niềm vui sướng của cán bộ, chiến sĩ khi hành quân đến đỉnh đèo Phượng Hoàng, phía trước đã nhìn thấy đồng bằng, phía sau là cả một vùng cao nguyên bao la vừa được giải phóng… Trên vai nặng trĩu trang bị, chân phồng rộp sau nhiều ngày hành quân đuổi địch, nhưng ai nấy đều hăng hái, đi nhanh như chạy.

Trong mùa xuân năm 1975, giây phút xúc động nhất đối với chúng tôi từ Tây Nguyên tiến về đồng bằng, tới được bờ biển Nha Trang dạt dào nắng gió. Không mấy ai trong số hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ đã nhiều năm chiến đấu ở núi rừng Tây Nguyên khi tới được bờ biển lại không trào nước mắt.

Một đời trận mạc, có được những tháng ngày đó thật là hạnh phúc. Và chính những giây phút ấy, khi ở cuối chặng đường đuổi giặc, chúng tôi đã nhớ tới bao đồng đội của mình đã hi sinh trên những cánh rừng, khe suối và trên dọc đường đi tới chiến thắng.

Lê Hải Triều
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Cuộc tháo chạy tai họa (kỳ 2)

Kỳ 2: Quyết định “Vẽ lại bản đồ chính trị Việt Nam

Quyết định tháo lui của Thiệu có lẽ bắt nguồn từ việc ông ta lo ngại sức mạnh của Bắc Việt. Lầu Năm góc tin rằng, hiện đã có 16 sư đoàn Bắc Việt Nam ở miền Nam. Hình như, ông Thiệu cũng cho rằng việc tái chiếm các vị trí chiến lược ở phía bắc và Tây Nguyên là bất khả thi sau chiến thắng của Việt Cộng ở Buôn Ma Thuột. Cuộc tấn công vào Buôn Ma Thuột đã buộc quân đội Việt Nam Cộng hòa trải mỏng từ Kon Tum qua Plei-cu tới Buôn Ma Thuột, dọc theo đường 14. Trong một động thái tuyệt vọng, Tổng thống Thiệu đã lệnh cho hai trung đoàn thuộc Sư đoàn 23 ở Plei-cu tới ứng cứu Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, hai trung đoàn này lại bị quân đội Việt Cộng đánh bật ra xa Buôn Ma Thuột. Sau ba ngày giao tranh, một lượng lớn quân đội Việt Nam Cộng hòa bị tiêu diệt hoặc đầu hàng, số còn lại chạy thoát thân về phía biển.

Bị quân giải phóng tấn công, binh lính ngụy ở Plei-cu kéo cờ trắng ra hàng. Ảnh tư liệu.

Sư đoàn 23 của Việt Nam Cộng hòa bị thiệt hại nặng khiến tình hình phòng thủ của Plei-cu rơi vào bế tắc. Cùng lúc, chính quyền Sài Gòn lại được tin thất bại thảm hại ở Kon Tum. 4 sư đoàn của Bắc Việt hiện đã có mặt ở Tây Nguyên. Thiệu đã bí mật gặp tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng 2 chiến thuật vào ngày 14-3. Tổng thống Thiệu đã ra quyết định rút lui chiến lược. Bốn lữ đoàn biệt động phòng ngự ở Kon Tum được lệnh rút theo hướng đông nam tới tỉnh Phú Yên. Vài ngày sau, lực lượng ở Plei-cu cũng bỏ chạy.

Tướng Phú rời Bộ tư lệnh Vùng 2 chiến thuật từ phía nam Plei-cu xuống Nha Trang. Tại Kon Tum, 68 phi cơ đã không thể bay do thiếu phụ tùng thay thế hoặc đã bị phá hủy để tránh rơi vào tay đối phương. Do bộ binh Việt Nam Cộng hòa đã di chuyển theo hướng nam, nên Không quân Việt Nam cộng hòa đã đánh sập các cây cầu sau khi các toán quân rút chạy băng qua.

Trong lúc rút khỏi Tây Nguyên, Thiệu đã ra một quyết định quan trọng khác trong việc vẽ lại bản đồ chính trị Việt Nam. Ông ta bay ra Đà Nẵng để trao đổi với tướng Ngô Quang Trưởng, người được Sài Gòn coi là tư lệnh giỏi nhất của quân đội Việt Nam Cộng hòa, và tiến hành kế hoạch đã vạch ra mấy tháng trước: Lùi tuyến phòng ngự từ Quảng Trị vào Đà Nẵng. Tướng Ngô Quang Trưởng đã mất những binh sĩ thiện chiến nhất khi Tổng thống Thiệu ra lệnh cho 4.000 lính dù trở về Bộ tư lệnh của lực lượng này ở gần sân bay Tân Sơn Nhất. Thiệu cho rằng, việc tăng cường phòng thủ ở Sài Gòn là rất cần thiết, phòng khi Cộng sản tập trung lực lượng tấn công Sài Gòn. Việc chuyển quân này đã khiến Huế bị sốc. Không nhận được chỉ thị từ chính quyền Sài Gòn song thị trưởng Huế vẫn ra lệnh di tản.

Chiến lược của Sài Gòn đã rõ ràng: Rút lui khỏi Tây Nguyên để bảo đảm quân số phòng thủ miền Nam Việt Nam. Một nhà phân tích của Lầu Năm góc nói rằng, từ giờ sẽ phải “vẽ một bản đồ rút ngắn của miền Nam Việt Nam”. Nó sẽ bao gồm cả phần lớn Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật, 11 tỉnh xung quanh Sài Gòn, 15 tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và một vài điểm phòng ngự lẻ tẻ dọc bờ biển phía bắc Đà Nẵng.

Bản đồ này giống với một bản mà tướng Mỹ nghỉ hưu Giêm Ga-vin (James Gavin) vẽ năm 1966. Ông này cho rằng, lực lượng Mỹ nên rút về đóng ở các khu vực dễ phòng ngự dọc theo bờ biển miền Nam Việt Nam, như Nha Trang, Cam Ranh, Quy Nhơn và Đà Nẵng. Những thành phố đông dân này có tiềm lực về mặt kinh tế và quân sự. Đây cũng là những nơi có các cơ sở quan trọng như cảng biển và sân bay. Mặc dù lúc đó hầu hết các chuyên gia quân sự Mỹ bác bỏ kế hoạch của Ga-vin, song hiện nay nhiều người trong số họ lại đánh giá cao chiến lược rút lui của Thiệu.

Ga-vin (sau khi về hưu làm Chủ tịch tập đoàn Arthur D. Little) lại cho rằng kế hoạch rút quân của Thiệu không giống nhiều với kế hoạch trước kia của ông ta, vốn được thiết kế như bước tháo lui chiến thuật đầu tiên để Mỹ rút chân khỏi bãi lầy Việt Nam. Ga-vin tỏ ra khá bi quan về cơ hội thành công của chiến lược mà Thiệu đang triển khai. “Tình hình rõ ràng đang nằm ngoài khả năng kiểm soát của Thiệu. Tôi thấy cơ hội để Sài Gòn tự cứu mình rất mờ mịt”, Ga-vin nói.

(còn nữa)
qdnd.vn

* Cuộc tháo chạy tai họa (kỳ 1)

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.