Những câu hỏi sau đây đã được gửi đi tất cả các Hội nông dân huyện.
1/ Nguồn gốc của Hội nông dân và tình hình hiện nay của nó.
2/ Kinh nghiệm.
3/ Hội viên.
4/ Đội tự vệ nông dân.
5/ Quan hệ giữa Hội nông dân và các tổ chức khác.
6/ Thanh niên nông dân và giáo dục của họ.
7/ Tuyên truyền chính trị.
8/ Tiếng vang chính trị từ Quảng Châu.
9/ Quan hệ với công nhân công nghiệp.
10/ ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.
11/ Những yêu sách trước mắt của nông dân.
…
A) TRẢ LỜI CỦA HYUYỆN T HANH VIỄN
1/ Phong trào có cùng một nguồn gốc như nhau đối với tất cả các huyện, không trừ một huyện nào. Đó là sự áp bức về kinh tế và chính trị.
ở tất cả các nơi, phong trào vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của bọn địa chủ và bọn kỳ hào bằng các thủ đoạn từ tung tin nhảm đến ám hại những người đấu tranh. Nông dân hǎng hái tổ chức nhau lại. Nhưng vì chưa giác ngộ về lực lượng của chính mình, họ
vẫn giữ thói quen tin vào Chính phủ.
2/ Khi thành lập, Hội nông dân Thanh Viễn đã trải qua những cuộc đấu tranh dưới đây:
a/ Có một cường hào độc ác quen thói áp bức nông dân đã ngǎn cản họ tham gia Hội nông dân. Ngay khi được tổ chức, phong trào nông dân đã bắt và giải y đến huyện trưởng, người này đã nhận được thư của ông Lưu Trọng Khải, đã quá cố, nên đã giam tên cường hào một thời gian dài. Thắng lợi này đã tǎng cường ảnh hưởng và tiếng tǎm của Hội nông dân; và nông dân đã nhanh chóng tham gia tổ chức.
b/ Có hai làng ở gần nhau, làng A và làng B cách nhau một quả đồi và quả đồi đó là của làng A. Có một tục lệ là nông dân cả hai làng đều có thể lên đồi cắt cỏ và kiếm củi khô trừ những cây do làng A trồng. Có một lần nông dân làng B (đã có Hội nông dân của mình) đi cắt cỏ trên đồi, nhưng họ bị bọn kỳ hào làng A (làng này không có Hội nông dân) đuổi đánh. Phong trào nông dân làng B đã tới để bảo vệ dân làng mình và bắt giữ những viên kỳ hào xúc phạm. Những viên kỳ hào đã thừa nhận lỗi lầm của họ và trả 800 đôla để bồi thường thiệt hại. Nhưng về sau người ta đã tuyên bố tình trạng chiến tranh giữa hai làng và tình trạng chiến tranh kéo dài đến 3 tháng.
Làng A nhận thấy Hội nông dân các nơi khác mỗi ngày một mạnh thêm, nên đã phải chịu trả 300 đôla tiền phạt và ký một hiệp nghị có lợi cho làng B.
c/ Một tuyên truyền viên của Hội nông dân bị tiến công. Nông dân yêu cầu viên huyện trưởng trừng trị những kẻ cầm đầu cuộc tiến công. Bọn này đều là kỳ hào. Quan toà xử phạt bọn kỳ hào phải trả cho Hội nông dân 150 đôla.
3/ Hội viên. 40 làng có 2303 hội viên. 8 làng nữa sẽ chính thức thành lập Hội nông dân của mình trong tương lai gần đây nhất.
4/ Đội tự vệ nông dân. 684 người với 563 súng trường (do địa phương chế tạo).
5/ Đội hương dũng. Lúc đầu được thành lập để bảo vệ dân làng chống lại bọn kẻ cướp, giờ đây đã trở thành công cụ của bọn kỳ hào chống lại nông dân. Mỗi nǎm mỗi người nông dân phải nộp cho tổ chức này:
Thuế đầu người 15 cân thóc
Thuế nhà 15 cân thóc mỗi gia đình
Thuế trâu 15 cân thóc mỗi gia súc
Thuế thu hoạch mùa màng 50% sản lượng thóc.
Đội hiến binh hương lý. Nông dân phải nộp cho tổ chức này:
Thuế gia đình 0,20 đôla
Thuế trâu 0,20 đôla mỗi con
Thuế thu hoạch mùa màng 5% sản lượng.
