Tag Archive | Xuân 75

Những người lính đặc công tại cửa ngõ Sài Gòn

TT – Đại tá Tống Viết Dương (nguyên tư lệnh cánh đông chiến dịch Hồ Chí Minh), trung tá Võ Tấn Sĩ (nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn đặc công biệt động 116) bảo từ bao năm nay, cứ đến ngày 30-4 câu chuyện về những ngày chiếm giữ các cầu, mở đường cho quân chủ lực vào thành phố đã được các ông kể đi kể lại không biết bao lần. Thế nhưng đến tận hôm nay, câu chuyện ấy vẫn sống động như 29 năm về trước…

Xuồng đưa hai chiến sĩ đặc công thủy đi đánh tàu vận tải quân sự một vạn tấn trên sông Rạch Lá – Ảnh: Tư liệu

Lính đặc công học đánh ban ngày

“Giữa tháng tư, trung đoàn đặc công biệt động 116 đang tập trung ở vùng bưng sáu xã chuẩn bị cho trận đánh liên trường quân sự Thủ Đức thì được lệnh rút về tập trung cho chiến dịch. Chúng tôi quay về Bình Sơn, Long Thành nhận nhiệm vụ mới: chiếm và giữ các cây cầu dẫn vào thành phố….”.

Võ Tấn Sĩ khi ấy là thiếu tá, trung đoàn trưởng. Dẫn anh em đặc công cắt đồng về căn cứ, từ thủ trưởng đến lính ai cũng mệt mỏi nhưng khi biết nhiệm vụ mới có thể sẽ là những trận đánh cuối cùng để giải phóng đất nước, “một luồng sinh khí mới bỗng bừng dậy”. Tất cả háo hức chuẩn bị cho ngày tiến về Sài Gòn, mục tiêu đầu tiên chính là cầu Đồng Nai.

“15-4, đội điều nghiên đầu tiên được phái đến khảo sát cầu. Tàu hải quân địch tuần tiễu gắt quá nên anh em bị lộ. Những loạt đạn bắn rát khiến toàn đội phải lui về. Một anh bị thương, bất tỉnh bên hàng rào kẽm gai và bị địch bắt sống…”.

Đến hôm nay ông Sĩ vẫn còn nhớ người chiến sĩ ấy tên Hà, quê ở Nghệ An. Anh bị thương vào cổ, đứt cuống họng. Sau ngày giải phóng, đồng đội đã tìm được anh ở Bệnh viện Cộng Hòa (nay là Bệnh viện 115), anh ra dấu mượn một cây bút: “Nếu tôi còn nói được, xin cho tiếp tục phục vụ quân đội”.

“Nhóm trinh sát thứ hai đã hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi thống nhất giờ G, đêm 26-4, 250 chiến sĩ đặc công thủy, đặc công khô cắt hàng rào tiến vào trận địa. Rạng sáng, súng lệnh nổ. Loạt thủ pháo đầu tiên đã diệt gọn lực lượng địch đang ngủ trong khu trại. Đặc công khô cùng đặc công thủy phối hợp đánh chìm cùng lúc bốn chiếc hải thuyền. Các công sự hai đầu cầu cũng nhanh chóng bị các chiến sĩ của ta chiếm giữ”.

Nhanh gọn vậy nhưng những gì khó khăn nhất vẫn còn ở phía trước. Ngay sáng hôm sau, các lực lượng tiếp viện của địch từ Biên Hòa, Long Bình, Thủ Đức đã ùn ùn kéo tới, pháo bắn dày đặc các ngả, máy bay lượn sát trên đầu…

Cờ chiến thắng tung bay trên dinh Độc Lập (trụ sở ngụy quyền Sài Gòn) ngày 30-4-1975

Ông Sĩ kể rằng ở cương vị một người chỉ huy, ông chưa bao giờ phải đương đầu với nhiều khó khăn như ba ngày 27, 28 và 29 ấy. Không chỉ phải trực tiếp chỉ đạo chiến lược, chiến thuật, bổ sung quân, bổ sung vũ khí, lương thảo, tìm cách giải quyết thương binh… mà khó khăn nhất lại là động viên tinh thần anh em.

Ai cũng ra trận với tinh thần quyết tử nhưng những sở trường của lính đặc công là đột nhập ban đêm, đánh bất ngờ, đánh nhanh thắng nhanh đều đã được vận dụng hết. Phải chiến đấu giữa ban ngày, không vật che khuất, che đỡ, phải bám trụ, chiếm giữ thời gian lâu là điều mà lính đặc công không sẵn sàng chuẩn bị.

Nằm trong một lò gạch cách cầu Đồng Nai mấy trăm mét, điện đài của trung đoàn trưởng vang lên liên hồi: “Thủ trưởng ơi, địch đến đông quá”, “Báo cáo: hết đạn”, “Báo cáo: xe tăng địch đến”… Trong cả ngàn thông tin dồn dập và phải xử lý tức thời như thế, trung tá Võ Tấn Sĩ bảo có một tin làm ông lặng đi mất mấy phút “Cầu Rạch Chiếc đây. Báo cáo: đã hoàn thành nhiệm vụ nhưng anh em hi sinh nhiều quá…”.

Mấy phút trong thời điểm đó đã là nhiều lắm, bởi lệnh thì chỉ có một “Bám trụ giữ cầu, đợi quân chủ lực”. Không biết bao giờ quân chủ lực mới đến nhưng Võ Tấn Sĩ quyết không để lực lượng bị hao hụt thêm. Trưa 29, ông trực tiếp dẫn một tiểu đoàn đặc công đánh vào tổng kho Long Bình, khuân súng chống tăng, đạn pháo, lương thực ra cầu tiếp tế…

Mật hiệu: “Hồ Chí Minh” – Đáp: “Muôn năm”

Trung tá Võ Tấn Sĩ – Ảnh: Phạm Vũ

Chưa ai quen ai nhưng gặp nhau ai cũng mừng như chưa bao giờ mừng thế. Lữ đoàn xe tăng 203 cho biết nhiệm vụ của họ là tiến thẳng vào dinh Độc Lập nhưng bộ binh lại chưa theo kịp. Tư lệnh Tống Viết Dương liền trổ tài “quảng cáo” về các khả năng của lực lượng đặc công biệt động và cuối cùng đã thỏa thuận được với lữ đoàn xe tăng về kế hoạch biến lính đặc công thành lính bộ binh để vào Sài Gòn kịp ngày 30-4.

Lần đầu tiên được ngồi lên xe tăng, lại là xe tăng tiến về Sài Gòn, anh nào cũng hào hứng, tranh nhau lên trước. Nhưng rồi vẫn cứ phải nhường nhau. Một tiểu đoàn đặc công thủy phải ở lại giữ cầu. Lúc đi qua cầu Rạch Chiếc, thấy anh em mình hi sinh nằm rải rác trong những đám lá dừa nước, một tiểu đội nữa lại nhảy xuống lo phần chôn cất. Thế nhưng vẫn chưa hết những người phải nằm lại.

Qua ngã tư Thủ Đức, pháo trong trường quân sự của địch bắn ra khiến một chiếc xe tăng của ta bốc cháy, bảy chiến sĩ hi sinh. Một phát đạn M72 nữa của lính ngụy chạy loạn làm cháy chiếc xe tăng dẫn đầu ngay khi vừa chớm lăn lên cầu Sài Gòn, bốn chiến sĩ nữa trở thành liệt sĩ. Chiếc xe đi thứ hai thì bị sa lầy xuống con kênh dưới cầu Đen. Những chiếc xe tăng, các anh em đi sau đã trở thành những chứng nhân lịch sử.

Từ ngày ấy đến nay đã 29 năm, trung đoàn 116 (367 cũ) đã bao lần họp mặt nhưng lần họp mặt nào xen giữa những tiếng cười cũng có người rưng rưng nước mắt. Từ khi trung đoàn thành lập (1970) cho đến ngày giải phóng, có hơn 1.000 chiến sĩ đã hi sinh.

Ông Sĩ, ông Dương cứ kể mãi không hết về những anh lính đặc công rất tinh nhuệ nhưng lại phải lót lá dừa ngay trên những bụp dừa được phạt ngang để ngủ; những ngày lội bưng vào trận, các anh đeo trên mình trần đầy thủ pháo, lựu đạn, còn lương khô thì không có.

Những anh đặc công ấy đã là một trong những người đầu tiên vào giải phóng Sài Gòn, cũng là một trong những người cuối cùng ngã xuống trước ngưỡng cửa hòa bình. Thế mà “ngày ở trong rừng, mơ đến ngày giải phóng, đứa nào cũng chỉ ước: hòa bình được về nhà, được ngủ, được cắm một cái cần câu…”.

PHẠM VŨ
tuoitre.vn

Tướng Dương Văn Minh những phút cuối làm tổng thống

Sau khi được thông báo trả tự do, tướng Dương Văn Minh (phải) đã có cuộc gặp gỡ thân mật với tướng Trần Văn Trà – chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định.

Đoàn xe chở tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu chạy theo đường Thống Nhất, quẹo trái qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm để đến Đài phát thanh. Dù khá mệt mỏi và căng thẳng trước những gì vừa diễn ra, tướng Minh vẫn ôn tồn chỉ đường cho lái xe Đào Ngọc Vân.

Trụ sở Đài phát thanh lúc đó khá vắng lặng, dù đã được quân giải phóng và anh em sinh viên tiếp quản. Nhân viên đã “biến” hết sau khi hay tin quân giải phóng đã chiếm được dinh Độc Lập.

Việc đầu tiên là phải tìm cho được những người có thể vận hành được đài phát. Anh em sinh viên tìm được anh Trần Văn Bảng, nhân viên kỹ thuật phát sóng trú ngụ ở gần đó. Còn nhà báo Kỳ Nhân lại tức tốc lái chiếc UTE của Hãng tin AP chở hai anh bộ đội về làng báo chí Thủ Đức để mời hai anh Trọng Liêm và Tự Lập đến đài.

Sau khi lời tuyên bố đầu hàng đã được chỉ huy quân giải phóng soạn thảo, ông Dương Văn Minh lúc đó phải đọc và ghi âm hai lần vào máy của nhà báo Borries Gallasch (còn máy cassette hiệu Hitachi của anh em quân giải phóng bị rối băng liên tục, không xài được). Lần đầu, ông Minh có lẽ hơi bị xúc động nên đọc không tự nhiên và bị vấp, đồng thời khi bật máy nghe lại băng thì giọng ông Minh… nhão nhoẹt vì máy yếu pin. Anh em sinh viên có mặt lúc đó phải chạy ra ngoài, tìm đâu đó được mấy cục pin mới.

Tiếng nói của ông Minh phát trên đài nghe nhẹ và chậm rãi. Còn lời chấp nhận đầu hàng của viên trung tá chính ủy người Đà Nẵng Bùi Văn Tùng lại vang lên khá dõng dạc và mạnh mẽ. Mà cũng lạ, vào lúc ấy rất nhiều giọng Đà Nẵng xuất hiện trên sóng phát thanh: trung tá Bùi Văn Tùng, nhà báo Kỳ Nhân, sinh viên Nguyễn Hữu Thái….

Nhà báo Kỳ Nhân “kêu gọi anh em ký giả hãy bình tĩnh, hãy tập trung ở số 15 Lê Lợi để cùng trao đổi và làm việc (lúc này tự nhiên có tiếng súng nổ vang dội vào Đài phát thanh, anh Kỳ Nhân dù chưa biết chuyện gì cũng “ứng khẩu” luôn)… Đó là tiếng súng bắn mừng của quân giải phóng. Chúng ta đã thấy hòa bình trên đất nước của chúng ta”.

Còn sinh viên Nguyễn Hữu Thái lại trở thành người dẫn chương trình bất đắc dĩ. Anh liên tục thông báo, liên tục trấn an đồng bào và kêu gọi anh em công chức, nhân viên các cơ quan hãy trở lại nhiệm sở để giúp cho sinh hoạt ở Sài Gòn trở lại bình thường.

Tất cả đều nói “vo” thẳng vào máy phát nên nhiều khi ý tứ nghe rất ngộ, thí dụ: “Đây là tiếng nói của các Ủy ban cách mạng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Chúng tôi yêu cầu tất cả đồng bào, anh chị em công nhân, nhất là anh chị em nhân viên các nhà đèn, các nhà nước (chắc ý nói công ty cấp nước) và tất cả SVHS tụ họp để mà có những cuộc điều động của Ủy ban nhân dân cách mạng…”.

Xen lẫn với những lời kêu gọi, tuyên bố là tiếng vỗ tay, tiếng người nói chuyện bàn tán qua lại. Thậm chí ngay sau khi chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố rất hùng hồn thì bỗng phát ra một đoạn cải lương inh ỏi…

Đặc biệt, người dân Sài Gòn lần đầu tiên nghe đến tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh từ buổi phát thanh “tự phát” này. Nguyễn Hữu Thái lúc đó nói: “Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái. Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng…”.

Không ai phân công, không ai duyệt nội dung, không ai chỉ đạo định hướng gì, nhưng quả tình những lời kêu gọi, thông báo “tự biên tự diễn” đầy rạo rực và chân tình đó đã có tác dụng rất lớn đối với đồng bào trong giờ phút căng thẳng. Cần phải hiểu là trong thời khắc “đổi đời” lịch sử đó, sự âu lo tràn ngập nhiều gia đình, nhất là những gia đình có người thân tham gia bộ máy chính quyền hoặc quân đội VN cộng hòa. Sài Gòn trước đó đã lan truyền tin đồn về một cuộc “tắm máu” và những biện pháp bạo lực của Việt cộng.

14h. Đoàn xe đưa ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu từ Đài phát thanh trở về dinh Độc Lập. Họ được đưa vào một gian phòng lớn gần tiền sảnh, có bộ đội vũ trang đứng gác thường trực bên ngoài. Đó cũng là nơi các thành viên nội các, dân biểu, nghị sĩ… có mặt ở dinh Độc Lập sáng 30/4 phải sống 48 giờ mà không được liên lạc gì với bên ngoài.

15h45. Những tiếng nổ lớn bắt đầu từ phía công viên Tao Đàn, phía sau dinh Độc Lập, tiếp theo là những tiếng súng đủ loại. Vài giây sau, đạn cối rơi xuống nổ liên tiếp giữa sân dinh, đúng lúc tướng Nguyễn Hữu An, tư lệnh Quân đoàn 2 quân giải phóng đang đi bách bộ cùng một sĩ quan tác chiến tên Duyến. Duyến bị mảnh đạn cối găm vào mắt. Tư lệnh Nguyễn Hữu An không bị sao. Lực lượng bộ đội bảo vệ dinh báo động: “Quân địch phản công!”.

Ông Dương Văn Minh và gần 20 người khác được đưa từ gian phòng nói trên xuống một căn hầm bên dưới hội trường lớn. Gần 60 phút trôi qua. Mọi người bắt đầu bị ngợp. Dân biểu Nguyễn Văn Binh lần dò ra cửa, đề nghị anh bộ đội cho ra ngoài lấy nước. Ông lượm một cái nón sắt cũ, hứng nước ở vòi nước máy rồi mang vào căn hầm. Cái nón sắt được chuyền từ người này sang người khác. Mọi người cứ bưng nón sắt mà uống. Ông Minh cũng vậy.

Rồi tiếng súng tự nhiên im bặt. Hóa ra là “quân ta đánh quân mình”: Một đơn vị quân giải phóng từ hướng nam về không có ám hiệu đúng, thế là…

Mọi người được đưa trở về căn phòng cũ và trải qua hai ngày đêm đáng nhớ ở đó. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh cũng bị “giam lỏng” như thế. Sự quản thúc chỉ được chấm dứt vào chiều tối 2/5.

Ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn Binh… được trả tự do. Quyết định trả tự do của Ủy ban quân quản được thông báo tại buổi lễ trang trọng và thân mật tại hội trường dinh Độc Lập tối 2/5/1975. Tại buổi lễ này, Phó chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định Cao Đăng Chiếm đã phát biểu với một chất giọng miền Nam trầm ấm:

“…Nhân dân Việt Nam chúng ta đã trải qua cuộc đấu tranh anh dũng và khốc liệt, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh bại chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để giành thắng lợi vĩ đại và vô cùng to lớn từ xưa đến nay.

Thi hành chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời, Chính phủ mong rằng trong tình hình mới chúng ta hãy cùng nhau nỗ lực xây dựng lại Tổ quốc của chúng ta, làm cho nhân dân chúng ta giàu mạnh, Tổ quốc của chúng ta hùng cường. Do đó, chúng tôi mong rằng mỗi người VN chúng ta đều tùy theo khả năng của mình, góp công sức vào việc xây dựng Tổ quốc của chúng ta.

Bữa nay, thi hành lệnh của cấp trên, các anh được tự do về với gia đình. Chúng tôi sẽ tổ chức đưa các anh về đến nơi đến chốn…”. (Trích băng ghi âm)

Đáp lại, ông Dương Văn Minh nói ngắn gọn thế này:

“ …Ngày hôm nay, đại diện cho các anh có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước.

Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập”. (Trích băng ghi âm)

Mọi người được về với gia đình ngay sau buổi lễ đó. Chiếc xe Ford màu xanh dương đậm đưa ông Minh ra khỏi dinh Độc Lập lúc 22 giờ. Khi xe chuyển bánh, vị tổng thống 48 giờ nói:

– Thôi, giã từ quá khứ chết chóc. Vĩnh viễn hòa nhập vào đời sống hòa bình.

(Theo Tuổi Trẻ)
Việt Báo
vietbao.vn

…Và Sài Gòn sụp đổ

Paul Dreyfus người Pháp là một trong 125 nhà báo nước ngoài thuộc 13 nước có mặt tại Sài Gòn vào ngày 30/4/1975, chứng kiến sự kiện lịch sử các đoàn quân tiến vào thành phố. Ông đã ghi nhật ký ghi chép lại những sự việc xảy ra trong ngày kể từ khi Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam được ký kết. Sau khi trở về Pháp, dựa trên những tư liệu sẵn có, ông viết cuốn sách nhan đề “… Et Saigon tomba” (… Và Sài Gòn sụp đổ).

Dù từ nay có xảy ra chuyện gì đi nữa cũng không bao giờ tôi quên cơn hấp hối của Sài Gòn. Đại sứ Mỹ rút khỏi sứ quán mang theo lá cờ sao và vạch, đã được kéo xuống, gấp cẩn thận, cất kỹ trong cặp. Hàng nghìn người chạy như điên đến sân bay nhưng không máy bay nào cất cánh.

Ngày 29/4/1975.

Hôm qua một chút hy vọng đã nhen nhóm trong tất cả dân chúng, khi tướng Minh phát biểu về hoà bình, hoà hợp và hoà giải dân tộc. Đó là những câu chữ mà do cuộc chiến tranh kéo dài từ hai mươi chín năm nay, người ta đã quên hết ý nghĩa.

Tất cả mọi khách hàng của khách sạn Caravelle đều chạy lên sân thượng, người mặc gile chống đạn, người chỉ mặc quần áo ngủ.

Cũng cần nói thêm, tất cả những khách hàng này đều là phóng viên báo chí hoặc nhiếp ảnh quay phim.

Cũng nói thêm nữa, từ sân thượng nhà hàng chín tầng này có thể nhìn bao quát toàn bộ Sài Gòn.

Và cũng có thể nhìn thấy toàn bộ lãnh thổ của chế độ Nam Việt Nam, diện tích đã thu hẹp lại rất nhiều. Đây là một đất nước mà hai tháng trước vẫn còn trải dài hơn một nghìn kilomet từ Bắc xuống Nam, bây giờ đã rút ngắn lại chỉ còn một tầm bắn của pháo.

Quân giải phóng tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất ngày 30/4. (AFP)

Chính từ vị trí trên cao này chúng tôi đã nhìn thấy pháo bắn như giã giò vào căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, cách chỗ chúng tôi đứng khoảng tám kilomet.

Đạn rốc két rơi liên tục không ngừng. Rồi đến đạn trọng pháo. Mỗi khi một chiếc máy bay bị bắn trúng lại có một quả nấm khổng lồ vọt lên, xé vỡ màn đêm đang có mưa dông. Một lúc sau, phía sân bay chỉ còn là một biển lửa màu da cam.

Ngày 30/4.

Trời đã sáng. Mặt trời khổng lồ nhô lên từ đồng ruộng. Chúng tôi hếch mũi lên trời, theo dõi một chiếc máy bay vận tải, khá giống loại Nord Atlas của Pháp đang lượn vòng trên vòm trời. Đột nhiên từ thân máy bay loé lên một luồng lửa. Chiếc máy bay vỡ làm đôi, cứ thế rơi xuống, rơi rất chậm, rất chậm. Nó vừa bị trúng đạn tên lửa SAM 7, một loại tên lửa vác vai kiểu mới do Liên Xô chế tạo và do một xạ thủ Việt Nam nào đó, có thể đã đứng một mình chờ đón suốt đêm trên một nóc nhà ngoại thành, phóng trúng.

Các loa phóng thanh lại rống lên, báo tin lệnh giới nghiêm kéo dài suốt hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ, sau khi đài truyền đi bản quốc thiều và bài nói của tướng Minh kéo dài tới hơn hai mươi phút.

Làn sóng từ ngữ trong bài diễn văn chẳng có hiệu quả gì đối với những trận chiến đấu đang tiếp tục ác liệt chung quanh Sài Gòn. Từ nhiều khu vực ngoại thành lại vọt lên những cột khói đen, những lưỡi lửa đám cháy, xen lẫn tiếng nổ của đạn pháo.

Các đường phố vắng tanh vắng ngắt. Nhưng vẫn còn một vài phụ nữ rón rén mở cửa định bước ra ngoài, hy vọng còn có một cửa hàng cửa hiệu nào đó mở cửa. Trẻ con vẫn lặng lẽ chơi đánh bi hoặc nhảy ô quan trên vỉa hè, dưới cặp mắt của binh lính và cảnh sát trang bị tiểu liên.

Chỉ có những xe ô tô cắm cờ là đi lại trên đường. Những chiếc xe cứu thương hối hả mang những người bị thương, chủ yếu từ sân bay Tân Sơn Nhất và từ Chợ Lớn, bị trúng đạn trong đêm, phóng nhanh tới các bệnh viện.

Rồi người ta thấy xuất hiện, chẳng biết từ đâu chia ra những thanh niên mặc toàn đồ đen. Họ có vẻ như là một lũ nhóc chơi trò nghịch súng các-bin Mỹ. Nhưng đó chính là những dân vệ có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự. Lực lượng này gồm toàn thiếu niên từ mười lăm đến mười tám tuổi rất dễ bị kích động.

Khắp mọi nơi, pháo 105 ly của quân đội Sài Gòn tiếp tục bắn trả các khẩu pháo 130 ly của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Từ phía Biên Hoà là nơi hôm trước tôi vừa mới thực hiện chuyến “thám hiểm” cuối cùng, đang đánh nhau rất dữ dội.

Mặc dù có lệnh thiết quân luật, các nhà báo vẫn liều đi ra ngoài.

Chính vì vậy tôi đã tới được sứ quán Mỹ, chứng kiến những cảnh tượng chẳng vẻ vang gì. Được báo động bởi một mật lệnh truyền qua đài phát thanh, những người Mỹ cuối cùng hối hả mang vác hành lý lên xe ô tô buýt đưa họ đến những chỗ tập trung. Từ những địa điểm này, máy bay lên thẳng sẽ đưa họ tới những tàu sân bay của hạm đội 7 đang đậu ở một nơi nào đó ngoài khơi.

Đại cường quốc Mỹ đang chạy thoát thân.

Trước cổng toà lãnh sự Mỹ có hai binh sĩ lính thủy đánh bộ đội mũ sắt, súng cầm tay đứng gác, hàng mấy chục người Việt vẫn còn cố một cách tuyệt vọng, xin một hộ chiếu đi Guam, Midway, Honolulu…

Cũng từ đây, tất cả các nhà báo Mỹ (kèm theo cả nhiều người khác) cũng đang đóng gói hành lý vội vã ra đi. Chỉ còn một người vẫn ở lại là đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin. Nhưng tướng Minh đã yêu cầu ông vui lòng ra đi để tránh mọi sự cố.

Cuối cùng ông đại sứ Mỹ cũng rút khỏi đại sứ quán mang theo lá cờ sao và vạch, tượng trưng cho nước Mỹ, đã được kéo xuống, gấp cẩn thận, cất kỹ trong cặp xách tay.

Ông là người cuối cùng đi bộ ra khỏi toà đại sứ.

Trước đó ít lâu, tôi đã nhìn thấy một viên tướng Sài Gòn trẻ tuổi, mặc quân phục may đo rất khéo, ngồi trong chiếc xe hơi sang trọng, đi ngang qua. Ông ta chạy vội vào trong sân sứ quán Mỹ rồi leo lên một trong những chiếc máy bay lên thẳng cuối cùng đợi trên sân thượng nhà mái bằng.

Sau khi đại sứ Mỹ đi ra ngoài, những cánh cổng toà đại sứ được đóng lại.

Đúng lúc đó có một người Việt Nam ngồi trên xe, đèo theo một phụ nữ, phóng đến cổng sứ quán Mỹ. Không nhìn thấy có ai, họ hỏi tôi:

– Thế này thì chúng tôi còn biết đi đâu bây giờ? Chúng tôi chết mất. Quân cộng sản đang tới. Tướng Westmorland đã hứa bảo vệ chúng tôi.

Nỗi lo sợ tràn khắp thành phố.

Hàng nghìn người chạy như điên tới sân bay, nhưng không còn chiếc máy bay nào cất cánh nữa. Hơn nữa, trước cổng nhà ga hàng không, cảnh sát đang dựng lên một rào cản.

Hàng nghìn người khác lại đổ xô đến căn cứ hải quân mang theo valy, hành lý, cố tìm cách leo lên được một chiếc tàu nào đó để chạy trốn theo dòng sông Sài Gòn.

Từ những khu vực ngoại thành, hàng ngàn người khác cũng đang chạy vào những khu phố ở trung tâm Sài Gòn.

Tôi đi qua các phố, buồn rầu, chậm chạp, trong khi tiếng pháo nổ mỗi lúc một gần. Luôn luôn tôi bắt gặp nhiều người giữ tôi lại, nói:

– Chắc ông là người Pháp, vì ông vẫn còn ở lại với chúng tôi. Ông có thể làm gì giúp chúng tôi được không?

Họ chìa ra những giấy tờ, thư từ, chứng minh họ có họ hàng đang ở bên Pháp. Tôi nhìn những con người khốn khổ đang ứa trào nước mắt. Tôi không thể nói gì hơn.

(Theo VOV)
Việt Báo
vietbao.vn

Thượng tướng Hoàng Cầm và giờ phút tiến vào Sài Gòn

Thượng tướng Hoàng Cầm.

Đôi mắt mệt mỏi của vị tướng già chợt bừng lên khi nghe nhắc tới ngày 30/4 của 30 năm trước. Ký ức về chặng đường binh nghiệp hào hùng của ông, người gắn bó với 2 cuộc kháng chiến vĩ đại, được tái hiện.

Vào ngày 30/4/1975 lịch sử, Quân đoàn 4 -đội quân chủ lực trên chiến trường B2 (Nam Bộ và Nam Trung Bộ) do tướng Hoàng Cầm chỉ huy cùng các cánh quân khác hội tụ tại dinh Độc Lập, giải phóng một Sài Gòn nguyên vẹn, kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ. Trò chuyện với VnExpress, ông kể lại:

“Ngày 1/7/1974, tại vùng căn cứ huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Long, Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền đã họp thông qua phương án thành lập Quân đoàn 4. Lực lượng này gồm ba sư đoàn bộ binh 5, 7, 9 và năm trung đoàn binh chủng. Với chức năng là quả đấm chủ lực, lực lượng cơ động của Bộ ở chiến trường B2, nhiệm vụ của Quân đoàn là tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang ba thứ quân, làm chỗ dựa vững chắc cho lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng, đảm nhận một hướng chiến lược, một khu vực chiến trường và mục tiêu cuối cùng là giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định.

Chiến công đầu tiên của Quân đoàn 4 là chiến dịch tấn công địch ở đường 14 – Phước Long. Mục tiêu cụ thể là diệt 2 chi khu Đồng Xoài, Bù Đăng, yếu khu Bù Na và một loạt đồn bốt nhỏ, giải phóng quốc lộ 14 đoạn từ Đồng Xoài đến Bù Đăng. Sau đó đánh phản kích, diệt từ một đến ba tiểu đoàn chủ lực địch, cô lập tiểu khu Phước Long.

Thượng tướng Hoàng Cầm, tên thật là Đỗ Văn Cầm, xuất thân từ một gia đình nông dân ở xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Năm 24 tuổi, ông giác ngộ cách mạng và nhập ngũ. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312), chỉ huy trung đoàn đầu tiên đánh thọc sâu vào khu trung tâm Mường Thanh, bắt sống toàn bộ Bộ tham mưu của cứ điểm.

10 giờ sáng ngày 29/4/1975, tôi nhận được mệnh lệnh tiến công số 03/ML của Trung tướng Lê Trọng Tấn – Phó tư lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là nhanh chóng tiêu diệt địch, đánh chiếm Hố Nai, Tam Hiệp, Biên Hoà, Cầu Ghềnh, Cầu Mới, phát triển tiến công đánh chiếm vững chắc đầu cầu ở hữu ngạn sông Đồng Nai, mở đường tiến về Sài Gòn. Tiếp đó, đột kích vào nội đô tiêu diệt địch, đánh chiếm quận 1, nhằm vào mục tiêu chủ yếu là Dinh Độc Lập và đài phát thanh.

Rút kinh nghiệm từ cuộc giải phóng Lâm Đồng trước đó, Sư đoàn 7 đang tập kết ở đường quân sự cách Trảng Bom 5 km đã tổ chức thành hai thê đội, mỗi thê đội là một trung đoàn bộ binh. Trước giờ xuất quân, tôi đã trao lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” cho anh Lê Nam Phong, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7. Lúc 4h sáng ngày 30/4/1975, tôi đã cùng Bộ tư lệnh Quân đoàn ở tại Biên Hoà.

Cũng lúc ấy, phân đội đi trước của Sư đoàn 7 tiến đến cầu xe lửa Biên Hoà (cầu Ghềnh). Cầu có trọng tải 12 tấn, xe tăng không qua được. Lúc này, trên tất cả các hướng, quân ta đang vượt qua những điểm phòng thủ cuối cùng của địch, ào ạt tiến vào Sài Gòn. Hướng Đông Nam, Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2) đánh chiếm chi khu Nhơn Trạch, khu kho thành Tuy Hạ, phát triển đến phà Cát Lái. Lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đã tiến đến cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, bắt liên lạc với Trung đoàn đặc công 116, đơn vị đã chiếm và giữ cầu từ trước, cùng tiến vào Sài Gòn. Hướng Bắc, Quân đoàn 1 đã đánh chiếm chi khu Tân Uyên, căn cứ Lái Thiêu. Hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 diệt căn cứ sư đoàn 25 ngụy tại Đồng Dù, trung đoàn huấn luyện Quang Trung, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Hướng Tây Nam, Đoàn 232 đã giải phóng thị xã Hậu Nghĩa, đưa lực lượng đến sát vùng ven thành phố.

