Mắc Na-ma-ra – một số phận bị “ma làm”

QĐND – Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra (McNamara 1916 – 2009) tên đầy đủ là Robert Strange McNamara. Trong tiếng Anh, Strange có nghĩa là “kỳ lạ”, “kỳ quặc”. Các luồng đánh giá trái nghịch nhau về nhân cách của Mắc Na-ma-ra đồng thuận ở một điểm: Ông ta bị ám ảnh (haunted – ma nhập) bởi cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Cái búa đóng cọc nhồi

Tháng 11-1961, một ngày sau khi thắng cử, Tổng thống Ken-nơ-đi (Kennedy) nghe tin Mắc Na-ma-ra đắc cử Chủ tịch hãng Ford, bất chấp truyền thống chỉ người trong gia đình Ford mới giữ cương vị chủ chốt. Một chuyên gia thống kê, trung tá giải ngũ, do “hoàn cảnh” phải bỏ ngang nghiệp giáo sư ở Ha-vớt (Havard) để làm quản trị gia mà đã lập tức chói sáng trong nghiệp kinh doanh. Ken-nơ-đi quyết định vời Mắc Na-ma-ra làm chủ Lầu Năm Góc trong nhiệm kỳ tổng thống của mình.

Mắc Na-ma-ra trong một hội nghị ở Lầu Năm Góc năm 1965. Ảnh: The New York Times

Ken-nơ-đi xem Mắc Na-ma-ra là người thông minh nhất trần đời ông ta từng gặp được[1]. Ông ta đã quân sư cho tổng thống trẻ tuổi chủ động loại trừ những thách thức bên miệng vực một cuộc xung đột hạt nhân với Liên Xô. Người ta ghi nhận rằng, Mắc Na-ma-ra là Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên đã lấn át được phe diều hâu trong Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ (HĐTMLQ), trong tiến trình cuộc khủng hoảng tên lửa Cu-ba năm 1962.

Tổng thống kế tiếp Giôn-xơn nhận định về Mắc Na-ma-ra: “Anh ta là một cái búa đóng cọc nhồi (jackhamme), không ai có thể đảm đương những gì Mắc Na-ma-ra gánh vác. Anh ta lái quá nhanh”.

Xoay như chong chóng

Lưu trữ Nhà Trắng cho biết theo Giôn-xơn, trong chính phủ Mỹ không ai sánh được với Mắc Na-ma-ra[2]. Ray Clai-nơ (Ray Cline), Phó giám đốc CIA thời kỳ “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, nhớ lại rằng, ông ta đã lấy những thông tin còn “sống sít” (raw) của trinh sát điện tử Mỹ (SIGINT) làm căn cứ về một “cuộc tiến công vào tàu Mỹ của Bắc Việt Nam” vào cái đêm 4-8 để báo cáo với Quốc hội Mỹ về cái gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”. “Đây chính là điều Giôn-xơn đang tìm kiếm”, ông Clai-nơ nhận định.

Lưu trữ của Nhà Trắng cho thấy Mắc Na-ma-ra đã “xoay xở nhanh” như thế nào. Tháng 2 và tháng 3 năm 1964, “thầy trò” Giôn-xơn và Mắc Na-ma-ra còn đang mày mò tìm cách leo thang xung đột thì tháng 8 năm ấy, kịch bản “các cuộc tiến công vô cớ liên tiếp” của Hà Nội đã được soạn thảo bởi Mắc Na-ma-ra đã giúp Tổng thống diều hâu Giôn-xơn giành quyền “tự tung tự tác” ở Việt Nam.

Ngập vào “sương mù” chiến tranh

Một cuộc họp báo vào tháng 2-1966 cho thấy vẻ tự tin đã không còn trên mặt Mắc Na-ma-ra. Ông ta khẳng định: “Không một số lượng bom nào có thể kết thúc được cuộc chiến tranh này”. Chiến dịch Sấm Rền, với 55 nghìn lượt chiếc máy bay và 33 nghìn tấn bom ném xuống miền Bắc năm 1965 (năm 1966 là 148 nghìn lượt chiếc và 128 nghìn tấn), đã không thể chặn dòng chảy của binh lực và vũ khí của đối phương vào miền Nam Việt Nam.

