Tag Archive | Xuân 75

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 1)

Ban Mê thuột: Tướng Phú bị lừa như thế nào?

Chinh quyen Sai Gon nhung ngay hap hoi

Kể từ khi Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng (30/4/1975), nhiều người Mỹ và phương Tây vẫn không thể hiểu nổi tại sao Chính quyền Sài Gòn nhanh chóng sụp đổ, khiến Mỹ phải tháo chạy trong cuộc di tản lớn nhất trong lịch sử?

Trong cuốn “Decent Interval” (tạm dịch là phút giao thời), tác giả Frank Snepp – Chỉ huy trưởng Trung tâm phân tích tình báo chiến lược của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) tại Việt Nam cung cấp nhiều thông tin quan trọng theo cách nhìn của người trong cuộc ở phía bên kia, góp phần tìm lời đáp cho câu hỏi “tại sao?”.

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng và miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tiền Phong lược dịch một số đoạn trong cuốn “Phút giao thời” nhằm cung cấp cho bạn đọc thêm một nguồn thông tin tham khảo giúp hiểu hơn về chiến thắng 30/4 vĩ đại của dân tộc ta.

Kỳ 2: Cuộc họp Nội các và Chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi” của Tổng thống Thiệu
Kỳ 3: Huế, Đà Nẵng thất thủ không thể cưỡng nổi
Kỳ 4: Đại sứ Mỹ Graham Martin và kế hoạch di tản
Kỳ 5: Vì sao Mỹ không ủng hộ Nguyễn Cao Kỳ đảo chính?
Kỳ 6: Những toan tính quanh “con bài” Nguyễn Văn Thiệu
Kỳ 7: Tiểu xảo “rọi đèn pha” và tham vọng của Pháp
Kỳ 8: Tổng thống Thiệu cướp ngân khố quốc gia
Kỳ 9: Cuộc từ chức đầy kịch tính của Tổng thống Thiệu
Kỳ 10 : Hy vọng trong tuyệt vọng
Kỳ 11: Tổng thống Trần Văn Hương đón nhầm vận mệnh
Kỳ 12 : Cuộc ra đi trong nước mắt của kẻ thất sủng Nguyễn Văn Thiệu
Kỳ 13 : Trần Văn Hương xin làm Tổng thống thêm nửa ngày
Kỳ 14: Vị Tổng thống 3 ngày và những quyết định khó hiểu
Kỳ cuối : Di tản hoảng loạn và sụp đổ

Khi các sư đoàn quân đội Bắc Việt đã bí mật ém quân bao vây Ban Mê Thuột, tại sở chỉ huy tối cao quân đội Sài Gòn người ta vẫn không hay biết gì. Mặc dù vài ngày trước đó tình báo quân sự Việt Nam Cộng hòa tại quân khu 2 đã thu được cuốn nhật ký trong ngực áo của một người lính Bắc Việt đã hy sinh.

Cuốn nhật ký để lộ một số nội dung kế hoạch chiến dịch đánh Ban Mê Thuột của Sư đoàn 320 Bắc Việt. Cùng lúc, nguồn tin từ tỉnh Quảng Đức giáp Ban Mê Thuột cũng báo cáo về rằng có sự tập trung lớn quân đội Bắc Việt ở vùng biên giới Cămpuchia.

Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh quân khu 2 cực kỳ bối rối sau khi nhận được hai tin nói trên. Nếu quả đúng như vậy, ông ta không có đủ lực lượng để bảo vệ tất cả những mục tiêu tiềm tàng trên khắp vùng Tây Nguyên.

Sư đoàn 23 tinh nhuệ nhất của tướng Phú đã phải căng ra đối phó nên lực lượng bảo vệ mỗi mục tiêu trở nên quá mỏng. Hai lữ đoàn của sư 23 bị điều lên bảo vệ Kontum và Pleiku. Một phần của lữ đoàn thứ 3 bị kéo căng ra để giữ mặt trận Ban Mê Thuột – Quảng Đức.

Nếu quả thực sư 320 của Bắc Việt đã dàn quân chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột thì việc tướng Phú phải điều lực lượng chủ lực của mình bảo vệ Ban Mê Thuột là điều bắt buộc. Nhưng nếu tướng Phú điều hết lực lượng tinh nhuệ xuống Ban Mê Thuột rồi mà tin tình báo là sai thì Kontum và Pleiku sẽ bị mất vào tay đối phương là cái chắc.

Nhưng tướng Phú không thể liều trong canh bạc này. Ông ta quyết định giữ nguyên các lực lượng chủ lực của mình bao gồm phần lớn sư đoàn 23 tập trung ở phía bắc Tây Nguyên để bảo vệ Kontum và Pleiku.

Nhằm củng cố thêm cho quyết định của mình, tướng Phú viện dẫn ra những bức điện mà lực lượng thám không của ông ta mới thu được của đài thông tin Cộng sản. Những bức điện này cho thấy sở chỉ huy sư 320 của quân đội Bắc Việt vẫn hoạt động bình thường ở khu vực Đức Cơ phía tây Pleiku. Chứng tỏ sư 320 quân đội Bắc Việt không có ý định tấn công Ban Mê Thuột. Do vậy, tin tình báo mà tướng Phú nhận được trước đây là “sai”.

Tướng Phú không hề biết rằng trên thực tế tin tình báo của ông ta là hoàn toàn đúng còn những bức điện của lực lượng thám không quân đội Sài Gòn thu được mới là giả. Để nhằm đánh lạc mục tiêu săn lùng của đối phương, quân đội Bắc Việt đã lập ra những sở chỉ huy giả ở Đức Cơ.

Từ những chỉ huy sở giả này, họ phát lên không trung đều đặn những bức điện cốt làm cho đối phương tin rằng sư 320 quân đội Bắc Việt vẫn còn ở khu vực Đức Cơ gần Pleiku.

Sự đánh lừa này khéo đến mức tất cả bộ chỉ huy quân đội Sài Gòn và các cố vấn Mỹ, CIA đều không ai nhận ra. Đây chính là nhân tố cuối cùng dẫn đến các hậu quả chết người sau này đối với Chính quyền Sài Gòn.

Trong khi tướng Phú đang cố tìm hiểu ý định thực sự của đối phương, tướng Mỹ Timmes đã đích thân tới Pleiku để gặp Phạm Văn Phú. Viên Tư lệnh quân khu 2 không hề che dấu sự bối rối của mình với tướng Timmes.

Bất chấp các thông tin báo về rằng quân đội Bắc Việt đang tập trung quanh khu vực Ban Mê Thuột, tướng Phú vẫn đinh ninh rằng đối phương sẽ mở mũi tấn công chủ yếu vào Pleiku và Kontum.

Tướng Timmes không có thông tin gì hơn, mặc dù lập luận của tướng Phú không mấy thuyết phục nhưng ông ta cũng chẳng biết phải cố vấn thế nào.

Trong khi tướng Phú còn chưa rõ mục tiêu thực của đối phương, quân đội Bắc Việt vẫn tiếp tục chuẩn bị cho các trận đánh. Khoảng cuối tháng 2, Tướng Văn Tiến Dũng đã hoàn thành chuyến đi của ông từ Hà Nội vào Tây Nguyên để thành lập Bộ chỉ huy tiền phương (tức là Bộ Chỉ huy mặt trận Tây Nguyên) đóng tại phía tây Ban Mê Thuột.

Để giữ bí mật sự hiện diện của mình ở Tây Nguyên, tướng Văn Tiến Dũng cho ngừng tất cả mọi cuộc liên lạc bằng vô tuyến điện. Sự liên lạc giữa ông với Hà Nội được thực hiện qua đường điện thoại.

Nhờ các tin tình báo và những bức điện mà lực lượng thám không thu được của đối phương, tướng Văn Tiến Dũng sớm biết rằng tướng Phú đang bối rối trong việc xác định vị trí thật của sư 320 quân đội Bắc Việt. Tư lệnh quân khu 2 Phạm Văn Phú không chỉ mất hút sư 320 mà còn không biết sư đoàn 10 quân đội Bắc Việt đang ở đâu.
Sư 10 chính là sư đoàn thường mở các trận tấn công vào Kontum và Pleiku. Tướng Phú không hề biết rằng trên thực tế sư 10 đã được bí mật điều vào phối hợp cùng với sư 320 ém sẵn tại Ban Mê Thuột.

Nhằm đánh lạc hướng nhiều hơn nữa đối phương, tướng Văn Tiến Dũng đã ra lệnh cho một số đơn vị nhỏ lẻ của quân đội Bắc Việt ở lại Pleiku và Kontum, thỉnh thoảng lại mở những đợt tấn công gây rối ở khu vực mà sư đoàn 10 đóng quân trước đây cốt để cho tướng Phú tin là sư 10 quân Bắc Việt vẫn chưa di chuyển.

Vào lúc này, sư đoàn 316 của quân đội Bắc Việt cũng được điều từ miền Bắc vào đã tiến sát Ban Mê Thuột. Chưa đầy 3 tuần sư 316 đã di chuyển vào Nam thành công, dọc đường đi không hề liên lạc bằng điện đài nên đối phương hoàn toàn không ngờ sư 316 đã có mặt ở Tây Nguyên.

Nhờ sự điều quân bí mật, tương quan lực lượng của tướng Dũng tại Ban Mê Thuột về mặt con người đang có nhiều lợi thế, lúc này là 5 chọi 1. Đấy là chưa kể đến còn sư đoàn 968 từ Nam Lào được giao nhiệm vụ thực hiện những cuộc hành quân nhỏ lẻ ở khu vực Pleiku và Kontum nhằm đánh lừa tướng Phú.

Tại Đại sứ Quán Mỹ ở Sài Gòn chúng tôi không hề hay biết gì về việc tướng Văn Tiến Dũng đã có mặt ở miền Nam Việt Nam, nói chi đến chuyện biết gì về việc quân đội Bắc Việt đã lập xong các chỉ huy sở ở phía Tây Ban Mê Thuột và đang chuẩn bị đánh chiếm căn cứ quan trọng này.

Ngày 1/3/1975, quân đội Bắc Việt ở Tây Nguyên chính thức mở chiến dịch đánh vào Ban Mê Thuột bằng việc đánh chiếm căn cứ Đức Lập ở phía Nam hướng đi Cămpuchia.

Lúc này tại Chỉ huy sở của tướng Phú ở Pleiku, các trợ lý phân tích tình báo đưa ra kết luận Ban Mê Thuột sắp bị tấn công. Vậy mà tướng Phú vẫn còn nghi ngờ, mãi sau mới chấp nhận điều thêm một lữ đoàn đến Buôn Hồ để hỗ trợ các đơn vị đang giao chiến ở đó.

Bên trong thành phố Ban Mê Thuột lúc này quân đội Sài Gòn chỉ thực sự có 2 tiểu đoàn gồm 1.200 quân. Ngày 10/3, quân đội Bắc Việt mở chiến dịch đánh thẳng vào Ban Mê Thuột, Chính quyền Sài Gòn vẫn chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Đến ngày 14/3 chúng tôi mới biết rằng quân đội Bắc Việt đã chiếm được thành phố này. Khi đoàn xe tăng đầu tiên của quân đội Bắc Việt tiến vào Ban Mê Thuột, Tướng Phú tháo chạy về Nha Trang.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn

Đại thắng trong mắt một người Mỹ

Đất nước Việt Nam đang thay đổi hàng ngày. Trong ảnh: Dân cư bên kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (TPHCM) hôm nay. Ảnh: Văn Khánh

Merle Ratner – Ủy viên BCH Chiến dịch Cứu trợ và Trách nhiệm đối với nạn nhân điôxin Việt Nam – hiện đang ở thăm Việt Nam đã nói về Chiến thắng 30/4/1975.

Bà có thể kể lại cảm tưởng của mình khi nghe tin về Chiến thắng 30/4?

Đại thắng mùa xuân năm 1975 của nhân dân Việt Nam là một trong những khoảnh khắc hiếm hoi và vui sướng nhất cuộc đời tôi. Tôi đã tích cực tham gia phong trào phản chiến từ khi mới 13 tuổi. Những năm tháng khi còn là học sinh tiểu học, trung học và cả những năm đầu học đại học, tôi đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam. Tôi bị bắt một vài lần vì tội cản trở quân dịch.

Trong những năm tháng đó, chúng tôi luôn tin rằng nhân dân Việt Nam nhất định sẽ chiến thắng, giống như họ đã từng đánh thắng thực dân Pháp.

Chúng tôi đã nhiều lần ca vang bài “Việt Nam sẽ thắng”. Nhất là khi thấy các tỉnh và thành phố ở Việt Nam lần lượt được giải phóng trong tháng 3 và tháng 4 năm 1975, chúng tôi hiểu rằng ngày toàn thắng của các bạn đang đến rất gần.

Ngày 30/4/1975, chúng tôi vô cùng hoan hỉ khi chứng kiến các lực lượng giải phóng tiến về Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chiến thắng dành cho những người dân Việt Nam anh hùng, những người đã phải hy sinh cả xương máu để có được chiến thắng vinh quang đó.

