Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình

– Ngày 13/1/1960, cách đây tròn nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban bố Luật Hôn nhân và Gia đình. Luật đã được kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá II thông qua.

Trong bài nói tại Đại hội Đại biểu nhân dân Hà Nội diễn ra vào buổi tối cùng ngày ký sắc lệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ ý: “Thưa đồng bào yêu quý. Chúng ta đều nhất trí xác nhận rằng kỳ họp lần thứ 11 của Quốc hội đã đạt được kết quả rất to lớn và ảnh hưởng sâu xa. Như Luật Hôn nhân và Gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta. Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình quyền, gia đình thật sự hạnh phúc. Toàn thể đồng bào ta đều nhiệt liệt hoan nghênh đạo luật chí tình chí lý ấy”.

Tháng 1/1959, Hồ Chí Minh thăm Viện Bảo tàng Lịch sử Việt NamTháng 1/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Kỳ họp thứ 11của Quốc hội khoá I diễn ra tại Nhà Hát lớn thành phố Hà Nội từ ngày 18 đến 31/12/1959 có nhiều nội dung quan trọng trong đó có việc sửa đổi Hiến pháp và thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình.

Liên quan đến bộ Luật này, bà Lê Thị Xuyến thay mặt Tiểu ban soạn thảo trình bày văn bản dự thảo, tiếp đó các đại biểu sôi nổi thảo luận về căn bản tán thành bộ luật quan trọng này. Bác Hồ góp ý rằng dự thảo dùng nhiều chữ Hán – Việt, cần sửa để dân dễ hiểu và làm theo; đại biểu Công giáo của tỉnh Hà Tĩnh là ông Vương Đình Long không tán thành “ly hôn” vì nó trái với giáo lý của Đạo…

Sau cùng Bác phát biểu: “Quốc hội đã phát biểu sôi nổi, thế là tốt. Tuyệt đại đa số các đại biểu tán thành Luật Hôn nhân và Gia đình, có một đại biểu không tán thành. Đó là vấn đề tôn giáo. Chúng ta tôn trọng tự do tín ngưỡng. Xã hội luôn luôn biến đổi, tiến lên mãi không bao giờ thụt lùi. Đó là quy luật. Chúng ta ra Luật Hôn nhân tức là luật lấy vợ lấy chồng, xây dựng gia đình.

Vì sao trong luật đó lại có điều khoản nói đến ly hôn, tức là bỏ vợ, bỏ chồng? Chính vì chúng ta còn ảnh hưởng của chế độ phong kiến cũ, còn có những đôi vợ chồng bị ép buộc lấy nhau không chung sống với nhau được nữa. Luật phải cho phép họ bỏ nhau để giải phóng cho họ.

Nhưng sau này, nếu ta áp dụng tốt Luật Hôn nhân và Gia đình, tình trạng ép buộc không còn nữa, gia đình chúng ta xây dựng sẽ hoà thuận, hạnh phúc, thì những điều khoản về ly hôn mà đại biểu Vương Đình Long lo lắng sẽ không cần nữa. Tức là nếu chúng ta áp dụng tốt Luật Hôn nhân và Gia đình, thì sau này, trong một thời gian ngắn, xã hội tiến lên, con người tiến lến, ly hôn sẽ không còn nữa”.

Sáng 29/12/1959, Quốc hội biểu quyết với 193 phiếu thuận và 1 phiếu không biểu quyết. Bác phát biểu:“Đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử. Thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình là nhiệm vụ của toàn dân…”.

X&N

bee.net.vn

“Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”

– Trong một bức thư chia buồn gửi tới Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam, Bác đã nói: “Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”.

Ngày 11/1/1946, từ Thái Bình Bác đi thăm tỉnh Nam Định. 7 giờ sáng, đông đảo nhân dân đã tề tựu trước Uỷ ban Hành chính thành phố nghe vị Chủ tịch nước nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói.

Sau đó Bác đến thăm và chia quà cho trẻ em ở Trại mồ côi Nam Định. Tại đây, Bác cảm động nói với bà Phước: “Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”.

