Tag Archive | Tin tức

Ông đã chiến đấu vì một sự nghiệp rất vẻ vang

Khi nhà báo Wilfred Burchett qua đời (2-10-1983) ở Bulgaria – quê hương vợ ông – các đồng nghiệp và nhân dân Việt Nam vô cùng thương tiếc ông. Thép Mới đưa tiễn ông với bài báo xúc động mang tít “Người bạn chiến đấu của Việt Nam”. Sau đó nhiều năm, một đồng nghiệp khác lại viết về ông, gọi ông là “người bạn tận tụy của Việt Nam”…

Tại triển lãm ảnh “Wilfred Burchett và Việt Nam” được tổ chức ở Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà báo ưu tú này, đồng chí Chủ tịch nước đã bày tỏ cùng con trai ông – George Burchett – lòng biết ơn sâu sắc của chúng ta đối với những cống hiến của ông dành cho sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam và gọi ông là “một ân nhân, một người bạn lớn của nhân dân Việt Nam”.

Không phải ngẫu nhiên mà ông đã được Chính phủ ta trao tặng huân chương cao quý: Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Đó là sự đánh giá rất cao những hoạt động của ông dành riêng cho Việt Nam.

Thật xúc động khi đọc bức thư của ông gửi ba đứa con yêu quý được viết tại chiến trường miền Nam Việt Nam, trong đó ông tâm sự cùng các con: “Cha đang làm việc vì một sự nghiệp rất vẻ vang. Giúp đỡ nhân dân miền Nam Việt Nam bảo vệ đất nước của họ và đánh tan bọn đế quốc Mỹ, những kẻ đang cố chiếm lấy miền Nam rồi xâm lăng miền Bắc Việt Nam”.

Với tấm lòng của nhà báo tiến bộ, thiết tha yêu chính nghĩa, ông nói với các con: “Nhân dân Việt Nam là những người bạn rất thân thiết của chúng ta”. Nhà báo người Australia này là một trong số ít những người cầm bút quốc tế đầu tiên đến với Việt Nam và liên tiếp trong rất nhiều năm viết báo, viết sách bày tỏ sự gắn bó sâu sắc với cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của nhân dân ta. Những bài báo và các tập sách như: “Bắc vĩ tuyến 17” (1955), “Việt Nam: Câu chuyện bên trong cuộc chiến tranh du kích” (1965), “Bắc Việt Nam” (1966), “Việt Nam sẽ thắng” (1967)… thuộc vào những tác phẩm ưu tú, nóng hổi, đầy sức mạnh chiến đấu của ông.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett tại Hà Nội.

Cũng cần nói ngay rằng, trong các tập sách ấy, ông cho in cả hàng trăm bức ảnh do chính ông chụp, vừa có giá trị thời sự vừa có giá trị lịch sử. Nếu chỉ nhìn riêng về khía cạnh nhiếp ảnh, ông xứng đáng được thừa nhận là một nhà nhiếp ảnh tài năng. Những bức ảnh được giới thiệu ở Bảo tàng Hồ Chí Minh đã cuốn hút đông đảo khán giả Việt Nam và quốc tế trong suốt thời gian mở cửa.

Thật ra, “kho ảnh” của ông – như con trai ông cho biết có tới hàng ngàn tác phẩm đã chụp ở cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong những thời kỳ khác nhau. Riêng ở triển lãm nói trên, ngoài một loạt chân dung Bác Hồ và các nhà lãnh đạo khác như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, có thể chia làm hai phần: Những hình ảnh của miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong công cuộc chống chiến tranh phá hoại và của miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Thời gian đã lùi xa, những bức ảnh ông chụp cùng những bài báo, trang sách ông viết giúp chúng ta sống lại các giai đoạn lịch sử nói trên, đó là không khí hối hả ở miền Bắc những năm đầu xây dựng lại sau chiến tranh, từ các công trường xây dựng thủy lợi, đắp đập, những người thợ cưa gỗ làm tà vẹt đường sắt đến những người nông dân làm cỏ lúa, các bè nứa chở tà vẹt xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai, những phiên chợ ở Điện Biên Phủ, những bản làng người Thái ở Tây Bắc, những người thợ điển hình. Đó là không khí nóng bỏng trong những ngày chống chiến tranh phá hoại do giặc Mỹ gây ra, được phản ánh bằng ảnh và lời như một bản anh hùng ca đầy khí thế chiến thắng.

Một lớp học thời chiến giữa rừng dành cho con em người M’Nông ở Tây Nguyên giữa thập niên 1960. Ảnh: Wilfred Burchett

Chúng ta, những độc giả và khán giả của hôm nay, được gặp lại hình ảnh các chị em phụ nữ trong lao động sản xuất và chiến đấu, các em nhỏ đi học dưới làn bom đạn và các cụ già rất đỗi lạc quan. Chúng ta càng nhớ đến các nữ tự vệ trong các nhà máy ở Hà Nội (như Nhà máy Dệt 8-3), trong bệnh viện dã chiến sơ tán trong một ngôi chùa ở Gia Lâm, cả những em nhỏ bên hồ Hoàn Kiếm và những lứa đôi trong phút yên tĩnh tại Công viên Thống Nhất…

Đáng nói nhất là hai năm liền (1962 – 1964), Wilfred Burchett đã hoạt động ở miền Nam nước ta như một chiến sĩ giải phóng thực thụ, cũng bộ quần áo bà ba, quàng khăn rằn, đội nón hoặc mũ tai bèo, chân đi dép lốp với chiếc xe đạp cũ. ông có mặt và chiến đấu cùng các chiến sĩ du kích ở Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, trong những đêm lửa trại, tại phòng xét nghiệm dã chiến trong rừng, sản xuất lựu đạn. ông không quên nói đến những cuộc văn nghệ trên núi rừng, các chiến sĩ đã ca hát trong những ngày gian khổ…

Tất cả những bài viết và hình ảnh do ông viết ra, ghi lại đều đã được báo chí quốc tế phản ánh đầy đủ, trung thực, góp phần không nhỏ vào việc làm cho bè bạn khắp năm châu hiểu sâu hơn về cuộc chiến đấu của nhân dân ta, để rồi như được tiếp thêm lửa, càng khẳng định mạnh mẽ tình đoàn kết keo sơn với cuộc chiến đấu đó. Trong đời mình, tôi chưa bao giờ được gặp ông, nhưng qua sách báo và hình ảnh của ông, tôi thấy Wilfred Burchett thật gần gũi.

Bệnh viện dã chiến giữa rừng xanh của quân đội Giải phóng. Ảnh: Wilfred Burchett

Một người bạn của ông, nhà báo Đức Franz Faber đã kể tôi nghe về ông, về nhà báo Pháp Madelene Riffaud khi ông cùng họ được Bác Hồ tiếp tại Phủ Chủ tịch ngay sau ngày Người từ Việt Bắc về Hà Nội. Và tôi được biết Burchett đã từng hoạt động báo chí trong những năm 30 của thế kỷ trước ở Berlin. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ông lại viết và phát đi những thiên phóng sự từ Berlin cho Daily Express. Riêng ở Đức, tôi đã đọc khá nhiều cuốn sách hấp dẫn, đầy sức cuốn hút của ông.

Cho đến nay, tôi còn nhớ các tác phẩm: “Bình minh ở châu á” (1948), “Cuộc chiến tranh lạnh ở Đức” (1950), “Trung Hoa biến đổi” (1952), “Bên bờ sông Mekong” (1959), “Đất nước nóng bỏng” (tập phóng sự về Liên Xô, 1962), “Những người du kích chống các tướng lĩnh” (1965). Ấn tượng sâu sắc của tôi về tác phẩm của ông là: ông không chỉ thể hiện những sự kiện diễn ra trước mắt ông, mà ông còn tìm mọi cách đi sâu vào thế giới nội tâm của các nhân vật mà ông phản ánh.

Chính chiều sâu tâm hồn, những niềm vui, nỗi buồn, những khát vọng của con người về cuộc sống, niềm tin sắt đá vào ngày mai tốt đẹp làm cho những trang văn của ông càng thấm đượm chất nhân văn, chất trữ tình. ấn tượng của tôi càng được khẳng định khi tôi nghe câu chuyện của nhà thơ Giang Nam kể lại sau ngày gặp Burchett. Đó là năm 1964, đang ở chiến trường miền Nam, Burchett hỏi Giang Nam: “Nghe nói bạn đã có gia đình và hai vợ chồng vẫn sống xa nhau, điều đó có ảnh hưởng gì đến công việc và hạnh phúc gia đình không?”. Nhà thơ của chúng ta trả lời: “Tất nhiên là có rồi, nhưng chúng tôi đã quen dần. Chúng tôi vì công việc và vì bom đạn Mỹ nên có lúc 5, 7 năm, thậm chí 10 năm phải sống xa nhau trong nỗi nhớ thương da diết”.

Nhà báo Australia nắm lấy tay nhà thơ và nói: “Xin cảm ơn bạn đã tâm sự chuyện riêng tư ấy với tôi. Thật khó tưởng tượng các bạn đã sống như thế. Tôi càng hiểu vì sao Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược”. Từ các bài viết và hình ảnh của ông nói về Việt Nam, người con trai ông đã dựng nên hai bộ phim tài liệu: “Trong bưng biền Việt Cộng” và “ở miền Bắc Việt Nam dưới bom đạn”.

Không phải ngẫu nhiên mà con trai ông, họa sĩ George Burchett, đã nói về cha mình rằng: “Cha tôi đến với Việt Nam từ tiếng gọi của chính trái tim mình. Việt Nam là phần quan trọng nhất trong đời làm báo của cha tôi. Đọc sách và xem ảnh của ông, càng khám phá ông, tôi càng ngưỡng mộ ông. Ông là một nhà nhân văn thực sự. Ông đã giúp tôi hiểu hơn về thế giới. Thế giới này thật khó khăn và cần những người như Wilfred Burchett dũng cảm đương đầu với hiểm nguy, đến tận nơi để giải thích cho mọi người về thế giới. Ông giúp tôi biết rằng không nên hoài nghi, cần tin vào chính mình, tin vào loài người, cần hiểu người khác, cần tin vào người khác”.

Tầm vóc lớn lao về sự nghiệp của Burchett mãi mãi được tôn vinh – một sự nghiệp vì chính nghĩa. Vì lẽ đó, Mick Shimmin, trong lời nói đầu tác phẩm “Nhà báo nổi loạn” của Burchett, khẳng định ông là “nhà báo lớn nhất của Australia, là một trong những nhà báo đối ngoại ưu tú nhất trên thế giới”.

Còn Denis Warner thì ca ngợi: “Một trong những tính cách kiệt xuất của ông là lòng quả cảm vĩ đại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett tại Hà Nội.

Trần Đương

cand.com.vn

Bài thơ chữ Hán viếng Hồ Chủ tịch của nhà sư Nhật Bản…

Cố Hòa thượng Onishi Ryokei (1875-1983) trụ trì chùa Thanh Thủy ở phía đông thành phố Kyoto là một vị cao tăng rất có uy tín trong giới phật tử và nhân dân Nhật Bản. Cụ rất kính trọng và cảm phục Hồ Chí Minh. Trong một lần tiếp đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm, cụ bày tỏ nguyện vọng: Đến ngày Việt Nam chiến thắng, nhân dân Nhật Bản sẽ được đón tiếp Hồ Chủ tịch sang thăm, và cụ sẽ được gặp Người.

Năm 1969, cố Hòa thượng Onishi Ryokei đã 96 tuổi, nghe tin Hồ Chủ tịch từ trần, cụ rất đau xót, bỏ ăn mấy ngày và tự tay viết bài thơ bằng chữ Hán kính viếng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, không chỉ là tổn thất không thể bù đắp đối với dân tộc Việt Nam ta mà còn để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng bè bạn quốc tế.

Cố Hòa thượng Onishi Ryokei (1875-1983) trụ trì chùa Thanh Thủy ở phía đông thành phố Kyoto là một vị cao tăng rất có uy tín trong giới phật tử và nhân dân Nhật Bản. Cụ rất kính trọng và cảm phục Hồ Chí Minh. Trong một lần tiếp đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm, cụ bày tỏ nguyện vọng: Đến ngày Việt Nam chiến thắng, nhân dân Nhật Bản sẽ được đón tiếp Hồ Chủ tịch sang thăm, và cụ sẽ được gặp Người.


Một góc chùa Thanh Thủy. Ảnh từ Internet.

Năm 1969, cố Hòa thượng Onishi Ryokei đã 96 tuổi, nghe tin Hồ Chủ tịch từ trần, cụ rất đau xót, bỏ ăn mấy ngày và tự tay viết bài thơ bằng chữ Hán kính viếng. Nguyên văn bài thơ của cố Hòa thượng Onishi Ryokei:

救國眞人昇碧空
迷途民衆哭悲衷
古今稀見老英傑
一葉飜風秋色濛

Cứu quốc chân nhân thăng bích không
Mê đồ dân chúng khốc bi trung
Cổ kim hi kiến lão anh kiệt
Nhất diệp phiên phong thu sắc mông.


Bút tích cố Hòa thượng Onishi Ryokei

Vì nhiều lý do, một thời gian sau, bài thơ mới được chuyển đến Viện Hán-Nôm. Bài thơ được nhận định là khó đọc và khó dịch. Sau khi cân nhắc, lãnh đạo Viện quyết định giao cho Trần Duy Vôn dịch. Và ông đã dịch thành công:

Trời xanh đón người cứu nước về
Đau lòng chúng sinh trên đường mê
Xưa nay hiếm bậc lão anh kiệt
Chiếc lá thu bay trời ủ ê.

Bài thơ của cố Hòa thượng Onishi Ryokei và bản dịch của Trần Duy Vôn mãi đến ngày 19/5/1973 mới được công bố trên báo Thống Nhất.

Trần Duy Vôn (1906-1979) hiệu là Nhàn Vân Đình với các bút danh: Hải Âu, Mạc Như… người xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Thuở nhỏ, ông rất thông minh, hiếu học. Mười chín tuổi, ông đã thông hiểu kinh điển Hán học. Tiếc vì triều đình đã bãi bỏ thi chữ Hán, nên ông không có cơ hội ứng thí để ra làm quan, phò vua giúp nước – giấc mộng và cũng là con đường tiến thân của hầu hết nho sĩ thời phong kiến.

Toàn bộ sở học, Trần Duy Vôn dành trọn cho việc làm thơ, viết báo và trước thuật. Dưới chế độ cũ, từ năm hai mươi mốt tuổi (1927), ông đã viết bài cho rất nhiều báo khắp ba miền Bắc Trung Nam. Đáng chú ý là trong 8 năm (1927-1934), ông là trợ bút, phụ trách mục Hán văn của báo Nam Phong. Năm 1932, do có nhiều công tích viết báo, ông đã được triều đình ban phẩm hàm “Cửu phẩm Văn giai”. Năm 1941, do dâng hai cuốn Đế vương Bảo Giám và Thiên hạ Mẫu nghi, ông được triều đình sắc phong “Hàn lâm viện cung phụng”.