Chúng tôi cảm thấy chiến thắng của các bạn cũng là chiến thắng dành cho chúng tôi, và cho nhân dân trên toàn thế giới. Chúng tôi vô cùng hân hoan và tự hào!

Việt Nam được giải phóng và thống nhất. Điều này đem lại cho chúng tôi một niềm tin rằng nếu như một dân tộc đoàn kết trong cuộc đấu tranh vì công lý thì nhất định dân tộc ấy sẽ giành thắng lợi. Nó cũng khiến chúng tôi tin rằng chủ nghĩa đế quốc Mỹ có thể cũng sẽ bị đánh bại ở những nơi khác trên thế giới và ở ngay chính nước Mỹ!

Giờ đây, trở lại Việt Nam dự lễ kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền nam, tôi cảm thấy hạnh phúc và tự hào trước những thành quả mà Việt Nam đã đạt được trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ độc lập dân tộc. Tôi cảm thấy vinh dự khi được cùng người dân Việt Nam dự lễ kỷ niệm này. Đồng thời, trong tôi lại trỗi dậy những hình ảnh về những vết thương chiến tranh khủng khiếp do Mỹ gây ra đối với Việt Nam.

Điều này nhắc nhở chúng tôi cần phải nỗ lực hơn nữa để góp phần giành lại công lý cho những nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, và cũng để đảm bảo rằng Mỹ phải tôn trọng chủ quyền của Việt Nam và không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Tại sao bà lại tham gia vào các hoạt động ủng hộ Việt Nam trong thời gian dài như vậy? Những hoạt động có ý nghĩa nhất trong cuộc đời của bà là gì?

Cơ sở cho các hoạt động đoàn kết của tôi với Việt Nam trong suốt và sau khi kết thúc cuộc chiến tranh là tình đoàn kết, chủ nghĩa quốc tế và ý thức trách nhiệm cá nhân.

Đoàn kết có nghĩa là quần chúng nhân dân trên thế giới cần phải dựa vào nhau và ủng hộ lẫn nhau trong cuộc chiến vì hòa bình, công lý và nhân phẩm. Đoàn kết cũng gắn liền với chủ nghĩa quốc tế, đó là nếu tất cả chúng ta không cùng nhau đấu tranh vì độc lập, hòa bình và bình đẳng, chúng ta sẽ luôn bị đe dọa bởi những kẻ coi lợi nhuận hơn cả tình người.

Trách nhiệm cá nhân xuất phát từ việc chứng kiến những gì mà chính phủ Mỹ đã gây ra đối với nhân dân Việt Nam và chúng ta sẽ đấu tranh cho đến khi nào cuộc chiến buộc phải chấm dứt.

Chính phủ Mỹ vẫn tiếp tục phát động các cuộc chiến tranh xâm lược các nước có chủ quyền, mà gần đây nhất là đối với Irắc. Vì thế, chúng ta cần phải tiếp tục đấu tranh để chấm dứt sự xâm lược của Mỹ đối với Irắc, cũng như chấm dứt bất kỳ cuộc chiến tranh nào khác ở bất cứ nơi đâu.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, tôi hoạt động trong nhiều tổ chức khác nhau, bao gồm cả liên minh phản chiến lớn nhất thời bấy giờ. Tôi cũng họat động trong một nhóm ủng hộ Mặt trận Giải phóng Dân tộc. Sau năm 1975, chúng tôi thành lập một nhóm gọi là Những người bạn Đông Dương nhằm giúp đỡ sự nghiệp xây dựng đất nước của Việt Nam và chấm dứt lệnh cấm vận của Mỹ.

Kể từ khi Mỹ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ, chúng tôi đã hoạt động để đòi Mỹ phải có trách nhiệm đối với các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam và chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền hay các vấn đề tôn giáo. Kể từ năm 1975, chúng tôi đã tổ chức nhiều đợt kỷ niệm lớn ngày chiến thắng 30/4, trong đó lớn nhất là vào năm 1985 và 2000.

Bà nghĩ gì về những thay đổi và sự phát triển diễn ra ở Việt Nam sau mỗi chuyến đi của bà đến đất nước này?

Đây là lần thứ 5 tôi đến Việt Nam. Lần đầu tiên tôi đến Việt Nam là vào năm 1985, và lần gần đây nhất là năm 1991. Khi tôi đến Việt Nam lần đầu tiên, Việt Nam vẫn còn rất nghèo và đang trong quá trình khắc phục sự tàn phá của cuộc chiến tranh, nhưng có một tinh thần đoàn kết tuyệt vời, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người dân. Kể từ đó mỗi chuyến đi tới Việt Nam, ấn tượng trong tôi ngày càng tăng lên về mức sống của người dân và trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Trong chuyến đi gần đây nhất, tôi được chứng kiến nhiều thay đổi ở đất nước các bạn. Đó là sự tăng trưởng mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và sự phát triển tiềm năng sáng tạo của người Việt Nam. Thành công trong việc xóa đói giảm nghèo cũng rất ấn tượng. Trong chuyến đi lần này, tôi sẽ hiểu hơn về hiện thực cuộc sống của người dân Việt Nam.

Tôi sẽ đi thăm những thành phố và cả những vùng nông thôn để tận mắt được thấy những thành tựu to lớn trong công cuộc phát triển đất nước của các bạn. Tôi cũng hy vọng sẽ được gặp gỡ những thanh niên Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người sẽ là tương lai của đất nước Việt Nam.

TTX
tienphong.vn

Tường trình từ Sài Gòn tháng 4-1975 (Kỳ cuối)

Bản tin 30-4

TT – Chúng tôi lái xe tới Đại sứ quán Mỹ. Chúng tôi lên nóc đại sứ quán phát hiện gần 100 người Việt vẫn ngồi ở đó chờ đợi. Họ định ở lại đó tới khi những chiếc trực thăng quay trở lại đón và tôi không nỡ lòng nào nói với họ rằng tất cả đã kết thúc. Chúng tôi trở lại văn phòng AP. Bên trong, George Esper đang điều hành việc truyền tin radio từ Sài Gòn.

Xe tăng quân giải phóng trên đường phố Sài Gòn ngày 30-4-1975- Ảnh tư liệu

>> Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc
>> Kỳ 2: “Thổi tung”
>> Kỳ 3: Cuộc rút lui cuối cùng
>> Kỳ 4: Ở lại để viết

Đã kết thúc rồi

Ngay sau đó, người phiên dịch thét lên từ phòng vô tuyến: tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Esper đánh máy bản tin và nhanh chóng đưa nó cho người đánh máy in telex. Câu chuyện là bằng chứng cụ thể với thế giới rằng chiến tranh đã kết thúc. Trụ sở AP nhanh chóng gửi cho chúng tôi thông điệp rằng bản tin đầu hàng của chúng tôi đến trước năm phút so với của Hãng thông tấn UPI, cho thấy trong khi các cuộc chiến có thể bắt đầu và kết thúc và những người lãnh đạo dựng lên hoặc sụp đổ thì người quyết định quan trọng duy nhất trong kinh doanh tin tức chính là người đầu tiên có câu chuyện.

Esper rất vui với chiến công của mình, đứng dậy, dang tay và tuyên bố anh ta sẽ đi xuống đường xem chuyện gì đang diễn ra. Anh ta ngồi tại bàn đã bốn ngày liên tục và tôi chúc anh ta may mắn, nhưng anh ta chạy trở lại máy đánh chữ chỉ trong vòng năm phút, mặt xám ngắt.

Trong khi băng qua quảng trường Lam Sơn, một trung tá cảnh sát người Việt trong bộ quân phục trang trọng bắt chuyện anh ta và lắp bắp với vốn tiếng Anh lắp ráp “Đã kết thúc rồi” trước khi bước khoảng mười bước, thể hiện khuôn mặt sắc lạnh, nói tạm biệt, sau đó giơ khẩu súng lục 4.5 li bắn vào đầu mình. Trong một khoảnh khắc Esper đã nghĩ viên đạn đó dành cho mình và anh ta viết câu chuyện xảy ra với đôi tay vẫn còn run sợ.

Matt Franjola bước vào phòng và tuyên bố đơn giản: “Dù sao họ đã ở đây”. Tôi nhìn lên và hỏi anh ta: “Ai ở đây?”, anh ta đáp lại: “Việt cộng. Tôi đang lái xe ra phía sau Đại sứ quán Anh thì một chiếc xe jeep màu đen đi tới cùng một người ngồi trên nóc mặc sơmi trắng, quần đen và đi giày. Anh ta mang theo khẩu AK-47 và thét với tôi bằng tiếng Anh: “Mọi người về nhà”. Họ đang vẫy cờ Việt cộng”. Tôi xem đồng hồ của mình: 11 giờ 25 trưa. Tôi đi ra ngoài xem xét tình hình.

Băngrôn Việt cộng màu xanh da trời và xanh lá cây lớn bất ngờ được kéo lên ở cột cờ của khách sạn Caravelle. Nhân viên ở đó chắc đã bí mật khâu nó trong một tuần. Về lại văn phòng, tôi ra hiệu lấy giấy và đánh bản tin bắt đầu bằng: “Sài Gòn, 30-4. Quân giải phóng chiếm đóng Sài Gòn một cách thanh bình ngày hôm nay, họ hành quân trên những đại lộ đầy cây bên đường trên những xe tải của Nga cùng cờ bay phấp phới. Người dân Sài Gòn đứng chứng kiến hai bên đường. Không một tiếng súng nổ”.

Tôi lảo đảo về phía phòng máy in telex, nhét trang giấy cho người điều hành máy telex. Anh ta đọc bản tin, há hốc mồm và cố gắng trốn khỏi căn phòng. Sau đó anh ta biến mất khỏi cửa văn phòng và ra đi trong nhiều ngày.

“Ngày 30-4-1975, hai người lính Bắc Việt vào văn phòng AP nơi Matt Franjola (bìa trái), George Esper (người thứ hai từ bên phải) và tôi đang làm tin. Họ chỉ cho chúng tôi con đường mà họ tiến vào thành phố và chia sẻ đồ uống, bánh với chúng tôi”-Ảnh tư liệu

Về nhà

Franjola và tôi xuống đường một lần nữa, nhìn thấy những xe tải của Nga trên đường Tự Do với số lượng lớn. Mọi người đổ ra bên đường, nỗi sợ hãi về một thảm kịch tức thời đã biến mất. Tay quay phim người Úc Neil Davis tiến lại phía tôi ở đường Pasteur từ dinh tổng thống. Anh ta ở đó một phút trước khi một xe tăng quân giải phóng đâm qua cửa chính bằng sắt. Anh ta nói đội quân nhảy xuống và đi lên ban công tầng trên, nơi họ giương một băngrôn lớn của Việt cộng.

Tôi trở lại văn phòng nói cho Esper biết điều này thì tiếng súng dữ dội nổ ra ngay ngoài cửa sổ của chúng tôi. Một nhóm quân giải phóng bò qua những bụi cây trong công viên ở phía dưới chúng tôi tiến về phía tòa thị chính, nơi một số lính phòng thủ đang yếu ớt chống trả. Quân giải phóng đang yểm trợ nhau khi họ di chuyển nhanh về phía trước gần tới tòa nhà và sau đó tiến nhanh.

Chiếc máy telex vẫn kêu chiều đó khi tôi trở lại văn phòng, Esper nói rằng tôi nên viết một câu chuyện trình bày cảm nghĩ của tôi. Tôi bắt đầu: “Trong 13 năm viết về chiến tranh VN, tôi chưa bao giờ nghĩ nó kết thúc theo cách như buổi chiều hôm nay. Tôi nghĩ rằng nó có thể kết thúc bằng một cuộc thanh toán chính trị giống như ở Lào. Thậm chí một trận đánh sinh tử với thành phố còn lại trong tàn phá”.

Tôi gõ chiếc máy chuyển tin, nó cuộn vào máy nên tôi đánh lại nhưng chiếc máy kẹt đôi lần và ngừng hẳn. Tôi thử lại các phím một lần nữa nhưng không có tín hiệu gì. Chỉ vài phút sau 7 giờ tối, chế độ mới đã cắt thông tin liên lạc của chúng tôi với thế giới, hệ thống cung cấp tin từ Sài Gòn bị vô hiệu hóa. Esper, Franjola và tôi rời văn phòng, đi bộ về khách sạn Caravelle. Một số lượng lớn nhà báo châu Âu ở lại. Hằng đêm nhiều người trong chúng tôi tụ tập ở phòng ăn khách sạn Caravelle để trao đổi thông tin, bây giờ thì không còn cạnh tranh nữa vì mọi liên lạc đã bị cắt.

Hầu hết chúng tôi được dành hai ngày để khởi hành. Sau 25 ngày sống dưới chế độ mới, chúng tôi lên xe buýt cho chuyến đi cuối cùng tới sân bay Tân Sơn Nhất và bay tới Vientiane (Lào), sau đó về nhà. Những người lính trẻ VN lục soát hành lý của chúng tôi một cách lịch sự. Có 82 người chúng tôi leo lên chiếc máy bay của Nga có cờ đỏ sao vàng sơn ở đuôi máy bay. Chúng tôi ra khỏi đường băng đi qua những tàn tích của trực thăng vận và máy bay chiến đấu. Khi máy bay cất cánh, lời reo vang ở khoang hành khách. Tôi chuyền cho mọi người cùng uống chai Johnnie Walker đen mà tôi đã kiếm được từ văn phòng của đại sứ New Zealand.

