Tag Archive | Xuân 75

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ cuối

Mỹ bỏ rơi VNCH

Cả Tổng thống Gerald Ford lẫn Ngoại trưởng Kissinger đều đã đặt dấu chấm hết cho chính quyền Sài Gòn trước khi cuộc chiến thực sự kết thúc vào ngày 30.4.1975.

Có nhiều tin tức nói rằng, thể chế Việt Nam cộng hòa (VNCH), tức chính quyền Sài Gòn, đã bị “khai tử” ngay sau khi Quốc hội Mỹ ngày 18.4 quyết định cúp quân viện cho quân đội Sài Gòn, tức chẳng khác nào “tước khí giới” của binh sĩ. Điều này phản ảnh qua việc, nhiều viên chức đã tìm cách cho gia đình xuất ngoại, bất chấp lệnh cấm sau đó của Tổng thống Trần Văn Hương. Còn theo tài liệu mật mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, mô tả lại trong 2 cuốn sách: Hồ sơ mật dinh Độc Lập Khi đồng minh tháo chạy (2005), thì số phận VNCH xem như kết thúc ngày 23.4.1975, khi Tổng thống Mỹ lúc đó là ông Gerald Ford tuyên bố một cách thẳng thừng trong một bài diễn văn tại Đại học Tulane.

“Đối với Mỹ, chiến tranh VN đã kết thúc”

Ngày 21.4, Tổng thống Thiệu từ chức ở Sài Gòn. Ngày 23.4, Tổng thống Ford đáp chuyên cơ đi News Orleans để diễn thuyết tại Đại học Tulane. Tình hình VN biến chuyển quá nhanh, và dư luận quốc tế cũng như cử tri Mỹ đang chờ đợi xem vị nguyên thủ cường quốc hàng đầu thế giới sẽ nói gì đây. Theo tài liệu thì chiều hôm đó, như để lấy thêm can đảm, Tổng thống Ford đã uống một ly cocktail trong tiệc chiêu đãi, rồi ông bước vào nơi mọi người đang chờ nghe diễn văn.

Địa điểm Tổng thống Ford diễn thuyết là sân chơi bóng trong nhà của trường đại học, nơi đã có hàng ngàn sinh viên tụ họp chờ đợi. Ông chậm rãi, nhấn mạnh từng chữ: “Đối với Mỹ, chiến tranh VN đã kết thúc”.

Cả hội trường như vỡ tung ra vì tiếng vỗ tay, tiếng la hét, huýt sáo, reo hò vui mừng. Theo mô tả trong sách của tiến sĩ Hưng thì tuyên bố lịch sử của Tổng thống Ford chỉ mới vừa được đánh máy “thêm” vào bài diễn văn, khi chiếc Air Force One còn bay trên cao, trên đường đến New Orleans: “Nước Mỹ có thể lấy lại được niềm hãnh diện đã có trước chiến tranh VN. Nhưng niềm hãnh diện ấy sẽ chẳng có thể đạt được bằng cách tham dự trở lại một cuộc chiến mà riêng đối với Mỹ, nó đã chấm dứt rồi”.

Ron Nessen, Phụ tá Báo chí của tổng thống, nhận xét rằng, chỉ mới 2 tuần trước đó, ông Ford còn ra trước Quốc hội đọc diễn văn xin thêm quân viện cho VNCH, mà tại Tulane, chẳng thấy tổng thống đả động gì tới việc viện trợ thêm cho chính quyền Sài Gòn nữa.

“Sao họ không chết nhanh cho rồi?”

Trước khi Đà Nẵng thất thủ 2 ngày, tướng Weyand được cử sang VN để thẩm định tình hình. Weyand lúc đó là Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ và từng đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đội Mỹ ở miền Nam VN. Sau thời gian một tuần lễ thị sát chiến trường cũng như hội họp với các viên chức VNCH, tướng Weyand trở về Washington báo cáo cho Bộ trưởng Quốc phòng. Ngày 5.4.1975, khi đang trên đường trở về Washington D.C, Weyand nhận được lệnh bay thẳng đến Palm Springs để phúc trình thẳng cho Tổng thống Ford và Ngoại trưởng Kissinger. Nghe xong thuyết trình, Ngoại trưởng Kissinger đi họp báo. Khi đó, còn có Ron Nessen là Phụ tá Báo chí của tổng thống đi cùng. Theo lời kể lại của Nessen thì trên đường đi đến Trung tâm Báo chí để họp báo, Kissinger đã nguyền rủa: “Sao họ không chết nhanh cho rồi?” – ông rên lên trong xe. “Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là họ cứ sống dai dẳng hoài” (“Why don’t these people die fast?”, he moaned in the car. “The worst thing that could happen would be for them to linger on”).

Câu nói bất chợt, buột miệng thốt ra của một vị ngoại trưởng, lại thường phản ảnh sự thật hơn là những lời tuyên bố khôn ngoan về chính sách của ông, hơn là nội dung trong những bài diễn văn, những câu trả lời trước báo giới… Theo lời tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng thì năm 1979, trong một lần nói chuyện với một người bạn Mỹ về chiến tranh Do Thái, Iran; lúc bàn tới VN thì tự nhiên, anh bạn người Mỹ thốt lên: “Ừ! Sao ông Kissinger tàn nhẫn quá nhỉ?”.

Sau khi “quyết sách” của Mỹ đã rõ ràng thì tại VN, chính quyền Sài Gòn chỉ còn tồn tại có một tuần. Trước khi Tổng thống Ford đưa ra lời tuyên bố quan trọng nói trên, thì “Tổng thống một tuần” Trần Văn Hương ngay sau khi nhậm chức, đã vội ký sắc lệnh cấm di chuyển, du lịch ra hải ngoại. Quân nhân, công chức nào đã lợi dụng công vụ trốn lại nước ngoài, phải hồi hương trong vòng 30 ngày, nếu không, họ sẽ bị tước quốc tịch và bị tịch thu tài sản. Thành phần được phép xuất ngoại chỉ là người già, hoặc bệnh nhân cần đi chữa trị. Tuy nhiên, bất chấp lệnh này, làn sóng di tản đã bùng phát vào những ngày cuối cùng của tháng 4.1975, nhất là khi phòng tuyến Xuân Lộc bị phá vỡ ngày 23.4. Sư đoàn 18 Bộ binh, Lữ đoàn 1 dù cùng các đơn vị địa phương quân và nghĩa quân di tản khỏi Xuân Lộc. Phòng tuyến này được lệnh di tản sau khi Dầu Giây mất. Tình hình chiến trường lúc đó được tính theo từng giờ, từng ngày.

Tuyết Linh
thanhnien.com.vn

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ 4

Loay hoay tìm viện trợ

Quá lệ thuộc vào nguồn viện trợ từ Mỹ, chính quyền Sài Gòn đã đối mặt với nhiều khó khăn khi bị mất “bầu sữa” này.

Bài viết dưới đây điểm lại những nét chính mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển (KH-PT) chính quyền Sài Gòn mô tả. Ông Hưng lúc đó được xem là cố vấn thân cận của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông đã thuật lại những bí mật của dinh Độc Lập trong 2 cuốn sách: Hồ sơ mật dinh Độc Lập(đồng tác giả với Schecter – 1986) và Khi đồng minh tháo chạy (2005).

Thật ra, các nhà hoạch định chiến lược chính quyền Sài Gòn cũng đã thấy nguy cơ trước việc quá lệ thuộc vào viện trợ Mỹ, nhất là viện trợ quân sự. Nên theo lời tiến sĩ Hưng, dinh Độc Lập cũng từng nhiều lần tìm các nguồn tài trợ khác. Tuy nhiên, khi nhận viện trợ hoặc đi vay thì đều chịu những ràng buộc, mà suy cho cùng, viện trợ Mỹ vẫn là “số 1”.

Các nguồn viện trợ song phương

Một trong những quốc gia mà chính quyền Sài Gòn có thể cầu viện là Pháp. Khoản tiền viện trợ mà Paris cho Việt Nam Cộng hòa (VNCH) vay sau cùng là 130 triệu quan Pháp (tương đương 26 triệu USD), nhưng chính quyền Sài Gòn buộc phải mua hàng của Pháp. Theo lời tiến sĩ Hưng thì Bộ KH-PT muốn sử dụng khoản tiền này vào các chương trình canh nông, chế biến, để tạo công ăn việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp. Nhưng phía Pháp thì lại gây áp lực buộc phải mua máy phát điện, hệ thống phát sóng tối tân cho đài truyền hình, rồi các loại xem ra là “xa xỉ phẩm” như điện thoại, xe đạp Peugeot…, là những thứ mà VNCH lúc đó không thể “phung phí” tiền để mua. Do chính quyền Sài Gòn không đồng ý nên khoản viện trợ này ngừng lại.

Sau Pháp là Nhật, và tuy thể thức cho vay của Tokyo có “nhẹ nhàng” hơn, với lãi suất thấp và cho vay dài hạn, nhưng Chính phủ Nhật cũng đòi hỏi phải mua hàng hóa Nhật, và rồi cũng giống như trường hợp của Pháp, gây áp lực VNCH nhập cảng những thứ xem ra không cần thiết trong thời chiến. Nhật đòi cho nhập thêm phụ tùng xe gắn máy Honda, mà lúc đó, Sài Gòn được báo giới ngoại quốc đặt cho cái tên “Hondaville”.

Một trong những nguồn cho vay đáng được quan tâm lúc đó là của Iran. Quốc vương Shah đề nghị giúp đỡ chính quyền Sài Gòn khoảng 100 triệu USD và cho vay ngay để yểm trợ nhập cảng hàng hóa. Chính quyền Tehran nói là nếu VNCH không có khả năng hoàn trả bằng tiền thì có thể trả bằng sản phẩm, chẳng hạn như trái cây, rau, hoa quả. Theo đề nghị của Iran thì VNCH tổ chức thu mua, đóng gói, rồi sẽ có phi cơ vận tải bay từ Tehran sang Đà Lạt hằng tuần để chở về. Theo kế hoạch này thì phi trường Liên Khương của Đà Lạt sẽ được tu bổ, sửa chữa lại. Đây là một đề nghị rất tốt và có lợi cho VNCH, nhưng kế hoạch cần có thời gian tổ chức, không thể thực hiện ngay được, trong khi nguồn tiền thì cần rất gấp.

Ngoại trừ các quốc gia kể trên, những nguồn viện trợ song phương khác không đáng kể, vì chỉ nhỏ giọt, năm ba triệu USD và thường là loại viện trợ nhân đạo.

Đáng kể nhất là nguồn tài chính đặc biệt từ Ả Rập Xê Út.

Ông vua hào phóng của Ả Rập Xê Út

Vào cuối năm 1974, một tia hy vọng lóe lên cho chính quyền Sài Gon từ nhà vua Ả Rập Xê Út là Saud al Faisal. Vào đầu năm 1975, nhà vua đã đồng ý trên nguyên tắc cho VNCH vay dài hạn mấy trăm triệu USD với lãi suất thấp. Điều kiện thật là dễ dãi, thủ tục đơn giản. Ký xong là có tiền ngay, hoặc có thể vay bằng dầu lửa, rồi đến khi nào VNCH khai thác được dầu mỏ thì mới phải trả. Vào thời điểm đó, đã có nhiều tin tức về mỏ dầu ở thềm lục địa VN.

Khoản tiền vay của Ả Rập Xê Út sẽ cho phép chính quyền Sài Gòn mua thêm nhiên liệu, đạn dược của bất cứ nước nào. Một giải pháp vay mượn khác cũng đã được đề nghị với vua Faisal, là Ả Rập Xê Út sẽ đứng ra bảo đảm cho VNCH vay viện trợ quân sự Mỹ (USAID Loan Plan). Theo tiến sĩ Hưng thì kế hoạch này tốt hơn vì lúc đó, tất cả quân trang, quân dụng và vũ khí của quân đội Sài Gòn đều được chế tạo ở Mỹ, nên việc mua đạn dược, quân trang của nước này thuận lợi hơn.

Vừa lúc kế hoạch vay quân viện Mỹ qua bảo đảm của vua Faisal sắp được thực hiện thì ông vua này bị người cháu ruột giết chết.

Sở dĩ vua Faisal ủng hộ chính quyền Sài Gòn là vì ông này chống chủ nghĩa Cộng sản lẫn chủ nghĩa Phục quốc Do Thái. Cai quản đất nước từ năm 1964 với những chính sách cải tổ và hiện đại hóa đất nước, nhưng đến năm 1975 thì ông bị Hoàng tử Musaid – gọi vua là bác ruột, vừa từ Mỹ trở về nước – ám sát. Hôm đó là ngày 25.3.1975, nhân sự kiện nhà vua mở cửa hoàng cung cho mọi công dân vào chiêm bái, thì Hoàng tử Musaid đã bắn chết nhà vua, viện lẽ là để trả thù việc lực lượng quốc phòng Ả Rập hồi năm 1965 đã bắn chết người anh của Musaid. Tháng 6.1975, Musaid đã bị hành hình bằng hình thức chặt đầu trước công chúng.

Cái chết của vua Faisal vào đúng ngày tại miền Nam VN, Quân đoàn I có lệnh rút khỏi cố đô Huế. Không còn cách nào khác, Tổng thống Thiệu gửi điện chia buồn cùng Hoàng gia Ả Rập, và sau đó, thúc giục Chính phủ Ả Rập Xê Út tiếp tục tiến hành kế hoạch của tiên vương. Nhưng trong lúc tang gia bối rối, phía Ả Rập trả lời là sẽ cứu xét đề nghị ấy.