Trên hướng Đông Sài Gòn, Quân đoàn 4 đã đánh tới thị xã Biên Hoà. Nhưng đường số 1 làm từ thời Pháp, lòng đường hẹp, cầu yếu. Quân địch ở khu căn cứ Biên Hoà, khu vực phòng thủ mạnh nhất của địch trước cửa ngõ Sài Gòn vẫn tiếp tục chống trả. Trước tình hình rất khẩn trương như vậy, tôi và Bộ tư lệnh Quân đoàn lệnh cho Sư đoàn 6 (thuộc Quân khu 7 nhưng tại thời điểm đó do Quân đoàn 4 chỉ huy) tiếp tục truy quét tàn binh địch, diệt các mục tiêu còn lại. Sư đoàn 341 (được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tăng cường đứng trong hàng ngũ Quân đoàn 4 từ ngày 2/3/1975) vượt qua cầu đường sắt bằng xe tải, đánh chiếm các mục tiêu đã được phân công ở quận Gò Vấp, quận 3 và quận 10. Sư đoàn 7 không tiến theo đường số 1 nữa mà quay ra đường Xa Lộ để vào quận 1.

12h30 ngày 30/4/1975, Đại đội 7, Sư đoàn 7, tiến theo đường Hồng Thập Tự, quẹo qua đại lộ Thống Nhất, tới thẳng dinh Độc Lập. Một giờ trước đó, Lữ đoàn xe tăng 203 và Trung đoàn bộ binh 66 (Quân đoàn 2) đã tiến vào dinh Độc Lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các ngụy đầu hàng. Lúc ấy, tôi cùng Bộ tư lệnh Quân đoàn vào thẳng dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh và chính quyền cũ lúc đó có khoảng hơn 10 người”.

Tuấn Dũng ghi
Việt Báo (Theo_VnExpress.net)
vietbao.vn

Sức mạnh của những bức ảnh trong cuộc chiến ở Việt Nam

Tim Page là một trong những phóng viên ảnh nổi tiếng thời chiến tranh Việt Nam, bắt đầu sự nghiệp ở Lào năm 1964, khi mới 18 tuổi. Ông trở thành phóng viên ảnh mẫu mực trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam và những bức ảnh của ông trở thành nguồn cảm hứng của nhiều bộ phim thời kỳ đó. Trong thời gian ở Việt Nam, Tim Page bị thương 4 lần.

Tim Page.

“Cuộc chiến ở Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên được các phóng viên độc lập tường thuật, cuộc chiến đầu tiên được chụp ảnh màu, cuộc chiến đầu tiên được tường thuật qua truyền hình, và cuộc chiến đầu tiên không bị kiểm duyệt”, Tim Page nói về báo ảnh trong cuộc chiến tranh cách đây hơn 30 năm.

– Ông đã đến với nhiếp ảnh như thế nào?

– Câu trả lời là tôi được mời một công việc không thể từ chối trên phương diện chuyên môn. Tôi đang ở Lào vào năm 1964, và tôi đi chụp ảnh thay cho một người bạn khi đó đang làm việc cho hãng UPI (United Press International), khi anh ấy phải đi ra nước ngoài. Và tôi đã có được những bức ảnh duy nhất về cú đảo chính tại đó. Thế rồi UPI đề nghị tôi đi sang Việt Nam, làm phóng viên nhiếp ảnh cho hãng.

– Khi ông tới Việt Nam vào tháng 2/1965, ấn tượng đầu tiên của ông về Việt Nam là gì?

– Thật là khó nói, vì lúc đó Việt Nam còn mang nhiều sắc thái của Pháp và chiến tranh còn chưa in những dấu ấn đậm nét như vài năm sau đó. Miền nam Việt Nam vẫn là một nơi đầy lính Mỹ và giao thông tấp nập. Người ta có cảm giác nơi đây vẫn là một thuộc địa của Pháp.

– Xin ông kể lại một vài kỷ niệm đáng nhớ nhất về thời gian ông có mặt tại Việt Nam làm phóng viên nhiếp ảnh chiến tranh?

– Tôi không nghĩ là có thể đưa ra một sự kiện nào đó duy nhất. Nếu chúng ta hỏi bất cứ ai đã từng có mặt tại Việt Nam trong thời gian đó, đều khó có thể đưa ra một sự kiện nổi bật nhất. Tôi cho là không thể nói một sự kiện nào là quan trọng nhất trong ký ức của tôi.

Có lẽ hai điều phải nhắc tới, đó là được là một nhân chứng, được chứng kiến cuộc chiến diễn ra. Phải nói đấy là một đặc ân vô cùng to lớn, được chứng kiến cuộc đấu tranh giải phóng, được tiếp cận gần gũi đến vậy với những người tham gia cuộc chiến, dù là người Mỹ, người Việt… khi họ phải đối mặt với cái chết.

Chính bản thân tôi cũng đã từng bị thương và trải qua những đau đớn, chịu đựng, và đồng thời được có mặt tại một đất nước mà người dân đầy lòng vị tha, tập làm quen với những tình huống có thể nói cực kỳ điên rồ trút xuống đầu họ.

Việt Nam cũng là một nơi dễ sống, vui vẻ và đầy những điều thú vị. Tất cả chúng tôi, những phóng viên chiến tranh hồi đó đều rất trẻ và có thể nói là chúng tôi rất ý thức về tính mạo hiểm, về ý nghĩa của việc mình làm.

Những bức ảnh được đăng trên tạp chí Life, hay trên các báo chí khác ngày đó không giống như những hình ảnh được đăng ngày nay và chúng tôi có thể có những tác động, ảnh hưởng tới người xem, và người ta có thể rút ra một điều gì đó từ những bức ảnh ấy. Chúng đã giúp thay đổi cả tiến trình của cuộc chiến.

Tôi không nghĩ là ngày nay có thể làm được điều đó, và trên phương diện này thì phải nói cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên được các phóng viên độc lập tường thuật, cuộc chiến đầu tiên được chụp ảnh màu, cuộc chiến đầu tiên được tường thuật qua truyền hình, và cuộc chiến đầu tiên không bị kiểm duyệt. Cuộc chiến đầu tiên và cũng là cuối cùng trên nhiều phương diện.

Để sống thì đây cũng là một nơi tuyệt vời, vì Việt Nam là một đất nước rất đẹp, con người cũng đẹp, đồ ăn thức uống rất ngon. Và là một thanh niên thì những trải nghiệm đó là một điều không thể quên được.

– Là một thanh niên rất trẻ, khi tới Việt Nam trong thời gian chiến tranh ông mới 21 tuổi, ông đã làm thế nào để có thể đương đầu và trụ được trong bối cảnh chiến tranh như vậy?

– Tôi đã đương đầu, chống chọi với cuộc chiến như thế nào ư? Hoặc là trụ được hoặc là không. Bạn buộc phải đương đầu thôi vì như chúng tôi vẫn nói, phải đè nén nỗi sợ hãi, vì nếu không thì nó sẽ bao trùm, vượt lên trên chính bạn và bạn sẽ không thể bước ra để chụp thêm một bức ảnh nào nữa. Bạn trở nên quá sợ hãi, quá hoảng loạn, quá lo lắng, hốt hoảng trước sự điên rồ của chiến tranh.

Còn bản thân tôi đã đương đầu với chiến tranh như thế nào ư? Có lẽ là sau khi có mặt tại chiến trường, trở về sau những chiến dịch và chứng kiến cảnh người chết trong cuộc chiến, chụp những bức ảnh vô giá mang về, thì chúng tôi ngồi xuống với nhau, hút điếu thuốc lá, uống chút gì đó và nói về những điều đã chứng kiến, cố gắng thư giãn, cố không nghĩ tới những chuyện đã xảy ra tại chiến trường.

Nhưng vẫn biết rằng, ngày mai hay ngày kia, sẽ lại phải bước ra đối mặt với nó. Tôi không nghĩ là có thể thực sự “giải quyết” được tâm lý ấy mà chỉ có thể đè nén nó. Và trên một phương diện nào đó thì bạn biến trạng thái tiêu cực đó sang thành sự sáng tạo trong nhiếp ảnh, trong viết lách hay trong phim ảnh.

Tôi cho rằng sau này các vấn đề mới nảy sinh. Đó là khi nhìn lại quá khứ, và có cảm giác tội lỗi khi mình thì sống sót mà những người khác thì không. Và mãi sau này ta mới thực sự thích nghi được với những gì đến xảy ra với mình vào thời điểm đó.

– Ông đã bị thương nhiều lần và vài lần thương nặng tưởng chết, cảm giác của ông ra sao khi trở lại chiến trường sau mỗi lần bị thương như vậy?

– Khi còn trẻ, có lẽ người ta tin rằng, chẳng điều gì có thể xảy ra với mình được và rằng mình được Thượng đế hay một thánh nhân nào đó phù hộ. Nhưng đến khi chính mình bị thương thì bỗng nhận ra rằng mình cũng chỉ làm bằng xương bằng thịt như những người khác. Trong chiến tranh thì không ai có thể nói trước được là mình có thể bị trúng đạn ở đâu, trong rừng rậm, trong khi ngủ, trên đường phố hay trong vùng có giao tranh. Mối đe dọa đó đến từ mọi phía, vào mọi thời điểm, bất kể ngày hay đêm.

Và không có cách gì có thể tự bảo vệ mình trước những đe dọa như thế, vì vậy cách duy nhất có lẽ là tự tạo ra một vỏ bọc che chắn tâm trí của mình trước những đe dọa đó. Rồi khi bị thương, con người ta bắt đầu tự đặt câu hỏi với chính mình, tại sao lại ở đây, và ở đây để làm gì, họ tự vấn chính động cơ của mình.

Sau mỗi lần bị thương như vậy và lại bước vào cuộc chiến, lại đối mặt với sự điên rồ của chiến tranh thì nó cũng giống như sau khi ngã ngựa vậy, chỉ có điều ta có thể điều khiển được con ngựa mình cưỡi trong khi lại chẳng có chút quyền lực gì điều khiển được cuộc chiến cả. Vì thế sau mỗi lần bị thương, khi phải trở lại đối mặt với cuộc chiến thì việc tiếp tục làm việc lại ngày càng trở nên khó khăn hơn. Tới một lúc nào đó bạn tự nhủ rằng chỉ có thể chịu đựng tới mức này thôi, không thể chịu đựng thêm được nữa.

– Điều gì đã khiến ông tiếp tục, có phải vì danh tiếng, vì tính mạo hiểm, hay vì một lý tưởng nào đó?

– Đây là một câu hỏi khó trả lời vì khi con người ta trưởng thành hơn, già dặn hơn, thái độ chính trị của ta cũng dần thay đổi. Vào thời điểm khi tôi trở lại Việt Nam hồi năm 1968, tôi đã ở Mỹ và đã chụp ảnh tường thuật phong trào chống chiến tranh. Tôi trở thành người có tư tưởng chống chiến tranh hơn, và đối với tôi toàn bộ cuộc chiến trở nên điên rồ và vô nghĩa lý hơn.

Vì thế những đề tài tôi chụp thường trở nên mang tính chống chiến tranh mạnh mẽ hơn. Thực sự nói cho cùng thì tất cả các hình ảnh về chiến tranh đều trở thành những hình ảnh chống chiến tranh cả. Và tôi cho rằng mình bắt đầu tìm kiếm những hình ảnh để thể hiện thái độ chỉ trích, nhạo báng chiến tranh và cho thấy thực chất chiến tranh là gì.

Chiến tranh ở Việt Nam là độc nhất vô nhị, vì nó kéo dài rất lâu. Các cuộc chiến tranh hiện đại chỉ kéo dài không bao lâu, như cuộc chiến vùng Vịnh, kết thúc sau vài tuần. Trong khi tại Việt Nam người ta sống cùng chiến tranh, và bước vào cuộc chiến như đi làm vậy, và trên phương diện ấy thì nó quả là một kinh nghiệm thật khác thường.

Càng ở đó lâu bao nhiêu thì người ta càng nhận ra những nỗ lực thực dân hóa của Mỹ qua việc ném bom Campuchia và dùng B52 ném bom Việt Nam là một điều thực sự vô nghĩa lý vì đây là một cuộc chiến không thể thắng được.

Thật khó có thể nói với người Mỹ rằng quý vị sẽ không thể thắng được, rằng đó là chuyện sẽ không xảy ra. Trong khi đó người Mỹ tin rằng họ sẽ thắng mà đó lại là một cuộc chiến không thể thắng nổi. Vì thế, những bức ảnh chụp chiến tranh của tôi cũng trở nên có tính chính trị hơn, với những đổi thay trong cách chụp của mình, cách mình nhìn sự vật, và cách mình chọn lựa hình ảnh để chụp.

– Ông tin rằng các phóng viên nhiếp ảnh, các nhà báo có thể thay đổi được chiến cuộc?

Tôi cho rằng vào thời kỳ đó, chúng tôi đã làm thay đổi cuộc chiến qua những tường thuật rất nhiều về cuộc chiến tranh Việt Nam, vì đây là cuộc chiến đầu tiên được các nhà nhiếp ảnh độc lập tường thuật, cuộc chiến đầu tiên và cũng là cuối cùng trên phương diện tường thuật.

Và tôi cho rằng điều đó đã xảy ra được là vì trong thời chiến tranh ở Việt Nam đã có những nhà nhiếp ảnh chiến tranh rất tài năng. Những bức ảnh họ chụp được đăng trên trang nhất của các tờ báo, tạp chí lớn trên toàn thế giới và trên cả truyền hình nữa. Dần dà tất cả những cái đó đã làm thay đổi thái độ của công chúng về cuộc chiến, mà đặc biệt quan trọng là của công chúng tại Mỹ, rồi tại châu Âu, Nhật Bản, Australia và những nơi khác nữa. Thậm chí tới ngày nay, nếu ta hỏi những người ở một độ tuổi nhất định, những người đã từng biết chừng gần một chục tấm ảnh về chiến tranh Việt Nam thì những hình ảnh đó vẫn còn ghi lại trong trí nhớ của họ.

Tôi cho rằng một tập hợp chung những hình ảnh về chiến tranh đó, những trích đoạn trên truyền hình, trên báo chí thực sự đã làm thay đổi ý kiến của công chúng, lối nghĩ và cách nhìn nhận cuộc chiến, và về sự điên rồ của Mỹ trong cuộc chiến tại Việt Nam và tại Đông Dương.

– Nhưng ông không cho rằng nay các nhà báo, phóng viên nhiếp ảnh, truyền hình có thể làm điều đó, như trong cuộc chiến hiện nay tại Iraq?

– Không, đó là điều không thể làm được. Hãy nhìn vào cuộc chiến Iraq sẽ thấy. Về cơ bản đó là hình thức cài phóng viên đi theo tường thuật và do quân đội kiểm soát. Chúng ta không được thấy những thống khổ, khó khăn mà người dân Iraq phải chịu đựng, trừ phi xem các đài truyền hình Ảrập, như Al-Jazeera. Chúng ta không được thấy những gì từ cực bên kia vì chúng bị che giấu trước mắt của chúng ta.

Chúng ta không được thấy hình ảnh của các nạn nhân, và thậm chí cũng chẳng được thấy xác của những lính Mỹ bị thiệt mạng. Báo chí ngày nay gần giống như những quyển catalogue để đặt mua hàng thời những năm 60 vậy.

Trước đây, các tạp chí ra vào thứ bảy là lãnh địa của giới nhiếp ảnh, nhưng ngày nay đã trở thành lãnh địa của giới tiêu thụ. Các bài báo trong các tạp chí này là về thời trang, về nấu ăn, làm vườn, chứ không có những đề tài có chiều sâu hay có ý nghĩa sâu sắc.