Do vậy, người quê quen gọi Trần Duy Vôn là Hàn Vôn. Cuộc đời ông có nhiều năm cơ cực, oan uổng, nhưng ông vẫn lạc quan, vẫn làm thơ và miệt mài nghiên cứu, viết sách. Cuộc đời 74 năm, Trần Duy Vôn đã để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ gồm hơn 40 tác phẩm, 523 bài thơ chữ Hán, 799 bài thơ Quốc ngữ và hàng trăm bài phú, văn tế…

Năm 1972, sau nhiều lần gửi thư mời, Viện Hán-Nôm đã cử người đón ông lên công tác tại Viện. Được coi là “bậc cố vấn”, “tự điển sống” của Viện. Trần Duy Vôn đã đóng góp nhiều công sức vào việc nghiên cứu, dịch thuật Hán – Nôm và đào tạo cán bộ chuyên ngành. Dịch thành công bài thơ chữ Hán của nhà sư Nhật Bản, là một minh chứng cho trình độ Hán – Nôm uyên thâm của ông.

honvietquochoc.com.vn

Người bảo vệ Bác Hồ thăm đền Hùng trước ngày tiếp quản Thủ đô

Đại tá Tống Xuân Đài kể rằng ông chính là người nhặt một mẩu gạch non, khoanh một vòng tròn rồi thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu ngồi xung quanh Bác như thế này ạ”.

Trong kí ức tuổi thơ tôi, lời dạy của Bác Hồ “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” và bức ảnh Người nói chuyện với Sư đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Hùng trước khi về tiếp quản Thủ đô năm 1954, đã khắc sâu vào tâm trí. Lớn lên, mỗi lần được đi thăm Đền Hùng, lúc dừng chân tại Đền Giếng, tôi lại bâng khuâng mường tượng nơi Bác ngồi trên bậu cửa, xung quanh là những đại diện ưu tú của Quân đội nhân dân anh hùng…

Đầu Xuân Canh Dần trong lần vào thăm Khu di tích Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, tôi ngẫu nhiên gặp một cựu sĩ quan quân đội, là nhân chứng trong đoàn quân quây quần bên Bác tại Đền Hùng. Ông giới thiệu đầy tự hào: “Tôi là người đã trực tiếp bảo vệ Bác Hồ khi Bác thăm Đền Hùng 56 năm về trước và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 (Quân Tiên Phong) trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội”…

Đúng hẹn, tôi đến thăm Đại tá Tống Xuân Đài tại nhà riêng – một ngôi nhà đẹp, ấm cúng nằm trong ngõ nhỏ của phố “Nhà binh” Lý Nam Đế – Hà Nội. Với tác phong nhanh nhẹn, quy củ của một cựu chiến binh, ông đã chuẩn bị những tư liệu cần thiết giúp tôi.

Tôi ngạc nhiên bởi ngoài những bức ảnh được chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người thăm Đền Hùng và nói chuyện với bộ đội, ông Đài còn rất nhiều ảnh khi tháp tùng, bảo vệ Hồ Chủ tịch thăm các đơn vị quân đội những năm sau đó. Nhiều bức ảnh rất có giá trị, rất đẹp lần đầu tiên tôi được xem – dù tôi là người luôn chú ý tìm hiểu, sưu tầm tư liệu và đã viết khá nhiều bài về Bác Hồ và công tác bảo vệ Bác.

Ông Tống Xuân Đài (thứ 2 bên phải) tại Đền Giếng, nơi đặt bia đá ghi lại sự kiện Bác Hồ huấn thị “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Quê ở Phù Cừ – Hưng Yên, năm 1940, mới hơn 10 tuổi, cậu bé Đài rời quê lên Hà Nội kiếm sống. Cũng như nhiều thanh niên khác, Tống Xuân Đài sớm đến với cách mạng; là tự vệ thành Hoàng Diệu, tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong đội ngũ Trung đoàn 66 do đồng chí Phùng Thế Tài phụ trách… Được tôi luyện, trưởng thành trong chiến đấu, đến tháng 3/1954, ông được cử đi học lớp nghiệp vụ bảo vệ do Cục Bảo vệ – Tổng cục Chính trị tổ chức tại Việt Bắc.

Hơn nửa thế kỉ đã qua, Đại tá Tống Xuân Đài vẫn nhớ như in thời khắc được bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng, trên đường từ Việt Bắc về Hà Nội. Đôi mắt ông như sáng lên khi những dòng kí ức trở lại: “Trung tuần tháng 9/1954, anh Lại Xuân Thát – chính trị viên tiểu đoàn 254 – Bộ Tư lệnh 350, và tôi được gọi lên giao nhiệm vụ. Sau khi có giấy công lệnh, chúng tôi được sử dụng một chiếc xe Zeep chiến lợi phẩm, triệu tập 4 đồng chí nữa đến bến phà Bình Ca và Đoan Hùng tìm một chiếc phà loại tốt, đợi sẵn phía bờ Tuyên Quang để đón đoàn thượng cấp. Chúng tôi quy ước, khi thấy đoàn xe ôtô, chiếc đi đầu có đồng chí Thanh Quảng (tức Nguyễn Văn Thanh, từng là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình được điều động làm Phó Văn phòng Tổng Quân ủy) thì đưa cả đoàn xuống phà, qua sông ngay rồi di chuyển đến Đền Hùng.

Ngày 18/9/1954, mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch, nhưng chúng tôi chờ mãi đến xẩm tối vẫn không thấy đoàn xe có anh Thanh Quảng xuất hiện, dù đã có nhiều xe qua phà. Vừa sốt ruột, vừa lo lắng, tôi và anh Thát bổ đi tìm. Thấy phía chân đồi có ánh đèn (sáng hôm sau tôi mới biết đây là Đền Giếng), chúng tôi tiến lại thì bất ngờ nhận ra anh Thanh Quảng. Anh đi nhanh ra ngoài, ngăn chúng tôi lại và bảo: “Khách” đến rồi, đang ở trong đền. Các anh về nghỉ, sáng mai đưa bộ đội vào sớm”.

Vậy tối hôm đó thì bộ đội tập kết ở đâu? – Tôi hỏi Đại tá Đài. “Bộ đội vào nhà dân quanh vùng xin nghỉ nhờ. Do làm tốt dân vận, hơn nữa khí thế chiến thắng của Điện Biên Phủ làm nức lòng nhân dân cả nước, nên bà con rất thương bộ đội Cụ Hồ”. Đại tá Đài kể tiếp: Sớm hôm sau, tầm gần 7h thì tôi và anh Thát trở lại Đền Giếng.

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ Sư đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Hùng, ngày 19/9/1954.

Vào đến sân đền, chúng tôi thấy Bác đang ung dung ngồi trên bậc thềm ngắm cảnh thiên nhiên mùa thu của vùng Trung du buổi ban mai. Bác mặc bộ đồ gụ, bên ngoài khoác chiếc áo đại cán. Hai anh em mừng rỡ, lại gần chào Bác theo đúng quân lệnh.

Bác gật đầu chào lại rồi hỏi: “Bộ đội đã ăn sáng chưa?”. Tôi chưa kịp trả lời thì anh Thát lại cuống, líu ríu: “Dạ thưa Bác, tối qua…”. Bác nhìn anh Thát, cười độ lượng rồi phê bình: “Bác hỏi chú bộ đội đã ăn sáng chưa, chứ không hỏi chú tối hôm qua”… Sau khi nghe chúng tôi báo cáo cụ thể tình hình bộ đội, Bác nói: “Sáng rồi, các chú còn nhiều việc phải chuẩn bị. Bây giờ, các chú mời bộ đội đến đây để Bác nói chuyện”.

Theo trí nhớ của Đại tá Tống Xuân Đài, tham gia sự kiện này, có khoảng 80 cán bộ từ cấp đại đội trở lên, đại diện cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308. Lúc 7h15′ ngày 19/9, các đại biểu có mặt đông đủ tại sân đền. “Do sân hẹp, cán bộ, chiến sĩ đều mải ngắm Bác nên chúng tôi chưa biết tập hợp đội hình thế nào để mọi người ổn định, nghe Bác nói chuyện. Tôi bèn nhặt một mẩu gạch non, khoanh một vòng tròn rồi thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu ngồi xung quanh Bác như thế này ạ”.

Bác quan sát, rồi gật đầu đồng ý và giơ tay ra hiệu cho bộ đội ngồi xuống các bậc thềm dẫn từ sân lên cửa Đền. Bác ngồi trên bậu cửa đền; đồng chí Vũ Yên – Tham mưu trưởng ngồi ở bậc thềm chính diện trông lên Bác.

Bác quay sang bảo đồng chí Song Hào – Chính ủy Đại đoàn 308: “Chú ngồi đây (mặt hè bên phải Bác, còn chú Quảng ngồi đây (mặt hè bên trái Bác)”. Sau khi bộ đội ổn định chỗ ngồi, Bác chỉ vào tôi, nói: “Còn chú, chú ngồi chỗ kia (bậc thềm thứ hai từ mặt hè xuống, phía bên phải đồng chí Song Hào”.

Hồ Chủ tịch đã mở đầu buổi nói chuyện với bộ đội bằng câu hỏi: “Các chú có biết đây là đâu không”? Có nhiều đồng chí nhanh nhẹn trả lời: “Thưa Bác, đây là Đền Hùng ạ. Đây là nơi thờ Hùng Vương ạ!”. Bác lại hỏi tiếp: “Hùng Vương là người như thế nào với nước ta”. Lặng đi một lát chưa có ai trả lời, đồng chí Vũ Yên đứng dậy: “Thưa Bác, ngày xưa…”. Bác giơ tay ra hiệu cho đồng chí Vũ Yên ngồi xuống rồi nói: “Đúng đây là Đền Hùng, thờ các Vua Hùng. Hùng Vương là người đã sáng lập ra nước ta, là tổ tiên của dân tộc ta. Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!”…

Tiếp đó, Bác căn dặn: Hơn 8 năm gian khổ chiến đấu, được nhân dân đùm bọc, giúp đỡ, bộ đội và dân quân du kích dũng cảm đánh giặc; ta đã giành thắng lợi, buộc quân Pháp phải rút khỏi miền Bắc nước ta. Ta có nhiệm vụ về tiếp quản Hà Nội, thủ đô của cả nước và những thành phố khác nữa. Nhiều năm các chú ở nông thôn và rừng núi, nay về thành phố nơi tạm chiếm của địch, đồng bào đã nhiều năm bị địch hành hạ, cưỡng bức, rất khổ, có người bị địch bắt buộc hoặc vì cuộc sống phải làm việc cho địch…

Khi vào tiếp quản đóng quân trong thành phố, các chú phải: Gần gũi, tôn trọng dân, làm tốt công tác dân vận; giải thích cho đồng bào hiểu chủ trương, chính sách của Chính phủ. Không được coi những người dân sống trong vùng địch tạm chiếm là đi theo địch mà xa lánh họ… Bác căn dặn kĩ cả việc sinh hoạt, sử dụng điện, nước máy tại đô thị; việc học tập chính trị, tuần tra canh gác…

Sau dòng hồi tưởng, ông Đài xúc động kể tiếp: “Khoảng gần 9h sáng, buổi nói chuyện của Bác với bộ đội kết thúc. Anh em bộ đội ra về và luôn ghi lòng tạc dạ lời dạy bảo sâu sắc của Hồ Chủ tịch, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Mấy anh em Cảnh vệ Quân đội chúng tôi và Cảnh vệ Công an cùng tháp tùng Bác rời khỏi Đền Giếng. Quãng đường từ đền ra đường cái, một đồng chí cận vệ đi trước, dẫn đường. Bác đi thứ hai, còn tôi đi ngay sau Bác. Bác đội mũ cát và dùng một chiếc khăn che chòm râu dài. Tới điểm ôtô đỗ, chúng tôi từ biệt Bác và đứng lặng nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất hẳn”.

Tìm trong tập tài liệu, Đại tá Tống Xuân Đài đưa cho tôi xem một cuốn họa báo Trung Quốc đã ngả màu vàng, xuất bản năm 1957 tại Bắc Kinh… Đôi mắt ông đầy hoài niệm: “Khi Bác nói chuyện với bộ đội, tôi không biết là có người chụp ảnh. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, tôi được cử sang Trung Quốc học tập. Trong một lần đến thăm Sứ quán ta, tôi được Đại sứ Nguyễn Khang cho xem một số tài liệu. Lần giở cuốn họa báo này, tôi ngạc nhiên khi thấy bức ảnh lịch sử, thấy mình trong ảnh. Anh Nguyễn Khang cũng ngạc nhiên không kém và đồng ý tặng tôi cuốn họa báo này!”.

Sau khi về nước, ông Đài tiếp tục công tác trong lực lượng Cảnh vệ Quân đội. Những năm kháng chiến chống Mỹ, ông là Phó, rồi Trưởng phòng Cảnh vệ (Phòng 45) – Cục Bảo vệ Quân đội, Bộ Quốc phòng. Ông Đài đã vinh dự nhiều lần bảo vệ Bác Hồ thăm các đơn vị quân đội, thị sát các trận địa phòng không, không quân. “Hồi đó, việc bảo vệ Bác chủ yếu do Cảnh vệ Công an. Nhưng khi Bác đi thăm các đơn vị Quân đội thì bên Cảnh vệ Quân đội chúng tôi đảm nhiệm với sự phối hợp của Cảnh vệ Công an. Chúng tôi và các anh Hoàng Hữu Kháng, Phan Văn Xoàn… bên Cảnh vệ Công an quý nhau lắm, thường xuyên gặp gỡ, phối hợp”.

Sau khi nghỉ hưu, Đại tá Tống Xuân Đài là một thành viên tích cực của “Hội cựu sỹ quan cận vệ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối”. Đây là một tổ chức được thành lập năm 2001 theo ý tưởng của Thượng tướng Phùng Thế Tài (người từng bảo vệ Bác Hồ trước năm 1940 tại Trung Quốc) và được chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt tên. Thành viên của Hội là các cựu sĩ quan Cảnh vệ Công an và Quân đội.

Trần Duy Hiển

cand.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào Bình dân học vụ

Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”.

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(1)

Đó là lời nói thể hiện hoài bão lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời cho việc thực hiện hoài bão ấy. Ngay sau khi tuyên bố nước nhà được độc lập, một trong những nhiệm vụ cấp bách mà Người chỉ ra là “diệt giặc dốt” và Người đã phát động phong trào Bình dân học vụ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu  những chỉ đạo cùng với sự quan tâm của Người với phong trào Bình dân học vụ qua tài liệu lưu trữ.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hiếu học. Nhưng hơn tám mươi năm Pháp thuộc, thực dân Pháp đã câu kết với bè lũ phong kiến, địa chủ kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt để đàn áp và bóc lột. Nạn mù chữ và thất học trầm trọng: 95% dân số không biết đọc, không biết viết.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Trong bản Tuyên ngôn, Người đã lên án và tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp với việc “chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học” trên đất nước ta. Theo thống kê cứ 3245 trẻ em mới có một trường học mà cứ 1000 dân thì có một nhà tù(2).

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà. Một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất, thiết thực nhất mà chính quyền Cách mạng vừa mới ra đời phải giải quyết trong hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn đó là “nạn dốt”. Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” (3).

Hồ Chủ tịch nói chuyện với các học viên nhân buổi khai mạc lớp huấn luyện Bình dân học vụ khóa Hồ Chí Minh năm 1945.

