Archive | Tháng Hai 2012

Hồi ức người thiết kế Lễ đài Độc lập

Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh (1920 – 2003), quê Hưng Yên, là người được giao trọng trách thiết kế và tham gia dựng lễ đài, nơi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 2-9-1945 lịch sử.

Chúng tôi đã tìm gặp những người thân của cố kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh và được cung cấp bản viết tay kể về việc thiết kế, lắp đặt Lễ đài Độc lập ở Quảng trường Ba Đình do vị kiến trúc sư nổi tiếng này chắp bút. Đây là bài viết được ông Ngô Huy Quỳnh viết vào trưa ngày 28-8-1992 để trả lời các câu hỏi của một phóng viên Tạp chí Kiến trúc và đời sống. Được sự đồng ý của gia đình ông Ngô Huy Quỳnh, xin giới thiệu nguyên văn bài viết của ông.

“Sáng ngày 1 tháng 9 năm 1945, ông Phạm Văn Khoa đến truyền đạt yêu cầu của Kỳ bộ Việt Minh qua ông Mười Hương là ngày 2 tháng 9, Bác Hồ sẽ đọc Tuyên ngôn độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào. Yêu cầu làm lễ đài giản dị nhưng phải trang nghiêm; trên lễ đài có thể đứng được ba chục người. Việc làm lễ đài và viết khẩu hiệu bằng ba thứ tiếng Việt, Nga, Anh được giao cho các ông Nguyễn Huy Tưởng và Phạm Văn Khoa hoạt động trong tổ chức Văn hóa Cứu quốc.

Thế là việc chọn và quyết định nơi đặt lễ đài, kiểu lễ đài vẽ xong để bắt đầu thi công vào 12 giờ trưa ngày 1 tháng 9 và 3 giờ sáng ngày 2 tháng 9 dựng xong lễ đài để còn thời giờ mắc loa và đặt mi-crô.

Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh (ảnh chụp lại)

Nơi dựng lễ đài là bồn cỏ tròn ở giữa Quảng trường Ba Đình, trước các cổng cuốn và cuốn tròn tỳ trên hệ thống cột theo kiểu thức tô-scan Pháp. Công trình này màu vàng nhạt, vòng hai tay ôm lấy phía sau lễ đài màu đỏ cùng với khối cây cổ thụ màu xanh hầu như đóng vai trò “trẩm” theo cách nhìn phong thủy mà bà con không lạ lắm. Màu đỏ, vàng của lễ đài với hai bình hương hai bên, của cờ đỏ sao vàng trên cột cờ lễ đài và trước hàng ngũ đại biểu nhân dân nổi rực rỡ và sống động trước vòm cây nhiệt đới và màu lam vòm trời đất Thăng Long.

Phải đứng từ không gian xa xa của các đoàn thể nhân dân mới thấy được bố cục toàn cảnh này. Tôi đã tranh thủ đo lại kích thước cổng cuốn và hàng cột kiểu thức tô-scan này để xác định khuôn khổ thích hợp của lễ đài trong không gian rộng lớn xung quanh.

Trong khi đó, ông Khoa cũng để cả thời gian buổi sáng để đến bàn bạc với ông Quyến là thợ mộc ở phố Hàng Hành để chuẩn bị thi công theo các bản vẽ, đi mượn gỗ và mượn hai thứ vải màu vàng và đỏ. Đồng bào Hà Nội vui lòng cho mượn gỗ và vải; gỗ cần bao nhiêu cứ lấy, cần xẻ ra cứ làm, vải thì cố giữ cho đừng rách còn cần “pha” ra thì cũng tùy yêu cầu. Vật liệu có gỗ và đinh sắt được chở đến giữa bùng binh Ba Đình. Ông Quyến huy động 10 bạn thợ đến làm việc tấp nập, chỗ này cưa, chỗ kia rọc gỗ. Hội Truyền bá Quốc ngữ huy động bốn chục anh em ở Ban Cổ động, Ban Khánh tiết, Ban Giáo khoa đến giúp.

Riêng tôi đặc biệt quan tâm đến hệ thống chống đỡ bục lễ đài phải chịu nặng trên hai tấn. Cột cờ và các trụ lễ đài đều chôn chân xuống đất, không dùng mộc để tránh thiệt nhiều cho bà con có gỗ và để tranh thủ thời gian. Dùng vải bọc ngoài các khung gỗ và tạo khối kiến trúc, dễ trang trí, có màu sắc cần thiết, với thời gian ít nhất. Các việc không phải mộc, không phải nề này tôi cũng làm với anh em thanh niên. Công nhân nhà máy điện đảm bảo ánh sáng thật đầy đủ. Chúng tôi làm xong các việc trước rạng đông ngày 2 tháng 9 và không chú ý là cả một đêm trắng đã qua nhanh chóng!

Lễ đài Độc lập trên Quảng trường Ba Đình Hà Nội do kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thiết kế năm 1945 (ảnh chụp lại)

Khi đứng trên lễ đài để xem xét lần cuối cùng, tôi thấy nao nức trước đông đảo đại biểu nhân dân hừng hực khí thế dưới cờ đỏ sao vàng tràn ngập Ba Đình. Các khẩu hiệu chữ trang kim trên nền vải đỏ tươi càng làm rực rỡ thêm buổi lễ lịch sử này. Khói trầm từ các lư hương lớn hai bên lễ đài bay lên cao, gợi những ý tưởng thiêng liêng và thong thả tỏa rộng quyến luyến các đoàn đại biểu.

Khi Bác Hồ và Chính phủ lâm thời bước lên bậc thang lễ đài, tôi và nhiều anh em nghiêm trang đứng chào, nắm tay phải đưa lên ngang vai. Nhiều đồng chí tự vệ và cả ông Phạm Văn Khoa cầm súng bảo vệ quanh lễ đài.

Riêng tôi tự ý một mình đứng bên dưới lễ đài, quan sát những điểm chịu lực của kết cấu khung gỗ, và một mình trong không gian màu đỏ dưới bục lễ đài, tự thấy mình lực lưỡng hơn về trí tuệ và tình cảm khi đứng dưới chân Bác và ghi trong lòng Tuyên ngôn độc lập Bác đọc. Và thật là xúc động khi nghe Bác hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” và tiếng hô: “Rõ ạ. Rõ ạ…” của hàng chục vạn đồng bào vang vọng như những làn sóng biển Đông.

Nơi đồng bào dự lễ ngày 2-9-1945 chính là quảng trường trước Lăng Bác ngày nay và cả con đường Bắc Sơn, ở đây đã dựng tượng đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh vì độc lập và tự do của Tổ quốc.

Một việc trong nghề và nghiệp kiến trúc cách đây gần nửa thế kỷ đã gieo vào tình cảm thanh niên 25 tuổi của tôi một sức mạnh thầm lặng mà bền bỉ, tin tưởng vào sức vươn lên của cuộc sống và nền văn hóa dân tộc, từ ngày công bố Tuyên ngôn độc lập, cũng như từ ngày thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, mặc dầu xuất hiện những khó khăn mới”.

Theo QUANG DUẨN (giới thiệu) – Thanh Niên

tuoitre.vn

Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt đông cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở Kim Liêm huyện Nam Đàn, tình Nghệ An, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội.

Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân. Người sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào

Với tình cảm yêu nước thương dân vô hạn, năm 1911 Người đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.

Từ năm 1912 đến năm l917, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nước ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động, Người thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Người sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới. Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vesailles bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và Người bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III, Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành người cộng sản, Người khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới là con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Năng 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo “Người cùng khổ “ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925.

Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ nhất Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân. Người là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Ngườil kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc .Nguyễn Ái Quốc là Ủy viên thường trực Bộ phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế Cộng sản

Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) chọn một số thanh niên Việt Nam yêu nước đang sống ở Quảng Châu, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ Việt Nam Các bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn sách “Đườg Kách mệnh” – một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho dường lối cách mạng Việt Nam. Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô) ,sau đó đi Berlin (Đức), đi Bruxell (Bỉ) tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về Châu Á.

Tử tháng 7 năm 1928 đến tháng 11 năm 1929, Người hoạt đông trong phong trào vận Đảng Việt kiều yêu nước ở Thái Lan, tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long gần Hương Cảng, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (Hội nghị của Đảng tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương), đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cao trào cách mang 1930-1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hong Kong. Đây là một thời kỳ sóng gió trong cuộc đời hoạt Đảng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Mùa xuân năm 1933, Người được trả tự do.

Từ năm 1934 đến 1938, Người nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Matxcova. Kiên trì con đường đã xác định cho cách mang Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Tháng 10 năm 1938, Người rời Liên Xô về Trung Quốc bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Người về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc. Bao nhiêu năm thương nhớ đợi chờ khi qua biên giới, Người vô cùng xúc động.

Tháng 5 năm 1941, Người triệu tập Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng. quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8 năm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam, thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Qủang Tây. Trong thời gian 13 tháng bi tù, Người đã viết tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù) với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9 năm 1943, Người được trả tự do.

Tháng 9 năm 1944. Người trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12 năm 1944, Người chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước đồng minh. Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội Nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân Đã hop quyếtđịnh tổngkhởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8 năm 1945, Người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Ngày 2 tháng 9 năm J 945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.

Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thưc dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết húc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III, họp vào tháng 9 năm 1960, Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình, thống nhất nước nhà”. Tại Đại hội, Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt qua khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Từ năm 1965 đến năm 1969, cùng với Trung ương Đảng, Người tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng trong điều kiện cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.

Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử. Người viết:“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đă đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27 tháng 1 năm 1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện được mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tu vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã vân dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, sáng lập Đảng Mác- Lênin ở Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn luôn kết hợp chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm,liêm, chính, chí công. vô tư, vô cùng khiêm tốn, giản dị

Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, hội nhập với thế glới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Bảo Tàng Hồ Chí Minh – Tháng 5 năm 2004

tuoitre.vn

Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Công việc đầu tiên của chính phủ đầu tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp chính phủ đầu tiên 3-9-1945 (ông Vũ Đình Hòe đứng cạnh Bác Hồ bên trái) – Ảnh tư liệu

TT – Bất ngờ, chúng tôi được biết ông Vũ Đình Hòe – người từng giữ chức vụ bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục trong Chính phủ lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – vẫn còn sống và hiện ở một căn nhà nhỏ tại phường Hiệp Phú, quận 9, TP.HCM.

Đã bước vào tuổi 93 nhưng ông Hòe vẫn còn minh mẫn và rất xúc động khi kể về những ngày đầu lập quốc 60 năm trước mà ông được vinh dự tham gia trực tiếp với tư cách là một bộ trưởng.