Vấn đề là những gì các phóng viên nhiếp ảnh và truyền hình ghi lại trong chiến tranh nghiễm nhiên sẽ khiến người xem buồn và khiến người ta phải suy nghĩ. Và nếu những hình ảnh đó lại được cắt bỏ, biên tập lại thì toàn bộ việc có mặt và ghi lại những hình ảnh đó sẽ chẳng còn ý nghĩa hay tác dụng gì nữa. Tôi cho đây là một vấn đề rất căn bản.

– Ông ở Việt Nam ba năm từ năm 1965 tới 1967 và sau đó ông trở lại vào năm 1968, cũng vẫn trong thời gian có chiến tranh. Lần đầu tiên ông ở trở lại Việt Nam sau chiến tranh là năm 1980. Vậy cảm tưởng của ông về một nước Việt Nam ngày nay là gì?

… Được thấy một đất nước đã từng bị tàn phá thảm khốc vì một cuộc chiến tranh hiện đại và được thấy đất nước đó phục hồi quả là một điều kỳ diệu.

Thật cảm phục khi được thấy những người dân đã từng là nạn nhân của cuộc chiến, khốn khổ vì cuộc chiến nay trở lại cuộc sống bình an mà không hề mang hận thù, đầy lòng vị tha, sống với hiện tại, và bỏ qua quá khứ.

Nhiều người thuộc thế hệ trẻ ngày nay không biết gì về chiến tranh ngoài những gì qua sách vở và trên phương diện đó thì tôi cho rằng nghĩa vụ của chúng ta là phải đem lại cho họ một hình ảnh chính xác về cuộc chiến, về lịch sử.

– Xin hỏi ông một câu cuối cùng, ông có nghĩ là Mỹ cần phải giúp giải quyết hậu quả chiến tranh, như trong vấn đề chất độc da cam, hay giúp những thương binh do cuộc chiến?

– Tôi cho rằng trong vấn đề chất độc da cam thì chắc chắn là nên. Các cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến Việt Nam đã bị ảnh hưởng do chất độc da cam trong thời gian chiến tranh đã kiện và được bồi thường những khoản tiền đáng kể cho chính bản thân họ hay cho các thân nhân của họ. Có sự cố tình tách biệt những người này với những nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam.

Theo tôi cách tốt hơn cả là nên mở cửa, cởi mở hơn. Mỹ trong suốt một thời gian dài đã áp dụng chính sách cấm vận với Việt Nam, trong khi tốt hơn cả là tạo công ăn việc làm và có một nền kinh tế lành mạnh và như thế có nghĩa là các cựu chiến binh có thể được xã hội trông nom. Quá khứ đã qua và tôi cho rằng mọi người cần được sống trong hòa bình.

(Theo BBC)
Việt Báo
vietbao.vn

Chiến trường cũ trong con mắt phóng viên nước ngoài

Cựu phóng viên ảnh chiến trường Việt Nam năm 1972, 1973, bà Barbara Gluck.

Trong đoàn 15 nhà báo nước ngoài thăm Củ Chi hôm 26/3, có 2 người Mỹ, một là cựu phóng viên ảnh tại Sài Gòn những năm ác liệt trước giải phóng và người còn lại đã viết sách về VN. Men theo lối nhỏ chật hẹp của địa đạo, chuỗi ký ức trong họ dần tái hiện.

Thomas A. Bass được chú ý hơn cả trên chuyến xe. Anh có nụ cười rạng rỡ, sống mũi cao, đôi mắt biết nói, phong cách gần gũi, giản dị. Không dấu hiệu nào khác ngoài tấm thẻ do Sở Ngoại vụ cho thấy người này từng là phóng viên kỳ cựu của The New Yorker, tác giả cuốn sách nổi tiếng VietnamericaThe War comes home viết về những đứa con lai, cũng là người tìm ra cha đẻ cho ca sĩ Phương Thảo sau 3-4 năm vật lộn tại Mỹ…

Xe đi qua một rừng cao su, ước chừng mới đây thôi thu hoạch mùa mủ đầu tiên: thân còn cộc, màu lá xanh non không đủ ngăn nắng lửa Củ Chi. Thomas thốt lên: “Chúng đã được trồng lại. Trước đây chỉ là những hố bom, chết chóc, không cây cối. Chiến tranh đã từng hủy hoại tất cả… Điều này tôi được biết qua những cuốn sử và tác phẩm văn học viết về chiến tranh tại Việt nam. Tôi không phải là phóng viên đã từng có mặt ở Việt Nam thời kỳ 1975 vì lúc đó tôi còn nhỏ. Cho đến lần đầu tới Việt Nam năm 1991, tất cả những điều tôi biết về nơi này đều qua những cuốn sách”.

Thomas nhắc tên những cuốn sách từng đọc, trong đó, để lại nhiều ấn tượng, cho anh một hình dung thật nhất chính là Sorrow of War, bản tiếng Anh tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Việt Nam Bảo Ninh. Những trang sách ghi lại câu chuyện tình có thật trong quãng thời gian gian khổ nhất cuộc chiến, những trải nghiệm, niềm đau, nỗi sợ hãi… ám ảnh suốt cuộc đời không chỉ của riêng anh bộ đội trong tác phẩm, mà còn của binh lính Mỹ, những người từng để lại một phần thân thể mình tại Việt Nam vào cái ngày họ không mảy may hy vọng trở về đất mẹ. “Người Việt Nam đã trải qua cuộc chiến tranh dài, từ khi chống Nhật, Pháp, Mỹ để có một chiến thắng đáng ghi nhận vào những ngày tháng 4/1975. Họ có quyền tự hào về điều đó”, Thomas nói.

Từ 22 đến 26/3, khoảng 100 phóng viên, nhà báo nước ngoài đến từ 67 hãng thông tấn quốc tế và trong nước đã dự họp báo, đưa tin về các hoạt động kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tại TP HCM.Sau cuộc làm việc với lãnh đạo UBND thành phố ngày 22/3, đoàn đã đi thăm Trung tâm Bảo trợ trẻ tàn tật Thị Nghè, Làng Hòa Bình Từ Dũ, địa đạo Củ Chi, Cần Giờ.

Còn 2 cuốn sách của các tác giả Mỹ được nhắc tới là A bright, shining lie của Neal Sheehan,Dispatches của Michael Herr. Chiến tranh, theo những gì đọng lại trong Thomas là một thảm họa, một sai lầm của nước Mỹ vì có quá nhiều người đã chết.

Nói về cuốn sách của mình, Vietnamerica, xuất bản năm 1995, Thomas cho rằng, đây đơn giản chỉ là cuốn sách ghi lại câu chuyện, số phận những đứa con mang hai dòng máu Việt Nam – America, dựa vào sự kiện những năm 1988, 1990, khi Chính phủ Mỹ tìm và đưa tất cả những đứa con lai Mỹ, hiện đang là trẻ bụi đời (children of dust) bị cha đẻ bỏ rơi sau 13 năm giải phóng. “Những đứa con lai lúc này đã lớn, khi sang Mỹ được trả về gia đình hoặc được Chính phủ nuôi, cho ăn học theo văn hóa, đời sống Mỹ, đến khi đủ 18 tuổi có thể sống tự lập như bất kỳ một người Mỹ bình thường”, Thomas nói.

Ngồi ngay sau Thomas trên chuyến xe chính là Barbara Gluck, một cựu phóng viên ảnh đã từng vác máy rong ruổi cùng chồng trên chiến trường miền Nam Việt Nam, cũng là cây bút của The New York Times trong những năm 1972, 1973.

Lần đầu đến Việt Nam vào tháng 4/1968, Barbara làm việc như một cộng tác viên. Bà đến Đông Nam Á trong chuyến đi dài 3 tuần, theo lời mời của Joseph Treaster, phóng viên thường trú của The New York Times, người sau này là chồng của bà.Gặp nhau tại Hong Kong, cả hai bay đến Sài Gòn.

“Tôi đã ở đây 3 ngày trước khi có trận đánh lớn của quân đội Việt Nam. Khi đó, tôi đang ở khách sạn Continental bỗng nghe thấy tiếng bom nổ ở ngay trung tâm thành phố. Ngay sau đó, tôi đã nhìn thấy những thân thể người ở ngay bên bờ sông, nhiều binh lính cầm súng trên tay…, những cảnh tượng một cô gái New York như tôi chưa bao giờ thấy. Lúc đó tôi chưa đầy 30 tuổi”, bà nói.

Chuyến đi Việt Nam tiếp đó là năm 1972, cùng chồng. Barbara nhớ như in khoảnh khắc bấm máy trong 14 giờ bay trên một chiếc B52 thả bom miền Bắc. Bà cũng không thể không nhớ 24 giờ nằm vùng tại một làng ở Mỹ Tho. “Tôi đã chụp ảnh trẻ em, bộ đội Việt Nam. Cái cảm giác lúc đó về ngôi làng là hình như không có chiến tranh đang xảy ra. Lũ trẻ tóc vàng hoe, chạy xung quanh tôi chỉ trỏ như chưa bao giờ nhìn thấy người Mỹ. Người dân đã cho tôi ăn, không có kẻ thù và coi như bạn tốt”, Barbara kể lại.

Thomas và Barbara bên cạnh quả bom B52

Thomas và Barbara bên cạnh quả bom B52

Giờ đây, ngay tại Củ Chi, không khó khăn để Barbara nhận ra hình thù quả bom B52 trong góc nhà trưng bày. Bà chỉ cho nhiều đồng nghiệp đứng cạnh: “Tôi đã nhìn thấy những người phụ nữ bình thường, họ đang làm việc. Một tiếng bom nổ, khói mù mịt. Máu trào ra từ hai bên tai và hốc mũi của người phụ nữ. Những hình ảnh tôi không thể quên”.

Rời nhà trưng bày, đoàn phóng viên đi qua bếp Hoàng Cầm. Ai cũng nhón thử một miếng sắn luộc chấm với muối vừng, món dã chiến của bộ đội Việt Nam. Tranh thủ lúc nghỉ uống nước, Thomas tiết lộ, sau chuyến đi này sẽ viết một bài báo dài 10.000 từ về những cảm nhận Việt Nam sau 30 năm chiến tranh, về chính trị, văn hóa, giáo dục. Còn Barbara sẽ ở lại để ghi những hình ảnh TP HCM vào ngày 30/4 năm nay, đồng thời đến thăm những làng trẻ em nạn nhân chất độc da cam, trẻ mồ côi để làm giàu bộ sưu tập cá nhân của mình.

“30 năm quay lại Việt Nam, tôi thực sự không thể tin nổi những đổi thay nơi thành phố này. Đứng ở quảng trường Nhà hát thành phố, ngắm khách sạn Caravelle, Continental…, tôi có cảm giác như đứng ở Beverly Hill, Mỹ. Tôi chỉ biết nói một điều rằng tôi yêu thành phố này, tôi yêu Việt Nam và các bạn”.

Lê Nhàn Việt Báo (Theo_VnExpress.net)
vietbao.vn

Bảo đảm binh lực cho các chiến dịch Xuân 1975

QĐND Online – Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, chúng ta đã tiến hành khoảng 50 chiến dịch lớn nhỏ. Chưa bao giờ việc bảo đảm nhân tài,vật lực, trong đó có bảo đảm vũ khí, trang bị lại hùng hậu, sung sức như 3 chiến dịch lớn trong Mùa Xuân 1975.

Theo các tài liệu công bố, trong Chiến dịch Tây nguyên, trận mở màn Buôn Mê Thuột, lực lượng ta mạnh áp đảo đối phương: xe tăng, xe bọc thép ta nhiều gấp 1,2 lần địch, pháo lớn ta gấp 2,1địch, còn bộ binh ta gấp tới 5,5 lần địch. Chính vì thế, khi tấn công và cả khi địch tổ chức phản kích hòng chiếm lại thị xã này, ta đã có đủ quân số, vũ khí, sử dụng pháo binh, xe tăng đánh địch phản kích rất hiệu quả. Điều mà ở các chiến dịch truớc đây, chưa bao giờ ta có hoả lực, cơ giới, thiết giáp hiệp đồng binh chủng với bộ binh “đánh nhanh, giải quyết chiến trường nhanh” như thế.

Trận đánh trên đèo Ma-đrắc, cuối tháng 3-1975, mục đích của Sư đoàn 10 Quân Giải phóng là nhằm chọc thủng phòng tuyến này, về duyên hải Trung bộ. Đèo Ma-đrắc do lữ đoàn dù của quân đội Ngụy chốt giữ, có máy bay chiến đấu chi viện mạnh, nhưng tại đây, trung đoàn pháo binh của ta bắn chế áp địch, có ngày bắn liên tục nhiều giờ liền, “khoá mõm” pháo binh địch. Ta còn khống chế các điểm cao, eo núi, sau đó nhiều xe tăng, xe thiết giáp xuất kích, hiệp đồng cùng bộ binh đánh chia cắt đội hình địch. Cuối cùng lữ đoàn dù đối phương đã bỏ trận địa chạy tháo thân thì lại bị bộ phận dưới chân đèo của ta đánh vỗ mặt. Ta giải phóng hành lang đường 21, tiến về Nha Trang. Kết quả ấy nhờ ta đáp ứng đủ đạn pháo, đạn phòng không, xăng dầu cho xe bọc thép kịp thời tác chiến.

Xe tăng quân Giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Tài liệu của các sĩ quan quân đội Việt Nam cộng hoà sau này thú nhận: Địch rất sợ uy lực, hoả lực và sức đột phá của xe tăng T54, T55 Quân giải phóng, bởi lẽ nòng pháo của xe tăng “cộng quân” cỡ 100mm, trong khi đó xe tăng của chúng chỉ có cỡ 75mm mà thôi. Viên đại tá nguy Đặng Văn Quang, Tư lệnh mặt trận Buôn Mê Thuột và đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn Trọng Luật sau này thừa nhận. Khi Buôn Mê thuột bị tấn kích, các pháo đội của họ không đủ tầm bắn chế áp pháo binh đối phương, vì pháo của họ cỡ nòng 105mm, trong khi pháo nòng dài của đối phương bắn đạn 130mm!

Trong chiến dịch Tây Nguyên, có tới hàng trăm máy bay của địch từ 3 sư đoàn không quân tới ném bom, bắn rốc két ứng cứu cho bộ binh. Trong đó phải kể đến F5E, A-37, A1…cùng rất nhiều trực thăng vũ trang bay trên các độ cao chi viện. Tuy nhiên, sự xuất hiện của Tên lửa vác vai A72, (địch gọi là SA-7E), của Quân giải phóng đã tìm diệt khá hiệu quả, bắn rụng nhiều máy bay, khiến cho việc ném bom của địch gặp khó khăn vì không dám hạ thấp chế áp các trận địa. A72 thực sự là “khắc tinh” của phi cơ quân nguỵ. Trong đội hình mỗi sư đoàn bộ binh của ta còn được biên chế 1 tiểu đoàn pháo phòng không (PPK) 37-2mm; 1 đến 3 phân đội tên lửa tầm thấp A-72. Các trung đoàn bộ binh có 1 đại đội súng máy phòng không (SMPK) 12,7mm. Chưa bao giờ bảo đảm súng phòng không theo sư đoàn lại mạnh như thế.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tên lửa tầm thấp A-72 đã bắn rơi tại chỗ 34 máy bay địch. Ngay trên hướng Tây Bắc Sài Gòn trong ngày 29-4, tên lửa A-72 đã bắn rơi 9 máy bay địch ở Phú Lâm, Tân Tạo, ngã tư Bảy Hiền. Cũng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh chúng ta đã tổ chức thành công hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng phòng không với bộ binh, xe tăng và các tổ, đội bộ binh bắn máy bay bay thấp. Phát huy hỏa lực của các loại vũ khí trang bị PPK 57mm, 37mm, 23mm và súng máy phòng không 12,7mm được sử dụng đánh cả địch trên không và địch mặt đất, mặt nước. Riêng 2 trung đoàn phòng không 234 và 284 đã bắn cháy, bắn chìm 10 tàu chiến địch trên sông Đồng Nai.