Ngày 14.4.1975, ông Thiệu phái ông Hưng cùng Ngoại trưởng VNCH lúc đó là ông Vương Văn Bắc và Đại sứ Trần Kim Phượng đi Washington D.C. cầu viện Mỹ theo kiểu “vay quân viện” lần cuối cùng, những mong níu kéo sự tồn vong của chính quyền Sài Gòn. Việc “vay quân viện” được VNCH “thế chân” bằng những thứ sau đây: – Tiềm năng dầu lửa – Tiềm năng xuất cảng gạo – Khoản tiền Ả Rập Xê Út hứa cho vay – Số vàng dự trữ của Ngân hàng Quốc gia VN (lúc đó là 16 tấn, trị giá vào khoảng 120 triệu USD).

Trong khi những người “đi sứ” còn thương thảo thì tình hình chiến sự diễn biến quá nhanh. Và ngày 18.4, tiến sĩ Hưng nhận được bản tin mới nhất của các hãng thông tấn với nội dung: “Ủy ban Quốc phòng Thượng viện Mỹ vừa bỏ phiếu chống việc tăng quân viện cho VNCH. Ủy ban Ngoại giao thì chấp thuận dự luật cho quyền Tổng thống Ford sử dụng quân đội để di tản người Mỹ ra khỏi VN”.

Hành động này được xem như là đã “khai tử” VNCH. Ông Hưng ở lại Mỹ cho đến ngày nay.

Tuyết Linh
thanhnien.com.vn

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ 3

Người Mỹ tìm cớ rút lui

Rất muốn rút hết người của mình khỏi Sài Gòn, nhưng phía Mỹ vẫn cần một “lệnh tống khứ” do ông Dương Văn Minh ký.

Vào lúc 5 giờ rưỡi chiều 28.4, tướng Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức tổng thống chính quyền Sài Gòn. Trước khi từ chức, Tổng thống Trần Văn Hương ký sắc lệnh giải nhiệm chức vụ Tổng tham mưu trưởng quân đội của đại tướng Cao Văn Viên. Trong khi chờ đợi tân tổng thống bổ nhiệm người thay thế, trung tướng Đồng Văn Khuyên – Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu – xử lý thường vụ chức vụ Tổng tham mưu trưởng.

Tướng Đôn thúc ép

Đúng ra theo hiến pháp, Quốc hội không có quyền ép Tổng thống Hương từ chức để giao chức vụ lại cho tướng Dương Văn Minh. Tuy nhiên, ông Hương lúc này bị áp lực từ nhiều phía, nhất là Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn. Ông Đôn đã hù dọa Quốc hội là chỉ có ông Minh lên làm tổng thống mới có thể thương thảo với “Cộng sản” được mà thôi.

Trong buổi điều trần trước Quốc hội, ba vị tướng: Trần Văn Đôn; Trần Văn Minh, Tư lệnh Biệt khu thủ đô; Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh Cảnh sát quốc gia, đã trình bày trước Quốc hội tình hình nguy ngập của việc bảo vệ Sài Gòn. Theo đó, ngoài các đơn vị ở Vùng 4, tại Vùng 3, VNCH có 3 sư đoàn còn nguyên vẹn là các sư đoàn 5, 25 và sư đoàn dù. Sư đoàn 18 và 22 là hai sư đoàn trừ (tức thiếu quân số), đang được bổ sung. Nội thành thì có 2 liên đoàn Biệt động quân và 2 liên đoàn Cảnh sát dã chiến. Trong khi đó, quân giải phóng đã huy động đến 16 sư đoàn chính quy, chưa kể các lực lượng địa phương, đang dồn các mũi tấn công vào Sài Gòn. Tướng Đôn cũng báo cho Quốc hội biết là bên kia đòi hỏi Tổng thống Hương phải bàn giao chức vụ lại cho tướng Dương Văn Minh trước 12 giờ khuya ngày 27.4 để có cơ hội thương thuyết, còn nếu không, họ sẽ ra lệnh tấn công. Sau đó, 3 tướng Đôn, Minh và Bình ra về để cho các thành viên Quốc hội quyết định.

Tình hình lúc đó cho thấy, một khi chính quyền lọt vào tay đại tướng Dương Văn Minh thì hầu như ông sẽ đầu hàng đối phương. Và vì thế, đại tướng Cao Văn Viên đã vội vàng từ chức, các tướng lĩnh khác ở “trung ương” cũng di tản nhanh.

Trước đó, ngày 26.4 đầy những biến cố có tính quyết định tới vận mạng của chính quyền Sài Gòn. Tại Pháp, Đại sứ VNDCCH là Võ Văn Sung gặp con trai tướng Minh là Dương Minh Đức (đang du học ở Pháp) báo tin là nếu ông Minh lên làm tổng thống thì Hà Nội sẽ chấp nhận đàm phán. Sau khi nhận tin, ông Minh thuyết phục tướng Đôn, để ông Đôn vào dinh Độc Lập thuyết phục ông Hương từ chức, giao quyền lại cho ông Minh. Tổng thống Hương từ chối, nói với ông Đôn rằng, tướng Minh từng là học trò của ông nên ông biết rõ Minh không thể cáng đáng công việc quốc gia vào thời điểm dầu sôi lửa bỏng. Tướng Minh sau đó đi gặp Chủ tịch Thượng viện Nguyễn Văn Huyền, báo cho ông Huyền biết là cả Thượng tọa Trí Quang lẫn ông Đôn đều ủng hộ ông Minh lên làm tổng thống, và nếu như thế thì ông sẽ đưa ông Huyền làm Phó tổng thống.

Chủ tịch Huyền đồng ý, rồi báo cho Tổng thống Hương là Quốc hội sẽ nhóm họp ngày 28.4, đồng thời khuyên ông Hương từ chức vì “quyền lợi của dân tộc”. Ông Hương trả lời việc đó tùy Quốc hội định liệu. Tổng thống Hương thông báo mọi điều với cựu Tổng thống Thiệu, tướng Khiêm và tướng Viên. Thế nên, ngay tối 26.4 đó, ông Thiệu và ông Khiêm đã rời VN vì biết chắc một điều là ông Minh sẽ đầu hàng. Hai ông lên máy bay đi Đài Loan theo công lệnh của Tổng thống Hương, đại diện VNCH dự lễ tang Tưởng Giới Thạch.

Đại tướng Minh ký lệnh “đuổi Mỹ”

Chỉ một ngày sau khi nhậm chức Tổng thống VNCH thay thế ông Trần Văn Hương, Tổng thống Dương Văn Minh ngày 29.4 đã ra lệnh cho tất cả những người Mỹ phải rời VN trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Cuộc di tản người Mỹ và người Việt liên tục không ngừng qua đêm.

Vì sao ông Minh đi đến quyết định này?

Một sĩ quan tùy viên của đại tướng Minh là cựu thiếu tá Trịnh Bá Lộc đã thuật lại nguyên nhân dẫn đến quyết định trục xuất người Mỹ, xin được tóm lược lại như sau:

Một hôm, đại tướng Minh đang họp với các cộng sự thì ông Charles J.Timmes, cựu thiếu tướng, nguyên Trưởng phái bộ cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) đến xin gặp. Ông Timmes lúc đó đang làm việc tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Thiếu tá Lộc báo tin rồi đại tướng Minh gặp gỡ ông Timmes trong phòng kín. Khi tiễn ông Timmes ra về, thiếu tá Lộc nghe ông Timmes nói với đại tướng Minh, đại ý là Đại sứ Martin muốn rằng trong bài diễn văn nhậm chức, đại tướng Minh có đề cập đến việc yêu cầu nhân viên Tòa đại sứ Mỹ và cơ quan DAO rút khỏi VN. Tướng Minh không trả lời mà hẹn sẽ cho biết sau.

Ngày hôm sau, ông Timmes lại đến, có dẫn theo một chuyên viên và xin mắc đường dây điện thoại đặc biệt, nói là để tiện việc liên lạc trực tiếp giữa ông Minh và Tòa đại sứ Mỹ. Tướng Minh không cho, nói là chỉ cần gắn điện thoại tại nhà thiếu tá Lộc, để sĩ quan tùy viên có gì báo lại. Ông Lộc cho biết, đường dây này chỉ có 3 số, không qua tổng đài, và chỉ liên lạc với những quan chức cấp cao. Ông Timmes có nhắc lại yêu cầu của ngày hôm qua, nhưng đại tướng Minh vẫn không trả lời.

Sau khi Quốc hội trong phiên họp lưỡng viện tối 27.4 biểu quyết chấp thuận cho Tổng thống Hương giao quyền lại cho đại tướng Dương Văn Minh, chiều 28.4 diễn ra lễ nhậm chức của ông Minh. Bài diễn văn nhậm chức lúc đó đã chuẩn bị xong xuôi, nên ngay trưa hôm đó, lúc ông Minh chưa đọc diễn văn, ông Timmes đã nhận được một bản bằng tiếng Việt. Nội dung bài diễn văn không có đề cập gì đến yêu cầu nhân viên Tòa đại sứ Mỹ và cơ quan DAO rời khỏi VN.

Ngay trong đêm hôm đó, dinh Độc Lập bị phi cơ oanh kích, và Sài Gòn cũng bị pháo, tức không đúng như những gì mà những người ủng hộ ông Minh nói là ông Minh lên cầm quyền thì sẽ có “cơ hội” đàm phán với “phía bên kia”. Sáng ngày 29.4, ông Timmes lại đến tư dinh ông Minh. Khi ra về, lúc ngang qua chỗ bộ phận tham mưu của tướng Minh làm việc, ông Timmes có nói: “Đại sứ Martin nói là Cộng sản chỉ bằng lòng nói chuyện hòa bình với chính phủ của đại tướng chỉ khi nào tất cả nhân viên tòa đại sứ và DAO của Mỹ bắt đầu rời khỏi VN theo lời yêu cầu chính thức của đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống VNCH, được phổ biến trên đài phát thanh”.

Theo lời kể của thiếu tá Lộc thì lúc đó, giáo sư Lý Chánh Trung nói nhỏ: “Thôi thì đại tướng làm theo yêu cầu của họ”. Ông Minh trầm ngâm trong chốc lát, rồi nói chậm rãi: “Được rồi! Độ một giờ nữa, khi nào làm xong, thiếu tá Lộc sẽ mời ông đến nhận”.

Ông Timmes mừng rỡ cáo từ. Sở dĩ tướng Minh làm như vậy vì theo ông, là nếu ông không yêu cầu, thì người Mỹ cũng sẽ rút lui như ở Campuchia, thế nên, cần giúp người Mỹ rút trong danh dự, và dù sao, cũng đã có 58.000 quân nhân Mỹ thiệt mạng trên chiến trường VN.

Giáo sư Vũ Văn Mẫu trong vai trò thủ tướng chính phủ, được mời đến ngay. Sau khi trình Tổng thống Dương Văn Minh ký tên, thiếu tá Lộc gọi điện mời ông Timmes đến nhận. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đã đọc văn bản chính thức trên đài phát thanh. Và chỉ trong vòng một giờ sau, máy bay của Mỹ vần vũ trên không phận Sài Gòn. Cuộc rút lui chính thức của người Mỹ bắt đầu.

Tuyết Linh
thanhnien.com.vn

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ 2

Gợi ý của Đại sứ Graham Martin

Người trong cuộc cho rằng Mỹ không gây áp lực, nhưng quan chức ngoại giao cấp cao nhất của Mỹ tại Sài Gòn lúc bấy giờ đã gợi ý ông Thiệu từ chức.

Cuộc nói chuyện “riêng tư”

Hơn ai hết, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu biết rất rõ tình hình lúc bấy giờ. Những tài liệu giải mật sau này cho thấy ông đã ra đi vì “bất mãn” với đồng minh Mỹ khi Washington quyết định “khai tử VNCH” qua hành động cắt quân viện. Vả lại, phong trào chống đối lên cao nên ông sợ sẽ có một cuộc đảo chánh, thậm chí, ông có thể đi theo vết chân của ông Ngô Đình Diệm. Vì lẽ đó, nên sau khi từ chức ngày 21.4, ông Thiệu vẫn nấn ná ở lại trong dinh Độc Lập cho an toàn, đến khi được Mỹ sắp xếp cho chuyến đi Đài Loan trong đêm 26.4.

Trong lần điều trần trước Tiểu ban Điều tra của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Mỹ ngày 27.1.1976, tức gần 8 tháng sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, cựu Đại sứ Mỹ Graham Martin đã nói trước các vị dân cử là ông “không có vai trò gì” trong việc Tổng thống Thiệu từ chức. Nhưng ông Martin xác nhận đã có nói chuyện với ông Thiệu vào ngày 20.4 (tức trước khi ông Thiệu từ chức 1 ngày). Theo thuật lại của Martin thì “sau khi nói sơ về tình hình quân sự do tình báo Mỹ cung cấp, tôi đã nói với ông ta (Tổng thống Thiệu) rằng theo kết luận của tôi, mặc dù các tướng lãnh tiếp tục chiến đấu, nhưng họ nghĩ không còn cách nào để chặn đứng cuộc tấn công sau cùng của Cộng sản – trừ khi có một cuộc ngưng bắn để họ có thể tái phối trí lại lực lượng. Nhưng sự ngưng bắn sẽ không bao giờ xảy ra nếu tổng thống không từ chức, hay sẵn sàng chấp nhận những bước tiến đưa đến sự thương lượng đó. Tôi nói với Tổng thống Thiệu, theo tôi, nếu ông ta không quyết định thì các tướng lãnh cũng sẽ yêu cầu ông thoái vị”.

