Tag Archive | Nguyễn Tất Thành

Lời Bác thắp sáng ước mơ



Trong hai ngày 4 và 5-6 tại TPHCM, Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác năm 2011 đã diễn ra với nhiều hoạt động thiết thực. Mỗi bạn trẻ trong số hơn 300 thanh niên tiên tiến dự đại hội là một tấm gương gắn với cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”.

Người hùng bình dị

Anh Lê Văn Điệp, Phó Bí thư Chi đoàn thôn Hà Lời, xã Sơn Trạch, tỉnh Quảng Bình, được người dân địa phương đặt cho cái tên rất trìu mến “Anh hùng sông Son”. Tháng 10-2010, toàn bộ xã chìm trong nước lũ. Lấy một chiếc thuyền thường dùng để đưa du khách tham quan động Phong Nha, anh Điệp lao vào dòng nước lũ, đưa bà con trong thôn đến nơi an toàn. Được cả nước biết đến nhờ thành tích cứu hơn 150 người trong trận lũ tại thôn Hà Lời, thế nhưng cuộc sống của người hùng Lê Văn Điệp vẫn còn những khoảng lặng. Con gái đầu lòng của anh vừa mới mất vì bạo bệnh, ngôi nhà bị lũ cuốn trôi vẫn chưa được xây dựng lại.

Nhìn vóc dáng thư sinh của thiếu úy Nguyễn Chí Ninh (Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Tây Trang, tỉnh Điện Biên), ít ai nghĩ rằng người y sĩ này lại là khắc tinh của tội phạm ma túy. Trong một chuyên án, thiếu úy Ninh bị đối tượng nhiễm HIV đâm khiến phải điều trị phơi nhiễm hơn 3 tháng. Nhiều lần đứng ở lằn ranh giữa cái sống và cái chết, anh không hề băn khoăn.

Anh kể: “Tôi luôn tâm niệm hai điều Bác dạy. Một là tận tụy với nhân dân, hai là cương quyết với kẻ địch. Tháng 4-2010, khi đánh chuyên án ma túy cùng với 4 đồng đội ở gần khu vực cửa khẩu quốc tế Tây Trang. Lúc ấy hơn 3 giờ sáng và sương mù dày đặc. Sau một lúc giằng co, chống trả quyết liệt, biết không thể thoát được, đối tượng đã liều lĩnh lao xuống vực (sâu hơn 30m) để tẩu thoát. Không kịp nghĩ ngợi, tôi lập tức lao theo giữ chặt đối tượng”.

Lan tỏa

Theo anh Trần Văn Toàn (Đồn Biên phòng Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng), thấm nhuần bài học gần dân của Bác, cán bộ chiến sĩ biên phòng luôn chủ động gần gũi nhân dân. Nhờ đó, người dân đã cung cấp rất nhiều thông tin, giúp các anh phá nhiều vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới, tiêu thụ tiền giả…

Anh Toàn chia sẻ: “Cuộc đời vĩ đại của Bác có vô số những bài học mà chúng ta không dễ dàng gì thấm nhuần hết được. Thế nên, trước hết cần phải suy ngẫm những gì gắn liền với chuyên môn, công tác của mình để học tập và làm theo. Tư tưởng, đạo đức của Bác như ngọn lửa soi đường cho thế hệ trẻ”.

Phát biểu tại Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM, cho rằng, những thanh niên tiên tiến được tuyên dương lần này đã khắc họa hình ảnh thế hệ thanh niên thời kỳ mới, luôn trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, dám dấn thân, tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi gian khó, đảm nhận những việc mới, việc khó với ý chí quyết tâm đưa đất nước vươn lên.

Thanh An

sggp.org.vn

Một thế kỷ bến Nhà Rồng

Tròn 100 năm, người con ưu tú của dân tộc Nguyễn Tất Thành bước chân xuống tàu Admiral Latouche Tréville tại Bến Nhà Rồng bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước. Sự kiện đó để lại dấu ấn thiêng liêng cho Cảng Nhà Rồng trở thành  một biểu tượng của miền Nam thành đồng Tổ quốc. Với  niềm vinh dự này mà lực lượng Biên phòng hiện đang làm nhiệm vụ tại cụm Cảng Sài Gòn đã nhiều năm qua luôn có những thành tích bất ngờ và vượt trội.

Cảnh quan quanh Bến Nhà Rồng nhìn từ sông Sài Gòn.

Chúng tôi theo chiếc bo bo của Bộ đội Biên phòng cụm cảng Khánh Hội – Nhà Rồng hành trình tuần tra thường nhật qua mặt sông trung tâm thành phố. Thiếu tá Phan Thanh Bình, người lái bo bo đưa đường gắn bó với chốt kiểm soát số 2 đã 4 năm qua, hàng ngày đều phải thường trực ở chốt gác đặc biệt này. Anh nói: Chúng tôi ở đây vẫn coi Nhà Rồng như một điểm đỏ gợi nhớ đến Hồ Chủ tịch và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Công việc hàng ngày của các anh là tuần tra an ninh, kiểm soát hàng hải và hơn hết là bảo vệ di tích “điểm đỏ” này.

Nhà Rồng của 100 năm trước nguyên là tòa nhà bán vé cho hành khách của Hãng tàu biển của Pháp Messageries Maritimes. Ngày nay, Bến Nhà Rồng được đánh số 1, khởi đầu đường Nguyễn Tất Thành – con đường xương sống để phát triển kinh tế xã hội cho quận 4, TP Hồ Chí Minh. Trong tổng thể 12.000 m2 khuôn viên di tích bây giờ được dùng làm Bảo tàng Hồ Chí Minh, lưu giữ những hình ảnh nơi ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ. Không xa tòa nhà đặc biệt này, bến phà Thủ Thiêm nối quận 1 và quận 2 của thành phố vẫn đang hoạt động trước khi hầm Thủ Thiêm được đưa vào sử dụng trong năm 2011. Ngã ba sông Sài Gòn – Bến Nghé nay mai sẽ hình thành con đường ngầm qua sông hiện đại, nối dài thành phố bằng đại lộ Đông Tây. Từ Bến Nhà Rồng dọc theo sông Sài Gòn, đề án quy hoạch gồm cảng tàu du lịch gắn với khu di tích Bảo tàng Hồ Chí Minh sẽ trở thành một quần thể cảnh quan phức hợp dịch vụ du lịch và cảng biển.

Trong vòng bán kính 1km quanh bến Nhà Rồng đang diễn ra một cuộc thay đổi lịch sử trong quy hoạch hạ tầng đô thị đối với TP Hồ Chí Minh. Một tòa nhà hiện đại 68 tầng cao nhất Đông Nam Á đã hoàn thiện với hình dáng một búp sen vươn lên trên bờ sông Sài Gòn. Gần kề ngã ba sông Sài Gòn là cây cầu Phú Mỹ hiện đại vươn qua hai khu vực đô thị lớn là Thủ Thiêm và Phú Mỹ Hưng.

Tuần tra trên sông.

Năm 2010, đã có 103 chuyến tàu cập cảng Nhà Rồng – Khánh Hội với gần 27 ngàn thuyền viên và hơn 50 ngàn lượt khách du lịch. Càng gần dịp đón Tết Nguyên đán Tân Mão, khách du lịch đi tàu biển đến TP Hồ Chí Minh càng đông. Trong đó có một địa điểm mà họ không thể bỏ qua trong lịch trình tham quan đó là di tích Nhà Rồng. Chốt gác số 2 những ngày này luôn phải thường trực đủ quân số, chỉ nghỉ ca, chứ không được nghỉ ngày lễ. Những hôm có bắn pháo bông tại khu vực Bến Nhà Rồng, các anh phải căng thẳng tuần tra hàng giờ trên mặt sông, nhất là vào giờ cao điểm như Giao thừa, sáng mùng 1 – khi các tàu vào cảng “xông đất”. Ngoài việc giám sát các tàu ra vào cảng, 5 cán bộ, chiến sĩ phải thường trực đảm bảo thông thoáng mặt sông liền kề với trung tâm đô thị. Năm 2010, Biên phòng Cửa khẩu Cảng Sài Gòn đạt danh hiệu đơn vị Quyết thắng và đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc cải cách thủ tục khai báo hành chính qua cảng.

Thượng tá Đào Quốc Huy, Chính trị viên của Biên phòng Cửa khẩu Cảng Sài Gòn phấn khởi nói: “Chưa có đơn vị kiểm soát hành chính nào tại cụm cảng Sài Gòn có được sự đổi mới toàn diện thủ tục hành chính như biên phòng cho tới thời điểm này. Điều mấu chốt của sự quyết tâm đổi mới không nằm ở máy móc hiện đại hay là biên chế thông thoáng mà lại nằm ở lòng người có muốn hay không”. Khẳng định như thế bởi đây là đơn vị tiên phong trong cải cách thủ tục hành chính từ cách đây 5 năm. Vào thời điểm này, khi các đơn vị khác còn đang mắc míu trong lộ trình đổi mới thì Biên phòng Cảng Sài Gòn đã nhanh chóng đưa chương trình ứng dụng công nghệ thông tin để tiếp nhận thông tin khai báo thủ tục biên phòng qua mạng cho tất cả các tàu thuyền Việt Nam và nước ngoài xuất, nhập, quá cảnh ra vào cửa khẩu cảng của TPHCM. Ngày trước, mỗi tàu cập cảng, biên phòng phải có một chốt gác 4 ca 16 người nay giản tiện chỉ còn 4 người. Người nào đeo thẻ điện tử có mã vạch thì chỉ kiểm tra một lần thay vì chồng chéo nhiều lần kiểm tra, nhiều ngành kiểm tra như trước đây. Đây cũng là tiền đề cơ bản ra đời nghị định mới về quản lý hoạt động hàng hải tại các cảng biển và khu vực hàng hải Việt Nam.

