Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Nụ cười Võ Thị Thắng

Kỷ niệm ngày ký kết Hiệp định Paris 27-1-1973:

Theo tinh thần bản Hiệp định Paris, kẻ địch buộc phải trao trả những người yêu nước bị chúng bắt, cầm tù. Người sinh viên yêu nước, chiến sĩ biệt động thành Võ Thị Thắng với “Nụ cười chiến thắng” nổi tiếng tại phiên tòa của Mỹ – ngụy năm 1968 nằm trong số đó. Và có một người đã ghi lại được những hình ảnh cảm động ngày trở về của chị.

… “Thời điểm đó, tôi (Hồ Văn Sanh) được tổ chức phân công làm Trưởng ban Thông tấn báo chí của phái đoàn quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN trong Ban liên hiệp quân sự hai bên. Đoàn ta đóng tại trại David (sân bay Tân Sơn Nhất).

Tôi là phát ngôn viên của phái đoàn quân sự ta – Trong căn nhà cấp 4 trên đường Cách Mạng Tháng Tám – TP Cần Thơ, Thiếu tướng Hồ Văn Sanh nay đã 80 tuổi nhớ lại – Chính vì danh nghĩa đó tôi có thể đi lại, đến được tận cầu thang máy bay (theo quy định, nơi trao trả thuộc quyền ta kiểm soát cách nơi đỗ máy bay hơn 100m). Do có ý định nên trước khi ra Lộc Ninh đón đoàn tôi đã mượn anh em chiếc máy ảnh Minota đã cũ cùng một cuộn phim.

Chị Võ Thị Thắng (bìa phải hàng thứ hai)
và đồng đội (1973).
Ảnh: HỒ VĂN SANH

Chị Võ Thị Thắng nằm trong nhóm cuối cùng của chiếc máy bay cuối cùng chiều hôm đó. Đúng như dự đoán, địch ngăn không cho các phóng viên ảnh, quay phim của ta vô khu vực đỗ máy bay. Tôi đi sát một số nhân viên giám sát quốc tế, len vào, ra tận cầu thang máy bay. Tôi nhận ngay ra chị bởi nụ cười, một nụ cười rất thân thiện, dịu dàng, cởi mở. Và sau đó trên đoạn đường hơn 100m về nơi tập kết của ta tôi chụp hình chị liên tục. Rất tiếc chỉ chụp được khoảng 10-11 tấm thì hết phim.

Trước kẻ thù, chị Thắng tự tin, bình thản cười kiêu hãnh, giễu cợt mức án 20 năm khổ sai của chúng. Một phóng viên người Nhật đã chớp được khoảnh khắc tuyệt vời đó để rồi nhân dân cả nước và thế giới biết đến “Nụ cười chiến thắng”, biết đến bản lĩnh bất khuất của những người con gái Việt Nam. Sau 5 năm tù đày, qua nhiều nhà lao tàn bạo, kẻ thù vẫn không dập tắt nổi nụ cười đó, niềm tin đó. Hôm nay chị trở về với đồng bào đồng chí với nụ cười đầy dịu dàng, tin cậy.

…Chiến tranh đã đi qua nhiều năm rồi nhưng những kỷ vật của một thời chinh chiến tôi vẫn luôn lưu giữ. Nó nhắc nhở mình luôn phải sống xứng đáng hơn”.

(Theo SGGP)
cpv.org.vn

Kỷ niệm trọng thể 40 năm ngày ký Hiệp định Pari

Ngày 25/1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Ngoại giao đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Pari đã đến dự.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược. Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của Việt Nam trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Pari đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công. Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Pari làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam – một phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: Hiệp định Pari là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pari, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.

Chủ tịch nước bày tỏ, kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí Cố vấn Lê Đức Thọ; biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, những bài học của Hội nghị Pari là hành trang quý giá để đất nước vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Pari, công tác đối ngoại cần quán triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tại buổi lễ, Chủ tịch nước đã trao tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vì những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Tại buổi lễ, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát biểu nhấn mạnh thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Pari là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, nếu không có Tết Mậu Thân 1968, không có cuộc giải phóng tỉnh Quảng Trị và 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt xung quanh Thành cổ Quảng Trị, không có trận Điện Biên Phủ trên không, không có miền Bắc – Hậu phương lớn hỗ trợ cho tiền tuyến lớn phía Nam thì không có Hội nghị Pari về Việt Nam, không thể có Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Bên cạnh đó, không thể không kể đến hàng triệu, hàng triệu người trên thế giới ở châu Âu, châu Á – Phi – Mỹ la tinh, châu Đại dương, phong trào phản chiến ở Mỹ bằng nhiều hình thức đã góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam.

Đại diện các đoàn khách quốc tế dự buổi lễ, bà Helene Luc, Thượng nghị sĩ danh dự Thượng viện Pháp, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt nhấn mạnh, Hiệp định Pari cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ. Hiệp định Pari đã củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

* Ngày 24/1, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013).

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp đoàn khách quốc tế dự kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari Ngày 25/1, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật đoàn khách quốc tế đang có mặt tại thủ đô Hà Nội dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tại buổi tiếp, các đại biểu xúc động cảm ơn đón tiếp nồng hậu của Ban tổ chức lễ kỷ niệm, đã tạo điều kiện để các đoàn khách đến Việt Nam dự buổi lễ trọng đại. Các đại biểu đại diện các đoàn Pháp, Nga, Mỹ, CHDCND Lào nhấn mạnh, những ngày này, tại những địa điểm khác nhau trên thế giới có liên quan đến Hiệp định Pari năm 1973, nhiều hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức trọng thể. Phát biểu tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sự hiện diện của các vị khách quốc tế, đúng vào dịp Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ trọng đại. Chủ tịch nước bày tỏ lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tin tưởng trái tim và khối óc của bạn bè quốc tế sẽ đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch nước nhấn mạnh, Việt Nam luôn chào đón những người bạn quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các nước trên nhiều lĩnh vực. Chủ tịch nêu rõ, trên các diễn đàn trong nước và quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện rõ vai trò là thành viên tin cậy và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần xây dựng môi trường hòa bình và phát triển cho các quốc gia.