Chiến dịch chống nạn mù chữ chính thức dược phát động từ ngày 8 tháng 9 năm 1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra các sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt nam; Sắc lệnh số 19 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối; Sắc lệnh số 20 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền. Để phục vụ chiến dịch xoá mù chữ, Nha Bình dân học vụ được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1945. Khoá huấn luyện cán bộ bình dân học vụ đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh mở tại Hà Nội. Ngày 4 tháng 10 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi “Chống nạn thất học” gửi tới toàn thể quốc dân đồng bào: “…Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức, mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ…Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi” (4)

Theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, phong trào Bình dân học vụ được nhóm lên, lan rộng, ăn sâu vào các thôn xóm. Bình dân học vụ trở thành một phong trào nhân dân thực sự với những hình thức tổ chức hết sức linh động, thích nghi với điều kiện sinh hoạt của nhân dân lao động. Người học là những em bé, những cụ già, đặc biệt rất nhiều chị em phụ nữ. Giáo viên là các thầy giáo dạy ở các trường học, là cán bộ các ngành, là học sinh, bộ đội, từ mọi tầng lớp nhân dân, từ những người vừa thoát nạn mù chữ, ai đọc thông viết thạo đều có thể trở thành giáo viên bình dân học vụ. Lớp học là trụ sở của các trường phổ thông, các cơ quan chính quyền, doanh trại quân đội, nhà của tư nhân, đình, chùa …Nhiều nơi lá chuối, mo nang được đem dùng thay cho giấy; gạch non, sắn khô thay cho phấn viết; mặt đất, tường nhà, vách đá, lưng trâu … thay cho bảng đen. Mọi bước đi của phong trào Bình dân học vụ đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, theo dõi, chỉ đạo và động viên. Người tới thăm rất nhiều lớp bình dân học vụ, mỗi một thành tích lớn nhỏ của bình dân học vụ đều được Người gửi thư khen ngợi. Người thường xuyên gửi thư động viên anh chị em giáo viên bình dân học vụ. Trong thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ ngày 1 tháng 5 năm 1946 Người viết: “ Anh chị em chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu để mở mang trí thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc. Anh chị em làm việc mà không lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “ vô danh anh hùng”. Tôi mong rằng trong một thời gian ngắn, lòng hăng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả rất vẻ vang; Đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng.” (5)  Không chỉ động viên, khen ngợi, Người còn nhắc nhở anh chị em giáo viên vừa dạy, vừa học để nâng cao trình độ.

Diễu hành cổ động phong trào Bình dân học vụ năm 1946.
(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài liệu ảnh Phông Bộ Ngoại giao,KH: 3373, 3379)

Chỉ một năm sau ngày phát động phong trào đã tổ chức được 75.000 lớp học với trên 95.000 giáo viên; trên 2.500.000 người biết đọc, biết viết.(6)  Mỗi khi phong trào bước sang một giai đoạn mới, Người lại gửi thư chỉ rõ cho cán bộ và giáo viên bình dân học vụ những công việc cần phải làm. Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến, bình dân học vụ nhận thêm nhiệm vụ mới là trừ nạn mù chữ để đẩy mạnh kháng chiến với khẩu hiệu “Mỗi lớp học bình dân là một ổ tuyên truyền kháng chiến”. Trong thư gửi cho cán bộ và giáo viên bình dân học vụ khu III, Người chỉ rõ: “ Các lớp bình dân học vụ chẳng những dạy cho đồng bào học chữ, làm tính mà lại dạy thêm về công cuộc kháng chiến cứu nước, tăng gia sản xuất, giúp mùa đông binh sĩ, giúp đồng bào tản cư”(7)

Năm 1948 với phong trào thi đua yêu nước mà Người đề ra, bình dân học vụ chuyển sang một giai đoạn mới. Trong thư gửi cho anh chị em bình dân học vụ nhân dịp phát động phong trào thi đua ái quốc và kỷ niệm ngày Độc lập 2 tháng 9 năm 1948, Người chỉ rõ hướng đi tiếp theo của bình dân học vụ: “Trong phong trào thi đua ái quốc tôi mong các bạn cũng hăng hái xung phong. Vùng nào còn sót nạn mù chữ thì các bạn cố gắng thi đua diệt cho hết giặc dốt trong một thời gian mau chóng. Vùng nào đã hết nạn mù chữ, thì các bạn thi đua để tiến lên một bước nữa, bằng cách dạy cho đồng bào:

1-      Thường thức vệ sinh, để dân bớt ốm đau.
2-      Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm.
3-      Bốn phép tính để làm ăn quen ngăn nắp.
4-      Lịch sử và địa dư nước ta (vắn tắt bằng thơ hoặc ca) để nâng cao lòng yêu nước.
5-      Đạo đức của công dân, để trở thành người công dân đứng đắn.” (8)

Như vậy bình dân học vụ không chỉ dạy cho dân biết đọc, biết viết mà còn phải dạy cho đồng bào kiến thức khoa học thường thức, nâng cao dần trình độ dân trí.

Người còn nhắc nhở mọi người, mọi đoàn thể phải đoàn kết, đồng tâm hiệp lực thì mục tiêu “Tất cả đồng bào Việt Nam từ 8 tuổi trở lên đều biết đọc, biết viết” sẽ hoàn thành thắng lợi.

Phong trào Bình dân học vụ được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính Phủ ngày càng phát triển. Từ 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ năm 1946 tới năm 1948 là 6 triệu người và đến năm 1952 là 10 triệu người, chiến dịch xoá nạn mù chữ cơ bản được hoàn thành. Đi đôi với việc diệt giặc dốt, việc bổ túc văn hoá để củng cố sự đọc thông, viết thạo của những người đã thoát nạn mù chữ được tổ chức và đẩy mạnh, trình độ văn hoá của cán bộ và nhân dân lao động cũng được nâng lên.

Đã hơn sáu mươi năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào Bình dân học vụ, nền giáo dục Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc. Từ chỗ 95% dân số mù chữ, đến nay cả nước đã cơ bản phổ cập giáo dục, mỗi năm có hơn 20 triệu học sinh, sinh viên các cấp học đến trường, đội ngũ giáo viên các cấp học cũng ngày càng phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng. Thấm nhuần tư tưởng của Người về phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, từ những kinh nghiệm của phong trào Bình dân học vụ, chúng ta hy vọng ngành giáo dục Việt Nam sẽ thực hiện thành công mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đề ra: ” Phấn đấu xây dựng một nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân, vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(9)./.

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, NXBCTQG.H 1995, tập 4, tr.161
2. Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III, Phông Bộ Giáo dục, hồ sơ 146.
3.  Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG. H 1995, tập 4, trang 8.
4. Sdd, trang 36
5. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2663
6. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 146
7. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2663
8. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, hồ sơ 2663.
9. Văn kiện Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X, NXBCTQG, Hà nội 2006

Phạm Hải Yến –Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III

archives.gov.vn

Đi tìm người con gái M’Nông trong tấm ảnh với Bác Hồ

Trong số khách mời của buổi giao lưu với Đoàn viên thanh niên Công an mang tên “Mẹ cũng là chiến sỹ” do Công an tỉnh Đắk Lắk tổ chức có một người phụ nữ người dân tộc M’Nông đã đứng tuổi.

Khi được mời lên sân khấu để giao lưu, sau những câu chuyện thời kháng chiến được kể bằng vốn tiếng Kinh chậm như người già đếm hạt bắp. Cuối cùng, khi được hỏi về kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời hoạt động cách mạng của mình, người phụ nữ đã rút từ trong người ra 1 tấm ảnh đen trắng to hơn bàn tay giọng run run xúc động: “Đó là lần được gặp và chụp ảnh chung với Bác Hồ. Tấm ảnh này là tài sản quý nhất của nhà mình đấy!”.

Đổi họ thay tên để làm cách mạng

Lần theo địa chỉ mà Thượng tá Nguyễn Thị Minh Vẻ, Trưởng ban Công tác phụ nữ Công an tỉnh cung cấp, tôi làm một cuộc hành trình ngót gần 100km đi ngược về phía Đông nơi có vùng đất Đắk Phơi Anh hùng, nơi ngọn nguồn của dòng Sêrêpốk hùng vĩ. Đường vào xã Đắk Phơi, huyện Lắk những ngày này thật đẹp, hai bên đường những vạt dã quỳ khoe sắc vàng óng đùa nhau trong nắng. Phía xa xa, dãy núi Chư Yang Sin sừng sững như những chàng thanh niên M’Nông vai sát vai đang ưỡn những khuôn ngực trần rắn rỏi che chở cho buôn làng.

Theo chân một số cán bộ của xã Đắk Phơi, tôi tìm đến một căn nhà nhỏ nằm sâu trong buôn Bu Yúk. Amí Sơn – người phụ nữ đang chầm chậm nghe, chầm chậm nói với vốn tiếng Kinh ít ỏi của mình đang ngồi trước mặt tôi chính là người con gái M’Nông trong tấm ảnh ấy. Khi biết ý định của tôi, Amí Sơn như nhanh nhẹn hẳn, bà bước đến chiếc tủ gỗ duy nhất đặt giữa nhà, mở khoá lấy ra một gói nhỏ bằng quyển vở học sinh được bọc bằng nhiều lớp giấy bóng và cẩn thận lấy ra tấm ảnh quý.

Tấm ảnh quý Amí Sơn chụp chung với Bác Hồ.

Tấm ảnh đen trắng đã ngả màu được gìn giữ rất cẩn thận, trong ảnh là Bác Hồ với bộ kaki trắng và đôi dép cao su giản dị đang tươi cười hiền hậu. Ngay phía bên phải của Bác là Amí Sơn trong trang phục truyền thống của người M’Nông, nhỏ nhắn rụt rè trong lần đầu tiên được gặp Bác. Trong ảnh còn có một số đồng bào dân tộc thiểu số khác nữa cùng với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta thời bấy giờ. Và như không cầm lại được những xúc động, Amí Sơn bồi hồi nhớ lại những ngày tháng sôi nổi của mình.

Bà Amí Sơn tên thật là H Yiêng Đắk Chắt, SN 1940, trú ở buôn Liêng Plang, xã Đắk Phơi, huyện Lắk. Khi H Yiêng được 18 mùa rẫy thì cũng là lúc bom đạn của Mỹ, ngụy bắt đầu tàn phá các buôn làng ở Lắk, Krông Bông. Bà con M’Nông ở đây một lòng theo cách mạng và những người thanh niên khoẻ mạnh của các buôn M’Nông đã xung phong vào rừng theo bộ đội lập căn cứ đánh giặc. Còn những cô gái như H Yiêng thì ở lại làm chiến sỹ hành lang chuyên gùi đạn dược, lương thực vào tiếp tế cho khu căn cứ. Địch ruồng bố rất ác liệt nhằm triệt hạ đường tiếp tế của ta vào Đắk Phơi, chúng lùng sục, bắt bớ, đánh đập, giết hại những người bị phát hiện tiếp tế cho bộ đội.

Trước tình hình đó, để tránh bị phát hiện, theo chỉ đạo của tổ chức, H Yiêng Đắk Chắt đã đổi tên họ M’Nông cha sinh mẹ đẻ của mình thành một tên họ mới là H Yuôm Bkrông – một cái tên thuần chất của người Êđê. Trong những ngày tháng hoạt động của mình, cô gái trẻ dũng cảm H Yuôm Bkrông đã cùng chị em trong buôn bí mật gùi nhiều đạn, gạo muối tiếp tế cho bộ đội trong khu căn cứ. Vào một buổi chiều cuối năm 1963, khi nhóm của H Yuôm đang gùi đạn vào rừng thì bất ngờ lọt vào ổ phục kích của địch, chúng bắn như mưa về phía chị em gùi hàng, một số người đã ngã xuống, riêng H Yuôm bị trúng 3 phát đạn vào đầu và người, bị thương rất nặng. Rất may, bộ đội ta từ trong căn cứ đã ứng cứu kịp thời đánh lui quân phục kích, cứu được nhiều người và đạn dược, trong đó có H Yuôm.

Trước tình hình sức khoẻ của H Yuôm cũng như những cống hiến trước đây của chị, năm 1964, tổ chức quyết định bí mật đưa H Yuôm ra miền Bắc để chữa bệnh và học tập để sau này quay trở về phục vụ quê hương. Sau hơn 5 tháng trời đi bộ băng qua các cánh rừng bằng những con đường bí mật, nhóm của H Yuôm gồm chị và một số phụ nữ M’ Nông nữa mới đến Thanh Hoá, và từ đây, H Yuôm được ra Thủ đô Hà Nội bằng tàu hoả.

Trong những ngày tháng lưu lại Thủ đô, sau một thời gian được chăm sóc, sức khỏe của H Yuôm hồi phục, chị đã được bố trí đi học chữ ở một ngôi trường ngoại thành cùng nhiều chị em dân tộc thiểu số đến từ các vùng miền của Tổ quốc. Mặc dù có được cuộc sống an nhàn đầy đủ hơn những ngày đi gùi đạn, nhưng nỗi nhớ buôn làng, bạn bè, đồng đội thì như cái bóng người lúc lên nương cứ đeo bám lấy H Yuôm.

Bà Amí Sơn (giữa) trong buổi giao lưu tại Công an tỉnh.

Và chính trong thời gian này, một món quà lớn đã đến với chị. Tình cờ trong một lần mấy chị em người dân tộc thiểu số đang túm tụm trong phòng với cái lạnh của mùa đông miền Bắc thì có cán bộ của trường đến thông báo rằng H Yuôm và một số người nữa chuẩn bị để đi gặp Bác Hồ. Là người con của buôn làng, cũng như nhiều người già người trẻ khác của Tây Nguyên chưa một lần được gặp Bác, chỉ được nghe qua lời kể của bộ đội trong căn cứ Đắk Phơi, nhưng những câu chuyện bình dị về Người đã để lại những tình cảm đặc biệt trong lòng người con gái M’Nông.

Sau một đoạn đường dài đi bằng ôtô từ ngoại thành vào Thủ đô đến nơi Bác làm việc, mọi người tập trung trước tiền sảnh của phòng họp nơi Bác đang cùng với các đồng chí trong Chính phủ bàn việc nước, ai ai cũng ngóng chờ để được gặp Người. Và cái không khí chờ đợi ấy cũng vỡ òa khi Bác Hồ giản dị từ phòng họp bước ra. Mọi người ùa đến vây quanh Bác, Bác thăm hỏi từng người, gặp H Yuôm, Bác ân cần hỏi han về cuộc sống của bà con người Êđê, M’Nông đang đồng cam cộng khổ với bộ đội đánh giặc… Và cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đấy đã để lại cho H Yuôm một món quà quý giá, đó là tấm ảnh được chụp chung với Bác Hồ mà cho đến bây giờ bà vẫn nâng niu như một báu vật.

Sau lần gặp Bác, vì điều kiện của chiến tranh, chị và nhiều người con Tây Nguyên khác vẫn chưa về được với buôn làng. Theo yêu cầu của cách mạng, H Yuôm đã được đi rất nhiều nơi ở miền Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hoá… ở đây, chị vừa được học tập, vừa tham gia sản xuất để phục vụ chiến trường.

Một điều thú vị là những ngày tháng ở Cao Bằng, H Yuôm đã gặp Y Săm Niê là người Êđê ở xã Ea Sol, huyện Ea H’leo, Đắk Lắk cũng được đi ra Bắc giống như H Yuôm. Nỗi nhớ quê hương và sự đồng cảm đã đưa 2 người đến với nhau và thành vợ thành chồng. H Yuôm và Y Săm cưới nhau và sinh được 3 người con là Y Sơn Bkrông, Y Thủy Bkrông và H’ Hà Bkrông. Những đứa con của H Yuôm vẫn được lấy theo họ đã đổi của bà như là một tấm lòng sắt son với cách mạng. Phải đến hơn 1 năm sau ngày giải phóng, gia đình H Yuôm mới trở về với buôn làng sau hơn 12 năm xa cách.