Cùng năm 1966, Mắc Na-ma-ra bận rộn trong việc xây dựng một hàng rào điện tử dọc theo vùng nam khu phi quân sự. Lính Mỹ gọi đó là “Chiến lũy Mắc Na-ma-ra”. Sự trù úm có chủ ý này dường như đã làm cho “chiến lũy Mắc Na-ma-ra” lặp lại số phận của “Chiến lũy Ma-gi-nốt” – phòng tuyến vô dụng mà Pháp đã xây để chắn quân phát xít Đức. Nhưng, trong khi say sưa với những cuộc leo thang chống phá Việt Nam thì nước Mỹ cũng như gia đình Mắc Na-ma-ra đã chia rẽ sâu sắc với những làn sóng chống đối. Con gái của ông ta tham gia cuộc tuần hành của Lút-thơ King (Luther King) suốt một ngày rưỡi trời, không ăn nghỉ. Con trai của ông ta là thành viên phong trào phản chiến tại Trường Đại học Stanford nổi tiếng nhất nước Mỹ. Ngày 2-11-1965, từ cửa sổ phòng làm việc ở Lầu Năm Góc, Mắc Na-ma-ra chứng kiến Mo-ri-xơn (Norman Morrison) tự thiêu để phản đối chiến tranh[3].

Sự thất bại của Mỹ trên chiến trường hay ảnh hưởng của phong trào phản đối chiến tranh ngay trong gia đình mà ngày 19-5-1967, Mắc Na-ma-ra viết một phúc trình dài “đầy mâu thuẫn”, như chính ông ta tự nhận, gửi Giôn-xơn, thúc giục tổng thống đàm phán. Ông ta cảnh báo các nỗ lực mà Oét-mo-len (Westmoreland) đang tiến hành ở Việt Nam “sẽ dẫn đến một tai họa lớn cho dân tộc (Hoa Kỳ)”. Báo The New York Times (NY) nghĩ rằng đây là giọt kiên nhẫn cuối cùng của Giôn-xơn, người vẫn ngờ rằng Mắc Na-ma-ra đang chơi trò “con ngựa thành Troy” cho Rô-bớt Ken-nơ-đi (em trai cố Tổng thống Ken-nơ-đi) đang chạy đua vào Nhà Trắng năm 1968 với tư cách ứng cử viên hòa bình. Ngày 29-11-1967, Tổng thống Mỹ công bố “thuyên chuyển công tác” cho Mắc Na-ma-ra từ Lầu Năm Góc sang ghế Chủ tịch Ngân hàng Thế giới.

Một số phận bị “ma làm”

Mắc Na-ma-ra có cố gắng trong thực hiện một “cuộc cách mạng về quản lý” ở Bộ Quốc phòng Mỹ, đã “máy tính hóa” bộ máy chiến tranh này. Nhưng phong thái không chan hòa và cách cư xử ngạo mạn khiến ông ta không có được nhiều người cùng chí hướng, nhất là khi cuộc chiến “rơi vào vũng bùn” (từ của Mắc Na-ma-ra). Trong cuộc tiệc trưa chia tay Bộ trưởng Quốc phòng do Ngoại trưởng Đin Rát-cơ (Dean Rusk) chủ trì, Mắc Na-ma-ra đã khóc, than rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là vô nghĩa. Nhiều đồng nghiệp của Mắc Na-ma-ra đã kinh hoàng khi nghe cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng buộc tội cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam, mà chính ông ta thủ một trong những vai chính.

Năm 1995, Mắc Na-ma-ra lại thử thách sự trớ trêu của số phận bằng cách xuất hiện với cuốn Hồi ký. Trong đó, Mắc Na-ma-ra đối chọi với cuộc chiến tranh do chính ông ta chỉ đạo, thú nhận rằng cuộc chiến này là “sai lầm, sai lầm khủng khiếp”.

Khi bộ máy chiến tranh Mỹ bắt đầu ậm ạch trong vũng lầy mới ở I-rắc, bộ phim DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mắc Na-ma-ra” được công chiếu, đoạt giải Oscar năm 2003.