Tham dự buổi lễ có Đại sứ Việt Nam tại Pháp Dương Chí Dũng; Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Jean Noël Poirier; Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO; ông Pierre Laurent, Thượng nghị sỹ, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp; lãnh đạo hai thành phố Choisy-Le-Roi và Verrières-Le-Buisson, nơi hai đoàn đàm phán Việt Nam từng lưu trú giai đoạn 1968 – 1973; đại diện các hội đoàn hữu nghị và đoàn kết với Việt Nam cùng những Việt kiều từng tham gia giúp đỡ đoàn và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định rằng việc ký kết Hiệp định về Việt Nam tại Pari cách đây 40 năm là một sự kiện lịch sử, một dấu mốc quan trọng trong cuộc chiến tranh hào hùng của nhân dân Việt Nam giành độc lập và giải phóng dân tộc. Việc ký kết Hiệp định Pari năm 1973 buộc Mỹ phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và rút quân khỏi Nam Việt Nam, mở đường cho việc thống nhất đất nước vào tháng 4/1975. Hai sự kiện là ký kết thắng lợi Hiệp định Pari năm 1973 và thống nhất đất nước vào năm 1975, đã đi vào biên niên sử của nhân loại như một ví dụ về ý chí của một dân tộc kiên quyết đấu tranh vì các quyền cơ bản của con người và là minh chứng hùng hồn về ý chí của một dân tộc quyết đấu tranh để giành độc lập dân tộc và tự do.

Để giành được thắng lợi vẻ vang đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ hết lòng của bạn bè quốc tế, những người yêu chuộng hòa bình, trong đó phải kể đến các thành viên của Đảng Cộng sản Pháp, các tổ chức, cá nhân người Pháp trực tiếp và gián tiếp ủng hộ Việt Nam cùng cộng đồng người Việt yêu nước ở Pháp.

Đại diện của Đảng Cộng sản Pháp và hai thành phố từng giúp đỡ đoàn đàm phán Việt Nam bày tỏ tinh thần đoàn kết, hữu nghị gắn bó với nhân dân Việt Nam, đồng thời khẳng định rằng thắng lợi của nhân dân Việt Nam cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Hoàng Giang – Nhóm p/v TTXVN tại Pháp
baotintuc.vn

“Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao”

(Dân trí) – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.

>> Bộ trưởng Phạm Bình Minh viết về Hiệp định Paris

Ngày 25/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam – một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)

Tới dự Lễ mít tinh có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Đại tướng Phùng Quang Thanh – Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Trần Đại Quang – Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; ông Đinh Thế Huynh – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Huỳnh Đảm – Chủ tịch UBTƯMTTQVN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh – Trưởng ban Tổ chức cấp Nhà nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris.

Tới dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, các lãnh đạo ban, ngành đoàn thể Trung ương và Thủ đô Hà Nội, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí trực tiếp tham gia và phục vụ cho cuộc đàm phán; đại diện gia đình một số đồng chí nguyên là cán bộ của hai đoàn đàm phán và bạn bè quốc tế ủng hộ Việt Nam, góp phần vào thắng lợi cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris, các vị Đại sứ, đại diện một số cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam; các cơ quan thông tấn báo chí trong nước và quốc tế.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.

Đọc diễn văn tại lễ kỷ niệm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris đều nhằm mục tiêu là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

“Biết bao đồng bào, đồng chí và chiến sỹ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy. Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam; nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho đại diện hai Đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris

Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng mở ra một giai đoạn mới ở khu vực Đông Nam Á, giai đoạn các nước Đông Nam Á hòa bình, ổn định, khép lại quá khứ thù địch, xích lại gần nhau để sum họp trong cộng đồng ASEAN ngày nay.

Chủ tịch nước cho rằng, Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân ta trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris.

Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.

“Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, chúng ta bồi hồi xúc động, ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; chúng ta ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý…”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu.

Theo Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay. Đó là, bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng…

Phát biểu tại lễ kỷ niệm bà Nguyễn Thị Bình – nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam – cho biết, Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

“Thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối, sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam”, bà Nguyễn Thị Bình cho biết.

Theo bà Bình, việc ký Hiệp định Paris là thắng lợi lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam và cũng là thắng lợi của tất cả những người có lương tri trên thế giới đã ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Trúc Linh
dantri.com.vn

Bộ trưởng Phạm Bình Minh viết về Hiệp định Paris

(Dân trí) – 40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Dưới đây là bài viết của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nhân dịp kỉ niệm 40 năm Hội nghị Paris.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình MinhBộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh

Ngày 27/01/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. 40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi. Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị được mở ra từ một quyết định chiến lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ” (1). Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc. Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp” (2). Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (3). Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/01/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu  tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ các bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng. Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc. Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi. Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi. Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau. Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính“, không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu. Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” .  Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…. phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Phạm Bình Minh
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
dantri.com.vn

(1) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 199.
(2) Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1954-1975, tập II (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995), trang 306.
(3) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 217.

Công bố tài liệu mật về Hiệp định Paris 1973

– 140 bức ảnh, 23 hiện vật, 3 bộ tài liệu đồ sộ…giới thiệu trong triển lãm kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris đang được mở cửa tại 29 Hàng Bài, Hà Nội thu hút sự chú ý của rất nhiều người.

Điều đặc biệt của triển lãm này là ngoài những hiện vật và bức ảnh quý, lần đầu tiên văn bản gốc Hiệp định Paris 1973 được trưng bày sau đúng 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử này.

Với quy mô của triển lãm được đánh giá là lớn nhất từ trước đến nay, công chúng sẽ có dịp được tìm hiểu kĩ hơn về ý nghĩa lích sử của Hiệp định Paris về Việt Nam, về ý chí và khát vọng của nhân dân Việt Nam trong việc giành độc lập, tự do, qua đó cho thấy nghệ thuật ngoại giao tài tình của những con người đã từng tham gia vào phái đoàn ngoại giao ngày đó.

Toàn cảnh buổi khai mạc Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Đại lộ Kléber, Paris.

Bộ trưởng Xuân Thủy phát biểu tại sân bay Bourgert khi đến Paris đàm phán với Mỹ (9/5/1968)

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973)

Đại diện 4 bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam; Hoa Kỳ; Cộng hòa Việt Nam) ký hiệp định Paris (27/1/1973).