Có được lực lượng mạnh về hoả lực, sung sức về sức đột phá, cơ động triển khai nhanh nhờ cơ giới…phải kể đến việc bảo đảm vận chuyển của bộ đội Trường Sơn trong 2 năm 1973 và 1974. Khối lượng hàng hoá chuyển vào chiến trường gấp 7 lần năm 1971-1972. Chỉ tính riêng tuyến đường ống xăng dầu cùng với hệ thống cột xăng cấp phát, xuyên qua hàng nghìn cây số núi rừng Trường Sơn, nhiều quãng phải vượt qua địa hình vô cùng hiểm trở – núi cao 700 mét… đã chi viện chiến lược, chuyển tải hơn 270.000 tấn xăng dầu đáp ứng yêu cầu vận tải cơ giới quy mô lớn, cơ động binh khí kỹ thuật cho các chiến trường và có dự trữ.

Đầu năm 1974, lực lượng bộ đội hợp thành trực thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn gồm 9 sư đoàn binh chủng (4 sư đoàn công binh, 2 sư đoàn ô tô vận tải, 1 sư đoàn phòng không, 1 sư đoàn bộ binh, 1 đoàn chuyên gia giúp bạn), 12 trung đoàn binh chủng cơ động và một sư đoàn cao xạ, một trung đoàn tên lửa do Bộ phối thuộc. Với 2 sư đoàn và 2 trung đoàn xe vận tải, toàn tuyến đã có hơn 10.000 xe vận tải các loại, cộng với hơn 1.500 xe-máy phục vụ các binh chủng. Tổng quân số kể cả lực lượng phối thuộc và thanh niên xung phong là 120.000 người.

Dự kiến ban đầu khối lượng vật chất mà bộ đội Trường Sơn vận chuyển chi viện cho các chiến trường trong mùa khô 1974-1975 là 510.000 tấn nhưng quá trình thực hiện đã lên tới 560.000 tấn. Ngoài hơn 4.500 xe – máy đã có, bộ đội Trường Sơn tiếp nhận hơn 5.500 xe máy do miền Bắc bổ sung, đưa tổng số xe máy toàn tuyến lên hơn 10.000 chiếc; trong đó có hơn 7.000 xe vận tải.

Nhớ lại những năm tháng đầu tiên chiến đấu cấp trung đoàn ở Tây Nguyên, những năm 1965-1966, pháo cối, pháo 85 mm, đạn tính từng viên, lương thực thiếu, nhiều đơn vị phải phát nương tỉa bắp để tự nuôi nhau. Binh lực hạn hẹp đã chi phối rất lớn đến sức chiến đấu của các đơn vị.

Thắng lợi trên chiến trường, có sức đóng góp “thường xuyên quyết định thắng lợi” của hậu phương. Mỗi đồng tiền, bát gạo, viên thuốc, khẩu súng, trái đạn pháo của nhân dân gửi vào chiến tường thực sự đã phát huy hiệu quả.

Chiến dịch giành thắng lợi, cán bộ chiến sĩ luôn ghi nhận có công sức rất lớn của lực lượng bảo đảm. Sau này số chiến lợi phẩm ta thu được như đạn pháo 105, xe cơ giới, xăng dầu, khiến ta càng đánh càng mạnh.

PHÙ VÂN
qdnd.vn

Bắt sống tướng ngụy Lý Tòng Bá

Cuối tháng 3 vừa qua, tôi được chứng kiến cuộc gặp gỡ thật cảm động giữa những cựu cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 20 (K20) thuộc Đoàn 198 đặc công. Họ là những người đã tham gia hàng trăm trận đánh trên chiến trường Tây Nguyên và trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Vào những ngày này, ký ức chiến tranh như đang sống dậy trong lòng họ…

Nghĩa trang liệt sĩ xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn (Thành phố Hồ Chí Minh) hiện có 7 ngôi mộ liệt sĩ từng là cán bộ, chiến sĩ K20 hy sinh trong trận đánh chiếm cầu Bông đêm 29, rạng ngày 30-4-1975. Hôm nay, trong ngày gặp mặt, những cựu chiến binh (CCB) K20 đến nghĩa trang thắp hương, viếng mộ đồng đội. Trong làn khói hương nghi ngút, nhiều CCB không cầm được nước mắt khi nhớ về những đồng đội đã hy sinh chỉ vài tiếng đồng hồ trước giờ toàn thắng.

ại tá Lê Mạnh Hùng, khi đó là quyền Tiểu đoàn trưởng K20 kể lại: “Đêm ngày 28-4, K20 nhận lệnh phải cơ động lực lượng tiêu diệt địch đang chốt giữ cầu Bông mở đường cho đại quân ta tiến về giải phóng Sài Gòn. Đây là cây cầu huyết mạch trên quốc lộ 22, do vậy để chặn đường tiến quân của Quân giải phóng, địch bố trí hệ thống phòng ngự nhiều tầng. Hai bên đầu cầu là hai lô cốt cùng xe tăng án ngữ. Dưới cầu, địch đã gài thuốc nổ để chuẩn bị phá cầu cản đường tiến của đại quân ta. Theo kế hoạch, 2 giờ sáng ngày 30-4, hai mũi tiến công của tiểu đoàn đồng loạt nổ súng. Địch chống trả rất điên cuồng. Cuộc chiến đấu giành giật từng thước đất, từng mố cầu diễn ra quyết liệt. Hai xe tăng của địch đã bị bắn cháy. Trước sức tiến công mãnh liệt của tiểu đoàn, bọn địch chốt giữ cầu Bông hoảng loạn tháo chạy, không kịp phá cầu. K20 tổ chức phòng thủ đề phòng địch tái chiếm cầu. Trong trận đánh này, đơn vị hy sinh 7 đồng chí …”.

Trong lúc cuộc chiến đấu giữ cầu Bông diễn ra thì Sư đoàn 320 của ta đánh vào căn cứ Đồng Dù. Hàng nghìn tên địch từ căn cứ Đồng Dù bỏ chạy nhưng cầu Bông đã bị quân ta chiếm giữ. Chúng lội sình, vượt kênh chạy trốn về Sài Gòn. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 30-4, có một nhóm gồm 5 tên địch mặc quần đùi, trong đó một tên dáng người thấp, béo tròn lọt vào điểm chốt giữ phía Đông, cách cầu Bông gần 500m thì bị quân ta bắt sống. Quyền Tiểu đoàn trưởng Lê Mạnh Hùng đoán chắc tên này là chỉ huy, anh dí súng vào bụng hắn, quát:

– Mày ở đơn vị nào?

– Dạ chúng em ở Sư đoàn 25 dù ạ.

-Mày làm gì? Dạ em là Trung tá, Tham mưu trưởng Sư dù 25 ạ.

– Mày nói láo. Mày khai thật, không tao bắn.

Mặt tên địch tái xanh. Lúc này nó mới khai thật: “Dạ em là Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn dù 25”. Nghe thấy vậy, quyền Tiểu đoàn trưởng Lê Mạnh Hùng ra lệnh:

– Mày phải kêu gọi lính của mày bỏ súng đầu hàng.

Lý Tòng Bá vội dùng loa tay kêu gọi binh lính địch ra hàng. Hàng nghìn tên địch ẩn nấp dưới những đám ruộng, bờ kênh, lóp ngóp đứng dậy buông súng, xin hàng…

Chuyện xảy ra cách đây 35 năm, nhưng những CCB K20 tham gia trận đánh cầu Bông ấy vẫn còn nhớ mãi. Anh Nguyễn Đình Tuất, khi ấy là chiến sĩ liên lạc cười vui: “Lúc bắt được nó, chúng tôi có biết nó là thằng nào đâu. Thấy thằng to béo thì nghĩ nó là chỉ huy. Ai ngờ lại đúng. Mà nó cũng ngoan cố lắm. Đến khi anh Hùng dí súng vào bụng, nó mới khai thật. Lúc ấy, tôi mới rõ mặt chuẩn tướng ngụy Lý Tòng Bá”.

Bây giờ, dù mỗi người một nơi, nhưng cứ vào dịp 30-4 hằng năm, những CCB K20 đặc công vẫn thường tổ chức gặp mặt để cùng nhau ôn lại những kỷ niệm của một thời trai trẻ; để được sống lại với những năm tháng chiến đấu hào hùng.

Phạm Văn Mấy
qdnd.vn

Sài Gòn những ngày cuối qua mắt phương Tây

“Sự sụp đổ của cơ cấu dân sự và quân sự Việt Nam Cộng hòa là bi kịch và cay đắng” – Hen-ri Kít-xinh-giơ (Henry Kissinger) đã phải than vãn như vậy.

Các báo Le Nouvel Observateur, Le Figaro, Thời báo Niu Y-oóc xôn xao đưa tin: “Sức mạnh áp đảo của quân Bắc Việt đã áp sát cửa ngõ Sài Gòn”. Ngày 21-4-1975, tiếng súng từ ngoại vi đã dồn dập vọng vào trung tâm Sài Gòn. Nhà mấy nhân viên ISCC – Viện trợ quân sự Mỹ ở đường Trần Quốc Toản tụ hội lắm giai thoại về chính quyền Cộng hòa Nam Việt. Có người đưa tờ Le Figaro thông báo tin các cố vấn Nhà trắng thúc giục Tổng thống Pho (Ford) tái xác nhận rằng “Mỹ không có ý định cam kết với chính phủ Nam Việt về quân sự”. Giám đốc CIA Uy-li-am Câu-bi (William Colby) nói trắng ra là “phải thay thế Thiệu để đổi lấy sự di tản không bị phía bên kia gây trở ngại”. Các phe phái trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng hy vọng tìm được giải pháp tồn tại đang ép ông Thiệu phải từ chức để mở đường thương lượng với phía giải phóng. Tối hôm ấy, Nguyễn Văn Thiệu từ chức với bài phát biểu cay đắng: “Tổng thống Mỹ lừa tôi ký vào Hiệp định Pa-ri rồi bỏ mặc. Họ đã bán đứng chúng ta. Thử hỏi trên thế giới này còn ai tin được lời hứa bạn bè của Mỹ”.

Xe tăng 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975. Ảnh: Francoise Demulder

Ba hôm sau tình hình nội đô Sài Gòn tĩnh lặng khác thường. Tạp chí Thời đại thông báo: “Ngày 24-4-1975 tại giảng đường Đại học Tulane, Tổng thống Pho đọc bài diễn văn quan trọng “Việc trở lại trong danh dự”, vì rằng là “Cuộc chiến tranh đã kết thúc với Mỹ, người Việt Nam phải tự lo giải quyết số phận của mình”. Ngày 26-4-1975, nhà báo Liên Xô Mi-kha-in (Mikhail) viết rằng cựu tổng thống Thiệu đã rời Sài Gòn đi Đài Loan mang theo 5 tấn vàng và đá quý. Gioóc-giơ Chớt (George Church), phóng viên Thời đại tường thuật: “Cựu tổng thống lúc này không còn giữ kẽ, cứ thút thít theo người tùy tùng lên thang máy bay. Ông ta bước vội vã nói câu từ biệt không rõ lời”. Trong khi đó, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa tìm được gương mặt khả dĩ làm “chiếc cầu thương lượng” với phía bên kia. Đại sứ Mỹ Mác-tin (Martin) không thể chần chừ hơn nữa, liền gây sức ép để Trần Văn Hương từ chức. Người Mỹ đặt cả hy vọng vào Dương Văn Minh – “con bài” cứu vãn tình thế.

Chiều 28-4-1975, mấy tốp máy bay từ đâu ào tới Tân Sơn Nhất, hai loạt bom nổ lộng óc. Tối đó lễ tấn phong tổng thống kế nhiệm được tiến hành gấp gáp, mặc dù hơn 60 nghị sĩ đã bỏ cuộc họp, chỉ còn lại những bộ mặt lo âu thấp thỏm. Các nhân viên ISCC rò rỉ tin Tân Sơn Nhất bị tê liệt, đại sứ quán lo di tản khẩn cấp. Đại sứ Mác-tin nhận được thông báo bên kia: “Mỹ phải ra đi trong 24 giờ”. Mác-tin sụp xuống nói được mỗi câu: “Đi đứt cả rồi”.

Các kế hoạch di tản lập tức được thực hiện. Các sân thượng cao ốc và tòa đại sứ là sân bay di tản. Tuy nhiên Mác-tin vẫn hy vọng biện pháp thương thuyết trì hoãn kéo dài sự có mặt của Mỹ ở Sài Gòn. Sau khi thu xếp cho vợ lên máy bay, Mác-tin về phòng chờ kết quả đề nghị phía giải phóng cho mình gặp trực tiếp. Phía bên kia đã từ chối gặp Đại sứ Mỹ. Trong khi đó lại có tin hàng trăm pháo, tên lửa Bắc Việt đã bao quanh Sài Gòn, có thể giội lửa vào trung tâm thành phố bất cứ lúc nào. Mác-tin vội nhờ thông báo phía bên kia đừng pháo kích và nói “người Mỹ đang tiếp tục ra đi”. Nhưng quá nửa đêm 28-4-1975, kế hoạch “Giông tố” của đại sứ Mỹ vẫn chưa thực hiện.

Rạng sáng 29-4-1975, các cánh quân giải phóng từ 5 hướng nhất tề tấn công. Tình thế không cho phép chần chừ, Mác-tin ra lệnh bắt đầu chiến dịch “Giông tố” từ 11 giờ ngày 29-4-1975. Tín hiệu do đài phát thanh thông báo “Nhiệt độ 105 độ F (hơn 40 độ C)”, tiếp đến giọng ca nữ hát bài “Tôi mơ đêm Nô-en tuyết phủ” cứ 15 phút báo hiệu một lần đến khi kết thúc cuộc di tản.

Hàng ngàn, vạn người ào tới điểm quy định. Giá vé xuất cảnh tăng 20.000 đô-la một tấm vẫn khó len qua được chiếc cổng sắt, trừ phi là thân nhân người Mỹ. Tuy vậy số người qua được rất ít. Thậm chí một số người thân của tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa còn bị gạt lại. Một số người bị giẫm đạp chết ngay ở cổng tòa đại sứ.

Thực trạng cho Mác-tin thấy rõ sự tuyệt vọng đã đến cùng cực. Mác-tin rũ người, quan chức sứ quán phải nâng lên máy bay. Đúng 4 giờ 58 phút ngày chót cùng tháng 4-1975, chiếc H53 rời tòa đại sứ đưa Mác-tin ra chiến hạm. 11 giờ, chiếc xe tăng Bắc Việt xông tới húc đổ cánh cửa dinh tổng thống Sài Gòn. Xe ô tô TS1 chở bộ binh bám sát tiến vào giữa sân. Tổng thống Dương Văn Minh và nội các ngồi chờ ở phòng tình hình dưới mặt đất.

11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ giải phóng được kéo vút lên nóc Dinh Độc Lập. Phóng viên Le Nouvel Observeteur đứng sững lắng nghe muôn đợt âm thanh ập tới, tiếng hoan hô bật lên từ mọi phía: “Việt Nam thống nhất, độc lập muôn năm”. Người phóng viên này đã ghi lại mở đầu bài “Mười hai điều cần biết để hiểu một cuộc chiến tranh” như sau: “Vì rằng suốt 30 năm trường, một dân tộc nhỏ đã phải chịu biết bao đau khổ hy sinh, một dân tộc đã trở thành một vấn đề mà toàn thế giới bị lương tâm cắn rứt, đồng thời cũng là niềm hy vọng của kẻ yếu, niềm tin của những người bị áp bức, hiện thân tinh thần ngoan cường bất khuất của chủ nghĩa dân tộc cách mạng đã đánh bại chủ nghĩa đế quốc, siêu cường phương Tây tưởng rằng mình có thể đè bẹp được một nền độc lập dân tộc… Việt Nam đã thật sự thắng. Trước mắt ta không có cảnh tan hoang, cũng không có đoàn người lếch thếch run rẩy trước mũi lê tuốt trần… Làm gì có chuyện tắm máu như người Mỹ rêu rao”.