Dự án cảng Sài Gòn tại khu đô thị cảng Hiệp Phước có tổng diện tích khoảng 100 ha với năng lực xếp dỡ khoảng 18 triệu tấn hàng hóa mỗi năm đã được khởi động. Cùng với việc nạo vét sông Soài Rạp, cảng hàng hóa Nhà Rồng – Khánh Hội sẽ được di dời về đây. Việc chuyển cảng hàng hóa khỏi nội ô thành phố là tất yếu cho một đô thị du lịch dịch vụ hiện đại. Đoạn bờ sông từ cầu Sài Gòn đến cầu Tân Thuận (quận 1, 4, Bình Thạnh), dài khoảng 4km sẽ là khu công viên văn hóa dịch vụ cảng biển phức hợp lớn nhất khu vực. Sông Sài Gòn trong tương lai sẽ như một cảnh quan thiên nhiên làm đẹp cho thành phố với bến Nhà Rồng – biểu tượng vĩnh cửu của miền Nam ở ngã ba Bến Nghé.

Đăng Bảy – Thúy Hằng

bienphong.com.vn

Nhân kỷ niệm 86 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam


Đấu tranh giai cấp với tư duy nhà báo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Theo báo cáo của mật thám Jean tại Paris trong ngày 9 tháng 2 năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã hai lần đến thư viện Sainte Geneviève, rồi sau đó vào các ngày 10, 11, 12, 13, 15, 17, 19 và nhiều ngày nữa vẫn tiếp tục đến đọc sách trong thư viện này. Trong một lần kể chuyện cho một cán bộ, Hồ Chủ tịch nói Bác đã đọc Tư bản luận của Mác bảy ngày liền. Phải chăng Người đã đọc cuốn sách đồ sộ của Mác tại thư viện Sainte Geneviève?

Gần đúng hai tháng sau, ngày 11 tháng 2 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã trình bày đề tàiChủ nghĩa Bônsêvích ở châu Á tại Hội nghị những người Thanh niên Cộng sản Pháp quận II, Paris. Tháng 7 cùng năm, Nguyễn Ái Quốc đọc tác phẩm của Lênin về Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc thuộc địa đăng trên báo L’Humanité(Nhân đạo) số ra ngày 16 và ngày 17 tháng 7 năm 1920. Luận cương này đã làm cho Nguyễn Ái Quốc “cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao” – một tình cảm và nhận thức mà do nhiều nguyên nhân trước đó Người  chưa có cho đến khi đọc tác phẩm của Mác. Nguyễn Ái Quốc còn viết thư bằng tiếng Pháp gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cho biết: “Luận cương này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan của mình”.

Văn bản đầu tiên mà Nguyễn Ái Quốc nêu tên V.I.Lê nin là bài “ Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa” viết bằng tiếng Pháp đăng trên báo L’Humanité, ký tên Nguyễn Ái Quốc, ngày 25 tháng 5 năm 1922. Trong bài này, tác giả viết: “Chủ nghĩa Bôn sêvích, trước con mắt người dân bản xứ có nghĩa là sự phá hoại tất cả, hoặc tự giải phóng khỏi ách nước ngoài. Nghĩa thứ nhất, làm cho quần chúng ít học và nhút nhát xa lánh chúng ta, nghĩa thứ hai thì dẫn họ đến chủ nghĩa quốc gia. Cả hai điều đó đều nguy hiểm cả”.

Băn khoăn, suy nghĩ về chủ nghĩa Bônsêvích thực ra là chủ nghĩa Mác áp dụng như thế nào trong một nước thuộc địa có bọn đế quốc thực dân và tay sai, có đông đảo nông dân, một bộ phận nhỏ công nhân mới hình thành cùng với nhiều tầng lớp xã hội khác – như ở Việt Nam – là một chuỗi dài tháng năm tư duy, chọn lọc, tìm kiếm của Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn Ái Quốc đã đi từ nhận định: “Ở Đông Dương có hai con người: Người được bảo hộ và người đi bảo hộ” (báo Le Paria, số 16 tháng 7 năm 1923) đến kết luận: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” (Báo Le Paria, số 25 tháng 5 năm 1924) và “ chỉ có hai loại người: Thiện và Ác”.

Trong bài Phong trào cách mạng ở Ấn Độ đăng trên Tạp chí Cộng sản tiếng Pháp, số 18 – 19 tháng 8, 9 năm 1921, Nguyễn Ái Quốc viết: “Thảm họa của đất nước đã xóa bỏ, sự phân biệt đẳng cấp và tôn giáo, người giàu, người nghèo, quý tộc và nông dân, Hồi giáo và Phật giáo đều hiệp sức đoàn kết”.

Trong năm 1924, tại Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã được mời đến giảng tại một lớp học của những đảng viên cộng sản Đức, văn bản đã được nhà sử học Pháp Alain Rusico công bố dưới đề mục Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Người đọc báo cáo này được đánh giá là một người am hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác và thực tế lịch sử Việt Nam trong quá khứ và hiện tại… Nguyễn Ái Quốc nói: “Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) không diễn ra giống như ở phương Tây”.

Tại sao vấn đề đấu tranh giai cấp – hòn đá tảng để phân biệt những người cách mạng chân chính hay cơ hội, là động lực phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng như Mác – Lênin đã nêu, lại “không diễn ra ở phương Đông, ở Việt Nam, giống như phương Tây”? Nguyễn Ái Quốc, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, với một tư duy độc lập nhằm mục đích cao nhất là tìm ra một phương pháp tối ưu, phù hợp với Việt Nam để giải phóng dân tộc, đã lập luận rằng: “Xã hội Đông Dương về mặt cấu trúc kinh tế không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời Cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó (ở Đông Dương, Việt Nam) không quyết liệt như ở đây (ở châu Âu)”.

“Chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó (ở Đông Dương). Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”.

Nguyễn Ái Quốc nói tiếp: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”.

Ở đây ta có thể thấy tư duy của phương Đông, của Việt Nam (mà Nguyễn Ái Quốc là một đại diện), khác với châu Âu. Triết học ở phương Tây thiên về lý, duy lý, có lúc đơn thuần, duy nhất, cực đoan. Ở Việt Nam có một triết lý khác: có cả lý và tình. Trong cái xấu còn có thể tìm ra cái tốt, ở cái mạnh vẫn bộc lộ điểm yếu, trong âm có dương…

Nguyễn Ái Quốc dẫn ra lý luận của Mác: “Sự tiến triển của xã hội phải trải qua 3 giai đoạn: chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản và trong mỗi giai đoạn ấy đều có đấu tranh giai cấp tuy có khác nhau”. Nhưng Nguyễn Ái Quốc lại cảnh báo: “Chúng ta phải coi chừng. Các dân tộc Viễn Đông có trải qua 2 giai đoạn đầu không?”

Nguyễn Ái Quốc không phủ nhận “đấu tranh giai cấp” ở châu Âu theo chủ nghĩa Mác, mà suy tính vận dụng chủ nghĩa Mác vào Việt Nam như thế nào để cách mạng Việt Nam giành thắng lợi.

Trên thực tế, ở Việt Nam “chủ nghĩa dân tộc còn là động lực lớn nhất của đất nước”. Từ quá trình lịch sử hình thành dân tộc Việt, người Việt từ xa xưa đã có một tinh thần dân tộc cao, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ chống thiên tai, ngoại xâm. Từ đó nảy sinh ra tình yêu nước, thương dân cao cả. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Hễ là người Việt Nam, ai cũng có lòng yêu nước”.

Tình yêu nước ấy gắn bó tất cả những người Việt, những cộng đồng các dân tộc chung sống với dân tộc Việt trên đất Việt Nam thành một thành viên chung được gọi là đồng bào. Hồ Chí Minh định nghĩa đồng bào “nghĩa hẹp là gia đình, anh em họ hàng, bạn bè, nghĩa rộng là đồng bào cả nước, rộng hơn nữa là cả loài người”.
Theo mạch tư duy riêng của mình, Hồ Chí Minh không định nghĩa cách mạng theo cách châu Âu là biến đổi bất ngờ và táo bạo trong cơ cấu kinh tế xã hội, là khởi nghĩa, nổi dậy, nổi loạn, bước ngoặt cơ bản, bước nhảy vọt bất ngờ từ một tình trạng chất lượng này sang một chất lượng khác, cuộc biến đổi lớn thông qua đấu tranh giai cấp… Trên cơ sở thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã định nghĩa ngay từ năm 1927 – trong Đường Kách mệnh: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Như vậy, làm cách mạng ở Việt Nam đâu nhất thiết theo cách hiểu của phương Tây?

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chủ trương ở nước Việt Nam bị đô hộ, vấn đề trước hết là phải nêu cao chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết dân tộc, đoàn kết mọi giai cấp có thể đoàn kết được để giải phóng dân tộc, chớ chưa phải và không phải là đấu tranh giai cấp chống địa chủ, tư bản tràn lan. Có giải phóng được dân tộc mới có điều kiện giải phóng được giai cấp nông dân, công nhân. Quan điểm này đã khiến Quốc tế Cộng sản và nhiều học trò, đồng chí của Nguyễn Ái Quốc không tán thành, ủng hộ, và cho rằng Nguyễn Ái Quốc coi nhẹ đấu tranh giai cấp là cải lương, dân tộc chủ nghĩa, khiến cho Nguyễn Ái Quốc đã từng trở thành một lữ hành cô đơn (câu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ quan điểm của mình.

Trong sách Sửa đổi lối làm việc viết năm 1947, ký tên X.Y.Z, Hồ Chí Minh đã nhắc cán bộ rằng: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh  mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Tiếp đó, trong bàiDuy vật biện chứng và duy vật lịch sử ký tên X.Y.Z, đăng trên tờ Sinh hoạt nội bộ, Ban Chấp hành Liên chi khu bộ tái bản năm 1950, Hồ Chí Minh viết: “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương đấu tranh là một điều ngu ngốc. Việc gì cũng phải đúng với địa điểm, điều kiện và thì giờ thì mới thành công”. Ba điều đúng (địa điểm, điều kiện, thời cơ) đó chính là thực tiễn – thực tiễn Việt Nam.

Hồ Chí Minh viết tiếp: “Chính sách mà Đảng cách mạng lập ra trên sự cần kíp của xã hội, trên lực lượng chính của sự phát triển xã hội, chớ không phải lập ra trên những lý luận mênh mông”.

Đi từ thực tiễn Việt Nam, đối chiếu với chủ nghĩa Mác, theo Luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa, Hồ Chí Minh có lần giải thích rằng: “Chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam là đại đoàn kết”. Đại đoàn kết tất cả các giai tầng xã hội, theo Hồ Chí Minh không phải là đoàn kết vô nguyên tắc, mà chỉ là đoàn kết những người yêu nước, phụng sự Tổ quốc, không đoàn kết với những kẻ phản bội Tổ quốc, những kẻ tham ô, tham nhũng.

