Tiến sĩ Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
QĐND – Cách đây hơn 1/4 thế kỷ, việc thực hiện cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền đã đẩy nền kinh tế Việt Nam đứng trước vòng xoáy của sự hỗn loạn. Tuy nhiên, “dĩ cùng tắc biến”, sự thất bại đó đã đưa Đảng ta đến một sự lựa chọn: “Đổi mới hay là chết” với những quyết định lịch sử tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trò chuyện với Tiến sĩ (TS) Trần Xuân Giá, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, người đã trực tiếp chứng kiến và tham gia các cuộc điều chỉnh này với vai trò là Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước thời kỳ đó…
Phóng viên (PV): Nhiều người vẫn nghĩ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường bắt đầu từ Đại hội VI. Thế nhưng, qua ý đồ của các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, rõ ràng, tư duy quản lý kinh tế của Đảng đã có sự thay đổi từ trước năm 1986?
TS Trần Xuân Giá: Tôi có thể khẳng định thế này: Tư duy của Đảng ta về việc chuyển sang nền kinh tế thị trường có từ sớm, trước năm 1986 và nhất quán. Thực tiễn sôi động đã cho thấy mô hình cũ không còn phù hợp và đang cản trở quá trình đi lên của đất nước. Những năm 1979, 1980, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đã có nhiều cuộc làm việc, trao đổi, tranh luận thẳng thắn về vấn đề này với các nhà khoa học, nghiên cứu, tổ tư vấn… Ngay từ khi đó, ông đã nhìn thấy những bất ổn của mô hình và lường trước những khó khăn sẽ tới. Được dự một số buổi làm việc của Tổng bí thư, tôi thấy ông thường xoay quanh hai câu hỏi: “Làm gì để đối phó với cuộc khủng hoảng tới?” và “Bắt đầu từ đâu?”. Có thể nói, đó là một tầm nhìn rất mới và sớm khi đó. Năm 1980, ông ký ban hành Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, tháng 6-1985, Hội nghị Trung ương 8 (khóa V) tiếp tục ra nghị quyết về điều chỉnh giá – lương – tiền, với mục tiêu từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trong giá và lương, xây dựng và hoàn chỉnh cơ chế quản lý mới…
TS Trần Xuân Giá. Ảnh: Thanh Tuấn.
2 thị trường và kế hoạch 3 phần
PV: Thưa TS Trần Xuân Giá, hai cuộc điều chỉnh ở vào thời kỳ “tiền đổi mới” ấy có gì khác nhau không?
TS Trần Xuân Giá: Thực hiện các nghị quyết nói trên của Đảng, chúng ta đã tiến hành 2 cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền. Lần 1 vào năm 1980 – 1981 và lần 2 vào năm 1985. Hai cuộc điều chỉnh này gần như giống nhau về mục tiêu, nguyên tắc và cách làm. Chỉ khác là năm 1985 có phạm vi rộng hơn, quy mô lớn hơn, có đổi tiền, còn trước đó thì không.
PV: Có thể hình dung như thế nào về bối cảnh dẫn đến các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền khi đó, thưa ông?
TS Trần Xuân Giá: Trước năm 1980, thị trường miền Bắc chỉ có chủ thể duy nhất đó là nhà nước. Nhà nước mua, nhà nước bán; lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù. Do đó, giá cả không có ý nghĩa gì. Còn tiền lương thì một phần được trả bằng hiện vật, thông qua các mặt hàng thiết yếu (ban đầu có 45, sau còn 9, rồi 3 mặt hàng). Ở miền Nam, bên cạnh giá nhà nước thì thị trường tự do vẫn tiếp tục hoạt động mặc dù đã bị co hẹp nhiều khi chúng ta tiến hành cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước.
Bước sang năm 1980 ở ngoài nước có một sự kiện tác động rất mạnh đến nền kinh tế nước ta. Đó là khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa) thay đổi nguyên tắc tính giá các mặt hàng mà chúng ta nhập khẩu. Nghĩa là từ việc chúng ta nhập khẩu với giá rất thấp nay phải chuyển sang giá mua bán thông thường trên thị trường với giá nhập khẩu cao hơn trước rất nhiều. Việc thay đổi này làm chúng ta mất khoảng 1 tỷ rúp chuyển nhượng mỗi năm (tương đương khoảng 1,6 đến 1,7 tỷ USD). Từ chỗ làm không đủ ăn, ngân sách thu không đủ chi, một phần phải vay cho tiêu dùng trong điều kiện giá nhập khẩu tăng lên tiếp tục là một sức ép cho một nền kinh tế vốn đang rất ốm yếu…
Lúc này trong nước đã xuất hiện hai loại thị trường với tên gọi: Thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức. Trong hệ thống quản lý nhà nước cũng xuất hiện một yếu tố rất mới, đó là có thêm kế hoạch 2 (kế hoạch liên doanh liên kết) và kế hoạch 3 (kế hoạch làm ăn kiểu thị trường). Trước chỉ có kế hoạch 1 phần, nhà nước giao toàn bộ chỉ tiêu đầu vào cho sản xuất, đồng thời quyết định đầu ra của sản phẩm (bán cho ai, bán khi nào và bán theo giá nào). Trên thị trường hình thành 3 loại giá: Giá cứng của nhà nước, giá do nhà nước định một phần và giá do doanh nghiệp tự định theo nguyên tắc thỏa thuận (giá thỏa thuận). Ban đầu, 3 loại giá này chênh nhau không nhiều nhưng càng ngày chênh càng lớn, dẫn đến nhiều biểu hiện tiêu cực, khó kiểm soát như tuồn vật tư ra ngoài, vào trong rất phức tạp…
PV: Phương án của cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã được đưa ra như thế nào?