Những tổ chức này nói chung đều chống lại Hội nông dân.
Bọn kẻ cướp. Chúng chống lại Hội nông dân khi chúng bị bọn địa chủ, bọn kỳ hào thuê. Nếu không thì chúng trung lập, thậm chí đôi khi có cảm tình với chúng ta.
Binh lính. Thái độ của họ tuỳ thuộc thái độ các sĩ quan của họ. Một số thì ủng hộ Hội nông dân; một số khác – bị bọn địa chủ mua chuộc – thì chống lại Hội nông dân.
6/ Thanh niên nông dân. Hoàn toàn thất học: trên 30% số còn lại chỉ được đi học một hoặc hai nǎm, và chỉ có học vấn hoàn toàn sơ đẳng và rất lạc hậu. Làm việc rất vất vả. Sống rất nghèo túng. Số người thất nghiệp tǎng, không có sự vui chơi giải trí nào. Trình độ học vấn rất thấp. Nhiều người tham gia Hội nông dân.
7/ Tuyên truyền chính trị. Lúc đầu nông dân rất sợ chủ nghĩa cộng sản, vì họ nghe nói (do bọn địa chủ nói) rằng những người cộng sản xã hội hoá phụ nữ. Bây giờ họ đã hiểu chút ít rằng chủ nghĩa cộng sản thật ra là cái gì và họ tin rằng Đảng cộng sản là đảng duy nhất có thể giải thoát họ khỏi sự khốn cùng hiện tại của họ.
8/ Chúng ta có 8 đảng viên cộng sản và 5 đoàn viên thanh niên cộng sản hoạt động trong nông dân ở huyện này.
9/ Nông dân có tổ chức vốn đứng về phía Chính phủ dân tộc chủ nghĩa. Nhưng khi chúng tôi trình bày trong báo cáo này, vì chưa giác ngộ về sức mạnh của chính mình, họ cảm thấy bǎn khoǎn và nghi ngờ trước mỗi thay đổi về chính trị ở Quảng Châu. Bọn địa chủ đã lợi dụng mọi cơ hội – cuộc nổi dậy của Lưu và Dương, vụ ám hại Liêu Trọng Khải, v.v., để tung tin đồn nhảm nhằm làm cho nông dân lo sợ. Nhưng lần nào cũng vậy, chúng ta đều nhanh chóng chống lại bằng cách tǎng cường công tác tuyên truyền và giờ đây nông dân đã hiểu hoàn toàn rõ tình hình chính trị.
10/ Một số ít công nhân trong huyện này còn chưa được tổ chức, vì thế giữa Hội nông dân với họ không có mối liên hệ.
Từ khi có cuộc bãi công chống đế quốc, những người bãi công quê quán ở huyện này đã trở về làng và thành lập ra Hiệp hội những người bãi công. Giữa Hội nông dân và Hiệp hội những người bãi công có mối liên hệ rất chặt chẽ.
11/ Có 3 trường truyền giáo nhưng có rất ít học viên. Những trường này không có ảnh hưởng đối với nông dân là những người phản đối đạo Cơ đốc, không phải vì coi đạo Cơ đốc là công cụ của chủ nghĩa đế quốc (họ còn chưa hiểu), mà vì coi đạo Cơ đốc là một tôn giáo ngoại quốc và phản tổ tiên. Một trong những trường đó gần đây đã bị đóng cửa.
12/ Những yêu sách trước mắt:
Xoá bỏ đội hương dũng
Xoá bỏ thuế nặng nề
Súng giá rẻ (nhà nước phải bán cho họ)
Tổ chức hợp tác xã
ấn định chuẩn mực thuế.
B) TRẢ LỜI CỦA HOA UYÊN
1/ Hội nông dân được thành lập vào tháng 10-1924. Tuy còn non trẻ nhưng Hội đã dạy cho các hội viên biết dựa vào sức mình hơn là dựa vào người khác. Trong thời kỳ đầy những tin đồn đại về chính trị, một số làng đã không ngần ngại chính thức hành động mở màn. Đó là một tiến bộ lớn. Trở ngại chủ yếu trên con đường phát triển đầy đủ của Hội nông dân là những khó khǎn về tài chính.