Nguyễn Việt Phương
qdnd.vn

Người anh hùng đánh kho bom sân bay Đà Nẵng

QĐND Online – Chuẩn bị mở chiến dịch “Tấn công tìm diệt căn cứ Thượng Đức”, cửa ngõ án ngữ phía tây thành phố Đà Nẵng, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định phải đánh nổ bằng được kho bom sân bay Đà Nẵng nhằm làm tê liệt sân bay, không cho địch dùng máy bay lấy bom đạn tại đây khống chế quân ta ở mặt trận Thượng Đức. Người được giao nhiệm vụ đặc biệt này là đồng chí Võ Văn Minh.

Sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng của xã Điện Minh, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, mới 15 tuổi, Võ Văn Minh đã sôi nổi tham gia phong trào học sinh sinh viên đấu tranh chống Mỹ-nguỵ. Năm 22 tuổi, anh nhận nhiệm vụ đánh kho bom sân bay Đà Nẵng.

Ảnh minh họa/tư liệu internet.

Làm việc trong phân đoàn đạn dược thuộc quân đoàn 1 chuyên bảo quản bom đạn ở kho bom, được giác ngộ cách mạng, Võ Văn Minh dùng chiếc hon đa 67 chở nhiều lần 8 kg thuốc nổ C4 và 8 kíp nổ chậm vào sân bay. Đến 5 giờ 30 phút sáng ngày 29-11-1974, anh khéo léo đột nhập vào 4 kho bom đặt thuốc nổ và tra kíp hẹn giờ. Xong việc anh về nhà tắm rửa, đúng 7h30 phút trở lại trong đội hình phân đoàn đạn dược điểm danh, vào kho làm việc. 9giờ 30, một tiếng nổ long trời vang lên. Anh bình tĩnh hoà trong dòng người chạy thục mạng theo đường băng về hướng bắc sân bay. Kết quả 20.000 quả bom từ 250 đến 1.000kg, 2 kho đạn đại liên, 2 kho đạn rốc két bị phá huỷ, một số máy bay trúng mảnh bom hư hỏng, 2 đường băng bị cày phá, sân bay bị tê liệt trong nhiều ngày.

Hay tin kho bom sân bay bị nổ, cả mặt trận Thượng Đức reo mừng, hăm hở xông lên tiêu diệt quân thù. Võ Văn Minh được Bộ Tư lệnh Quân khu 5 gửi điện khen ngợi vì đã lập “một chiến công phối hợp đẹp với chiến trường Thượng Đức, giảm bớt tổn thất về thương vong của mặt trận” và đề nghị trên tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.

Sau trận đánh, mặc dù bị kẻ thủ nghi ngờ, tra tấn dã man, Võ Văn Minh đã dũng cảm, mưu trí, giữ vững thế hợp pháp. Năm 1975, anh có mặt trong Uỷ ban khởi nghĩa, hoàn thành tốt việc bảo vệ, quản lý tài sản của sân bay không cho địch phá huỷ. Hoà bình lập lại, anh làm bí thư Đoàn khu phố Hải Châu, công nhân Công ty xây dựng Đà Nẵng, cán bộ hành chính, bảo vệ Công ty thực phẩm miền Trung. Anh mất năm 1997 do bị bệnh hiểm nghèo.

Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chống Mỹ, cứu nước, ngày 23-2-2010 vừa qua, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT ND cho đồng chí Võ Văn Minh.

Đỗ Thị Ngọc Diệp
qdnd.vn

Một góc nhìn về chiến thắng 30-4

Đầu năm 2003, trong một cuộc hội thảo về Văn học phản kháng của người da màu tại trường Đại học Massachusetts (Mỹ), Giáo sư Nguyễn Bá Chung – một Việt kiều luôn tâm huyết với văn hóa dân tộc, và cùng giáo sư Kevin Bôwen, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến tranh và hậu quả của nó có tên là William Joiner, cũng là một trong những người có công đầu trong việc nối kết nền Văn học cách mạng thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ ở Việt Nam tới nhân dân Mỹ vào những năm 1980-1990, kể với chúng tôi: Vào những năm 1980, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara có buổi nói chuyện quan trọng về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam tại Đại học Harvard. Đúng vào thời khắc quan trọng nhất của buổi diễn thuyết, ông ta ngưng lại giây phút. Sau đó, bằng một giọng trầm cay đắng, gương mặt trĩu nặng, ông ta hối tiếc tuyên bố: Cuộc chiến tranh của chúng ta ở Việt Nam là một sai lầm… Ông vừa dứt lời, cả hội trường lớn chật cứng người nghe lặng đi, rồi bỗng nhiên tất cả òa khóc nức nở…

Mừng ngày chiến thắng 30-4-1975. Ảnh tư liệu. Nguồn: baoninhbinh

Đó là một ngày buồn. Một ngày mà cả nước Mỹ chính thức thừa nhận với toàn thế giới rằng họ là kẻ bại trận, rằng cuộc chiến tranh họ gây ra ở Việt Nam là sai lầm không thể sửa chữa. Từ đó về sau, một câu hỏi luôn vang lên ở mọi nơi trên nước Mỹ: Tại sao Việt Nam lại chiến thắng, tại sao Mỹ bại trận? Đó là điều người Mỹ không thể hiểu nổi…

Ít ngày sau, chúng tôi tham dự một buổi dạ tiệc do những người bạn Mỹ từng tham gia chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam tại thành phố Iowa, một học giả người Mỹ còn nhấn mạnh thêm:Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam không phải căn bản chỉ là sai lầm mà còn là phi đạo đức. Và chính những người từng ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh cũng không thể ngờ tới chiến thắng lớn 30-4.

Vào buổi tối rất tình cờ, tôi và nhà văn Nguyễn Việt Hà, nhà thơ trẻ Nguyễn Quyễn tới quán bia để giải khát thì gặp một cựu chiến binh Mỹ mất một cánh tay. Khi biết chúng tôi là người ViệtNam, anh ta vô cùng xúc động chạy đến bắt tay, miệng thốt ra câu tiếng Việt chưa sõi: Chiến thắng, chiến thắng… Sau này, chúng tôi biết, anh ta trước đây từng là lính thủy quân lục chiến tại chiến trường Đà Nẵng. Hôm đó anh ta nồng nhiệt ngồi uống bia cùng chúng tôi, ánh mắt luôn mở sáng, thân thiện và mến trọng…

Trong thời gian ở Mỹ, chúng tôi cảm nhận được hầu hết những người lính Mỹ trở về sau chiến tranh Việt Nam đều bị ám ảnh nặng nề bởi cuộc chiến tranh; cho dù giới bảo thủ Mỹ đã dùng mọi phương tiện truyền thông để viết lại lịch sử, để biện minh cho cuộc chiến tranh phi đạo đức mà họ đã gây ra ở Việt Nam, bằng lời giải thích nhợt nhạt rằng, cuộc xâm lăng của họ là chính đáng, rằng lẽ ra họ đã thắng. Thậm chí có người còn hoang đường rằng, Mỹ không muốn thắng… Tuy nhiên, hầu hết nhân dân Mỹ đã chán ngán, đã mất niềm tin vào những lời biện minh vô căn cứ.

Trên thực tế, cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã tạo ra một “Hội chứng Việt Nam” trên khắp nước Mỹ, và những người lính Mỹ cho dù thời gian đi qua đã lâu, họ không sao thoát ra khỏi nỗi dày vò bại trận, để lại một di sản hoang tàn ở Việt Nam …

Nhiều năm sau này, cứ đến dịp 30-4, những người lính trận chúng tôi lại tổ chức gặp gỡ nhau để tưởng nhớ những đồng đội đã mất, để ôn lại kỷ niệm. Trong những buổi gặp gỡ như vậy, có rất nhiều câu chuyện xoay quanh chiến thắng 30-4. Lý giải về chuyện này, các học giả, các nhà chiến lược quân sự cả trong và ngoài nước đã tổng kết ở tầm vĩ mô, đã có nhiều công trình đồ sộ nghiên cứu về chiến thắng 30-4 một cách thuyết phục. Điều này được cả thế giới thừa nhận và nhân dân ta hài lòng. Tuy nhiên, một chiến thắng lớn như vậy không phải mọi lý giải đều đã đầy đủ. Vì thế mới có chuyện nhiều học giả lớn ở Mỹ bỏ biết bao công sức nghiên cứu về thất bại của họ và chiến thắng của chúng ta, nhưng vẫn nghi hoặc đặt câu hỏi: “Tại sao ViệtNam lại thắng được Mỹ?…”. Ở bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra minh chứng từ góc nhìn thực tế, rất giản dị, bình thường nhưng là yếu tố không thể nói là không quan trọng, góp phần vào chiến thắng 30 tháng 4, đó là nhìn từ Văn hóa làng quê Việt…

Tôi còn nhớ rất rõ rằng, vào độ tuổi chúng tôi hồi chiến tranh, ở quê tôi không phải tất cả mọi thanh niên đến tuổi đều bắt buộc phải nhập ngũ ra chiến trường. Luật là như vậy nhưng cũng không hiếm trường hợp ngoại lệ; ví dụ nhà con một, nhà có nhiều người ra chiến trường, con liệt sĩ, tử sĩ… thường là được miễn nghĩa vụ quân sự.

Nhưng trên thực tế có nhiều người từ chối những ưu đãi mà họ được hưởng, sẵn sàng làm đơn xung trận. Cũng không ít thanh niên chưa đến tuổi nghĩa vụ và cả những người được miễn nghĩa vụ quân sự đã viết đơn bằng máu đi chiến trường, mặc dù trong luật không ai bắt họ phải viết đơn bằng máu. Vì sao họ làm vậy, có thể có rất nhiều lý do, nhưng theo tôi, có một lý do quyết định tới cách hành xử kiểu này là danh dự và tự trọng; tinh thần tự giác khao khát lập chiến công của đàn ông khi đất nước gặp tai họa. Danh dự và lòng tự trọng này được cả xã hội cổ súy và kính trọng. Nó tự nhiên thế, có sẵn trong mỗi con người được truyền từ đời này sang đời khác.

Không phải là chuyện bắt buộc hay chỉ là khoảnh khắc bột phát nảy sinh – nó là tâm thức Việt, được nuôi dưỡng ngàn đời, qua nhiều thế hệ, thấm sâu trong dòng máu văn hóa làng quê Việt, dân tộc Việt.

Trường hợp ngược lại, một ai đó trốn nghĩa vụ, chưa cần đến luật pháp, thì ngay lập tức họ đã bị cả làng lên án, xỉ vả, coi thường… Tôi đã chứng kiến một thanh niên con nhà khá giả trốn nghĩa vụ bị người yêu, khi đó đang là sinh viên đại học, từ chối kết hôn, xóm làng, họ hàng xa lánh đến mức anh ta xấu hổ quá phải bỏ làng tha hương… Vì sao vậy, vì người dân ở làng không chấp nhận những kẻ hèn nhát, ích kỷ, chỉ biết vun vén vụ lợi cho bản thân mình; mà ngược lại họ chỉ tôn vinh tinh thần cộng đồng trượng nghĩa, gắn kết, dám xả thân, hy sinh khi đất nước bị xâm lăng. Những kẻ đào ngũ với người dân làng mặc nhiên bị coi là tha hóa về đạo đức, không phải là người có tư cách, người tốt… không thể chấp nhận. Họ đương nhiên bị lạc lõng giữa cộng đồng.

Điều này, nền chính trị Mỹ lúc bấy giờ – với nền văn hóa mà đặc tính của nó là độc tôn, chiếm hữu và thực dụng… sẽ không bao giờ hiểu được và họ cũng không bao giờ có được. Với làng quê Việt Nam, kẻ trốn nghĩa vụ quân sự, bất kể lý do nào cũng bị chê cười. Họ sẽ lạc lõng, cô đơn, bên ngoài cộng đồng. Anh ta sẽ bị người làng khinh bỉ, vì đó là kẻ hèn, suốt đời phải sống trong mặc cảm xấu hổ. Đấy là câu chuyện ở làng quê, của cuộc sống gắn kết, “tắt lửa tối đèn”, của “tình tương thân tương ái”…, sống – chết, hạnh phúc và khổ đau cùng nhau chia sẻ ở làng quê Việt. Vì vậy, hành động xả thân ra trận của họ là sẵn có tính tự giác, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, chứ không phải chỉ vì luật nghĩa vụ quân sự đơn thuần…

Còn ở chiến trường thì sao? Những người lính họ không phải quá lạc quan và vui tươi như nhiều lời cổ động, nhiều bài ca rộn rã mà chúng ta từng nghe. Họ có ý thức chắc chắn rằng, vào chiến trường là đổ máu, là chết chóc, là muôn trùng gian khổ hy sinh… Nhưng họ vẫn đi, vẫn vào trận. Và khi đã vào trận thì sống chết phải thắng. Vì không thắng thì họ phải chết. Họ không thể lùi bước, không thể thua, không thể đào ngũ (đương nhiên có ngoại lệ). Vì sao vậy? Vì họ phải hoàn thành nhiệm vụ. Nhiệm vụ ở đây không đơn giản do cấp trên ra lệnh, mà còn ẩn đằng sau nó một thứ mệnh lệnh rất sâu xa, không lời: Đó chính là nỗi mong chờ và khao khát, niềm tin hy vọng và cả niềm tự hào của người yêu, gia đình bố mẹ, họ hàng và cả làng quê của họ ở phía sau hậu phương. Họ chiến đấu vì cái đó, họ phải chiến thắng vì cái đó, và sẵn sàng xả thân hy sinh. Giá trị này không phải là chuyện bỗng dưng mà là câu chuyện của tâm thức, của văn hóa ngàn đời đã tích tụ lại trong con người họ. Vì vậy, họ thực hiện nhiệm vụ một cách tự nguyện, dứt khoát, đôi khi còn là niềm hứng khởi, lãng mạn. Họ có lý tưởng. Sự tự nguyện này có nguồn gốc là lòng tự hào, tự trọng, danh dự từ một giá trị văn hóa sâu thẳm trong dòng máu họ. Dòng máu sẵn sàng hy sinh để chiến thắng, và chỉ chiến thắng mới là người đàn ông có nhân cách, đạo đức, được mọi người tôn vinh, kính nể cho dù họ biết đó là cái chết…

Có lần trò chuyện với một sĩ quan ở phía bên kia. Anh ta cũng là một nhà văn, tôi có nói: Hãy thật sòng phẳng, loại bỏ mọi cảm xúc chủ quan, anh thử lý giải tại sao các anh bại trận vào ngày 30-4? Anh ấy suy nghĩ lúc lâu rồi trả lời: Có rất nhiều lý do. Vào thời điểm đó lính cộng hòa đã quá chán nản, mỏi mệt với cuộc chiến tranh, chế độ Sài Gòn tham nhũng làm người ta không còn tin cậy; ý thức dựa vào Mỹ, khi Mỹ rút họ hoang mang sợ hãi, không còn sức kháng cự, tinh thần chiến đấu tê liệt… Tôi hỏi: Còn có nguyên nhân nào sâu hơn thế nữa không? Anh ấy nói: “Còn một điều nữa, trong sâu xa đó chính là nguyên nhân dòng máu Việt. Người miền Namluôn có ý thức hướng về miền Bắc. Họ hướng về miền Bắc là hướng về tâm linh, về nguồn cội tổ tiên. Hầu hết dân chúng cho rằng cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là hợp lẽ và hợp đạo lý. Chính quyền Sài Gòn không có quyền và không có khả năng làm ngược lại. Vì thế nhân dân ủng hộ cuộc chiến tranh thống nhất đất nước khởi phát từ miền Bắc. Điều này có thể chứng minh, khi Bác Hồ mất, nhân dân miền Nam đã thương tiếc, than khóc như thế nào! Họ bất chấp mọi ngăn cản của chế độ Cộng hòa. Hay như việc những người lính miền Bắc vào miền Nam chiến đấu sát cánh cùng lực lượng du kích, đằm mình vào lòng nhân dân miền Nam, họ được nuôi dưỡng che chở bảo vệ đến cùng. Những người đồng đội của họ ở miền Nam không đơn giản là mối quan hệ “đồng chí” mà còn là tình huynh đệ, thân thương cố kết, gắn bó ruột thịt, chia cơm sẻ áo, sống chết có nhau khi đất nước bị xâm lăng. Và đây cũng chính là bản chất của làng quê Việt, “ làng quê mở rộng”. Họ gắn bó tự giác trong cộng đồng, cùng chia sẻ sống chết khi đất nước có tai ương. Họ có niềm tin, sức mạnh bắt nguồn sâu xa trong tâm thức.