Cựu Đại sứ Martin nói là ông có nhấn mạnh đến tính cách riêng tư của cuộc nói chuyện. Rằng ông chỉ nói với Tổng thống Thiệu bằng tư cách cá nhân, không đại diện cho tổng thống, ngoại trưởng, hay với tư cách của một đại sứ Mỹ.

Theo đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn (trong cuốn Những ngày cuối cùng của VNCH), về câu nói “các tướng lãnh sẽ yêu cầu ông thoái vị” của Martin, thì vào thời điểm đó, không có tướng tá nào “ép” ông Thiệu từ chức cả. Theo lời tướng Viên, có một việc đã dẫn đến sự hiểu lầm này. Số là trung tướng Trần Văn Đôn, sau khi được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng trong tân nội các của Nguyễn Bá Cẩn, bèn triệu tập một cuộc họp của tất cả các tướng lãnh ở Bộ Tổng tham mưu. Tuy đây chỉ là cuộc gặp sơ giao, nhưng từ đó, có những nguồn tin nói là cuộc họp có mục đích chính trị.

Từng giờ nguy ngập

Ngay sau khi nhậm chức, “tổng thống 1 tuần” Trần Văn Hương ngày 22.4 đã lập tức ký nhiều sắc lệnh, trong đó có sắc lệnh cấm di chuyển, du lịch ra hải ngoại. Quân nhân, công chức nào đã lợi dụng công vụ ở lại nước ngoài, phải hồi hương trong vòng 30 ngày, nếu không họ sẽ bị tước quốc tịch và bị tịch thu tài sản. Thành phần được phép xuất ngoại chỉ là người già, hoặc bệnh nhân cần đi chữa trị. Tuy nhiên, những bệnh nhân này phải đóng một khoản tiền thế chân trước khi xuất cảnh. Khoản tiền trên được dùng để giúp đỡ các binh sĩ đang chiến đấu, trong trường hợp người đóng tiền thế chân không hồi hương.

Tổng thống Hương cũng có mời tướng Dương Văn Minh tham gia nội các, nhưng ông Minh từ chối vì ông muốn nhiều quyền hành hơn.

Ngày 23.4, Xuân Lộc thất thủ, quân giải phóng áp sát Sài Gòn. Tình hình chiến trường lúc này được tính theo từng giờ. Hai ngày sau, 25.4, ngoại trừ Hãng hàng không Air Việt Nam, tất cả các hãng khác có chuyến bay ra ngoại quốc đều đã đóng cửa. Tối 26.4, hai nhân vật cấp cao là cựu Tổng thống Thiệu và cựu Thủ tướng Khiêm đáp máy bay của Mỹ đi Đài Loan. Phi cơ chở hai ông đậu ở bãi đáp dành cho Hãng hàng không Air America. Chính quyền Washington muốn hai ông ra đi an toàn vì không muốn mang thêm tai tiếng sau cái chết của anh em Ngô Đình Diệm trong cuộc đảo chánh quân sự 1.11.1963. Cũng trong tối 26.4, quân giải phóng bắt đầu nã pháo vào các căn cứ quân sự ở Sài Gòn, như là điều hối thúc Tổng thống Hương nhanh chóng bàn giao cho tướng Minh để “thương thuyết”.

Ngày 27.4, dù là chủ nhật nhưng Tổng thống Trần Văn Hương vẫn tổ chức họp các viên chức lãnh đạo đất nước. Vào lúc dầu sôi lửa bỏng này thì vị tướng cấp cao nhất là đại tướng – Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên nộp đơn từ chức. Trước áp lực của tình hình và diễn biến quân sự bất lợi quá nhanh, Tổng thống Hương muốn nhường chức lại cho Dương Văn Minh, nhưng lại cho rằng không muốn làm trái Hiến pháp chính quyền Sài Gòn. Vì theo ông, chức vụ tổng thống “không phải muốn cho ai thì cho”. Theo hiến định của nền đệ nhị cộng hòa (Hiến pháp VNCH 1967) thì chức vụ tổng thống lúc đó phải giao lại cho Chủ tịch Thượng viện Trần Văn Lắm. Thế nên, những người dự họp cuối cùng đã chấp thuận giao cho Quốc hội được quyền quyết định tối hậu đối với việc bàn giao chức vụ tổng thống trong thời điểm này.

Quốc hội được triệu tập họp khẩn cấp tối hôm đó. Thượng viện gồm 60 nghị sĩ, Hạ viện có 159 dân biểu. Tổng cộng 219 vị dân cử. Đến giờ họp, có 138 vị hiện diện, tức hội đủ túc số quá bán (110 người) để khai mạc phiên họp khoáng đại lưỡng viện.

Ba vị tướng Trần Văn Đôn trong vai trò Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, Trần Văn Minh – Tư lệnh Biệt khu thủ đô, và tướng Nguyễn Khắc Bình – Tư lệnh Cảnh sát quốc gia, đã trình bày trước Quốc hội tình hình nguy ngập của việc bảo vệ Sài Gòn. Tướng Đôn cũng báo cho Quốc hội biết là quân giải phóng đòi Tổng thống Hương phải bàn giao chức vụ tổng thống lại cho tướng Dương Văn Minh trước 12 giờ khuya ngày 27.4 để có cơ hội thương thuyết, còn nếu không, họ sẽ ra lệnh tấn công. Sau đó, 3 tướng Đôn, Minh và Bình ra về để cho các thành viên Quốc hội quyết định.

Kết quả phiên họp cuối cùng của Lưỡng viện quốc hội là 100% đã biểu quyết chấp thuận trao quyền lãnh đạo chính quyền Sài Gòn cho tướng Dương Văn Minh, mặc dù rất nhiều vị dân cử đánh giá là ông Minh “không có tài cán gì” để cầm cương trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này. Nói là 100% vì trong tổng số 138 vị hiện diện thì có 136 phiếu thuận, còn hai vị chủ tọa là nghị sĩ Lắm và dân biểu Út không bỏ phiếu.

Tuyết Linh
thanhnien.com.vn

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ 1

Vì sao Tổng thống Thiệu từ chức?

Nối tiếp Đại thắng mùa xuân 1975: Tài liệu chưa từng công bố của chính quyền Sài Gòn, Thanh Niên xin tiếp tục giới thiệu loạt bài Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA. Sử dụng tài liệu giải mật của Cơ quan Tình báo T.Ư Mỹ (CIA) cùng các hồi ký, tư liệu của cựu tướng lĩnh và quan chức chính quyền Sài Gòn, loạt bài sẽ cung cấp cho bạn đọc một bức tranh tương đối chi tiết về những ngày cuối của chế độ Sài Gòn thời điểm tháng 4.1975.

Đứng đầu chính quyền Sài Gòn, hơn ai hết, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu biết rõ nguy cơ thất thủ, nhất là khi Quốc hội Mỹ biểu quyết một cách “cạn tàu ráo máng” cắt đứt quân viện, một hành động xem như kết thúc một thể chế. Có còn nguyên nhân nào khác dẫn đến quyết định từ chức vào ngày 21.4.1975 của ông Thiệu?

Uy tín xuống thấp

Ngày 2.4.1975, Thượng nghị viện VN cộng hòa (VNCH) trong một phiên họp thường lệ, với 42 phiếu thuận, 10 phiếu chống, đã kết tội Tổng thống Thiệu về những thất bại liên tiếp xảy ra trên mặt trận. Một ngày trước đó, tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II Vùng 2 chiến thuật, cùng với đại tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh trưởng Nha Trang, Khánh Hòa, leo lên trực thăng bay vào Sài Gòn. Việc tướng tá chỉ huy bỏ chạy trước như thế khiến binh sĩ ngã lòng, dẫn đến tình trạng rã ngũ, dù lúc đó Nha Trang vẫn còn lực lượng khá mạnh, vì nơi đây là địa điểm tập trung nhiều quân trường, trung tâm huấn luyện của quân đội Sài Gòn. Quân giải phóng tiến vào tiếp quản Nha Trang, rồi đến Cam Ranh, một cách dễ dàng.

Như vậy, kể từ ngày 10.3, khi Ban Mê Thuột mất, tiếp đến là vụ “di tản chiến thuật” khỏi cao nguyên Trung phần, chính quyền Sài Gòn đã để mất cả Quân đoàn I và gần hết Quân đoàn II, tức là một nửa quân đội Sài Gòn bị tan rã, uy tín Tổng thống Thiệu ngày một xuống dốc. Nhiều thế lực đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Trong phiên họp ngày 2.4, Thượng nghị viện yêu cầu ông Thiệu thành lập một tân nội các đại diện cho nhiều thành phần chính trị đối lập, thay thế cho chính phủ của đại tướng Trần Thiện Khiêm. Trước sức ép từ nhiều phía, Tổng thống Thiệu đã ủy nhiệm Chủ tịch Hạ nghị viện là ông Nguyễn Bá Cẩn thành lập tân nội các. Thành phần tân chính phủ ra mắt ngày 14.4, và hoạt động chỉ được nửa tháng.

“Mắc bẫy” tin tình báo

Ngày 13.4.1975, Pierre Brochand, Trưởng ban Tình báo Pháp, chuyển đến Thomas Polgar, Trưởng nhánh CIA của Mỹ ở Sài Gòn một tin ngụy tạo do nhân viên Hungary trong Ban liên hợp Quân sự chuyển đến. Tin này cho biết là phía cách mạng có thể chấp nhận dàn xếp chính trị nếu như Washington thay thế Tổng thống Thiệu bằng đại tướng Dương Văn Minh (trích Hồi ký chánh trị của Nguyễn Bá Cẩn). Về phía Mỹ, tình báo nhận được tin quân giải phóng đang chuẩn bị Chiến dịch Hồ Chí Minh để đánh thẳng vào Sài Gòn. Còn tin ngụy tạo về việc dàn xếp chính trị chỉ nhằm triệt hạ Tổng thống Thiệu mà thôi, nhưng Đại sứ Mỹ Graham Martin giữ kín, không thông báo cho Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon nguồn tin này. Sau này, trong một cuộc điều trần trước Quốc hội Mỹ, ông Martin nói rằng đối phương đã nhờ phái đoàn Hungary tung tin ngụy tạo vào ngày 13.4 nói trên để lừa Đại sứ Merillon.

Một quyết định quan trọng của Quốc hội Mỹ ngày 18.4 xem như kết thúc chính quyền Sài Gòn, với việc thông qua đạo luật về viện trợ quân sự cho tài khóa 1976. Trong tổng số 3 tỉ USD quân viện cho nhiều nước, không có tên VNCH. Điều này có nghĩa là sau ngày 30.6.1975, dù cho còn tồn tại đi chăng nữa, VNCH cũng không còn nhận được khoản tiền viện trợ quân sự nào nữa, có nghĩa là “đưa quân ra trận, mà không cấp vũ khí”.

Sự cắt quân viện là đòn chí tử đối với quân đội Sài Gòn. Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng, tóm tắt về việc giảm thiểu quân viện của Mỹ như sau (trong cuốn Những ngày cuối của VNCH): Quốc hội Mỹ phủ quyết tất cả các ngân sách phụ trội và trong tài khóa 1975, họ chỉ cho 1 tỉ Mỹ kim, nhưng sau đó, con số 1 tỉ lại bị cắt đi chỉ còn 700 triệu. Phần này lại còn tính luôn cả chi phí cho Văn phòng Tùy viên quân sự Mỹ (DAO). Ngày 2.1.1975, Ngũ Giác Đài xin Quốc hội một ngân khoản phụ trội 300 triệu USD, sau đó, Tổng thống Gerald Ford nâng lên thành 722 triệu khi chuyển qua Quốc hội ngày 11.4.1975. Quốc hội Mỹ đã bác bỏ đề nghị của phía hành pháp, và thế là tình hình miền Nam VN xem như đã được quyết định.

Trước tình hình như thế, ông Thiệu đã đi đến quyết định là từ chức. Trong buổi họp tại dinh Độc Lập ngày 21.4, với sự tham dự của một vài lãnh đạo cấp cao nhất, mà về phía quân đội có đại tướng Viên, phía cảnh sát có thiếu tướng tư lệnh Nguyễn Khắc Bình, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức, bàn giao chức vụ lại cho Phó tổng thống Trần Văn Hương. Ông Thiệu vẫn “tạm trú” tại dinh Độc Lập vì lý do an ninh cá nhân. Theo lời giải thích của Tổng thống Thiệu thì Mỹ muốn ông từ chức, và dù ông muốn hay không thì một số tướng lĩnh trong quân đội cũng sẽ ép ông ra đi.