… Và những nghĩa tình của thế hệ hôm nay

Trở lại với câu chuyện Amí Sơn đi lên Công an tỉnh làm khách mời trong buổi giao lưu “Mẹ cũng là chiến sỹ”. Sau buổi giao lưu đầy cảm động đó, Thượng tá Nguyễn Thị Minh Vẻ, Trưởng ban Công tác phụ nữ Công an tỉnh đã cùng một số chị em nữa tìm đến nhà của Amí Sơn ở buôn Bu Yúk và biết được cuộc sống gia đình bà còn gặp rất nhiều khó khăn. Các con đều đã lớn và lập gia đình, chỉ còn 2 vợ chồng bà già yếu sống trong ngôi nhà ván ọp ẹp. Sức khỏe của ông Y Săm và Amí Sơn đều yếu, cái chân không còn muốn bước lên rẫy nữa. Những mảnh đạn còn sót lại trong người bà ngày nào giờ đây bắt đầu hành hạ những lúc thời tiết thay đổi.

Cảm thông với hoàn cảnh của bà, khi về đơn vị, chị Vẻ đã lên kế hoạch vận động chị em từ các chi hội của Công an tỉnh góp tiền để xây nhà tình nghĩa cho Amí Sơn. Và chỉ trong vài tháng, với tấm lòng và nghĩa cử của những người chiến sỹ Công an Đắk Lắk muốn đền đáp đối với những người có công với cách mạng, căn nhà tình nghĩa trị giá 30 triệu đồng đã được khởi công xây dựng.

Chúng tôi trở lại thăm Amí Sơn đúng vào ngày Công an tỉnh Đắk Lắk và buôn Bu Yúk làm lễ khánh thành ngôi nhà tình nghĩa cho Amí Sơn. Cả buôn Bu Yúk vui như ngày hội, những ché rượu cần mà mọi người trong buôn đem tới chúc mừng được bày ra giữa ngôi nhà mới xây còn thơm mùi vữa. Ông Y Săm cẩn thận trau chuốt lại bộ quân phục, chiếc mũ kêpi và những kỷ niệm chương, kỷ vật thời chiến tranh đã cũ, còn Amí Sơn thì cái bụng vui đến nỗi cứ đi ra đi vào ngôi nhà mới mà chẳng biết làm gì. Ngoài kia, những vạt cúc quỳ vẫn vàng rực reo vui và hương của hoa cà phê, của những chồi non đang đua nhau nảy lộc chuẩn bị đón chào mùa xuân mới…

Viết Nghĩa

cand.com.vn

3 bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai cháu Lê Thị Thanh, Nguyễn Thị Bình và cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh

Những bức thư này hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III- Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chưa được bao lâu thì Thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Để bảo vệ những thành quả của cách mạng, giữ gìn độc lập tự do của dân tộc vừa giành được, quân và dân ta đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ và ác liệt. Trong cuộc kháng chiến ấy, nhiều chiến sĩ, đồng bào ta đã bị thương và hi sinh. Đảng, Bác Hồ và nhân dân luôn biết ơn và dành tình cảm yêu thương cũng như ủng hộ về vật chất để chăm sóc các gia đình liệt sĩ, anh em thương binh, bệnh binh tận tình chu đáo. Nhiều hoạt động giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ đã được thực hiện, được nhiều người, nhiều tầng lớp tham gia, đặc biệt là các em nhỏ.

Tháng 2/1948, Bác Hồ đã phát động phong trào Trần Quốc Toản để các cháu thiếu nhi tham gia giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ, bộ đội. Thực hiện lời dạy của Bác, nhiều em đã tham gia phong trào này bằng nhiều cách khác nhau như quét nhà, gánh nước, lấy củi, giữ em, dạy chữ quốc ngữ, tiết kiệm tiền gửi tặng các chú thương binh, bộ đội…

Năm 1953, có hai em học sinh là Lê Thị Thanh và Nguyễn Thị Bình ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã tiết kiệm được một số tiền và gửi lên Bác để làm quà tặng anh em bộ đội và thương binh.

Với sự quan tâm đặc biệt tới các cháu thiếu niên nhi đồng và anh em bộ đội, thương binh, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian gửi thư khen ngợi và động viên hai cháu.

Thư gửi cháu Thanh, Bác viết:

Thân ái gởi cháu Thanh,

Bác cảm ơn cháu đã gởi lên Bác 10 vạn đồng để làm giải thưởng và làm quà tặng anh em bộ đội và thương binh.

Bác giữ lại 5 vạn của cháu, và Bác thêm vào 5 vạn để làm quà và làm giải thưởng. Bác gởi lại cháu 5 vạn để cháu làm vốn mà tăng gia.

Bác mong cháu thương yêu và nghe lời cha mẹ, cố gắng học để đọc thông viết tốt, và cố gắng tăng gia.

Bác hôn cháu.

Bác gởi biếu cháu 1 cái huy chương”.

                                                     Tháng 1 năm 1953

                                                          BÁC HỒ

Thư Bác Hồ gửi cháu Lê Thị Thanh (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), tháng 1.1953. (1).

Thư gửi cháu Bình, Bác viết:

Thân ái gửi cháu Bình,

Bác cảm ơn cháu đã gửi lên Bác 2 vạn đồng để làm quà tặng anh em thương binh.

Bác giữ 1 vạn của cháu, và thêm vào 1 vạn của bác để làm quà cho các anh thương binh. Còn 1 vạn, Bác gởi lại cho cháu, để cháu làm vốn mà tăng gia.

 Bác mong cháu luôn luôn ngoan, và cố gắng học viết chữ cho tốt hơn.

Bác gửi biếu cháu 1 cái huy chương.

Bác hôn cháu”.

                                                                               Tháng 1 năm 1953

BÁC HỒ

Thư Bác Hồ gửi cháu Nguyễn Thị Bình (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), tháng 1.1953. (2)

Hai thư Bác viết ngắn gọn, lời lẽ giản dị, gần gũi. Bác đề xuất cách sử dụng số tiền tiết kiệm của các cháu thật ý nghĩa. Với mỗi cháu Bác đều dặn dò khuyên nhủ làm những việc thiết thực, có ích.

Số tiền của hai cháu cùng với số tiền của đồng bào các nơi gửi đến Bác đã gửi cho Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh làm quà tết cho anh em thương binh cùng với thư như sau:

“ Thân ái gởi Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh.

Tôi xin gởi sang Cụ 50 vạn đồng (năm mươi vạn), do đồng bào các nơi gửi đến tôi, trong đó có 12 vạn đồng do các cháu nhi đồng gởi.

Nhờ cụ chuyển số tiền đó làm quà Tết ta cho anh em thương binh, với lời chào thân ái của tôi, của đồng bào và các cháu nhi đồng”.

                                              Chào thân ái và quyết thắng,

                                                     HỒ CHÍ MINH  

                     1/53

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh, tháng 1.1953. (3).

Trên đây là toàn văn nội dung 3 bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai cháu Thanh, Bình và Cụ Bộ trưởng Bộ thương binh Cựu binh, tháng 1/1953. Những bức thư này hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 1494. Cả 3 bức thư đều chưa được công bố trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 1995.

Nhân dịp kỉ niệm 64 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2011), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn 3 bức thư cùng bạn đọc. Qua những bức thư này, một lần nữa chúng ta lại thấy được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới các cháu thiếu niên nhi đồng, tới anh em thương binh bệnh binh, cũng như thấy được truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”- một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta.

Phạm Hải Yến – Trung tâm lưu trữ quốc gia III

Tài liệu tham khảo:
(1)(2)(3) Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 1494.

archives.gov.vn

Kỷ niệm về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiến Sĩ Ngữ Văn Nicôlai Niculin

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu.

Từ những năm 1970-2000, Nicôlai Niculin là Tiến sĩ Ngữ văn, chuyên gia cao cấp của Liên Xô và Liên bang Nga về văn học Việt Nam. Nhân kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã in bài viết này trong sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” xuất bản 2010 ở Moskva. Nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 100 năm Người ra đi tìm đường cứu nước, chúng tôi xin chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Nga bài viết của ông.

Vào một ngày hè đẹp trời năm 1954, tôi được mời tới gặp Alêxanđr Anđrêevich Lavrisev – người vừa được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đại sứ dáng người cao, hơi mập, tiếp tôi rất lịch sự, chăm chú nhìn tôi, rồi hoàn toàn bất ngờ là đến cuối cuộc đàm luận ông thân mật và cởi mở mỉm cười với tôi. Những câu hỏi và câu trả lời cô đọng, ngắn gọn diễn ra trong vòng năm phút. Tôi đã sống và có thể nói là rất mê say Việt Nam, nên khi nói về đất nước này, đặc biệt là với Đại sứ, thì đó là một niềm hứng thú lớn với tôi. Tôi bước ra ngoài phòng khách, một phút sau người thư ký của Đại sứ xuất hiện. “Anh sẽ đến Việt Nam” – anh tươi cười nói với tôi.

Bác Hồ với thiếu nhi Liên Xô khi Bác thăm đất nước Lênin – 1957.

Còn tôi thì thật bàng hoàng vì hạnh phúc quá bất ngờ. Người thư ký bắt chặt tay tôi: “Chúc may mắn! Anh sẽ được nhìn thấy đất nước của Hồ Chí Minh. Tôi cũng rất muốn, nhưng… Tôi khuyên anh một điều: Trong những cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh sắp tới, mà anh sẽ luôn luôn được gặp, hãy tự nhiên, chân thành, giản dị và hoạt bát như hôm nay với đồng chí Đại sứ. Chúc lên đường may mắn!”.

Ngày 29/10/1954, hai tuần rưỡi sau khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Đại sứ đầu tiên của Liên Xô đã tới thủ đô cổ kính của Việt Nam. Dọc đường suốt từ biên giới Việt – Trung đến Hà Nội là những cổng chào cao bằng tre được dựng lên, bên trên là những băng rôn chữ vàng trên nền vải đỏ thắm chào mừng lãnh đạo, nhân dân Liên Xô, Tòa đại sứ đầu tiên của Liên Xô ở Việt Nam và vị Đại sứ đầu tiên A.A.Lavrisev.

Tới Thủ đô, một cuộc mittinh nhanh gọn chào đón đã diễn ra. Chúng tôi được đưa về nơi ăn chốn ở và làm việc. Nhưng Đại sứ quán thì sửa chữa chưa xong. Mà ngày 7/11, ngày kỷ niệm lần thứ 37 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại – ngày quốc lễ của nhân dân Liên Xô thì đang đến gần.

Dĩ nhiên là tất cả mọi người đều nghĩ rằng, trong tình hình quốc tế như thế này không thể chỉ tổ chức kỷ niệm trong khuôn khổ tiếp khách ngoại giao hạn hẹp, mà cần phải tổ chức với quy mô lớn và trọng thể. Bởi vì đó không chỉ là uy tín của Nhà nước Xôviết. Trong những ngày đó, báo chí phương Tây rất muốn mô tả cuộc sống của những người tham gia kháng chiến trở về Hà Nội và ban lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam như ở trong một pháo đài bị bao vây không thể hoạt động bình thường và cả với các cơ quan nhà nước cũng như các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài.

Theo tôi nhớ thì lúc đó, đầu tháng 11/1954, ngoài Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội còn có Đại sứ quán nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và còn có khá nhiều phái đoàn đại diện từ Ấn Độ, Canada, Ba Lan đến Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Do vậy, Đại sứ quán Liên Xô dù thế nào thì cũng phải được tổ chức tốt theo các điều luật và nghi thức ngoại giao quốc tế, và tiếp đón trọng thể trên diện rộng với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, với Ủy ban quốc tế giám sát thực hiện Hiệp định Giơnevơ cũng như với các nhà ngoại giao quốc tế.

Bác Hồ gặp gỡ các chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam năm 1960.

Rõ ràng là những buổi tiếp như vậy trên phương diện chính trị không thể tiến hành giống như những hoạt động thông thường, làm quen theo nghi thức bình thường để thắt chặt mối hợp tác quốc tế. Mà buổi tiếp khách trọng thể của Đại sứ quán Liên Xô cần phải thực hiện một vai trò quan trọng khác nữa. Nó sẽ phải là một sự kiện thể hiện khẳng định vị thế mới của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi trên trường quốc tế, vị thế ổn định vững chắc của nó ở miền Bắc Việt Nam. Và một sự trùng hợp thật đặc biệt mang tính biểu tượng là ngày lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.

Điều hiển nhiên là toàn bộ nhân viên của Đại sứ quán đều tham gia công tác chuẩn bị. Vấn đề địa điểm tổ chức buổi tiếp khách nhanh chóng được quyết định: Cả ban lãnh đạo Việt Nam và Đại sứ quán Liên Xô đều nhất trí chọn hội trường rộng rãi của Câu lạc bộ quốc tế cạnh Phủ Chủ tịch. Việc này đã được sắp xếp xong. Tuy nhiên vấn đề là sẽ có hàng trăm vị khách mời và sẽ tổ chức bữa tiệc chiêu đãi lớn, mà khu nhà bếp nơi đây chật hẹp quá, bất lợi.

Thì bỗng nhiên có một đề xuất rất hay mà khó có ai nghĩ tới (mà theo tôi chắc là của Hồ Chí Minh). Có lẽ đây là một việc “chưa từng có trong lịch sử” mà không một nước nào hay một ai nghĩ ra. Trong các hồi ức của mình tôi thường phải dùng cụm từ “chưa từng có trong lịch sử”. Vì quả thực đây là một quãng thời gian thật đặc biệt mà chúng tôi lúc đó mới bắt đầu nhận thấy. Nhận thức rõ điều này không phải để ngạc nhiên hay giải trí, mà là để hiểu rõ hơn nữa quá khứ, hiện đại và hình dung cho mình cả tương lai.

Một đề nghị khác thường đã được đưa ra: dùng phòng bếp tầng trệt của Dinh Chủ tịch để làm nơi nấu nướng vì tại đây đã có đầy đủ tiện nghi, cho dù đã cũ. Dinh thự này trước đây là nơi làm việc của các viên toàn quyền Pháp, do đó mà khu bếp của viên toàn quyền rất rộng rãi và thoáng đãng.

Người chủ mới của dinh thự này là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ núi rừng Việt Bắc trở về Hà Nội, vẫn với thói quen khiêm tốn và bản tính giản dị, tính dân chủ tự nhiên, sự tinh tế và văn hóa ứng xử cao mang tính truyền thống của Việt Nam nên Người không muốn làm việc tại các gian phòng sang trọng của dinh thự này mà chỉ dùng làm nơi tiếp khách và tổ chức các sự kiện trọng đại của nhà nước. Còn chính Chủ tịch thì sống và làm việc tại một ngôi nhà khiêm tốn trong khu vườn cách đó không xa.

Vậy là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho phép sử dụng nhà bếp của Dinh Chủ tịch làm nơi Đại sứ quán Liên Xô chuẩn bị tiệc chiêu đãi khách vào ngày 7/11 tới. Người đầu bếp của Đại sứ quán Xôviết là chị Nhina Yanôvna chỉ huy nhóm đầu bếp giỏi của Việt Nam. Chị còn trẻ, đầy sức sống, nhân hậu và đáng yêu, cởi mở, dáng người hơi cao và mập như nhiều đầu bếp khác.