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973)

 

Đại diện 12 nước ký Định ước tại Hội nghị quốc tế về Việt Nam; Tổng thư ký Liên hợp quốc Kurt Waldheim chứng kiến Lễ ký với tư cách là quan sát viên tại Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber, Paris, ngày 2/3/1973.

Hai chiếc bút được dùng để ký kết Hiệp định Paris năm 1973

Trên thân bút khắc rõ thông tin liên quan đến ngày ký kết Hiệp định Paris.

Văn bản gốc cuốn Hiệp đình Paris lần đầu tiên được mang ra trưng bày trước công chúng.

 

Những cuốn hộ chiếu công vụ, hộ chiếu ngoại giao được phái đoàn của Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày đó sử dụng.

Con dấu của Đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một cuốn sách cực lớn là tập hợp chữ ký của nhân dân Cu Ba ủng hộ nhân dân Việt Nam là một hiện vật quý và rất có giá trị.

Những cuốn sách viết về nghệ thuật ngoại giao cũng như qua trình đám phán đấu tranh để giành độc lập dân tộc cũng được trưng bày tại triển lãm.

Chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước trong bản Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Paris.

Có rất nhiều người dân quan tâm đã chủ động đến và tham quan triển lãm để tìm hiểu và nhớ lại những kỉ niệm về một thời kì lịch sử của đất nước.

Bức ảnh được cho là gây ấn tượng nhất tại triển lãm là bức hình cô gái Mỹ cắm hoa vào họng súng của lính cảnh vệ Quốc gia như một biểu tượng mong muốn hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt nam như một mốc son sáng chói với “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”  hay còn gọi là hiệp định Paris.

Hiệp định đã buộc Hoa Kỳ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ và đồng minh ra khỏi Việt Nam, tạo ra bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam dẫn đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Vi Vi
vietnamnet.vn

Dân tộc và thời đại với nội hàm mới…

Ngày nay, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội là trào lưu nổi trội. Còn ý chí tự cường, đoàn kết quốc gia và đồng thuận xã hội là cội nguồn sức mạnh của mỗi nước. Phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phải kết hợp được nhuần nhuyễn các trào lưu phổ quát ấy.

LTS: Nhân 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã phát biểu như trên với nhóm phóng viên Tuần Việt Nam về quan điểm lịch sử khi đánh giá ý nghĩa của Hiệp định và về những kinh nghiệm trong quan hệ với các cường quốc tại hòa đàm Paris. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi:

Việt Nam trên bàn cờ các nước lớn
Trên ván cờ nước lớn: Từ Geneva đến Paris
Việt Nam với nước lớn hay chuyện lòng tin và lợi ích
Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước
‘Nước Đại Nam đối diện với Mỹ và Trung Hoa’

– Lùi lại 40 năm sau sự kiện chấn động thế giới, giờ đây các nhà nghiên cứu quốc tế, từ nhiều góc nhìn khác nhau, nhận xét Hiệp định Paris về Việt Nam 1973 như một “tao đoạn kỳ lạ” (strange interlude), một “cự ly an toàn” (decent interval) trong cuộc chiến. Xin ông bình luận?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Nhận xét Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như một “strange interlude” là muốn nói tới “thời gian giải lao” giữa hai trận đánh. Trên thực tế, các hoạt động quân sự và ngoại giao đâu có dừng lại trong thời đoạn từ lúc ký Hiệp định cho đến khi tổng tấn công và nội dậy!

Còn “cự ly an toàn” là muốn nói về ý đồ của Nixon vừa muốn tái cử, vừa muốn giữ Thiệu. Tuy nhiên, do chủ trương tràn ngập lãnh thổ của Sài Gòn, nên cơ hội hòa hợp dân tộc bị bỏ lỡ.

Nhưng vượt lên các thuật ngữ ấy là vấn đề triết lý lịch sử, nhất là khi chúng ta đã qua một thời gian khá dài, lùi lại 40 năm như phóng viên vừa nói.  Về phương pháp luận, phải biết dựa vào những dữ kiện có thật, chứ không thể chỉ dựa vào cảm quan của người viết

Có thể có chút phóng đại, nhưng tôi chia sẻ với nhận xét, có một lịch sử như nó diễn ra và một lịch sử như nhà sử học viết ra…

Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt…. nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán! Ảnh Lê Anh Dũng.

Phương án đấu tranh ngoại giao

Hiệp định Paris về Việt Nam, ngay như tên gọi đã có phần thiếu chính xác, một “misnomer” (gọi sai!). Tiếng là Hiệp định hòa bình năm 1973, nhưng trên thực tế, mãi tới ngày cuối cùng của tháng 4/1975, hòa bình thực sự mới được vãn hồi, nhưng nền hòa bình ấy được lập lại không theo cách mà các điều khoản của Hiệp định quy định. Ông bình luận như thế nào về nhận định này của GS Kolko, tác giả một trong những cuốn sách “best seller” về sự nghiệp đấu tranh của nhân dân ta, cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến”?

Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy “một mất một còn” vẫn nổi trội trong các mối bang giao. Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!

Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm nói.

Hiệp định là phương án đấu tranh ngoại giao để đi đến thực sự kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Và như mọi dự án chính trị trong lịch sử, đó là sự thỏa hiệp giữa các bên tham gia cuộc đàm phán ma-ra-tông. Phương án này phản ánh so sánh thế và lực giữa các bên, phản ánh các tình huống trong cuộc chiến vào thời điểm các bên quyết định ký kết để chấm dứt một giai đoạn, phục vụ cho ý đồ chính trị, quân sự của giai đoạn tiếp theo.

Một trong những điểm mấu chốt là ý đồ của các bên không giống nhau, thậm chí còn đối nghịch nhau. Cả bốn bên đều ý thức rõ điều này khi chấp thuận đặt bút ký. Vì vậy mới có định nghĩa kinh điển “ngoại giao là nghệ thuật của những điều không thể”.