Cho dù có nhiều nguồn tin đòi Tổng thống Thiệu giao chức vụ lại cho ông Dương Văn Minh để có thể kịp thời “đối thoại với phía bên kia”, nhưng ông Thiệu vẫn làm đúng theo quy định của Hiến pháp 1967. Chiều ngày 21.4, lễ từ chức của Tổng thống Thiệu được trực tiếp truyền hình từ dinh Độc Lập. Trong diễn văn từ chức, ông Thiệu công bố trước quốc dân về tình hình chung và lý do ông từ chức. Lần đầu tiên, Tổng thống Thiệu công khai xác nhận chính ông đã ra lệnh cho cuộc triệt thoái khỏi Kontum – Pleiku, mà ông viện dẫn là không còn cách chọn lựa nào khác.

Loạt bài Đại thắng mùa xuân 1975: Tài liệu chưa từng công bố của chính quyền Sài Gòn lược trích từ cuốn Về đại thắng mùa xuân năm 1975 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn.

Ban chỉ đạo biên soạn cuốn sách này gồm: GS-TS Phùng Hữu Phú, Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo T.Ư, Trưởng ban chỉ đạo; TS Nguyễn Duy Hùng, Giám đốc – Tổng biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (NXBCTQG), Phó trưởng ban; TS Khuất Duy Kim Hải, Phó giám đốc – Phó tổng biên tập NXBCTQG; TS Vũ Thị Minh Hương, Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước; Phạm Việt, Trưởng ban sách Nhà nước và Pháp luật NXBCTQG; ThS Nguyễn Xuân Hoài, Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.

Ban biên soạn gồm: ThS Phạm Thị Huệ, Hà Kim Phương, Phạm Ngọc Hưng, Bùi Thượng Hải, Nguyễn Thị Việt, Trần Thị Vui. Cố vấn khoa học: đại tá, PGS-TS Hồ Sơn Đài và PGS – TS Hà Minh Hồng.

thanhnien.com.vn

Nước mắt dành cho ngày gặp mặt

TT – 30-4-1975, ngày vui lớn của toàn dân tộc, nhiều người đã rơi nước mắt. Những ngày tháng 4 này, chúng tôi vẫn bắt gặp nhiều người rơi nước mắt. Những giọt nước mắt tràn đầy mừng vui, tự hào mang theo một chút xót xa, đau đớn vẫn y như 35 năm trước.

Tấm ảnh thu được từ văn phòng tổng tham mưu trưởng chính quyền Sài Gòn. Trong ảnh: người đứng giữa, đeo kính là đại tá Nguyễn Thế Truyện, tư lệnh phân khu 1 Sài Gòn – Gia Định – Ảnh tư liệu

Cái giá phải trả cho chiến tranh quá lớn. Những mất mát đã được ghi nhớ và nhắc nhở ngay từ phút đầu tiên vòng nguyệt quế của chiến thắng xuất hiện, và từ bấy đến nay vẫn chưa một phút nguôi quên. “Đó chính là điều an ủi lớn nhất với gia đình chúng tôi về sự hi sinh của ba mình” – bà Nguyễn Thế Thanh nghẹn ngào vuốt một tấm ảnh cũ đã ố vàng ép plastic cẩn thận và được coi như bảo vật của gia đình bà.

30-4-1975, Sài Gòn

Cánh quân phía đông của phó tư lệnh Lê Trọng Tấn vào Sài Gòn đầu tiên. Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng, bộ đội bắt đầu tiếp quản toàn TP. Điểm đầu tiên mà tướng Lê Trọng Tấn đến xem xét không phải là dinh Độc Lập. Ông đến bộ tổng tham mưu của chính quyền Sài Gòn, vào ngay phòng tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên.

Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, súng, quần áo vương vãi khắp nơi, dấu tích của một cuộc tháo chạy tán loạn. Tướng Lê Trọng Tấn ngồi vào bàn, giở những tập hồ sơ mật. Phút thăng hoa nhất của chiến thắng, lạ thay, ông lại muốn lấp đầy ngay bằng công việc, kìm nén bớt những cảm xúc trào lên trong lòng. Ông dừng lại ở một bức ảnh. Tấm ảnh đen trắng được phóng to chụp lại một buổi làm việc của Bộ tư lệnh Miền với chú thích rõ ràng tên, chức vụ của từng người, hẳn là nét chữ của một kẻ “chiêu hồi” nào đó. Trong ảnh, ông, tướng Lê Trọng Tấn, ngồi ngay góc bên trái. Trọng tâm tấm ảnh là một người cao gầy, đeo kính đứng thuyết trình.

Tướng Lê Trọng Tấn không nhớ tấm ảnh này đã được chụp trong trường hợp nào, ông cũng không nghĩ xem vì sao nó đã rơi vào tay đối phương. Ông chỉ nhớ Năm Truyện, đại tá Năm Truyện, Năm “mắt kiếng”, người em, người đồng đội thân thiết đã từng cùng ông bao lần vào sinh ra tử. Trong ảnh, Năm Truyện với vẻ nhẹ nhàng, thư sinh nhưng tự tin, quyết đoán quen thuộc đang trình bày một phương án tác chiến nào đó, và nhìn vẻ mặt của ông, người thủ trưởng biết chắc chắn ông sẽ thành công. Năm Truyện đã nằm lại phía đông thành phố từ chiến dịch Mậu Thân, không được nhìn thấy hòa bình.

Tấm ảnh chụp rất rõ ràng này rất có thể là nguyên nhân căn cứ bị lộ, dẫn dến sự hi sinh của Năm Truyện, để lại nỗi đau xót cho toàn quân năm ấy. “Không ngờ anh em chúng ta lại được gặp nhau ở đây, trong giờ phút ngất ngây này” – tướng Lê Trọng Tấn như nhìn thấy Năm Truyện hiển hiện ngay trước mặt.

Một thôi thúc trào dâng trong lòng, ông bỗng làm một việc vượt ngoài nguyên tắc: rút cây bút đỏ, lật mặt sau tấm ảnh và viết “Thân tặng chị Cầm vinh dự của chị và các cháu. Ngày 30-4-1975. Ba Long”. Ông chuyển tấm ảnh cho người trợ lý, bảo: “Gửi ngay bằng đường quân sự đến gia đình đại tá Năm Truyện”.

Mặt sau tấm ảnh với bút tích của tướng Lê Trọng Tấn ngày 30-4-1975 – Ảnh tư liệu

30-4-1975, Hà Nội

Sáng ấy, Nguyễn Thế Thanh thi vấn đáp môn cuối cùng của khóa cử nhân ngoại ngữ. Ngồi chờ gọi tên nhưng lòng cô cứ chộn rộn lắng nghe tiếng radio vang vang phát qua loa báo từng bước đi của quân giải phóng.

Theo dõi tình hình chiến sự đã trở thành thói quen của người Hà Nội từ bao giờ, và hôm nay biết ngày thống nhất đã gần kề, tim Thanh đập mạnh hơn bao giờ hết. Miền Nam chính là quê hương ba má cô, nơi hai người yêu nhau và làm lễ cưới, nơi cô cất tiếng khóc chào đời khi cha đã ra cứ, mẹ ở lại nội thành và cắn răng che chở cho đứa con vừa tượng hình trước những đòn thù tra khảo. Miền Nam cũng chính là nơi cha cô đã nằm lại sau những năm tháng oanh liệt nơi chiến trường. Miền Nam đang gần hơn bao giờ hết…

“Vui sao nước mắt lại trào…”

Những ngày tháng 4, thiếu tướng Hoàng Dũng rơi nước mắt khi trao tặng bảo tàng những kỷ vật cuối cùng, nhắc đến hàng ngàn, hàng vạn đồng đội vô danh vẫn đang còn đâu đó trong từng tấc đất ngoài kia. Những người cựu chiến binh của lữ đoàn đặc công biệt động 316 đứng nghiêm, rưng rưng thả vòng hoa xuống lòng sông Rạch Chiếc, nơi 52 người anh hùng của họ đã nằm lại trong vòng một ngày đêm mở đường vào TP.

Những bản báo cáo tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh ghi nhận có hơn 6.000 đồng bào, cán bộ, chiến sĩ hi sinh xung quanh TP từ ngày 29 đến 30-4…

“Chiến dịch Hồ Chí Minh nằm trong điều kiện thuận lợi chín muồi về mọi mặt nhưng chiến thắng cũng đâu phải giản đơn” – thiếu tướng Hoàng Dũng, nguyên chánh văn phòng Bộ chỉ huy chiến dịch, trầm ngâm. Vì thế mà “vui sao nước mắt lại trào”.

Thanh sốt ruột vì cái tên nằm gần cuối của mình, đề nghị một cậu bạn đổi cho cô thi trước. Xong, Thanh vội đón xe buýt về nhà. Vừa đến khu vực Quốc Tử Giám quen thuộc, bước xuống xe cô đã nghe cả đường phố hò reo náo nức: “Sài Gòn giải phóng rồi”. Cờ đỏ tung bay khắp các phố, các cửa hàng bia hơi tấp nập người uống mừng chiến thắng. Những người Hà Nội hồ hởi nắm tay nhau, ôm nhau mà cười, mà khóc.

Thanh lính quýnh “bay” ngay về nhà. Cả khu tập thể bộ tư lệnh đang xôn xao, người cười, người khóc. Và mẹ cô đang lặng lẽ lau vội những giọt nước mắt để nở nụ cười với con. Đất nước thống nhất, mơ ước của ba má đã thành hiện thực, cả nhà sẽ được trở về quê hương nhưng vẫn sẽ mãi mãi không còn ba nữa, mấy chị em Thanh đều biết rõ điều đó. Nhưng dù có như thế thì đây vẫn là những ngày vui nhất, ba đã hi sinh để có ngày vui này, Thanh an ủi mẹ, khuyên mẹ đừng khóc nhiều kẻo ảnh hưởng đến niềm vui chung của bao người.

Một ngày, hai ngày, ba ngày… Không khí vẫn náo nức lắm. Mọi người nấu những món ăn tươi, sửa soạn những mâm cơm tươm tất cúng ông bà, tổ tiên. Và nhà Thanh bỗng có khách. Một anh bộ đội đến, tự giới thiệu là trợ lý của bác Lê Trọng Tấn, người bạn, người thủ trưởng thân thiết của ba, và anh đưa cho mẹ Thanh một phong bì. Mở ra, bà lại òa khóc. Chị em Thanh xúm lại xem tấm ảnh vừa được rút ra, “Ba, ba đã về…”. Hôm ấy là ngày 2-5-1975.

Tháng 4-2010, TP.HCM

Đại tá liệt sĩ Nguyễn Thế Truyện được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, gia đình và các đồng đội của ông mới an lòng. Đã hơn 41 năm từ ngày ông hi sinh nhưng trong ký ức những người còn sống, Năm Truyện vẫn rỡ ràng là một “tư lệnh sư đoàn dũng cảm vô song” như lời nhận xét của cố thượng tướng Trần Văn Trà, “một tư lệnh gang thép” như đánh giá của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Các cựu binh 62 năm của tiểu đoàn 302 vẫn kể về một tiểu đoàn trưởng đã có công lớn trong việc sáng tạo cách đánh đặc công, vận động độc đáo một thời vang tiếng miền Đông Nam bộ.

Trung đoàn 1 chủ lực Miền vẫn nhớ cách chỉ huy quyết đoán, mưu trí của trung đoàn trưởng trong những trận đánh Mỹ cấp trung đoàn đầu tiên ghi đậm dấu ấn trong quân sử: Bình Giã, Bàu Bàng, Đồng Xoài, Dầu Tiếng. Những cán bộ tình báo cài cắm ở Sài Gòn không thể quên một sư đoàn trưởng, tư lệnh phân khu 1 đã đích thân cải trang, xuất sắc sắm vai một nghị sĩ để tự mình vào quan sát, điều nghiên sân bay Tân Sơn Nhất, tìm ra phương án tác chiến chắc thắng, nhanh gọn và ít thương vong nhất cho đơn vị…

“Cha tôi hi sinh năm 40 tuổi, chiếc huy hiệu bằng nhôm được tặng các chiến sĩ tham gia chiến dịch Mậu Thân cũng chưa kịp nhận. Con đường đi không trọn vẹn nhưng chắc cha không vấn vương vì đã sống, cống hiến hết mình. Chị em chúng tôi chỉ biết bảo nhau phải sống sao cho không hổ danh là con ông Năm Truyện” – bà Nguyễn Thế Thanh tâm sự, đến hôm nay vẫn chưa thôi rơi nước mắt…

PHẠM VŨ
tuoitre.vn

Có một giờ G khác vào năm 1974

“Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng Sa. Ngày 18.1.1974, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa…” – Đại tá, anh hùng phi công Nguyễn Thành Trung.

35 năm hoạt động, trên vai áo ông từng đeo quân hàm không quân hai bên là đối thủ của nhau. 22.000 giờ bay với nhiều loại phi cơ chiến đấu và dân dụng hiện đại nhất từ Đông sang Tây, từ Á sang Âu. Những nếm trải cuộc đời, dường như Nguyễn Thành Trung chẳng thiếu thứ nào. Người ta thường nói vinh quang đi cùng cay đắng. Còn ông, sống chết, tù tội chẳng màng, nhưng những giây phút cô đơn trong cuộc sống hoà bình, ngay trong lòng đồng đội thì thật dài và khó quên. Tháng tư đến rồi lại đi cùng ký ức…

Chặng đường lịch sử dài 38 năm có quá nhiều biến cố, sự kiện ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975 đối với ông có ý nghĩa gì? Bây giờ nghĩ về giây phút ấy ông cảm thấy thế nào?