Nhiệm vụ đè nặng trên vai bộ trưởng

Ngay sau ngày lịch sử 2-9-1945, ngày 3-9 Bác triệu tập cuộc họp phiên đầu tiên của Chính phủ.

Trong tình hình đất nước vừa thoát ra khỏi kiếp nô lệ, nạn đói lịch sử còn hoành hành khắp nông thôn miền Bắc, quân xâm lược vẫn còn uy hiếp, Bác đã đưa ra sáu vấn đề cấp bách mà Chính phủ cần thảo luận và thực thi khẩn cấp.

Nhiệm vụ đầu tiên là mở ngay những cuộc lạc quyên, tăng gia sản xuất để cứu đồng bào khỏi nạn đói và nhiệm vụ thứ hai ngay sau cứu đói là mở chiến dịch chống mù chữ trong toàn quốc…

“Tôi biết trách nhiệm đang đè nặng trên vai bộ trưởng giáo dục khi Bác nhắc tới vấn đề quan trọng thứ hai và nhìn về phía tôi…” – ông Vũ Đình Hòe nhớ lại. Trong suốt quá trình Pháp thuộc, hơn 90% dân Việt bị mù chữ, chính nạn thất học là một quốc nạn ngày ấy.

Ngày 8-9, Bác Hồ ký ngay sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ để phụ trách việc chống mù chữ trong cả nước – một trong những sắc lệnh đầu tiên của nhà nước non trẻ.

Ông Vũ Đình Hòe kể: “Ngay những ngày đầu Chính phủ hoạt động, Hồ Chủ tịch dành hẳn một giờ để tiếp đoàn cán bộ cao cấp của Bộ Giáo dục sang Phủ chủ tịch làm việc. Biết rõ tác phong ngắn gọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đi ngay vào vấn đề: “Thưa Cụ chủ tịch, chúng tôi xin phép trình bày ba việc để xin Cụ chỉ giáo”.

Ông Vũ Đình Hòe tại nhà riêng ở phường Hiệp Phú, Q.9, TP.HCM – Ảnh: Vũ Bình – “Ông Vũ Đình Hòe sinh năm 1912, tốt nghiệp Đại học Luật khoa Đông Dương của Pháp mở tại Hà Nội, phó chủ tịch Hội truyền bá quốc ngữ (do cụ Nguyễn Văn Tố làm chủ tịch). Ông gia nhập Đảng Xã hội Pháp (SFIO). Năm 1941, ông cùng những trí thức trẻ ra tờ báo Thanh Nghị trước ngày tổng khởi nghĩa. Ông hoạt động trong Đảng Dân chủ VN với tư cách ủy viên Trung ương Đảng Dân chủ, tham gia Mặt trận Việt Minh và được cử đi dự đại hội Tân Trào…”

Bác nói ngắn gọn và hỏi: “Tôi nghe. Việc thứ nhất?”. “Xin trình Cụ hai dự thảo sắc lệnh, một là thanh toán nạn mù chữ trong vòng một năm và hai là sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ”.

Hồ Chủ tịch sau khi hỏi thăm về cơ sở vật chất cho nha bình dân học vụ đã nhanh chóng tán thành. Chúng tôi đề nghị cho Bộ Giáo dục chỉ thị ngay trong niên học tới đây, tất cả các trường, kể cả đại học, chỉ được dùng tiếng Việt khi học, khi dạy và trong mọi kỳ thi… Hồ Chủ tịch bảo: “Hay đấy nhưng có vội quá không? Các ông đã chuẩn bị đủ chưa?”.

Theo sự phân công trong đoàn, hai anh Nguyễn Văn Huyên và Ngụy Như Kontum, tổng giám đốc các nha đại học vụ và trung học vụ, trả lời Cụ Hồ: “Thưa Cụ chủ tịch, ông Hoàng Xuân Hãn – bộ trưởng trong chính phủ cũ trước đây – đã bắt đầu làm thử ở Trung bộ, xem ra khá trơn tru…

Hồ Chủ tịch nghe xong thì nói ngay: “Ông Hoàng Xuân Hãn tôi có biết hồi còn ở bên Pháp, người này có tâm, thế thì bộ quyết định đi…”.

Sau đó, Bộ Quốc gia giáo dục đã tổ chức hội nghị toàn quốc bình dân học vụ để bàn kế hoạch triển khai sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xóa nạn mù chữ trong một năm.

Đi liền với hội nghị là khai mạc lớp đào tạo giáo viên bình dân học vụ đầu tiên cho toàn quốc, mang tên “Khóa Hồ Chí Minh” được vinh dự đón Hồ Chủ tịch đích thân đến dự”.

“Xã hội hóa giáo dục” từ ngày lập quốc

Ông Vũ Đình Hòe nhớ lại: Thật ra lúc đó không ai tin rằng chỉ một năm là có thể làm được việc xóa mù chữ, vì nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì phải ít nhất 30, 40 năm nữa mới kết thúc được phong trào.

Sao không biết dựa vào sức dân? Có sức dân thì mọi việc sẽ được hoàn thành. Ông Hòe lên diễn đàn và đưa ra bài toán của mình: “Cứ dạy cho một người biết đọc, biết viết trong ba tháng phải tốn ít ra là 6 đồng. Dạy cho 10 triệu người trong một năm phải tiêu hơn 60 triệu đồng tiền sách vở, giấy bút. Nếu trả lương giáo viên thì phải thêm 10 triệu đồng nữa vì phải cần đến 10 vạn giáo viên, mỗi giáo viên có thể dạy 100 học sinh trong một năm”.

Cả hội nghị cùng bàn bạc, góp ý và đi đến thống nhất: về khoản chi cho giáo viên thì không phải tốn vì phong trào sẽ không ai nhận tiền lương. Còn về con số 10 vạn giáo viên thì tính ra cả nước có 57 tỉnh, mỗi tỉnh phải tự tổ chức 2.000 giáo viên, mỗi tỉnh có khoảng 800 làng, mỗi làng phải tự túc lo bảy giáo viên…

Một lớp bình dân học vụ xóa mù chữ sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân – Ảnh tư liệu – “Chiến dịch diệt “giặc dốt”, chống nạn mù chữ từ ấy bừng lên. Khắp mọi nơi hừng hừng khí thế thi đua học văn hóa cùng với việc gia tăng sản xuất diệt “giặc đói”. Người chưa biết chữ thì cố gắng học nhanh cho đỡ phí tổn, người biết chữ thì chồng dạy vợ, con dạy cha, anh dạy em. Học mọi lúc, mọi nơi, trẻ chăn trâu thì ra đồng tranh thủ học trên lưng trâu, các chiến sĩ đi hành quân thì người đi sau kề lên lưng người đi trước mà học.”

Căng nhất vẫn là khoản chi 60 triệu đồng để mua sách vở, ông Hòe đề nghị: “Trong lúc ngân sách còn eo hẹp, các lớp bình dân học vụ có thể dùng phấn hay gạch để viết xuống đất, chi phí sẽ rút xuống còn 2 đồng chứ không phải 6 đồng như trước đây, vậy Chính phủ có thể trả 5 triệu đồng cho khoản đó không?”.

Bộ trưởng Tài chính Phạm Văn Đồng đang ngồi bên dưới trả lời ngay: “được!”. Cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Ông Hòe thừa thắng xông lên: “Còn 15 triệu nữa, chi phí này ta không nhờ Chính phủ mà sẽ trông vào nhân dân, mỗi làng tự lo 1.000 đồng một năm có được không?”.

Các đại biểu từ khắp nơi về dự đều hô to: được… được và vang rền tiếng vỗ tay. Cô huấn luyện viên lớp đào tạo giáo viên Trương Thị Giáo mang sổ vàng lên xin chữ ký Bác Hồ và các bộ trưởng.

Bác Hồ nói: “Tôi khen sáng kiến của ông bộ trưởng. Ông khéo thu xếp để ta làm được việc lớn mà không phải tiêu pha lớn…”.

Tính đến cuối năm 1945, sau hơn ba tháng phát động, theo báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh Bắc bộ gửi về Bộ Quốc gia giáo dục thì đã mở được 22.156 lớp học với 29.960 giáo viên và đã dạy biết chữ cho 519.250 học viên mà tổng chi phí xuất từ ngân sách trung ương là 815,68 đồng, còn lại đều do các địa phương và tư nhân chi trả.

Trung bộ, Nam bộ cũng có những con số tương tự. Không chỉ xóa nạn mù chữ, Bộ Quốc gia giáo dục bấy giờ cũng đã xây dựng được 14 trường trung học, trường kỹ nghệ cao cấp và sơ cấp với tổng số gần 6.000 học sinh trung học.

Ngày 15-11-1945, mặc dù tình thế rất khó khăn nhưng Trường đại học Việt Nam cũng đã khai giảng. Trong tờ trình Quốc dân đại hội (Quốc hội) của Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng sau do ông Vũ Đình Hòe đọc: “Thành công lớn nhất của chính quyền lâm thời trong việc xây dựng nền giáo dục cho đất nước chính là đặt nền tảng cho một nền giáo dục có tính cách duy nhất, chung cho tất cả các giai cấp xã hội, lấy tôn chỉ bình đẳng làm căn bản, là nền giáo dục cách mạng, khác với nền giáo dục Pháp thuộc trước đây”.

Ông Vũ Đình Hòe nói: “Tôi chỉ làm việc ở Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng, sau đó thì chuyển sang làm bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nhưng đó là sáu tháng đầy kỷ niệm và ấn tượng không thể nào quên được trong cả cuộc đời”.

VŨ BÌNH

tuoitre.vn

Quyền lựa chọn của dân tộc

Kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2-9

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập tại Hà Nội, 1945

TT – Quyền thứ nhất được Bác Hồ long trọng tuyên bố 60 năm về trước là quyền độc lập. Với ý nghĩa này, ngày 2-9 đã trở thành Tết Độc lập của đất nước ta. Thế nhưng độc lập là gì?

Trong rất nhiều ngôn ngữ, không có từ độc lập đứng riêng mà chỉ tồn tại từ không phụ thuộc. Độc lập chính là sự không phụ thuộc. Chúng ta đã giành lại giang sơn này chính là để tự quyết định lấy vận mệnh của mình mà không bị phụ thuộc vào kẻ khác. Chúng ta đã và đang làm được điều này ngày càng nhiều hơn.

Đặc biệt là khi chúng ta đang giành được quyền độc lập ngày càng nhiều hơn trong tư duy, trong việc lý giải định mệnh và hoạch định tương lai của dân tộc. Độc lập chỉ thật sự được bảo đảm khi chúng ta không bị phụ thuộc về tinh thần.

Quyền thứ hai được Bác Hồ long trọng tuyên bố 60 năm về trước là quyền tự do. Tự do của một dân tộc được hợp thành từ tự do của mỗi công dân. Không thể có một dân tộc tự do mà những công dân của dân tộc đó lại không có được quyền tự do như vậy. Tự do chính là quyền lựa chọn.