Trong cải tạo công thương nghiệp tư doanh trên miền Bắc, sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất, Hồ Chủ tịch đã nói trong một hội nghị cán bộ cao cấp rằng: “Không nên coi tư sản dân tộc là đối tượng cách mạng, mà nên coi họ là đồng minh”.

Nguyễn Ái Quốc đã từng vận dụng đấu tranh giai cấp ở Pháp, ở Hoa Nam, ở Xiêm trong đồng bào người Việt Nam. Năm 1941, sau 30 năm học tập lý luận, đối chiếu thực tiễn, qua kinh nghiệm hoạt động của bản thân, với những luận điểm riêng của mình đã được Quốc tế Cộng sản chấp nhận bước đầu qua Đại hội VII của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã trở về Việt Nam với đầy đủ kinh nghiệm để thực hiện đại đoàn kết. Người viết trên tờ trên tờ báo Việt Nam độc lập rằng: “Lực lượng chúng ta là ở chỗ đoàn kết, đoàn kết toàn dân, đoàn kết người đàn ông, đoàn kết đàn bà, người già, trẻ con, đoàn kết người làm ruộng, làm thợ, đi buôn, người làm việc cho Tây, người đi lính cho Tây”, “không phải đoàn kết nhất thời mà đoàn kết mãi mãi”.

Đại đoàn kết của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – một vận dụng sáng tạo đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác ở Việt Nam, đã tập hợp, đại hòa hợp được tất cả con Rồng, cháu Tiên, nông dân, công nhân, trí thức, đại tư sản…, nghĩa là gần như tất cả những người dân yêu nước, chỉ trừ những kẻ phản quốc, Việt gian, kẻ chống lại Tổ quốc, dân tộc. “Đại đoàn kết ấy thực sự là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Là một di sản quốc bảo của Hồ Chí Minh, của Tổ quốc ta, dân tộc ta, bài học về đại đoàn kết, đấu tranh giai cấp này mãi mãi vẫn là một nhân tố quyết định đồng hành với thắng lợi của đất nước ta trong thế kỷ mới. Đối với một số quốc gia, dân tộc, di sản này còn là một phương án tham khảo tích cực.

Theo Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

Ts Nguyễn Văn Khoan

daibieunhandan.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo

Nhân kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam:

 

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi báo chí là thứ vũ khí sắc bén để động viên, giáo dục quần chúng và chiến đấu với kẻ thù. Động lực làm cho ngòi bút báo chí của Người ngày càng sắc bén, linh hoạt chính là sự giác ngộ từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa quốc tế vô sản. Vì mục đích rõ ràng nên Bác không ngừng rèn luyện cách viết, không ngừng nâng cao trình độ. Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên Tâm địa thực dân, khoảng tháng 7.1919 đến tác phẩm cuối cùngThư trả lời Tổng thống Mỹ(đăng trên báo Nhân dân số 25.8.1969) thì trong 50 năm hoạt động liên tục, Người đã viết hơn 2.000 bài báo các loại, ở hàng trăm tờ báo. Hồ Chí Minh cũng đã sáng lập 9 tờ báo: Người cùng khổ (Le Paria, năm 1922), Quốc tế nông dân(1924); Thanh niên(1925); Công nông(1925); Lính Kách mệnh(1925); Thân ái(1928);Đỏ (1929), Việt Nam độc lập(1941); Cứu quốc(1942), Hồ Chí Minh đã sử dụng khoảng 150 bút danh bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Hoa, tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác.

Ngày 20.9.1919, Nguyễn Ái Quốc (dường như) đã có lần trả lời phỏng vấn đầu tiên, với báo Yiche Pao, xuất bản tại Thiên Tân, Trung Quốc. Đó là cuộc trao đổi giữa Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, một đại biểu của Triều Tiên là Tchong Wen và một phóng viên người Mỹ tại nhà phóng viên này. Phóng viên hỏi: “Ông đến Pháp với mục đích gì?”. Đáp: “Để đòi những tự do mà chúng tôi phải được hưởng”. Khi được hỏi về những hoạt động từ khi đến Pháp, Nguyễn Ái Quốc cho biết: “Ngoài việc vận động các thành viên Nghị viện, tôi đã tìm cách nhen nhóm thiện cảm mỗi nơi một chút, trong đó Đảng Xã hội tỏ ra ít thỏa mãn với các biện pháp của Chính phủ và đã sẵn lòng ủng hộ chúng tôi. Về hoạt động của chúng tôi ở các nước khác, lính ở nước ông (Mỹ) chúng tôi có nhiều thành công hơn”.  Ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã có ý thức rõ ràng về việc sử dụng báo chí làm công cụ tuyên truyền, tác động đến các tầng lớp, các giới để phục vụ cho nhiệm vụ chính của mình là đấu tranh vì nền độc lập, tự do cho dân tộc mình.

Nguyễn Ái Quốc có cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên Giovanni Germaneto, đăng trên báo L’ Unità của Đảng Cộng sản Ý ngày 15.3.1924. Lúc này, Nguyễn Ái Quốc đang học tại Trường Đại học Phương Đông ở Moscow. Trong bài trả lời phỏng vấn ít nhiều có tính cởi mở này, Nguyễn Ái Quốc đã nói nhiều về mục đích học tập và tình hình học tập, ăn ở của các sinh viên tại trường. Trả lời câu hỏi “Khi học xong, anh dự định làm gì”, Nguyễn Ái Quốc đáp: “Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm. Chúng tôi chẳng có quyền gì cả, trừ quyền đóng thuế cho mẫu quốc Pháp, cho bọn chủ bản xứ. Sự việc nổi bật nhất là như thế này: chúng tôi là những người bị đô hộ, như đồng chí biết, chúng tôi là những dân tộc “hạ đẳng”, và vì thế chúng tôi không có quyền ứng cử, bầu cử. Ở nước Nga, “cái nước của những người dã man” – giai cấp tư sản dân chủ gọi các đồng chí Nga như thế – chúng tôi có đầy đủ những quyền như công dân Nga. Thật vậy, những đại biểu của chúng tôi do Xô Viết của chúng tôi bầu ra theo đúng kỳ hạn, đã cùng hội họp với các đại biểu công, nông, binh. Đó, anh đã thấy sự đối xử khác nhau của chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân chủ công nhân đối với chúng tôi! Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hóa” các nước chúng tôi không để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được. Các đồng chí của tôi làm việc phấn khởi, tin tưởng, nghiêm túc. Nhiều người còn rất trẻ đã có một trình độ mácxít ít có thể tưởng tượng là có thể có được vào độ tuổi đó. Chúng tôi hiểu rõ chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lai của các dân tộc thuộc địa tùy thuộc vào sự tuyên truyền, tinh thần hy sinh của chúng tôi. Ở phương Đông, từ Syria đến Triều Tiên, tôi chỉ nói đến các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, có một diện tích rộng mênh mông với hơn 1.200 triệu dân. Cả vùng rộng lớn này nằm dưới ách thống trị của đế quốc tư bản chủ nghĩa. Các dân tộc ở đó không bao giờ ngẩng đầu lên được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới. Những nghị quyết của phái dân chủ xã hội tỏ cảm tình dù nồng nhiệt đến đâu cũng không có sức nặng”. Trong bài phỏng vấn khá dài này, Nguyễn Ái Quốc đã tỏ rõ quan điểm chính trị về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa, đó là không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc cũng ít nhiều cảnh báo tinh thần cải lương, thỏa hiệp của một số người đối với những người thuộc giai cấp dân chủ tư sản.

Sau khi trở thành Chủ tịch Nước, là một nhà báo có nhiều kinh nghiệm, Hồ Chí Minh tôn trọng và có mối quan hệ rất tốt đẹp với các nhà báo. Chỉ tính từ ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, cho đến ngày qua đời, Người đã có khoảng 150 cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, trả lời phỏng vấn với các nhà báo. Ngay ngày 7.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã có buổi tiếp các phóng viên báo chí trong nước. Trả lời câu hỏi của các nhà báo về tiểu sử và hoạt động cách mạng của mình, Người nói: “Từ khi ra đời, tôi đã thấy nước mình là nô lệ. Không muốn sống cảnh nô lệ nữa, ngay từ thuở niên thiếu, tôi đã đấu tranh để giải phóng đất nước. Có lẽ đó là công lao duy nhất của tôi”. Nội dung của cuộc gặp gỡ này đã được đăng tải trên tạp chí Tri Tân số 205, ngày 20.9.1945 và báo La République số 9, ngày 2.12.1945.

Đối với Hồ Chí Minh, tiếp xúc với báo chí là một cách để giới thiệu đường lối, chủ trương đúng đắn của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Qua đó, lên án chính sách hiếu chiến của kẻ thù, sự phá hoại của các thế lực chống phá. Người đã gặp gỡ, tiếp, thăm, trả lời phỏng vấn (cả trực tiếp và qua điện tín) của phóng viên nhiều nước trên thế giới, cả Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Ý, Ấn Độ, Indonesia, Uruguay, sau này còn có Cuba, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hungary… tất nhiên có cả các nhà báo trong nước. Bên cạnh nhiều trường hợp các nhà báo xin được gặp Bác để phỏng vấn  thì cũng không ít lần Người đến tòa soạn thăm hoặc mời các phóng viên đến để thông tin. Thái độ của Người đối với các nhà báo là cởi mở, thân tình và cũng hết sức khéo léo.

Cuối tháng 10.1945, trả lời các nhà báo về thái độ hiện thời của Chính phủ Việt Nam đối với Trung Hoa và Pháp, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nước Việt Nam được thắng lợi trong sự độc lập, thì sự thắng lợi ấy sẽ làm một điều lợi cho Trung Hoa. (…) Trung Hoa và Việt Nam có quan hệ như răng với môi vậy. (…) Các chính sách của Việt Nam đối với Trung Hoa lúc này tóm lại là phải thân thiện… Đối với bọn thực dân pháp cố tâm dùng vũ lực lập lại chủ quyền của chúng ở đây, chúng ta nhất định sẽ phải thắng lợi. Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu oanh liệt trong Nam Bộ bây giờ, cái cử chỉ phi thường của một chiến sỹ tự tẩm xăng vào mình để vào đốt một kho dầu của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến bậc ấy thì sức mạnh nào đó có thể đè bẹp được”. Qua báo chí, Người đã khẳng định một cách đanh thép khát vọng độc lập của nhân dân Việt Nam đồng thời thể hiện quyết tâm sắt đá sẽ chống giặc đến cùng.