Nhìn chung, mỗi sản phẩm truyền thông viết về Mắc Na-ma-ra đều lôi cuốn hàng trăm người vào một cuộc thảo luận khá sâu rộng trên trên các diễn đàn.

Luồng ý kiến phản hồi lớn nhất vẫn gồm những chỉ trích nặng nề không thương tiếc. Ở đoạn cuối DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mắc Na-ma-ra”, ông ta đã nghẹn ngào nhận định rằng, bất chấp những hối tiếc sâu đậm của mình về cuộc chiến tranh, “nhiều người vẫn nghĩ tôi là đồ chó đẻ” (A lot of people think I’m a son of a bitch).

Luồng ý kiến thứ hai không thật nhiều về số lượng, nhưng khá sâu về suy luận. Họ nghi ngờ đối với sự chân thành trong những dằn vặt hậu chiến của Mắc Na-ma-ra. Cơ sở cho sự bất tín này hẳn là Mắc Na-ma-ra biết ông ta có thể làm nhiều hơn để kết thúc chiến tranh ở Việt Nam, nhưng lại không làm[4]. Trong phim DVD “Sương mù chiến tranh”, ông ta bày tỏ đã muốn làm nhiều hơn để kết thúc chiến tranh, nhưng không chịu nói vì sao lại chọn cách im lặng sau khi rời Lầu Năm Góc.

Có những ý kiến cho rằng các bài học của Mắc Na-ma-ra đã không gây được ảnh hưởng đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Răm-xpheo (Rumsfeld) (triều đại Bút-sơ “con) và các “kiến trúc sư” và “thần đồng” khác của cuộc chiến tranh I-rắc. Sự sâu cay lên tới mức cao độ, với những ý kiến cảnh báo không khéo cũng sẽ “hối hận” viết hồi ký và sẽ diễn tích “Sương mù chiến tranh” I-rắc[5].

Nhưng trùm lên hết thảy vẫn là những ý kiến ghi nhận sự phục thiện và mạnh dạn trực diện với những lỗi lầm khủng khiếp của chính mình của Mắc Na-ma-ra, điều mà các chính khách cùng “cảnh ngộ” đã không làm được.

Cựu trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng L. Ko-bơ nói với Hãng thông tấn Mỹ WGBH rằng Mắc Na-ma-ra đã dũng cảm thú nhận rằng cuộc chiến tranh là sai lầm khủng khiếp, rằng ông chưa thấy chính khách Mỹ nào đủ dũng khí “thú lỗi” và giải thích vì sao đất nước đi sai đường. Nhưng Ko-bơ cho rằng có những điều mà Mắc Na-ma-ra không thể được tha thứ[6].

Cũng có thể dẫn ý kiến của những người dân Mỹ độ lượng đối với nhân vật mà nhiều người dân khác của họ xem là một trong những tội phạm chiến tranh:

“Nhiều người chỉ trích phê phán Mắc Na-ma-ra từ trên đỉnh cao của phẫn nộ. Thật là dễ để nhìn nhận ông ta là hiện thân của Quỷ dữ. Tôi hy vọng rằng linh hồn của ông ta được an tịnh, nhưng điều này là khó tin sau khi xem DVD “Sương mù chiến tranh”. Đây là giọng nói và khuôn mặt của một kẻ nhận thấy mình bị đày xuống địa ngục”.

Lê Thành
qdnd.vn

[1] http://www.nytimes.com/2009/07/07/us/07mcnamara.html?pagewanted=all

[2] http://whitehousetapes.net/exhibit/former-secretary-defense-robert-mcnamara-dies.

[3] DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mcnamara” (The fog of war: lessons from the life of Robert S. McNamara) NXB Rowman & Littlefield Publishers.

[4] http://www.thefilmbrief.com/2009/07/fog-of-war.html

[5] Phản hồi bài điếu McNamara trên tờ The New York Times, có tới ngót 397 ý kiến phản hồi.

http://community.nytimes.com/comments/www.nytimes.com/2009/07/07/us/07mcnamara.html

[6] news.bbc.co.uk/2/hi/8136595.stm