Nhưng lại có một trục trặc bất ngờ: Chị Nhina không biết một ngoại ngữ nào, còn các người Việt phụ giúp chị thì không biết tiếng Nga. Nhưng đã nhanh chóng tìm ra cách giải quyết. Đã có hai chàng trai được đưa tới giúp chị: đó là thực tập sinh Nicôlai Niculin và tùy viên Yu.Cuznhexôv. Phải công nhận rằng, chúng tôi rất sẵn sàng vào nhà bếp với tâm trạng rất hào hứng, nhưng cũng rất lo lắng vì vốn tiếng Việt còn hạn chế, nhất là những từ và thuật ngữ về món ăn Việt Nam với chúng tôi hoàn toàn còn chưa biết.

Tuy nhiên những lo lắng của chúng tôi là vô ích. Trong gian bếp rộng của Dinh Chủ tịch, dù mọi người chưa biết tiếng của nhau nhưng lại tràn ngập bầu không khí sôi nổi, hiểu biết lẫn nhau và háo hức làm việc. Chị Nhina đã quen dần và giải thích, hướng dẫn cho các bạn Việt Nam chủ yếu bằng cử chỉ, động tác. Còn các bạn Việt Nam thì đã học được một số từ tiếng Nga cần thiết.

Nhina Yanôna cũng đã đạt được mấy thành công bước đầu về tiếng Việt. Khi chị nói được những từ “tot lam” hay “khong tot”, “them ơt”, “them nươc”… thì ai cũng hiểu được và không ai để ý tới những lỗi phát âm. Tôi và Yu.Cuznhexôv bị cuốn hút vào công việc không chỉ với vai trò phiên dịch mà còn là người giúp việc nấu nướng. Tất cả cùng làm việc vui vẻ và thân mật.

Thế rồi tới gần 1 hay 2 giờ đêm, Bác Hồ nhẹ nhàng bước vào nhà bếp. Tôi nghĩ rằng các vị Tổng thống của các nước rất ít, thậm chí là chẳng bao giờ xuống nhà bếp. Nhưng đây lại chính là vị Chủ tịch của nhân dân – Bác Hồ! Đây quả thật là một sự kiện rất bất ngờ đối với chúng tôi – những cán bộ của Đại sứ quán Liên Xô và cả các đầu bếp Việt Nam. Và chúng tôi đã đi hết từ bất ngờ này đến ngạc nhiên khác.

Nói hay không thì ai cũng thấy rằng, sự xuất hiện của Bác Hồ ở đây chứng tỏ rằng cuộc tiếp khách ngày mai có ý nghĩa rất trọng đại.

Hôm đó không phải là lần đầu tôi được gặp Hồ Chí Minh. Cuộc gặp lần đầu của tôi với Người là trước đó một ngày, ngày 5 tháng 11, khi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tất cả các nhà ngoại giao của Đại sứ quán Liên Xô. Lúc đó tôi đang là thực tập sinh nên không có trong danh sách được mời và chỉ nhận được giấy mời trước buổi tiếp 30 phút.

Những dòng chữ vàng lấp lánh duyên dáng ghi trong thiếp mời: “Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rất hân hạnh mời thực tập sinh N.I.Niculin tới dự buổi tiếp đón nhân dịp Đại sứ Liên Xô đến Việt Nam”.

Cụm từ “rất hân hạnh” là một nghi thức ngoại giao bình thường. Nhưng khi nó được kết hợp với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh thì âm hưởng của nó thiêng liêng biết bao. Buổi tiếp diễn ra dưới hình thức chiêu đãi chính thức cùng với việc trao đổi diễn từ của hai bên. Là thành viên trẻ nhất trong đoàn Đại sứ quán Xôviết, tôi ngồi cách xa Hồ Chí Minh, nhìn Người trò chuyện với A.A.Lavrisev và các chiến hữu của mình.

Còn bây giờ thì trong nhà bếp của Dinh Chủ tịch là một Bác Hồ hoàn toàn khác. Bác mặc chiếc áo cổ bẻ đã bạc màu, miệng ngậm điếu thuốc lá, mỉm cười sảng khoái và đôn hậu. Bác Hồ đi quanh khắp bếp, bắt tay chào bếp trưởng Nhina Yanovna, tôi và Yuri Cuznhexôv. Bác chăm chú nhìn khắp gian bếp, hỏi thăm công việc chuẩn bị tới đâu. Được biết rằng tất cả công việc đã hoàn tất, Bác gật đầu hài lòng và ân cần nhìn chúng tôi với ánh mắt của một người cha.

– Các cháu có chỗ ngủ đâu chưa? – Bác Hồ đột nhiên hỏi chúng tôi thật ân cần và đơn giản.

Bối rối trước sự quan tâm chu đáo của vị Chủ tịch tới tiện nghi sinh hoạt của mình, chúng tôi thưa rằng sẽ đi bộ về nơi ở của mình.

– Không được, giờ đã muộn rồi, – Chủ tịch dịu dàng nói. – Ở Dinh Chủ tịch vẫn còn chỗ cho hai chàng trai Xôviết đấy! Thành phố đã vào đêm yên tĩnh nhưng cần nên cảnh giác. Các chú hãy thu xếp chu đáo cho hai thanh niên này nhé! Người nói và gật đầu với mấy cán bộ cùng đi.

Cũng như khi đi vào đây, Người thư thả nhìn tất cả khắp lượt rồi đi ra khỏi nhà bếp.

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu. Trong tôi trào dâng lòng biết ơn về sự quan tâm mà Bác Hồ đã dành cho chúng tôi. Chiều hôm sau, ngày 7/11, tôi lại được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh ở cửa vào Câu lạc bộ quốc tế, nơi sắp diễn ra buổi tiếp khách trọng thể. Người đã nhận ra tôi và chào tôi như gặp người quen cũ.

– Cháu trẻ quá!

Người nói với tôi như với người thân, rồi tới gặp vị Đại sứ

Hồng Nhật (Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)

cand.com.vn

Chúng con xin nghiêng cánh vĩnh biệt Người

40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Kể về phi đoàn máy bay trong Lễ tang Bác Hồ)

“Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của dân tộc ta…”

Tiếng đọc điếu văn của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam vừa dứt thì hàng loạt tiếng gầm của đại bác nghi lễ và một đoàn 24 chiếc Mích như con rồng trắng chầm chậm bay qua lễ đài. Phi đoàn máy bay dường như cũng muốn dừng lại, tiễn đưa Bác.

Tiếng động cơ vừa dứt thì hàng ngàn cháu thiếu nhi khóc nức nở, ùa ra kín quảng trường. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước bước xuống lễ đài vừa gạt nước mắt, vừa an ủi các cháu, động viên đồng bào.

Khoảng cuối năm 1967, đầu năm 1968, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng Không – Không Quân (PK-KQ), Phó tổng Tham mưu trưởng (PTTMT) Phùng Thế Tài được Quân ủy cử sang Liên Xô, Bungari… tìm hiểu về cách tổ chức và nghi thức lễ quốc tang (điều mà từ trước đến nay ta chưa từng có). Ông lên đường với nỗi buồn sâu sắc.

Hàng tháng, hàng tuần, ông thường được vào báo cáo với Bác, với các đồng chí trong Thường vụ Bộ Chính trị về diễn biến chiến đấu trên chiến trường miền Nam, về chiến công đánh máy bay Mỹ ở miền Bắc. Nên ông thấu hiểu công việc của mình làm.

Gần đây, sức khỏe của Bác không được tốt. Rõ ràng nhiệm vụ của ông có liên quan đến sức khỏe của “Ông Cụ”.

Khoảng tháng 7/1969, sau khi giao nhiệm vụ luyện tập thực binh ở các địa điểm khác, ông đầu tư suy nghĩ tới lực lượng Không quân.

Sau khi trao đổi với đồng chí Tư lệnh Quân chủng PK-KQ, với Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân, PTTMT quyết định sử dụng phi đoàn hỗn hợp 24 chiếc Mích 21 và Mích 17. Mích 17 bay trước ở độ cao thấp, Mích 21 bay sau, hình thành đội hình hỗn hợp. Đây là những đơn vị đã từng lập nên những chiến công vang dội làm khiếp đảm quân thù.

Một số sĩ quan Không quân có kinh nghiệm, được triệu tập về lên kế hoạch với điều kiện không gian diễn tập phải phù hợp với địa hình. Tính toán làm sao đúng giờ G, phi đoàn có mặt ở điểm X. Đây là thời điểm hết sức quan trọng. Chậm một phút, nhanh một phút đều ảnh hưởng tới sự tôn nghiêm của buổi lễ.

Sau khi duyệt phương án PTTMT trao quyền cho các trung đoàn chọn những phi công giỏi có kinh nghiệm, chấp hành kỷ luật nghiêm, có thêm chiến công càng tốt.

Người dẫn đầu phi đoàn sẽ là ai? Trung đoàn trưởng đoàn KQ Sao Đỏ 921 không đắn đo đề cử Nguyễn Hồng Nhị. Anh là phi công đầu tiên dùng máy bay Mích 21 bắn rơi máy bay Mỹ trên vùng trời Việt Nam, một chỉ huy phi đội mẫu mực, mới được phong Anh hùng lực lượng vũ trang. Anh lại là người miền Nam, phù hợp với ý nguyện của Bác.

Đoàn KQ Yên Thế 923 cử Cao Thanh Tịnh, một đại đội trưởng Mích 17 giỏi, kỹ thuật tốt. Tiếp sau đại đội trưởng là Nguyễn Văn Bẩy, người chiến sĩ quê vùng Bạc Liêu bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Sau lần gặp Bác và sau khi được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang một ngày, anh lại bắn rơi tiếp một chiếc nữa.

Đầu tháng 8/1969, đơn vị Mích đóng quân ở sân bay Nội Bài được lệnh thực hành luyện tập. Đồng thời, đơn vị Mích ở sân bay Kiến An cũng được chỉ thị bay tập theo kế hoạch. Bộ đội nhận được lệnh là hành động, không cần biết mục đích của những lần tập đó. Vì vậy, mục tiêu của nhiệm vụ được giữ bí mật tuyệt đối.

Đêm 3/9/1969, các Đảng viên trong toàn quân được đánh thức dậy. Ai về nhà đều được gọi về đơn vị. Các chi bộ phổ biến tình hình sức khoẻ của Bác. Cả đêm hôm đó hầu như bộ đội không ngủ.

6 giờ sáng ngày 4/9/1969 giọng nghẹn ngào đầy nước mắt của Phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam, Quốc hội, Chính phủ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo tin cho toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước – Bác Hồ đã từ trần.

Các chiến sĩ PK-KQ bàng hoàng. Mọi người không tin ở tai mình. Trên các trận địa pháo cao xạ, tên lửa, ra-đa, trên các sân bay, nhiều chiến sĩ ôm nòng pháo, bệ phóng, cánh bay khóc nấc.

Ở các sân bay chiến đấu, những chiến sĩ trực ban đêm đang ngủ chồm cả dậy. Mọi hoạt động dường như ngừng cả lại. Bộ đội nghe đi, nghe lại thông báo đặc biệt được phát từ những chiếc đài “Xung mao” bé nhỏ đeo bên hông, từ những chiếc loa công cộng ở phi trường. Không khí tang tóc, đau thương trùm lên toàn đơn vị. Tới lúc này, các thành viên tham gia trong đội hình khối bay mới hiểu mục đích của những cuộc luyện tập mà mình đang thực hiện.

Cũng như các anh em trong phi đoàn, Nguyễn Hồng Nhị lúc này mới biết việc mình làm cách đây không lâu. Anh nhận nhiệm vụ bay buồng kín theo phần tử dẫn đường tính sẵn ở độ cao 1500 mét. Anh cảm thấy đây là vệt bay qua khu vực cấm trên vùng trời Hà Nội.

Nghe nói: Hôm đó, lúc tỉnh, lúc mê, nghe tiếng động cơ máy bay bay qua, Bác hỏi – Tiếng động cơ gì thế? Những người trực chung quanh hiểu rõ mục đích chuyến bay, đã thưa với Bác – Tiếng động cơ ôtô từ bên ngoài vọng vào. Người đâu có hay biết, đó là chuyến bay thử nghiệm để phi đoàn máy bay sắp làm nhiệm vụ tiễn Bác đi xa.

Ngay chiều 4/9/1969, 12 chiếc Mích 17 và 2 chiếc dự bị từ sân bay Kiến An được lệnh chuyển về sân bay Gia Lâm. Đồng thời, đài chỉ huy KQ trực tiếp bằng mắt được đặt trên nóc căn nhà cao tầng số 4 trước Phủ Chủ tịch. Đài dẫn đường bến đò Dâu trên trục đường Hùng Vương và một đài định hướng ở Thường Tín cũng được triển khai gấp.


Lễ truy diệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quãn trường Ba Đình – Hà Nội.
Ảnh TL.

Sau ngày 2/9, mưa tầm tã, mây rất thấp. Nhất là sau những ngày toàn dân, toàn quân nghe thông báo của Ban chấp hành Trung ương, Chính phủ, Quốc hội… trời đất dường như cũng muốn chia sẻ nỗi buồn cùng đồng bào, chiến sĩ cả nước. Các chiến sĩ KQ ngước mắt nhìn trời. Anh em chỉ lo không được tham gia trong đội hình toàn quân tiễn đưa Bác. Anh em thèm một khoảng trời xanh, một tia nắng nhạt.

Vất vả nhất là cán bộ, chiến sĩ dự báo khí tượng. Anh em thức trắng đêm với những đường đẳng áp, độ ẩm, nhiệt độ với hướng gió, lượng mây… Nha khí tượng cử những chuyên viên giỏi nhất sang giúp Quân chủng… Những mái đầu chụm vào nhau trao đổi, tranh luận. Vô vọng! Có nhiều khả năng mưa cả tháng.

Nghe thông báo khí tượng hàng giờ, phi công trong phi đoàn không ngần ngại. Anh em quyết tâm bay trong mây, nếu mây quá dày và thấp. Mưa dai dẳng tới đâu cũng có lúc trời hửng lên một chút, là bộ đội yêu cầu được hợp luyện.

Thời tiết không cho phép, bộ đội chỉ hợp luyện được một lần. Rất may, hợp luyện đạt kết quả tốt. Những yêu cầu nghiêm ngặt đối với các thành viên trong phi đoàn được tuân thủ triệt để. Đây là điều không dễ dàng đối với mỗi người bay ở những phút giây đau đớn, xót thương đến cùng cực này. Với người chỉ huy phi đoàn Mích 21 – Nguyễn Hồng Nhị lại là điều cố gắng phi thường. Tháng 12/1966, các phi công có thành tích xuất sắc được vinh dự gặp Bác ở Phủ Chủ tịch. Sau khi thăm hỏi gia đình, Bác trao cho Nguyễn Hồng Nhị chiếc đồng hồ đeo tay nữ và dặn:

– Chiến công của chú, trong đó có công của cô ấy. Chú phải đeo chiếc đồng hồ này vào tay cô ấy và nói là của Bác tặng.

Anh cũng như đồng đội phải có trái tim bằng thép để không xảy một chút sai sót, không để nước mắt làm nhòa mắt. Sẽ là đắc tội với đồng bào, chiến sĩ cả nước, với bà con bốn biển, năm châu trân trọng, kính yêu Bác, nếu có điều gì xảy ra, cho dù rất nhỏ.