Cuối tháng 12.1945, Hồ Chí Minh trả lời phóng viên các báo hàng ngày và hàng tuần của Việt Nam về vấn đề đoàn kết. Trước đó ngày 24.12.1945, Việt Minh, Việt Nam Cách mạng đồng minh (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) đã ký kết văn bản thỏa thuận hợp tác nhằm tăng cường sự đoàn kết, củng cố mặt trận Liên Hợp quốc dân để tập trung lực lượng vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Phóng viên hỏi: “Tại sao có 70 ghế đặc cách (dành cho Quốc dân Đảng) trong Quốc hội?”. Người nói: “Vì anh em Quốc dân đảng không ra ứng cử”. Phóng viên hỏi: “Sao lại trái nguyên tắc dân chủ vậy?”. Bác đáp: “Muốn đi tới dân chủ, nhiều khi phải làm trái lại. Thí dụ muốn đi tới hòa bình có khi phải chiến tranh”. Cách trả lại ngắn gọn mà hết sức thuyết phục, không chỉ giải quyết ngay vấn đề các phóng viên đặt ra mà còn hàm chỉ một vấn đề khác: muốn có hòa bình, bên cạnh những cách hòa bình, đôi khi phải dùng đến sức mạnh của vũ lực. Nhà báo cònvặn vẹo: “Cần làm trái dân chủ? Thế sao Cụ không tự chỉ định Cụ ra làm Chủ tịch Việt Nam, Cụ còn phải ra ứng cử lôi thôi?”. Thay vì trả lời thẳng vào câu hỏi, Bác đáp đầy hàm ý:  “Vì tôi không muốn làm như vua Louis thập tứ”. Những ai biết lịch sử nước Pháp đều không lạ gì Louis XIV (1638 – 1717), người giữ ngôi hoàng đế nước Pháp những năm 1664 – 1715 là một ông vua chuyên quyền độc đoán.

Cũng bằng tư duy ấy, trong buổi tiếp nhà báo Pháp Jean Michel Hetrich cuối năm 1945, Hồ Chí Minh nói:  “Nước Pháp thật là một xứ sở kỳ lạ. Nước Pháp sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu, nhưng khi xuất cảng, chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng ấy”.

Giữa tháng 1.1946, trả lời phỏng vấn các báo nước ngoài Hồ Chí Minh nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Tôi chỉ có một điều ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Tháng 7.1947, trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh gần như tâm sự: “Tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ  trở về làm một công dân du ngoạn sơn thủy, đọc sách làm vườn”. Đó gần như là một quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh về mục tiêu làm cách mạng của mình.

Trong khi tiếp xúc với các nhà báo, Hồ Chí Minh luôn chủ động thẳng thắn không để người hỏi cuốn vào ý đồ của họ. Cách trả lời của Người luôn dứt khoát rõ ràng, sắc sảo. Ngày 20.2.1946, Pháp và Trung Quốc (của Tưởng Giới Thạch) ký hiệp ước Hoa – Pháp, Pháp đã có những nhượng bộ cho Quốc dân đảng Trung Quốc tại Việt Nam, tiến tới độc chiếm Đông Dương. Ngày 23.2, các nhà báo gặp và phỏng vấn Hồ Chí Minh. Có nhà báo hỏi: “Có phải nước ta không cho nước Trung Hoa đủ những quyền lợi về kinh tế như Pháp đã cho Trung Hoa nên mới có bản hiệp ước Hoa – Pháp?”. Bác trả lời: “Vấn đề đó không thành câu hỏi”. Nói câu này, Người có hàm ý không bằng lòng. Rõ ràng, nếu không phải người có ý đồ gài bẫy thì câu hỏi này cũng cho thấy người hỏi non về chính trị. Vì vậy trong phần trả lời tiếp theo sau đó, Người ca ngợi chủ nghĩa Tam dân của Trung Quốc, khẳng định quan hệ tốt đẹp của hai dân tộc mà không đả động gì đến nội dung chính của câu hỏi.

Ngày 12.7.1946, trả lời câu hỏi của các nhà báo tại Pháp “Nếu Nam Kỳ từ chối không sáp nhập vào Việt Nam, Chủ tịch sẽ làm gì?”. Hồ Chí Minh nói: “Nam Kỳ cùng một tổ tiên với chúng tôi, tại sao Nam Kỳ lại không muốn ở trong đất nước Việt Nam? Người Basques, người Breton, không nói tiếng Pháp vẫn là người Pháp. Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất đất nước Việt Nam?”. Không dùng đao to búa lớn để trả lời ý: “Chủ tịch sẽ làm gì?”, Hồ Chí Minh dùng những lý lẽ không thể bác bỏ được để đập tan ý đồ chia rẽ Nam Bộ khỏi Việt Nam bằng cái gọi là Nam Kỳ quốc tự trị.

Liên quan đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 2.1.1947, Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam không muốn chiến tranh chống nước Pháp và nhân dân Pháp vì ta muốn hai dân tộc Việt – Pháp cộng tác thật thà. Nhưng tự do độc lập là quyền trời cho mỗi dân tộc. Bọn thực dân phản động dùng vũ lực phá hoại quyền thống nhất và độc lập của dân tộc ta, cho nên nhân dân ta phải kháng chiến để giữ gìn đất nước”. Trả lời câu hỏi “Cuộc kháng chiến sẽ kết liễu như thế nào?”, Người nói “Lịch sử thế giới và lịch sử nước ta đã tỏ cho ta biết rằng, hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ. Dân Việt Nam muốn được hòa bình, nhưng vì vận mệnh của Tổ quốc, của giống nòi thì sẽ kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến thắng lợi”. Hơn 4 tháng sau, vào tháng 5.1947, Hồ Chí Minh lại có những khẳng định tương tự khi trả lời phỏng vấn của thông tín viên Vasidep Rao (Hãng tin Reuters): “Nếu không hòa bình được, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Toàn dân Việt Nam cương quyết đấu tranh cho thống nhất và độc lập”. Trong bài trả lời khá dài này, Hồ Chí Minh đã khéo léo sử dụng điển tích nổi tiếng Con chó sói và con cừu trong Truyện ngụ ngôn La Fontanie để khẳng định một thực tế là thực dân Pháp đang thể hiện “chân lý của kẻ mạnh”, bằng cách sử dụng sức mạnh quân sự đè bẹp khát vọng và tinh thần của nhân dân ta.

Trong số những nhà báo nổi tiếng thế giới được Bác Hồ tiếp kiến, có thể kể nhà báo người Úc Wilfred Burchett. Giữa đợt 1 (bắt đầu từ ngày 13.3.1954) và đợt 2 (bắt đầu từ ngày 30.3.1954) của chiến dịch Điện Biên Phủ, tại căn cứ địa Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên tiếp Wilfred Burchett, người sau này tiếp tục gắn bó, phản ánh và ủng hộ nhân dân ta cho đến cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong hồi ức của mình, nhà báo Úc đã thuật lại cách giải thích của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam kháng chiến: “Bác Hồ đặt ngửa chiếc mũ trên bàn. Đưa những ngón tay gầy guộc theo vành mũ và nói: Tình hình thế này, đây là những ngọn núi mà lực lượng chúng tôi nắm giữ. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ. Đó là nơi đóng quân của người Pháp với những đội quân thiện nghệ nhất mà họ có tại Đông Dương… Và họ sẽ không bao giờ rút ra được”. “Vậy đây chính là Stalingrad ở Đông Dương?” – Burchett hỏi, và Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Căn cứ vào điều kiện ở đây thì đúng như vậy. Nói khiêm tốn thì đó là một điều gì đó giống như thế”. W. Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm, ngay từ khoảng khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng. Trong những cuộc gặp gỡ tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến ta có ấn tượng vô cùng sâu sắc. Bất cứ ai được Hồ Chủ tịch tiếp đều bình luận về những phẩm chất ấy, và cao hơn hết là cảm giác của họ ngay lập tức như người trong nhà của Chủ tịch”.

Trong chuyến thăm Indonesia tháng 3.1959, trả lời các nhà báo nước bạn, Hồ Chí Minh có những lời đáp rất tế nhị. Chẳng hạn, có nhà báo hỏi “Xin Chủ tịch cho biết ý kiến của Chủ tịch về tình hình chính trị ở Indonesia?”. Người hỏi ngược lại: “Tôi đến đây mới ba ngày. Làm thế nào tôi có thể có ý kiến về tình hình ở đây được?”. Một nhà báo khác hỏi: “Giữa Chủ tịch và Tổng thống Soekarno có cuộc thảo luận chính trị nào không?”. Người trả lời rất chặt chẽ về ngôn ngữ: “Có thể nói là có. Nhưng chúng tôi gọi đó là cuộc trao đổi ý kiến, chớ không phải là cuộc thảo luận. Chúng tôi nói chuyện với nhau một cách thân mật anh em”. Những câu trả lời này vừa thể hiện sự dí dỏm mà cũng hết sức thông minh, khéo léo của Người đối với những vấn đề ngoại giao…