Tình cảm của một người Cha trong gia đình đời thường, một năm sau đó (1/1947) được Bác thể hiện như một lời tâm tình trong bức điện gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam. Đó cũng là một bức điện chia buồn khi Bác được tin người con trai của Bác sĩ Tụng vừa hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp. Thư viết :

“Thưa Ngài, Tôi được báo cáo rằng, con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để gìn giữ đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc… Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc Ngài sẽ ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng…”

X&N
bee.net.vn

“Vực thẳm thuộc địa”

– “Vực thẳm thuộc địa” là tên của một bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc đăng trên tờ “L’ Humanité” số ra ngày 9/1/1923.  Tờ báo là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp và tác giả của bài báo nói trên chính là một trong những người tham gia sáng lập tổ chức chính trị này.

Bài báo tố cáo giới thực dân và trực tiếp là Bộ trưởng Thuộc địa Albert Saraut, người đã từng làm Toàn quyền Đông Dương nhiều năm, một mặt khai thác thuộc địa và bóc lột dân bản xứ một cách thậm tệ để làm giàu không phải chỉ cho nước Pháp mà cho chính bọn chúng.

Trong khi đó, chúng lại yêu cầu chính quốc phải đầu tư nhiều tỷ đồng cho các thuộc địa. Như vậy thực chất là chúng bòn rút chính nhân dân Pháp để phục vụ vào những việc làm lãng phí, xa xỉ, nuôi bộ máy quan liêu và ăn bám.

Quảng cáo cho hội chợ quốc tế và thuộc điạ Bordeaux 1937Quảng cáo cho hội chợ quốc tế và thuộc địa Bordeaux 1937

Tác giả đưa ra nhiều dẫn chứng với những con số thuyết phục trong đó có cuộc Triển lãm Thuộc địa vô cùng tốn kém đang diễn ra ở nước Pháp. Bài báo kết luận: “Đó là số tiền hàng triệu và thậm chí hàng tỷ mà nếu người ta biết cách tìm thì có lẽ người ta sẽ kiếm ra được một cách dễ dàng. Nhưng ngài Bộ trưởng lại cứ muốn gõ vào dân bản xứ”.

Đây là bài báo khai bút cho năm 1923 là năm cuối cùng Nguyễn Ái Quốc ở Pháp. Tháng 6 năm đó với tư cách là đảng viên thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã lên đường sang Liên Xô học tập. Nhưng ngay thời gian đã sống ở nước Nga, những bài báo của Nguyễn Ái Quốc vẫn thường xuyên xuất hiện trên các ờ báo cánh tả xuất bản ở Pháp, tổng cộng trong năm 1923 đã có trên dưới 30 bài báo được đăng.

Đây cũng chính là những chất liệu để sau này, Nguyễn Ái Quốc cho ra đời tác phẩm “Bản án chế độ thực ân Pháp” (Le Procès de la coloníation Francaise) nổi tiếng (xuất bản ở Pháp vào năm 1925, và được tái bản tại Việt Nam 1946).

X&N

bee.net.vn

Tóc Bác Hồ qua các thời kỳ

Có một hiện vật độc nhất vô nhị đã gây xúc động cho mọi người xem tại một triển lãmdo Bộ công An tổ chức tại Thành phố Cần Thơ, đó là ” Tóc của Bác Hồ qua các thời kỳ” do cán bộ chiến sĩ cảnh vệ phục vụ Bác từ năm 1954 đến khi Bác qua đời (1969) còn lưu giữ lại.

Đây là một trong số gần 1.000 hiện vật, tư liệu, hình ảnh trưng bày triển lãm về lịch sử 60 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam, tổ chức tại Thành phố Cần Thơ từ 27/ 4 đến tháng 5/5/2005 vừa qua.

Tóc của Bác đuợc cất giữ cẩn thận trong một chiếc hộp vuông thuỷ tinh và trưng bày trong một chiếc tủ đặt bên trái cửa ra vào nhà triển lãm. Trong tủ còn các hiện vật khác như tông-đơ, dao cạo, kéo tỉa tóc, chổi quét tóc, áo choàng và khăn mặt (2 hiện vật áo và khăn đã ngả màu).

Trong hộp tóc có nhiều lớp tóc từ nhóm tóc còn đen đến hoa râm và lớp tóc phía trên cùng đã bạc hẳn. Chị Nguyễn Lương Hồng, cán bộ Bảo tàng cho biết: Bộ hiện vật này là hiện vật gốc độc nhất do các đồng chí cảnh vệ phục vụ Bác trong Phủ chủ Tịch trao lại cho bảo tàng hồi đầu năm nay.

Mỗi lần cắt tóc cho Bác, các đồng chí đều cẩn thận giữ tóc lại để làm kỷ niệm. Hiện vật đã được triển lãm tại các tỉnh Đăk Lăk, Đồng Nai và sau triển lãm này sẽ đưa lên triển lãm tại Điện Biên.

Đối với đồng bào miền Nam, những ai chưa một lần gặp mặt Bác, nhìn tóc Bác mà tiếc thương không xiết bởi tất cả những gì thuộc về bác Hồ đều trở nên thiêng liêng đối với cả dân tộc Việt Nam trong đó có đồng bào Miền Nam.

Triển lãm kết thúc đã để lại nhiều ấn tượng khó phai, chúng tôi muốn nói lời cảm ơn đến các thế hệ cán bộ chiến sĩ cảnh vệ trong Phủ Chủ Tịch đã trân trọng giữ gìn tất cả những kỷ vật thuộc về Bác – những kỷ vật tưởng như thường tình mà cũng rất thiêng liêng.

Theo Trần Khánh Linh
TTXVN
dantri.com.vn

Sẽ có thêm một di tích lịch sử về Bác Hồ tại Thái Lan

Theo tờ Phuchatcan (Thái Lan), số ra ngày 7/5, tỉnh Udon Thani của Thái Lan đã có kế hoạch xây dựng địa điểm nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống và làm việc tại làng Nong Han, xã Chieng Poen, huyện Muong, thành một địa chỉ du lịch lịch sử.

Trong chuyến thăm di tích vừa qua, Tỉnh trưởng tỉnh Udon Thani, ông Charuk Prinyapol, cho biết sẽ dùng ngân sách của Chính phủ, cấp cho các tỉnh trưởng điều hành theo qui chế toàn quyền, để góp phần hoàn chỉnh dự án nói trên.

Theo ông Charuk, việc tu bổ và xây dựng di tích lịch sử này còn nhằm thu hút du khách Việt Nam tới tham quan, học tập.

Người dân địa phương cho biết Hồ Chủ tịch đã từng sống và làm việc tại đây trong vòng 3 tháng, vào khoảng năm 1928. Tại khu di tích rộng khoảng 14.400m2 vẫn còn lưu giữ một số hiện vật mà Người đã sử dụng trong thời gian lưu lại.

Trong thời gian hoạt động bí mật tại Thái Lan dưới bí danh Thầu Chín vào những năm 1928-1929, Hồ Chủ tịch đã di chuyển qua nhiều tỉnh như Phit Chit, Phisanulok, Udon Thani, Nong Khai, Nakhon Phano và cả Băng Cốc, tổ chức nhiều lớp huấn luyện cán bộ và tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước trong cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.

Năm 2004, Thái Lan đã khánh thành Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và làng Hữu nghị Thái-Việt, tại Ban Na Chok, tỉnh Nakhon Phanom. Vừa qua, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã trao tặng Khu lưu niệm một bức ảnh ghi hình Bác cùng đại diện Việt kiều tại Thái Lan tình nguyện hồi hương vào năm 1960. Một em bé có mặt trong tấm hình đó nay đã là Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Khỏn Kèn (trung tâm Đông Bắc Thái Lan).

Năm 2005 là năm kiều bào Việt Nam tại Thái Lan kỷ niệm 45 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đón những kiều bào đầu tiên hồi hương về trực tiếp tham gia chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đầu những năm 60, theo thỏa thuận giữa hai Hội chữ Thập Đỏ Thái Lan và Việt Nam, khoảng 70.000 kiều bào tại Thái Lan đã tình nguyện hồi hương về miền Bắc. Ngày 10/1/1960, Bác Hồ đã ra tận cảng Hải Phòng đón 922 kiều bào đầu tiên về nước.

Đến tháng 4/1964, các chuyến hồi hương phải tạm ngừng do nguy cơ Mỹ leo thang chiến tranh, đánh phá miền Bắc. Tính đến thời điểm đó, đã có 46.563 kiều bào từ Thái Lan hồi hương về miền Bắc.

Theo TTXVN
dantri.com.vn