*

Dường như cũng chiều lòng người, sáng ngày 9/9/1969 trời vẫn âm u, mây thấp nhưng tạnh ráo. Hàng chục vạn người tập trung ở quảng trường Ba Đình đứng thành từng khối vuông vức. Không gian im lặng đến kỳ lạ. Tất cả mọi người hướng về lễ đài. Nơi đó, có tấm ảnh Bác khá to và một giải băng đen viền quanh.

Tang lễ bắt đầu trong không khí trang nghiêm, kính cẩn.

Trên nóc ngôi nhà số 4 đối diện với Phủ Chủ tịch, Chủ nhiệm dẫn đường Quân chủng Phạm Ngọc Lan cầm ống nói theo dõi từng chặng đường của đoàn bay nghi lễ. Đứng cạnh anh là Tham mưu trưởng Binh chủng KQ Nguyễn Phúc Trạch.

… Vĩnh biệt Người chúng ta thề…”, tiếng đọc diễn văn của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam cất lên sang sảng, xúc động.


Hàng vạn cánh tay giơ lên thề thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch

Phạm Ngọc Lan sốt ruột: – 01 hiện nay ở đâu? Độ cao?

– Mây rất thấp. Không thấy địa hình. Theo tính toán 5 phút nữa sẽ tới điểm kiểm tra số 2. Độ cao 800!

– Chậm mất rồi!

Trong lòng Phạm Ngọc Lan như có lửa đốt. Bay trong mây không thể điều chỉnh được đội hình. Tăng tốc độ dễ đâm phải nhau, điều nguy hiểm nữa là rất dễ lệch vệt bay. Phạm Ngọc Lan xin ý kiến của Tham mưu trưởng. Anh yêu cầu giàn đèn chiếu sáng quảng trường quay về phía sông Hồng bật sáng. Lập tức 30 ngọn đèn pha hàng nghìn nến đồng loạt tỏa sáng. Căn cứ theo thông báo khí tượng vừa được cung cấp, anh ra lệnh.

– Hải Âu! (Mích 17) độ cao 200! Phượng Hoàng! (Mích 21) độ cao 300!

Kia rồi! Cả phi đoàn lần lượt hiện ra trên nền trời mây mọng nước.


Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các cháu thiếu nhi
sau buổi lễ truy điệu Hồ Chủ tịch (ngày 9/9/1969). Ảnh TL.

… Hồ Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của Đảng ta, dân tộc ta đời đời sống mãi” – Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam vừa chấm dứt thì 21 phát đại bác nổ vang và đoàn máy bay màu trắng bạc trong đội bàn tay xòe nối đuôi nhau ầm ầm lướt qua lễ đài.

*

Hàng năm, thường có buổi gặp mặt tất niên của anh em Không quân. Gặp nhau, anh em thường ôn lại những chuyện xưa cũ. Nhắc đến chuyến bay đưa tiễn Bác đi xa, Nguyễn Tiến Sâm nguyên Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, thành viên trong phi đoàn Mích 21 bốn mươi năm về trước bồi hồi:

– Đây là chuyến bay vất vả nhất trong cuộc đời chiến đấu của tôi. Hồi đó, tôi là chiến đấu viên mới đọ cánh với bọn Mỹ mấy trận, tuổi đời còn rất trẻ, nên vô cùng bỡ ngỡ, lo lắng khi nhận nhiệm vụ trọng đại này. Không riêng tôi, mà tất cả các anh em trong phi đoàn, đều như vậy cả… Bay trong tâm trạng như thế, thời tiết phức tạp, quả thật không dễ dàng gì… Vong linh Bác đã phù hộ, chở che cho anh em chúng tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trả lời câu hỏi, hôm đó có những ai bay trong đội hình Mích 21, Nguyễn Tiến Sâm nói: – Nỗi đau mất mát to lớn quá, công việc lại căng thẳng, tôi nhớ không hết: Người dẫn phi đoàn Mích 21 đồng thời là phi đội trưởng phi đội 1 Nguyễn Hồng Nhị. Đội viên trong đội gồm: Lê Toàn Thắng, Phạm Đình Tuân, Nguyễn Đức Soát. Phi đội 2 phi đội trưởng là Nguyễn Văn Lý. Đội viên trong phi đội gồm: Phạm Phú Thái, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Hồng Mỹ. Phi đội 3, phi đội trưởng là Mai Văn Cương. Đội viên trong phi đội gồm: Phan Thành Nam, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Long.

Hán Văn Quảng, người phi công trong phi đội Quyết Thắng trút bom xuống đầu quân thù ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975 cũng là thành viên trong đoàn Mích 17 đưa tiễn Bác. Hán Văn Quảng đã từng đảm nhiệm cương vị sư đoàn trưởng sư đoàn KQ 372, Tham mưu phó Quân chủng PK-KQ (đã nghỉ hưu), được hỏi tới chuyến bay lịch sử, anh kể:

– Bọn mình phải dán chặt mắt vào bảng đồng hồ để giữ thật chắc tham số, và cũng để khỏi phân tán. Không được nhìn ra ngoài, không được nhìn xuống lễ tang. Đó là nghiêm lệnh. Nhiệm vụ tuy đơn giản, nhưng trọng trách thật nặng nề…

Cả hai phi đoàn Mích hạ cánh xuống sân bay, mà sân bay vẫn lặng như tờ. Anh em thợ máy ôm lấy thang máy bay đứng chết lặng. Phi công gục trên cần lái. Nhiều anh em khóc nức nở. Lúc này bộ đội mới được phép… khóc! Quảng thẫn thờ – Nhanh vậy! Thấm thoát mà đã 40 năm thực hiện Di chúc của Bác!

honvietquochoc.com.vn

Chúng tôi đón Bác về lại Thủ đô

Ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Thể thao, nguyên cán bộ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Ngày 14/10/1954, Bác rời thị xã Sơn Tây về Hà Nội. Không khí những ngày Thủ đô mới được tiếp quản thật náo nhiệt, cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ đỏ rực đường phố. Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội). Vì là địa điểm được chuẩn bị trước nên công tác bảo vệ không những đảm bảo chặt chẽ mà còn có nhiều thuận lợi…

Cách đây 2 năm, ngày 19/8/2009, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tổ chức lễ khánh thành nhà truyền thống tại số 1- Lê Hồng Phong, Ba Đình, Hà Nội. Ban tổ chức buổi lễ có mời ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao đến dự buổi lễ khánh thành, vì ông có 12 năm công tác trong lực lượng Cảnh vệ và là người vinh dự được bảo vệ Bác Hồ; ông là một trong 8 chiến sỹ cận vệ được Bác Hồ đặt tên: Trường – Kỳ – Kháng – Chiến – Nhất – Định – Thắng – Lợi. Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử Cảnh vệ.

Trong sự kiện quan trọng ấy, vì lý do sức khỏe ông không đến được, nhưng một tháng sau, với tâm huyết của người nghiên cứu lịch sử (trước đây ông làm Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu lịch sử Đảng) và muốn về thăm đơn vị cũ, ôn lại những ngày vinh dự được bảo vệ Bác Hồ, ông đã đến tham quan nhà truyền thống của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ.

Tôi và một số đồng chí làm công tác nghiên cứu lịch sử và truyền thống Cảnh vệ đã được “tháp tùng” ông trong chuyến thăm và được ông tham gia góp ý về sưu tầm tư liệu, sắp xếp trưng bày tư liệu hiện vật. Đặc biệt, gần đây ông cung cấp rất nhiều tư liệu quý báu về công tác bảo vệ Bác Hồ.

Hỏi về những ngày vinh dự được bảo vệ Bác Hồ, như sống lại những ngày trai trẻ, ông kể lại: Trong 12 năm được vinh dự bảo vệ Bác Hồ, tôi có rất nhiều kỷ niệm về Người. Nhưng kỷ niệm sâu sắc nhất là được bảo vệ Bác về tiếp quản Thủ đô Hà Nội tháng 10/1954. Ngày ấy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao cùng các cơ quan Trung ương, Chính phủ rời căn cứ địa Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đi đến thống nhất nước nhà.

Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên Phong tại Đền Hùng. Ảnh tư liệu.

Kế hoạch bảo vệ Bác Hồ về tiếp quản Thủ đô được Trung ương chỉ đạo thống nhất và hết sức chặt chẽ. Trung ương giao cho đồng chí Lê Thanh Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh văn phòng, thành lập một tổ công tác tiền trạm để gấp rút tiến hành những công việc chuẩn bị đón Bác, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương, Chính phủ về Hà Nội.

Đồng chí Lê Thanh Nghị trực tiếp chỉ định những đồng chí trong tổ công tác tiền trạm gồm: đồng chí Phan Văn Xoàn, đồng chí Quách Quý Hợi (Cục Cảnh vệ), đồng chí Nông Đức Chiến (Bộ Tổng Tham mưu), đồng chí Tạ Đình Hiểu – Chính uỷ Trung đoàn 600 thuộc Đại đoàn 350 và tôi (ngày đó tôi công tác tại Văn phòng Phủ Thủ tướng, phụ trách thanh niên xung phong) làm tổ trưởng.

Chúng tôi nhanh chóng xây dựng kế hoạch bảo vệ trên đường về, tính toán từng trạm nghỉ dừng chân trên đường, phối hợp với Ban Tài chính Quản trị Trung ương lo địa điểm nơi ở và làm việc của Bác, bố trí lực lượng trinh sát và phối hợp với lực lượng quân đội, Công an các địa phương có liên quan phối hợp bảo vệ.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi được lệnh quay lại chiến khu Việt Bắc để đón Bác Hồ về Hà Nội. Đoàn bảo vệ Bác và một số đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng ngay từ đầu tháng 8/1954 đã chuyển địa điểm từ Yên Sơn (Tuyên Quang) về thôn Vai Cầy, xã Văn Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên theo đường mà chúng tôi chuẩn bị trước. Tại đây Bác đã triệu tập toàn bộ CBCS bảo vệ và phục vụ để căn dặn trước khi về Thủ đô Hà Nội.

Như người cha già dặn dò con cháu khi đến công tác tại một môi trường mới. Người nói: “Bác cháu ta cùng quen chịu đựng gian khổ, nay về Hà Nội địch chiếm đóng lâu năm đầy rẫy cảnh sống xa hoa, trụy lạc nên dễ nảy sinh tư tưởng thèm muốn hưởng thụ. Vì vậy, Bác dặn các cô các chú phải vững vàng, đừng sa ngã trước “viên đạn bọc đường”. Lời dạy của Bác có ý nghĩa giáo dục vô cùng to lớn với lực lượng Công an và quân đội về tiếp quản Thủ đô.

Trong những ngày lưu lại ở Vai Cầy, chúng tôi bảo vệ Bác đến thăm Đền Hùng tại xã Hy Cương, huyện Lâm Thao (nay là huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ). Tại đây, Bác đã nói chuyện với Đại đoàn Quân Tiên Phong (tức Sư đoàn 308 – lực lượng chủ lực về tiếp quản Thủ đô); Người đã căn dặn CBCS: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Nói chuyện xong, Người trở lại Vai Cầy, nơi dừng chân cuối cùng ở căn cứ địa Việt Bắc trước khi trở về tiếp quản Thủ đô.

Ông Tạ Quang Chiến (người đeo kính) đang tham quan nhà truyền thống Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tháng 9/2009. Ảnh PV.

Ngày 12/10/1954, chúng tôi bảo vệ Bác rời Đại Từ (Thái Nguyên) về thị xã Sơn Tây. Tại thị xã Sơn Tây, Bác ở và làm việc tại một trạm thuỷ lợi ngay chân đê thuộc thôn Phù Xa, xã Viên Sơn. Địa điểm này là ngôi nhà cấp 4 nhưng rất thoáng mát, bảo vệ tiếp cận nơi nghỉ của Người gồm đồng chí Hoàng Hữu Kháng, Long Văn Nhất, Nguyễn Văn Dũng, Phạm Văn Nền kiêm lái xe.

Ngày 14/10/1954, Bác rời thị xã Sơn Tây về Hà Nội. Không khí những ngày Thủ đô mới được tiếp quản thật náo nhiệt, cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ đỏ rực các đường phố Hà Nội. Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội).

Phòng Bác ở và làm việc là một gian đầu hồi trên tầng hai có cửa sổ nhìn xuống cổng phía đường Trần Khánh Dư, ở vị trí này rất dễ quan sát khi có động tĩnh lại thoáng mát. Vì là địa điểm được chúng tôi chuẩn bị trước nên công tác bảo vệ không những đảm bảo chặt chẽ mà còn có nhiều thuận lợi. Lực lượng vũ trang của Trung đoàn 600 có một trung đội bảo vệ vòng ngoài, các lối đi, cổng ra vào đều bố trí trạm gác, tuần tra, bên trong do lực lượng bảo vệ tiếp cận canh gác thường xuyên 24/24 giờ.

Bác ở và làm việc tại nhà thương Đồn Thuỷ đến ngày 19/12/1954, đúng 8 năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, Trung ương mời Người về khu Phủ Chủ tịch ở và làm việc. Theo ý định của Trung ương muốn mời Bác về ở và làm việc tại ngôi nhà Phủ Toàn quyền được sửa sang tu bổ lại sạch sẽ để tiện chủ trì các cuộc họp Chính phủ, tiếp khách trong nước và nước ngoài.

Khi nghe đồng chí Nguyễn Lương Bằng báo cáo ý định này của Trung ương, Bác đến xem, Người khen ngôi nhà to và đẹp nhưng quyết định không ở và đề nghị tu sửa lại căn nhà ba gian gần bờ ao cách Phủ Chủ tịch khoảng 300 mét để ở. Căn nhà này vốn là nơi ở của người thợ điện làm việc cho chế độ cũ nay bỏ không. Người nói: “Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi, lại gần Phủ Chủ tịch khi hội họp tiếp khách đi bộ sang cũng tiện”.

Công tác bảo vệ Bác tại đây có nhiều thuận lợi, lực lượng vũ trang của Trung đoàn 600 bảo vệ vòng ngoài; vòng trong lực lượng Cảnh vệ lập các trạm gác hoá trang, có bảo vệ tiếp cận ngày đêm nơi Bác ở và làm việc…

Có thể nói mặc dù tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở Thủ đô Hà Nội những ngày mới giải phóng hết sức phức tạp, bọn phản động tay sai đế quốc Mỹ và Pháp như Đại Việt, Việt Nam quốc dân đảng, Phục quốc… tích cực chống phá ta, tìm cách cài lại bọn tay sai để thực hiện âm mưu phá hoại, nhất là tìm cách ám hại lãnh tụ. Nhưng với sự chỉ đạo thống nhất và chặt chẽ của Trung ương và trực tiếp là Bộ Công an, lực lượng Cảnh vệ đã phối hợp với lực lượng quân đội và các lực lượng có liên quan bảo vệ an toàn Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước những ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội

Nguyễn Đức Quý

cand.com.vn

Các tác phẩm viết về Bác Hồ

Ba lần gặp Bác trong một chiến dịch.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Bác Hồ với anh hùng dũng sĩ miền Trung: Tập truyện kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Bác Hồ với chiến sĩ: 2 tập.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Bác Hồ: Con người và phong cách.- 4th ed.- H.; Lao Động, 2001.

Bác là Hồ Chí Minh.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

BÙI ĐÌNH PHONG. Hồ Chí Minh tầm nhìn thời đại.- H.: Chính trị Quốc gia, 2000.