Sự trân trọng của Hồ Chí Minh đối với các nhà báo còn được thể hiện rõ trong cuộc tiếp nữ nhà báo Cuba Marta Rojas (báo Granma) vào ngày 14.7.1969. Đây là lúc sức khỏe của Bác Hồ không được tốt, nhưng với một nhà báo đến từ một nước xã hội chủ nghĩa anh em, Người đã dành thời gian tiếp chuyện mà đến hơn 40 năm sau vẫn để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người được tiếp. Bà Marta Rojas hồi tưởng: “Những lần ở Hà Nội tôi đều tới thăm báo Nhân dân và nói với nhà báo Hoàng Tùng rằng tôi muốn có một cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một buổi, đồng chí Hoàng Tùng  gọi cho tôi: 6 giờ sáng mai tôi qua đón chị vào phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là buổi sáng một ngày khoảng giữa tháng 7.1969, tôi, nhà báo Hoàng Tùng và người phiên dịch bước vào  Phủ Chủ tịch thì gặp một cụ già mặc một bộ quần áo màu trắng tươi cười đi tới và chào tôi bằng tiếng Tây Ban Nha: “Chào buổi sáng đồng chí Marta”. Tôi đã nghe nói nhiều về Bác Hồ, nhưng không nghĩ Người lại giản dị, thân tình đến thế”. Marta Rojas nói tiếp: “Tôi chỉ định phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng thật bất ngờ và thú vị là Người đã phỏng vấn lại tôi. Người hỏi tôi về những cảm nhận, những trải nghiệm của tôi ở Tây Ninh… Rồi Người hỏi thăm Fiel và nói: “Tôi đã đọc rất nhiều bài phát biểu của Fiel và rất thích những bài phát biểu đó”. Marta Rojas cho biết, câu hỏi tuyệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bà lúc đó là nhà báo nhìn nhận thế nào về những lá cờ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Marta trả lời Bác: “Miền Nam mưa, nắng nhiều, nhưng lá cờ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc nào cũng như mới”. Sau đó, lý giải của Bác khiến Marta không thể nào quên: “Vì mục tiêu đấu tranh của  mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam là bảo vệ cho lá cờ đỏ ở đúng vị trí mà nó cần phải có. Đó là biểu tượng của Việt Nam. Chắc chắn chúng tôi sẽ chiến thắng người Mỹ. Tất cả sự chịu đựng và nỗi đau của người dân miền Nam cũng là sự chịu đựng và nỗi đau của tôi”.

Dĩ nhiên còn rất nhiều chuyện khác liên quan đến thái độ, tình cảm ứng xử của Hồ Chí Minh đối với nhà báo. Lược qua những cuộc trao đổi giữa Hồ Chí Minh với các nhà báo ta dễ dàng nhận ra một Hồ Chí Minh chính khách đầy quyết đoán, sắc sảo; một Hồ Chí Minh nhà báo luôn quan tâm, thông cảm và cũng hiểu rõ những thủ thuật của các phóng viên. Hồ Chí Minh sử dụng vũ khí báo chí và sử dụng ngôn từ trên báo chí đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao, cả khi Người trả lời phỏng vấn.

Theo Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

Vân Tâm

daibieunhandan.vn

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Hành trình mở trang sử mới

QĐND Oline- Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành bước chân xuống con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) với mục đích tìm ra con đường cứu nước. Hành trình cách mạng của người thanh niên ấy (sau này là lãnh tụ Hồ Chí Minh) đã mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, báo QĐND Online gửi đến bạn đọc tư liệu tổng hợp về một phần hành trình của Người..

Bối cảnh lịch sử Việt Nam

Những năm cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Trước sự áp bức, đè nén của thực dân Pháp, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung Kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế…Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để dập tắt các phong trào yêu nước đó và sau khi dập tắt phong trào Cần Vương, thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thực địa để làm giàu cho chính quốc.

Sở dĩ các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại có nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Sự vùng lên nhằm khôi phục nền độc lập của một số nhà yêu nước chưa đủ mạnh để đương đầu với chế độ thực dân đã tích luỹ đủ mưu mô chính trị và tiềm lực kinh tế, quân sự. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Bến Nhà Rồng hiện nay trong lung linh ánh điện-Ảnh Internet

Trong bối cảnh đó, xuất hiện một con người- người mà sau này trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam. Đó là cậu bé Nguyễn Sinh Cung- Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, ở một địa phương có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như vốn kiến thức Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng tỏ rõ tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đồi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

Mô hình lớp học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), nơi Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học trước lúc ra đi tìm đường cứu nước. (Ảnh Intrenet)

Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những mỹ từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1780, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản-mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới-mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Ở Trung Quốc, lúc ấy đất nước rộng lớn này bị các nước tư bản phương Tây xâu xé và cũng đang tìm lối ra nhưng đến giữa năm 1911, nhìn chung vẫn chưa có lối thoát mà phải đợi đến tháng 10-1911, dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên, Trung Quốc mới tìm thấy hướng đi thông qua cuộc cách mạng Tân Hợi.

Ở Ấn Độ, đất nước bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng đi cho dân tộc mình và Đảng Quốc Đại đã bước lên vũ đài chính trị.

Ở In-đô-nê-xi-a (bị thực dân Hà Lan đô hộ), nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.Từ 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác.

Đất nước Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp….

Như vậy, bối cảnh trong khu vực, thế giới có những thay đổi, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải có những bước chuẩn bị tiền đề cho sự đi lên của mình. Và ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng ( Sài Gòn cũ), trên con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville), Nguyễn Tất Thành trong vai người phụ bếp đã bắt đầu con đường sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc Việt Nam.

Nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc

Tìm ra con đường chân lý

QĐND Online – Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tresville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Tàu “Đô đốc Latouche Tresville” nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Véc-xây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác-Lê-nin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lê-nin đăng trên báo L’Humanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Trong bối cảnh bấy giờ có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Chủ nghĩa Mác- Lê-nin, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam soi sáng đường cách mạng.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí dự Quốc tế Cộng sản V

Sau hơn 40 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng lả bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Lịch sử đã khẳng định và chứng minh rằng: Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển của dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Quá trình mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết ra đi tìm con đường chân lý đến khi Người trở thành Lãnh tụ Hồ Chí Minh là quá trình đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoặt của cách mạng

Truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lê-nin và sáng lập Đảng

QĐND Online- Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào nước ta, hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khởi thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt-Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, xác định con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội….Những công việc cách mạng vĩ đại đó cho thấy tầm nhìn xa, trông rộng của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam.

Xuất phát từ thực trạng của đất nước, Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay đảng cộng sản mà thành lập một tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mác-xít để qua đó dần dần đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào quần chúng lao động, đó là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong các tác phẩm, các bài báo, bài giảng của mình, Người đã kết hợp việc phổ biến lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin với việc giới thiệu những phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, vạch cho nhân dân ta con đường đi đến độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đường Cách mệnh là một trong những tác phẩm có giá trị to lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở Việt Nam những năm 20. Người tổ chức chuyển tài liệu, sách vở, báo chí về nước, gấp rút đào tạo cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; tổ chức tuyên truyền, cổ động tư tưởng cứu nước trong nhân dân; mở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu để trang bị cho các học viên những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, về những nguyên tắc hoạt động bí mật và kỹ năng thực hành các công việc vận động quần chúng; chọn những học viên ưu tú kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cử về nước gây dựng phong trào… Việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thúc đẩy sự phát triển những tổ chức cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Phong trào “vô sản hóa” đã góp phần đẩy nhanh quá trình giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lê-nin của giai cấp công nhân. Phong trào đấu tranh của nhân dân lao động được lãnh đạo, liên kết với nhau thành một làn sóng mạnh mẽ. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin do Nguyễn Ái Quốc có công truyền bá, đã thật sự chiếm lĩnh được lòng tin của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua năm 1920. Ảnh TL

Năm 1930, việc hợp nhất thành công các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn (qua Chánh cương, Sách lược), có hệ thống tổ chức thống nhất, chặt chẽ, rộng khắp cả nước, là một bước ngoặt quyết định của lịch sử cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc – người tìm ra con đường cứu nước, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam; người tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; người rèn luyện, cán bộ, đảng viên theo chuẩn mực của đảng Mác – Lê-nin chân chính, trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân.

Những quyết sách chiến lược trọng đại

Bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy tình hình thế giới có chuyển biến lớn, Người gấp rút trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Tám (5-1941). Đây là Hội nghị hoàn chỉnh thêm một bước sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được vạch ra từ Hội nghị Trung ương Sáu (11-1939). Tại Hội nghị này, Nguyễn Ái Quốc đã xác định nhiệm vụ dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Người khẳng định: Lúc này nếu quyền lợi của dân tộc không đòi lại được thì quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Người chỉ đạo thành lập một mặt trận rộng rãi và có tên thích hợp hơn Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để tập hợp lực lượng chống đế quốc. Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời với Chương trình cứu nước do chính Hồ Chí Minh dự thảo. Người chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, tích cực chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền. Đón bắt kịp thời thời cơ, Người và Đảng ta đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc Dân ngày 16 và 17-8-1945 thống nhất ý chí toàn dân, quyết định Tổng khởi nghĩa, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Nắm vững vị trí quan trọng của chính quyền cách mạng, với Tuyên ngôn độc lập, Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, với việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự ra đời Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Nhà nước cách mạng- Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Suốt chặng đường sau đó, bằng tầm nhìn văn hóa sâu rộng, kinh nghiệm chính trị phong phú và sáng tạo, Người đã lãnh đạo, tổ chức và xây dựng Nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, luôn phấn đấu vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên phong tại Đền Hùng trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Bác căn dặn “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Ảnh TL

Với phương châm kháng chiến “toàn dân, toàn diện”, “trường kỳ và tự lực cánh sinh”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; với ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, Người đã hiệu triệu được lòng yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những tư tưởng chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong thời điểm đất nước “ngàn cân treo sợi tóc” với thù trong, giặc ngoài năm 1946; trong Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 1-1959) về đường lối cách mạng miền Nam; trong chỉ đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền Nam-Bắc và cả tinh thần “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”… là những nhân tố quan trọng, quyết định làm nên thắng lợi và thể hiện tinh thần nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong xu thế thời đại, phát huy được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của dân tộc. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giương cao, đưa Việt Nam thành lương tâm và khí phách của thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội của học thuyết Mác – Lên-nin vào điều kiện Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội-con đường phát triển của dân tộc mà Người đã lựa chọn, đang từng bước được hiện thực hóa sinh động trên đất nước Việt Nam.

Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và cách mạng vô sản thế giới

Xông pha, nhiệt huyết trong thực tế

QĐND Online- Hồ Chí Minh-nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế. Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hòa mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người-với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm 1925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác – Lê-nin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủy viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam.

Sức lan tỏa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ La-tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Bổ sung sức sống của lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lê-nin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Các Mác, Ăng-ghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lê-nin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân-giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân-cùng với công nhân là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hóa, nhân văn.

Trách nhiệm kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “Xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

Hơn bao giờ hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…

Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam… Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Ngọc Thụy (biên tập)

qdnd.vn

Hành trình 40 ngày trên biển của Bác qua ảnh vệ tinh

(GDVN) – 100 năm kể từ ngày chàng trai trẻ Nguyễn Văn Ba lên tàu Amiral Latouche Tréville rời Bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Nhân sự kiện này, GDVN vẽ lại hành trình 40 ngày lên đênh trên biển của Người qua những hình ảnh vệ tinh.

a

Thương cảng Sài Gòn năm 1911 khá tấp nập, chỉ dài 600m. Có nhiều tuyến đường lớn chạy qua thương cảng này, đó là các đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng),
Catinat (nay là đường Đồng Khởi), Charner (nay là đường Nguyễn Huệ), Krantz và Duperré (nay là đường Hàm Nghi). (Trong ảnh là Bến cảng Nhà Rồng với mô hình 3D của Google Earth ngày nay)

a

Thương cảng Sài Gòn khi ấy có 5 cầu tàu: 3 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Đồng Khởi dành cho các hãng chuyên chở đường sông, 1 cầu tàu lớn ở đầu đường Nguyễn Huệ dành cho các tàu viễn dương và 1 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Hàm Nghi dành cho hãng tàu người Hoa. Brébion đã mô tả Thương cảng Sài Gòn hồi 1911: “Trên bến Francis Garnier (nay là bến Bạch Đằng), phía bờ sông có nhiều loại cầu tàu chiếm chỗ. Một trong số cầu tàu lớn nhất là nơi cập bến các tàu
lớn thuộc hãng Chargeurs Resunis (hãng Năm Sao).
Trong ảnh là hình ảnh tư liệu về Bến cảng Nhà Rồng xưa.

a

Trưa 2/6/1911, chiếc tàu Amiral Latouche Tréville của hãng Năm Sao từ Hải Phòng cập cảng Sài Gòn. Bác xuống tàu và gặp viên thuyền trưởng Lui E-du-a Mai-sen. Ngày 3/6/1911, Bác chính thức xuống tàu làm phụ bếp với mức lương 50 phơ-răng Pháp. Đây là một trong những tàu lớn hồi đó vừa chở hàng, vừa chở khách. Tàu Latouche dài 124,1m, rộng 15,2m, chạy máy hơi nước, 2.800 mã lực với tốc độ 13 hải lý/giờ, trọng tải 5.572 tấn và có đủ nhiên liệu để chạy một mạch 12.000 hải lý.

a

Trưa 5/6/1911, con tàu Amiral Latouche Tréville đã rời bến sông Sài Gòn với 72 thủy thủ trên tàu. Trong ảnh, điểm chấm đỏ là cảng Nhà Rồng, mũi tên đỏ chỉ hướng tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển từ Sài Gòn tới Singapore trong 3 ngày (trong ảnh chấm đỏ chỉ đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville. Đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville bằng chấm đỏ chỉ mang tính tương đối)

a

Ngày 8/6/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Keppel của Singapore. Trong ảnh là cảng Keppel ngày nay được chụp bằng Google Earth.

a

Toàn cảnh về đêm trên cảng Keppel của Singapore ngày nay.

a

Từ cảng Keppel, Singapore, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình của mình trên Ấn Độ Dương để tới Quốc đảo Sri Lanka.

a

Ngày 14/6/1911 tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Colombo, Sri Lanka sau 6 ngày lênh đênh trên biển. Trong ảnh là cảng Colombo, Sri Lanka được chụp bằng Google Earth.

A

Toàn cảnh cảng Colombo Sri Lanka ngày nay

a

Vượt qua phần còn lại của Ấn Độ Dương, tàu Amiral Latouche Tréville đi vào vùng biển đỏ, qua tiếp kênh đào Suez tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Said phía Bắc Ai Cập.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville đã cập cảng Said, Ai Cập ngày 30/06/1911. Trong ảnh là cảng Said chụp bằng Google Earth

a

Một phần cảng Said, Ai Cập ngày nay

Said, Ai Cập

Từ cảng Said, Ai Cập, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình vượt qua Địa Trung Hải để tới cảng Mác Xây (Marseille) Pháp ngày 06/07/1911.

a

Bến Đa – Răng trong cảng Mác Xây. Ngày 06/07/1911, Bác đã lần đầu tiên tới nước Pháp. Cũng chính nơi đây lần đầu tiên trông đời Bác thấy có những người Pháp gọi anh bằng “ông”. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Mác Xây, Pháp chụp bằng Google Earth.

a

Một ngày ở lại Mác-xây, đi thăm phố xá, Bác nhận xét: Thì ra, người Pháp ở bên Pháp không ác như thực dân Pháp ờ Việt Nam. Thì ra, bên Pháp cũng có người nghèo như bên ta. Trong ảnh là một phần cảng Mác Xây, Pháp ngày nay.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville không dừng lại ở Mác Xây, nó phải tiếp tục hành trình về phía Bắc của nước Pháp. Đó là cảng Le Havre

a

Ngày 15/07/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Le Havre, cảng chính ở phía Bắc nước Pháp kết thúc 40 ngày lên đênh trên biển. Do công việc dưới tàu cực khổ, 14 thủy thủ, nhân viên đã bỏ nghề lên các bến dọc đường. Khi tàu đến Le Havre, tổng số người làm trên tàu chỉ còn có 58 người, trong đó có Bác.

a

Bác đã thắng sóng gió và điều kiện làm việc cực nhọc dưới tàu biển để khởi đầu cho cuộc dấn thân trường chinh tìm đường cứu nước. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Le Havre, Pháp ngày nay.

Nam Chấn (Hình ảnh chụp từ Google Earth)

giaoduc.net.vn

Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân tộc

Tìm đường đi cho dân tộc

(VOV) – Đây là sự khởi đầu đúng đắn để từ đó Người đã dẫn dắt ngọn cờ cách mạng của dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc với lòng yêu nước nồng nàn, lên đường bôn ba 5 châu, 4 biển, tìm con đường giải phóng dân tộc.

Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi

Với ý chí, nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu cho hành trình tìm đường giải phóng dân tộc với chân làm thuê trên tàu Đô đốc L’Amiral Latouche Tréville, rời Tổ quốc vào tháng 6/1911, ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác đã làm thế nào để có được độc lập, tự do, rồi “trở về giúp đồng bào mình”. 30 năm sau, Người trở về, tạo nên sự thay đổi của vận mệnh và tương lai cả dân tộc.

Theo ông Bùi Kim Hồng – Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, quyết định ra đi tìm đường cứu nước là sự khởi đầu một con đường đi hoàn toàn đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Người trực tiếp sang miền đất của chính kẻ thù đang cai trị dân tộc mình để hiểu được bản chất của vấn đề, bản chất của xâm lược, và khẳng định được rằng, ở bất cứ nước nào, người dân nô lệ cũng đều phải sống cuộc đời lầm than. Muốn giải phóng được dân nô lệ phải giải phóng đất nước, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đấy không chỉ là con đường đối với dân tộc Việt Nam, mà là con đường đi của tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Sau năm 1911, trong vòng 10 năm tiếp theo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới. Với ý chí kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn, Người đã sống cuộc đời của người lao động, hòa mình vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức bóc lột ở thuộc địa.

Qua những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm thực tế đó, chủ nghĩa yêu nước ở Người có những chuyển biến mới. Sự đồng cảm với đồng bào mình đã được nâng lên thành sự đồng cảm với nhân dân lao động, với các dân tộc cùng cảnh ngộ bị áp bức như dân tộc mình. Quá trình thâm nhập vào những xã hội văn minh rộng lớn đã giúp Người nhận thức rõ hơn, khái quát hơn diện mạo của kẻ thù: không chỉ đối với thực dân Pháp mà cả chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc nói chung.

Với tinh thần ham hiểu biết và học hỏi, với tư duy độc lập sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành chí hướng lớn lao và quyết tâm tìm con đường đi cho riêng mình. Người trân trọng và khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của những chí sĩ yêu nước trước đó, nhưng không đi theo con đường của các bậc tiền bối đã đi, mà có suy nghĩ, cách thức khác. Trong 30 năm xa Tổ quốc, Người mất gần 10 năm để tìm lời giải cho bài toán khó: làm thế nào để giải phóng Tổ quốc và nhân dân thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, để nước nhà được độc lập, dân được tự do, hạnh phúc.

PGS, TS Bùi Đình Phong (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) phân tích: “Trong 10 năm ấy, Bác đã phải nghiên cứu, khảo nghiệm, chắt lọc đối chiếu từ cách mạng tư sản pháp 1779, cách mạng tư sản Mỹ 1776… Cuối cùng khi đọc Luận cương của Lênin, Người mới tìm thấy được lời giải thực sự cần thiết. Như vậy, Bác Hồ đến với chân lý cách mạng của thời đại không chỉ  để giải quyết nhu cầu giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam mà còn đáp ứng cả xu thế của thời đại. Tức là phong trào giải phóng dân tộc phải đi vào quỹ đạo của phong trào cách mạng vô sản”.

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước

Nguyễn Tất Thành nhận làm bồi tàu, thủy thủ để có điều kiện được tiến hành cuộc khảo sát rộng lớn thế giới tư bản, nhưng tâm hồn Người luôn hướng về Tổ quốc, luôn đau đáu về mục tiêu cao cả: giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Từ cảng Nhà Rồng, Người đã đi qua Singapore, Colombo, vượt Hồng hải, qua Suez đến cảng Saïd, Marseille, Le Havre. Từ Pháp, Người trở lại Sài Gòn, rồi đi vòng quanh châu Phi, qua các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Algeria, Tunisia, trở lại các cửa biển Đông Phi, vòng qua Congo, Dahomey, Guinée, Sénégal, vượt Đại Tây Dương tới Hoa Kỳ, vòng xuống Nam Mỹ, tới Argentina… Sau đó, trở lại Anh, về Pháp, qua Đức, tới Liên Xô, về Trung Quốc, sang Thái Lan…

Suốt thời thanh niên, Nguyễn Tất Thành vừa lao động kiếm sống, vừa tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội ở các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục.

