Vǎn minh tư bản chủ nghĩa và phụ nữ ở các thuộc địa (1925)

Hiếm mới có dịp những tiếng nói được cất lên – tuy rất rụt rè – trong các nghị viện của các chính quốc để làm cho người ta chú ý đến tình cảnh thê thảm của giai cấp vô sản thuộc địa. Còn thảm thương hơn nữa là số phận của phụ nữ và trẻ em làm thuê trong những công việc nặng nhọc như làm than và làm việc trong các hầm mỏ.

Trong các nước bị chiếm đó, không có luật hay sự hạn chế nào để kiềm chế bớt bọn bóc lột. Những người thợ bản xứ bị coi như súc vật. Người ta chỉ cho họ những gì vừa đủ để khỏi chết đói. Người ta dùng roi để thúc họ đi. Không có bảo hộ lao động, không có bồi thường tai nạn. Người ta thấy lại trong các thuộc địa đó tất cả hệ thống phong kiến trung cổ và dã man của chủ nghĩa tư bản. Hãy lấy sự bóc lột trong các hầm mỏ ở ấn Độ thuộc Anh làm ví dụ, chúng ta sẽ thấy thứ nhân đạo và vǎn minh của bọn con buôn của đế quốc Anh. Một nghị sĩ Anh vừa cho chúng tôi biết rằng, cho đến nǎm 1921, ở ấn Độ, có 252 hầm mỏ được khai thác.

Các hầm mỏ đó dùng 42.000 phụ nữ và 1.171 trẻ em. Thật là một sự nhục nhã cho thế kỷ XX phải thấy những phụ nữ bước run run, đầu đội thúng than nặng, mà vẫn phải bước vì đói; và những trẻ em từ 12 đến 13 tuổi bò trong những đường hầm chật hẹp, vừa đi bằng bốn chân, vừa dùng rǎng kéo một thúng đầy!

Tư bản đầu tư vào các hầm mỏ đó là 5.681.000 livrơ.

Lợi nhuận từ 35 đến 50%. Có khi lên tới 80-90%. Một công ty thừa nhận rằng trong thời gian 1911-1921, trung bình lợi nhuận mỗi nǎm là 110%.

Trong lúc các nhà đi khai hoá của chúng ta ngày càng béo ra với những món lợi nhuận khổng lồ, thì sau đây là những điều đã xảy ra đối với nam nữ công nhân người bản xứ:

1.465 tai nạn chết người,

1.871 người chết,

2.212 người bị thương nặng.

40% vô sản hầm mỏ là phụ nữ và trẻ em, chúng ta có thể kết luận rằng, trong thời gian 10 nǎm, không dưới 2.200 phụ nữ và trẻ em ấn Độ đã phải hy sinh trên bàn thờ của chủ nghĩa tư bản đi khai hoá.

Vừa rồi, một đạo luật được thông qua quy định ngày làm việc dưới hầm là 9 giờ cho người lớn, và cho phép chính phủ “cải thiện” tình cảnh của phụ nữ và trẻ em làm việc trong hầm mỏ. Nhưng đạo luật đó chỉ được thi hành sau nǎm 1924. Trong lúc chờ đợi, bọn chủ tiếp tục bóc lột một cách vô liêm sỉ, và phụ nữ, trẻ em ấn Độ vẫn tiếp tục đau khổ.

NGUYỄN ÁI QUỐC

———————————

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn