Archive | Tháng Ba 2010

“Tôi thà chết chứ không bán nước!”

– Ngày 7/3/1946, Hồi ức “Những năm tháng không thể nào quên” thuật lại: tại Bắc Bộ phủ, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bội Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng và Cố vấn Vĩnh Thuỵ đồng tiếp J.Sainteny để bàn việc triển khai tiếp bản Hiệp định sơ bộ vừa ký kết ngày hôm trước. Người đứng đầu nhà nước Việt Nam đặt vấn đề cuộc hội đàm chính thức nên được tổ chức tại Paris.

Đầu giờ chiều, Bác đạt được thoả thuận với J.Sainteny sẽ cùng ký dưới một thông báo chung để bố cáo rộng rãi trong đó có nội dung: “Chính phủ Pháp thừa nhận Việt Nam tự thành lập một chính phủ riêng của mình để cho Việt Nam hoàn toàn tự do trong việc thiết lập chính quyền.

Tháng 3/1951, Bác cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận Liên Việt.Tháng 3/1951, Bác cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận Liên Việt.

Chính phủ Việt Nam không phản đối việc quân đội Pháp trở lại một cách hoà bình để thay thế quân đội Trung Quốc làm nhiệm vụ ở khu vực Đông Dương từ Bắc vĩ tuyến 16 trở lên. Việc đầu tiên thực hiện Hiệp định sơ bộ là chấm dứt mọi cuộc xung đột trên lãnh thổ Đông Dương, 24 giờ sau khi bản thông báo này đựoc phát đi trên các làn sóng đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Sài Gòn”.

16 giờ ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc mít tính lớn của đông đảo nhân dân trước Nhà Hát lớn thành phố để giải thích về nội dung bản hiệp định đã ký kết. Sau phát biểu của Võ Nguyên Giáp kết thúc bằng sự khắng định: “Tư tưởng chỉ đạo, mục đích của Chính phủ là hoà bình vì tiến bộ. Con đuờng mở ra với hiệp định chính là con đường dẫn chúng ta đến độc lập trong một ngày gần đây, thật sự và hoàn toàn. Đó là mục đích của chúng ta”, Vũ Hồng Khanh, người tham gia ký bản hiệp định cũng xác nhận : “Mục đích của chúng ta là độc lập hoàn toàn. Mục đích đó, chúng ta không chỉ một bước mà đạt được”.

Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tiếng: “Nước ta độc lập thực sự từ tháng Tám 1945. Nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó dẫn ta đến vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế . Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào nên bình tĩnh, đoàn kết, trong kỷ luật”.

Cuối cùng, vị Chủ tịch của nước Việt Nam Mới tuyên bố: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bán nước !”. Cùng trong ngày, Bác ký giấy uỷ nhiệm cho các phái viên đặc biệt của Chính phủ là Hoàng Quốc Viêt và Huỳnh Văn Tiểng vào Nam Bộ để giải thích và thi hành Hiệp định Sơ bộ 6/3.

Một năm sau đó, ngày 7/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các vị Phạm Văn Bạch và Nguyễn Văn Tây, lãnh đạo “Phòng Nam Bộ” cơ quan trực thuộc Chính phủ theo dõi và hỗ trợ cho phong trào kháng chiến Nam Bộ. Thư có đoạn: “Dù gay go mấy, chúng ta cũng không sợ, không hoang mang, vì chúng ta biết trước những sự gay go khốn nạn đó. Vì chúng ta tự tin đủ sức khắc phục nó. Và vì chúng ta chắc thắng lợi cuối cùng sẽ về tay ta”.

X&N
bee.net.vn

Chuyện ký kết Hiệp định Sơ bộ

– Ngày 6/3/1946, hồi ức “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại: Đó là một thời điểm nghiêm trọng.

Buổi sáng, đụng độ đã nổ ra giữa quân Pháp và quân Tưởng tại cảng biển Hải Phòng. Ngoại giao con thoi giữa tất cả các bên đều diễn ra khẩn trương để tháo ngòi nổ. Tình thế đã khiến cho cả Pháp lẫn Trung Hoa Quốc dân Đảng đều muốn Pháp – Việt có một thoả thuận, ít nhất là tạm thời để tránh xung đột nổ ra.

Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các thành viên Việt - Pháp tham gia ký Hiệp định Sơ bộNgày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các thành viên Việt – Pháp tham gia ký Hiệp định Sơ bộ

Tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội đồng Chính phủ họp để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Bác thấy đã đến lúc cần đi đến một quyết định bằng cách đưa ra giải pháp “Nước Pháp công nhận nước Việt Nam là một quốc gia tự do” thay vì đòi “độc lập” mà lúc này Pháp không thể thừa nhận và cũng tránh được khái niệm “tự trị” của phía Pháp áp đặt mà chúng ta cũng không thể chấp nhận.

Toàn thể hội đồng đã nhất trí và ký vào biên bản tán thành. Buổi trưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hoàng Minh Giám tiếp tục thảo luận những nội dung cuối cùng với đại diện phía Pháp J.Sainteny .

Và 16h30 phút Hiệp định Sơ bộ đã được ký kết tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, với những điều khoản khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội và tài chính của mình; việc hợp nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam tự giải quyết… và nằm trong Liên bang Đông Dương cũng như trong Khối Liên hiệp Pháp.

Việc ký kết có sự chứng kiến của các bên liên quan và cả đại diện phái bộ Mỹ và lãnh sự Anh.  Phát biểu sau lễ ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi không thoả mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn”.

Đây là một quyết định sáng suốt nhưng đầy khó khăn. Sáng suốt bởi vì nó giúp cho lực lượng cách mạng còn quá non trẻ tránh phải đương đầu với một cuộc chiến tranh nằm trong mưu đồ của các thế lực diều hâu trong chính giới Pháp và các thế lực chống đối ở trong nước như Việt Quốc, Việt Cách… Còn khó khăn bởi vì phải làm sao cho đồng bào hiểu rằng đó là một sách lược chứ không phải từ bỏ mục tiêu giành độc lập hoàn toàn.

Trong “Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định Sơ bộ”, Bác chân thành bày tỏ: “Đồng bào Việt Nam nghe tôi, tin tôi, vì suốt đời tôi đã tranh đấu chống chế độ thực dân, tranh quyền độc lập cho nước nhà… Vì tin vào sự hoàn toàn độc lập tương lai của nước nhà, tôi cùng Chính phủ đã ký bản Hiệp định Sơ bộ với Chính phủ Pháp…” và kêu gọi “đồng bào hãy bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh của Chính phủ”.

Vì muốn tránh một cuộc chiến tranh, Bác đã làm hết sức mình, qua nước Pháp 3 tháng rưỡi để vận động hoà bình và hợp tác, ký Tạm ước 14/9… Nhưng khi thực dân Pháp quyết xâm lược nước ta một lần nữa thì chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân nhất tề bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến (19/12/1946)…

Chỉ một năm sau ngày ký Hiệp định Sơ bộ, ngày 6/3/1947, khi cuộc kháng chiến toàn quốc đã bước qua tháng thứ ba, gặp gỡ những người làm việc gần mình, Bác giải thích: “Sức ta bây giờ như chàng trai mười sáu mà sức giặc bây giờ như một lão già quỷ quyệt, độc ác. Nếu ta cậy sức đánh bừa thì sao chắc thắng được. Phải vừa đánh vừa nuôi sức mình cho khỏe lên…

Khi sức ta đã khoẻ, giặc suy yếu dần, ta mới lừa thế quật ngã nó, như vậy mới chắc thắng. Cho nên kháng chiến trường kỳ mới nhất định thắng lợi”.

Và những người giúp việc gần Bác nhất từ đó, mang các tên: Kháng, Chiến, Trường, Kỳ, Nhất, Định, Thắng, Lợi.

X&N
bee.net.vn

“Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng”

– Ngày 5/3/1947, trước tình hình quân Pháp từ Hà Nội đang âm mưu chiếm tỉnh lỵ Hà Đông để gây thanh thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bức thư để ứng phó với tình hình chiến sự đang diễn ra rất gay go, ác liệt và động viên nhân dân tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.

Trước tiên, trong “Thư gửi đồng bào toàn quốc”, sau khi vạch trần thủ đoạn của địch, Bác động viên: “Chúng ta không hoang mang. Chúng ta phải nhẫn nại, phải cương quyết. Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay ta”.

Quan điểm ấy được đưa ra trên cơ sở phân tích rằng: “Vì địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng… Trong cuộc kháng chiến lâu dài, tạm thời thắng hay bại là việc thường. Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng”.

Ngày 5/3/1959 Bác Hồ và Tổng thống Sukarno tại cuôc mít tinh của nhân dân Xurabaya.Ngày 5/3/1959 Bác Hồ và Tổng thống Sukarno tại cuôc mít tinh của nhân dân Xurabaya.

Trong “Thư gửi đồng bào hậu phương” viết cùng ngày, Bác kêu gọi: “Đồng bào tản cư đi đến đâu, thì đồng bào ở nơi đó… cần an ủi họ, giúp đỡ họ. Có cơm giúp cơm, có cháo giúp cháo. Ít nhất cũng có một bát nước chè, một lời thân ái gọi là tỏ nghĩa đồng tình: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” và kết luận: “Mỗi một đồng bào phải sẵn lòng bác ái, phải cư xử cho xứng đáng là con Rồng cháu Tiên”.

Không chỉ với đồng bào của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết thư gửi Quốc hội và nhân dân Pháp nêu rõ lòng mong muốn được sống hoà bình và hợp tác thân thiện với nước Pháp của nhân dân Việt Nam.

Thư lên án âm mưu gây chiến của các thế lực thực dân ở Đông Dương mà tiêu biểu là của Đô đốc D’Argenlieu và nêu rõ: “Chính sách “bắt nạt” của các người đại diện Pháp ở Đông Duơng đã bắt chúng tôi phải chịu đựng cuộc chiến tranh này. Chiến tranh chồng chất đổ nát và tang tóc kên trên đất nước chúng tôi, nhưng chúng tôi cuơng quyết chịu mọi sự hy sinh để bênh vực những nguyện vọng và quyền lợi của chúng tôi.

Chúng tôi muốn độc lâp và thống nhất. Chúng tôi muốn cộng tác với dân tộc Pháp trong Khối Liên hiệp Pháp. Chúng tôi muốn hoà bình để kiến thiết lại nước chúng tôi. Quốc hội và nhân dân Pháp cần phải làm cho cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này chấm dứt, cần phải giải quyết vấn đề Việt – Pháp một cách xứng đáng với nước Pháp mới”.

Thư còn vạch rõ chiến dịch quân sự mà giới thực dân phát động vào ngày 2/3/1947 từ thành phố Hà Nội mới chiếm đóng tiếp tục đánh chiếm Hà Đông và một số vùng lân cận chỉ “đoạt được những đống gạch vụn. Nhưng trái lại, họ đã mở đầu cho thời kỳ chiến tranh du kích tốn kém và ác hại, có thể kéo dài tới 10 hay 20 năm”.

Bức thư kết luận: “Máu Pháp và Việt chảy đã nhiều. Chiến tranh không nên kéo dài nữa. Chiến tranh không đưa đến đâu cả. Chúng tôi sẵn sàng lập lại hoà bình. Chỉ cần Quốc hội và nhân dân Pháp có một cử chỉ thân thiện”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi đang đứng trước con người phi thường”

– Ngày 4/3/1945, là người dứng đầu Mặt trận Việt Minh, Hồ Chí Minh qua Côn Minh (Trung Quốc) để tìm cách tiếp xúc với quân Đồng Minh, một mặt trao trả viên trung uý phi công Mỹ Shaw được Việt Minh cứu sống ở miền Bắc Việt Nam khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi, đồng thời đặt quan hệ đồng minh với các đơn vị quân Mỹ đang có mặt tại đây, trực tiếp là cơ quan trợ giúp mặt đất (AGAS).

Trong thời gian này, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với Cơ quan Thông tin chiến tranh để đọc sách báo, thu thập tin tức và tìm cách liên hệ với Bộ Ngoại giao Mỹ.

Trung uý Charles Fenn, là sĩ quan của cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ là người được Bác tiếp xúc sớm nhất và chính viên sĩ quan này đã giới thiệu để người đứng đầu cách mạng Việt Nam tiếp xúc với người đứng đầu lực lượng Đồng minh ở vùng Hoa Nam là tướng Claire Chennault để từ đó xác lập mối quan hệ đồng minh chống phát xít Nhật.

Chủ tịch HCM đọc báo cáo tại kỳ họp lần thứ nhất Quốc hội khoá I ngày 4-3-1946.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo tại kỳ họp lần thứ nhất Quốc hội khoá I ngày 4/3/1946.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch. Fenn chính tay đã biên soạn cuốn tiểu sử chính trị của Hồ Chí Minh đầu tiên bằng tiếng Anh (Ho Chi Minh-a biography) được xuất bản tại Mỹ… và hơn một nửa thế kỷ sau, khi đã ngoài 100 tuổi, ông còn viết lời giới thiệu cho cuốn sách của 2 tác giả người Mỹ là Lady Borton và David Thomas xuất bản ở Việt Nam có nhan đề “Hồ Chí Minh – một chân dung”. Ông viết :

“Lần đầu gặp Hồ Chí Minh ở Trung Quốc vào tháng 3/1945, tôi không biết gì về thân thế và sự nghiệp của ông. Khi đó tôi làm việc cho Cơ quan tình báo chiến lựợc, tiền thân của CIA.

Với tôi, công lao của Hồ Chí Minh là chỉ đạo việc cứu sống một phi công Mỹ khi chiếc máy bay của anh ta bị bắn rơi ở Đông Dương. Dù quân Nhật đóng dày đặc ở biên giới Việt – Trung, viên phi công Mỹ vẫn được người Việt Nam đưa an toàn về căn cứ Mỹ ở Côn Minh. Điều đó làm cho Hồ Chí Minh có thể trở thành một đồng minh của Mỹ trong các hoạt động ở Đông Dương.

Trong tâm trạng ấy, tôi nói chuyện với Hồ Chí Minh, một người dáng nhỏ, gầy, hơi già trong chiếc áo vải bông sờn cũ. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp, bởi vì tôi chưa biết rằng ông còn thông thạo tiếng Anh, không kể tiếng Nga, Đức, Xiêm, hai phương ngữ Trung Hoa và tất nhiên, tiếng Việt và tiếng một vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Thoạt đầu, ông không gây cho tôi một ấn tượng gì đặc biệt. Nhưng đến khi tôi cảm nhận được ánh sáng đặc biệt của đôi mắt ông, tôi biết tôi đang đứng trước một con người phi thường.

Sau này, khi hướng dẫn cho ông nghệ thuật tình báo quân sự phương Tây, tôi mới thấy đôi mắt sáng của ông đã ánh lên thần thái một cách mạnh mẽ thế nào qua việc ông nắm vững rất nhanh môn học đầy phức tạp đó…

Nếu chúng ta so sánh Hồ Chí Minh với các lãnh tụ nổi tiếng khác của thế kỷ XX, chúng ta không thể không có ấn tượng khi biết rằng trong một thời gian dài, Hồ Chí Minh đã đi tới nhiều nơi trên thế giới và đã bắt đầu in dấu ấn của mình lên các biến cố quốc tế trước khi cả Mao Trạch Đông, Gandhi, Nehru, Roosevelt, Churchill hay De Gaulle được biết trên thế giới.

Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất, đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại, lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
bee.net.vn

“Đảng LĐVN sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa của dân”

 Ngày 3/3/1951, thưc hiện Nghị quyết của Đại hội II, Đảng Lao động Việt Nam tổ chức buổi “lễ ra mắt quốc dân” (một thời kỳ ngày 3/3 được coi là ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam).

Trong “lời kết thúc”, với cương vị là Chủ tịch Đảng mới được bầu, Bác Hồ nhấn mạnh rằng mục đích của Đảng “có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”; nhiệm vụ là lãnh đạo toàn dân đi đến “Kháng chiến thắng lợi, Kiến quốc thành công”; chính sách của Đảng “có thể đúc lại trong mấy chữ là làm cho nước Việt Nam ta Độc lập – Thống nhất – Dân chủ – Phú cường”…

Ngày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa IndonesiaNgày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa Indonesia

“Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, những người mà: Giàu sang không thể quyến rũ. Nghèo khó không thể chuyển lay. Uy lực không thể khuất phục…” vì thế “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân.

Tuy vậy, Đảng Lao động Việt Nam cũng do nhiều người tổ chức lại mà thành. Mà người thì ai cũng có ít nhiều khuyết điểm. Vì vậy, Đảng Lao động Việt Nam mong mỏi và hoan nghênh sự phê bình thật thà của các đảng phái và đoàn thể bạn, của các nhân sĩ và của toàn thể đồng bào để cho Đảng tiến bộ mãi”.

Thành lập từ mùa Xuân 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tuyên bố “tự giải tán” để góp phần tăng cường khối đoàn kết toàn dân trong bối cảnh vô cùng phức tạp sau ngày  giành được độc lập. Nói cách khác, sự thành lập Đảng Lao động Viêt Nam cũng có ý nghĩa là sự “ra mắt, trở lại hoạt động” của Đảng Cộng sản ở nước ta.

Vào thời điểm này không còn quan điểm về một Đảng Cộng sản Đông Dương và ở Lào và Campuchia các đảng cộng sản cũng đã được thành lập đoàn kết cùng Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.

Cùng ngày hôm đó, Bác còn tham dự lễ khai mạc Đại hội thống nhất 2 Mặt trận Việt Minh và Liên Việt và bày tỏ niềm sung sướng khi chứng kiến “rừng cây đại đoàn kết ấy nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão” và “chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết mà toàn dân 2 nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cũng đi đến đại đoàn kết”.

X&N
bee.net.vn

Bác phê phán thói công thần của một số chính trị phạm

 – 100 ngày sau khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, nhận thức rằng cuộc kháng chiến sẽ phải trường kỳ và vô cùng gian khổ cần đến một đội ngũ những cán bộ và chiến sĩ có đủ phẩm chất để vượt qua những thử thách, ngày 1/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”.

Bức thư viết: “Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đồng chí và toàn cả đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một mục đích đánh đuổi thực dân Pháp làm cho nước nhà thống nhất và độc lập. Vì vậy mỗi đồng chí và toàn Đoàn thể phải: sáng suốt, khôn khéo, cẩn thận, kiên quyết, siêng năng, nhất trí”.

Tháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà NộiTháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà Nội.

Cuộc trường kỳ kháng chiến này, tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao. Trong lúc này, tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm”.

Thư còn yêu cầu “chúng ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm” và nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến vạch rõ những khuyết điểm đó là: “địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt quan liêu, óc hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ hủ hoá” với những phân tích rất sâu sắc .

Ví như khi đề cập tới “óc bè phái”, Bác viết: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe…”; với “óc quân phiệt quan liêu thì “Khi phụ trách ở vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh hoẹ”.

Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn át. Đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi”. Với “óc hẹp hòi”, Bác viết: “Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi. Người mà hẹp hòi ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không thể phát triển”.

Khi nói đến khuyến điểm “ích kỷ hủ hoá”, Bác viết phê phán thói công thần của một bộ phận lãnh đạo xuất thân từ chính trị phạm: “Vẫn biết nhà pha đế quốc là nơi huấn luyện, vẫn biết Việt Minh là đoàn thể gồm những người yêu nước, chăm lo việc cứu nước. Nhưng hẳn ngoài Việt Minh còn biết bao nhiêu người hay người giỏi mà Việt Minh chưa tổ chức được.

Vả lại nếu chính trị phạm, nếu người của Mặt trận giỏi hơn ai hết  thì những người không có hân hạnh ở tù, những người chưa vào Mặt trận vô tài, vô dụng cả sao? Mỗi đồng chí chúng ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ, phải nhớ câu nói của ông thầy chúng ta “Phải học, Học thêm, Học mãi” (đó là câu của Lênin).

Bức thư còn nêu lên những biện pháp để thực hiện được vai trò của đội ngũ cán bộ trong đó nhấn mạnh đến công tác giao thông: “Giao thông là mạch máu của mọi việc, giao thông tắc thì việc gì cũng khó. Giao thông tốt, thì việc gì cũng dễ dàng”. Cũng với nội dung căn bản như bức thư này, Bác còn viết “gửi các đồng chí Trung Bộ”. Đây cũng có thể coi là những phác thảo chuẩn bị cho cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” biên soạn một cách hệ thống được xuất bản tháng 10 năm đó (1947).

X&N

cand.com.vn