2/ Những trận chiến đấu lớn đã diễn ra giữa nông dân và địa chủ, chúng phá hoại các trụ sở của nông dân và giết hại những người lãnh đạo của họ. Cuối cùng địa chủ đã thất bại và buộc phải ký những hiệp định dưới đây:
a/ Trừng phạt những kẻ chịu trách nhiệm về việc gây ra xung đột
b/ Bồi thường 1000 đôla cho Hội nông dân
c/ Bồi thường 2000 đôla cho người bị giết
d/ Phải trả 800 đôla phí mai táng
e/ Cam kết sau này không gây rắc rối cho Hội nông dân nữa.
3/ Hội viên. 19 làng có 2100 hội viên.
4/ Chỉ có một làng đã tổ chức phong trào nông dân với 15 hội viên.
5/ Trước kia, đội hương dũng có hơn 10.000 đội viên và 4000 khẩu súng. Nhưng hiện nay nó đang teo dần đi đến tan rã.
Một vài bǎng cướp muốn lợi dụng phong trào nông dân, một số khác chống lại phong trào nông dân, nhưng chỉ trên lời nói.
Binh lính đóng ở huyện thì trung lập.
6/ Thanh niên. Trình độ tri thức cao hơn một chút so với trình độ tri thức của thanh niên Thanh Viễn. Có nhiều trường học hơn. Đại đa số thanh niên phụ thuộc vào gia đình của họ. Nhiều người đã tham gia Hội nông dân.
7/ Trình độ hiểu biết chính trị cũng giống như trình độ hiểu biết chính trị ở Thanh Viễn. Thoạt đầu, nông dân cũng sợ chủ nghĩa cộng sản. Giờ đây họ mong mỏi thực hiện chế độ cộng sản. Họ nghĩ rằng Quốc dân đảng và Hội nông dân cũng giống nhau thôi.
8/ Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào; 4 người trong số đó là nông dân ở địa phương.
9/ Tiếng vang chính trị. Bất chấp sự tuyên truyền của bọn địa chủ, nông dân rất ít bị kích động bởi những lời đồn nhảm về chính trị.
10/ Công nhân dầu mỏ ở Quảng Châu, người quê ở huyện này, đã giúp đỡ Hội nông dân rất nhiều trong việc tuyên truyền cũng như trong việc tổ chức hoạt động. Nhưng bản thân công nhân sống ở trong huyện thì chưa được tổ chức, vì vậy không có mối liên hệ giữa họ với Hội nông dân.
11/ Có 4 trường truyền giáo, nhiều học viên. Nhưng chỉ có khoảng 1 hoặc 2% học viên trở thành người theo đạo.
12/ Những yêu sách trước mắt :
Dẹp yên bọn cướp
Cấm trò cờ bạc và chơi bời, do bọn kỳ hào bảo trợ vì trò cờ bạc và chơi bời này gây tai hại trong gia đình nông dân
Thống nhất Quảng Đông
Xoá bỏ thuế khoá nặng nề.
C) THUẬN ĐỨC
1/ Hội nông dân ở đây bắt đầu hoạt động nǎm 1921. Do cánh hữu của Quốc dân đảng khởi xướng, nhằm tǎng cường lực lượng của họ. Cuối nǎm 1922, chúng tôi bắt đầu công tác tuyên truyền của mình. Nǎm 1923, hai Hội nông dân làng được thành lập, với 300 hội viên. Từ tháng 7 đến tháng 10 lại có thêm 18 Hội nông dân nữa được thành lập bởi 5 học viên Trường nông dân. Tháng 3-1925 số hội viên đã lên tới 1400 người.
2/ Đấu tranh. Có một làng bị bọn lính của Lý Phúc Lâm đốt trụi và 30 nông dân bị chúng giết hại. Một kỳ hào ở làng bên vì xung đột cá nhân với làng bị triệt hạ, nên đã dẫn bọn lính đến đốt phá.
Một vài chiến sĩ đã bị giết hại và một số khác bị bọn kỳ hào bắt giữ. Những sự áp bức đó khiến cho nông dân vô cùng phẫn nộ và hiểu rằng phải tự tổ chức nhau lại để bảo vệ lợi ích và an ninh của mình.
3/ Hội viên. 48 Hội nông dân làng với 4000 hội viên.
4/ Đội tự vệ nông dân chưa được tổ chức.
5/ Một vài đội hương dũng vẫn giữ trung lập, và một số khác chống lại chúng tôi. Bọn này đã giết hại một chiến sĩ của chúng tôi, chúng đã cướp bóc và bắt giữ nhiều người trong số các chiến sĩ của chúng tôi.