Một bằng chứng nữa là khi Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, đã thu hút một lực lượng lớn học sinh, sinh viên, thanh niên từ bỏ đời sống ăn chơi sung túc lên núi tham gia cách mạng. Không ai bắt họ cả. Họ đến với cách mạng là tự giác, là nhân cách Việt, là dòng máu Việt. Và không chỉ thanh niên, sinh viên mà có thể nói phần lớn các tầng lớp nhân dân miền Nam đều hướng về cách mạng. Phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên chống sự xâm lăng của Mỹ, phong trào đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh, không chấp nhận sự có mặt của ngoại bang… ra đời từ tinh thần này. Nó ra đời trong tâm thức Việt, là sự thôi thúc từ bên trong, của ý thức cội nguồn, dòng máu. Vì dòng máu văn hóa Việt đã thấm đẫm trong từng người dân miền Nam lúc đó, chứ không phải như có người nói “chỉ do Cộng sản tuyên truyền giỏi.”…

Như vậy, bàn về nguyên nhân dẫn tới chiến thắng 30-4 với rất nhiều cách nhìn mở rộng. Các nhà nghiên cứu, các nhà chỉ huy chiến lược… đã tốn biết bao giấy mực, với đa dạng cách tiếp cận khác nhau về chiến thuật, chiến lược quân sự, về tinh thần đoàn kết, đức hy sinh, về thao lược và trí tuệ Việt… và xung quanh vấn đề này còn tiếp tục nhiều đời con cháu sau này nhắc tới. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra một góc nhìn về phía những con người bình dị, những tâm tư tình cảm, cách ứng xử văn hóa, ý thức trách nhiệm cộng đồng, tính tự giác, gắn bó ở làng quê Việt… Và đây cũng chính là giá trị bất di bất dịch, tồn tại hàng ngàn năm trong từng con người Việt. Nó tạo ra sức mạnh bền vững sâu xa, góp phần không nhỏ vào chiến thắng quyết định của ngày 30-4. Trong phạm vi bài viết, và với chỉ những suy nghĩ ban đầu của người lính trận, nên không thể diễn giải cặn kẽ. Hy vọng, chiến thắng 30-4 sẽ tiếp tục được làm sáng tỏ hơn, đầy đủ hơn bởi các nhà nghiên cứu, các chiến lược gia… Vì đây là chiến thắng vĩ đại, mang lại sự thống nhất đất nước trọn vẹn nhất, lớn lao nhất trong lịch sử dân tộc.

Trần Anh Thái
qdnd.vn

Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền thực hiện chủ trương tập trung sức mạnh đại đoàn kết toàn dân

Cuộc quyết chiến chiến lược Xuân 1975

LTS – Ngày 20-4, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng và Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức cuộc Hội thảo khoa học “Ðại thắng mùa Xuân 1975 – Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thời đại Hồ Chí Minh”.

Báo Quân đội nhân dân xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung cơ bản bài tham luận tại hội thảo của Ðại tướng LÊ ÐỨC ANH, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Miền, nguyên Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Xe tăng Quân giải phóng chiếm giữ Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu

ĐẠI đoàn kết biểu hiện sức mạnh tổng hợp to lớn của dân tộc và thời đại, bảo đảm vững chắc cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ðại đoàn kết là một nhân tố rất quan trọng quyết định sự thành công của cách mạng Việt Nam. Trong đấu tranh giải phóng miền Nam, nhân tố đó càng được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Ðảng quan tâm lãnh đạo, thực hiện với nhiều quyết định chiến lược, làm cơ sở cho Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền đưa ra những chủ trương và biện pháp chỉ đạo cụ thể, nhằm tăng cường xây dựng, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giành độc lập trọn vẹn và thống nhất đất nước.

Ngay từ đầu sự nghiệp giải phóng miền Nam, tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã chủ trương đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng dân chủ và hòa bình, đấu tranh đánh đổ chính phủ Ngô Ðình Diệm thân Mỹ, thành lập Chính phủ không thân Mỹ tán thành đình chiến và hòa bình, thừa nhận quyền tự do, dân chủ của nhân dân, tán thành thống nhất, tổng tuyển cử, cải thiện dân sinh.

Năm năm sau, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn Ngô Ðình Diệm tay sai đế quốc Mỹ, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ…

NGHỊ quyết 15 thật sự là một nghị quyết về “chuyển chiến lược” từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ địch. Sau khi có Nghị quyết 15, ở miền Nam bắt đầu nổ ra các trận đánh lớn, trong đó có trận đánh Tua Hai đêm 26-1-1960. Các cuộc nổi dậy phá ấp chiến lược, tiến tới “Ðồng khởi” của Bến Tre, rồi phong trào nhanh chóng phát triển khắp miền Nam. Thắng lợi của phong trào Ðồng khởi đã dẫn tới sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (20-12-1960) – một mặt trận tập hợp đông đảo lực lượng yêu nước nhằm một mục tiêu chung vì miền Nam sạch bóng quân xâm lược, tiến tới hòa bình, hòa hợp dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra lời kêu gọi “tất cả hãy đứng lên, tất cả hãy đoàn kết lại. Hãy siết chặt hàng ngũ để chiến đấu…”.

Thực chất, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã thực hiện thêm chức năng của chính quyền (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời), ngoài chức năng đoàn kết dân tộc để giải phóng miền Nam. Với cương lĩnh đúng đắn, chương trình hành động thiết thực, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhanh chóng tập hợp các tổ chức chính trị, xã hội, đảng phái, tôn giáo như: Hội Lao động giải phóng, Hội Liên hiệp sinh viên – học sinh, Hội Các nhà giáo yêu nước, Hội Phụ nữ giải phóng, Hội Những người công giáo kính chúa yêu nước, Hội Lục hòa Phật tử miền Nam, Ðảng Xã hội cấp tiến của trí thức yêu nước, Ðảng Dân chủ miền Nam của tư sản dân tộc… Ðể mở rộng hơn nữa khối đoàn kết dân tộc, mặt trận chủ trương thành lập chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ, tự do, cải thiện dân sinh, giữ vững hòa bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.

Khi đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, với đường lối chiến tranh nhân dân và bằng các phương pháp đấu tranh của Ðảng và chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, quân và dân ta đã giành nhiều thắng lợi trong đấu tranh chính trị và quân sự, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.

Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” đứng trước nguy cơ bị thất bại, đế quốc Mỹ phải toan tính đưa quân Mỹ và đồng minh vào miền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến hòng giành thắng lợi quyết định, buộc nhân dân Việt Nam phải khuất phục trước sức mạnh quân sự của chúng. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định triệu tập Hội nghị Chính trị đặc biệt (27-3-1964) với hơn 300 đại biểu, đại diện cho hơn 30 triệu đồng bào các dân tộc trong cả nước. Hội nghị biểu thị ý chí, quyết tâm của các tầng lớp nhân dân đoàn kết chung quanh Ban Chấp hành Trung ương Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chiến đấu bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Lúc này, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam công bố Cương lĩnh, mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân, tranh thủ tất cả những lực lượng có thể tranh thủ, thu hút rộng rãi hơn nữa những tầng lớp và cá nhân có khuynh hướng hòa bình, trung lập, cô lập triệt để Mỹ – ngụy.

Khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đồng thời phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống phá miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi quân và dân cả nước (17-7-1966) đoàn kết một lòng, vượt qua gian khổ, ác liệt, hy sinh chiến đấu vì chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân miền Bắc – Hậu phương chiến lược của miền Nam dấy lên các phong trào thi đua “Vì miền Nam ruột thịt” nhằm mục tiêu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Các phong trào thi đua đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi lứa tuổi từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, từ biên giới đến hải đảo. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, với đường lối chiến tranh nhân dân, quân và dân cả nước đã đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967 của chúng ở miền Nam, đồng thời đánh bại một bước chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ trên miền Bắc.

CUỐI năm 1967, một mặt, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân và phương tiện chiến tranh chuẩn bị kế hoạch mở cuộc phản công lần thứ ba với số quân 120 vạn, trong đó có 50 vạn quân chiến đấu Mỹ. Mặt khác, chúng bắt đầu lộ rõ sự dao động lúng túng. Giữa lúc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ có dấu hiệu dao động và đúng thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử tổng thống Mỹ, lãnh đạo Ðảng ta đã quyết định giáng một đòn bất ngờ, thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, bằng cách chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới tạo ra bước ngoặt lớn, làm thay đổi cục diện chiến tranh. Quân và dân miền Nam đã nhằm đúng vào đêm Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, đồng loạt tiến công trên toàn miền, đánh vào hầu hết các đô thị, các bộ tư lệnh quân đoàn và sư đoàn địch, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần của chúng…

Ðòn tiến công Mậu Thân đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ. Khắp các bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ rộ lên những cuộc biểu tình với sự tham gia của hàng nghìn, hàng vạn người chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Tướng Oét-mo-len, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở Nam Việt Nam bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Na-ma-ra thôi việc. Ngày 31-3-1968, Giôn-xơn buộc phải tuyên bố: Ngừng ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị đàm phán với ta tại Pa-ri và tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai.

Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đã đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải rút quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng rút quân, thì đồng thời Mỹ lại thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Cả Mỹ và ngụy tập trung bình định, giành đất, giành dân, bắt lính xây dựng ngụy quân, ngụy quyền. Trong quá trình rút quân, Mỹ vừa củng cố và tăng cường ngụy quân, ngụy quyền, tập trung lực lượng tấn công quyết liệt giành đất, giành dân và đánh phá miền Bắc ác liệt hơn, kể cả máy bay ném bom chiến lược B.52. Nhưng lúc đó, bộ đội ta, kể cả lãnh đạo, chỉ huy chưa hiểu hết cái khó khăn, khốc liệt của “Việt Nam hóa chiến tranh” và chưa thấy hết sự độc ác của Mỹ, nên từ cuối năm 1968 đến cuối năm 1971, bộ đội chủ lực ta phần lớn đã thoát ly khỏi địa bàn, làm mất chỗ dựa cho dân và cơ sở chống bình định. Do đó gây khó khăn lớn trên chiến trường và không hỗ trợ được thật hiệu quả cho cuộc đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Pa-ri trong thời gian này.

Với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, Mỹ, ngụy đã đánh ác liệt vào vùng đông dân và vùng ta mới giải phóng trong những năm 1969 – 1972. Ðặc biệt trong 81 ngày đêm năm 1972, Mỹ đã ném 80 vạn tấn bom (khối lượng chất nổ bằng sức tàn phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki (Nhật Bản) xuống diện tích 3 km2 Thành cổ Quảng Trị. Trong 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị, có hơn 14 nghìn chiến sĩ giải phóng đã hy sinh. Quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, giữ được thị xã và Thành cổ trong 81 ngày đêm, góp phần phục vụ đắc lực yêu cầu đấu tranh ngoại giao và đã đạt được yêu cầu của đợt tác chiến tạo thế, tổ chức phòng ngự.

Với đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, quân và dân ta đã anh dũng vượt qua mọi thử thách, hy sinh tiến công mãnh liệt đập vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài kiên cố của địch ở Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Ðông Nam Bộ, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ trên vùng trời Hà Nội, Hải Phòng (tháng 12-1972), buộc đối phương phải ký kết Hiệp định Pa-ri (tháng 1-1973), rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết, nhưng chính quyền Ních-xơn vẫn chưa từ bỏ chính sách áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta. Tranh thủ thời gian trước khi ký hiệp định, Mỹ gấp rút chuyển cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thiết bị, các vật dụng chiến tranh và dần chuyển giao các căn cứ quân sự ước tính nhiều tỷ USD. Với sự giúp đỡ của Mỹ, ngụy quyền có đội quân hơn 1 triệu tên, 2.000 máy bay (xếp hạng thứ tư về lực lượng không quân trên thế giới)(1) và khối lượng lớn xe tăng, pháo; bộ máy đàn áp gồm 140.000 cảnh sát, 44.000 nhân viên “bình định”… ráo riết thực hiện khẩu hiệu “Tràn ngập lãnh thổ” xóa “thế da báo” lấn chiếm vùng giải phóng. Với tinh thần anh dũng chiến đấu, quân và dân Quân khu 9 đã đánh bại nhiều trung đoàn, tiểu đoàn địch tràn ngập lãnh thổ, đánh bại âm mưu phá Hiệp định Pa-ri của địch, củng cố niềm tin và củng cố được khối đại đoàn kết toàn dân, là một căn cứ để Trung ương Ðảng ra Nghị quyết 21 (7-1973) chỉ đạo các địa phương ở miền Nam tiếp tục con đường cách mạng bạo lực, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.

SAU hơn một năm ta đẩy mạnh đấu tranh vũ trang hỗ trợ trực tiếp cho đấu tranh chính trị và binh vận, bắt quân địch phải thi hành Hiệp định và chặn đứng một cách cơ bản kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ” của chúng, thế và lực của ta đã được củng cố và phát triển một bước mới. Từ thế và lực mới này, chúng ta đã vạch ra kế hoạch tiến công mùa khô 1974 – 1975, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy.

Khi Trung ương Cục và Bộ chỉ huy B2 chúng tôi có kế hoạch quân sự mùa khô rồi, thì hai anh Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục và Trần Văn Trà, Tư lệnh B2 ra họp Trung ương. Trong khi ngoài Bắc, Trung ương đang họp thì trong Nam, Quân ta giải phóng Phước Long và núi Bà Ðen. Chiến thắng Ðồng Xoài – Ðường 14 – Phước Long có ý nghĩa là “trận trinh sát chiến lược” thăm dò khả năng quân ngụy và sự can thiệp của Mỹ, làm rõ hơn những cơ sở để Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam.