PETER ARNETT
(PHẠM HẢI CHUNG dịch)
tuoitre.vn

Tường trình từ Sài Gòn tháng 4-1975 (Kỳ 4)

Ở lại để viết

TT – Ngày 29-4-1975. Phóng viên Brian Ellis của CBS gọi cho văn phòng AP tại Sài Gòn lúc 11g. Đại sứ quán Mỹ khuyên anh ta việc rút lui toàn bộ nên bắt đầu. Matt Franjola và tôi tụ tập tại điểm đón xe buýt gần văn phòng chúng tôi, nơi các đồng nghiệp đang đi bộ tới hoặc bằng ôtô. Không ai nói gì. Những người chứng kiến cuộc chiến từ đầu đều ủ rũ. Bob Shaplen của tờ New Yorker mắt đỏ hoe và Mal Browne của AP không giống như tính cách trầm lặng. Chúng tôi là những nhà báo nước ngoài ít ỏi ở lại Sài Gòn để viết một câu chuyện lịch sử.

Niềm hân hoan của bộ đội đặc công trên đường tiến vào Sài Gòn -Ảnh tư liệu

>> Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc
>> Kỳ 2: “Thổi tung”
>> Kỳ 3: Cuộc rút lui cuối cùng

Viết theo cách của mình

Mọi thứ tôi viết về VN đã hiện ra vào ngày hôm nay và tôi cảm thấy mình buộc phải chứng kiến lời từ biệt cuối cùng. Franjola và tôi leo lên xe jeep theo sau những xe buýt tới nhà của đại sứ Mỹ. Khi chúng tôi đỗ xe ở điểm dừng, một sĩ quan quân đội cộng hòa mặc quân phục chạy tới và năn nỉ chúng tôi đưa ra sân bay. Tôi nhận ra anh ta là nhân viên bộ thông tin. Tôi nói anh ta sẽ không bao giờ qua nổi cửa sân bay vì những người gác sẽ đẩy lính trở lại.

Anh ta thay quần áo trên đường, ném bộ đồng phục ra phía sau cây và mặc chiếc quần bình thường cùng áo thể thao. Anh ta giới thiệu một đứa trẻ là con trai của anh ta và nói với tôi rằng họ sẽ rời đi, còn vợ anh ta cùng con gái sẽ ở lại. Trên đường phố Sài Gòn tôi cũng gặp nhiều người như thế.

Từ mái tòa nhà Eden, tôi chứng kiến bóng những chiếc trực thăng biến mất vào đêm. Phía dưới ánh đèn đường, một số người đang nhìn lên bầu trời và ra dấu hiệu, với một số túi hành lý nhỏ trên tay. Buổi tối đó trực thăng đã đi hết, tôi leo xuống văn phòng AP ở tầng 4 nơi phiên dịch của chúng tôi, ông Hương, và gia đình đang nằm trên sàn nhà. Phóng viên George Esper cố gắng đưa họ tới địa điểm di tản tại đại sứ quán vào buổi sáng nhưng đám đông quá thô bạo tiến sát gần hàng rào. Esper gọi điện tới đại sứ quán, thậm chí nhân viên còn không trả lời. Ở văn phòng của AP, George đã ở đó hàng thập niên viết ra những bài báo trên chiếc máy đánh chữ Underwood cổ lỗ.

Vào lúc 3 giờ sáng trong một TP chuẩn bị đón chờ cái chết, anh ta đang cố gắng gọi điện để chuyển tin, bài. Anh ta gầy, hốc hác và đôi mắt đầy mệt mỏi. Tôi nói với anh ta: “George, chúng ta cần ngủ một chút”. Anh ta lẩm bẩm một mình và trở lại máy telex. Tôi nói: “Giờ chúng ta là những người duy nhất còn lại đây, không có người phát ngôn của chính phủ, không nhân viên báo chí với những dự đoán cho câu chuyện của chúng ta, không nhân viên đại sứ quán nào vui vẻ vẫy tay từ chối những gì chúng ta đã viết. Lần này chúng ta viết theo cách của chúng ta, George”.

Bộ đội đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất -Ảnh tư liệu

Những nhân viên Mỹ cuối cùng

Sáng sớm 30-4, George quyết định chống lại cơn buồn ngủ và đánh máy những ghi chú khó chịu gửi về trụ sở AP ở New York kêu ca về việc ùn tắc thông tin và tôi hi vọng anh ta đã gửi được nó. Tôi không đợi để xem. Tôi đi xuống bằng chiếc cầu thang tối, băng qua quảng trường Lam Sơn ẩm ướt tới khách sạn Caravelle. Tôi vừa chạm vào chiếc giường thì tỉnh lại bởi tiếng thét phía dưới cửa sổ. Tôi kéo rèm sang bên, mặt trời làm lóa mắt tôi một lúc. Tôi có thể nhìn thấy “cuộc khởi nghĩa” ở quảng trường. Tình trạng hôi của bắt đầu.

Tôi cạo râu, tắm nước lạnh và chọn chiếc áo sơmi giản dị màu xám. Tôi tới phòng ăn, nghi ngờ rằng bữa sáng sẽ không được phục vụ. Nhưng tôi đã nhầm, những người phục vụ mặc đồng phục vẫn làm việc bình thường. Phía dưới, đường phố nhộn nhịp hướng về phía bến sông Sài Gòn, nơi những con thuyền thương mại và hải quân neo đậu. Biển là địa điểm trốn thoát cuối cùng. Tôi nhìn thấy những nhóm người chờ đợi trên mái những tòa nhà cao ở trung tâm TP. Họ nhìn lên bầu trời. Họ không biết nó đã kết thúc.

Sau đó là tiếng ồn quen thuộc của trực thăng lính thủy đánh bộ Mỹ bay vòng quanh tháp đôi nhà thờ lớn ở quảng trường John F.Kennedy và đậu trên mái nhà Đại sứ quán Mỹ. Một người phục vụ đưa tôi chiếc ống nhòm và tôi nhìn thấy một nhóm lính thủy đánh bộ vận quần áo chiến đấu chạy ra từ phía sau bức tường chắn bằng bao cát trên mái đại sứ quán và bước lên trực thăng. Chưa đầy một phút họ đã đi. Những nhân viên Mỹ cuối cùng rời khỏi Sài Gòn.

Tôi gọi điện cho Esper ở văn phòng kể lại câu chuyện đó. Chiếc trực thăng cuối cùng biến mất khỏi biển, tin tức này đã được truyền đi và có mặt trong văn phòng những tổ chức thông tin lớn trên thế giới. Franjola cùng tôi ăn sáng. Chúng tôi xuống đường, có những xe jeep chở lính cộng hòa cầm súng giơ lên lái như điên trong TP. Bây giờ họ không còn phép tắc gì nữa, sĩ quan cấp trên của họ đã rời đi hết. Không có âm thanh của trận chiến. Chúng tôi đi qua ba trạm xăng góc phố, những cột bơm xăng đã bị nhổ lên và những người lái xe hút bằng xiphông xăng trực tiếp vào ôtô của họ.

PETER ARNETT
(PHẠM HẢI CHUNG dịch)
tuoitre.vn

_____________________________

“Sài Gòn, 30-4. Quân giải phóng chiếm đóng Sài Gòn một cách thanh bình ngày hôm nay, họ hành quân trên những đại lộ đầy cây bên đường trên những xe tải của Nga cùng cờ bay phấp phới. Người dân Sài Gòn đứng chứng kiến hai bên đường. Không một tiếng súng nổ”.

Kỳ tới: Bản tin 30-4

Tường trình từ Sài Gòn tháng 4-1975 (Kỳ 3)

Cuộc rút lui cuối cùng

TT – Trở lại Sài Gòn, hầu hết mọi người chúng tôi biết đều muốn rời đi và sẵn sàng ra đi bằng mọi giá. Thông tin lộn xộn về sự sụp đổ của Đà Nẵng lan ra khắp miền Nam với những tuyệt vọng. Mỗi ngày có hàng trăm người Việt xếp hàng xin visa tại tòa đại sứ Mỹ. Khi miền Nam VN sụp đổ, hàng người đó càng dài hơn.

Peter Arnett cùng vợ Nina Nguyễn và hai con tại Sài Gòn -Ảnh tư liệu

>> Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc
>> Kỳ 2: “Thổi tung”

Hồi chuông cảnh báo

Tôi sắp xếp cho Nina Nguyễn – vợ tôi – và gia đình cô ấy bay tới Wellington (New Zealand) trong một chuyến bay đặc biệt được thuê để di tản nhân viên ngoại giao New Zealand và tôi lái xe đưa họ tới đại sứ quán vào buổi sáng họ khởi hành. Họ chỉ được phép mang một túi nhỏ hành lý. Đây là lần thứ ba họ mất gần hết mọi thứ. Dưới sự sắp xếp đặc biệt với Đại sứ quán Mỹ, chúng tôi có thể di tản toàn bộ nhân viên VN của văn phòng AP tại Sài Gòn và gia đình của họ. Tôi có thể đưa chị và em của Nina cùng chồng của họ tới Philippines trên chuyến bay C-130 của lực lượng không quân Mỹ.

Đến lúc đó rồi mà có những nhân viên ở Đại sứ quán Mỹ, Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế vẫn bám lấy niềm tin sẽ có một kết thúc chiến tranh trong thương lượng và một giải pháp vẫn giữ được Sài Gòn như một chính phủ trung lập. Tôi hoài nghi khi lần đầu tiên nghe những bản tin này vì tôi tận mắt chứng kiến sự sụp đổ bất ngờ của Huế, Đà Nẵng và những thất bại của mỗi TP ven biển và vùng cao nguyên.

Tôi chạm trán phóng viên Mal Browne của AP và vợ của ông ta ở quán cà phê Givral. Tôi hỏi tại sao bà không rời khỏi đất nước cùng với những người khác, nhưng Mal tự tin cười với tôi nói: “Peter, sẽ không có trận chiến cuối cùng đâu, tin tôi đi. Tôi là người đã ngấm tốt hơn với tất cả các mặt trong đời”. Mal là một phóng viên mà tôi kính trọng và là người bạn mà tôi ngưỡng mộ, nhưng tôi nghĩ ông ta đã sai về chuyện này. “Mal – tôi nói – anh đã dạy tôi chỉ viết những gì nhìn thấy chứ không phải những gì nghe thấy, và những gì tôi nhìn thấy là cuộc chiến quyết liệt cuối cùng ở ngay trong TP”.

Trụ sở AP tại New York ngày càng lo lắng về sự an toàn của chúng tôi khi hồi chuông cảnh báo đã gióng lên quanh Sài Gòn. Chúng tôi được nhắc nhở các tổ chức thông tin Mỹ sẽ đóng cửa khi đại sứ Graham Martin đưa ra mệnh lệnh trên chuyến di tản trực thăng cuối cùng. Chúng tôi được nghe nói hầu hết nhân viên AP phải rút và chỉ một số ở lại. Chúng tôi bắt đầu lập kế hoạch đưa mọi người rời khỏi VN.

Cảnh tháo chạy hỗn loạn khỏi Sài Gòn – Ảnh tư liệu

Đã quá muộn

Trong vòng buổi trưa thứ hai 27-4, tướng Dương Văn Minh gọi điện cho tôi với lời mời tới thăm nhà ông ở gần dinh tổng thống. Chúng tôi nhâm nhi tách trà nóng và ông ta giải thích kết thúc đã tới gần, lực lượng cộng sản tới gần Biên Hòa ở hướng đông và Củ Chi ở hướng tây, tất cả chuẩn bị dồn vào từ mọi hướng theo hình cánh quạt. Có cả pháo hạng nặng dàn hàng để “thổi tung” Sài Gòn thành từng mảnh. Đội hình chỉ huy và lãnh đạo của chính quyền Sài Gòn đã mệt mỏi, tan rã và khởi hành trên những trực thăng dành cho chỉ huy chạy trốn.

Tôi nói rằng mình vẫn đang cố gắng tìm kiếm tọa độ yêu cầu cho hành trình của ông ta, nhưng ông ta vẫy tay gạt đi và nói đã biết vị trí chung của hạm đội, khi thời gian đến sẽ bay ra để tìm. Ông ta chỉ cho tôi xem ngôi nhà được trang hoàng như cung điện với những bức tranh sơn mài lớn về phong cảnh VN truyền thống, có những người phụ nữ vấn tóc ngồi bên bể nước và những con ngựa đang phi nước đại. Ông ta lắc đầu buồn bã: “Giờ đã quá muộn để tôi mang được chúng đi – và quay sang tuyên bố – Những thứ này là của cậu, tất cả cho cậu. Tôi biết cậu đánh giá cao nghệ thuật và đây là bức đẹp nhất của VN”.