Dù bọn kẻ cướp rất mạnh nhưng chúng chưa phạm một điều gì chống lại Hội nông dân.
Bề ngoài binh lính đồn trú có thái độ trung lập, nhưng trong thực tế chúng chống lại chúng tôi, việc giết chóc kể trên đã cho thấy rõ điều này.
6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Điều kiện sinh sống khá hơn ở các huyện khác. 40% hội viên Hội nông dân là thanh niên nông dân. Có một “Câu lạc bộ thanh niên nông dân và công dân” mới được thành lập trong thời gian gần đây.
7/ Một vài nông dân rất muốn biết về chủ nghĩa cộng sản. Họ yêu cầu chúng tôi cung cấp nhiều sách báo của Đảng hơn nữa và tài liệu để đọc khác. Nhiều người khác chǎm chú nghe chúng tôi dù rằng họ chưa xác định lập trường.
8/ Chúng tôi có 6 đảng viên cộng sản hoạt động tại đây.
9/ Nông dân vẫn còn lo sợ khi có biến động chính trị nào đó ở Quảng Châu.
10/ Có quan hệ tốt giữa Hội nông dân và các tổ chức công nhân.
11/ Đạo Cơ đốc. Chưa nghiên cứu, không thể báo cáo được.
12/ Trong huyện có 20 phân bộ Quốc dân đảng.
13/ Những yêu sách trước mắt:
Xoá bỏ thuế cây dâu
Trừng trị những hào lý gây thiệt hại cho Hội nông dân.
D) KHÚC GIANG
1/ Hội nông dân này bắt đầu hoạt động tháng 5-1925.
2/ Đấu tranh. Có một chiếc cầu, muốn đi qua nông dân phải trả 1 xu trong lúc binh lính hoặc người ǎn mặc sang trọng không phải trả gì hết. Một lần, một hội viên nông dân muốn đi qua cầu mà không trả tiền; người gác cầu không để cho anh ta qua cầu như vậy. Tiếp đó đã gây ra một trận đánh nhau. Hiến binh đã bắt người hội viên nông dân. Hội nông dân can thiệp và thứ thuế này bị bãi bỏ. Nông dân coi đó là một thắng lợi lớn về tinh thần.
b/ Hiến binh không phải là bạn tốt của nông dân và nông dân cǎm ghét chúng đến xương tuỷ. Có một lần, một tên hiến binh bị mấy người nông dân giết ở trên núi. Pháp luật không thể buộc tội được vì không tìm được bằng chứng.
c/ Một cuộc biểu tình của nông dân đã nổ ra. Khẩu hiệu là “Đả đảo việc bắt bớ phu phen!”. Thông thường, chính hiến binh là kẻ tiến hành việc bắt bớ, nên nông dân coi họ là những kẻ phải chịu trách nhiệm. Trên đường tuần hành, họ gặp một viên trưởng hiến binh. Họ đã nện cho y một trận đòn nên thân rồi giải tới huyện. Mặc dù họ phải bồi thường 42 đôla cho gã hiến binh, nhưng lại hài lòng vì đã cho hiến binh một bài học.
3/ Hội viên – 120 làng có 6.740 hội viên.
4/ Đội tự vệ còn chưa được tổ chức.
5/ Giữa bọn hương dũng và Hội nông dân chưa có xung đột, mặc dù bọn hương dũng bí mật giúp đỡ bọn địa chủ chống chúng ta.
Một vài toán cướp vẫn còn có thái độ trung lập. Một số khác có thái độ thân thiện.
6/ Trước khi Hội nông dân được thành lập, quân đồn trú thường phá hoại các cây quả trong vườn của nông dân. Nhưng hiện nay chúng không dám đụng đến nữa. Chúng cũng tôn trọng nông dân hơn trước.
Phải vạch rõ rằng viên huyện trưởng hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân.
7/ Thanh niên: 80% thất học. Trong 120 làng đã có Hội nông dân không có một người nào đọc được báo. Trong những làng này, chúng tôi thấy chỉ có 15 trường nhỏ với 280 học sinh.
Thanh niên nông dân ở đây cùng khổ hơn ở bất kỳ huyện nào khác. Bên cạnh công việc nặng nhọc hằng ngày, họ còn phải làm những công việc mà người lớn tuổi không muốn làm, như canh sông ban đêm chẳng hạn.
Có chừng 2400 thanh niên nông dân đã tham gia Hội nông dân.