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

HỒ CHÍ MINH
(Trích Tuyên ngôn độc lập)

Và hàng triệu Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc đã lựa chọn sự hi sinh. Sự lựa chọn này mang đầy định mệnh, nhưng lại là một sự lựa chọn tự nguyện, một sự thực thi quyền tự do. Những người con ưu tú của đất nước đã lựa chọn sự hi sinh chính là để bảo đảm rằng quyền lựa chọn của dân tộc ta là không thể bị tước bỏ.

60 năm qua, độc lập, tự do là những giá trị mà dân tộc ta đã không ngừng theo đuổi và vươn tới. Hàng triệu người con ưu tú của đất nước ta đã hi sinh tuổi trẻ, hạnh phúc và sinh mệnh của mình cho những giá trị nói trên.

Những lá cờ của chúng ta vì vậy không phải ngẫu nhiên mà đỏ cháy lên như sự hiệu triệu của đức hi sinh và sự dâng hiến!

TS NGUYỄN SĨ DŨNG

tuoitre.vn

Về hai chữ “Cách Mệnh” trong “Đường Kách Mệnh”

Tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa tròn 80 năm tuổi. Ngày 12.9.2007, Bộ VHTT-DL đã tổ chức hội thảo khoa học “Giá trị lý luận và thực tiễn tác phẩm “Đường Cách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin lược trích và biên tập lại bài viết của ông Nguyễn Văn Khoan tham gia hội thảo này.

……………………………………..

Theo nhà báo – học giả Quang Đạm, hai chữ “cách mệnh” từ Trung Quốc “vào” Việt Nam ta có thể là vào những năm xã hội Việt Nam tiếp nhận “Tân thư” của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu – trước, sau vài năm cùng với các tác phẩm từ nước Pháp của R.Descartes, Montesquieu – BT). Chữ “cách mệnh” theo tinh thần của Nho giáo Trung Quốc là “đổi cái mệnh Trời giao cho con Trời (thiên tử) – là vua nếu vua không làm tròn nhiệm vụ, giữ cái mệnh ấy, vì vậy phải giao “sứ mệnh” này cho con Trời khác”.

“Nhập cảng” từ Châu Âu với từ gốc Latinh là “Révolution” – có nghĩa ban đầu là “quay lại” – được “vào” Pháp với “Révolution”, Anh: “Revolution”, Tây Ban Nha: “Revolucion”… Nhiều từ điển phương Tây đều định nghĩa theo từ gốc Latinh: “Vòng quay, sự quay vòng, chu kỳ quay vòng”. Nghĩa thứ hai được chú thích thêm là: Biến đổi bất ngờ táo bạo trong cơ cấu kinh tế, xã hội”, “bước ngoặt cơ bản, bất ngờ”, “thay đổi từ một tình trạng chất lượng này sang một chất lượng khác”, “biểu hiện biện chứng của sự phát triển vật chất, xã hội, tư tưởng”.

“Sổ tay từ Hán Việt” (NXB Giáo dục VN, 1989) viết: “Cách mạng(1) là một biến đổi và căn bản lớn trong quan hệ xã hội, chính trị, thực hiện thông qua đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện hoặc biến đổi về căn bản. Quá trình thay đổi lớn về căn bản theo hướng tiến bộ”. “Từ điển chính trị bỏ túi” (bản tiếng Việt) của NXB Novoxti, Liên Xô, 1983, tr.6, định nghĩa: “Cách mạng”:

1. Biến chuyển sâu sắc về mặt xã hội, giải quyết những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã lớn mạnh và quan hệ sản xuất lỗi thời, làm thay đổi tận gốc rễ chế độ xã hội và được giai cấp xã hội mới tiến lên nắm chính quyền.

2. Việc chuyển từ trạng thái chất lượng này sang trạng thái chất lượng khác, những biến đổi sâu sắc trong lĩnh vực, phạm vi nào đó”.

Những định nghĩa trên, tuy ý tứ có đôi chút chưa “nhập” vào nhau chặt chẽ, đều có mặt “thay đổi, tiến bộ” nhưng ít nhiều mang màu sắc giai cấp đấu tranh của chủ nghĩa Mác ở Châu Âu (mà Châu Âu chưa phải toàn thế giới) – Nguyễn Ái Quốc viết vào năm 1924 – chứ không phải ở Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ thực tiễn Việt Nam đã đi đến một định nghĩa (một lý luận) về “cách mạng”, để từ lý luận đó trở thành lý luận cách mạng cho cách mạng Việt Nam; “không có lý luận cách mạng Việt Nam thì không có vận động cách mạng Việt Nam”.

Vậy Nguyễn Ái Quốc đã định nghĩa như thế nào về “cách mệnh”?

Trước hết, xin lưu ý rằng, những định nghĩa của Châu Âu – kể cả của Châu Á về “cách mệnh” đã “định sẵn” từ lâu trước khi có định nghĩa của Nguyễn Ái Quốc về từ này. Những định nghĩa “bác học” ấy mặc nhiên được coi như “thước ngọc”, “kinh điển”, “bất di bất dịch”. Về một góc nào đó mà xét, việc người nào đó thay đổi định nghĩa ấy – làm cho rõ hơn, sát với thực tiễn của dân tộc mình, đất nước mình để làm lợi cho cách mạng, cũng đã là một hành động cách mạng rồi.

Thứ hai, trước Nguyễn Ái Quốc đã có bao nhiêu bậc lý luận Mácxít nổi tiếng, chủ yếu ở Châu Âu, đã “lăn lộn” với cách mạng, làm nên những cuộc cách mạng ở nhiều nước… thế mà họ không “chịu” thay đổi định nghĩa này. Vậy mà, anh thanh niên Nguyễn Ái Quốc với văn hoá Việt, với truyền thống yêu nước, tham gia cách mạng mới từ năm 1908, rời nước ra đi năm 1911, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920, năm 1927 nhận định “chủ nghĩa Mác chỉ phù hợp với Châu Âu… (về đấu tranh giai cấp…) năm 1927, chưa đầy 20 năm thâm niên hoạt động, chưa đủ 10 năm là đảng viên mà đã (cả gan) đưa ra một định nghĩa mới rất Mácxít, rất Việt Nam. (Tiếc thay suốt một chặng đường dài của phong trào cộng sản công nhân thế giới và ngay cả ở Việt Nam – định nghĩa này – “lý luận” này, “tư tưởng” này chưa được quan tâm đầy đủ!).

Ngay từ trang đầu, chương đầu của “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đưa ra một định nghĩa mới – chưa hề có trong các từ điển bách khoa: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi cái tốt: Thí dụ ông Galilê (1633) là khoa học cách mệnh…, ông Stephenxoong (1800) làm ra xe lửa là cơ khí cách mệnh… ông Đácuyn (1859) là cách mệnh… ông Các Mác là kinh tế học cách mệnh”.

Khi đã trở thành Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh, năm 1952 nhắc lại lần nữa (trước đó cũng đã nhắc nhiều) rằng: “Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt. Chúng ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến để xây dựng dân chủ mới. Thực dân và phong kiến tuy bị tiêu diệt, nhưng cái nọc xấu của nó (tham ô, lãng phí, quan liêu) vẫn còn có những người… có công với cách mạng, song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng, hại đến tổ quốc, nhân dân (2)”.

Như vậy, rõ ràng là không phải ở một con người, một đảng, một nhà nước… chỉ làm cách mạng một lần là thôi, là đủ. Vì cách mạng có vận động, làm, tìm được, xây dựng nên cái “mới” rồi, cái “tốt” rồi, nhưng do nhiều nguyên nhân cái mới đang có, cái tốt hiện hành, đã trở thành cũ, xấu, đòi hỏi một cuộc cách mạng “phá cái xấu, đổi ra cái tốt, phá cái cũ đổi ra cái mới”…

Có quá nhiều bài học xác minh vững chắc định nghĩa của Nguyễn Ái Quốc về “cách mạng”. Cách mạng không phải chỉ làm một lần đánh đổ đế quốc, phong kiến là xong, mà cách mạng là phải luôn luôn đổi mới, ngay trên cái mới đã cũ, cái tốt cũ đang dần dần xấu đi…

Định nghĩa “cách mệnh” trong “Đường cách mệnh” 80 năm trước đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận cũng như về thực tiễn.

Mỗi người dân Việt Nam, dù là cán bộ cấp cao đến dân bình thường đều có thể suy ngẫm định nghĩa “cách mệnh” này của Bác để “xoá bỏ cái xấu, cái cũ” trong con người mình – nhất là trong con người cách mạng, tạo nên cái tốt, cái mới, bớt đi cỏ dại, để cho vườn hoa dân tộc – đất nước, mãi mãi đẹp tươi.

Theo Nguyễn Văn Khoan – Lao Động

—————————-

1/ Trên các số báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo không thấy từ “cách mệnh”, mà là “cách mạng”, như “cách mạng Tàu” (số 64, 10.10.1925), “Nước Nga cách mạng”; “chủ nghĩa cách mạng”; “người cách mạng”; “phong trào cách mạng bên Mỹ”; “cách mạng Pháp” (số 65, 17.10.1926).

2/ Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 6, tr.490

tuoitre.vn

Người cách mạng mẫu mực

Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên là cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải:

1. Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại.

2. Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức; tóm lại phải vị tha và không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm “TỔ QUỐC TRÊN HẾT” ở mọi nơi và mọi lúc.

3. Làm việc không mệt mỏi tùy theo phương tiện và năng lực của mình, người giàu góp tiền, người tri thức góp tri thức và thợ thuyền góp sức, không gì ngăn trở được sự nghiệp cách mạng tiến lên.

4. Xem thường cái chết, bất chấp hiểm nguy, vì cách mạng là một cuộc chiến đấu trường kỳ và gian khổ do những người vô sản tiến hành chống lại bọn áp bức họ.

5. Thuận theo hoàn cảnh về thời gian, không gian, không bỏ qua điều gì. Có thể, hoặc gây bãi khóa, và bãi công, hoặc khích động nông dân không đóng thuế và đi phu khổ sai, hoặc giết chết những tên kẻ thù gian ác, hoặc chiếm đồn với nội ứng của lính bản xứ. Người cách mạng phải luôn luôn nói và hành động một cách có ý thức.

6. Suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động, vì việc thực hiện một kế hoạch phụ thuộc và công tác chuẩn bị. Chẳng hạn: có hai chiến sĩ, một người đã chín muồi kế hoạch hành động, còn người kia thì làm ẩu, do đó người thứ nhất sẽ thành công và có ích cho Đảng mình, còn người thứ hai sẽ thất bại và làm hại cho sự nghiệp cách mạng.