Việc lập lại hòa bình đã không diễn ra như các điều khoản của Hiệp định không hề giảm giá trị đích thực của Hiệp định, bởi vì lịch sử không bao giờ đứng yên. Lịch sử như một tiến trình và khi tiến trình ấy vận động thì nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất cứ ai, mà tùy thuộc vào diễn tiến khách quan của nhiều nhân tố. Bao giờ cũng có một giả thiết lịch sử và một thực tế lịch sử như tôi đã nói ở trên; sự giao thoa giữ hai mảng này có thể nhiều hay ít tùy thuộc vào tương quan lực lượng và tùy thuộc vào tương tác giữa các nhân tố chủ đạo trong quá trình vận động. Trên thực tế, nội dung Hiệp định đã mở ra nhiều “không gian trống” cho các tình huống về sau này…

Vâng, như chúng ta thấy, mặc dầu ký Hiệp định, nhưng Nixon vẫn tuyên bố, Mỹ chỉ công nhận Việt Nam Cộng hòa do Thiệu cầm đầu là chính phủ hợp pháp duy nhất. Điều này có nghĩa là Mỹ chỉ ủng hộ những nội dung nào của Hiệp định có lợi cho Mỹ và bỏ qua những phần còn lại.

Đến lượt mình, chính quyền Thiệu cũng từ chối công nhận chính quyền cách mạng và chỉ chịu ký một văn bản tách rời, loại trừ mọi ám chỉ liên quan đến công nhận chính phủ cách mạng lâm thời. Tại sao lại có sự tréo ngoe như thế?

Đấy là phương thức của thỏa hiệp, mà căn cốt của vấn đề là ở chỗ phải tìm được lối thoát hợp lý, tại thời điểm ấy, cho một tình huống bất thường, đó là có hai chính quyền không công nhận nhau về mặt pháp lý, nhưng lại phải có chữ ký của cả bốn bên tham gia đàm phán thì mới đi đến chung cuộc của quá trình hòa đàm. Chính những tréo ngoe ấy đã tạo ra các “không gian trống” như tôi đã đề cập ở trên.

Đến lượt mình, các “không gian trống” ấy lại mở đường cho các biến cố lịch sử mà khi ký Hiệp định không phải tất cả các bên đều trù liệu giống nhau, thậm chí như tôi đã nói, hoàn toàn đối đầu nhau.

Vì các bên không công nhận nhau, đó là cơ sở khách quan để chính quyền cách mạng chủ động thay đổi so sánh lực lượng, tiến lên giành thắng lợi trên chiến trường về sau.

Quan hệ nước lớn với nước nhỏ

Ông đánh giá như thế nào về việc xử lý các mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn liên quan đến quá trình đàm phán Paris? Làm thế nào mà chúng ta vẫn đạt mục tiêu trong bối cảnh có chia rẽ sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Quốc?

Đây là một chủ đề lớn, phức tạp nhưng rất bổ ích, nó không chỉ liên quan đến hòa đàm Paris, mà còn là “nguồn mạch chính” vận động hữu hình và vô hình trong quan hệ quốc tế giữa nước lớn với các nước nhỏ nói chung, cũng như trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam nói riêng.

Với tư cách là một cán bộ ngoại giao được chứng kiến sự chỉ đạo sát sao và trực tiếp của Bộ Chính trị, tôi nhận thức được một số nguyên tắc cơ bản để xử lý mối quan hệ với các nước lớn, dù đó là bạn bè, đồng minh hay đối thủ.

Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại. Ảnh Lê Anh Dũng.

Ta đã giữ được quan hệ “cân bằng động” giữa Liên Xô và Trung Quốc, tranh thủ tối đa sự ủng hộ tích cực của cả hai đồng minh lớn, mặc dù mỗi nước giúp Việt Nam tùy thuộc vào khả năng và xuất phát từ yêu cầu chiến lược của mình. Các đồng minh lớn của ta, tuy bất đồng nhau, nhưng vẫn ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta, vì một lý do quan trọng mà cố Tổng bí thư Lê Duẩn có lần đã giải thích một cách đơn giản: “Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!”

Với chính quyền Mỹ, ta đã chủ động có các cuộc tiếp xúc, tìm hiểu, gián tiếp và trực tiếp, nắm được yếu điểm cũng như điểm yếu chiến lược của siêu cường lúc bấy giờ để chuẩn bị các phương án đấu tranh.

Thời kỳ khó khăn nhất là năm 1972, lúc cả Trung Quốc và Liên Xô đều đi vào hòa hoãn với Mỹ, ta phải đối mặt với sức ép từ nhiều phía khác nhau, nhưng rồi đều vượt lên được, nhờ đường lối độc lập, tự chủ kết hợp với chủ trương đoàn kết quốc tế. Trong quá trình đàm phán ta đã tối ưu hóa các phương thức tập hợp lực lượng quốc tế, đồng thời tìm mọi cách tác động vào nội bộ đối phương, chuyển hóa tương quan lực lượng theo hướng có lợi cho cách mạng.

Vấn đề tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ là bài học vô cùng quan trọng. Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại, hạn chế rất lớn đến lộ trình thực hiện các mục tiêu tổng thể của cách mạng.

Và ngành ngoại giao đã có những đóng góp như thế nào để phát huy mặt tích cực, hạn chế các tiêu cực của tình hình quốc tế trong thời gian hòa đàm?

Căn cốt của vấn đề là ở chỗ phải tìm được lối thoát hợp lý, tại thời điểm ấy, cho một tình huống bất thường, đó là có hai chính quyền không công nhận nhau về mặt pháp lý, nhưng lại phải có chữ ký của cả bốn bên tham gia đàm phán thì mới đi đến chung cuộc của quá trình hòa đàm.

Chính những tréo ngoe ấy đã tạo ra các “không gian trống”. Đến lượt mình, các “không gian trống” ấy lại mở đường cho các biến cố lịch sử mà khi ký Hiệp định không phải tất cả các bên đều trù liệu giống nhau, thậm chí như tôi đã nói, hoàn toàn đối đầu nhau

Ngành ngoại giao đã thực hiện tốt chức năng là “khớp nối mềm” giữa đất nước với thế giới, đã thực hành tốt bài học lớn của cách mạng Việt Nam là “kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại”. Nhờ đó, chúng ta đã hình thành nên mặt trận rộng lớn nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.

Về nghiên cứu chiến lược, ngoại giao đã đi trước một bước trong phân tích tình hình, đánh giá ý đồ của các bên liên quan. Chúng ta đã phát huy được vai trò tích cực và chủ động của ngoại giao, áp dụng phương thức vừa đánh vừa đàm. Biết người biết ta, biết cách kết thúc chiến tranh, đó là những bài học không bao giờ cũ cả.

Dân tộc/thời đại bối cảnh mới

Ý ông muốn nói tới bài học thời sự của Hiệp định đối với hoạt động đối ngoại của ta hiện nay?

Hoàn toàn chính xác!

Nhưng như tôi đã nói, lịch sử chuyển động không ngừng, vì vậy, khi áp dụng các bài học trước đây phải luôn ý thức được nội dung mới trong những khái niệm cũ. Nói kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thì giờ đây phải hiểu rằng cả hai vế trong định đề ấy đã có nhiều thay đổi.

Ngày nay, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội là trào lưu nổi trội. Còn ý chí tự cường, đoàn kết quốc gia và đồng thuận xã hội là cội nguồn sức mạnh của mỗi nước. Phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phải kết hợp được nhuần nhuyễn các trào lưu phổ quát ấy. Có như vậy, mới có sức mạnh tổng hợp và vị thế Việt Nam mới thực sự vững chắc.

Các quốc gia nói chung và các cường quốc nói riêng đang rất thiếu nền tảng của văn hóa khoan dung. Cái tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy “một mất một còn” vẫn nổi trội trong các mối bang giao. Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!

Đấy cũng là căn nguyên của việc trước đây các bên ký Hiệp định đã không tận dụng được tối đa cái cơ hội, cái triết lý của Hiệp định đã mở ra.

Cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm cũng là do tư duy đối đầu ấy gây ra!

Ngày nay, chúng ta đang thực thi chính sách hội nhập toàn diện. Trong xu thế ấy, hẳn nhiên, một nền ngoại giao hiện đại là một nền ngoại giao phải xuất phát từ tâm thức văn minh thời đại, biết lấy các giá trị phổ quát làm động lực phát triển. Đó là cơ sở để bảo vệ các lợi ích quốc gia một cách hiệu quả! Trong quá trình này, vấn đề thời cơ, vấn đề tập hợp lực lượng, ngày nay ta gọi là xây dựng hệ thống các quan hệ đối tác, là những vấn để cốt tử của cách mạng.

Hãy nhớ hai vế đối trên mộ Nguyễn Trường Tộ: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận / Tái hồi đầu thị bách niên cơ”; có thể hiểu là: “Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời / Khi quay đầu nhìn lại, cơ đồ mất trăm năm!”.

Phương Loan – Hoàng Lâm (thực hiện)
vietnamnet.vn

Việt kiều Pháp hết lòng vì Hiệp định Pari

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định pari (27/1/1973 – 27/1/2013)

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Pari (27/1/1973 – 27/1/2013), phóng viên TTXVN tại Pháp đã gặp gỡ một số Việt kiều từng chứng kiến và tham gia tích cực các hoạt động ủng hộ đoàn đại biểu Việt Nam tham dự cuộc đàm phán, góp phần không nhỏ vào thành công của hội nghị.

Bác Nguyễn Văn Bổn.

40 năm trước, đa số Việt kiều sang Pháp để du học, đoàn tụ gia đình…, là những thanh niên tuổi đôi mươi, cùng tập hợp dưới mái nhà chung là “Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp” với mục tiêu ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hội lúc đó gồm nhiều tổ chức như: Hội sinh viên Việt Nam, Liên hiệp trí thức Việt Nam, Hội công nhân, Hội thương gia, Hội phụ lão, Hội y học… Đến cuối năm 1975, sau khi nước nhà đã hoàn toàn thống nhất, Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp tự giải tán; Việt kiều tại Pháp tập hợp trong “Hội người Việt Nam tại Pháp” (UGVF), ra đời năm 1976 và tiếp tục hoạt động cho đến ngày nay. Nhớ lại chặng đường lịch sử cách đây 40 năm khi diễn ra các cuộc đàm phán công khai cũng như bí mật để đi đến ký kết Hiệp định Pari, ký ức của những Việt kiều năm xưa như vẫn còn vẹn nguyên, khiến các bác không khỏi xúc động.

Bác Nguyên Văn Bổn, từng là Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam và nay là Phó Chủ tịch UGFV, cho biết, thời kỳ đó, các tổ chức hội đều tham gia hỗ trợ các phái đoàn đàm phán bằng cả tấm lòng của một con dân đất Việt. Hàng ngày, ba bộ phận cùng phối hợp làm việc là nhóm làm báo, dịch tài liệu, nhóm chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong đoàn và nhóm theo dõi hoạt động của đối phương. Còn có một bộ phận khác theo dõi thông tin liên quan đến dư luận của nhân dân Pháp, Việt kiều, sinh viên… đối với cuộc kháng chiến của dân ta. Cứ vào thứ ba hàng tuần, các nhóm lại họp với ông Nguyễn Minh Vy và bà Nguyễn Thị Trơn, thư ký của bà Nguyễn Thị Bình – Trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, ông Phan Văn Soàn (Phan Nam)…

Những người trực tiếp làm công tác tuyên truyền đã thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các buổi mít tinh để giải thích về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta và thông báo về diễn biến của cuộc đàm phán. Thông qua các cuộc làm việc, khi gián tiếp, khi trực tiếp với các đồng chí Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và một số người có trách nhiệm trong phái đoàn đàm phán của ta, Việt kiều đã nắm được diễn biến trên bàn đàm phán.

Bác Bổn nhớ rất rõ một điều là để đảm bảo bí mật, ai làm việc gì thì chỉ biết việc đó, tránh để bị theo dõi. Trong nhiều cuộc họp, đồng chí Lê Đức Thọ viết ra giấy những việc quan trọng, đưa cho mọi người xem xong rồi xé đi luôn.

Đối với bác Bổn, kỷ niệm sâu sắc nhất gắn liền với cuộc đàm phán Hiệp định Pari là hình ảnh lá Cờ đỏ Sao vàng trên chiếc xe ô tô chở đồng chí Xuân Thủy bay phấp phới trên đường phố Pari khi bác cùng đoàn bà con Việt kiều đón đoàn từ sân bay Bourget về nơi ở. “Bà con Việt kiều rất hãnh diện và cảm động. Hình ảnh đó đã cho thấy sự công nhận của quốc tế, ít nhất là của Pháp, đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Vì thời gian đó, lá Cờ đỏ Sao vàng của Việt Nam bị cấm nghiêm ngặt và chỉ được xuất hiện tại các cuộc họp nội bộ bí mật.

Bác Bùi Thanh Tùng.

Cùng chung những tâm sự của bác Bổn, bác Bùi Thanh Tùng, hiện nay là Tổng thư ký UGVF, cho biết bác sang Pháp năm 1967, với nhận thức chính trị còn chưa đầy đủ do bị chính quyền Sài Gòn bưng bít thông tin. Nhưng khi được tiếp xúc với bạn bè, các nhà trí thức, bác đã được giác ngộ. Chính vì thế, giai đoạn 1968 -1972, bác thường xuyên hoạt động trong phong trào Liên hiệp sinh viên Việt Nam tại Pháp. Như nhiều sinh viên khác, bác có nhiệm vụ tổ chức, hỗ trợ các cuộc biểu tình, hội thảo, sinh hoạt của giới trí thức, các cuộc gặp gỡ với bạn bè ở Pháp để giúp họ hiểu về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, về Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Tại các ký túc xá sinh viên, nhiều buổi hội thảo kéo dài cho đến khuya; nhiều cuộc tranh cãi, thảo luận diễn ra căng thẳng vì không phải lúc nào bạn bè, sinh viên quốc tế cũng có cùng suy nghĩ với ta. Nhưng nhìn chung, các bạn sinh viên quốc tế đều ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Bác Tùng tâm sự: “Cuộc đời tôi có nhiều dấu mốc mà dấu mốc lớn nhất là tôi đã biết tin vào cách mạng và biết đâu là chính nghĩa”. Bác không thể quên được hình ảnh, sáng sớm ngày 27/1/1973 lịch sử, dòng người đứng thành hàng dài hai bên cửa Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber, nơi diễn ra lễ ký kết Hiệp định Pari, với Cờ đỏ Sao vàng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cờ xanh, đỏ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam để bày tỏ sự ủng hộ cho hòa bình của Việt Nam cũng như chiến thắng của nhân dân Việt Nam.

Bác Bùi Thanh Tùng.

Cách đây 40 năm, cô Thérèse Nguyễn Văn Ký – nay đã hơn 80 tuổi, là Chủ tịch UGVF – là bác sỹ được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho đoàn đàm phán và bà con Việt kiều. Vóc người nhỏ nhắn, “cô” dường như được ông trời phú cho một sức khỏe thật dẻo dai, làm việc không biết mệt mỏi. Vì điều kiện công tác bí mật, ngay cả những người thân trong gia đình cũng không được biết những việc làm của cô.

Sau 40 năm, đến nay “cô” vẫn thường đau đáu nhớ về hình ảnh Lá Cờ đỏ Sao vàng tung bay trên đường phố Champs Elysées ở trung tâm thủ đô Pari như lời khẳng định thắng lợi của các cuộc đàm phán về hòa bình ở Việt Nam.

Cộng đồng người Việt ở Pháp chào mừng chiến thắng lịch sử ngày 27/1/1973.

Còn bác Đoàn Hữu Trung 40 năm trước được giao nhiệm vụ tiếp xúc với bà con Việt kiều, tổ chức các cuộc mít tinh ở những nơi có bà con Việt kiều và giúp đỡ đoàn đàm phán. Ngoài kỷ niệm riêng là con gái đầu lòng của bác được sinh ra đúng những năm tháng diễn ra đàm phán, bác luôn nhớ đến thời gian sống và làm việc cùng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình dẫn đầu. Bác cảm thấy mình thật may mắn khi được gần với cách mạng.

Nói sao cho hết những cống hiến và đóng góp của bà con Việt kiều Pháp đối với thắng lợi của cuộc đàm phán tại Pari đi đến ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, cũng như thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.

Lê Hà – Nguyễn Tuyên – Trung Dũng (P/v TTXVN tại Pháp)
baotintuc.vn

“Học hỏi được nhiều bài học quý giá từ Hiệp định Paris”

Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại Triển lãm Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, ngày 25/1. (Ảnh: THTT)

Dù khá mệt sau chuyến công tác nhưng chiều nay (25/1), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh vẫn đến thăm quan và chúc mừng triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam” tại Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, 29 Hàng Bài, Hà Nội.

“Tôi xem toàn bộ những bức ảnh và thực sự xúc động, cảm phục ý chí của các bậc lãnh đạo Nhà nước ta và đặc biệt các thế hệ ngoại giao đàn anh đã đấu tranh rất kiên cường, bền bỉ, thông minh để đi đến thắng lợi. Họ đã thể hiện bản lĩnh của ngoại giao Việt Nam, nền ngoại giao của một dân tộc mới phát triển với một nền ngoại giao nhà nghề trong suốt Hội nghị Paris. Cuộc đấu tranh đã hoàn toàn thắng lợi, đưa đến ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam,” Bộ Trưởng chia sẻ.

Hội nghị Paris về Việt Nam và quá trình đi đến thương lượng để ký kết Hiệp định Paris không chỉ là thắng lợi to lớn về mặt quân sự mà còn là thắng lợi to lớn về mặt ngoại giao. Thắng lợi đó cũng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho các thế hệ những nhà làm ngoại giao sau này. Chính vì thế, Bộ Trưởng Phạm Bình Minh cho biết thế hệ những người làm ngoại giao như ông đã học hỏi được từ đó nhiều bài học quý giá.

“Đầu tiên đó là sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ các chủ trương, tiến trình đàm phán trong Hội nghị Paris. Bộ Chính trị đã trực tiếp chỉ đạo rất chặt chẽ cùng sự thực hiện nghiêm túc của đoàn đàm phán đối với toàn bộ những chỉ thị của Trung ương Đảng. Trong triển lãm hôm nay cũng đã đưa ra rất nhiều bản nghị quyết, những ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và có thể nói kết quả của Hội nghị Paris đã phản ánh việc thực hiện toàn bộ những chỉ đạo đó,” Bộ Trưởng nói.

Bài học thứ hai, theo ông Phạm Bình Minh, đó là sự độc lập, tự chủ trong hoạt động ngoại giao. Bởi trong quá trình đàm phán có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng của các nước bên ngoài nhưng chúng ta vẫn giữ vững được độc lập, tự chủ và đưa ra những quyết sách rất quan trọng.