8/ Nông dân tán thành cương lĩnh của Đảng cộng sản. Nhiều người trong nông dân đã tham gia Quốc dân đảng.
Một phân đoàn của “Liên đoàn đấu tranh giải phóng phụ nữ” mới được thành lập gần đây, do một đồng chí nữ của chúng ta tổ chức, 20 hội viên, tất cả đều là nông dân nữ.
Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào, trong số đó 6 người là nông dân địa phương.
9/ Tiếng vang chính trị – Nông dân ở đây đau khổ rất nhiều vì thuế quân sự và vì việc bắt phu phen. Vì thế họ lo ngại trước bất kỳ biến động nào về chính trị hay quân sự ở Quảng Châu.
Họ rất lo ngại về cái chết của Liêu Chung Khải. Nhưng khi Chính phủ xét xử nghiêm khắc những phần tử phản cách mạng và bọn lính ngoan cố và khi chúng ta giải thích cho họ biết ý nghĩa của sự kiện thì họ hoàn toàn hiểu rõ tình hình. Trong cuộc trường chinh sông Đông hiện nay, 300 nông dân đã tình nguyện giúp đỡ quân đội cách mạng.
10/ Mặc dù giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân chưa có quan hệ với nhau, nhưng nông dân hoàn toàn hiểu đúng sự cần thiết phải hợp tác và đoàn kết giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân.
11/ Có 7 trường truyền giáo (Anh, Pháp, Mỹ và Đức) ở huyện lỵ với khoảng 1000 học sinh. Sinh viên và nhà buôn có vẻ rất ngả theo ảnh hưởng của đạo Cơ đốc, trong khi nông dân triệt để chống lại ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.
Không thấy có nông dân nào theo đạo.
12/ Những yêu sách trước mắt:
Giảm thuế
Cung cấp vũ khí để tổ chức đội tự vệ nông dân.
E) PHÙ NGUYÊN (GẦN HƯƠNG CẢNG)
1/ Huyện này có 2 địa chủ lớn có hơn 500 mẫu ruộng; 10 địa chủ có từ 200 đến 500 mẫu; 50 địa chủ có từ 100 đến 200 mẫu; 200 địa chủ có từ 50 đến 100 mẫu; 1.000 địa chủ có từ 30 đến 50 mẫu; 3.000 địa chủ có dưới 30 mẫu.
Một người làm mướn cho nông trại mỗi nǎm được từ 20 đến 100 đôla.
Phong trào bắt đầu bùng nổ vào đầu nǎm nay – nổ ra là do sự bóc lột của bọn quân phiệt, bọn hào lý và bọn hiến binh.
Tình hình của Hội nông dân là tốt.
2/ Đấu tranh. Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí một vài đội hương dũng, đã làm cho một hiến binh trưởng bị cách chức, đã chống lại quân đồn trú (6 nông dân đã bị giết).
3/ Hội viên. 55 làng với 7635 hội viên và 300 hội viên dự bị.
4/ Đội tự vệ nông dân có 1500 người có súng, nhưng chưa được huấn luyện, 2 chi đội thường trực, mỗi chi đội có 30 người.
5/ Hội nông dân đã giúp đỡ đội bảo vệ cuộc bãi công ngǎn chặn trộm cắp. Điều này làm cho bọn kẻ cướp tức tối; để trả thù, chúng đã ủng hộ bọn quân phiệt chống lại chúng ta. Một vài đội hương dũng đã bị Hội nông dân thu hút, một số khác còn trung lập, trong khi đó có một số chống lại chúng ta.
6/ Thanh niên. Mỗi làng có 1 hay 2 trường tư. Rất mê tín (một phong tục kỳ lạ: khi cô dâu mới cưới về thǎm bố mẹ mình ba ngày sau khi cưới, cô ta phải kêu khóc khi về đến gần làng). 10% hội viên Hội nông dân là những nông dân trẻ dưới 28 tuổi.
7/ Khoảng 150 nông dân ở huyện này là đảng viên Quốc dân đảng.
8/ Khác với nông dân các huyện khác, nông dân Phù Nguyên không dễ dàng bị xao xuyến bởi những sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu.
9/ Quan hệ giữa nông dân và công nhân rất chặt chẽ và có hiệu quả, như việc nông dân tham gia ngǎn ngừa trộm cắp để tiếp tế cho Hương Cảng đã cho thấy rõ điều này.