Tôi khẳng định với ông ta rằng mình cũng không thể mang những bức tranh ra khỏi VN, nhưng ông ta cố nài nỉ và khi tôi ra đến vườn thì hai tay lính đã buộc những bức tranh lên nóc một chiếc xe jeep. Tôi nói với tướng Minh rằng tôi có mấy việc lặt vặt phải làm và sẽ trở về muộn. Sau đó, tôi lái xe đi và biết rằng mình sẽ không thể gặp lại tướng Minh hay những bức tranh đó nữa.

Vào sáng sớm ngày thứ ba, đường băng và những nhà ga tại sân bay Tân Sơn Nhất đầy súng pháo binh do lính miền Bắc kéo vào. Đạn bắn phá thức tỉnh TP. Tôi nhảy ra khỏi giường tại khách sạn Caravelle khi những viên đạn đầu tiên chạm đất lúc 4 giờ sáng, và chạy lên nóc khách sạn nơi có vài đồng nghiệp đã tập trung.

Máy bay và các tòa nhà bốc cháy. Một bình minh đầy lửa tỏa lên những mái nhà Sài Gòn, chúng tôi nhìn thấy rất nhiều người dân đang chứng kiến như chúng tôi, một vài chiếc trực thăng chiến đấu với những tay súng dưới mặt đất, những khẩu súng nhỏ nhả đạn khi những chiếc tên lửa bay về phía họ. Tôi nhìn thấy hai máy bay rơi xuống. Tôi điện thoại cho George Esper từ quầy bar khách sạn Caravelle. Chúng tôi đồng ý rằng trận bắn phá có thể kết thúc việc di tản ở sân bay và thực hiện phương án 4: sự rút lui cuối cùng.

Khi việc vận chuyển hàng không bị hủy bỏ, quyết định di tản nhân sự cần thiết bằng trực thăng được đưa ra. Đó là cơ hội cuối cùng rời đi. Esper cộc lốc thông báo tình hình về New York và ba chúng tôi sẽ ở lại: Esper, tôi và Matt Franjola. Chủ tịch AP Wes Gallagher phản đối việc để Franjola ở lại, vì ông ta lo điều đó tăng thêm nguy hiểm cho tất cả chúng tôi nhưng sau đó ông ta đồng ý khi Esper khuyên nhủ: “Franjola quyết tâm ở lại và nếu chúng ta buộc anh ta rời đi, anh ta sẽ ở lại cho người khác.

Yêu cầu ông xem xét lại và hãy để tôi làm câu chuyện này một cách tích cực nhất”. Tôi biết nên đưa ra lời giải thích đầy đủ hơn cho quyết định ở lại của chính mình vì với nhiều người, điều đó dường như là điên rồ, đặc biệt là với Nina. Tôi hứa sẽ rời đi khi tới lúc. Tôi gửi một thông điệp cho Gallagher nói rằng tôi đã ở VN từ đầu, tôi cảm thấy đáng mạo hiểm ở đó để viết về những giờ khắc cuối cùng khi kết thúc. Tôi không nói cho ông ta biết ý định nhỡ chuyến bay cuối cùng nếu ông ta nài nỉ tôi rời đi.

PETER ARNETT
(PHẠM HẢI CHUNG dịch)
tuoitre.vn

________________________

Peter Arnett là một trong số ít các nhà báo nước ngoài ở lại cho tới khi Sài Gòn giải phóng. “Giờ chúng ta là những người duy nhất còn lại đây, lần này chúng ta viết theo cách của chúng ta”.

Kỳ tới: Ở lại để viết

Tường trình từ Sài Gòn tháng 4-1975 (Kỳ 2)

“Thổi tung”

TT – Vào ngày 24-3-1975, tôi đi nhờ chuyến bay sáng sớm đưa thư của không quân Mỹ tới Đà Nẵng, nơi những người phòng thủ rút quân từ Quảng Trị và Huế đang tập hợp. Đà Nẵng là nơi quan trọng thứ hai so với Sài Gòn, thành phố vốn được miêu tả như một thành trì có khu tiếp viện quân sự khá lớn ở căn cứ không quân, cùng những máy bay và trực thăng chiến đấu tốt sẵn sàng hỗ trợ lực lượng phòng thủ.

Khi chúng tôi hạ cánh tới đó nó dường như yên lặng. Bức tranh trên mặt đất thật không dễ chịu. Tôi nhìn thấy một thành phố gần như sụp đổ. Những đám đông xung quanh các đoạn đường đứng cãi nhau, những người lính đi không mục đích trên đường, vũ khí của họ thả lỏng trên vai, không giống như vị trí của lực lượng phòng thủ đang chuẩn bị chiến đấu sinh tử.

Peter Arnett: “Công việc làm tin chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng tới 35 năm nghề phóng viên quốc tế sau này của tôi” – Ảnh tư liệu

>> Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc

Tiếng súng ở Đà Nẵng

Viên chức lãnh sự Mỹ Al Francis hi vọng vận chuyển hàng không như đã định sẽ nhanh chóng di chuyển hàng chục nghìn người di tản. Nhưng buổi sáng hôm sau bức tranh bất ngờ đen tối. Sà lan và thuyền chở người di tản quân sự nhếch nhác từ Huế đổ vào cảng. Những con đường chính gần cảng nhanh chóng tràn ngập những người lính bị tước hoặc mất vũ khí, những đôi vai rũ xuống mệt mỏi. Những người sống sót là con số còn lại của hai sư đoàn bộ binh tốt nhất miền Nam. Những người mà tôi nói chuyện kể tôi nghe về sự sụp đổ hoàn toàn của lực lượng phòng thủ ở cố đô Huế và sự di cư lộn xộn từ các bãi biển dưới làn đạn dữ dội. Điều đó nhắc tôi nhớ tới các câu chuyện đã nghe về cuộc di tản tại Dunkirk trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Cuối buổi chiều, lời đồn đại lan khắp Đà Nẵng rằng những người cộng sản đã tiến vào cửa ngõ thành phố. Tiếng súng vang dội trên đường phố thuyết phục tôi tìm kiếm sự an toàn trong khách sạn, nơi các phóng viên khác đang ở đó. Khoảng nửa đêm, một nhân viên trẻ người Mỹ triệu tập chúng tôi tới lãnh sự. Al Francis vẽ ra một bức tranh tăm tối nhất về tình hình an ninh, ông ta tuyên bố không còn chịu trách nhiệm về sự an toàn của chúng tôi nữa và nói chúng tôi nên rời khỏi thành phố vào buổi sáng. Điều đó tốt cho chúng tôi vì chúng tôi cũng đã chứng kiến đủ.

Tiếng rocket nổ đánh thức tôi, những viên đạn đầu tiên do những người cộng sản bắn trong cuộc tấn công Đà Nẵng. Tôi tự hỏi tốc độ tấn công của Việt cộng. Huế cách 100km về phía bắc sụp đổ ngày 26-3 và bây giờ các đơn vị pháo binh di chuyển qua núi. Chúng tôi tới sân bay trong xe tải của lãnh sự. Có các nhóm người vội vã cùng hướng và tập trung ở cổng sân bay. Giữa buổi sáng, sân bay tắc nghẽn bởi đàn ông, phụ nữ và trẻ em đang muốn rời đi. Đám đông dường như bị kích động và tấn công chuyến bay đầu tiên, chiếc 727 hàng không quốc tế mà chúng tôi đã được đặt chỗ. Cảnh sát an ninh sân bay bắt đầu thét lên và bắn chỉ thiên đẩy đám đông lùi lại, cuối cùng bằng cách nào đó việc khởi hành cũng được thực hiện. Tôi chỉ kịp biết ơn vì đã rời đi an toàn.

Không một cuộc giao tranh

Ba ngày sau, George Esper sử dụng nguồn tin Sài Gòn của anh ta là người đầu tiên viết rằng Đà Nẵng đã rơi vào tay cộng sản. Nhưng chúng tôi nhanh chóng biết rằng “rơi” là từ chưa chuẩn mà phải dùng từ “thổi tung” mới miêu tả chính xác hơn. Một cộng tác viên ảnh người Việt tới văn phòng AP chúng tôi tại Sài Gòn vào cuối tuần đó cùng những bức hình từ biển Đông và Ngũ Hành Sơn nói lên sự thật. Những khẩu pháo và xe tăng đã được chuyển tới Việt Nam từ các kho tiếp viện quân đội Mỹ để bảo vệ Đà Nẵng bị bỏ lại trên các bãi cát vàng, nòng súng không hướng về phía các thung lũng núi.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từng huênh hoang tuyên bố một tuần trước đó rằng vùng đó sẽ được bảo vệ tới người cuối cùng. Nhưng lính của ông ta đã từ bỏ một trong những căn cứ quân sự hùng mạnh nhất ở Thái Bình Dương mà không có một cuộc giao tranh nào.

Đó không chỉ là sự sụp đổ của Đà Nẵng. Điều đó còn thuyết phục tôi rằng Sài Gòn cũng sẽ bị sụp đổ. Vào đầu tháng 4, tôi viết một bài phân tích cuộc tấn công của cộng sản ở thành phố là điều hoàn toàn không thể tránh khỏi. Câu chuyện đó được in ở tờ báo tiếng Anh Saigon Post. Chính phủ đáp lại rằng việc rút lui ở chiến trường là kết quả không tránh khỏi khi tập hợp lực lượng quân đội bảo vệ Sài Gòn và khu vực đông dân cư quanh đó. Sau đó chúng tôi biết vịnh Cam Ranh thất thủ cùng với khu vực dọc bờ biển Nha Trang.

Chủ tịch AP Wes Gallagher gọi tôi trở lại Mỹ để tham gia cuộc họp thành viên hằng năm của AP ở New Orleans. Các nhà xuất bản ở New Orleans hỏi tôi bao lâu thì Sài Gòn sụp đổ. Tôi đoán thành phố sẽ sụp đổ trong tháng. Họ dường như hoảng sợ. Nina Nguyễn – vợ tôi – cũng vậy. Cô ấy nài nỉ được trở lại Sài Gòn cùng tôi, nơi bố mẹ và chị em cô ấy mắc kẹt cùng những người còn lại. Tôi nói với một người bạn rằng tôi sẽ cố gắng hết sức để tiếp cận gia đình Nina. Anh ta nói: “Peter, cậu không đủ nặng ký để làm điều đó”.

Bộ đội tiến vào giải phóng Đà Nẵng ngày 29-3-1975 – Ảnh tư liệu

Tôi thường xuyên bay ra Đà Nẵng trên chiếc C-130 của không quân Hoa Kỳ, ở tại văn phòng cảng không quân 12, một tòa nhà bằng gỗ mới được dựng lên, là nơi dừng chân của binh lính từ Hoa Kỳ tới bắt đầu nhiệm vụ tại Việt Nam và đó cũng là nơi họ được khởi hành về lại quê nhà một năm sau nếu sống sót trong cuộc chiến.

Nếu may mắn tôi sẽ được một xe jeep chờ ở trung tâm báo chí do một lính thủy đánh bộ lái hướng ra khỏi cổng chính để ngắm quang cảnh Đà Nẵng, trong khi anh ta phải bấm còi inh ỏi để luồn lách qua những con phố ồn ào, đông đúc và xe ba gác bán rong, xe khách chở quá tải có nguy cơ đâm vào nhau. Chúng tôi đi dọc dòng sông trong thành phố và thường rẽ quanh Bảo tàng Chăm, một công trình kiến trúc đẹp trưng bày nhiều tác phẩm điêu khắc khéo léo trên đá. Bên kia bờ sông là bóng dáng đồ sộ của những tòa nhà trụ sở chỉ huy của lính thủy đánh bộ, phía xa nữa là biển Đông và những bãi cát hiện ra, màu nước trong xanh ấm áp.

PETER ARNETT (PHẠM HẢI CHUNG dịch)
tuoitre.vn

_________________________________

Trụ sở AP càng ngày càng lo lắng về sự an toàn của chúng tôi khi hồi chuông cảnh báo đã gióng lên quanh Sài Gòn. Chúng tôi được nhắc nhở rằng các tổ chức thông tin Mỹ sẽ đóng cửa, chúng tôi bắt đầu lập kế hoạch đưa mọi người rời khỏi VN.

Kỳ tới: Cuộc rút lui cuối cùng

Tường trình từ Sài Gòn tháng 4-1975 (Kỳ 1)

TT- Trong hơn 13 năm gắn bó với miền Nam VN (1962-1975), Peter Arnett – phóng viên chiến trường nổi tiếng của Hãng thông tấn AP (Mỹ) – đã tận mắt chứng kiến nhiều sự kiện lớn, có những tin tức, phóng sự nóng hổi gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới và giải thưởng báo chí Pulitzer năm 1966.

Từ số này, Tuổi Trẻ trích đăng một phần cuốn sách Từ chiến trường khốc liệt (Live from the battlefield) của Peter Arnett do Nhà xuất bản Thông Tấn xuất bản tháng 4-2009.

Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc

Tất cả các đơn vị hỗ trợ quân đội Mỹ đều rút khỏi miền Nam VN vào tháng 3-1973. Tôi đang ổn định trong một căn hộ mới thuê phía đông Manhattan (New York) và cố gắng từ bỏ những kinh nghiệm ở VN, tiếp tục với các chủ đề khác. Nhưng tôi vẫn còn mềm yếu với những bài hát quyến rũ của VN. Khi các biên tập viên của AP yêu cầu tôi trở lại Sài Gòn vào mùa hè năm 1973, tôi đã không từ chối. Nhiệm vụ của tôi là tìm hiểu xem miền Nam VN có thể tồn tại được không nếu không có sự tài trợ của Quốc hội hay binh lính Mỹ.

Peter Arnett trong thời gian tác nghiệp tại Sài Gòn – Ảnh tư liệu

Băng trên sông

Tôi có linh tính rằng thời điểm chính trị căng thẳng đã tới. Tôi thuê một xe tải Chevy và người lái xe đi từ Sài Gòn ra phía bắc càng xa càng tốt cùng Andrew – đứa con 9 tuổi của tôi. Sau hơn một thập kỷ theo đuổi tin bài trong thành phố và nông thôn dọc các con đường, tôi muốn Andrew chứng kiến để nhớ điều đó trong tương lai khi vùng đất nơi nó sinh ra sẽ có đổi thay.

Trở lại Sài Gòn, tôi phỏng vấn một người quen ở Đại sứ quán Mỹ, một người quan sát hiểu biết sâu sắc tình hình VN tên Frank Scotton, người đưa ra đánh giá thẳng thừng về sự khủng hoảng. Anh ta nói Hoa Kỳ không còn cố gắng trong cuộc chiến nữa cũng như không ngăn chặn nổi việc tiếp quản không thể tránh được của cộng sản.

“Miền Nam VN ngày nay giống như băng trên sông. Bạn có thể bước qua trên băng ngay bây giờ, bạn có thể lăn những viên đá qua nó nhưng con sông bên dưới đang chảy rất nhanh và băng đang tan”. Những trích dẫn từ anh ta làm thành một chuỗi những bài viết ở AP của tôi xuất hiện trên các tờ báo của Mỹ ngày 15-7-1973.

Ngày hôm sau, 16-7, nhân viên báo chí của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Hoàng Đức Nhã, đọc bài báo của tôi trên tờ Pacific Stars And Stripes, gọi tôi tới văn phòng anh ta để quở trách. Lần đầu tiên một nhân viên người Việt thách thức việc tác nghiệp của tôi. Nhã là cháu trai của tổng thống Thiệu, nổi tiếng vì từng thét vào mặt Henry Kissinger trong buổi bàn thảo cuối cùng cho thỏa thuận hòa bình. Bây giờ anh ta thét vào tôi: “Làm sao anh có thể viết những thứ như thế này, đồ rác rưởi, đó không thể là sự thật, chính phủ của tôi muốn trục xuất anh”.

Tôi nói với Nhã bối cảnh chính trị của Mỹ và học thuyết Kissinger, mà tôi hiểu Mỹ có những người bạn không thường niên nhưng có những sở thích thường niên và bây giờ VN không phải là một trong những mối quan tâm hàng đầu của họ. Sự đề cập của tôi tới Kissinger đã làm giảm thái độ của Nhã. Sau một giờ, chúng tôi nói lời tạm biệt thân ái và anh ta không đề cập tới việc trục xuất tôi nữa.

Tảng băng đã vỡ

Peter Arnett (bìa trái) bên ngoài Đại sứ quán Mỹ trong Tết Mậu Thân 1968 – Ảnh tư liệu

Vào cuối tuần thứ ba tháng 3-1975, tảng băng đã vỡ. Tôi đọc tin đó ở tờ New York Times. Nhan đề nói rằng vùng Tây nguyên rơi vào tay cộng sản, các khu đô thị của Kontum, Pleiku và Buôn Ma Thuột cũng đang như vậy. Tôi muốn hét to lên rằng chiến tranh cuối cùng đang kết thúc.

Tôi tới trụ sở AP, nơi biên tập viên Nate Polowetzky đang gập lưng trên máy telex từ Sài Gòn gửi về. “Hãy nhìn này, toàn bộ hỗn độn”, anh ta giật bản mới nhất từ phóng viên George Esper, một câu chuyện về di cư không có tổ chức rộng lớn từ vùng cao nguyên tới ven biển miền Trung. Hàng nghìn người chạy qua những con đường ít được sử dụng. Tôi nói với Nate rằng tôi cảm thấy điều này đang kết thúc và tôi muốn đi tới VN ngay.

Anh ta nói tôi báo cáo với sếp. Chủ tịch AP Wes Gallagher không hoàn toàn bị thuyết phục với niềm tin của tôi. Ông ta còn một năm nữa về hưu và đã dành rất nhiều thẩm quyền của mình cho câu chuyện VN. Nhưng ông ta nắm lấy tay tôi và nói: “Tới đó đi, và chúng ta sẽ cần rất nhiều người chết tiệt hơn tham gia với cậu nếu cậu đúng”. Tôi đã lên đường vào ngày hôm sau.

Sài Gòn choáng váng và tức giận. Người dân thích lờ đi hơn là ủng hộ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã không quan tâm tới số phận chiến trường. Esper gặp tôi ở sân bay nói rằng chính quyền Sài Gòn vừa để mất Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Vùng Tây nguyên đã ra đi. Miền Nam VN bị thu nhỏ một nửa trong vòng một tuần.

Tôi đã nghe về một cuộc đảo chính có thể lật đổ tổng thống, rằng lãnh đạo người Việt bị đổ lỗi về các cuộc rút quân chiến trường. Những người bạn cũ hỏi tôi người Mỹ và những chiếc máy bay B-52 đã cứu họ trước đây giờ ở đâu? Tôi cố gắng giải thích với họ rằng chính sách VN của Mỹ đã hết lòng tin. Vì những lý do hoàn toàn không liên quan tới VN, Nixon rời Nhà Trắng. Tổng thống mới Gerald Ford bị quốc hội hạn chế sử dụng ngân quỹ cho các hoạt động chiến trường ở Đông Nam Á.

Mỗi ngày, những tin bài miêu tả một vùng đất hoàn toàn sụp đổ không ngừng tuôn chảy. Gallagher yêu cầu tăng nhân lực, và một số trưởng phân xã khu vực của AP bay tới Sài Gòn. Trong một cuộc chiến như tại VN, nơi các nhân viên của ông ta đã từng giành được năm giải thưởng Pulitzer, Gallagher quyết tâm duy trì điều thuận lợi có tính chất cạnh tranh tới cùng. Các tổ chức thông tin khác cũng cho thấy sự quan tâm mới trở lại trong câu chuyện.

Trên các con đường tràn ngập lo lắng của Sài Gòn và trong các nhà hàng Pháp, tôi gặp đồng nghiệp báo chí trước đây đã lâu không gặp trong nhiều năm. Tất cả chúng tôi ở đó ghi lại khoảnh khắc cái chết đang đến gần của miền Nam VN, tất cả chúng tôi cùng đặt mức độ biểu cảm trong câu chuyện nhưng cố gắng để nó đi theo cách vốn có.

PETER ARNETT (PHẠM HẢI CHUNG dịch)
tuoitre.vn

________________________

George Esper sử dụng nguồn tin Sài Gòn của anh ta là người đầu tiên viết rằng Đà Nẵng đã rơi vào tay cộng sản. Nhưng chúng tôi nhanh chóng biết rằng “rơi” là từ chưa chuẩn.

Kỳ tới: “Thổi tung”

Sư đoàn 341 trước cửa ngõ Sài Gòn – Phần hai

Chiều hôm trước, địch đã dùng trực thăng đổ lữ dù1 xuống ấp TânPhong .Lực lượng này đã bao vây tiểu đoàn 18 sư đoàn 7. Mờ sáng ngày 11 tháng 4, lực lượng này đã tổ chức phản kích vào khu hành chính dinh tỉnh trưởng và dọc theo đường số 1 về phía tây bắc.

Như vậy nhiệm vụ của sư đoàn càng nặng nề hơn. Phải vừa đánh địch phản kích, giữ vững trận các mục tiêu đã đánh chiếm trong hai ngày qua, vừa tổ chức lực lượng hỗ trợ, giải vây, giải quyết khó khăn cho đơn vị bạn.

Sư đoàn trưởng chỉ thị cho trung đoàn 270 tung tiểu đoàn 6 kết hợp với tiểu đoàn 7 đánh xuống sân bay Cáp Rang; tiểu đoàn 5 đánh sở chỉ huy chiến đoàn 43; tiểu đoàn 9 giữ vững các mục tiêu đã chiếm; tiểu đoàn 4 chuẩn bị đánh giải vây cho tiểu đoàn 18 sư đoàn 7.

5 giờ 30 phút ngày 11 tháng 4, pháo binh bắn 30 phút vào sở chỉ huy sư đoàn 18 và chiến đoàn 43.

6 giờ pháo binh chuyển làn, kiềm chế các trận địa pháo địch ở Núi Thị, Ngã ba Tân Phong. Tiểu đoàn 5 lợi dụng các hè phố, các ngôi nhà nhiều tầng bị bom pháo phá sập, áp sát và tiêu diệt được một số mục tiêu vòng ngoài của chiến đoàn 43. Địch chống cự quyết liệt.

Ở hướng các tiểu đoàn 6 và 7 cũng diễn ra những trận đánh giằng co với địch. Địch mới được tăng viện, chúng sử dụng xe tăng, xe bọc thép cùng bộ binh chống trả điên cuồng. Các đơn vị của ta đã bốn lần đột phá vào sân bay Cáp Rang đều bị chúng đánh hất trở lại.

Tình hình diễn biến không thuận lợi. Hai tiểu đoàn đều gặp khó khăn.

11 giờ ngày 11 tháng 4, địch dùng 48 lần chiếc trực thăng đổ quân tăng viện xuống Ngã ba Tân Phong. Thế là địch đã ném xuống cái thị xã này toàn bộ sư đoàn 18, lữ kỵ binh 3, chiến đoàn 8 sư đoàn 5, các liên đoàn biệt động quân của quân khu 3, các liên đoàn biệt động què quặt của quân khu 1 và 2, thiết đoàn 5 xe tăng (60 chiếc) các tiểu đoàn pháo binh lãnh thổ và lữ dù 1. Chúng ném vào đây đến chín tiểu đoàn bộ binh; chúng đã huy động đến mức cao nhất lực lượng không quân còn lại của Biên Hoà, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ-một cuộc thí quân, thí tướng của Mỹ-nguỵ để kéo dài ngày tận số. Chúng dùng cả bom hơi ngạt ném xuống các khu vực xung quanh thị xã. Chúng còn huy động cả một bộ máy tuyên truyền chiến tranh tâm lý ở Sài Gòn đến Xuân Lộc để lên dây cót tinh thần cho binh lính và chỉ huy.

Với tính chất giằng co ác liệt, Xuân Lộc không còn nằm trong phạm vu của Xuân Lộc và Long Khánh, nó liên quan đến việc mất hay còn của nguỵ quyền Sài Gòn, liên quan đến việc kéo dài ngày giãy chết của chế độ Thiệu.

Trong chiến tranh không phải mọi việc đều diễn ra theo kế hoạch mà đôi khi lại khác hẳn những điều dự kiến trên các bản đồ tác chiến. Và khi đó, mưu trí sáng suốt, bình tĩnh và lòng dũng cảm, sáng tạo của người chỉ huy vó vai trò quyết định.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 tổ chức cách đánh mới: “Khi địch đã dồn quân vào để cố cứu thị xã Xuân Lộc thì ta không cần tập trung lực lượng tiếp tục đánh thẳng vào đấy nữa, mà chuyển lực lượng đánh các đơn vị địch đến phản kích đứng chân chưa vững ở vòng ngoài đang thiếu công sự và thiếu sự hợp đồng chặt chẽ với nhau; dùng pháo tầm xa bắn phá và khống chế liên tục ngày đêm sân bay Biên Hoà, không cho máy bay chiến đấu của địch cất cánh”.

Thực hiện ý đồ trên, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 lệnh cho sư đoàn đưa các tiểu đoàn 5, 6, 9 ra ngoài, tiểu đoàn 7 tiếp tục chốt các mục tiêu trong thị xã.

Đến 21 giờ ngày 12 tháng 4, quân đoàn chỉ thị cho tiểu đoàn 7 lùi ra ngoài và dùng trung đoàn 270 vận động bao vây đánh địch xung quanh khu vực Núi Thị. Trung đoàn 266 khẩn trương củng cố và chuân bị nhận nhiệm vụ.

Sau khi quân ta ra khỏi thị xã, địch liền đưa hai chiến đoàn 43 và 48 của sư đoàn 18, lữ dù 1, thiết đoàn 5 xe tăng tràn vào chiếm lại; dùng chiến đoàn 52 giải toả Ngã ba Dầu Giây do sư đoàn 6 của ta đánh chiếm hôm 10 tháng 4. Chúng dùng các chiến đoàn 315 và 322 từ Trảng Bom dọc theo đường số 1 đánh ra Dầu Giây để nối lại đoạn đường Long Khánh đi Biên Hoà. Chúng tập trung trên 60 khẩu pháo các loại để chi viện.