Đối với cá nhân tôi, ngày 8.4.1975 là một bước ngoặt lịch sử quan trọng nhất trong cuộc đời. Lái chiếc máy bay F-5E ném hai trái bom xuống dinh Độc Lập, sau đó quay lại dùng súng phóng lựu vào kho xăng Nhà Bè, là hành động mà tôi ấp ủ trong một quá trình dài, ngay từ thời trai trẻ.

Đối với tôi, chấm dứt chiến tranh để người Việt Nam không còn đổ máu là một việc lớn phải làm. Đó không phải là cảm hứng nhất thời, hay bất chợt, liều lĩnh. Sự nỗ lực cá nhân suốt bao nhiêu năm ở khoa toán – lý đại học Khoa học Sài Gòn, trong vỏ bọc sĩ quan không lực Việt Nam Cộng hoà, hay tại các trung tâm học lái máy bay chiến đấu ở Hoa Kỳ từ năm 1969 – 1972 tôi vẫn chuyên chú cho hành động ấy. Tôi âm thầm luyện tập hạ cánh ở cự ly gần 1.000 mét (trong khi máy bay F-5E phải đáp trên đường băng dài tối thiểu 3.000 mét) đến độ hư hai máy bay và phải chịu kỷ luật hạ lương, giáng chức, suýt nữa là bị lộ tại sân bay Biên Hoà. Nhờ vậy mà ngày 8.4 năm ấy tôi đã hành động chính xác, đáp xuống an toàn tại sân bay dã chiến Phước Long vừa giải phóng. Có thể gọi đó là sự chính xác của lý trí và khoa học. Bước ngoặt 180 độ đó cho tôi được chính danh là tôi – Nguyễn Thành Trung như ngày hôm nay.

Nhưng báo chí cả hai phía lúc đó chạy những dòng tít lớn gọi ông là “phi công phản chiến”?

Đúng vậy, cấp trên nói với tôi là cần tuyên truyền như vậy để kêu gọi những người trong lực lượng không quân Sài Gòn tiếp tục phản chiến. Tôi nghĩ nói sao cũng được, vấn đề là tôi có làm được nhiệm vụ không? Có còn sống để trở về không? Từ năm 1969, tôi đã là đảng viên.

Thời khắc đó ông có nghĩ đến sự an toàn của vợ và hai con còn quá nhỏ đang sống ở thành phố Biên Hoà? Có khi nào ông cảm thấy khổ tâm hay hối hận về hành động của mình mang lại nỗi vất vả cho vợ con?

Trước khi ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975, lãnh đạo đề nghị đưa vợ con tôi ra vùng giải phóng để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Nhưng lúc đó, tôi bị nghi kỵ nhiều, nguy cơ lộ rất cao nên chuyện đó là không thể. An ninh quân đội theo sát gia đình tôi từng giờ, nếu vợ con tôi vắng nhà không rõ lý do thì tôi sẽ bị bắt ngay tức khắc. Cũng có thể trên đường ra vùng giải phóng, vợ con tôi cũng sẽ bị bắt, tình thế đó sẽ nghiêm trọng hơn. Rất lo lắng cho tính mạng vợ con, nhưng việc mà tôi đã tính trước mười năm đến thời điểm này là không thể dừng. Mặt khác, thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới năm tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn. Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán.

Ngày 2.5.1975, tôi lái máy bay từ Phan Rang về sân bay Biên Hoà. Vợ con tôi cũng vừa được giải thoát khỏi số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi gặp lại nhau trong ngôi nhà nhỏ của mình.

phi công Nguyễn Thành Trung, Hoa Kỳ, không quân Sài Gòn, dinh Độc LậpĐại tá, anh hùng phi công Nguyễn Thành Trung. Ảnh: Trần Việt Đức

Sau ngày thống nhất đất nước, đối diện với bao khó khăn của cuộc sống thường ngày do nền kinh tế bao cấp áp đặt, những lúc ngột ngạt, mệt mỏi ông nghĩ gì?

Tôi là người được học hành tử tế trong những ngôi trường khá lý tưởng của Sài Gòn và tiếp cận nhiều nguồn tài liệu khác nhau, tôi biết rõ những sai lầm trong chính sách kinh tế của miền Bắc nước ta. Bi kịch cải cách ruộng đất còn nguyên đó, công nghiệp chẳng có gì. Khu gang thép Thái Nguyên còn thô sơ lắm, Dệt Nam Định, Sứ Hải Dương chỉ sản xuất được những mặt hàng tiêu dùng cấp thấp, đặc biệt là hạn chế về trình độ của cán bộ quản lý. Sự khác biệt về ý thức hệ giữa hai miền, nhất là do đặc thù của nền kinh tế tự cung tự cấp, cho tôi nhìn rõ sau khi Việt Nam thống nhất, kinh tế sẽ cực kỳ khó khăn ít nhất là mười năm. Tôi chuẩn bị tinh thần đối phó với những khó khăn chung, và cả những khó khăn về mặt cá nhân, nghi ngờ, hay có những phân biệt đối xử này nọ… Tôi chấp nhận đối diện thực tế đó và nghĩ điều quan trọng nhất mình có được là dân tộc Việt được sống trong hoà bình.

Thực tế mười năm khó khăn như ông nói cũng đã được tháo gỡ bởi bước chuyển đổi mới. Nhưng tới bây giờ, người ta lại tiếp tục đưa ra dự báo mình lại đang hụt hơi, tụt đà. Ông nghĩ thế nào?

Thực ra đổi mới một phần vì khi mình tiếp xúc với thế giới mới ngộ ra một điều là đang bị co trong vòng luẩn quẩn, không tìm ra lối thoát trong khi thế giới ào ào tiến lên. Từ ảnh hưởng đó đồng thời tác động mạnh của cuộc khủng hoảng Đông Âu tới mình và cả Trung Quốc, bắt buộc phải một phần nào đó chấp nhận cách làm ăn mới, có sự tư hữu. Tư hữu của thế giới mình không chấp nhận, nhưng con người có quyền tư hữu từ hàng ngàn năm về trước. Mình luẩn quẩn trong khi thế giới đang tiến lên bởi mình không chấp nhận dân làm giàu. Cho nên bắt buộc mình phải công nhận, phải chấp nhận tư hữu ở một mức độ nào đó để dân thở được. Khi đó dân bắt đầu làm ăn được. Cải cách vì vậy là do dân. Cuộc cách mạng này do dân và do lịch sử thế giới tác động. Nếu muốn không tụt đà thì phải nương vào sức dân, dân giàu thì nước mới mạnh.

Sau ngày 30.4, ông có thường gặp lại đồng nghiệp trong những phi đội cũ? Tình cảnh và và tâm thế lúc gặp lại như thế nào?

Bẵng mười năm sau giải phóng, tôi không gặp lại ai trong nhóm những đồng nghiệp cũ. Sau đổi mới, từ năm 1986 trở về sau này, các đồng nghiệp cũ của tôi lần lượt về mới có dịp gặp lại. Lớp tôi có 23 đứa, chết hết bốn, 18 đứa qua Mỹ, chỉ còn mình tôi ở lại. Những lần gặp cũng dễ nói chuyện vì họ đã hiểu rõ mọi chuyện. Tôi cũng hoàn toàn hiểu và tôn trọng họ. Đa phần những đồng nghiệp của tôi đều ở Mỹ. Lúc mới về, tâm lý chung mấy người bạn đều ngại gặp tôi. Tôi thì chả ngại gì, tôi vẫn xem họ là những người bạn. Khi gặp cũng tâm sự nhiều, cũng so sánh chuyện cũ, chuyện bây giờ. Ai cũng công nhận việc tôi làm là góp phần chấm dứt cuộc chiến tranh, chấm dứt cảnh chết chóc, đổ máu. Nhưng điều họ chia sẻ là họ không dám có những quyết định như vậy.

Những người bạn lựa chọn khác tôi lúc qua Mỹ còn trẻ nên ai hội nhập được, sống khá giả. Năm nào mấy ổng cũng ngồi lại với nhau, chuyện nói nhiều nhất là về tôi. Nhiều anh em bảo quyết định của tôi hơi dại dột, vì sau giải phóng sống kiểu gì cũng bị nghi ngờ, đói khổ… Tôi trả lời đó không phải là quyết định bậy bởi tôi ý thức được việc cần làm. Cái gì cũng vậy, làm thì phải trả giá nhưng tôi chấp nhận việc đó. Nhưng qua những thăng trầm của đất nước, nhiều kinh nghiệm cuộc đời đúc kết lại, tôi thấy việc tôi làm càng ngày càng đúng. Còn hỏi tôi có lăn tăn hay không, tôi trả lời thật là thánh mới không lăn tăn, nhưng những cái lớn nhất át những lăn tăn nhỏ đi, nên hàng đêm tôi ngủ yên vì biết tôi đang ngủ trên đất nước mình, chứ qua Mỹ sướng thật nhưng ngủ không yên bởi lúc nào cũng đau đáu một quê hương chỉ còn trong ký ức. Nhiều đứa bạn nói thẳng: “Đến bây giờ mới nghe được một người nói điều đó là mày”. Chúng tôi gặp nhau trao đổi thẳng thắn, không giấu giếm điều gì, nói đến tận cùng suy nghĩ của mỗi người.

Với ông, quê hương là thế nào?

Tôi có tới hai quê hương. Một Bến Tre nơi tôi sinh ra, nơi đó là dòng tộc máu mủ, nơi đó cha mẹ tôi đã nằm xuống cho chúng tôi trưởng thành. Vốn là xứ học, địa linh nhân kiệt, nhiều tên tuổi trí thức lớn Việt Nam xuất phát từ đây. Những Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Chiểu… là những tấm gương của nhân – nghĩa – lễ – trí – tín mà tôi từng học được.

Còn một quê hương khác, Sài Gòn đối với tôi là máu thịt, là tình yêu, là gì đó không thể lay chuyển được dù cho năm tháng trôi qua, nhìn góc phố thay đổi, cũng nhiều lúc buồn vui hờn giận, tiếc nuối…

phi công Nguyễn Thành Trung, Hoa Kỳ, không quân Sài Gòn, dinh Độc LậpSau khi ném bom Dinh Độc Lập, phi công Nguyễn Thành Trung đã lái máy bay F5E hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Ảnh: T.L.

Ông đã bước ra khỏi vỏ bọc của một điệp viên, lái máy bay trên bầu trời hoà bình, và làm công việc đào tạo, hết lòng với một thế hệ phi công trẻ Việt Nam. Điều đọng lại trong ông sau thời gian dài gắn bó với công việc đào tạo, huấn luyện ấy là gì?

Giã từ cuộc chiến, tôi thấy mình làm khá nhiều việc mà những việc đó chắc không phải ai cũng làm được. Hồi còn sống, anh Hai Trung (tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn) nói nửa đùa nửa thật: “Việc ông ném bom dinh Độc Lập, Nhà nước phong ông anh hùng thì tôi không nói làm gì, còn công việc ông làm sau này nếu được, tôi phong ông hai lần anh hùng nữa”. Anh Hai Trung hiểu về công việc đặc thù của tôi. Khi giải phóng, cả một bề thế không quân chế độ cũ bỏ lại, tôi là người làm sống lại phi đội A37 sau này tham gia đánh Tân Sơn Nhất vào ngày 28.4 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. F5 là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Sài Gòn lúc bấy giờ mà Mỹ bỏ lại mấy phi đoàn nhưng không có người bay. Giá trị vậy nhưng bỏ lại quá lâu bị hư hại nhiều, có chiếc bị bắn phá thủng lỗ chỗ. Nhiều chiếc còn bị bộ đội tiếp quản tháo đi những tiện nghi nội thất hay linh kiện quan trọng… Sau khi thành lập bộ phận tiếp quản, tôi nhận nhiệm vụ làm sống lại những chiếc máy bay này. Khi sửa xong, tôi là người bay thử. Phi công bay thử của người ta điều kiện bảo hiểm ngặt nghèo lắm, còn tôi thì như con thiêu thân. Gần 50 lần bay như thế, tôi luôn sẵn sàng tình huống nhảy dù khẩn cấp bởi máy bay có thể hư bất cứ lúc nào. Mỗi lần bay, nhiên liệu chỉ cung cấp đủ phân nửa cơ số. Vốn là người nhạy cảm trong cuộc sống, con ruồi bay qua tôi phân biệt ruồi đực hay ruồi cái, huống chi chuyện nhiên liệu chỉ đủ bay một vòng trong bán kính hẹp. Điều lăn tăn mà tôi kể trên là như vậy đó.

Tháng 8.1975 sau khi hồi phục xong rồi, tôi huấn luyện cả một phi đội, bay thành thục F5 để thành lập trung đoàn không quân 935, sau này trở thành trung đoàn anh hùng.

Đã quá cái tuổi lục thập nhi nhĩ thuận, còn điều gì ông thấy hối tiếc, hoặc món nợ nào ông chưa trả được?

Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng Sa. Ngày 18.1.1974, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa, phía Việt Nam Cộng hoà khi đó có một đại đội địa phương quân chốt trên đảo Phú Lâm. Hai bên đánh nhau, cùng có thương vong về con người nhưng quân số Trung Quốc đông quá, 51 lính địa phương quân của ta bị bắt đưa về Trung Quốc. Việt Nam Cộng hoà lên tiếng phản đối việc Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự để chiếm đảo của Việt Nam một cách phi pháp. Đây là sự kiện lớn, dư luận thế giới cũng phản đối việc đó.