10/ Yêu sách trước mắt:
Giảm thuế.
F) TÂN HỘI
1/ Nông dân ở đây rất khổ vì bị bọn phỉ, bọn quan lại, bọn quân phiệt và tầng lớp quý tộc cũ cướp bóc. ở một vài nơi thậm chí còn tồn tại chế độ nô lệ. Nét đặc trưng của huyện này là phỉ lại đẻ thêm ra phỉ, và có những người nông dân lương thiện trở thành phỉ không phải để cướp bóc, mà là để tự vệ. Trong xã Lý ắc, một xã lớn, 3.000 trong số 10.000 dân đã trở thành phỉ, vì nếu một gia đình nào đó không có một người tham gia bǎng phỉ thì gia đình đó sẽ bị những tên phỉ khác áp bức. Nhiều người trong bọn phỉ đó là những người kiên quyết ủng hộ Hội nông dân.
2/ Đấu tranh. Có một tài chủ nào đó có 10.000 đôla công trái. Viên huyện trưởng tịch thu thuyền (20 chiếc) của nông dân trong làng gã tài chủ kia với ý định đem bán để trả nợ. Những nông dân nghèo không biết phải làm gì ngoài việc nguyền rủa cho chúng gặp những điều khốn khổ. Hội nông dân và Liên đoàn lao động đã đến cứu họ. Được công luận tạo cho sức mạnh – công luận phản đối hành động độc đoán của viên huyện trưởng -, các đại biểu của Hội nông dân và của Liên đoàn lao động gửi một tối hậu thư cho viên chánh án yêu cầu trả lại các thuyền đó trong 24 giờ. Việc đó được thực hiện đúng như vậy và thắng lợi này đã đem lại uy tín cho Hội nông dân. Từ đó nông dân hiểu rằng Hội nông dân hoạt động vì lợi ích của họ.
b/ Có một địa chủ lớn muốn sử dụng sức nước của một con sông bằng cách đắp một cái đập chặn nửa dòng sông lại. Việc đó gây ra nhiều bất tiện cho những nông dân sống ở bờ sông. Hội nông dân đã can thiệp và đã làm cho cái đập bị phá. Thắng lợi thứ hai này đã đem lại cho Hội nông dân thêm nhiều hội viên nữa.
3/ Hội viên. 14 làng. Việc điều tra số lượng hội viên chưa tiến hành được.
4/ Đội tự vệ nông dân: chỉ có 40 người và rất ít súng.
5/ Đội hương dũng. Mặc dù có 5.000 người nhưng không nguy hiểm vì tổ chức kém.
ở huyện này ít nhất có 30.000 tên phỉ; nhưng chúng rất thân thiện với Hội nông dân. Nhiều tên phỉ còn tham gia Hội nông dân.
Binh lính đồn trú trước kia rất tàn ác đối với nông dân; từ khi chúng bị Chính phủ Quốc dân đảng giải tán, toán quân mới có quan hệ với Hội nông dân.
6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Làm việc rất vất vả.
7/ Do tuyên truyền phản cách mạng của bọn hào lý và bọn địa chủ, nông dân sợ hãi Quốc dân đảng. Nhưng hiện nay Hội nông dân đã thành công trong việc làm cho họ hiểu đảng này thực sự là cái gì.
8/ Trước mỗi sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu, bọn hào lý ở đây, giống như anh em chúng ở các huyện khác, đã tung tin đồn nhảm để làm cho nông dân lo sợ. ở đây chúng ta chỉ có 1 đảng viên cộng sản và hai học viên Trường nông dân để chống lại sự tuyên truyền phản cách mạng đó. Kết quả là nông dân tin những điều bọn hào lý nói với họ và do đó làm cho công tác của chúng ta trở nên khó khǎn.
9/ Quan hệ giữa công nhân và nông dân rất tốt.
10/ Những yêu sách trước mắt:
Giảm thuế,
Dẹp yên bọn phỉ.
G) TÙNG SƠN (NƠI SINH CỦA BÁC SĨ TÔN)
1/ Kẻ thù lớn nhất của Hội nông dân là đội hương dũng. Một lần trong khi Hội nông dân đang họp, đội hương dũng đã vây nhà, giết chết một hội viên Hội nông dân và làm bị thương một người khác. Tên hào lý chỉ huy cuộc tấn công ấy về sau đã bị trừng trị.