Lúc này, bộ tư lệnh sư đoàn đã điều trung đoàn 270 đánh địch xung quanh Núi Thị: tiểu đoàn 4, tiểu đoàn 6 đã đánh chiếm được các điểm cao 46, 52 ở phía bắc và đang khép chặt vòng vây quanh Núi Thị. Bộ chỉ huy nhẹ sư đoàn 18 nguỵ đã chuyển đến đây sau khi ta tiến công vào thị xã. Lúc này Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường thêm trung đoàn 95B và sư đoàn 6 mở đợt tiến công đánh chiếm Túc Trưng, tiêu diệt chiến đoàn 52 rồi theo trục đường 20 tiến xuống Ngã ba Dầu Giây và chốt cứng đoạn đường số 1 từ ấp Trần Hưng Đạo đến Ngã ba Dầu Giây. Sau đó, trung đoàn 95B lại đánh lui lữ đoàn 3 kỵ binh từ Biên Hoà ra ứng cứu và giải đoạn đường số 1 do sư đoàn 6 chiếm giữ.

Sang ngày 15, trung đoàn 266 được sư đoàn giao nhiệm vụ thay trung đoàn 95B và sư đoàn 6 cơ động đánh địch từ ấp Hưng Nghĩa, Bàu Cá ra Ngã ba Dầu Giây và chốt cứng ở khu vực đèo Mẹ Bồng Con.

Tiểu đoàn 6 trung đoàn 270 đánh chiếm Gia Kiệm và làm chủ đoạn đường 20 từ Ngã ba Dầu Giây lên Túc Trưng. Cùng ngày, tiểu đoàn 3 diệt sở chỉ huy chiến đoàn 43 trên điểm cao 245 và 292.

Thị xã Xuân Lộc hoàn toàn bị cắt lìa khỏi Sài Gòn, Biên Hoà. Lúc này các chiến đoàn 48, 43 và tiểu khu Xuân Lộc bị ta bắn phá liên tục. Lữ dù 1 bị pháo binh ta bắn chặn không nhích lên được. Các trận địa pháo của địch bị triệt dần. Viên chuẩn tướng Lê Minh Đảo đặt hy vọng vào lực lượng tăng viện, nhưng quân ta với ưu thế áp đảo đã cắt đứt nguồn hy vọng ấy của hắn. Lữ đoàn dù 1 tăng viện bị sa lầy trong đồn điền Trần Thiện Khiêm.

Các lực lượng quân đoàn 3 của tướng Toàn rõ ràng không có hy vọng chọc thủng vòng vây theo đường số 1.Vòng vây đối phương thu hẹp dần.

Đến nửa buổi sáng ngày 19 thì tình hình địch rõ ràng là tuyệt vọng. Từ sở chỉ huy trung đoàn 55, tham mưu trưởng Trần Thìn điện về một chi tiết: Các trận địa pháo của địch bắn lung tung, không có bài bản gì cả, ngay một khẩu pháo cũng bắn không đồ lô, đồng điệu. Qua phân tích, sở chỉ huy đi đến kết luận: Có khả năng địch nghi binh, bắn cho hết đạn pháo để tháo chạy khỏi Xuân Lộc.

Sư đoàn trưởng điện báo cáo lên quân đoàn về tình hình địch và những nhận định sơ bộ của sư đoàn. Quân đoàn ra lệnh: “Sư đoàn 341 khẩn trương triển khai truy kích theo đường số 22 về hướng Bà Rịa-Long Thành”.Lập tức các đơn vị từ bao vây được lệnh chuyển sang truy kích tiêu diệt địch. Trung đoàn 55 pháo binh bắn chặn mãnh liệt vào Ngã ba Tân Phong. Tiểu đoàn 9 vận động về hướng Núi Sóc làm nhiệm vụ đón lõng. Các tiểu đoàn 4, 6, 7 theo đường truy kích về hướng Bà Rịa. Tiểu đoàn 5 tiến công vào thị xã, bắt liên lạc với sư đoàn 7.

Sau khi điện về sở chỉ huy quân đoàn 3 nguỵ ở Biên Hoà, Lê Minh Đảo ra lệnh cho tiểu khu trưởng Xuân Lộc Nguyễn Văn Phúc lập một vòng phòng thủ nhỏ hơn để bảo vệ Xuân Lộc. Còn sư đoàn 18, Đảo cho phép “bí mật rút chạy”.

các lực lượng chủ lực quân đoàn 3 nguỵ rút chạy toán loạn theo đường 22 về Tân Phong và theo đường số 1 về Trảng Bom.

Trung đoàn 55 pháo binh nhanh chóng chuyển trận địa, kịp thời cấu trúc công sự và cấp tập nã đạn pháo vào Ngã ba Tân Phong. Bọn địch đành bỏ xe, pháo, chạy vào rừng cao su về phía Bà Rịa.

Tiểu đoàn 9 chốt cứng tại Ngã ba Núi Sóc và kiểm soát vùng ấp Trần Hưng Đạo. Tiểu đoàn 7 tiêu diệt tiểu đoàn dù ở Ngã ba Suối Tre. Tiểu đoàn 4 vận động phục kích một số tàn quân, diệt 81 tên, bắt sống 125 tên ở điểm cao 22 và ấp Suối Vực. Các tiểu đoàn 6 và 8 truy kích địch trong các lô cao su dọc đường 1, bắt sống 700 tên.

Các lực lượng chủ lực của quân đoàn 3 nguỵ ở mặt trận Xuân Lộc rút chạy đã bị ta chặn đánh kịch liệt. Chúng bị tiêu hao một số lớn, một số chạy thoát về Long Bình, trong đó có cả Lê Minh Đảo và ban tham mưu của y.

Thị xã Xuân Lộc, một vùng đất bình dị ít người biết đến, nay bỗng trở thành một cái tên được cả nước biết đến, và đối với sư đoàn 341, Xuân Lộc đã trở thành một địa danh lịch sử, ghi nhận chiến công của các chiến sĩ Sông Lam.

Cách cửa phía đông Sài Gòn đã mở để đón các lực lượng hùng mạnh của ta vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng-Tổng tiến công vào Sài Gòn-Gia Định.

TRẦN DANH ( Lược thuật)
qdnd.vn

Sư đoàn 341 trước cửa ngõ Sài Gòn – Phần một

Ngày 4 tháng 4 năm 1975, Thiếu tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4 giao nhiệm vụ: “Sư đoàn 341 (thiếu trung đoàn 273) cùng với sư đoàn 7 tiến công tiêu diệt sư đoàn 18 và toàn bộ lực lượng địa phương của địch tại thị xã Xuân Lộc.

Trước cửa ngõ tiến vào Sài Gòn
congannghean.vn

Bọn Mỹ-nguỵ đã chọn Xuân Lộc làm tuyến phòng ngự trọng yếu để bảo vệ Sài Gòn từ phía đông bắc, một phòng tuyến ngăn chặn hai đường tiến của quân ta về Sài Gòn: Đường số 1và đường số 20. Nhà Trắng bảo Thiệu phải: “Bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ cho được Xuân Lộc, nếu để mất Xuân Lộc thì Hoa Kỳ sẽ cắt viện trợ”, “nếu để mất Xuân Lộc thì yếu tố quân sự sẽ tuyệt vọng”… Đại sứ Mỹ Martin cũng khuyên Thiêu: “Quân lực Việt Nam cộng hoà phải lấy tiểu khi Xuân Lộc làm bằng chứng của sự cố thủ đối với Cộng sản”. Nguyễn Văn Thiệu hứa hẹn với quan thầy: “Dù có chết, tôi cũng giữ cho được Xuân Lộc”. Chuẩn tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh sư đoàn 18 nguỵ huênh hoang: “Sẽ đánh một trận oai hùng cho cả thế giới biết…”.

Thiệu đã tập trung vào đây toàn bộ sư đoàn 18 gồm ba chiến đoàn 43, 48, 52; bốn tiểu đoàn bảo an 340, 342, 343, 367; hai tiểu đoàn pháo binh 181, 182; hai chi đoàn xe tăng, thiết giáp của thiết đoàn 5; trên 3.000 dân vệ, quân cảnh và phòng vệ dân sự. Sau này chúng đã ném vào thị xã này lúc cao nhất đến chín chiến đoàn bộ binh, lính dù, lính thuỷ đánh bộ, và sư đoàn 3 không quân trực tiếp chi viện.

Đây là trận đầu tiên sư đoàn 341 đánh tập trung hiệp đồng binh chủng, có trang bị kỹ thuật lớn vào một thị xã. Trong lúc đó, các đơn vị đang trên đường hành quân vào vị trí tập kết, có đơn vị chưa đến kịp,thời gian rất khẩn trương. Tuy nhiên sau vài ngày trinh sát, phương án tác chiến của sư đoàn được Bộ tư lệnh Quân đoàn phê chuẩn.

Ngày 8 tháng 4, giờ “G” chỉ còn 10 phút nữa, nhưng sương mù vẫn còn dày. Sư đoàn điện lên quân đoàn xin kéo dài thêm 10 phút nữa cho sương tan bớt, nhìn mục tiêu rõ hơn. Kim đồng hồ chỉ đúng 5 giờ 40 phút ngày 9 tháng 4, giờ quyết định khai tử tiểu khu Xuân Lộc bắt đầu. Pháo chiến dịch và các trận địa pháo của trung đoàn 55 đồng loạt nhả đạn. Quả đạn 85 đầu tiên bắn trực tiếp, phá tung cụm ăng-ten của khu trung tâm thông tin. Quản lựu pháo 122 đầu tiên cũng bẻ gãy nốt cột ăng-ten trên đỉnh Núi Thị.

Bọn địch trong tiểu khu Xuân Lộc gào bọn pháo binh chi viện. Các trận địa pháo địch ở Núi Thị, Suối Tre, Ngã ba Tân Phong bắn như vãi đạn dọc đường số 1 về phía bắc-tây bắc. Máy bay trinh sát vè vè trên bầu trời. Máy bay AD.6, A.37, F.5 điên loạn, lồng lộn chúc đầu xuống trút bom. Các trận địa cao xạ 37 kịp thời nhả đạn, hất ngược chúng lên.

Đúng 6 giờ 40 phút, hai phát pháo hiệu đỏ rực bay vụt lên bầu trời.Các chiến sĩ bộ binh vọt dậy lao qua cửa mở, đánh thẳng vào các căn cứ. Tiểu đoàn 7 tiến công trên hướng tây bắc-hướng tiến công chủ yếu vào mục tiêu. Tiểu đoàn 5, hướng đông bắc, tiểu đoàn 9 kẹp sườn bên phải tiểu đoàn 7.

10 giờ, các đơn vị đã cơ bản làm chủ các mục tiêu được phân công. Đến 11 giờ, địch điều tiểu đoàn 1 chiến đoàn 48 từ Ngã ba Tân Phong đến phản kích ở hướng tây bắc và điều tiểu đoàn 2 chiến đoàn 52 từ Gia Tân đánh vào bên sườn trung đoàn 266, nhằm bịt cửa của ta. Chúng còn điều một chi đội xe tăng từ ấp Tân Xuân, men theo đường Quang Trung, chọc một mũi qua Ngã tư đường Hoàng Diệu, kết hợp với các tiểu đoàn 1, chiến đoàn 48 phản kích, nhằm chiếm lại các mục tiêu tại khu vực dinh tỉnh trưởng. Mặt khác, địch dùng máy bay, pháo binh bắn bừa bãi và dọn đường cho bộ binh tiến công, đồng thời ngăn chặn ta phát triển xuống sân bay.

Lúc này, sư đoàn trưởng lệnh cho trung đoàn 270 tung tiểu đoàn 4 hiệp đồng với tiểu đoàn 9 đánh tạt sườn quân địch đến phản kích.Tiểu đoàn 1 chiến đoàn 48 nguỵ từ Ngã ba Tân Phong vừa mon men đến lô cao su sát đường số 1 ở hướng tây bắc, bị tiểu đoàn 9 đánh hất trở lại, lại bị tiểu đoàn 4 đánh tạt sườn phải lùi về vị trí cũ.

Trong thị xã, tiểu đoàn 7 tổ chức lực lượng gọn nhẹ, lợi dụng các dãy phố, các căn nhà nhiều tầng, tiến sát ngã tư đường Hoàng Diệu-Quang Trung bắn cháy bốn xe tăng, tiêu diệt một số bộ binh. Tiểu đoàn 5 bắn cháy hai chiếc khác ở đoạn ngã tư đường sắt.

Âm mưu phản kích của địch tạm thời bị bẻ gãy. Qua một ngày chiến đấu, ta tiêu diệt và làm tan rã một số lớn quân địch, bắt sống 235 tên, bắn cháy bảy xe tăng, làm chủ các mục tiêu được quân đoàn phân công.