BÙI ĐÌNH PHONG. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. H.: Lao Động, 2001.

BÙI THIẾT. Địa danh về Hồ Chí Minh/ Bùi Thiết, Lê Kim Dung, Nguyễn Chí Thắng.- H.: Thanh Niên, 1999.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp năm 1946.- H.: Trung tâm UNESCO Bảo tồn & phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam, 2001.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Di chúc và thực hiện di chúc của Người.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Chúng ta có Bác HỒ.- 3rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

Có Bác trong tim: Hồi ức.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Danh ngôn Hồ Chí Minh.- H.: Văn hóa Thông tin, 2000.

ĐÂNG HÒA. Bác Hồ những năm tháng ở nước ngoài.- 2nd ed.- H.: Trung tâm UNESCO Bảo tồn & phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam, 2001.

ĐINH XUÂN LÂM. Hồ Chí Minh văn hóa và đổi mới.- 2nd ed.- H.: Lao Động, 2001.

ĐINH XUÂN LÂM. Về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh/ Đinh Xuân Lâm, Bùi Đình Phong.- 2 nd ed.-H.: Lao Động, 2001.

ĐỖ NHƯ CHUNG. Bác đặt tên anh Hồ Chí Long.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

ĐỖ QANG HƯNG. Bác Hồ với giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam.- 3rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

ĐỖ QUANG HƯNG. Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh.- 2nd ed.- H.: Lao Động, 2001.

ĐỖ VÂN PHÚ. Chúng tôi đều là con cháu Bác Hồ.- H.: Lao Động, 2000.

HÀ MINH ĐỨC. Văn thơ Hồ Chí Minh.- H.: Khoa học Xã hội, 2000.

Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại.- 3 rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước: tuyển chọn và chuyên luận.- H.: Chính trị Quốc gia, 2000.

HỒ CHÍ MINH. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Những tác phẩm tiêu biểu (từ 1919 đến 1945).- TP. Hồ Chí Minh: Giáo Dục, 2000.

HỒ CHÍ MINH. Thơ chúc Tết.- H.: Trung tâm UNESCO Bảo tồn & phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam, 2001.

HỒ CHÍ MINH. Thơ: Toàn tập.- TP. Hồ Chí Minh: Văn Nghệ, 2000.

HỒNG HÀ. Thời thanh niên của Bác Hồ.- 7th ed.- H.: Thanh Niên, 1999.

HỒNG KHANH. Chuyện với người cháu gần nhất của Bác Hồ.- 3rd ed.- H.: Thanh Niên, 2001.

HOÀNG NHƯ MAI. Tìm hiểu bản sắc trong thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh/ Hoàng Như Mai, Nguyễn Văn Hấn.- H.: Giáo Dục, 1998.

HOÀNG ĐIỀN. Những ngày sống gần Bác.- 3rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

LÊ CUNG. Hồ Chí Minh với Châu Phi.- Huế: Thuận Hóa, 2001.

LÊ KIM. Bác Hồ tiếp xúc với tình báo phương tây.- H.: Công an Nhân dân, 2000.

NGỌC CHÂU. Theo Bác đi chiến dịch.- 2nd ed.- Quân đội Nhân dân, 2001.

NGỌC TƯï. Núi Các Mác, Suối Lê-nin.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

NGUYỄN BÍCH HẠNH. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và Mặt trận đoàn kết dân tộc/ Nguyễn Bích Hạnh, Nguyễn Văn Khoan.- 1st ed.- H.: Lao Động, 2001.

NGUYỄN CHÍ THẰNG. Hồ Chí Minh tên người tỏa sáng/ Nguyễn Chí Thắng, Nguyễn Ngọc Đào, Lê Kim Dung.- H.: Thanh Niên, 2000.

NGUYỄN ĐĂNG MẠNH. Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chuyên luận.- H.: ĐH Quốc Gia, 1998.

NGUYỄN NGUYÊN TRỨ. Cách viết của Bác Hồ.- TP. Hồ Chí Minh: Giáo Dục, 2000.

NGUYỄN QUỐC BẢO. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng.- 2nd ed.- H.: Lao Động, 2001.

NGUYỄN VÂN KHOAN. Bao dung Hồ Chí Minh.- 3rd ed.- H.; Lao Động, 2001.

NGUYỄN VÂN KHOAN. Nhớ lời Bác dạy/ Nguyễn Văn Khoan, Mạc Văn Trọng.- H.: Lao Động, 2001.

NGUYỄN XUÂN LẠC. Thơ dâng Bác.- H.: ĐH Quốc Gia, 2000.

NGUYỄN XUÂN LẠN. Thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong nghiên cứu phê bình: Tình hình tư liệu, hướng tiếp cận, những vấn đề.- 2 nd ed.- H.: ĐH Quốc Gia, 1999.

NGUYỄN XUÂN THÔNG. Bác Hồ: sự cảm hóa kỳ diệu/ Nguyễn Xuân Thông, Nguyễn Minh Phương, Phạm Thị Lai.- 4th ed.- H.: T hanh Niên, 2001.

NGUYỄN XUÂN THÔNG. Chuyện kể về những cái Tết của Bác Hồ.- H.: Thanh Niên, 2000.

PHAN NGỌC LIÊN. Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng quốc tế/ Phan Ngọc Liên, Trịnh Vương Hồng.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

PHAN NGỌC LIÊN. Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với thời đại.- 1st ed.- H.: Lao Động, 2001.

TẠ HỮU YÊN. Sáng ngời đạo đức Hồ Chí Minh: Những mẫu chuyện về Bác Hồ.- H.: Thanh Niên, 2001.

TRẨN DÂN TIÊN. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.- H.: Văn hóa Dân tộc, 2000.

TRẨN KƯ. Bác Hồ với sách người tốt việc tốt.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

TRẨN ĐÌNH HUỲNH. Danh nhân Hồ Chí Minh cuộc đời và những sự kiện.- H.: Hà Nội, 2001.

TRẨN ĐƯƠNG. Bảy ngày Bác Hồ thăm Cộng hòa Dân chủ Đức.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

TRẨN ĐƯƠNG. Những người được Bác Hồ đặt tên.- 2nd ed.- H.:Quân đội Nhân dân, 2001.

TRẨN XUẤN TRƯỜNG. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

VŨ KỲ. Người suy nghĩ về tuổi trẻ chúng ta.- 3 rd ed.- H.: Thanh Niên, 2001

quangbinh.gov.vn

Một số hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt

Chủ tịch Hồ chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là chiến sĩ cách mạng kiên cường và là người bạn rất thân thiết của các dân tộc trên thế giới. Đạo đức, phong cách của Người là một tấm gương vô cùng trong sáng và cao thượng. Cuộc đời của Người là biểu tượng cao đẹp về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nhân dân thắm thiết, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị, hòa đồng. Người đã để lại cho chúng ta một tấm lòng nhân hậu, một tình cảm chan chứa yêu thương với nước, với dân, một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách nói, cách viết, cách làm việc. Những việc làm, lời dạy và hình ảnh của Người luôn in đậm trong tâm trí của các thế hệ người dân Việt Nam. Đối với chúng ta, Người là một Lãnh tụ vĩ đại nhưng Người cũng là một Lãnh tụ bình dị. Nhớ về Người, chúng ta luôn nhớ tới những hình ảnh rất đời thường của Người như một người ông đang bồng cháu, một lão nông đang ngồi câu cá, lội ruộng, tát nước, một ông già đang đánh bóng, đi quyền hay đang khoác vai các chiến sĩ đi dạo trong vườn…

Trong số rất nhiều hình ảnh của Người tại Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt diễn ra tại Việt Bắc tháng 3 năm 1951(*), hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III,  xin trân trọng giới thiệu một số hình ảnh về Người được chụp trong giờ giải lao của Đại hội. Qua những tấm hình này, một lần nữa chúng ta lại thấy được hình ảnh rất đời thường của một lãnh tụ vĩ đại với một phong cách sống hòa đồng, luôn được tin yêu và kính trọng.

Đây là một số hình ảnh được chụp trong giờ giải lao của Đại hội.

Ảnh 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các đại biểu dự Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt, Việt Bắc tháng 3 năm 1951( người ngồi thứ 3, hàng trên, từ trái qua)(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tài liệu ảnh LIII, KC 90- TL7).

Ảnh 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhảy cùng các đại biểu trong giờ giải lao Đại hội, Việt Bắc tháng 3 năm 1951 (người thứ tư hàng ngoài, từ trái qua) (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài liệu ảnh  L III, KC 76- TL 64).

Ảnh 3: Chủ tịch Hồ Chí Minh khoác tay nhảy cùng ông Hà Huy Giáp trong giờ giải lao Đại hội, Việt Bắc tháng 3 năm 1951. (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài liệu ảnh  L III, KC 77- TL 65).

Ảnh 4: Các đại biểu vui mừng công kênh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Bắc tháng 3 năm 1951.(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài ilệu ảnh LIII, KC 83-TL67).

(*) Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh -Liên Việt họp ở Việt Bắc từ ngày 3 đến 7.3.1951, đã quyết định thống nhất Mặt trận Việt minh và Hội Liên Việt thành một mặt trận chung lấy tên là Mặt trận Liên Việt; ông Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch. Mặt trận Liên Việt bao gồm các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, dân tộc, các nhân sĩ yêu nước đoàn kết đấu tranh nhằm mục đích: tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược, đánh bại bọn can thiệp Mĩ, trừng trị Việt gian phản quốc, củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường và góp sức cùng nhân dân thế giới bảo vệ hoà bình lâu dài.

Phạm Hải Yến – Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

archives.gov.vn

Bác Hồ rất yêu âm nhạc

Báo Việt Nam Độc Lập, số 117, ra ngày 1/2/1942, khoảng một năm sau ngày Bác Hồ trở về nước sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước, có đăng bài ca đội tự vệ, do Bác sáng tác. Toàn văn bài ca như sau:

I

Gươm dao ta
Đem mài đi!
Mài cho bén,
Mài cho sắc
Nhật ta đâm,
Pháp ta chặt.

II

Sắp hàng ra!
Xung phong lên!
Người ta đông
Sức ta bền
Việc giải phóng,
Nhất định nên.

Đáng chú ý là lời dẫn của tác giả về cách hát: chia người làm hai tổ. Bốn câu trên tổ A hát trước, hát giọng cao (nếu có phụ nữ, thì phụ nữ là tổ A). Tổ B hát giọng thấp, theo sau. Ví dụ:

Tổ A hát: Gươm dao ta
Tổ B hát: Gườm dào tà.

Những chữ sắc, bén, đông, bền phải hát dài như: bé-én, sắ-ắc, đô-ông, bề-ền. Hai câu dòng sau cùng (ở mỗi đoạn) thì cả hai tổ đều hát như nhau. Chữchặt và chữ nên phải hát rất mạnh.

Vào thời gian ấy phần lớn người dân Việt Nam còn mù chữ, nói chi tới những chuyện “cao siêu” như biết đọc ký âm pháp. Nhưng do yêu cầu cần có những bài hát cách mạng, những bài thơ cách mạng dễ đọc, dễ hát, dễ phổ biến, nên mặc dù không phải là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, Bác Hồ đã sáng tác bài thơ để hát (theo cách nói của Lữ Huy Nguyên) này để động viên, khuyến khích tinh thần cách mạng của bà con ta.

Trong lời ghi chú của tác giả bài thơ để hát này đã ghi những yếu tố âm nhạc, mà ngày nay người ta dùng những danh từ âm nhạc để diễn tả như:

– Cao độ: giọng cao, giọng thấp.

– Trường độ: những từ cần được kéo dài ra khi đọc hoặc hát như: bén-bé-én, sắc-sắ-ắc, đông-đô-ông, bền-bề-ền.

– Cường độ: chữ chặt và chữ nên phải hát rất mạnh.

– Hòa âm: hát bè.

– Cấu trúc của bài ca rất gọn gàng, câu ngắn chỉ ba chữ, dễ học, dễ nhớ.


Bác chơi guitar ở Hải Phòng (1963). Ảnh: TL.

Chúng tôi cũng muốn nói ngay rằng, Bác là người thuộc khá nhiều bài hát của nước Nga cách mạng, của Liên Xô. Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, báoSao Đỏ của Hồng Quân Liên Xô từng tường thuật buổi gặp mặt giữa Bác và đồng chí Nguyên soái Liên Xô Kli-men Vô-rô-si-lốp (1881-1969), người mà Bác đã có dịp quen biết từ năm 1924, trong lần đầu tiên tới Liên Xô. Trong buổi tới thăm đó, hai vị lãnh tụ cao niên đã cầm tay nhau, say sưa hát những bài ca cách mạng của Liên Xô từ những năm 20, 30 của thế kỷ trước.

Còn chị An-na Xta-xi-a Va-xi-lốp-na và anh Đmi-tri Gri-gô-ri-ê-vích Đi-ô-mi-nưi, những công dân của Liên Xô, đã tâm sự: Năm 1960, trong dịp sang Mát-xcơ-va dự lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, Bác Hồ đã có thư mời anh chị và cháu I-ra-ska, con gái của anh chị và là con đỡ đầu của Bác Hồ, tới gặp mặt. Cuộc gặp gỡ ấm cúng đó đã diễn ra vào ngày 13/11/1960 tại một biệt thự cổ kính ở phố A-lếch-xây Tôn-xtôi. Chị An-na kể lại:

Bác Hồ nói tiếng Nga thoải mái, tự nhiên như người Nga chúng ta vậy. Người biết nhiều thứ tiếng và coi tiếng Nga là tiếng mà người cách mạng nào cũng nên biết, vì đó là tiếng nói của Lê-nin. Người cũng biết những bài hát Nga. Người và chúng tôi đã cùng nhau hát bài Ca-chiu-sa và Chiều ngoại ô Mát-xcơ-va(1).


Bác cùng các em thiếu nhi Liên Xô. Ảnh: TL.

Chúng ta ai cũng biết những năm tháng sống và hoạt động ở Paris vào những năm cuối thập kỷ 1 và đầu thập kỷ 2 – thế kỷ 20, ngoài giờ làm việc, Bác đã tham gia những câu lạc bộ và vào các thư viện đọc sách để nâng cao trình độ về văn học, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật… Chính vì thế Bác đã tích lũy được một khối lượng kiến thức rộng lớn về nhiều mặt, về nhiều bộ môn nghệ thuật.

Bà Giô-tơ-vôn – phu nhân của cố Chủ tịch Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức, Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Dân chủ Đức Ôt-tô Grốt-tơ-vôn – đã có một bài hồi ký vô cùng xúc động về Bác Hồ của chúng ta vào tháng 5/1975 (do Trần Đương ghi), trong đó có một đoạn như sau: “… Bác và nhà tôi đã trao đổi rất nhiều về nghệ thuật. Tôi còn nhớ, một buổi tối, khi Bác tới, nhà tôi mời Bác nghe một đĩa hát thu bản nhạc giao hưởng số 9 của Bít-tô-ven sáng tác trong những năm 1822-1824. Sự xúc động lộ rõ trên gương mặt Bác. Trong những phút này, tôi lại thấy đôi mắt Bác mơ màng, tư lự, đúng là đôi mắt của nhà nghệ sĩ giàu cảm xúc. Nhìn gương mặt ấy, người ta có thể liên tưởng đến Lê-nin khi nghe bản nhạc Áp-pa-xi-ô-na-ta cũng của Bít-tô-ven. Khi bản nhạc vừa dứt, Bác thong thả nói:

– Quả đúng như Bít-tô-ven có lần nói: “Âm nhạc cần phải làm cho ngọn lửa từ trong tâm hồn kiên cường bừng cháy!”.