TS Trần Xuân Giá: Việc điều chỉnh được thực hiện theo nguyên tắc: Trừ một số mặt hàng rất quan trọng, còn lại tính đủ chi phí hợp lý vào sản xuất; thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống giá cả; đảm bảo tiền lương thực tế và xác lập quyền tự chủ về tài chính của các ngành và các cơ sở y tế. Phương án điều chỉnh được đưa ra là:
Về giá, để tiện cho tính toán, lấy giá thóc làm chuẩn, các mức giá của hàng hóa khác được quy ra theo giá thóc. Năm 1985, giá thóc được các chuyên gia tính toán trên thực tế bình quân là 25 đồng/kg (trước đổi tiền 14-9-1985). Các địa phương khác nhau thì mức giá thóc quy đổi này có thể cao hơn hoặc thấp hơn. Nhà nước ban hành mức giá mới của một số vật tư như xăng, dầu, xi măng, sắt…
Về lương, thực hiện nâng giá đến đâu thì tăng lương theo đó (bù giá vào lương theo cách nói lúc bấy giờ).
Về tiền, để đáp ứng giá mới, lương mới thì phải in thêm tiền, bảo đảm tổng tiền lưu thông trong cuộc điều chỉnh năm 1985 là 120 tỷ đồng. Nhưng vì không tự in được tiền và để in ít tiền mà vẫn có sức mua lớn, Chính phủ chủ trương đổi tiền. Một đồng mới sẽ đổi lấy 10 đồng hiện hành. Như thế, 12 tỷ đồng in mới và đem đổi sẽ tương đương 120 tỷ đồng hiện hành.
Như vậy, với việc điều chỉnh này trên thị trường đã hình thành mặt bằng giá mới, lương mới và tiền mới.
“Vỡ trận”, do đâu?
PV: Mong muốn của các nhà cải cách khi đó là khi nâng giá lên theo giá thị trường thì có thể cố định và quản lý theo cơ chế một giá đó nhưng cuối cùng đã thất bại. Giá cả tăng vọt, lạm phát phi mã. Tiền lương không còn ý nghĩa…
| TS Trần Xuân Giá sinh năm 1939 tại Thừa Thiên – Huế. Năm 1980 khi đang là Chủ nhiệm Khoa Vật giá, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, ông được điều về làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước. Ông đã qua các cương vị: Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, Ủy viên Trung ương Đảng (khóa VIII), Đại biểu Quốc hội (khóa X), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996 – 2002), nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, TS Trần Xuân Giá là Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Á Châu (ACB). |
TS Trần Xuân Giá: Ban đầu kế hoạch tăng lương là 20% nhưng các bộ và tỉnh cho rằng mức đó là quá ít. Chính phủ chấp nhận tăng lương 100%. Trong khi đó, mức giá mới được Chính phủ quyết định đã rút xuống còn khoảng 70% so với kế hoạch ban đầu. Kết quả là chi ngân sách cho tiền lương tăng vọt nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức như dự kiến. Để cứu ngân sách, tiền được phát hành hơn rất nhiều so với kế hoạch làm cho vật giá tăng mạnh (riêng với nông sản, năm 1986 tăng 2000% so với năm 1976) và lạm phát bùng nổ (đỉnh điểm năm 1986 lên đến 774%), làm kiệt quệ kinh tế. Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ. Lương công nhân không có. Vật tư, hàng hóa khan hiếm. Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Để điều chỉnh tình trạng suy thoái với những biện pháp giảm lượng hàng buôn qua ngả chợ đen đã dẫn đến việc “ngăn sông cấm chợ” và lùng bắt hàng “lậu”. Nhưng những biện pháp hành chính đó càng làm lệch lạc hệ thống giá cả…
PV: Nói như nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Đặng Phong thì cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã bị “vỡ trận”. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính của thất bại này?
TS Trần Xuân Giá: Chúng ta đề ra chủ trương thực hiện các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, đặc biệt là cuộc tổng điều chỉnh năm 1985 trong tình hình kinh tế đang biến động mạnh, song lại thiếu biện pháp đồng bộ và các giải pháp cụ thể, tiến hành thiếu chuẩn bị chu đáo, không phù hợp với tình hình thực tế nên khi triển khai nghị quyết vào cuộc sống đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Mà nguyên nhân mấu chốt ở đây chính là chắp vá giữa tư tưởng cải cách với mô hình, cơ chế quản lý cũ đã lạc hậu… Nhưng thất bại này đã giúp Đảng ta có thêm những căn cứ, cơ sở quan trọng để đưa ra quyết định lịch sử tại Đại hội VI.
PV: Sau hơn 1/4 thế kỷ, câu chuyện giá – lương – tiền vẫn là đề tài nóng bỏng hôm nay. Tất nhiên bối cảnh và tình hình đất nước cũng như quốc tế đã khác trước nhiều.
TS Trần Xuân Giá: Tôi nghĩ cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền không chỉ là câu chuyện của một thời mà nó vẫn thời sự trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là những kinh nghiệm, bài học, có thể nói là “xương máu” trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta nói chung, cũng như gần đây Đảng chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng mô hình tăng trưởng mới nói riêng, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI và Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) vừa qua.
PV: Xin cảm ơn ông!
Trần Hoàng Tiến thực hiện
qdnd.vn