Bộ tư lệnh sư đoàn nhận định: Địch bị đánh bất ngờ, đối phó lúng túng. Nhưng ở hướng chủ yếu của quân đoàn gặp khó khăn và không đánh trúng các mục tiêu, nên chiến đoàn 43 địch còn tăng cường lực lượng để phản kích, giành lại các vị trí đã mất.

Về ta, trung đoàn 266 phát triển thuận lợi, tinh thần chiến đấu tốt, nhất là tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 7. Nhưng do chuẩn bị vật chất chưa tốt, đạn hết, nên tốc độ tiến công và phát triển có chậm. Tiểu đoàn 4 đánh vận động tuơng đối tốt, đã bẻ gãy đợt phản kích của tiểu đoàn 2 chiến đoàn 52, bảo vệ tốt cạnh sườn cho trung đoàn 266. Bộ tư lệnh sư đoàn chủ trương: Kiên quyết giữ vững những mục tiêu đã chiếm. Suốt đêm 9 tháng 4, các đơn vị triển khai thực hiện các chủ trương trên.5 giờ 27 phút ngày 10 tháng 4, pháo binh ta bắn vào một số mục tiêu còn lại trong thị xã. 5 giờ 47 phút, pháo binh ngừng bắn. Tiểu đoàn 9 hình thành hai mũi tiến công vào toà hành hcính. Tiểu đoàn 5 phát triển xuống sân bay Cáp Rang. Tiểu đoàn 7 đánh vào căn cứ Lê Lợi, nơi đồn trú của hai tiểu đoàn 343 và 367 bảo an.

Đêm 9 tháng 4, địch đã củng cố lại các khu vực trong thị xã. Do đó yếu tố bất ngờ không còn nữa. Địch đã chủ động đối phó ngay khi lực lượng xung kích của ta áp sát hàng rào. Tiểu đoàn 7 đã năm lần tổ chức đột phá vẫn không thủng. Số thương vong ngày một cao. Được chiến sĩ bộ binh chỉnh tầm, chỉnh hướng, các trận địa pháo của ta đã phá tung một loạt công sự vòng ngoài, ghìm cứng bọn địch trong các công sự. Căn cứ Lê Lợi chìm trong lửa và khói. Lực lượng xung kích tiểu đoàn 7 lợi dụng thời cơ phá tung hàng rào. Pháo vừa ngừng, các mũi đột kích đã thọc sâu vào căn cứ. Một trận đánh bằng lựu đạn, lưỡi lê diễn ra ác liệt. Đến 18 giờ, tiểu đoàn 7 làm chủ chiến trường, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn bảo an 343 và 367.

Ở hướng tiểu đoàn 9 cũng diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt giữa chiến sĩ ta với tiểu đoàn 2 chiến đoàn 43.

Mờ sáng ngày 10 tháng 4, được chiến đoàn xe tăng 81 chi viện, tiểu đoàn 2 địch mở đợt phản kích hòng đánh chiếm lại khu vực nhà thờ và toà hành chính. Tiểu đoàn 9 đã giành giật với địch từng ngách phố, căn nhà, từng đoạn hào giao thông nhỏ.

Đêm 10 tháng 4 là một đêm đấu pháo quyết liệt. Địch dùng hàng chục trận địa pháo với 86 khẩu đủ loại 105; 106,7; 155 cùng hàng chục lần máy bay ném bom phá hoại các khu vực đã bị ta đánh chiếm trong hai ngày qua. Chúng phản pháo vào các trận địa của ta, đồng thời bắn chặn các con đường từ hậu cứ dẫn vào thị xã. Máy bay C.130 xổ từng tràng đạn 120mm. Chúng định làm thành một rào lửa ngăn chặn, không cho ta tiếp đạn và giải quyết thương binh. Chúng định huỷ diệt toàn bộ lực lượng ta còn bám trong thị xã.

Nhưng các tiểu đoàn 5, 7, 9 vẫn kiên cường bám trụ, vừa củng cố công sự, vừa chuẩn bị tư thế đánh địch phản kích trong ngày mai.

4 giờ sáng ngày 11 tháng 4, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 lệnh cho sư đoàn 341 tổ chức một lực lượng đánh vào sở chỉ huy chiến đoàn 43 và một lực lượng đánh xuống sân bay Cáp Rang, bắt liên lạc với sư đoàn 7…

TRẦN DANH ( lược thuật)
qdnd.vn

(Còn nữa)

Công bố tài liệu mật của chính quyền Sài Gòn

Cuốn sách chứa những thông tin tuyệt mật, cung cấp một góc nhìn về cuộc chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1973-1975 qua nguồn tài liệu của chính quyền Sài Gòn.

Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, NXB Chính trị quốc gia giới thiệu đến bạn đọc 12 ấn phẩm nhằm phục vụ cho những ngày lễ lớn. Nội dung của những ấn phẩm này bao gồm nhiều tư liệu quý giá, giúp độc giả tìm hiểu và nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc…

Ấn phẩm chứa các tài liệu về chính quyền Sài Gòn cũ lần đầu được công bố.

Trong đó, ấn phẩm “Về đại thắng mùa xuân 1975 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn” do Trung tâm lưu trữ quốc gia II thuộc Bộ Nội vụ tuyển chọn là những tư liệu lần đầu được công bố, chia sẻ một phần “bí mật” về động thái của giới cầm quyền Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong cơn tuyệt vọng.

Cuốn sách này cũng cung cấp một góc nhìn về cuộc chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1973-1975 qua nguồn tài liệu của chính quyền Sài Gòn, trong đó có những tài liệu khẩn, mật của chính quyền Sài Gòn cũ về kế hoạch tái thiết phát triển cho năm 1974 (khi lực lượng quân đội giải phóng ngày càng phát triển mạnh); Báo cáo về nhu cầu viện trợ đối với Hoa Kỳ khi “phong trào” cầu viện diễn ra rầm rộ tại vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát vào thời điểm này.

Đặc biệt, cuốn sách trích dẫn bài nói chuyện của Nguyễn Văn Thiệu (người đứng đầu chính quyền Việt Nam Cộng hòa) về tình hình lúc bấy giờ và bài diễn văn từ chức của ông Thiệu vào tối 21/4/1975. Ngoài ra nhiều tài liệu liên quan đến hội nghị quốc tế về Việt Nam 26/2/1973 và tiến trình của hiệp định Paris cũng được công bố.

Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Văn Tất Thu, đây là những tài liệu chứa thông tin tuyệt mật trong số 7.000 mét tư liệu mà quân giải phóng đã tiếp quản được khi chính quyền Sài Gòn cũ sụp đổ. Những tài liệu được xuất bản này chỉ là một con số rất nhỏ trong khối tài liệu lưu giữ.

Bìa ấn phẩm về chiến lược đấu tranh cách mạng qua hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được NXB Chính trị quốc gia công bố nhân dịp kỷ niệm 35 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Trong cuốn sách “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng“, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại những quyết sách chiến lược, đường lối chủ trương chiến đấu trên cương vị người chỉ huy quân sự, một chứng nhân lịch sử.

Một số tư liệu quan trọng khác: “Võ Nguyên Giáp – danh tướng thời đại Hồ Chí Minh” “Lịch sử đấu tranh của các chiến sỹ yêu nước và cách mạng nhà tù Côn Đảo”, “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – Những mốc son lịch sử”… cũng được giới thiệu đến bạn đọc cả nước trong dịp này.

Hải Duyên
vnexpress.net

Nữ biệt động kiệt xuất Lê Hồng Quân – Kỳ cuối

Được công nhận sau 34 năm

Chị Quân (thứ tư từ phải sang) và đồng đội cũ trong một buổi họp mặt ảnh do chị Quân cung cấp

Sau ngày hòa bình, ngoài 23 lần lên bàn mổ lấy miểng đạn ra, phần lớn thời gian còn lại, chị chống nạng đi “gõ cửa” cơ quan chức năng để được công nhận sự tồn tại của tiểu đoàn; vừa làm chính sách cho đồng đội còn sống, làm thủ tục công nhận liệt sĩ cho đồng đội hy sinh.

Chị cho biết, thập niên những năm 80 – 90, chị và một số cán bộ của tiểu đoàn nhiều lần dùng tiền lương hưu của mình, bỏ công đi tìm đồng đội, để nếu có ai chưa được hưởng chính sách Nhà nước theo quy định thì xác nhận cho họ. Số lượng hồ sơ chính sách được các chị xác nhận đến nay đã lên 200 người.

Chị Quân kể thêm: Có một chị tên là Thu Ba không có cha, được mẹ sinh ra trong Bệnh viện Từ Dũ. Mẹ chết tại bệnh viện, Thu Ba về ở với bà ngoại ở ngã tư Bảy Hiền – Tân Bình. Bà ngoại chết, còn lại một mình Thu Ba vừa làm công nhân dệt ở Bảy Hiền vừa tham gia các phong trào đấu tranh của công nhân.

Cô được kết nạp Đảng, sau đó gia nhập lực lượng biệt động của Tiểu đoàn Lê Thị Riêng và hy sinh trong đợt tổng tiến công Mậu Thân. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, chị Quân xác nhận, Thu Ba đã hy sinh và mang hồ sơ đến cơ quan chức năng. Người tiếp nhận hồ sơ bảo chị phải ghi cho đủ hai địa phương là “quê quán ở đâu”, “nơi hy sinh” thì mới công nhận liệt sĩ cho Thu Ba được. Chị Quân cho biết nơi hy sinh thì chị xác nhận được. Còn quê quán ở đâu ra, dù đã rất cố gắng các chị cũng không thể biết được. “Cung cấp đại cho họ hai địa danh thì dễ thôi. Nhưng như vậy hóa ra tôi nói láo với Nhà nước à?”.

Trường hợp của nữ liệt sĩ Vũ Thanh Nghiệp cũng vậy. Thời chiến tranh không ai còn thời gian đi sâu vào hoàn cảnh gia đình từng người, hay quê quán của nhau làm gì. Những điều đó lại là “tối kỵ” của lính biệt động đang hoạt động trong lòng địch, các chị cũng chỉ biết mang máng rằng hai mẹ con Nghiệp từng sống nghèo khổ trong một cái chòi bên bờ rạch Cây Bàng, quận 4. Mẹ chết, Nghiệp được các chị giác ngộ đưa vào hoạt động trong phong trào đấu tranh “thanh niên phụng sự lao động”; được kết nạp Đảng và sau đó gia nhập lực lượng biệt động Lê Thị Riêng với chức vụ Tiểu đội trưởng Tiểu đội 3, Trung đội 2 của tiểu đoàn.

Chị Nghiệp hy sinh trong đợt tấn công vào Sài Gòn đợt 2-1968. Không biết quê quán chị Nghiệp ở đâu. Chị cũng không còn ai thân thích nên không thể hoàn tất được hồ sơ công nhận liệt sĩ theo yêu cầu của cơ quan chức năng…

Vẫn với giọng xúc động mạnh, chị Quân nói như khóc: “Tôi chỉ muốn những đồng đội của tôi được Nhà nước ghi công, để họ được ghi tên vào bia tưởng niệm Bến Dược. Thế thôi! Chứ nào có ai nghĩ đến tiền tử tuất hay trợ cấp gì đâu!”. Nhưng cho đến nay các chị Thu Ba, chị Nghiệp và nhiều đồng đội nữa của chị đã hy sinh, vẫn không có tên trong hồ sơ các liệt sĩ. Chị hay nói đến cụm từ rất buồn “để họ đừng chết hai lần”, có lẽ là nói về những trường hợp này.

Chị Quân không nói, nhưng chúng tôi biết Tiểu đoàn Lê Thị Riêng và 3 cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn đã được đề nghị Nhà nước phong tặng và truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Trong số 3 người được đề nghị phong tặng danh hiệu cao quý này, có Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Quân.

Nhưng trước khi được đề nghị Nhà nước vinh danh Anh hùng, Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng đã từng bị bỏ quên suốt 34 năm, kể từ khi đơn vị này được thành lập.

Một sự thật lạ lùng đến khó tin! Đơn giản là vì không còn giấy tờ gì (như Quyết định thành lập đơn vị) để chứng minh rằng đã có một “Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng” tồn tại trong một giai đoạn lịch sử quan trọng trước 1975. Ngay cả Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Quân cũng không chứng minh được khi giao dịch hành chánh cần đến loại giấy tờ này.

Như đã nói, Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng ra đời và giải thể, những người còn sống, một số chuyển sang đơn vị khác, phần lớn thì… ai về nhà nấy. Với người đi làm cách mạng, đất nước thống nhất, mục tiêu của đại cuộc đã hoàn thành là coi như xong phận sự. Không ai có nhu cầu phải có Quyết định thành lập tiểu đoàn để làm gì. Chỉ khi các chị có ý định thành lập Ban liên lạc Tiểu đoàn; đặc biệt là khi làm chính sách, hồ sơ công nhận liệt sĩ… thì các chị mới tá hỏa là cần phải có đủ giấy tờ để chứng minh: Anh, chị ở đơn vị nào? Đơn vị thành lập ngày nào? Ai ký quyết định thành lập?… Chị Quân: “Chiến tranh mà. Hễ có lệnh là làm, đâu có ai đòi hỏi phải có quyết định mới làm đâu”.