Bên cạnh đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa các mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao và chỉ có những chiến thắng trên chiến trường mới đảm bảo được đàm phán trong ngoại giao của chúng ta đạt kết quả. Đặc biệt, trên bàn đàm phán không thể thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam.

Cuối cùng, ông Phạm Bình Minh nhấn mạnh sự trau dồi kiến thức, nghiệp vụ của các thế hệ ngoại giao đàn anh đi trước là bài học không thể thiếu đối với những thế hệ ngoại giao sau này như ông. “Bởi trong tất cả các cuộc đàm phán, chúng ta phải nắm vững luật pháp quốc tế mới đảm bảo thực hiện được lợi ích và các yêu cầu,” Bộ Trưởng nói./.

ChiLê (Vietnam+)
qdnd.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris tại Pháp

Các đại biểu tham dự míttinh. (Nguồn: Hà Lê/Vietnam+)

Ngày 24/1, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013).

Tham dự buổi lễ có Đại sứ Việt Nam tại Pháp Dương Chí Dũng; Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Jean Noël Poirier ; Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO; ông Pierre Laurent, Thượng nghị sỹ, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp; lãnh đạo hai thành phố Choisy-Le-Roi và Verrières-Le-Buisson, nơi hai đoàn đàm phán Việt Nam từng lưu trú giai đoạn 1968-1973; đại diện các hội đoàn hữu nghị và đoàn kết với Việt Nam cùng những Việt kiều từng tham gia giúp đỡ đoàn và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định rằng việc ký kết Hiệp định về Việt Nam tại Paris cách đây 40 năm là một sự kiện lịch sử, một dấu mốc quan trọng trong cuộc chiến tranh hào hùng của nhân dân Việt Nam giành độc lập và giải phóng dân tộc. Việc ký kết Hiệp định Paris năm 1973 buộc Mỹ phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và rút quân khỏi Nam Việt Nam, mở đường cho việc thống nhất đất nước vào tháng 4/1975.

Hai sự kiện là ký kết thắng lợi Hiệp định Paris năm 1973 và thống nhất đất nước vào năm 1975, đã đi vào biên niên sử của nhân loại như một ví dụ về ý chí của một dân tộc kiên quyết đấu tranh vì các quyền cơ bản của con người và là minh chứng hùng hồn về ý chí của một dân tộc quyết đấu tranh để giành độc lập dân tộc và tự do.

Để giành được thắng lợi vẻ vang đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ hết lòng của bạn bè quốc tế, những người yêu chuộng hòa bình, trong đó phải kể đến các thành viên của Đảng Cộng sản Pháp, các tổ chức, cá nhân người Pháp trực tiếp và gián tiếp ủng hộ Việt Nam cùng cộng đồng người Việt yêu nước ở Pháp.

Đại diện của Đảng Cộng sản Pháp và hai thành phố từng giúp đỡ đoàn đàm phán Việt Nam bày tỏ tinh thần đoàn kết, hữu nghị gắn bó với nhân dân Việt Nam, đồng thời khẳng định rằng thắng lợi của nhân dân Việt Nam cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Nhân dịp này, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp tổ chức triển lãm ảnh về hoạt động của hai đoàn đám phán Việt Nam cũng như các bài báo viết về quá trình đàm được đăng trên các báo địa phương, nêu bật sự đấu tranh kiên trì và bên bỉ của nhân dân Việt Nam trên các mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao.

Cũng nhân dịp này ông bà Pierre Gueguen đã tặng Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp hai bức tranh về ngôi biệt thự lịch sử tại Verrières-Le-Buisson, nơi gắn liền với thời gian gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán 4 bên tiến tới việc ký kết Hiệp định Paris lịch sử./.

(TTXVN)
vietnamplus.vn

Hội nghị Paris: Cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất

Quang cảnh cuộc nói chuyện giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ về hòa bình tại Việt Nam tại phòng họp trung tâm hội nghị quốc tế ở Paris ngày 13/5/1968. (Ảnh tư liệu/TTXVN)

Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Hội nghị Paris, VietnamPlus xin giới thiệu Bài viết của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh về sự kiện lịch sử đặc biệt này.

Ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị được mở ra từ một quyết định chiến lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ” (Nguyễn Đình Bin chủ biên, Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2002, trang 199).

Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc.

Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp” (Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1954-1975, tập II, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995, trang 306).

Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000 (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 217). Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/1/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạng và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ các bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt,” “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn.

Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam.

Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc.

Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không,” Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút.”

Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho nguỵ nhào.”

Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình.

Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại.

Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc.

Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm,” giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi.

Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi.

Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau.

Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận,” trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính,“ không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu.

Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011), trang 236). Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn

40 năm ngày ký Hiệp định Paris: Xúc động và tự hào!

Cuốn sổ tập hợp hơn 1.000 chữ ký của nhân dân Cu-ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam
(Ảnh: Thanh Hải/TTXVN)

Những ngày này, công chúng Thủ đô lại thêm một lần được nhắc nhớ và tự hào về trang sử hào hùng của dân tộc trên cả hai phương diện quân sự và ngoại giao qua triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam.”

Không chỉ có các nhân vật “làm nên lịch sử,” các cựu chiến binh, anh hùng lực lượng vũ trang mà rất nhiều người dân; trong đó có không ít các bạn trẻ đã đến Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, 29 Hàng Bài, Hà Nội để cùng sống lại một thời oanh liệt với ông cha mình.

Chiến thắng ngoại giao qua ảnh

Hơn hai tiếng đồng hồ tỉ mẩn đứng xem từng bức ảnh và những hiện vật, tài liệu quý… tại triển lãm, chàng thanh niên 8X tên Tú nhà ở cạnh ga Trần Quý Cáp, Hà Nội tỏ ra rất xúc động và quyến luyến. Cậu đứng rất lâu trước từng bức ảnh và kỷ vật, đọc kỹ chú thích rồi thi thoảng lại gật gù, xem đi xem lại.

Biết được về triển lãm qua báo chí, Tú quyết định phải đến tận nơi. “Được tận mắt xem những hình ảnh tái hiện lại một giai đoạn đấu tranh ngoại giao đầy khó khăn của các bậc cha ông mình tôi thấy cảm phục vô cùng, càng thêm quý trọng giá trị cuộc sống hòa bình mà thế hệ chúng tôi đang được thụ hưởng,” Tú nói.