7. Lãnh đạo nhân dân vì sức mạnh của họ không thể thiếu được đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Dân chúng vốn ít học, ngây thơ, khó liều mạng, dễ bị lừa và bị mua chuộc. Vậy người cách mạng mẫu mực phải giáo dục họ, sửa chữa cho họ và chiếm được sự tin cậy của dân chúng để có thể sử dụng sức mạnh của họ đúng lúc.

8. Thành lập thật nhiều những tổ chức hùng mạnh thúc đẩy mau đến thắng lợi của cách mạng.

9. Xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ và hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội là tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng.

10. Không cục bộ, bởi vì cách mạng phải vì lợi ích của dân tộc chứ không phải của một cá nhân. Vì vậy, nếu một người cách mạng tìm cách cục bộ thì tham vọng của anh ta sẽ khiến anh ta hành động vì mình chứ không vì mọi người.

11. Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình.

12. Kiên trì và nhẫn nại. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại, thì những khó khăn sẽ làm cho anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền.

HỒ CHÍ MINH
Bài viết tại Quảng Châu, ngày 18-9-1926, báo “Thanh niên”, số 61
Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, NXB Thông tấn, 2004

tuoitre.vn

Lúa và cỏ dại

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù…

Gần một tháng học tập, các cô, các chú đã thấy được cách mạng xã hội chủ nghĩa là vĩ đại. Thấy được như vậy là tiến bộ, nhưng chưa đủ. Các cô, các chú là cán bộ cần phải nhận thức sâu hơn nữa. Phải thấy càng vĩ đại bao nhiêu thì càng gian khổ bấy nhiêu.

Ví dụ: đào một con kênh càng rộng, càng sâu, càng dài thì cần phải bỏ ra nhiều công sức, càng phải vất vả khó nhọc. Đó mới chỉ là việc đào kênh, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no và hạnh phúc. Một cuộc thay đổi vĩ đại như vậy tất nhiên phải mất nhiều công sức. Mất nhiều công sức thì nhất định là phải vất vả, gian khổ. Nhưng gian khổ mỗi thời kỳ có khác nhau: hồi hoạt động bí mật gian khổ khác, trong kháng chiến gian khổ khác, bây giờ xây dựng chủ nghĩa xã hội gian khổ khác.

Gian khổ đó ai phải ra sức vượt qua trước? Đó là Đảng, là đảng viên và cán bộ. Phải nhận thức cho rõ điều ấy, chớ không phải vào Đảng để hưởng thụ, để làm quan cách mạng. Và thấy gian khổ là để vượt qua, chớ không phải là để lùi bước.

Nhiệm vụ của công an thì nhiều, nhưng nói tóm tắt là bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Nên nhớ rằng bọn Mỹ – Diệm, bọn phản động không bao giờ muốn cho chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, công an phải luôn luôn cảnh giác ngăn ngừa những hành động phá hoại của chúng để bảo vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ sự nghiệp cách mạng. Đó là nhiệm vụ nặng nề, gian khổ đồng thời cũng rất vẻ vang. Không phải được đăng báo, được nêu trên đài phát thanh mới là vẻ vang, mà bất kỳ làm công việc gì có ích cho cách mạng, cho nhân dân, cho xã hội đều là vẻ vang cả.

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là phải đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân. Trong đầu óc mọi người đều có sự đấu tranh giữa cái “thiện” và cái “ác”, hoặc nói theo cách mới là sự đấu tranh giữa tư tưởng cộng sản và tư tưởng cá nhân.

Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ.

Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra nhiều cái xấu, thiên hình vạn trạng. Ví dụ: lười biếng, hủ hóa, suy tính tiền đồ, cho rằng ngành công an gian khổ, vất vả nhiều mà ít được ai biết, ít được huân chương; đòi hỏi đãi ngộ, so bì lương thấp, lương cao; công thần địa vị: cho rằng ở trong Đảng lâu năm mà không được đề bạt bằng người vào Đảng ít năm hơn; không an tâm công tác; ở công an thì muốn sang ngành khác; có quyền hạn một chút là thiếu dân chủ, chỉ tay năm ngón; đối với nội bộ thì suy bì, ganh tị, không đoàn kết với nhau, v.v.. Còn có thể nêu ra nhiều ví dụ nữa, nhưng tóm lại cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân. Muốn thành người cách mạng, thành người cộng sản chân chính thì phải chống chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân không phải chống lại một lần mà hết được. Trong lớp này, các cô các chú kiểm thảo thành khẩn là điều tốt, tiến bộ. Nhưng không phải kiểm thảo xong là gột rửa hết chủ nghĩa cá nhân. Ví như rửa mặt thì phải rửa hàng ngày. Vì vậy kiểm thảo ở đây không phải là xong, là đủ mà còn phải tiếp tục luôn luôn phê bình, tự phê bình, kiểm thảo trong mọi việc.

Bác nói một điểm nữa là: làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì công an mới hoàn thành được tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công. Muốn được như vậy cũng phải trau dồi đạo đức cách mạng, cũng phải chống chủ nghĩa cá nhân.

Một điểm nữa là tất cả cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động phải nâng cao tinh thần trách nhiệm. Như Bác đã nói ở trên, nhiệm vụ của các cô, các chú rất nặng nề. Muốn làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang đó, phải luôn luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm. Có như vậy mới xứng đáng là người cán bộ được Đảng và nhân dân tín nhiệm.

Tóm lại:

1. Phải trau dồi đạo đức cách mạng,

2. Phải nâng cao tinh thần trách nhiệm.

Muốn vậy phải luôn luôn chống chủ nghĩa cá nhân.

HỒ CHÍ MINH
Bài nói chuyện tạo lớp chỉnh huấn khoá II của Bộ Công An, ngày 16-5-1959
Trích sách Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến bộ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960

tuoitre.vn

Tôi đi xây dựng Lăng Bác Hồ

Các đoàn khách quốc tế vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi được tham gia vào quá trình xây dựng công trình lịch sử văn hóa quan trọng vào bậc nhất của đất nước ta với tư cách là người đang giữ cương vị Cục trưởng Cục Bảo vệ quân đội và là ủy viên thường trực của Ban chỉ đạo bảo vệ và giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Công việc xây dựng Lăng Bác được bắt đầu chuẩn bị từ cuối năm 1969 đầu 1970. Lúc đầu Bộ Chính trị quyết định cố gắng làm nhanh, hoàn thành sớm để đồng bào cả nước có thể viếng Bác trong năm 1971. Nhưng quá trình thực hiện, nhiều vấn đề mới nảy sinh. Riêng công việc thiết kế phải mất hai năm mới hoàn thành, ngoài ra còn rất nhiều công việc chuẩn bị khác… Do vậy, Ban phụ trách xây dựng lăng trình kiến nghị và được Bộ Chính trị phê chuẩn: Công tác chuẩn bị thi công chuyển sang tháng 8-1972, khởi công tháng 9-1972, hoàn thành trước tháng 9-1973. Nhưng tháng 10-1972 Mỹ ném bom trở lại toàn miền Bắc, đánh phá Hà Nội, Hải Phòng… Vì thế sau khi xem xét mọi mặt, Bộ Chính trị quyết định “tạm dừng xây dựng Lăng theo tiến độ”. Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, công việc xây dựng Lăng Bác lại được tiếp tục. Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký quyết định lấy ngày 2-9-1973 là ngày khởi công, ngày 2-9-1975 là ngày hoàn thành đưa công trình vào sử dụng (trong thực tế ngày 29-8-1975 lễ khánh thành Lăng Bác đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường Ba Đình và sau đó lễ viếng Bác đầu tiên được cử hành).

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này, Cục Bảo vệ ngoài việc cử một số cán bộ tham gia trực tiếp một số công việc trong quá trình xây dựng Lăng Bác, triển khai các tuyến bảo vệ vòng ngoài, thường xuyên kiểm tra đôn đốc các cán bộ kỹ thuật, cán bộ chỉ huy giữ đúng quy chế, chế độ bảo mật, chúng tôi còn được giao nhiệm vụ tham gia cùng bộ đội công binh lắp đặt các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác an ninh, an toàn. Những công việc này vừa đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, vừa đòi hỏi trình độ nghiệp vụ tinh tường. Để hoàn thành những nhiệm vụ đặc biệt ấy, Cục Bảo vệ tổ chức thành lập ngay một đội kỹ thuật do đồng chí Trung tá Trưởng phòng Phạm Đức Vượng chỉ huy, đồng chí Phạm Quốc Anh làm Trưởng ban kỹ thuật, đồng chí Nguyễn Công Tam làm tổ trưởng tổ lắp đặt thông tin, đồng chí Nguyễn Việt Cường tổ trưởng tổ cơ khí.

Được trên tin tưởng giao cho thi công những hạng mục công trình quan trọng nhất, có quan hệ tới toàn bộ hệ thống bảo vệ kỹ thuật, bảo vệ an ninh cho công trình là một vinh dự to lớn. Vì thế chúng tôi luôn quán triệt và nhắc nhở nhau phải làm thật tốt mọi việc, hạn chế thấp nhất những sơ suất, sai sót.

Ngoài nhiệm vụ chỉ đạo anh em thực hiện các nhiệm vụ nghiệp vụ của công tác bảo vệ, tôi còn được cử sang Liên Xô tìm hiểu kinh nghiệm quản lý và điều hành các công việc ở Lăng. Cuối năm 1973, tôi được đồng chí Trần Quốc Hoàn cử làm việc với đồng chí trưởng đoàn cán bộ Ủy ban an ninh Liên Xô sang công tác tại Việt Nam để nghe bạn giới thiệu về công tác bảo vệ an ninh, trật tự an toàn ở Lăng Lê-nin và đề nghị giúp đỡ cụ thể những việc này, đặc biệt là viện trợ các phương tiện kỹ thuật bảo vệ. Cuối năm ấy, tôi lại được cử sang Liên Xô cùng đồng chí Phùng Thế Tài, Vương Quốc Mỹ. Chúng tôi đã được các bạn Liên Xô tạo mọi điều kiện thuận lợi để tìm hiểu cụ thể từng việc. Đồng chí Phùng Thế Tài và tôi được bạn bố trí làm việc với các cơ quan hữu quan để nghe giới thiệu kinh nghiệm tổ chức, quản lý, điều hành Lăng Lê-nin. Chúng tôi được tham quan trực tiếp Viện khoa học giữ gìn thi hài Lê-nin, nghe giới thiệu về tổ chức quản lý, công tác bảo đảm kỹ thuật, gác danh dự, bảo vệ an ninh, trật tự an toàn, đón tiếp khách đến viếng, xem thực tập báo động ứng phó với bất trắc xảy ra ở buồng đặt thi hài Lê-nin…

Từ kinh nghiệm học được ở bạn và thực tế của ta, Ban chỉ đạo đã xây dựng phương án sơ bộ về tổ chức quản lý vận hành Lăng. Ban chỉ đạo giao cho tôi nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo mọi công tác chuẩn bị. Tình cảm của quân và dân ta đối với Bác Hồ thì ai cũng sâu đậm, nhiệm vụ phục vụ cho việc xây dựng và điều hành Lăng thì ai cũng nhiệt tình. Nhưng khi động đến những công việc cụ thể thì không phải lúc nào cũng thông đồng bén giọt. Những vướng mắc về cơ chế, quy chế, sự chồng chéo, những chỉ thị mệnh lệnh, quy định khiến chúng tôi rất vất vả trong giai đoạn chuẩn bị này. Tôi nhớ mãi lời động viên của đồng chí Nguyễn Lương Bằng từ những ngày đầu khi nhận nhiệm vụ: “Chúng ta chưa ai từng được học để làm những công việc này, đành phải vừa làm vừa học thôi”, nay ngẫm lại thật chí lý. Vừa khắc phục khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ chúng tôi vừa động viên nhau: Chúng ta đã vượt qua được những khó khăn trong những năm tháng qua để bảo vệ giữ gìn thi hài Bác, thì những trở ngại hôm nay có sá gì. Chỉ nghĩ như vậy, chúng tôi lại hăng hái lao vào công việc để sớm đến ngày được đón Bác về Lăng.