Chị cho biết, chính ông Bảy Bình (Nguyễn Thái Sơn, Phó bí thư Khu ủy Sài Gòn Gia Định) thay mặt Bộ Chỉ huy Tiền phương Nam truyền đạt tinh thần thành lập tiểu đoàn, giao cho chị phụ trách, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ông. Kết thúc tổng tấn công đợt 1, để chuẩn bị cho đợt 2 (1968), chị Quân nhận lệnh từ ông Bảy Bình đưa quân ém, sau đó chiến đấu tại địa bàn Quận Nhì và tăng cường cho Quận 4.

Hội nghị bàn việc thành lập tiểu đoàn diễn ra vào cuối tháng 2.1968 người chủ tọa là ông Trần Bạch Đằng lúc đó là Bí thư phân khu nội đô. Tham dự hội nghị này có bà Nguyễn Thị Tấn (Ba Hồng) – Khu ủy viên T4 (biệt động thành Sài Gòn) kiêm Bí thư Đảng ủy 36 chợ Sài Gòn – Gia Định; có thiếu tướng Võ Văn Thạnh – Chính ủy phân khu nội đô và một số vị lãnh đạo trong Tư lệnh Thành. Hôm đó bà Tấn đã đề nghị lấy tên Lê Thị Riêng, một cán bộ trung kiên đã bị địch bắt và giết trong chiến dịch Mậu Thân, làm tên tiểu đoàn.

Sau này, trong một bức thư tay gửãi chị Lê Hồng Quân đề ngày 15.4.1979 ông Trần Bạch Đằng cũng xác nhận đã từng có một Tiểu đoàn nữ biệt động hoạt động tại Sài Gòn. Trong thư ông viết: “Vì bí mật bất ngờ tiến công địch nên tôi trực tiếp giao nhiệm vụ cho 6 Xuân (chị Lê Thị Bạch Cát, Bí thư Quận Đoàn 2, đã hy sinh – NV) và Hồng Quân phụ trách 2 lực lượng biệt động đồng khởi của Quận Đoàn 2 và Tiểu đoàn Lê Thị Riêng…”.

Nhưng Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng vẫn chưa thể có “pháp nhân” chính thức do không có quyết định thành lập. Người trực tiếp lãnh đạo đơn vị này là ông Nguyễn Thái Sơn (Bảy Bình) cũng đã hy sinh. Không ít ý kiến khác nhau về việc này. Có người cho rằng đó chỉ là lực lượng du kích từ các nơi đưa về tăng cường cho Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân, không có đơn vị biệt động nào mang tên Lê Thị Riêng cả…

Chỉ có đồng đội còn sống của chị Quân và hương hồn những người lính biệt động thành đã khuất là chứng nhân lịch sử cho sự kiện này, rằng chính các chị đã chiến đấu đến cùng để không hổ danh người nữ anh hùng liệt sĩ mà tiểu đoàn các chị vinh dự được mang tên.

Ý kiến nhiều nhưng sự thật chỉ có một. Sau nhiều cuộc họp, cuối cùng ngày 12.9.2002, tức 34 năm sau ngày Tiểu đoàn Lê Thị Riêng được thành lập, ông Võ Văn Cương, Phó bí thư thường trực Thành ủy TP.HCM đã thay mặt Ban Thường vụ Thành ủy ký Quyết định (số 413-QĐ/TU) “Công nhận việc thành lập Tiểu đoàn Lê Thị Riêng” – tức Tiểu đoàn nữ biệt động nội thành Sài Gòn; kết thúc cuộc tranh cãi kéo dài về một tiểu đoàn anh hùng.

Tuy đã tìm lại được “danh phận” cho tiểu đoàn của mình, nhưng chị Quân vẫn còn nhiều việc phải làm. Và rồi đây chị sẽ còn mất nhiều thời gian đi tới đi lui nữa, để những đồng đội của chị còn nằm ở đâu đó dưới lòng đất Sài Gòn có thể yên nghỉ.

Nguyên Thủy – Văn Nhiều
thanhnien.com.vn

>> Kỳ 2: Chinh phục giang hồ Sài Gòn
>> Kỳ 1: Tuổi thơ dữ dội

Nữ biệt động kiệt xuất Lê Hồng Quân – Kỳ 2

Chinh phục giang hồ Sài Gòn

Chị Lê Hồng Quân – ảnh: N.T

Chuyện chưa xong, chị Lê Hồng Quân nói mệt, phải nghỉ để mai đi tỉnh sớm, làm… chính sách. Trong tập hồ sơ dày cộm chị cầm, chúng tôi thấy có nhiều trường hợp là nam giới.

“Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng, sao lại có nam?”, khi gặp lại chị, chúng tôi thắc mắc. Chị giải thích, ban đầu đa số là nữ, nhưng về sau phải tuyển thêm nhiều nam do yêu cầu của hoàn cảnh thực tế chiến đấu. Thành ra, danh nghĩa là đơn vị nữ biệt động, nhưng có tới gần một nửa nam giới. Nhiều người đã nhầm lẫn chi tiết này, chị đề nghị chúng tôi thông tin lại cho rõ.

Những năm 1966-1967, chính quyền Sài Gòn ráo riết lùng sục vây “bắt lính”. Lúc đó, số cán bộ tăng cường từ Cần Thơ lên Sài Gòn – Gia Định (SG-GĐ) do ông Nguyễn Thái Sơn (Bảy Bình), Phó bí thư Khu ủy SG-GĐ trực tiếp chỉ đạo (ông Trần Bạch Đằng lúc đó là Bí thư Khu ủy). Lực lượng này nhận lệnh từ Khu ủy, bí mật trà trộn vào nội thành nhận nhiệm vụ vừa cài đặt cơ sở cách mạng, vừa tổ chức thanh niên chống lại các đợt “tổng động viên” của chính quyền cũ. Phong trào được phát động chủ yếu ở các khu lao động nghèo, có nhiều thanh niên trốn quân dịch như Khánh Hội, Tôn Đản, Cây Bàng, Vĩnh Hội (Q.4); khu lao động ở đường Nguyễn Thông nối dài ( Q.3); các khu Bảy Hiền, Mã Lạng… Để có thể đấu tranh phản ứng, tạo chướng ngại vật, cản đường lùng sục của lính và cảnh sát, ít nhiều phải có vài ngón… võ thuật; có chút máu “giang hồ” càng tốt. Tất cả những yêu cầu này đều được các cơ sở nội đô của chị Quân đảm nhận, bí mật đưa người xuống giúp dân.

Khi thực hiện các công việc này lực lượng nữ biệt động SG-GĐ đã tiếp cận và thuyết phục nhiều tay giang hồ có máu mặt ở quận 4 đang trốn lính. Chính các “tay anh chị” này đã ném tối hậu thư vào nhà các tên chuyên “theo đóm ăn tàn”: nếu chỉ điểm người trốn lính cho cảnh sát bắt, thì sẽ bị trừng trị thích đáng! Quá sợ hãi, bọn chỉ điểm và quan quyền đương chức quận 4 đã phải cầu hòa, thông qua sự dàn xếp của “đàn anh” Lê Văn Bi đang là tài công giỏi của hãng RMK. Anh này mặc dù không lập băng, nhóm nhưng nhờ giỏi võ thuật và rất có nghĩa khí nên được giới giang hồ kiêng nể như một… đại sư huynh. Những tên chỉ điểm cũng không ngờ chính sư huynh Lê Văn Bi là người đã được các nữ biệt động cảm hóa, nhận dạy võ cho các nhóm thanh niên chống bắt lính trong các khu lao động. Nhờ mối liên lạc ấy mà rất nhiều tin tức quan trọng của chính quyền cũ, kể cả các cuộc bố ráp bắt lính, đại sư huynh Bi đều biết, báo lại cho lực lượng nữ biệt động SG-GĐ, từ đó truyền tai đến các xóm lao động.

Nhắc đến vị hảo hán này, chị Quân không ngớt trầm trồ. Chị kể, nhiều chị em được quân ta cài vào RMK đã tận mắt thấy Lê Văn Bi dám “bạt tai” một tên cai và cảnh cáo: “Mẹ! Làm công ăn lương thì biết ăn lương thôi. Sao lại ỷ thế hà hiếp công nhân?”. Từ hạt nhân Lê Văn Bi, phong trào phản kháng giới chủ ở RMK lên cao. Khi biết giới chủ và chính quyền cũ có ý định sa thải hơn 600 công nhân quân cảng Sài Gòn, thay vào đó là công nhân đến từ Philippines để bốc xếp các loại vũ khí, hóa chất bí mật, Lê Văn Bi cùng với chị em công nhân được cài vào đã đình công tập thể. Theo lời chị Quân, cuộc đấu tranh lần đó đã kéo theo nhiều nghiệp đoàn lao động các nơi khác, làm thất bại âm mưu của địch.

Khi đã phát triển đông quân số, cuối năm 1967 cánh cán bộ hoạt động bí mật nội đô SG-GĐ chính thức trở thành đơn vị nữ biệt động SG-GĐ, tiền thân của Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng sau này. Đơn vị do chị Quân phụ trách, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Khu ủy SG-GĐ. Đại sư huynh Lê Văn Bi sau đó trở thành quyền Trung đội trưởng Trung đội 3 của đơn vị này. Một số tay “anh chị” khác cũng theo gương anh Bi, “rửa tay gác kiếm” để trở thành chiến sĩ biệt động của cách mạng.

Sau đợt tổng tấn công vào Sài Gòn dịp Tết Mậu Thân, lực lượng biệt động SG-GĐ được lệnh đưa quân vào “ém” tại các cơ sở nòng cốt đã được đơn vị này bí mật xây dựng, chủ yếu tại các căn cứ ở quận nhì (nay thuộc quận 1-TP.HCM) và quận 4 để chờ đợt tấn công mới. Chỉ đạo của Đảng ủy và Bộ chỉ huy tiền phương đối với lực lượng này là “cờ phất, giờ điểm là hành động, không trông chờ, không ỷ lại ngoại viện…”. Theo hợp đồng, hỏa lực mạnh của ta sẽ nã phủ đầu cơ quan đầu não địch để biệt động đồng loạt tấn công các bót, ty cảnh sát ngụy. Đến “giờ G”, không hiểu vì trục trặc sao đó, nên hỏa lực ta đã không nổ như dự kiến. Dù vậy, lực lượng biệt động SG-GĐ vẫn quyết tâm xung trận. Loa phóng thanh được sử dụng để phát lệnh tấn công vang lên oang oang tại các đường Đề Thám, Cô Bắc, Cô Giang, Nguyễn Thái Học, Bến Chương Dương, Bùi Viện… nhằm lung lạc tinh thần địch quân. Cánh biệt động do Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Quân phụ trách (lúc này đã mang tên Tiểu đoàn Lê Thị Riêng) triển khai tấn công quyết liệt tại đường Đề Thám. Bà con hẻm 83 Đề Thám hỗ trợ bằng cách lăn ống cống và vứt nhiều vật dụng khác ra đường làm chướng ngại vật, phòng ngừa xe tăng địch tiến vào phản công. Cuộc chiến đấu tại đây diễn ra ác liệt, giằng co suốt đêm 4.5.1968. Sáng hôm sau địch quân phản công dữ dội. Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Quân bị thương gãy tay. Để khỏi vướng cánh tay đang lủng lẳng, chị nhờ đồng đội Lê Thị Bạch Cát (6 Xuân) cắt hộ để tiếp tục chiến đấu thu hút hỏa lực địch về mình, tạo điều kiện cho đồng đội rút lui tránh bớt thương vong. Nhưng thương bạn, Bạch Cát không cắt. Chị Quân phải tự rút dao găm cắt tay mình. Đến trưa cùng ngày, Bạch Cát và nhiều chiến sĩ biệt động khác hy sinh. Hết đạn và kiệt sức, chị Quân bị địch bắt.

Mẹ chị, bà Lê Thị Xuân, cán bộ phụ vận Sài Gòn cũng bị bắt sau đó không lâu. Chính quyền cũ giam hai mẹ con cùng một phòng giam. Lúc thì chúng tra tấn mẹ trước mặt chị; lúc thì tra tấn chị trước mặt mẹ. Đòn roi và nhiều trò tra tấn dã man khác đã trút xuống hai mẹ con từ các nhà tù trong đất liền đến “chuồng cọp” Côn Đảo. Nhưng trước sau hai người nhất quyết không nhận nhau là mẹ – con.

Sau Hiệp định Paris, năm 1974 hai mẹ con chị được trao trả tù binh tại sân bay Lộc Ninh. Chị Quân kể, 6 năm ở tù chung với mẹ, nhiều lần chị muốn gọi “mẹ” nhưng không gọi được. Hôm trở về với cách mạng cùng với mẹ, chị đã kêu “Mẹ ơi!” thật to và khóc. (Còn tiếp)

Kỳ 1: Tuổi thơ dữ dội

Nguyên Thủy – Văn Nhiều
thanhnien.com.vn