Lúc này hải quân của Việt Nam Cộng hoà không thể đổ bộ chiếm lại đảo được. Ngày 19.1.1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều năm phi đoàn F5, bốn ở sân bay Biên Hoà, một ở sân bay Đà Nẵng, mỗi phi đoàn có 24 máy bay và 120 phi công ra Đà Nẵng chuẩn bị đánh lấy lại Hoàng Sa. Mọi người rất phấn khởi, tụi tôi đi ra với tư thế là đi lấy lại một phần lãnh thổ đất nước. Sĩ quan cấp tá ở các phi đoàn 520 – Nguyễn Văn Dũng, 536 – Đàm Thượng Vũ, 540 – Nguyễn Văn Thanh, 544 – Đặng Văn Quang, 538 – Nguyễn Văn Giàu đều đã lên kế hoạch tác chiến kỹ lưỡng.

150 phi công thuộc sáu phi đoàn F5 của không lực Việt Nam Cộng hoà khi đó đều ký tên chung vào một lá đơn tình nguyện “Xin được chết vì Hoàng Sa”.

Hàng ngày, máy bay RF5 có nhiệm vụ bay và chụp ảnh các toạ độ từ nhỏ nhất ở Hoàng Sa, xem có thay đổi gì, tàu chiến Trung Quốc di chuyển ra sao, bố trí các cụm phòng thủ thế nào… đưa về chiếu ra cho tất cả phi công theo dõi. Tụi tôi đếm từng tàu một, thậm chí đếm được cả số ghi trên tàu, chia bản đồ ra làm bốn, mỗi góc tư giao cho một phi đoàn, phi đoàn thứ năm bay bảo vệ trên không. Họ có 43 tàu tất cả và quyết tâm của tụi tôi là đánh chìm tất cả 43 tàu đó trong vài giờ.

Về không quân, vào thời điểm đó chúng tôi có nhiều lợi thế hơn Trung Quốc. Bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa bằng cự ly từ đảo Hải Nam ra. Ưu thế của phi đội tụi tôi là máy bay bay ra, đánh nửa tiếng vẫn thừa dầu bay về còn Trung Quốc chỉ có Mig 21, bay ra đến Hoàng Sa thì không đủ dầu bay về. Khí thế phi công lúc đó hừng hực, mấy anh chỉ huy trưởng từ đại tá trở xuống đòi đi đánh trước. Tất cả háo hức chờ đến giờ G là xuất kích. Nhưng giờ G ấy đã không đến. Hạm đội 7 của Mỹ trên biển không cứu các hạm đội của đồng minh Việt Nam Cộng hoà bị bắn chìm và bị thương trên đảo. Dường như vì lợi ích của mình, các quốc gia lớn có quyền mặc cả và thương lượng bất chấp sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác.

Một mảnh đất dù nhỏ cũng là tổ quốc mình, cha ông ta đã đắp xây nên bờ cõi, là con dân của đất nước ai cũng có nghĩa vụ thiêng liêng gìn giữ lấy. Tụi tôi háo hức sẵn sàng tất cả nhưng cuối cùng không được chết cho Hoàng Sa. Tới bây giờ tôi vẫn ân hận. Sau này bạn bè tôi gặp lại nhau cũng cùng một tâm trạng: đáng lẽ tụi mình chết cho Hoàng Sa thì vinh dự hơn!

Hiện nay ông có bằng lòng với cuộc sống của mình?

Thời nào tôi cũng bằng lòng với hiện tại. Thời khó khăn nhất cũng như khi đất nước đổi mới đến nay, tôi bằng lòng với những cái mình hiện có. Đó là hạnh phúc tự tạo. Nếu để làm giàu tôi sẽ đi đường khác và tôi biết cách làm giàu, nhưng tôi đã không lựa chọn như vậy. Tôi vẫn nghĩ “tri túc tiện túc hà thời túc”, mình biết đủ thì lúc nào cũng đủ, còn ham muốn, lúc nào cũng thấy thiếu thì không bao giờ đủ cả. Tôi bằng lòng với cuộc sống con cái học hành đàng hoàng, lễ phép với cha mẹ. Hiện tôi vẫn chưa nhàn được, tôi vẫn đi làm thuê, nhưng làm để vui, chứ làm để buồn thì tôi không bao giờ làm.

Cảm ơn về cuộc trò chuyện chân tình và thẳng thắn của ông.

TheoTrung Dũng – Minh Nguyễn/ SGTT
vietnamnet.vn

Chứng nhân không bị quên lãng

TTO – Börries Gallasch là người đã ngồi cạnh tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh khi ông này tuyên bố đầu hàng hôm 30-4-1975. Sau 30 năm, không ai biết Gallasch là ai, đến từ đâu và có vai trò gì trong thời khắc ấy…

Börries Gallasch ngồi cạnh Dương Văn Minh

Nếu không có một câu chuyện thật đẹp vào mùa thu 2001 thì có lẽ, người tiếp xúc với ông nhiều nhất là đại tá Bùi Văn Tùng cũng đã lãng quên…

Một ngày mùa thu năm 2001, Alice Gallasch Helley, một người phụ nữ Âu châu cùng thông dịch viên đến số nhà 162 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP.HCM. Bà tìm đại tá Bùi Văn Tùng, người mà chồng bà đã dặn dò phải gặp cho được trước khi ông qua đời. Bà nhìn người đàn ông tóc bạc ngồi trên xe lăn mà không giấu được niềm vui: “Tôi là vợ của Börries Gallasch, người phóng viên mà ông đã cho lên xe để cùng đến đài phát thanh vào ngày giải phóng…”. Ký ức chợt ùa về trong đầu vị chính uỷ lữ đoàn xe tăng 203, mạnh đến nỗi khi kể lại câu chuyện này ông vẫn còn xúc động…

“30-4-1975, khi chúng tôi đưa ông Dương Văn Minh rời Dinh Độc Lập đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng thì tôi gặp anh phóng viên này. Lúc ấy, xe chở Dương Văn Minh đi trước, xe tôi đi theo sau. Một anh phóng viên mặc đồ bà ba đen, tóc búi củ tỏi xin lên, sau này tôi mới biết đó là anh Hà Huy Đỉnh. Rồi một phóng viên nước ngoài đến, nói bằng tiếng Pháp rất nhẹ nhàng và hiền lành xin đi cùng. Tôi thấy anh này cũng dễ thương nên đồng ý…”, đại tá Tùng nhớ lại. Trên xe, họ trao đổi với nhau khá nhiều về cảm giác của những người lính, chuyện về những ngày hành quân tiến về Sài Gòn…

“Thật sự lúc ấy tôi rất mệt nên cũng không nói chuyện nhiều lắm, chỉ nhớ là anh phóng viên này muốn chuyển tải cho bạn đọc thế giới biết về khoảnh khắc chuyển giao quyền lực giữa hai chế độ, đánh dấu sự thống nhất toàn vẹn của VN…”.

Cái khoảnh khắc lịch sử ấy không kéo dài, chỉ dao động trong vài giờ, và người cựu chiến binh cũng đang quá mệt mỏi sau những ngày căng thẳng chinh chiến nên họ trao đổi không nhiều. Bức ảnh lịch sử “Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng; chấm dứt chiến tranh mở ra thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” thật ra là bước thứ hai của việc tuyên bố này.

Trước đó, đại tá Tùng đã thảo lời đầu hàng, ông Minh chép lại. Nhưng đại tá Tùng lại lo ngại khi phát sóng, ông Minh đọc khác đi nên bèn mượn nhờ máy ghi âm của người phóng viên nước ngoài này để ghi âm và phát. “Tôi nhớ, đầu tiên là chiếc máy không hoạt động được vì hết pin. Các bạn sinh viên đang tụ tập gần đấy lập tức chạy đi và mang về cho chúng tôi bốn viên pin.

Lần đầu tiên, ông Minh đọc không mạch lạc, gãy gọn nên tôi yêu cầu anh phóng viên kia xóa đi và ghi lại. Đến lần thứ hai thì suôn sẻ. Sau đó thì nhân viên của đài phát thanh quay về và phát ngay lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Cuối cùng là tôi đọc tuyên bố tiếp quản thành phố”. Ông Tùng nhớ lại, chính xác đến từng chi tiết nhỏ nhất về dấu ấn lớn nhất cuộc đời mình…

Đại tá bảo: “Sau khi giải phóng, có lần tôi cũng chợt nhớ đến anh phóng viên nước ngoài này, nhưng rồi lại thôi…”. Chỉ có Börries Gallasch vẫn lặng lẽ với những kỷ niệm về ngày độc lập, kỷ niệm về những ngày làm báo tại VN. 15 năm trước đây, ông qua đời vì bệnh ung thư.

Trước khi yên nghỉ, ông còn dặn lại vợ, hãy mang những bài báo của ông đến thăm người chỉ huy quân đội đã giúp ông thực hiện thành công chuỗi phóng sự đặc biệt của đời làm báo. Chính vì thế, bà Alice đã lặn lội nhiều nơi, hỏi thăm nhiều vùng mới tìm được đại tá Tùng. Bà bảo, tìm được bạn của người chồng quá cố của mình là một niềm hạnh phúc, xem như bà đã hoàn thành sứ mệnh mang theo bên người suốt mười mấy năm nay…

Trước đây, cứ mỗi lần nhìn tấm ảnh, chúng tôi lại thắc mắc: người nước ngoài ấy thật ra là ai? Nhưng không ai biết, cũng chẳng có tài liệu nào nói về bức ảnh lịch sử này. Mãi đến kỷ niệm 30-4 năm ngoái, đại tá Tùng mới viết một bài báo giải thích vì sao ông thảo lời đầu hàng cho ông Dương Văn Minh. Trong bài có nhắc sơ qua về phóng viên người Tây Đức tên là Borris Gallash.

Điều đáng tiếc nhất là cái tên đã bị mất những ký tự đặc biệt của tiếng Đức nên mạng internet rộng lớn cũng không tìm ra ông. Chúng tôi gởi bức ảnh này lên khắp các diễn đàn báo chí trên thế giới và cuối cùng tìm được một câu trả lời: “Có lẽ ông ấy là tác giả của tập sách: Thành phố Hồ Chí Minh, giờ đỉnh điểm”.

Đó là một tập sách dài hơn 300 trang được ấn bản năm 1975, hiện vẫn còn vài website kinh doanh sách trực tuyến của Đức rao bán. Tập sách là một cái nhìn rất rộng về cuộc chiến VN vì Gallasch đến VN ngay từ ngày khởi động chiến dịch Tây Nguyên. Ông đi qua nhiều vùng đất, đến nhiều nơi và tiếp cận chiến dịch Hồ Chí Minh bằng cái nhìn sắc sảo.

Sau ngày giải phóng, ông còn tiếp tục lưu lại TP.HCM vài năm nữa để tiếp tục công việc của mình. Lúc ấy, ông làm việc cho một hãng thông tấn của Ý, cộng tác với nhiều tờ báo của Anh, Đức. Hiện vợ ông, bà Alice đang sống tại Washington, Mỹ.

TRẦN NGUYÊN
tuoitre.vn

Bài học lớn nhất là đoàn kết dân tộc

16/04/2005 11:00 (GMT + 7)

TT – Lịch sử chỉ diễn ra một lần nhưng nhận thức về nó là cả một quá trình. Với độ lùi 30 năm kể từ đại thắng mùa xuân 1975 thì vấn đề lịch sử không phải phai mờ đi mà càng rõ hơn.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – cũng như cuộc kháng chiến chống Pháp – là một võ công hiển hách của dân tộc, cũng như ông cha ta từng lập nhiều chiến công và tầm vóc rất lớn.

Nhưng nếu đặt sự kiện đó trong toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc thì chiến tranh chỉ là thời khắc, cho dù cuộc kháng chiến chống thực dân của ta là dài nhất trong lịch sử dân tộc, trường kỳ 30 năm liên tục (nếu cộng luôn thời kỳ bảo hộ thì còn dài hơn nữa). Hiếm có một thế kỷ nào mà dân tộc ta cầm súng cầm gươm lâu dài như thế. Cho nên bên cạnh việc tổng kết chiến công, đánh giá được những võ công hiển hách ấy là tìm ra những bài học giúp ích cho công việc giữ nước lâu dài. Giữ nước là một sứ mệnh trong mọi thời kỳ. Dân tộc ta là một dân tộc yêu chuộng hòa bình thì những tình huống chiến tranh luôn nằm ngoài mong muốn của chúng ta.

Vậy thì bài học cho sự nghiệp giữ nước lâu dài là gì?

Trước hết là bài học được đúc kết muôn thuở: bài học đoàn kết.

Tôi nghĩ rằng: kết thúc của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể nói rằng là một biểu trưng đầy đủ nhất của cuộc chiến tranh nhân dân, của cuộc cách mạng toàn dân và của truyền thống đoàn kết dân tộc. Vì vậy bất kỳ đóng góp của một ai, ở thời điểm nào, tôi nghĩ cũng có một giá trị mà chúng ta phải trân trọng và phát huy, nhất là trong điều kiện chúng ta hiện nay. Đất nước đã thống nhất 30 năm rồi. Cái còn lại là thống nhất lòng người cho sự nghiệp chung.