Sau khi đánh được Phước Long, Bộ chỉ huy Miền chúng tôi làm kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn. Cả Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền gần như thống nhất là sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn vào tháng 4 vì sang tháng 5 đã vào đầu mùa mưa, việc cơ động của ta sẽ khó khăn. Cùng với việc soạn thảo kế hoạch là xây dựng “quyết tâm chiến đấu”, sơ đồ đã phác ra năm hướng tiến công vào sào huyệt cuối cùng của quân thù. Khi hai anh Lê Ðức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị và Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng được Bộ Chính trị cử vào, các anh xem và nói: “Kế hoạch làm tốt, nhưng phải thêm quân”. Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền đã vạch rõ sách lược đoàn kết rộng rãi quần chúng nhân dân, huy động mọi tầng lớp, mọi lực lượng, mọi lứa tuổi trên cả ba vùng chiến lược thực hiện tốt ba mũi giáp công trong cuộc quyết chiến chiến lược Xuân 1975. Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền quyết định nhiều chủ trương và biện pháp tăng cường vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và đồng bào Khơ-me, các tín đồ Phật giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo và nhiều tôn giáo khác cùng tham gia vào trận quyết chiến chiến lược này. Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền còn vận dụng nhiều sách lược khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ địch, chỉ đạo sát sao cơ sở cách mạng của ta lôi kéo các phe phái đối lập với chính phủ tay sai Mỹ và tập hợp lực lượng thứ ba chuẩn bị đón thời cơ, thành lập chính phủ liên hợp.

THỰC hiện chỉ thị của Bộ Chính trị về kết hợp đòn tiến công quân sự với phong trào nổi dậy của quần chúng, Trung ương Cục phân công anh Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục và anh Võ Văn Kiệt, Ủy viên Trung ương Cục lo vấn đề tổ chức và chỉ đạo kế hoạch nổi dậy của quần chúng phối hợp với lực lượng quân sự, trong đó có các binh đoàn chủ lực ta vào thành phố; phân công đồng chí Cao Ðăng Chiếm, Giám đốc Công an B2 tổ chức mạng liên lạc của các đồng chí trong Chính phủ Cách mạng lâm thời với cơ sở trong nội thành. Trung ương Cục chỉ đạo các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tự giải phóng với phương châm: Xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh.

Hướng ra tiền tuyến lớn, miền Bắc dốc toàn bộ sức mạnh to lớn của mình cho miền Nam. Miền Bắc đã chi viện liên tục, toàn diện cả sức người, sức của với nhịp độ ngày càng tăng, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của chiến trường miền Nam. Chỉ riêng 4 tháng đầu năm 1975, miền Bắc đã đưa nhanh vào miền Nam 110 nghìn cán bộ, chiến sĩ, 230 tấn vật chất các loại, góp phần quyết định để quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn.

SÁNG 10-3-1975, ta đánh Buôn Ma Thuột mở đầu Chiến dịch Tây Nguyên, cũng là mở cửa đột phá của cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975. Ðại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên. Trước khi đánh Buôn Ma Thuột, từ ngày 4 đến 10-3, ta bắt đầu đánh một số cứ điểm ở tây Plei-cu, cắt đường 14 giữa hai tỉnh Kon Tum, Gia Lai. Ngày 4-3, cắt đường 19, đường 21. Ngày 9-3, ta đánh Ðức Lập, nam Buôn Ma Thuột. Ngày 14-3, Nguyễn Văn Thiệu quyết định rút bỏ Tây Nguyên, co về giữ đồng bằng. Ý định của địch tháo chạy theo các đường 21, 19, 14 nhưng bị ta chiếm giữ, buộc chúng phải rút theo đường số 7 đi Cheo Reo. 19 giờ, ngày 16-3, Ðại tướng Văn Tiến Dũng điện cho Bộ tư lệnh chiến dịch: “Ðịch rút chạy trên đường số 7, tổ chức truy kích ngay”. Ðồng thời, điện cho Bộ tư lệnh Khu 5 cho lực lượng vũ trang Phú Yên kịp thời tổ chức chặn địch ở Củng Sơn. Cuộc rút lui của địch trên đường số 7 bị ta đánh tan tác, khối chủ lực mạnh của địch ở Tây Nguyên cơ bản bị bắt sống và tan rã. Ngày 16-3, lực lượng địa phương giải phóng Kon Tum; ngày 19-3, giải phóng Plei-cu. Ðến ngày 24-3, quân ta đã giải phóng Tây Nguyên, sau đó, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của Khu 5 tiếp tục giải phóng các tỉnh.

Chiến thắng Buôn Ma Thuột và cả Tây Nguyên tạo ra bước phát triển nhảy vọt cả về thời cơ và thế chiến lược mới. Ngày 25-3, lực lượng quần chúng ở cả ba vùng chiến lược đã trong tư thế sẵn sàng phối hợp với bộ đội chủ lực thực hiện 3 mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận và địch vận).

Phối hợp với hướng tiến công chiến lược của ta ở hướng chủ yếu Tây Nguyên, quân và dân Khu Trị Thiên và Khu 5 đã đồng loạt tiến công giải phóng Quảng Ngãi, Tam Kỳ (ngày 24-3), giải phóng thành phố Huế (trưa 25-3) và giải phóng toàn bộ tỉnh Thừa Thiên – Huế (trưa 26-3). Sau đó bằng một đòn tiến công và nổi dậy mạnh mẽ của quân và dân Khu 5 (cụ thể là Sư đoàn 2 cùng lực lượng vũ trang và chính trị của Ðà Nẵng) đã nhanh chóng đập tan toàn bộ Quân đoàn 1, Quân khu I địch ở Ðà Nẵng. 12 giờ trưa ngày 29-3, các sư đoàn, các cơ quan quan trọng, cứ điểm lớn của địch cơ bản đã sụp đổ. Quân đoàn II của Bộ từ Huế vào giải phóng Nam Ô, cách Ðà Nẵng 15km, tiến đánh bán đảo Sơn Trà. Ðến 3 giờ chiều 29-3, ta hoàn toàn giải phóng Ðà Nẵng.

Sau khi giải phóng Tây Nguyên, Huế, Quảng Nam, Bình Ðịnh, Quảng Ngãi, thì lực lượng Khu 7, Khu Sài Gòn – Gia Ðịnh, Khu 8, Khu 9 đã bám sát trong và ngoài đô thị với tư thế sẵn sàng phối hợp với quân chủ lực thực hiện ba mũi giáp công, giải phóng toàn miền Nam.

NGÀY 1-4-1975, Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền nhận được Ðiện của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương truyền đạt nội dung Nghị quyết Bộ Chính trị họp ngày 31-3-1975 và chỉ thị: “… Cách mạng nước ta đang phát triển với nhịp độ “một ngày bằng 20 năm”. Do vậy Bộ Chính trị quyết định: Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm. Phải hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”. Phải tiến công ngay lúc địch hoang mang, suy sụp… Cần nắm vững nội dung chiến lược của ta là phát huy sức mạnh của ba đòn chiến lược, kết hợp với tiến công và nổi dậy, từ ngoài đánh vào và từ trong đánh ra… Cần gấp rút tăng thêm lực lượng ở hướng Tây Sài Gòn, nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ chia cắt và bao vây chiến lược từ phía Tây, áp sát Sài Gòn, triệt đường số 4… Tập trung lực lượng lớn hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng, từng lúc”. Liền sau đó, đồng chí Phạm Hùng phân công từng đồng chí trong Trung ương Cục thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, xong, sang Sở chỉ huy Miền chỉ đạo bổ sung kế hoạch theo chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn và chỉ rõ: Phải huy động lực lượng cắt quốc lộ số 4 không cho địch rút chạy từ Sài Gòn về Cần Thơ. Lúc này, Trung ương Cục nhận được điện của Ðại tướng Văn Tiến Dũng: Quân đoàn 3 từ Tây Nguyên sẽ vượt các cụm địch còn lại trên đường đi vào B2 ngay. Và nhận được điện của đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy Khu 5 là, sẽ chuyển xe, pháo, đạn dược thu được của địch vào B2 và nhấn mạnh: Thời gian là sức mạnh.

Đội nữ pháo binh tỉnh Cà Mau trong những ngày trước giải phóng (tháng 4-1975). Ảnh: Võ An Khánh

Ngày 9-4-1975, ta bắt đầu cuộc chiến đấu tạo thế ở đông bắc – tây nam Sài Gòn và đánh địch ở toàn miền Ðông Nam Bộ, đồng thời huy động lực lượng lớn, gồm 4 quân đoàn và một đơn vị tương đương quân đoàn, với năm cánh quân theo năm hướng đã vào thế bao vây Sài Gòn, đợi lệnh đồng loạt tấn công. Lực lượng vũ trang và phong trào nổi dậy của quần chúng ở ven đô và nội đô đã chuẩn bị sẵn sàng chờ dịp vùng lên.

Ngày 26-4-1975, ta bắt đầu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Ðịnh. Ngày 29-4, Hô-mơ-si-mít, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Mỹ, núp dưới bóng Ðại sứ quán, lên máy bay bay ra biển. 11 giờ 30 phút, ngày 30-4-1975, Tổng thống ngụy phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Lúc này, lực lượng quân sự, chính trị của Khu 8, Khu 9 bằng ba mũi giáp công giải phóng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần cùng cả nước chấm dứt cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài 30 năm.

CUỘC Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 toàn thắng, biểu hiện sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, trong đó, “quả đấm chủ lực” với những binh đoàn cơ động là lực lượng nòng cốt của đấu tranh quân sự với những đòn điểm huyệt đã đánh trúng, đánh hiểm ở những trận then chốt và then chốt quyết định. Nhưng để giải quyết đồng loạt, rộng khắp, kịp thời làm cho cả bộ máy ngụy quyền và đội ngũ ngụy quân 1,1 triệu tan rã thì phải thấy rõ vai trò tiến công và nổi dậy của lực lượng tại chỗ, của lực lượng chính trị quần chúng, trong đó có lực lượng của những người bị bắt buộc trong hàng ngũ của địch, cơ sở cách mạng trong hàng ngũ địch. “Quả đấm chủ lực” tạo điều kiện cho lực lượng quân sự, chính trị bên trong và ngược lại, lực lượng bên trong đã tạo điều kiện cho các mũi tiến công của chủ lực cơ động. Phải thấy vai trò lãnh đạo nhạy bén, kịp thời của Trung ương Cục và sự thống nhất của Khu ủy, Tỉnh ủy và Ðảng ủy các cấp cơ sở trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Quân và dân tất cả các quân khu đã ở tư thế sẵn sàng, chuẩn bị đầy đủ nên đã chủ động tiến công và nổi dậy thực hiện giải phóng hoàn toàn địa bàn của quân khu.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh của quần chúng đã phát triển thành ba lực lượng: Lực lượng vũ trang cách mạng; Lực lượng chính trị quần chúng; lực lượng quần chúng bị bắt buộc trong hàng ngũ địch và cơ sở cách mạng của ta trong hàng ngũ địch. Cả ba lực lượng này phối hợp nhuần nhuyễn với nhau, chuyển hóa vào từng con người một. Nhưng chỉ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt và thấm đẫm tính nhân văn của Ðảng, khi thời cơ cách mạng đến thì cả ba lực lượng này mới bộc lộ, phát huy sức mạnh của đoàn kết, cộng hưởng, tạo nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy thần tốc và hiệu quả, đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương Cục là “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh”. Tinh thần “Thần tốc, táo bạo” không chỉ đối với các binh đoàn chủ lực từ xa đến, mà còn đối với các lực lượng tại chỗ – lực lượng chính trị, lực lượng binh vận, kể cả lực lượng nằm trong hàng ngũ địch đã nhanh nhất, táo bạo nhất, phối hợp với lực lượng chủ lực cơ động từ xa. Giờ chúng ta hiểu hai chữ “Thần tốc” mà Bộ Chính trị chỉ đạo như thế mới đầy đủ.

TRONG chiến tranh chống Mỹ, có hai đặc điểm nổi rõ: Một là ta tạo được thế xen kẽ giữa ta và địch ở cả ba vùng chiến lược: Miền núi, đồng bằng và đô thị, nhất là sau Hiệp định Pa-ri, làm cho đối phương không thực hiện được phân tuyến. Hai là ta đã làm thường xuyên việc xây dựng lực lượng và cơ sở cách mạng của ta ở nhiều mức độ khác nhau trong nội bộ ngụy quân, ngụy quyền, mà những cơ sở này liên tục tác động vào tình cảm người lính nên họ đào ngũ thường xuyên và khi có thời cơ đến thì rã ngũ hàng loạt. Các cơ sở này làm suy sụp tư tưởng của bọn ngoan cố. Ðây thật sự là bài học quý.

Ðể phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, Ðảng ta đặc biệt coi trọng tăng cường quan hệ đoàn kết với các đảng lãnh đạo ở các nước XHCN và các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ. Trong những năm đầu của thập niên 1970, Liên Xô, Trung Quốc mâu thuẫn gay gắt, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảnh giác đối với âm mưu chia rẽ của địch, xử lý khôn khéo, “có tình, có lý” mối liên hệ giữa ta với Liên Xô, Trung Quốc nên cả hai nước đều giúp ta đánh Mỹ, nhưng giúp với những quan niệm khác nhau và mức độ khác nhau. Song ta đã hiệp lực được cả hai phía đoàn kết giúp đỡ ta để ta đủ sức đánh Mỹ. Trong 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em đã viện trợ cho Việt Nam tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn, tương đương 7 tỷ rúp (2). Chưa kể Trung Quốc còn giúp tiền được chuyển qua hệ thống ngân hàng ở Hồng Công về Sài Gòn, từ đó ta rút ra mua gạo, thực phẩm cung cấp cho bộ đội ở miền Ðông Nam Bộ và ở mặt trận Tây Nguyên. Ðây là thắng lợi về ngoại giao có ý nghĩa chiến lược. Thắng lợi này bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Ðúng như Ðảng ta đã khẳng định: “Sức mạnh dân tộc đã kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng quân thù”.

…SAU khi có Hiệp định Pa-ri, đến cuối năm 1974 và nhất là sau khi ta giải phóng Ðà Nẵng, thì ở trong nước và quốc tế đều thống nhất “Ðánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”. Ðây là thời điểm vàng ngọc, nó thật sự đã tạo ra sức mạnh tổng hợp – sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế hội tụ lại.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc hoàn thành độc lập, thống nhất đất nước là sự nghiệp chính nghĩa, bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là động lực cơ bản, tập hợp lực lượng rộng lớn – toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo nên khối đoàn kết thống nhất toàn dân đứng lên cứu nước, cứu nhà. Ðường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Ðảng đáp ứng quyền lợi cơ bản của nhân dân, cùng nhiều hình thức tổ chức phù hợp đã phát huy sức mạnh của toàn dân kháng chiến và kiến quốc, không ngừng củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dẫn đến “đại thành công” trong cuộc quyết chiến chiến lược Xuân 1975…

Kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết trong Ðại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta cần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hơn nữa. Ðể tăng cường khối đại đoàn kết trong giai đoạn cách mạng hiện nay, ngoài những chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, cán bộ, đảng viên phải gắn bó máu thịt với nhân dân và phải gương mẫu trong đoàn kết cả tư tưởng và hành động, đặc biệt là học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Ðảng mang bản chất giai cấp công nhân: Ðoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, kiên định con đường cách mạng, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

ÐẠI thắng mùa Xuân 1975, được tạo nên bởi ý chí, nghị lực, trí tuệ của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; của sự giúp đỡ của các nước anh em và bạn bè quốc tế dành cho dân tộc ta trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Ðại thắng mùa Xuân 1975 đã chứng minh hùng hồn “đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, chiến thắng trọn vẹn” – một trong những sự tích vĩ đại nhất của nhân loại tiến bộ ở thế kỷ 20. Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, thắng lợi là thắng lợi của toàn dân tộc, đã là người Việt Nam thì ai cũng được hưởng vinh quang của chiến thắng. Phát huy thắng lợi vẻ vang đó, người Việt Nam cả ở trong nước và nước ngoài, đoàn kết thương yêu nhau, cùng chung tay góp sức phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện mục tiêu cao cả, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

——————————–

(1) Giô-dép A.Am-tơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb QÐND, H.1985, trang 419.
(2) Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975; Thắng lợi và bài học. Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, trang 601.

qdnd.vn