Trước chỉ được nghe các thầy cô giáo giảng về Hiệp định Paris, nay có cơ hội “ôn lại lịch sử bằng những hình ảnh tái hiện từng giai đoạn của cuộc đàm phán,” Tú thấy thế hệ trẻ cần phải có trách nhiệm hơn với cuộc sống của mình.

Không chỉ Tú mà bác Khánh nhà ở Khâm Thiên cũng trầm ngâm khi nhìn lại một chặng đường đã ảnh hưởng tới vận mệnh của cả dân tộc.

“Đối với tôi, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973 là một sự kiện có ý nghĩa sâu sắc không chỉ bởi tầm vóc của nó, mà còn vì gia đình tôi ở khu phố Khâm Thiên bên dãy số lẻ. Ngôi nhà mà cha mẹ và anh chị em chúng tôi ở bao năm đã sụp đổ hoàn toàn trong đêm rải thảm 26/12/1972,” bác Khánh hồi tưởng.

Trong không gian của triển lãm, có rất nhiều mái tóc đã bạc trắng cùng ánh mắt rưng rưng xúc động. Những ánh mắt dừng lại thật lâu trước cuốn sổ tập hợp hơn 1.000 chữ ký của nhân dân Cuba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam, trước hai cây bút đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định…

Tự hào dân tộc ta ơi!

Đến tham dự khai mạc sự kiện, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình cho biết là người tham gia ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam ngày 27/1/1973, nhìn lại những hình ảnh của cuộc đàm phán bà vô cùng xúc động.

“Thắng lợi của Hiệp định Paris về Việt Nam là thắng lợi của toàn dân chúng ở miền Bắc cũng như miền Nam, là thắng lợi to lớn về quân sự cũng như về ngoại giao. Và trong dịp này chúng ta cũng nhớ đến hàng triệu người yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên toàn thế giới đã nhiệt tình ủng hộ sự nghiệp của chúng ta,” bà Nguyễn Thị Bình ghi lại cảm xúc trong cuốn sổ lưu niệm của triển lãm.

Trong khi đó, bà Trần Thị Như Quỳnh nhớ lại: “Bốn mươi năm đã trôi qua nhưng tôi không bao giờ quên khoảnh khắc lịch sử ấy, Hiệp định Paris được ký kết. Thật hạnh phúc và bất ngờ vì chỉ có ai trải qua chiến tranh ác liệt mới hiểu được giá trị vô giá đó.”

Trong ký ức của bà Quỳnh, Hà Nội mùa đông 1972 đã lạnh càng lạnh hơn khi trải qua 12 ngày đêm hứng chịu B52, chứng kiến những trận bom rải thảm, lửa cháy rực trời, những hố bom giữa đường phố Thủ đô, bệnh viện đổ nát, nhà cửa phố xá chỉ còn là những đống gạch vụn…

Ngày đó còn là học sinh nên phải đi sơ tán, vậy là cô bé Quỳnh cùng bạn bè với mũ áo, túi thuốc cá nhân, cặp sách lên đường đến sau dãy núi Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Bà Quỳnh vẫn nhớ, đó là một ngày nắng đẹp, dãy núi có hang động được mệnh danh “đẹp nhất trời Nam” hiện ra đầy ấn tượng như trong cổ tích với lũy tre xanh, mái rạ, dòng sông, cánh đồng, mây núi… Ngày đó bà chẳng hiểu nổi vì sao cảnh làng quê thanh bình như thế mà đất nước vẫn chiến tranh!

Rồi một ngày, bất ngờ thầy cô giáo đến thông báo tin Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. “Niềm hạnh phúc về cuộc sống hòa bình như bừng sáng lên trong lòng chúng tôi, khoảnh khắc ấy thật đẹp biết bao,” bà Quỳnh nói.

Thấm thoắt đã 40 năm từ ngày đó, nay được xem lại bộ ảnh về chặng đường lịch sử của “Hiệp định Paris” về Việt Nam, nhìn lại từng gương mặt của những nhân vật lịch sử đã làm nên lịch sử cho dân tộc, bà Quỳnh mắt rơm rớm.

“Đây là bộ ảnh vô cùng giá trị, đã khái quát được một phần quãng thời gian đáng ghi nhớ mà cả dân tộc Việt Nam ta đã trải qua. Thật đáng ghi nhớ và tự hào!” bà xúc động nói./.

Xuân Mai (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris

Người dân đến xem triển lãm sáng nay. (Ảnh: Thanh Hải/TTXVN)

Triển lãm ảnh “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam” đã khai mạc sáng nay (23/1) và kéo dài tới hết ngày 28/1 tại Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, 29 Hàng Bài, Hà Nội.

Với gần 150 bức ảnh, hơn 20 lời trích cùng nhiều hiện vật quý, tài liệu, sách…, triển lãm đã tái hiện sinh động quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris.

Đặc biệt, có những hiện vật lần đầu tiên được trưng bày như Bản gốc Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, con dấu và biển tên của đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam, hai cây bút đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định, chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi niêm phong bản Hiệp định…

Có những hiện vật rất đặc biệt như cuốn sổ tập hợp hơn 1.000 chữ ký của nhân dân Cu-ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Triển lãm đã làm rõ cuộc đấu tranh cam go trên mặt trận ngoại giao kéo dài gần năm năm để ký được Hiệp định Paris (27/1/1973) buộc Hoa Kỳ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga phát biểu tại lễ khai mạc: “Cuộc Triển lãm này là hoạt động nằm trong chuỗi các sự kiện đầy ý nghĩa Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Ngày 27/3/1973 đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi với việc ký kết hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam. Hiệp định Paris là văn bản pháp lý quốc tế toàn diện và đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, theo đó Hoa Kỳ đã buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”

Bà Nga cũng khẳng định, ý nghĩa to lớn về những bài học lịch sử đàm phán và ký kết Hiệp định Paris mãi mãi còn nguyên giá trị. Tôn vinh thắng lợi lịch sử, trân trọng, tri ân những đóng góp, hy sinh của thế hệ cha ông để noi gương, phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay./.

Xuân Mai (Vietnam+)
vietnamplus.vn