Trong đó kể cả những con người do hoàn cảnh khác nhau mà đứng về phía bên này hay phía bên kia cuộc chiến, kể cả một bộ phận không nhỏ đồng bào của chúng ta ở nước ngoài: tất cả nên vì sự nghiệp chung.

Sẽ có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả tìm tòi khoa học ở những trận đánh, những sự kiện, những cá nhân và rút ra những bài học khác nhau nhưng với tôi, cao hơn cả là tìm bài học nâng cao hơn nữa đoàn kết dân tộc và bài học về bản lĩnh, trí tuệ VN cho sự nghiệp giữ nước, dựng xây đất nước.

Đánh giá về Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã đánh giá rất cao cuộc cách mạng diễn ra nhanh, ít tổn thất; một cuộc cách mạng không có kết thúc là ông vua bị chặt đầu như ở nơi khác. Kết cục mà chúng ta chứng kiến ở dinh Độc Lập năm 1975, dù có thể có đánh giá khác nhau nhưng cũng không phải là một kết cục bằng máu và đổ nát. Đó là một kết cục cách mạng rất Việt Nam. Hình ảnh rất Việt Nam đó chúng ta nên trân trọng để thấy rằng: dù trong các hoàn cảnh khác nhau nhưng cuối cùng điều mà Bác nói vẫn là chân lý: “Hễ là người Việt Nam thì đều có tinh thần yêu nước”.

DƯƠNG TRUNG QUỐC (Đ.Đ. – V.H.Q. ghi)
tuoitre.vn

Giải phóng Trường Sa – Kỳ cuối:

Tháng 4 sau 35 năm

TT – Đoàn công tác của TP.HCM đi Trường Sa đúng dịp tháng 4 sau 35 năm đất nước hòa bình, giang sơn về một mối. Nơi đây bây giờ đã trở thành điểm đến của những chuyến đi nối đất mẹ với dải đất tiền tiêu của Tổ quốc giữa biển Đông.

Biển tháng 4 lặng gió. Sóng nước chỉ vỗ lăn tăn theo mạn thuyền. Con tàu HQ-960 cứu hộ hiện đại của hải quân thẳng tiến hướng mặt trời mọc.

>> Kỳ 1: Những bức điện tối khẩn
>> Kỳ 2: Ký ức ngày giải phóng

Những thùng nước ngọt quý giá từ tàu HQ-960 tiếp tế cho đảo Cô Lin, vì gần bốn tháng nay ở đây không có một giọt mưa – Ảnh: X.Trung

Đảo Cô Lin tiền tiêu

“Nếu Trường Sa là tiền tiêu của cả nước thì Cô Lin là tiền tiêu của Trường Sa” – chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo, phó tư lệnh hải quân, nói khi tàu đến đảo Cô Lin (nằm ở khu vực giữa quần đảo Trường Sa). Các chiến sĩ hải quân vẫn ngày ngày “luyện tập, sẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hi sinh trong mọi tình huống” mặc dù ai nấy đều thấm nhuần tinh thần giữ hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế.

Khi tàu HQ-960 rời Cô Lin cũng là lúc cả đoàn tập trung lên boong tàu làm lễ tưởng niệm những cán bộ chiến sĩ hải quân VN đã hi sinh tại đây. Chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo đọc diễn văn: “Các đồng chí đã anh dũng chiến đấu hi sinh để bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thân yêu của Tổ quốc. Chúng tôi bùi ngùi tưởng nhớ, thương tiếc các đồng chí đã nằm lại với biển khơi”.

Tất cả đứng nghiêm mặc niệm các anh. Nhiều khóe mắt đỏ hoe, nhiều cánh tay đưa lên lau nước mắt.

Vị tướng, chuẩn đô đốc cũng nghèn nghẹn, rưng rưng: “Trong niềm xúc động sâu sắc, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ các đồng chí, thắp nén nhang, thả vòng hoa tưởng niệm tưởng nhớ tới hương hồn các đồng chí. Mong các đồng chí thanh thản yên nghỉ cùng chúng tôi canh giữ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc”.

Ở Trường Sa, các anh lính đảo dù bất kỳ tình huống nào đều hiểu rõ nhiệm vụ số một ở nơi đầu sóng là giữ đảo, giữ bình yên cho cả biển Đông.

Đảo Trường Sa Lớn bây giờ đang như một công trường. Hàng loạt công trình đường sá, nhà khách, đền chùa đang tiếp tục thi công. Các chuyến tàu vào ra ngày càng tấp nập, hối hả. Có người đến người đi và cũng có người đã nằm lại mãi mãi nơi này.

Mộ chàng trai Hoàng Văn Nghĩa, 24 tuổi, nằm trên bãi cát trắng bên hàng cây phong ba. Nghĩa là nhân viên Trạm khí tượng hải văn Trường Sa, đã ra đảo 15 tháng. Công việc hằng ngày của Nghĩa là đo đạc số liệu hải văn để báo về Đài Khí tượng thủy văn Nam Trung bộ. Số liệu sẽ được chuyển đến Tổ chức Khí tượng thế giới vì đây là trạm phát báo quốc tế.

Trưởng trạm Đào Bá Cao kể lại: sáng 21-3-2010 cũng như những ngày bình thường khác, Nghĩa ra cầu cảng Trường Sa đo đạc mức nước nhưng đến hết ca trực mọi người không thấy Nghĩa về. Cả đảo đi tìm. Cầu cảng là khu vực nước sâu. Xác Nghĩa đã trôi cách cầu cảng 200m.

Bàn thờ Nghĩa đặt ngay ở Trạm khí tượng hải văn Trường Sa. Chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo vừa ra Trường Sa đã viếng mộ Nghĩa như viếng mộ một người lính.

Đảo là nhà, biển cả là quê hương

Nhìn từ xa, đảo nổi Sinh Tồn, Trường Sa Lớn như những cù lao nhô lên giữa biển trời bao la. Cả chuỗi đảo chạy dài ngoài biển Đông như một lá chắn lớn che cả biển và bờ đất nước. Nhưng nơi ấy vì cách quá xa đất liền nên vẫn còn thiếu thốn nhiều thứ.

Nếu chưa ra đảo khó hình dung được từng cọng rau, từng giọt nước ngọt quý giá đến cỡ nào. Suốt mấy tháng nay trời nắng như thiêu đốt, không có lấy một giọt mưa. Những thùng chứa, bể trữ nước ngọt trên các đảo cạn dần. Rau xanh chỉ được tưới bằng những ca nước tận dụng sau khi rửa mặt, tắm giặt… Chuyện tiết kiệm nước ở đây trở thành một thói quen từ các cháu bé.

Nhưng thiếu thốn vật chất dù nhiều dù ít đều có đất liền chi viện. Cái thiếu thốn khó bù đắp nhất có lẽ là hơi ấm gia đình. Cứ như phản xạ, hễ gặp các anh lính đảo hay bà con trên đảo, lời hỏi thăm đầu tiên của chúng tôi đều giông giống nhau rằng các anh các chị có nhớ nhà không dù ai cũng đoán được câu trả lời.

Để động viên nhau, để truyền cho nhau hơi ấm giữa biển khơi, mọi người đều xem “đảo là nhà, biển cả là quê hương”. Câu khẩu hiệu ấy xuất hiện khắp mọi nơi.

Trung úy hải quân Thái Đàm Hồng, 36 tuổi, phụ trách hệ thống điện trên đảo Sinh Tồn, kể anh may mắn hơn nhiều anh lính khác nhờ xuất hiện trên tivi hai lần nên người thân ở nhà đỡ nhớ. Đó là hai lần anh giao lưu trong chương trình cầu truyền hình nối Trường Sa với đất liền.

Anh Hồng có thâm niên đi Trường Sa năm “tăng” (từ dùng của hải quân). Mỗi tăng đi hơn một năm, chuyển từ đảo Phan Vinh sang Nam Yết rồi Sinh Tồn, riêng Trường Sa Lớn đi hai tăng. Năm ngoái, đúng ngày sinh nhật con gái 3 tuổi, anh Hồng lại vác balô ra Trường Sa làm nhiệm vụ cho đến nay.

Dẫn đầu đoàn công tác thăm Trường Sa, bà Huỳnh Thị Nhân, phó bí thư Thành ủy TP.HCM, nói đại ý: các anh có mặt ở đây đã là sự hi sinh lớn lắm rồi. Quả thật sự hi sinh tình cảm gia đình làm sao cân đong đo đếm được dù các anh rất ít khi nhắc đến. Ra đảo hơn một năm nay, thiếu úy Nguyễn Đức Trường luôn đặt tấm ảnh cưới bên chiếc gối ở đầu giường – tấm ảnh duy nhất anh kịp mang ra Trường Sa sau khi cưới vợ tháng 2 năm ngoái. Trường tâm sự: “Tháng 7 này về phép mình phấn đấu có con”.

Mỗi anh lính là một hoàn cảnh. Có người chỉ kịp cưới vợ, chưa kịp có con, có người có con nhưng chưa nhìn thấy mặt con vì ra đảo lúc vợ đang mang thai. Có người đi lâu quá, người yêu ở nhà đã lấy chồng. Các anh lính đảo bảo rằng ra đảo riết rồi quen, về đất liền thấy xô bồ, chật chội…

Trường Sa bây giờ không còn xa khi nước nhà đã thống nhất nhưng đó vẫn là dải đất luôn phải đương đầu với bao hiểm nguy, nắng gió, bão tố khắc nghiệt. Xưa kia cha ông ta xác lập chủ quyền bằng những chiếc thuyền gỗ, nay ta đã có tàu sắt hiện đại thì không có lý do gì ngại gian khó.

Thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước giữ từng mét đất, từng sải nước Trường Sa.

Cả nước đang đầu tư cho Trường Sa để biến địa bàn có vị trí chiến lược và đầy tiềm năng này thành một đô thị lung linh ánh đèn giữa biển Đông.

XUÂN TRUNG
tuoitre.vn

Giải phóng Trường Sa – Kỳ 2:

Ký ức ngày giải phóng

TT – Có những tên đảo mà khi đọc lên bất cứ người Việt nào cũng cảm nhận được sự xúc động thiêng liêng. Tháng 4-1975, khi bộ đội đặc công bước vào mặt trận biển Đông, tên gọi thân thuộc của các đảo trong quần đảo Trường Sa như bây giờ được ký hiệu thành các mục tiêu giải phóng như sau: H1 (Song Tử Tây), H2 (Nam Yết), H3 (Sơn Ca), H4 (Sinh Tồn), H5 (Trường Sa), H6 (An Bang).

Chiến sĩ đoàn đặc công 126 giải phóng đảo Song Tử Tây – Ảnh tư liệu Bảo tàng Lịch sử quân đội

Cờ giải phóng tung bay

Trong hai ngày 18 và 19-4, sở chỉ huy tiền phương của quân chủng hải quân ở Đà Nẵng tổ chức rút kinh nghiệm việc giải phóng Song Tử Tây.

Đại tá Quế nói cách đánh đảo Song Tử Tây sau này được các nhà nghiên cứu nghệ thuật quân sự đúc kết lại là: lợi dụng thế hợp pháp làm ăn của ngư dân, bộ đội ta giả dạng thành tàu cá, ban ngày tiếp cận mục tiêu quan sát nắm đối phương, thăm dò phản ứng, lợi dụng đêm tối, bất ngờ, nhanh chóng dùng xuồng đổ bộ lên đảo, chia thành nhiều mũi đồng loạt tiến công.

Bảo tàng Lịch sử quân sự VN (số 3 Điện Biên Phủ, Hà Nội) trưng bày nhiều kỷ vật của những người lính đặc công đoàn 126 anh hùng. Đó là chiếc bình thở cũ kỹ, chiếc mặt nạ chống nước thô sơ, một vài chiếc la bàn nhỏ… Đoàn 126 trong bảy năm liên tục chiến đấu ở Cửa Việt, Đông Hà đã đánh trên 700 trận, đánh chìm và đánh hỏng nặng 336 tàu chiến, tàu vận tải quân sự các loại…

Trong các trận chiến ở Trường Sa, đối phương không thể ngờ rằng đoàn quân “xuất quỷ nhập thần” đặc công giải phóng lại chỉ được trang bị như vậy. Như sau này thiếu tướng Mai Năng hồi tưởng: “Với số vũ khí ít ỏi, chúng tôi chỉ có thể đánh bằng quyết tâm và niềm tin sắt đá”.

Trong cách đánh này, người lính đặc công một mặt dựa vào yếu tố thủy triều để tiếp cận mục tiêu, mặt khác dựa vào ánh trăng để quan sát đảo. Đây cũng là cách đánh được áp dụng cho việc giải phóng một số mục tiêu khác trong quần đảo Trường Sa.

Theo thiếu tướng Mai Năng, ngày 20-4-1975 chủ trương tiếp quản các đảo còn lại trong quần đảo Trường Sa đã được truyền từ trên xuống. Ngay đêm hôm đó, lực lượng đi giải phóng các đảo đã được phân công cụ thể.

Rạng sáng hôm sau, chiếc tàu có số hiệu 641 do ông Đỗ Việt Cường (đội phó đội 1 của đoàn 126, nay là chuẩn đô đốc, phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân) chỉ huy nhằm hướng mục tiêu đảo Sơn Ca thẳng tiến. Cũng như các con tàu trong biên đội đi đánh đảo Song Tử Tây, tàu 641 được cải trang thành tàu đánh cá và liên tục thay đổi biển số tàu.