NGUYỄN NGỌC ghi

qdnd.vn

Các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nước

Theo thống kê, ở Việt Nam hiện có hơn 300 công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh, với 6 loại hình chủ yếu: Đền thờ; Nhà tưởng niệm; Đài kỷ niệm và bia biển lưu niệm; Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Các công trình mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh; Ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại các đình, chùa, đền, miếu, và gia đình.

* Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Đền thờ xây dựng năm 1970 tại xã Long Đức, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
2. Đền thờ Bác Hồ xây dựng năm 1973 tại Trí Phải Tây, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
3. Đền thờ Bác Hồ tại Lương Tâm, huyện Long Mỹ, Cần Thơ.
4. Đền thờ Bác Hồ tại Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
5. Đền thờ Bác Hồ tại Thôn Cái Tắt, xã An Đồng, huyện An Hải, Hải Phòng, khánh thành ngày 2/9/1993.
6. Đền thờ Bác Hồ tại xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, Hà Nội, khánh thành ngày 19/5/1995.

* Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng năm 1970 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ an.
2. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng năm 1983 ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
3. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng năm 1990 ở phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
4. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên (Công trình của Thành phố Hà Nội tặng nhân dân tỉnh Thái Nguyên tháng 5/2005).

* Đài kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Bến Đò (cũ) thôn Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bước chân đầu tiên về Hà Nội ngày 24/8/1945. (Xây dựng năm 1990).
2. Khu rừng thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với cán bộ chủ chốt, thân hào, thân sĩ trong tỉnh, ngày 22/2/1947. (Xây dựng năm 1990).
3. Phủ đường Quốc Oai (cụ) nay là Trụ sở UBND huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì các phiên họp Hội đồng Chính phủ đêm 20 và 21/1/1947 (Xây dựng năm 1990).
4. Đồi Tỉnh Keo, thôn Nà Lọm, xã Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Bắc Thái – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc các năm 1948, 1952, 1953.
5. Đình Thượng Đồng, xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà có phong trào thi đua sản xuất khá nhất tỉnh, được Bác Hồ về thăm ngày 13/6/1958.
6. Xã Yên Trường, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá – Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với đại biểu cán bộ và nhân dân tỉnh, ngày 11/12/1961.
7. Thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội, nhiều năm liền hoàn thành vượt mức nghĩa vụ đóng thuế lương thực đã được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và chúc tết Quý Mão(1963).
8. Xã Đình Dù, huyện Văn Lâm (nay là Mỹ Văn), tỉnh Hải Hưng, có phòng trào chống hạn khá, được Bác về thăm ngày 16/10/1958.
9. Xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động, tỉnh Hải Hưng, có phong trào khá về nhiều mặt, nhất là nhà trẻ và mẫu giáo, được Bác về thăm ngày 16/9/1961.
10. Xã Hiệp Lực, huyện Ninh Quang, tỉnh Hải Hưng, có phong trào thuỷ lợi xuất sắc được bác về thăm ngày 26/7/1962.

* Bia biển lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Các điểm trong khu di tích Pác Bó:
– Hang Cống Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng – Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc năm 1941.
– Bộ bàn ghế đá – Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi làm việc trong những ngày nắng ráo trong thời gian Người ở hang Cốc Bó năm 1941.
– Bếp ở khu vực đầu nguồn Pác Bó trong thời gian Người ở hang Cốc Bó.
– Nơi Bác ngồi câu cá tại khu vực đầu nguồn Pác Bó trong thời gian Người ở hang Cốc Bó.
– Khóm trúc Bác trồng năm 1961 khi Người về thăm lại Pác Bó.
– Nơi Bác ngồi làm thơ ở khu vực đầu nguồn Pác Bó trong chuyến Người thăm lại Cao Bằng, năm 1961.
– Nhà Cụ Dương Vân Đình, nơi Bác thường lui tới thăm hỏi gia đình và tuyên truyền cách mạng cho quần chúng.
– Lán Khuổi Nậm – Chủ tịch Hồ Chí Minh ở, làm việc và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, tháng 5/1941.
– Bếp nấu ăn cho đại biểu dự Hội nghị Trung ương Đảng lầy thứ 8 tại Khuổi Nậm, tháng 5/1941.
-Nơi Bác thường tập thể dục buổi sáng trong thời gian Người ở Khuổi Nậm năm 1942 và một thời gian của năm 1945.
– Biển chỉ dẫn đường Bác đi lại ở khu vực đầu nguồn Pác Bó.
– Núi Các Mác, suối Lênin, ngọn núi và dòng suối ở Pác Bó được Bác đặt tên.
– Hang Diêm Tiêu, nơi Bác cất giấu tài liệu khi ở Pác Bó.
– Hang Sĩ Điếng – Bác dùng làm hòm thư lưu trong thời gian ở Pác Bó.
– Khu ruộng Nà Chang, năm 1961, Bác nói chuyện với đồng bào các dân tộc Pác bó.
2. Khuôn Tát, Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Bắc Thái, Bác ở và làm việc từ 20 đến 28/11/1947; từ 11/1 đến 7/3/1948; từ 5/4 đến 1/5/1948.
3. Thôn Cầu Thành, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Thái Nguyên, nơi Bác đến thăm nông dân hợp tác xã.
4. Xóm Thượng Hải, xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hưng, Bác về thăm ngày 31/5/1957.
5. Nhà máy công cụ số 1, thuộc Khu công nghiệp Thượng Đình, quận Đống Đa, Hà Nội, nơi Bác đến thăm nhiều lần vào các năm 1958, 1960,1963.
6. Nhà A2, phòng 23, Trường Nguyễn Ái Quốc, nay là Học viện Chính trị Quốc gia, huyện Từ Liêm, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong thời gian Đại hội Đảng lần thứ III, từ 22/8 đến 10/9/1960.
7. Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Xuân Dương, Hà Tây, nơi Bác ở và làm việc từ 19/12/1946 đến 13/1/1947.
8. Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Vạn Phúc, thị xã Hà Đông, Bác ở và làm việc từ 7 đến 19/12/1946 và viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
9. Ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Hà Nội, nơi Bác Hồ ở, làm việc cuối tháng 8/1945 và viết Tuyên ngôn độc lập.
10. Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, Hà Tây, Bác ở và làm việc từ 31/1 đến 2/2/1947.
11. Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, Bác ở và làm việc từ 3/2 đến 2/3/1847 và về thăm 19/5/1957.
12. Chùa Một Mái, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, Bác đã lên thăm trong thời gian Người ở và làm việc tại Nhà tổ, tháng 2/1947.
13. Khu lưu niệm Bác Hồ tại thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà tĩnh (cơ quan Tỉnh uỷ cũ), Bác về thăm ngày 15/6/1957.
14. Nhà số 5 Châu Văn Liêm, phường 3, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, nới Bác ở một thời gian trước khi ra đi tìm đường cứu nước.
15. Ngôi nhà ở thôn Dương Nỗ, huyện phú Vang (nay là xã Phú Dương), huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên Huế, Bác cùng cha và anh sống trong khoảng thời gian 1898-1901.
16. Địa điểm Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế ở Huế.
17. Lớp học ở trường Dục Thanh, phường Đức nghĩa, thị xã Phan Thiết, thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học năm 1910.
18. Nhà số 8 phố Vua Lê – Hà Nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946

* Một số tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ngoài trời *

1. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ninh Kiều, thành phố Cần thơ, tỉnh Cần Thơ.
2. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thị xã Sa Đéc, tỉnh đồng Tháp.
3. Nhóm tượng Bác Hồ với các cháu thiếu nhi ở Quảng trường UBND thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nhóm tượng Bác Hồ với thiếu nhi ở trước Bảo tàng Hồ Chí Minh- Chi nhánh Bình Thuận.
5. Nhóm tượng Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tại thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc.
6. Tượng đứng toàn thân Nguyễn Tất Thành tại trường Quốc học Huế, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
7. Nhóm tượng đứng Bác Hồ với thanh thiếu niên ở Công viên Nguyễn Tất Thành, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
8. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Vinh, Nghệ An.
9. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh.
10. Nhóm tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang tại thị xã Hà Giang.

* Các công trình, công việc, địa danh mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Đường Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh.
2. Đường Hồ Chí Minh trên biển.
3. Thành phố Hồ Chí Minh
4. Chiến dịch Hồ Chí Minh
5. Đường Nguyễn Tất Thành, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.
7. Trung tâm thanh thiếu nhi Nguyễn Tất Thành, thành phố Vinh, Nghệ An.
8. Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (ở chiến khu Việt Bắc và Hà Nội), nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
9. Trường Nguyễn Tất Thành, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
10. Đồi cây Bác Hồ ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Tây.
11. Đồng bào dân tộc Vân Kiều, Thừa Thiên Huế mang họ Hồ.
12.Danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”.
13. Liên đoàn “tiếng hát từ Làng Sen” được tổ chức định kỳ hàng năm.
14. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
15. Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

* Một số chùa có thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Chùa Hà Vi, còn gọi là Hồng Phúc Tự ở phường Trần Nguyên Hãn, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
2. Chùa làng Thành ở xã Thọ Xương, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
3. Chùa Phương Lan ở xã Phương Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
4. Chùa Xuân Hội ở xã Lạc Vệ, tỉnh Bắc Giang.
5. Chùa Phật Tích ở xã Phật Tích, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
6. Chùa Vĩnh Nghiêm ở xã Trí Vân, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh.
7. Chùa làng Đông ở xã Dĩnh Trí, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
8. Chùa Nhã Nam còn gọi là Nam Thiên Tự ở xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
9. Chùa Thái Đào ở xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
10. Chùa Yên Mẫu ở xã Kinh Bắc, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
11. Chùa Phố ở thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
12. Chùa Vân Cốc ở xã Vân Chung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh.
13. Chùa Bà Đá ở phố Nhà thờ lớn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

* Một số đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Đền Thiên Hậu ở thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
2. Đền thờ Đức Thánh Trần ở thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
3. Đền Làng Trung ở xã Cao Viên, huyện Thanh Oai, Hà Tây.
4. Đền thờ Đức Thánh Trần ở 13 Đào Duy Từ, Hà Nội.
5. Đền thờ Mẫu (Láng Hạ) Ứng Thiên, Đống Đa, Hà Nội

Bảo tàng Hồ Chí Minh

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ cuối)

Nơi cướp chính quyền đầu tiên ở Nam bộ

Đồng chí Lê Văn Tưởng (bìa phải) - trưởng ban tác chiến trung đoàn 120, cùng các đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn tại Bến Kè năm 1948

TT – Theo các tư liệu lịch sử ghi nhận, thời điểm Cách mạng Tháng Tám thành công ở các vùng trong nước có khác nhau. Ở miền Bắc (Hà Nội) ngày 19-8, miền Trung (Huế) 23-8 và Nam bộ (Sài Gòn) 25-8-1945.

Thế nhưng trước đó có một địa danh ở Nam bộ đã tổ chức cướp chính quyền thành công vào đêm 22 rạng sáng 23-8-1945. Người chỉ huy trận đánh đêm ấy đang ở tuổi 26…

Thí điểm khởi nghĩa ở Nam bộ

Ngay trong đêm 22-8-1945, người dân tỉnh Tân An (ngày nay là tỉnh Long An) hầu như không ngủ được. Tiếng trống khởi nghĩa vang từ xã này sang xã khác, quận này sang quận khác, tin cướp chính quyền thắng lợi tới tấp bay về, càng về khuya càng dồn dập liên hồi.

Tờ mờ sáng 23-8-1945, trên các nẻo đường đổ về thị xã Tân An, lớp lớp người xếp thành hàng tư với rừng tầm vông vạt nhọn, rừng cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm giương cao rầm rập tiến vào sân banh thị xã. Đoàn người vừa đi vừa hô to các khẩu hiệu: VN độc lập muôn năm! Chính phủ VN muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm… Trên lễ đài, đại diện Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Tân An làm lễ ra mắt đồng bào, chủ tịch Nguyễn Văn Trọng tuyên bố: Chính quyền Tân An đã về tay nhân dân!

Trước đó, Xứ ủy Nam bộ đã mở hội nghị tại Chợ Đệm phân tích tình hình của Nam bộ lúc ấy là rất phức tạp. Nhiều ý kiến đề xuất: đêm 22-8 Sài Gòn sẽ tiến hành khởi nghĩa để sáng sớm 23-8 huy động lực lượng chính trị vũ trang khoảng 1 triệu người xuống đường ủng hộ Ủy ban hành chính lâm thời Nam bộ và tuyên bố tổng khởi nghĩa thành công. Sau đó các tỉnh khác ở Nam bộ sẽ theo hình mẫu của Sài Gòn mà tiến hành khởi nghĩa.

Nhưng có ý kiến cho rằng quân Nhật ở Sài Gòn rất đông, ngay cả lực lượng đồng minh Anh – Ấn cũng buộc quân Nhật cùng chống cách mạng, nếu Nhật can thiệp thì khởi nghĩa ở Sài Gòn dễ thất bại… Cuộc tranh cãi khá quyết liệt. Cuối cùng, đồng chí Trần Văn Giàu đưa ra một giải pháp: giao cho Tân An – nằm ngay bên cạnh cửa ngõ vào Sài Gòn – khởi nghĩa thí điểm, từ đó rút kinh nghiệm để “bấm nút” cho Sài Gòn và các tỉnh tiến hành khởi nghĩa. Ý kiến này được đa số tán thành.

Tân An được chọn làm thí điểm khởi nghĩa cho cả Nam bộ và xứ ủy đã quyết định ngày khởi nghĩa là 23-8-1945…

Ngay khi biết Tân An giành được chính quyền, các tỉnh lân cận như Gò Công, Bến Tre, Cần Thơ… đã liên tiếp gọi điện hỏi kinh nghiệm.

Riêng Mỹ Tho còn yêu cầu được Tân An hỗ trợ trực tiếp (Theo Mùa thu rồi, ngày hăm ba, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội – 1995).

Giọng trầm ấm, ông Hai Lê (Lê Văn Tưởng) kể lại: “Lúc đó tôi 26 tuổi, đang tham gia sinh hoạt tại chi bộ làng Thạnh Lợi, quận Thủ Thừa, tỉnh Tân An. Ngày 13-8-1945, Tỉnh ủy Tân An tổ chức hội nghị mở rộng tại nhà ông hội đồng Huấn ở xã Hương Thọ Phú. Tại cuộc họp này, các đồng chí trong Tỉnh ủy Tân An thống nhất rút tôi về làm thường vụ phụ trách quân sự quận Thủ Thừa để chuẩn bị lực lượng cướp chính quyền.

Tôi nhanh chóng quay về làng và từ giã các đồng chí trong chi bộ Thạnh Lợi. Các anh ở làng chia tay để tôi đi làm chuyện đại sự mà còn góp mỗi người vài đồng, được tất cả 13 đồng làm lộ phí và dặn dò ghê lắm. Chia tay gia đình, xóm làng, tôi chuyển ra quận công tác…”.

Ban đầu Hai Lê rất lo, mình có quá trẻ, lại ít kinh nghiệm quân sự, được giao đánh trận đầu mà thất bại thì tội lớn lắm!

Sau khi bàn bạc với Huyện ủy Thủ Thừa, Hai Lê cho tổ chức ngay lực lượng chiến đấu là những thanh niên tiền phong trong các thôn xóm tập trung lại tập luyện võ thuật, luyện kiếm, phóng phi tiêu, luyện dao găm, tự tạo vũ khí thô sơ, tập đội hình chiến đấu. Giặc thì súng ống rần rần, còn đội hình chiến đấu của Hai Lê luyện tập như trong phim kiếm hiệp vậy!…

Anh nông dân đối mặt với quận trưởng!

Đưa cho chúng tôi xem quyển hồi ký của mình có tựa đề Con đường tôi đã chọn (NXB Quân Đội Nhân Dân), trung tướng Lê Văn Tưởng (Hai Lê) nói: “Nó có ý nghĩa gắn liền với tuổi 20 của tôi, cái tuổi mà người ta phải quyết định cho mình một con đường. Và không chỉ tôi, cả thế hệ thanh niên vào thời đó đã chọn con đường đi theo cách mạng...”.

Tới chiều 22-8, các xã quanh quận Thủ Thừa đồng loạt đánh mõ, đánh trống báo động vang trời theo kế hoạch của Ủy ban khởi nghĩa. Trong lúc địch đang còn hoang mang chưa biết việc gì xảy ra, tiếng trống tiếng mõ xuất phát từ đâu thì Hai Lê đã ra lệnh cho lực lượng quân sự do anh chỉ huy bắt đầu “hành quân”.

Hai Lê mặc đồ kaki vàng, mang cây súng rulô cùng tốp chiến đấu xông thẳng tới dinh quận. Tới cổng dinh quận, đội hình khựng lại vì lính khố xanh cùng súng ống dàn đầy, nghe tiếng mõ tiếng trống chúng còn hoang mang hơn và tư thế luôn sẵn sàng nổ súng. Chỉ với một khẩu súng ngắn của Hai Lê thì làm sao địch lại được bọn lính trang bị toàn súng dài của dinh quận – mục tiêu số 1 cho cuộc cướp chính quyền?

Nhưng Hai Lê đã có cách riêng của mình: anh bước thẳng vào dinh quận. Bọn lính canh thấy anh mặc đồ kaki nai nịt gọn gàng, bên hông kè kè súng lục, không hiểu anh thuộc “sắc lính” gì nên im re cho vào, nhưng súng vẫn chĩa thẳng vào anh. Anh bước vào gặp quận Thọ.

Trước mặt quan phụ mẫu một thời làm mưa làm gió cả vùng Thủ Thừa, lính canh súng ống còn đầy, vậy mà Hai Lê bình thản tuyên bố xanh rờn: “Ông quận Thọ à, hôm nay cách mạng về cướp chính quyền. Kể từ 8g tối nay, chúng tôi với đầy đủ binh lực, súng ống hùng mạnh đã bao vây toàn khu vực. Nếu muốn an toàn, ông quận phải ra lệnh cho binh lính giao nộp vũ khí, còn ông phải giao ngay cho cách mạng chìa khóa tủ sắt tiền công nho và các tủ giấy tờ khác nữa…”.

Quận Thọ há hốc miệng, người chỉ huy cách mạng này sao khí phách quá, chống lại chắc chỉ có chết! Quận Thọ tự nhiên thấy mình “nhỏ” hơn anh thanh niên tuổi 26 nên “dạ… dạ…” lí nhí và bàn giao dinh quận ngay. Mãi sau này nhiều người hỏi: “Lỡ quan quận làm cương kêu lính vào bắt thì sao?”. Hai Lê cười: “Thì đánh luôn chứ sao, đội tự vệ đã dàn quân cả rồi, giáo mác, kiếm, tầm vông cũng đánh được mà!”.

Chiếm dinh quận thắng lợi, Hai Lê cùng lực lượng dân quân tự vệ, thanh niên địa phương được thế xông thẳng vào các đồn Thạnh Lợi, Bình Hòa, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Quí… để tịch thu súng đạn. Tổng số súng thu được tại các đồn lên đến trên 40 cây súng các loại. Số súng này được đưa về quận để thành lập một đại đội dân quân cách mạng đầu tiên của quận.

Được tin Hai Lê đã tổ chức chiếm dinh quận và giải giới vũ khí lính canh thành công mà không tốn một viên đạn, hàng ngàn nông dân từ các xã Mỹ Lạc, Bình Đức, Mỹ An Phú, Bình Phong Thạnh… rùng rùng kéo về khu vực sân banh để mittinh và nghe cách mạng nói chuyện. Tại buổi mittinh, Hai Lê thay mặt ban khởi nghĩa dõng dạc thông báo với bà con: Việt Minh đã lên nắm chính quyền!… Cả rừng người tung hô như muốn làm vỡ tung cả không gian một làng quê…

VŨ BÌNH – THẾ ANH

—————-

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 1: Chung một bóng cờ…
– Kỳ 2: Lên đường!
– Kỳ 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!
– Kỳ 4: Mỗi số phận chứa một phần lịch sử
– Kỳ 5: “Chết tự do hơn sống nô lệ!”