Người Việt Nam ta chắc ai cũng đã một lần nhìn thấy tấm ảnh nổi tiếng của nhà nhiếp ảnh Lâm Hồng Long: Bác Hồ chỉ huy dàn nhạc giao hưởng Việt Nam trong lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (1930-1960). Tôi là người may mắn chứng kiến cảnh tượng tuyệt vời ấy trong đêm hôm đó tại vườn Bách Thảo (Hà Nội).


Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn. Ảnh: Lâm Hồng Long.

Khi dàn nhạc giao hưởng gồm 120 nhạc công và đội đồng ca gồm hơn 800 diễn viên là thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội đang sẵn sàng biểu diễn thì Bác Hồ và các vị khách quốc tế xuất hiện trước khu vực sân khấu. Tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay như những đợt sóng truyền từ khu vực này đến khu vực khác.

Bác từ từ bước lên sân khấu, mượn nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu chiếc đũa chỉ huy trước con mắt tò mò và ngạc nhiên của mọi người, rồi Bác hỏi các nhạc công và các diễn viên: “Các cháu đã sẵn sàng chưa?” – mọi người vui vẻ trả lời: “Thưa Bác, đã sẵn sàng”. Bác nói tiếp: “Bây giờ chúng ta cùng hát và cùng biểu diễn bàiKết đoàn, chúng ta là sức mạnh!”. Mọi người chăm chú nhìn vào cánh tay chỉ huy của Bác. Sau một tích tắc im lặng, Bác vung cây đũa chỉ huy lên!… Và nhà nhiếp ảnh Hồng Long đã chớp được phút giây tuyệt vời đó!

Tôi cứ tưởng đó là bức ảnh duy nhất chụp Bác chỉ huy dàn nhạc, dàn đồng ca. Không phải! Gần đây, Trung Quốc phát hành một cuốn ảnh tuyệt đẹp và quý hiếm về Bác Hồ tại Trung Quốc và Hồng Kông. Trong tập ảnh cũng có một tấm ảnh chụp Bác Hồ đang “cầm càng” chỉ huy các thanh niên Trung Quốc hát. Quả là hết sức thú vị! Như vậy là Bác Hồ cũng phải biết cả bài hát Trung Quốc nữa. Có biết hát thì mới “cầm càng” được bài hát đó chứ? Tôi cứ tò mò muốn biết: đó là bài hát nào?


Bác cùng với thiếu nhi Trung Quốc. Ảnh: TL.

Một con người trong vòng 30 năm từng bôn ba khắp năm châu bốn biển, đã tích lũy cho mình một vốn văn hóa sâu rộng của cả Đông lẫn Tây, nhưng trong lòng vẫn đau đáu nhớ một giọng ru con của bà mẹ Việt Nam, nhớ từng câu Kiều. Thật xúc động khi đọc những dòng hồi ức sau đây của đồng chí Trần Lam, người từng hoạt động với Bác trong những ngày Người sống ở Thái Lan (1929): “Có một lần đi đến nửa đường thì trời tối. Bác và tôi ghé vào một nhà kiều bào người Bắc làm thợ mộc. Anh chị thợ mộc đón tiếp rất tử tế. Cơm nước xong, hai bác cháu nghỉ thì cũng vừa lúc chị thợ mộc ru cháu bé ngủ. Giọng chị ngâm Kiều rất hay, hai bác cháu lắng nghe, rồi ngủ đi bao giờ không biết. Sáng hôm sau, lúc đi đường, với một giọng âu yếm, Bác bảo tôi: Xa nhà chốc mấy mươi niên/ Tối qua nghe giọng mẹ hiền ru con!”.

Sau này, khi tuổi đã cao, Người vẫn còn nhớ từng câu dân ca, từng làn điệu hát phường vải mà Người từng được nghe, từng nhập tâm từ những ngày thơ ấu. Chị Minh Huệ, một diễn viên văn công, nhớ lại: “Khi Người về thăm quê hương xứ Nghệ sau hơn nửa thế kỷ xa cách, trong phần biểu diễn văn nghệ để chào mừng Bác, tôi đã thưa với Bác:

– Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ.

Tôi cất giọng:

– A ờ ơ… Ru em em ngủ cho muồi

Bác sửa lại:

– Ru tam tam théc cho muồi (“tam” là tiếng miền Trung dùng để chỉ “em”, “théc” là “ngủ”).

Tôi hát lại:

– Ru tam tam théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Bác sửa lại:

– Để “mạ” chứ không phải để “mẹ”.

Tôi sung sướng hát tiếp:

– Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau chợ Sải, mua cầu chợ Dinh.

Bác cười, ân cần sửa nốt:

– Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải.(2)

Người không chỉ nhớ những làn điệu dân ca ở quê hương xứ Nghệ, Người còn yêu thích những làn điệu dân ca ở các vùng quê khác nhau của đất nước ta. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã kể lại trên báo Văn Nghệ số 36 (tháng 10/1952) câu chuyện sau đây: “Giữa hai phần nói chuyện về: “cách viết” tối 17/8/1952, trong giờ nghỉ anh chị em hò những điệu hò bình dân, ca những lời ca dân tộc cò lả, hò giã gạo, chèo, ngâm thơ. Thỉnh thoảng Bác hỏi: – Cô, chú nào ngâm sa mạc? Bác thích nghe những điệu quen thuộc, nhẹ nhàng đó”.


Bác Hồ tại phòng khách Phủ Chủ tịch. Ảnh TL.

Bác không chỉ yêu mến những làn điệu dân ca của nước ta, Bác còn yêu thích cả những nhạc cụ dân tộc nữa. Nghệ sĩ sáo Đinh Thìn, diễn viên Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, người đã nhiều lần biểu diễn cho Bác Hồ nghe, đã kể lại câu chuyện thú vị sau đây: “Hôm đó Bác tiếp khách riêng của Bác. Trong phòng người nghe không đông lắm, tôi thổi bài Nhớ về Nam. Bác ngồi ngay trước mặt tôi. Bác nghe chăm chú. Thổi xong tôi cúi đầu chào, định quay về chỗ ngồi, thì Bác đứng dậy, Bác cầm xem chiếc sáo của tôi, Bác hỏi:

– Chiếc sáo này cháu tự làm lấy hay mua?

– Thưa Bác cháu làm lấy ạ.

– Tự làm như thế là giỏi. Làm sáo khó lắm không cháu? Trong kháng chiến chống Pháp, Bác thấy các chú bộ đội làm sáo nhanh lắm. Đi hành quân, đi tập đều mang theo, thổi rất vui…

Bác để sáo lên miệng thổi. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng lại, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác. Bác lắng hơi, nhẹ thổi. Hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác, gợi thành một làn điệu dân ca. Bác thổi vừa dứt, tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên, vừa sung sướng. Bác bỏ ống sáo xuống, lấy dáng điệu, cúi chào như một diễn viên thực thụ. Tiếng vỗ tay, tiếng cười vui vẻ lại vang lên. Bác cũng vui vẻ cười”.

Cụ Hoàng Đạo Thúy, một nhà trí thức lớn của ta, từng giữ trọng trách Cục trưởng Cục Thông tin Liên lạc, Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thi đua Toàn quốc, có lần kể lại chuyện thời ở chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp:

“Một lần, Cụ Hồ tóm lấy cánh tay tôi:

– Tối hôm nay, cụ tổ chức lửa trại nhé!

– Cụ cho lệnh tổ chức, tôi xin làm. Nhưng thưa cụ, ở lửa trại thì người giữ lửa có quyền to lắm, ai cũng phải nghe đấy.

– Nhất định thế!

Bọn chúng tôi vẫn có cái thói cứ hay “chọc” Cụ một cách kính mến, không dám làm Cụ bí, vì Cụ có bí bao giờ đâu, nhưng để xem Cụ đối phó thế nào, rồi ngồi cười cùng nhau, lý thú về cách trả lời của Cụ. Cụ cũng hiểu thế và mỉm cười.

Mọi người đã ngồi quanh đống lửa. Tôi châm lửa và tuyên bố:

– Thi hành quyền lực của trùm lửa trại, tôi xin đề nghị Cụ Chủ tịch hát mở đầu cuộc vui.

Mọi người nhìn cả về phía Cụ. Cụ nhẹ nhàng đứng dậy, vừa đi quanh vừa hát:“Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu/Dấy binh lấy lau làm cờ/Quên mình là mình giúp nước…”.

Già trẻ ai nấy con mắt long lanh, nhìn âu yếm Cụ Chủ tịch của mình, mà như thế là cuộc lửa trại vui lên…”

Chúng ta đã rất quen với hình ảnh Bác Hồ tặng hoa cho những diễn viên có những tiết mục hát, múa, chơi đàn, thổi sáo, ngâm thơ…, thường chỉ là một bông hồng, một nụ hôn thân thiết, nhưng đã làm cho các diễn viên trong và ngoài nước nhớ suốt đời.

Chính do tâm hồn nghệ sĩ và lòng yêu âm nhạc của Bác mà ngày nay chúng ta được thưởng thức rất nhiều câu thơ và những đoạn văn, những lời phát biểu có nhắc tới âm nhạc, giàu chất thơ, chất nhạc.

Sau này, trong tác phẩm Nhật ký trong tù, đã bao nhiêu lần Bác nói về lời ca, câu hát, điệu nhạc, những thứ đã động viên tinh thần, nghị lực của Bác trong những giờ phút khó khăn, gian khổ nhất, khi cái chết kề bên. Trong ngục tù u ám của huyện Tĩnh Tây, Người vẫn thấy có những lúc khắp nơi “vang tiếng dân ca, rộn tiếng ngâm”. Người viết về bạn tù thổi sáo:

Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.

(Nam Trân dịch)

Mặc dù tay bị trói, chân bị còng, nhưng Người vẫn nghe tiếng chim hót:“Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần” (Đêm ngủ ở Long Tuyền);“Mặc dù bị trói chân tay/ Chim ca rộn núi, hướng bay ngát rừng/ Vui say ai cấm ta đừng/ Đường xa âu cũng bớt phần quạnh hiu” (Trên đường – Nam Trân dịch).

Về việc chọn Quốc ca thì theo Bác Quốc ca phải sâu sắc về nội dung và đẹp về lời ca. Bác đồng ý chọn bài Tiến quân ca, một bài hành khúc nghiêm trang, hào hùng, nhịp lại thong thả, dễ hát. Bác tham gia ý kiến sửa lại lời ở một số câu cho chính xác hơn, đẹp hơn, phù hợp với Quốc ca như: Đoàn quân Việt Minh… sửa là Đoàn quân Việt Nam…Thề phanh thây uống máu quân thù sửa lại là Đường vinh quang xây xác quân thù.


Tiến quân ca – Quốc ca Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, Tiến quân ca được vang lên tại Quảng trường Ba Đình, trong ngày Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập, trở thành Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(3).

Nhạc sĩ Trần Hoàn đã viết một ca khúc rất đẹp Lời Bác dặn trước lúc đi xamà chúng ta ai cũng yêu thích. Nội dung bài hát dựa vào một câu chuyện có thật: Ngày 27/8/1969, sức khỏe của Bác đã kém lắm, nhưng Bác vẫn giữ yên lặng, không hề rên la kêu đau. Khoảng 9 giờ sáng, y tá Nguyễn Thị Oanh đưa thuốc vào mời Bác uống và nhẹ nhàng cắt móng tay cho Bác, Bác đã hỏi chuyện cô và bảo cô hát cho Bác nghe. Y tá Nguyễn Thị Oanh đã hát bài Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác, Bác nhìn Oanh âu yếm, khích lệ. Oanh đã hát tiếp bài dân ca Quan họ Bắc Ninh Người ơi, Người ở đừng về, nghe xong Bác rất hài lòng, mỉm cười và bảo đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác, tặng một bông hoa cho Oanh. Đó là bông hoa cuối cùng của Bác tặng một ca sĩ nghiệp dư, trước lúc Bác vĩnh viễn ra đi(4)

Có một chuyện liên quan tới lòng yêu âm nhạc của Bác Hồ mà mãi tới tháng 9/1969, chúng ta mới được biết qua bài báo của nhà báo Pháp nổi tiếng, bà Ma-đơ-len Ríp-phô (Madeleine Riffaud), người con gái đỡ đầu của Bác, đăng trên báo L’Humanité ngay sau ngày Bác mất. Bà Ma-đơ-len Ríp-phô kể rằng: Có một lần Bác Hồ bảo tôi: “Con ạ, nếu con muốn làm vui lòng Bác thì hãy gửi cho Bác cái đĩa hát có những bài trước đây của Mô-rít Sơ-va-li-ê (Maurice Chevalier). Hồi ở Paris xưa kia Bác vẫn thường nghe, hồi ấy con còn chưa ra đời”.

Trở về nước, bà tìm mãi những đĩa hát ấy mà không thấy. Mãi tới dịp kỷ niệm thượng thọ 80 tuổi Mô-rít Sơ-va-li-ê, người ta mới tái bản những đĩa hát đó. Bà mua ngay và gửi biếu Bác Hồ. Hai ngày sau khi Bác qua đời, Ma-đơ-len Ríp-phô nhận được một bức thư của Tê-ô Rông-cô, phóng viên thường trú của báoNhân Đạo tại Hà Nội. Lá thư được viết trước đó ba tuần, trong đó kể rằng: “Bác Hồ đã nhận được cái đĩa hát. Bác đã nghe các đĩa đó rất thích thú và rất hài lòng”.

Năm 1946, khi Bác Hồ sang thăm chính thức nước Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp, các cháu thiếu nhi con em Việt kiều mang hoa tới tặng Người và hát những bài hát Việt Nam mà các cháu mới học được để chào mừng Bác. Bác rất xúc động và hỏi các cháu:

– Các cháu có biết bài Quốc ca của Pháp không?

Các em đồng thanh trả lời:

– Thưa Bác có ạ.

– Thế thì các cháu hát xem nào!

Và bài Marseillaise đã hùng dũng vang lên trong căn phòng qua giọng hát trong trẻo của các cháu.

Trở lại với câu chuyện về đĩa hát của Mô-rít Sơ-va-li-ê. Cuối cùng bài báoBác Hồ vĩnh biệt chúng ta giữa những ngày thu, Ma-đơ-len Ríp-phô đã xúc động thốt lên: “Chúng tôi tự hào rằng đồng chí Hồ Chí Minh yêu mến nhân dân Pháp. Vì thế chúng tôi càng thấy rõ trách nhiệm của mình trước những nỗi đau mà nước Việt Nam đang phải chịu đựng. Chúng tôi thề sẽ xứng đáng với tình bạn của một trong số những nhà cách mạng vĩ đại nhất của thời đại hiện nay, chúng tôi sẽ ra sức chiến đấu bên cạnh nhân dân Việt Nam”.


(1) Những người con đỡ đầu của Bác Hồ (Trần Đương), NXB Quân Đội Nhân Dân, tr.57.
(2) Bác Hồ với văn nghệ sĩ, tr.231-232.
(3) Chuyện kể về Bác Hồ, tập 1, NXB Nghệ An, tr.133-135.
(4) Chuyện thường ngày của Bác Hồ (Hồng Khanh), NXB Thanh Niên, tr.201.

honvietquochoc.com.vn