Kế hoạch dự kiến tàu 641 sẽ đánh vào đêm 23-4, nhưng trên đường gặp nhiều tàu ngầm, tàu khu trục và máy bay Mỹ nên cấp trên đồng ý cho tàu 641 lùi thời điểm tấn công… Đúng 2g sáng 25-4, quân ta đổ bộ lên đảo Sơn Ca. Đến 2g30, toàn bộ các mũi tiến công đồng loạt chỉ sau nửa giờ. Cờ giải phóng tung bay trên đảo Sơn Ca.

Kỷ niệm của người lính già

Đêm 26-4, chỉ huy trưởng Mai Năng nhận được bức điện từ cấp trên với nội dung: “Đối phương đã có lệnh rút khỏi đảo Nam Yết đêm nay, các anh quan sát, nếu địch không phát hiện thì tổ chức đánh từ phía sau, nếu không thực hiện được thì ngụy trang ở khu vực lân cận chờ địch rút ra, cho lực lượng lên chiếm đảo”.

Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Cấp trên giao cho chỉ huy trưởng Mai Năng ở lại đảo Nam Yết. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng với những cố gắng lớn nhất… Một vùng biển rộng lớn giàu tài nguyên với những đảo và quần đảo có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đã thuộc chủ quyền của Tổ quốc.

Chúng tôi hỏi ông Mai Năng về cảm giác những ngày đầu sống giữa biển Đông, vị tướng đặc công già ánh mắt xa xăm nhớ lại: đó là những ngày trời nước mênh mông, niềm vui giải phóng đảo quá to lớn, choán hết mọi suy nghĩ. Làm bạn với lính đặc công trên đảo lúc bấy giờ là bạt ngàn chim biển và những đàn vích nhiều không đếm nổi.

Sáng 30-4-1975, Phó tư lệnh Hoàng Hữu Thái lệnh cho tàu 673 trở về đảo Nam Yết để đón chỉ huy trưởng Mai Năng về đất liền nhận nhiệm vụ mới.

Có một câu chuyện mà đến tận 35 năm sau thiếu tướng Mai Năng mới kể lại cho chúng tôi nghe bên giường bệnh. Một lần, sau khi giải phóng một mục tiêu trong quần đảo Trường Sa, chỉ huy trưởng Mai Năng đã gặp và hỏi những binh sĩ Sài Gòn về lý do họ quyết định đầu hàng dù trước đó đã có sự chống trả.

Câu trả lời thật sự khiến ông bất ngờ: “Sau khi đã nhận biết đối phương qua giọng nói thì chúng tôi bình tĩnh hơn, vì lực lượng giải phóng đảo là quân đội miền Bắc, đều là đất nước VN cả!”. Câu nói đó dù 35 năm đã trôi qua, vị tướng già vẫn không bao giờ quên được.

“Tập trung chụp những gì nêu bật chủ quyền”

Tháng 5-1975. Những ngày đầu tiên hòa bình, không dừng lại ở Sài Gòn, tôi và người cộng sự ở báo Quân Đội Nhân Dân được lệnh của Bộ Tổng tham mưu di chuyển ngược ra một quân cảng ở miền Trung để lên tàu thẳng hướng Trường Sa.

Đó là chuyến tàu nằm trong biên đội gồm ba chiếc tàu chờ đầy vũ khí, khí tài quân sự được ngụy trang thành tàu đánh cá, ra tiếp vận gấp cho lực lượng tiên phong đi giải phóng Trường Sa nhằm củng cố hệ thống phòng thủ, bảo vệ đảo. Trên tàu lúc bấy giờ có Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân Hoàng Hữu Thái.

Khi tàu rời bến, anh Hoàng Hữu Thái nhắc nhở chúng tôi chỉ nên tập trung vào những gì nêu bật chủ quyền của VN (cột mốc chủ quyền, cờ VN, bộ đội luyện tập). Giờ đây, nhìn những tấm hình chụp ở Trường Sa ngày đầu giải phóng đã nhuốm màu thời gian, nhưng nụ cười của người lính giải phóng vẫn rạng ngời. Phía xa xa, đàn chim biển vỗ cánh đầy trời. Đó là Trường Sa những ngày đầu giải phóng… Tôi thấy thật tự hào về những ngày tháng Trường Sa hào hùng.

Nguyễn Khắc Xuể (nguyên phóng viên báo Quân đội Nhân Dân)

VÕ THÀNH – HÀ HƯƠNG
tuoitre.vn

___________________

Trường Sa không còn xa khi nước nhà đã thống nhất nhưng đó vẫn là dải đất luôn phải đương đầu với bao hiểm nguy, nắng gió và bão tố khắc nghiệt… Nơi đây giờ đã là điểm đến thường xuyên của những chuyến đi nối liền đất mẹ…

Giải phóng Trường Sa – Kỳ 1

Những bức điện tối khẩn

TT – Tháng 4-1975. Khi những đoàn quân giải phóng ào ạt tiến về Sài Gòn, có một lực lượng đặc biệt được lệnh dừng lại ở Đà Nẵng để nhận nhiệm vụ trên mặt trận biển Đông.

Biên đội gồm ba tàu 673, 674, 675 chở quân ra giải phóng Trường Sa – Ảnh: L.Đ.Dục chụp lại tư liệu Bảo tàng Hải quân.

Ấy là nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa. 35 năm sau, những tư liệu lịch sử đã cho thấy tầm nhìn chiến lược về vị trí của Trường Sa đã được xác lập rõ ràng ngay trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Một tháng trước giải phóng, ngày 30-3-1975, Quân ủy Trung ương điện gửi các ông Chu Huy Mân, Võ Chí Công, nêu rõ: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao Khu ủy và Bộ tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo hiện do quân chính quyền miền Nam đang chiếm đóng. Trong việc này anh Nguyễn Bá Phát, phái viên của Bộ Tổng tham mưu, và các cán bộ hải quân đi cùng sẽ do khu ủy và quân khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch”.

Mệnh lệnh chiến lược

Mười ngày sau, một bức điện tối khẩn khác từ Quân ủy trung ương điện cho Bí thư Khu ủy Khu V Võ Chí Công và chính ủy chiến dịch Huế – Đà Nẵng Chu Huy Mân cùng phó tư lệnh hải quân Hoàng Hữu Thái: “Chỉ thị cho các lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định”.

Cùng ngày bức điện trên phát đi, từ Hải Phòng một biên đội gồm ba tàu của đoàn tàu không số (lữ đoàn 125) rời vùng biển Đông Bắc thẳng tiến vào cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Ấy là các tàu 673 do Nguyễn Xuân Thơm làm thuyền trưởng, tàu 674 do Nguyễn Văn Đức và tàu 675 do Phạm Duy Tam làm thuyền trưởng kiêm biên đội trưởng mở hết tốc lực vượt biển để cập cảng Tiên Sa vào 21g đêm 10-4-1975.

Vừa đến cảng Tiên Sa, ngay lập tức cả ba tàu cấp tốc nhận nhiệm vụ chở quân đi giải phóng Trường Sa gồm đội 1 của đoàn 126 đặc công nước hải quân do anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Ngọc Quế làm đội trưởng, cùng một lực lượng đặc công của sư đoàn 2 – Quân khu 5 phối thuộc. Chỉ huy cả hai lực lượng này là lữ đoàn trưởng đặc công nước Mai Năng. Từ Tiên Sa, trong đêm tối cả ba tàu 673, 674 và 675 được ngụy trang thành tàu đánh cá mang cờ hiệu nước ngoài.

4 giờ sáng 11-4, ba con tàu “đánh cá” với mật danh “biên đội C75” đè sóng thẳng hướng ra Trường Sa. Đảo Song Tử Tây là đảo đầu tiên mở màn cho chiến dịch trên biển. Đây cũng là thời điểm các cánh quân của ta đang chuẩn bị nổ súng trên mặt trận Phan Rang – Xuân Lộc – Tây Ninh.

Trong căn nhà trên đường Triệu Việt Vương (Đà Nẵng), đại tá Phạm Duy Tam nhớ lại: “Tàu chở lực lượng đi đánh Trường Sa vốn là những chiếc tàu của “đoàn tàu không số” từng vận tải vũ khí cho chiến trường miền Nam. Tàu trang bị rất thô sơ. Ngày ấy, tàu không có các phương tiện khí tài dẫn đường hiện đại như rađa, máy định vị, đo sâu… như bây giờ. Trên tàu chỉ có một la bàn từ, một đồng hồ thiên văn và bộ “bầu trời sao” để định hướng theo sao trời. Dù cả ba thuyền trưởng của biên đội C75 từng có nhiều kinh nghiệm trong những chuyến vận chuyển vũ khí trên “tàu không số”, nhiều lần đi qua vùng biển này, nhìn thấy các đảo nhưng ban đêm rất khó phát hiện…”.

Để đưa được toàn bộ lực lượng tiếp cận chính xác các đảo ở Trường Sa là chuyện không dễ dàng, dù với lực lượng đặc công nước tinh nhuệ của đoàn 126 và đặc công sư đoàn 2 lừng lẫy của Quân khu 5.

 

Cắm cờ ở Song Tử Tây

Tiếp với ký ức của 35 năm về trước này, tại khu điều trị của một bệnh viện quân đội ở Hà Nội, thiếu tướng Mai Năng cầm những bức ảnh đen trắng được chụp trong những ngày đầu giải phóng Trường Sa. Chỉ vào một góc của tấm hình đã ố vàng, vị tướng nhớ rất rõ đó là vị trí của ngọn đèn biển trên đảo Trường Sa lúc bấy giờ: “Khi chúng tôi đang hành quân trên biển thì trên trời máy bay quần đảo. Dù bộ đội đặc công và vũ khí được giấu dưới khoang tàu, bên trên phủ lưới đánh cá nhưng tình huống này không khỏi làm chúng tôi phải suy tính. Kế hoạch bị lộ rồi chăng!”.

Lúc này, chỉ huy trưởng Mai Năng lệnh cho các tàu chuyển hướng khác để đánh lạc hướng. Những người lính của biên đội C75 trong vai ngư dân vững vàng hướng tàu về vùng biển phía đảo Hải Nam (Trung Quốc) như lịch trình của một tàu đánh cá thông thường. Sau nhiều giờ quan sát, máy bay rút đi. Ngay lập tức toàn biên đội tăng tốc hướng đến quần đảo Trường Sa.

Đại tá Quế tiếp tục câu chuyện: “Chúng tôi hành quân từ rạng sáng 11-4-1975 đến chiều 13-4-1975 thì ra tới vị trí triển khai tiếp cận đảo. Để giữ bí mật, tất cả đặc công có mặt trên tàu chỉ có thể giữ tư thế nằm ngửa suốt mấy ngày hành quân. Tuy đói nhưng chẳng ai ăn uống được gì nhiều. Trong khoang tàu nhỏ hẹp, đồng chí Mai Năng cứ nằm ngửa giao nhiệm vụ, còn tôi lúc nhận lệnh cũng ở tư thế ấy”.

Khoảng 1g sáng 14-4-1975, đội 1 đặc công do đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy chia làm ba mũi lặng lẽ rời tàu 673, dùng xuồng đổ bộ lên đảo. Các tàu 674 và 675 làm nhiệm vụ án ngữ phía bên ngoài. Lúc này Song Tử Tây trong màn đêm là một khối thẫm màu, thỉnh thoảng có vài ánh đèn tuần tra trên đảo lúc tắt lúc sáng.

Theo đại tá Quế, có hai mũi đổ bộ an toàn nhưng mũi còn lại xảy ra sự cố không thể tiếp cận đảo do sóng quá to. Hơn một giờ sau, mũi tiến công gặp sự cố cũng đã bám được đảo. Đến khoảng 5g30 sáng 14-4-1975, binh sĩ Sài Gòn trên đảo Song Tử Tây đồng loạt đầu hàng. Lá cờ Tổ quốc được kéo lên. “Người có vinh dự treo cờ Tổ quốc trên đảo Song Tử Tây là hạ sĩ Lê Xuân Phát, thuộc đội 1, đoàn đặc công 126”- đại tá Quế nói.

Ngay sau khi giải phóng đảo Song Tử Tây, hệ thống phòng thủ ở toàn bộ quần đảo Trường Sa bị đe dọa. Cùng lúc này các lực lượng của đoàn đặc công 126 tiếp tục theo tàu đi giải phóng các đảo còn lại: Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca, An Bang và Trường Sa Lớn. Ngay hôm đó (14-4) tàu 675 chở quân của sư đoàn 2 Quân khu 5 kịp thời ra tiếp quản, thiết lập hệ thống phòng thủ bảo vệ đảo Song Tử Tây, rồi tiếp tục chở quân của lữ đoàn 126 tiếp tục hành trình giải phóng quần đảo Trường Sa.

Đ.DỤC – V.THÀNH- H.HƯƠNG
tuoitre.vn

————————————————

Một binh sĩ Sài Gòn nói với tôi rằng sau khi đã nhận biết đối phương qua giọng nói thì họ bình tĩnh hơn, vì lực lượng giải phóng đảo là quân đội miền Bắc, đều là đất nước Việt Nam cả!”. Ấy là ký ức của vị tướng già 36 năm về trước.