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ 5)

“Chết tự do hơn sống nô lệ!”

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng bên kệ sách gia đình

TT – Ông vẫn còn tráng kiện lắm, giọng nói sang sảng đặc chất Nam bộ cho dù đã vượt qua cái ngưỡng tuổi 80: “Làm sao quên được những ngày ấy, những người nông dân, công nhân đồn điền cao su, học sinh trường làng… của cái xã An Tịnh nhỏ bé ấy cứ ngất ngây trước hai chữ: tự do!

Ngọn cờ hồng trên chiến lũy!

Đời ông, đời cha mình có bao giờ được nghe hai chữ này đâu! Tôi và một số anh như Nguyễn Thanh Tùng, Huỳnh Duy Ngươn, Nguyễn Văn Sữa, Trương Tùng Quân, Trần Bá Liêm, Trần Bá Bên, Tô Văn Ri… tham gia đoàn thanh niên tiền phong xã và cùng với các đoàn thể trong ủy ban khởi nghĩa xã chuẩn bị cướp chính quyền…”. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, nguyên phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân VN, nhớ lại tuổi 20 của mình.

Ngày 25-8-1945, người dân An Tịnh cũng như huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và cả miền Nam cùng đứng lên cướp chính quyền. Những đoàn người cuồn cuộn như sóng biển. Vị tướng già đã đi qua trọn vẹn hai cuộc kháng chiến bồi hồi nhớ lại:

“Chúng tôi cùng xuống đường và hô vang khẩu hiệu: Việt Minh muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm! Dòng máu trẻ cứ rần rật chảy trong người. Hàng ngàn, hàng vạn con người, những đội hình đội ngũ chỉnh tề, trên tay chỉ với tầm vông vạt nhọn mà tinh thần đánh giặc vô cùng hăng hái, tưởng như quân Pháp, quân Nhật xuất hiện với tàu đồng, xe tăng, đại bác… cũng không thể ngăn nổi cơn sóng trào này. Nhìn bóng cờ đỏ sao vàng bay phần phật trong gió, chúng tôi đã thấy được bình minh của tự do…”.

Quân Pháp quay trở lại miền Nam! Để đối phó, cuối tháng 9 -1945 xã An Tịnh đã tuyển chọn một tiểu đội do đồng chí Nguyễn Ngọc Tươi chỉ huy chi viện cho mặt trận Tham Lương. Vừa chuẩn bị lực lượng, khí giới, công sự sẵn sàng cho cuộc chiến, vừa xây dựng phòng tuyến, chiến lũy địa đầu của tỉnh Tây Ninh tại khu vực Suối Sâu, các lực lượng thanh niên Gia Lộc, Lộc Hưng, Trảng Bàng… được khẩn cấp điều động ra chiến lũy, chiến tranh là không thể tránh khỏi!

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể: “Sáng 8-11-1945, hàng trăm xe cơ giới có cả xe tăng và xe bọc thép do liên quân Anh – Ấn chỉ huy, theo sau là lính lê dương Pháp bất ngờ đánh úp Tây Ninh và vùng giáp giới Campuchia. Chúng tôi đều xung phong ra chiến lũy Suối Sâu chỉ vì một lời nguyện thề với lòng mình: Thà hi sinh trên chiến lũy dưới ngọn cờ hồng tự do chứ không thể trở về quê nhà tiếp tục lầm lũi kiếp nô lệ! Lúc đó trên chiến lũy súng thì ít mà giáo mác, mã tấu, tầm vông thì nhiều, nhưng ai cũng hừng hực ý chí xả thân…”.

Lời thề Rừng Rong

Đài tưởng niệm những chiến sĩ Rừng Rong tại Trảng Bàng, Tây Ninh

Phòng tuyến địa đầu vỡ nhanh chóng, tầm vông vạt nhọn sao có thể đối đầu với xe tăng, đại bác! Để bảo toàn lực lượng và cũng là để chuẩn bị cho một cuộc trường kỳ kháng chiến, các chiến sĩ trên chiến lũy Suối Sâu buộc phải rút về Bàu Mây, Rừng Rong (An Tịnh) chỉnh đốn lực lượng và liên lạc với các nơi khác như Trâm Vang (Gia Bình), Cầu Quan (An Hòa)… cũng đã rút lui để hợp lực cho sự ra đời của “Đội tự vệ chiến đấu huyện Trảng Bàng” do Trần Văn Chói chỉ huy, với 27 nam nữ chiến sĩ được chia thành nhiều nhóm do Mười Tùng, Sáu Hung, Út Bưng, Hai Ngươn… làm trưởng nhóm.

Các nhóm hoạt động dựa vào dân để đưa tin, tiếp tế, nuôi dưỡng, cung cấp vũ khí. Đội tự vệ chiến đấu chọn Rừng Rong làm căn cứ để tiến hành chiến tranh du kích. “Gian khổ lắm, những ngày cuối năm 1945 theo chân quân Pháp chiếm đóng là bọn tề gian tràn về cướp bóc, hãm hiếp bà con mình ngay giữa ban ngày. Diệt tề là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của đội, chúng tôi một mặt dựa vào dân, một mặt tìm mọi cách tiếp cận xóm làng để tổ chức trừ gian, giải tán hội tề, kết hợp tuyên truyền vận động bà con tham gia cách mạng… Sự tàn ác của giặc ban đầu làm bà con nao núng lắm, nhưng dần dần bà con đã lấy lại niềm tin với lực lượng kháng chiến chúng tôi…” – vị tướng già nhớ lại những ngày ấy.

Hồi ức của 60 năm trước sống dậy trong ông: “Hình ảnh về bóng cờ đỏ sao vàng bay trong gió của cái ngày cướp chính quyền, bóng cờ ám khói trên chiến lũy với chúng tôi không thể nào quên. Cuộc kháng chiến sẽ con rất gian khổ và lâu dài, làm sao để dân tin là chúng tôi – những người cách mạng – sẽ chiến thắng.

Để biểu thị lòng quyết tâm của đội tự vệ chiến đấu với lý tưởng cho nền độc lập và để người dân cũng có được niềm tin ấy, đêm 30 Tết Ất Dậu (ngày 1-2-1946), tại Rừng Rong, chúng tôi tổ chức ăn thề. 27 nam nữ chiến sĩ của đội tự vệ chiến đấu Trảng Bàng đều ở độ tuổi 20 và có thành tích xuất sắc nhất trong chiến đấu từ các mặt trận trong huyện trở về, quần áo chỉnh tề, chỉ với một vài khẩu súng trên vai, đội ngũ đứng nghiêm trang dưới ánh đuốc bập bùng trong đêm.

Sau khi đồng chí chỉ huy đội Trần Văn Chói đọc lời thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập của đất nước, cả 27 nam nữ chiến sĩ chúng tôi đều hô vang: “Độc lập hay là chết!… Chết tự do hơn sống nô lệ! Ai phản bội sẽ chịu xử tử…”.

Tất cả họ – những người con trai, con gái tuổi đôi mươi – đã giữ vững lời thề chết cho độc lập, chết cho tự do… Trong một lần tập kích, anh Nguyễn Văn Hung đã bị trúng đạn và bị bắt, quân Pháp tra tấn rất dã man nhưng anh vẫn không hé răng khai một lời về nơi đóng quân của đội tự vệ chiến đấu.

Còn chị Trần Thị Đường bị giặc bắt, bị chúng dùng dây điện quấn quanh hai bàn tay rồi ghim điện tra tấn suốt ngày đêm nhưng người con gái tuổi mới đôi mươi này có một dũng khí mạnh hơn đòn tra tấn, đó là lời thề trong đêm Rừng Rong. Nhiều chiến sĩ đã chọn cái chết trước mũi súng quân thù để bảo vệ khí tiết như chị Trần Thị Đẹp. Chỉ riêng trong năm 1946 ác liệt đó, đã có hơn phân nửa những người tham gia hội thề Rừng Rong vĩnh viễn nằm xuống!

Ông Nguyễn Thới Bưng cho đến bây giờ vẫn còn nhớ những cái tên, những gương mặt đã in đậm trong ký ức: “Người ta hay nói thanh niên bồng bột, nhưng với chúng tôi thời ấy cũng mới chỉ 19, 20 nhưng chín chắn lắm. Trước vận nước lâm nguy không thể có chuyện bộc phát sôi nổi. Không ai bội ước với lời thề. Đa số họ hy sinh rất sớm, nằm lại chiến trường ở tuổi 20, chưa thấy được độc lập, tự do. Nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục đi trên con đường đó đến cùng.

Sau ngày miền Nam giải phóng, chúng tôi mừng rơi nước mắt, trong số 27 người ngày ấy có đến bốn người được phong quân hàm cấp tướng, hai sư đoàn trưởng, hai ủy viên trung ương, hai tư lệnh quân khu… Mà không chỉ vậy, xã An Tịnh chúng tôi đã hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và có đến 1.200 liệt sĩ, 54 bà mẹ VN anh hùng, năm cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang…

Có một địa danh ở Nam bộ cướp chính quyền thành công vào đêm 22-8-1945, trước cả Sài Gòn và tạo tiền đề cho nhiều tỉnh khu vực miền Tây Nam bộ đứng lên khởi nghĩa. Người chỉ huy sự kiện này là chàng trai 26 tuổi…

VŨ BÌNH – THẾ ANH

———

* Kỳ cuối: Nơi cướp chính quyền đầu tiên ở Nam bộ

—————-

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 1: Chung một bóng cờ…
– Kỳ 2: Lên đường!
– Kỳ 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!
– Kỳ 4: Mỗi số phận chứa một phần lịch sử

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho ngày độc lập (Kỳ 4)

Mỗi số phận chứa một phần lịch sử

Ông Lê Đình Bân (bìa phải) trong ngày chiến thắng Điện Biên Phủ

TT – Qua những tư liệu, nhiều người vẫn nghĩ lá cờ quẻ ly của chính quyền Nam triều trên kỳ đài trước Ngọ Môn được hạ xuống và thay bằng lá cờ đỏ sao vàng cách mạng diễn ra vào ngày Huế tổng khởi nghĩa thắng lợi 23-8-1945.

Thực tế lá cờ đỏ sao vàng đã được treo lên kỳ đài Huế trước đó hai ngày: 21-8-1945 và một trong hai người dũng cảm ấy là con quan tổng đốc…

Con quan tổng đốc treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài!