Đặc biệt, từ năm 1921 – 1923, giữa mùa đông giá lạnh ở Paris, căn phòng không điện, không nước trong ngôi nhà số 9, ngõ Compoint đã nuôi dưỡng một con người có trái tim luôn khát khao cháy bỏng để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Căn phòng này còn là nơi tụ họp rất nhiều người Việt Nam yêu nước đang sinh sống tại Paris để tìm ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam.

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là một trong số rất ít các nhà cách mạng đương thời có điều kiện đi nhiều, có một vốn hiểu biết khá tường tận về chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng. Bản thân là người dân thuộc điạ, ra nước ngoài hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của vô sản ở chính quốc, có gần 10 năm bôn ba, khảo sát các thuộc địa của đế quốc Anh, Pháp, Đức – từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ La tinh, nên Người có hiểu biết về bản chất chung và màu sắc riêng của mỗi nước đế quốc cũng như trình độ phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội khác nhau giữa các nước thuộc địa. Nhờ vốn hiểu biết thực tế đó, cùng với một năng lực tư duy độc lập, tự chủ, đã giúp Người không rơi vào các khuynh hướng cơ hội nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận một cách giáo điều những công thức lý luận không phù hợp với thực tế các nước thuộc địa, nhất là ở phương Đông.

Cảm phục trước cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn Australia, Allan Asbolt đã viết: “Một trong những nét nổi bật về cuộc đời Hồ Chí Minh là Người đã sống nhiều năm ở nước ngoài – ở châu Âu, Anh, Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc, nhưng Người không có tham vọng cá nhân, phù phiếm; không cố công để trở thành một nhân vật xuất chúng, theo ngôn ngữ của các nhà xã hội tư bản. Người dành thời gian chủ yếu cho việc nghiên cứu và học hỏi, nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thực tế có phần dựa vào kinh nghiệm hàng ngày của bản thân trong giai cấp công nhân. Người luôn luôn có suy nghĩ làm thế nào để giải phóng nhân dân nước mình khỏi ách đô hộ và bóc lột thực dân. Người cũng nhận thức sâu sắc rằng cần phải kết hợp sức mạnh chiến đấu của ý thức dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy với những mục tiêu đồng cảm về cơ bản là hòa bình và nhân đạo của chủ nghĩa xã hội. Trong gần 3 thập kỷ, Người đã sống và làm việc ở nước ngoài nhưng về ý thức, Người không hề xa Tổ quốc”./.

Tìm lời giải cho “Bài toán thế kỷ” của dân tộc

(VOV) – Nhà sử học Italia, Perugia: “Hồ Chí Minh là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta. Không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác”.

Trong cuộc viễn du 30 năm, qua 28 quốc gia và vùng lãnh thổ, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy cẩm nang thần kỳ của Lênin, tạo ra bước ngoặt cơ bản trong tư tưởng cách mạng, giúp Người đưa ra một kết luận quan trọng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản.

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn – Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, điều này ngày càng chứng minh tư duy độc lập, sáng tạo của Bác Hồ. Người đã đi suốt từ châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, nghiên cứu các nước phát triển nhất của hệ thống Tư bản chủ nghĩa lúc bây giờ. Đồng thời bằng trải nghiệm qua thực tiễn quê hương mình, Người đã nghiên cứu cuộc sống của người dân ở những thuộc địa khốn khổ ở Châu Phi. Từ đó Người cân nhắc tìm con đường và khi tiếp cận luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa, Bác Hồ đã nhận ra con đường cứu nước cứu dân tộc. Toàn bộ việc đi tìm đường cứu nước của Người là có chủ ý, đã có những điều kiện nền tảng về tư tưởng và Bác đã chọn con đường rất mới, sang châu Âu để tìm con đường cứu nước, để hướng tới những tư tưởng hiện đại nhất thời đại lúc bấy giờ.

Theo PGS, TS Lê Văn Yên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia), Nguyễn Tất Thành chọn cho mình hướng đi mới, đó là tìm đến các nước phương Tây, nơi có trào lưu Tự do, Bình đẳng, Bác ái để tìm cách làm mới, phương pháp mới, rồi trở về nước giúp Tổ quốc, giúp đồng bào. Trong lúc đất nước còn khủng hoảng, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc vượt trùng dương đi tìm chân lý cách mạng. Có thể nói, đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước mở đầu cho cách mạng Việt Nam chuẩn bị đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước với thời đại, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu cơ từ trong bản chất giai cấp, trên tinh thần đấu tranh vì lợi ích nhân loại.

PGS,TS Nguyễn Trọng Phúc (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí minh) nhấn mạnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tư tưởng, học thuyết đã có sẵn và luôn luôn mở rộng tầm nhìn, khai thác tư tưởng mới của nhân loại. Đây là sự gặp gỡ giữa tư tưởng của một con người có tầm trí tuệ với các vấn đề khách quan của thời đại đặt ra. Sự gặp gỡ giữa một trí tuệ lớn, một nhân cách lớn, một khát vọng lớn của một con người với những vấn đề nóng bỏng của thời đại đã hun đúc nên tư tưởng và đường hướng phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua năm 1920

Ra đi tìm đường cứu một quốc gia là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nhưng tìm thấy con đường ấy là việc khó gấp bội phần. PGS, TS Lê Văn Tích (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định: Sau nhiều thất bại của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh là người đầu tiên tìm ra lời giải cho “Bài toán thế kỷ” đặt ra trước dân tộc.

Từ việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo ông Nguyễn Huy Hoan – nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng ta rút ra được rất nhiều bài học. Bài học đầu tiên, đó là có lòng yêu nước sâu sắc nhưng phải biến lòng yêu nước đó thành hành động cụ thể. Hành động cụ thể của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc từ khi ra đi tìm đường cứu nước là sự toàn tâm, toàn ý tập trung vào việc tìm cho dân tộc con đường giải phóng đúng đắn.

Bài học thứ hai là phải có trí tuệ sáng suốt, phải biết lựa chọn con đường đúng đắn. Ở giai đoạn Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, các quan điểm của thế giới về con đường giải phóng dân tộc rất nhiều, cũng như lúc bấy giờ chưa có một mô hình nào cụ thể về con đường giải phóng dân tộc. Nhưng sự thiên tài của Bác Hồ là đã chọn được mô hình rất đúng đắn để giải phóng dân tộc và chúng ta hoàn toàn có thể tự hào là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách thực dân là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới và chúng ta cũng lập ra chính quyền của dân đầu tiên trên thế giới từ một nước thuộc địa.

Bài học thứ ba chính là tấm gương học tập, nghiên cứu của Người. Người học suốt ngày, học cho đến 11 giờ đêm. Đi đâu cũng học và gặp ai cũng học.

Bài học thứ tư là sự sáng tạo của Người khi tìm lời giải cho bài toán khó của đất nước. Nhờ sáng tạo ấy Bác Hồ của chúng ta đã tìm được con đường giải phóng có hiệu quả. Luận cương Lênin chỉ nêu những vấn đề cơ bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo, mà hai luận điểm sáng tạo nhất của Bác là: Muốn giải phóng dân tộc phải dựa vào sức của nhân dân mình là chính; Và, cách mạng giải phóng dân tộc phải tiến hành trước chính quốc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã diễn ra theo đúng tư tưởng chiến lược đó của Bác./.

Những bài học lớn

(VOV) – Vận dụng sáng tạo, phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ giúp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta giành được nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước ngày nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở ra con đường mới và dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân đi theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với trái tim đầy nhiệt huyết, bộ óc sáng suốt, Người luôn luôn vươn tới những giá trị của Chân, Thiện, Mỹ. Sự nghiệp của Hồ Chí Minh, con đường Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt mọi người dân Việt Nam yêu nước dựa vào nền văn hóa mà ở đó biểu đạt những giá trị toàn cầu, những khát vọng của con người, của các dân tộc khác nhau, có bản sắc, cốt cách, đặc tính khác nhau nhưng thống nhất, hài hòa trong những giá trị chung nhất, tốt đẹp nhất mà con người toàn nhân loại và các dân tộc trên thế giới khát khao vươn tới.

Theo PGS-NGND Lê Mậu Hãn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta một bài học lớn: mọi quyết định đều phải dựa vào thực tiễn của thời đại và sức mạnh của dân tộc.

PGS-TS Vũ Quang Hiển (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, bài học lớn mà chúng ta luôn luôn khắc ghi đó là phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình chỉ đạo sự nghiệp đổi mới để xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nói đến độc lập dân tộc, độc lập tự do  không thể tách rời với thống nhất đất nước. Vì một đất nước độc lập đồng thời phải là một đất nước thống nhất quốc gia một cách toàn diện.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, vấn đề độc lập dân tộc càng được coi trọng. Sự hội nhập của các quốc gia đều là trên nền tảng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Cũng theo PGS-TS Vũ Quang Hiển, bản sắc văn hóa đó thể hiện qua ngôn ngữ, tiếng nói, phong cách ứng xử, mà phong cách đó biểu hiện ở mọi người Việt Nam, từ những người có chức có quyền cho đến những người bình thường, một anh lái xe taxi, một người đạp xích lô, một chị bán hàng ở một kiốt ở Bờ Hồ, hay một chị lao công quét rác… Trong con mắt bạn bè quốc tế, người ta thấy ở họ một con người hiền lành trong đời thường, chăm chỉ trong lao động sản xuất và dũng cảm, quyết liệt trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Nhìn vào họ, người ta thấy được hình ảnh tiêu biểu của con người Việt Nam.

Giới trẻ Việt Nam rất năng động, và trong điều kiện hiện tại, sự năng động và thông minh của giới trẻ có điều kiện phát huy. Giới trẻ một mặt hướng tới cái mới, năng động tìm kiếm cái mới, nhưng phải luôn luôn giữ gìn các giá trị đã đi vào bản chất của con người Việt Nam, tiếp tục nắm vững và phát huy ngọn cờ độc lập dân tộc.