Một đội hương dũng khác đã cấm hội viên của Hội nông dân không được đi qua làng của mình. Trong một vài trường hợp, Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí của đội hương dũng.
Tình hình Hội nông dân là tốt, nhưng chúng ta còn phải phấn đấu để đuổi ra khỏi Hội bọn hào lý cơ hội chủ nghĩa đã gia nhập Hội nông dân nhằm củng cố vị trí của chúng hơn là hoạt động vì lợi ích của nông dân nghèo.
2/ Hội viên. 120 làng; 15.600 hội viên.
3/ Một vài toán phỉ chống lại chúng ta; một số khác muốn giúp đỡ chúng ta. Nông dân đã hợp tác với Chính phủ Quốc dân đảng tước vũ khí quân phản cách mạng.
Quân đồn trú hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân. Hiến binh chống lại chúng ta.
4/ Thanh niên. Trình độ học vấn hầu như là số không. Trong một số làng có 1000 gia đình, chỉ có một hoặc 2 trường với 50 hoặc 60 học sinh, tất cả đều là con cái phú nông và trung nông. Chưa có cái gì để phục vụ con em nông dân nghèo.
5/ Khi nông dân nghe nói về cương lĩnh của Đảng cộng sản thì họ đã tán thành. Tiếc thay, bản thân các đồng chí của chúng ta không hiểu thật sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin để tuyên truyền rộng hơn, và để tìm kiếm đảng viên cho Đảng từ trong hàng ngũ nông dân.
6/ ở đây chúng ta có 9 đảng viên cộng sản và 4 đảng viên dự bị.
7/ Bọn hào lý cũng rất khôn ngoan, chúng lợi dụng mọi cơ hội để tung tin đồn nhảm hòng làm cho nông dân sợ hãi. Nhưng chúng tôi đã chống lại có hiệu quả sự tuyên truyền của chúng. Sau khi Liêu Chung Khải bị giết hại, bọn hào lý vô cùng mừng rỡ. Chúng nói với nông dân: “các người thấy đấy, họ đã giết vị thủ lĩnh đầy sức mạnh của các người rồi đấy; sắp đến lượt các người nếu các người không rời bỏ Hội nông dân ngay lập tức!”. Nhưng khi chúng tôi đã tǎng cường công tác tuyên truyền – liên tục từ làng này sang làng khác – giải thích cho mọi người hiểu rõ ý nghĩa của việc đó thì nông dân chẳng những không sợ nữa, mà còn nôn nóng muốn trả thù cho người bạn bị giết hại của mình là ông Liêu.
Hiện nay, đội hương dũng hợp tác với bọn địa chủ để tung tin đồn nhảm. Chúng nói rằng Quảng Châu chẳng bao lâu nữa sẽ bị Trần Quýnh Minh chiếm và ông này sẽ đem bắn tất cả các hội viên của Hội nông dân, v.v..
8/ Với công nhân. Nông dân ở huyện này, những người sản xuất nhiều rau cho thị trường Hương Cảng và thị trường Ma Cao, bị đụng chạm nặng nề do việc phong toả những cảng này. Thoạt tiên họ rất phản đối những người bãi công. Nhưng khi nghe chúng tôi giải thích, họ không những quên tất cả những sự phẫn nộ đối với những người bãi công mà còn quyên góp rất hào phóng vào quỹ bãi công. Sự bực bội của họ đối với người công nhân một phần đã biến thành lòng yêu nước, mến thương những người bãi công yêu nước và phần khác biến thành sự cǎm ghét bọn đế quốc.
9/ Có nhiều trường truyền giáo. Các trường đó đã cố gắng rất nhiều để làm cho người ta chuyển sang theo đạo, nhưng kết quả rất bé nhỏ. Tuy vậy, ở một làng chúng tôi thấy một số lớn nông dân đã theo đạo Cơ đốc. Những người theo tôn giáo này nói với chúng tôi: “Chúng tôi không biết và không quan tâm xem đạo Cơ đốc là cái gì, chúng tôi tin theo vì cần sự giúp đỡ của họ. Bây giờ chúng tôi có Hội nông dân để bảo vệ lợi ích của mình, chúng tôi có thể cáo biệt nhà thờ!”.
10/ Những yêu sách trước mắt:
a. Giải tán đội hương dũng.
b. Nông dân kiểm soát bãi cát.
c. Giảm thuế.
————————
Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn
Bạn phải đăng nhập để bình luận.