Sở dĩ có chuyện treo cờ sớm trước ngày Huế khởi nghĩa như thế vì ngay sau khi nghe tin Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công vào ngày 19-8, nhân dân các huyện Phong Điền, Phú Lộc… của tỉnh Thừa Thiên cũng đã nổi dậy giành được chính quyền và hai chàng trai của Trường Thanh niên tiền tuyến (TNTT) được lệnh hạ cờ quẻ ly, treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài Huế.

Lá cờ đỏ sao vàng ấy rộng bằng hai gian nhà, trải ra như tấm thảm lớn được cuộn tròn lại và gác lên hai chiếc xe đạp của hai chàng thanh niên đẹp trai trong quân phục chỉnh tề. “Calô hai sừng đội đầu, quần kaki kiểu kỵ mã vàng óng, đôi ghệt cao cổ của ngự lâm quân. Tất cả binh lực là khẩu barillet to bằng bàn tay và sáu viên đạn…” – ông Đặng Văn Việt, con quan tổng đốc Nghệ An (sau này là trung đoàn trưởng trung đoàn 174, mệnh danh là “Đệ tứ quốc lộ đại vương” vì chuyên đánh quân Pháp trên trục đường số 4 Cao – Bắc – Lạng), học viên Trường TNTT, nhớ lại.

Cả hai thanh niên đẩy hai chiếc xe đạp chở lá cờ tiến về phía kỳ đài. Tiểu đội lính dõng gác kỳ đài và làm nhiệm vụ đốt pháo lệnh báo giờ răm rắp làm theo lệnh: hạ cờ Nam triều xuống, buộc cờ vào dây, qua ròng rọc đưa cờ đỏ sao vàng lên cao. Lúc ấy là 2g chiều 21-8, ông Việt còn nhớ có một chiếc máy bay hai thân cánh bạc sơn quốc kỳ Mỹ lượn ba vòng quanh cột cờ nghiêng cánh như vẫy chào rồi bay hút ra phía biển…

Lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh kỳ đài mang một ý nghĩa trọng đại báo hiệu sự chấm dứt của một vương triều trị vì 143 năm và hàng ngàn năm của chế độ phong kiến. đất nước sang trang sử mới của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Mấy hôm sau, vua Bảo Đại làm lễ thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện chính phủ trung ương từ Hà Nội vào, nhà vua tuyên bố “thà làm dân một nước tự do hơn làm vua một nước nô lệ”, lại có nghi thức hạ cờ vàng và treo cờ đỏ sao vàng chính thức lên đỉnh cột.

Trong buổi chiều ấy, một viên lãnh binh khố vàng (biết ông Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương là người hạ cờ hôm trước) đến cạnh ông Việt và bảo: “Hôm các anh đến hạ cờ nhà vua, cả đại đội khố vàng chúng tôi nằm phục kích dọc cổng thành Ngọ Môn với hơn 100 tay súng chĩa về các anh. Tôi vào xin ý kiến nhà vua, ngài bảo: “Chớ, chớ! Việt Minh đấy, chúng mi nổ súng thì tao chết trước đấy”. May quá, lính chỉ nằm im cho đến khi các anh đi khuất”.

Trước ngày diễn ra lễ thoái vị của nhà vua, ngày 29-8 một toán lính Pháp đã nhảy dù xuống Hiền Sĩ (cách Huế chừng 20km về phía tây bắc) dưới danh nghĩa phái bộ quân đồng minh nhưng thật ra để móc nối liên lạc thực hiện âm mưu trở lại tái chiếm VN. Ông Phan Tử Lăng, giám đốc Trường TNTT, được phái đi gặp toán nhảy dù này và trở về báo cáo tình hình với Ủy ban hành chính kháng chiến.

Trong lúc ấy, anh em của Trường TNTT đã nhận định: đây là bọn thực dân đội lốt đồng minh để quay lại xâm lược. Không đợi lệnh của ông Lăng, anh em chủ động đi… bắt sống toán nhảy dù này. Ông Nguyễn Thế Lương, người đã cùng ông Việt treo cờ hôm trước nay được cử làm “chỉ huy” đi bắt lính dù Pháp. Thành viên của nhóm “đi bắt Tây” này còn có Nguyễn Trung Lập, Đặng Văn Việt, Hoàng Xuân Bình, Lê Thiệu Huy, Đặng Văn Châu, Hà Đổng, Phan Văn Diên…

Cả toán đi bắt Tây ra phố mượn một chiếc ôtô chạy than, đến gần Hiền Sĩ xe không qua cầu được, anh em nhảy xuống đi bộ, “đi hàng hai bước đều, vừa đi vừa hát hành khúc, súng mang chéo sau lưng. Anh Huy cầm cờ đỏ sao vàng đi trước…”. Cả toán Tây nhảy dù bị bắt gọn bởi mưu mẹo của nhóm anh em TNTT, khi ông Phan Tử Lăng quay lại truyền lệnh của ủy ban bắt giữ toán Tây này thì mọi việc đã được anh em giải quyết xong!

Nhân dân Thừa Thiên - Huế tham gia giành chính quyền và kéo vào cửa Thượng Tứ trong ngày 23-8-1945, ngày cách mạng thắng lợi tại Huế - Ảnh tư liệu

Lên đường Nam tiến: một cây súng trường và 16 viên đạn!

Cách mạng thành công, Trường TNTT được đổi tên thành Trường Võ bị Thuận Hóa, dời địa điểm sang Trường Quốc học (và sau đó dời thêm vài địa điểm khác) nhưng mọi người vẫn quen tên gọi cũ là TNTT.

Tháng 9-1945 là một mùa khai trường kỳ lạ ở Huế. Các lớp học vắng lặng, học sinh chuẩn bị thi thành chung và tú tài đều bỏ thi, học sinh chuyên khoa bỏ lớp, tất cả nô nức ghi tên gia nhập giải phóng quân (GPQ) Huế. Trường Võ bị Thuận Hóa lại là nơi tiếp nhận, tập hợp các GPQ. Những học viên của trường nay được công nhận là sĩ quan cách mạng, làm bộ khung huấn luyện, tổ chức lực lượng quân đội chính qui của nhà nước non trẻ chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc.

Chính nhiệt tình cách mạng và kiến thức quân sự được học hành tại trường đã khiến những chàng trai TNTT hôm qua đảm đương được nhiệm vụ mới: làm nòng cốt cho lực lượng GPQ. Những thanh niên Huế gia nhập GPQ được phiên chế thành những trung đội, chỉ một thời gian ngắn đã có 25 trung đội được thành lập, trung đội trưởng của các trung đội này đều là sĩ quan TNTT, trung đội phó là những cựu binh sĩ (hạ sĩ quan) đã đi theo cách mạng.

Đại tá Phan Hạo hồi ấy là trung đội trưởng trung đội 1 nhớ lại ngày ông nhận lệnh lên đường Nam tiến để hỗ trợ mặt trận Sài Gòn: trước khi lên đường, ông và trung đội trưởng trung đội 3 Đoàn Huyên (sau này là giáo sư, thiếu tướng QĐNDVN) được gọi lên gặp ủy viên quốc phòng Trung bộ (phụ trách quân sự – quốc phòng cả khu vực miền Trung) Nguyễn Chánh.

Ông Chánh người Quảng Ngãi, đã từng lãnh đạo thắng lợi cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, ngay từ những ngày tháng ấy đã thấy trước cuộc kháng chiến sẽ lâu dài và rất cam go. Sau khi hỏi han tình hình chuẩn bị Nam tiến, anh Hạo báo cáo mỗi người lính chỉ được trang bị một khẩu súng trường và 16 viên đạn, chỉ huy trung đội thì trang bị súng carbine và hai băng đạn nhưng tinh thần thì rất lạc quan vì ai cũng nghĩ vào Nam đánh Pháp xong sẽ “duyệt binh giữa Sài Gòn”. Hùng khí của cuộc khởi nghĩa thắng lợi trọn vẹn đã nhân lên niềm lạc quan hừng hực trong những người GPQ chuẩn bị Nam tiến.

Hai trung đội GPQ 1 và 3 lên đường vào Sài Gòn, một tháng sau đại đội Nam tiến thứ hai lại lên đường do Nguyễn Thế Lâm chỉ huy lên tàu vào Sài Gòn, nhưng đến ga Tháp Chàm (Phan Rang) thì được lệnh quay lại bởi ngày 23-10-1945 quân Pháp tấn công Nha Trang. Quân và dân Thừa Thiên – Huế một lần nữa gửi con em vào chi viện cho chiến trường Nam Trung bộ.

Ông Lê Đình Bân tham gia chiến đấu ở mặt trận Nha Trang và bị thương, sau đó ra mặt trận Qui Nhơn, về liên khu 5, về huấn luyện ở Trường Lục quân Quảng Ngãi, ra Việt Bắc rồi vào Nam đánh Mỹ, mãi đến đại thắng mùa xuân 1975 ông mới về lại Huế, người mẹ của ông, cụ bà Nguyễn Thị Hựu, khi ấy đã 85 tuổi.

Cũng cần nhắc thêm một chút về người sĩ quan của Trường TNTT này bởi đến ngày độc lập, gia đình ông đã có bốn liệt sĩ hi sinh cho cách mạng. Vợ và con ông Bân sống ở Hà Nội, hoàn cảnh bấy giờ không thể đưa cả gia đình về Huế nên một mình ông mang balô về lại quê hương với người mẹ già 30 năm ngóng chờ con.

Người con trai làng Triều Sơn Tây khi tham gia cách mạng vừa ngoài 20 tuổi, ngày về tóc đã bạc quá nửa mái đầu, trong căn nhà nhỏ, ngày ngày ông Bân nấu cơm nuôi mẹ già để báo hiếu.

Cho đến bây giờ khi về gặp ông ở làng Triều Sơn Tây, con cái ông đều thành đạt, vợ ông vẫn sống ở Hà Nội, riêng ông một mình lặng lẽ với làng xưa, viết sử của làng và gia phả dòng tộc, sớm hôm chăm lo hương khói bàn thờ gia tiên. Trên bàn thờ ấy tôi nhìn thấy những tấm hình của người thân ông đã nằm lại dọc đường kháng chiến, tất cả đều rất trẻ…

Cuộc khởi nghĩa tháng tám ở Nam bộ diễn ra muộn hơn miền Bắc và miền Trung. Ngọn cờ hồng trên chiến lũy ám khói súng, trong ánh đuốc bập bùng, những cô gái, chàng trai Nam bộ đã cất cao lời thề…

LÊ ĐỨC DỤC

———————-

Bài 1: Chung một bóng cờ…
Bài 2:Lên đường!
Bài 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!

——————————-

Kỳ sau: “Chết tự do hơn sống nô lệ!”

tuoitre.vn