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, chúng ta nhớ bài học quí giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đó là: “có cái gì tốt của Đông phương và Tây phương thì ta phải học lấy để làm giàu cho văn hóa Việt Nam”. Ngày nay, chúng ta càng phải nâng cao chủ nghĩa yêu nước, không chấp nhận nghèo nàn lạc hậu, làm cho con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Chúng ta phải luôn luôn nung nấu mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đó cũng là những bài học được GS-TS Tạ Ngọc Tấn (Giám đốc Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) nhấn mạnh: “Từ sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước sẽ là những bài học rất lớn cho chính bản thân cách mạng nước ta, đó là trong điều kiện thực tiễn thế nào chúng ta tìm ra những giải pháp, những con đường giải quyết những vấn đề trong đất nước. Bài học cho thế hệ trẻ là tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường và thái độ trách nhiệm với đất nước…”.

Theo GS,TS Mạch Quang Thắng (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), để đất nước phát triển ngày càng vững chắc trên con đường hội nhập quốc tế, chúng ta luôn luôn phải học Bác vừa kiên định, vừa sáng tạo. “Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta thông điệp cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam là con đường đi tới Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa cộng sản. Thông điệp đó là thông điệp quan trọng nhất hiện nay và tôi cho rằng phải kiên định con đường đó. Nhưng phải vừa kiên định vừa sáng tạo”.

PGS, TS Nguyễn Bá Linh (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) nêu hai bài học để phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: Thứ nhất, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình chỉ đạo sự nghiệp đổi mới để đạt mục tiêu mà Đảng đã đề ra: Xây dựng nước ta thành một nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thứ hai, luôn luôn kết hợp lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, đã nói là phải làm, không đánh trống bỏ dùi để làm gương cho toàn dân tộc theo phương châm: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau như Bác thường răn dạy.

Tròn một thế kỷ đã trôi qua nhưng sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại. Đây là dịp để mỗi chúng ta học tập và noi gương Bác Hồ, kiên định con đường mà Bác đã lựa chọn.

Một nhà báo nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì Người đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những ước mơ của mình. Chúng ta thật hạnh phúc khi được học theo Bác, để biết khởi đầu đúng và đi tới đích./.

Mai Hồng

vov.vn

Vững bước theo con đường thắng lợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(ĐCSVN)Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam hơn 80 năm. Ngày 3-2-1930 mãi mãi là mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ mốc son ấy, cả dân tộc đoàn kết, bền lòng phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng lập nên những kỳ tích vang dội trong hơn 80 năm qua đã khẳng định: kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, Điều lệ Đảng được Đại hội XI thông qua đã ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc“. Thực tế hơn 80 năm qua đã chứng minh điều đó là hoàn toàn đúng. Đảng ra đời trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, được nhân dân chở che, nuôi dưỡng, đùm bọc nên hòa quyện với khối đại đoàn kết dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là Đảng cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân Đảng ta không có lợi ích gì khác. Vì vậy mà Đảng ta được dân tin, dân phục, dân yêu. Ngày nay, nhiệm vụ của Đảng ta là lãnh đạo quần chúng đánh thắng tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu)

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử. Các phong trào yêu nước trong thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua chiều dài mấy ngàn năm lịch sử. Các phong trào yêu nước đó đều dũng cảm, hy sinh quên mình, nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên đã lần lượt thất bại và tan rã. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Nhà yêu nước Phan Bội Châu đã khái quát về tình hình đất nước ta trong những năm tháng đầu thế kỷ XX là: “Trời khuya, đất ngủ, khói đục, mây mù” để phản ánh sự bế tắc đó. Đúng vào thời điểm ấy, một xu hướng cách mạng mới xuất hiện do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng và lãnh đạo. Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (mà sau này là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) đã ra nước ngoài tìm con đường cứu nước. Sau những năm bôn ba, Nguyễn Ái Quốc đã xác định con đường cứu nước muốn thành công phải kết hợp phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân Quốc tế. Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp tháng 2-1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lê nin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ năm 1921 đến 1930 Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào Việt Nam, cổ vũ các phong trào yêu nước, phong trào công nhân để hình thành các tổ chức cách mạng theo xu hướng mới. Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, một tổ chức cách mạng gồm phần lớn trí thức tiểu tư sản sớm tiếp thu Chủ nghĩa Mác – Lênin. Năm 1929, những tổ chức cộng sản đầu tiên ra đời.

Ngày 3-2-1930, thay mặt Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị tại Hồng Kông để họp thống nhất ba tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình vắn tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Sự kiện này đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng và mở ra bước ngoặt mới về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam đã minh chứng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng với niềm tin của dân tộc và sự giao phó của lịch sử. Từ ngày 3-2-1930, tại Việt Nam đã có Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo cách mạng nước ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích vang dội trong thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân Pháp và triều đình phong kiến, lập nên Nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á; là thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; là thắng lợi của cuộc kháng chiến hơn 20 năm chống Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; là thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước trong 25 năm qua vượt lên mọi khó khăn, bao vây cấm vận, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, đứng vững và kiên định tiếp tục đi lên trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ (năm 1989 – 1991), vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế ở khu vực (năm 1997 – 1998) và cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế thế giới diễn ra phức tạp gần đây (năm 2008 – 2009) v.v… Đảng lãnh đạo thực hiện thắng lợi mục tiêu là đưa nước ta sớm ra khỏi nhóm nước kém phát triển, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…

Thứ tư, từ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm lớn là (*):

Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.

Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại.

Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu, hun đúc nên những truyền thống vẻ vang của Đảng. Đó là truyền thống trung thành vô hạn với lợi ích của giai cấp, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; là truyền thống đoàn kết thống nhất, giữ vững tổ chức kỷ luật, trên cơ sở tình thương yêu đồng chí và thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình; là truyền thống đoàn kết quốc tế, thủy chung, trong sáng dựa trên những nguyên tắc và mục tiêu cao cả. Đây là cơ sở vững chắc để Đảng ta hình thành và thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, nhất quán qua các thời kỳ cách mạng, phát huy đến đỉnh cao kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa cách mạng Việt Nam liên tục phát triển.

Thứ sáu, toàn bộ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn 80 năm qua đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng là nhân tố cách mạng hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và đó cũng là trường học vĩ đại mà Đảng ta đã tôi luyện và trưởng thành. Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào quá trình đổi mới ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước vượt qua bao khó khăn thử thách, tiếp tục đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, thế và lực của đất nước được nâng lên, đời sống của nhân dân được cải thiện. Nhưng cùng với khẳng định điều đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định phải tiếp tục thường xuyên tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách có hiệu quả nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu lý tưởng cách mạng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động, củng cố tổ chức chặt chẽ, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực cao; có phương thức lãnh đạo khoa học, vừa giữ vững, tăng cường được vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy, nâng cao được hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, nâng cao tính năng động, sáng tạo, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Đây là nhân tố quyết định nhất cho việc thực hiện thắng lợi nghị quyết các Đại hội của Đảng, vì sự phát triển của đất nước. Đặc biệt, từ ngày 3-2-2007, Bộ Chính trị phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã bước đầu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong Đảng, trong xã hội về ý thức rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức của Người; nâng cao đạo đức cách mạng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội khác, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng và được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta tin tưởng rằng, mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh được Đại hội XI của Đảng đề ra sẽ tiếp tục giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội theo con đường thắng lợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh./. 


* Trích Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2011.Trang 65-66

TS. Bùi Thế Đức (Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương)

dangcongsan.vn

Một cuộc hành trình, một cuộc cách mạng và một thời đại

(ĐCSVN)  Thử nhìn lại 100 năm trước…Ở thời điểm suy tàn của chế độ phong kiến và sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, cả dân tộc chìm trong thương đau, tăm tối. Nhiều cuộc cách mạng nổ ra rồi chìm tắt. Hàng loạt nhà yêu nước, chí sĩ cách mạng bị chém giết, bắt bớ, tù đầy. Những lãnh tụ yêu nước lúc bấy giờ rơi vào khủng hoảng, bế tắc về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc…Trong bối cảnh đó, có một người thanh niên nung nấu lý tưởng cách mạng, quyết chí ra đi tìm con đường giải phóng dân tộc mình khỏi ách đô hộ ngoại xâm. 

Bác Hồ làm phụ bếp trên con tàu đã đưa Người ra đi tìm đường cứu nước. (Ảnh tư liệu).

Người thanh niên đó là Nguyễn Tất Thành.

Tiếp thu tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng giải phóng dân tộc của các bậc tiền bối nhưng anh thanh niên Nguyễn Tất Thành không đi theo con đường mà các vị tiền bối đã đi… Người tiếp bước các vị tiền bối trên con đường giải phóng dân tộc, nhưng tầm nhìn của Người vượt lên các vị tiền bối.

Người đi khắp Á, Âu, Phi, Mỹ la tinh, đến “những đất tự do, những trời nô lệ”… Người đến nước Pháp và các nước châu Âu, trung tâm của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc lúc bấy giờ để nhận chân “con bạch tuộc” chủ nghĩa thực dân…

Người đến các quốc gia thuộc địa để chứng kiến tình cảnh thân phận của những người dân ở các nước cùng cảnh ngộ bị áp bức bóc lột.
Người nghiên cứu tìm hiểu tinh thần cuộc cách mạng tư sản Pháp, cuộc cách mạng tư sản Mỹ, đến với Lê-nin và cuộc cách mạng tháng Mười Nga. Người tiếp thu tinh thần các cuộc cách mạng tư sản Pháp, tư sản Mỹ để thêm niềm tin hướng tới cuộc cách mạng vô sản. Người sống cuộc sống cần lao và tham gia các tổ chức, phong trào cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Người đến với Lê-nin và chủ nghĩa Mác vì nhận ra học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoa học này soi đường cho các dân tộc thuộc địa, bị áp bức, trong đó có dân tộc Việt Nam tự vùng lên giải phóng. Người tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê nin để từ đó tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở một đất nước nông nghiệp, thuộc địa, nửa phong kiến ở châu Á.

Từ người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến người cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc và Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là một quá trình nhận thức, hành động đầy trí tuệ, bản lĩnh và sáng tạo. Ba mươi năm bôn ba bốn biển năm châu, sống cuộc sống cần lao, trải nghiệm, mở rộng tầm nhìn, nhập vào dòng chảy cách mạng thế giới, có thể ví đó là giai đoạn tích lũy năng lượng, nguồn sáng trí tuệ của Lãnh tụ tương lai của dân tộc. Để rồi ba mươi sau, sau hành trình trở lại phương Đông, trở về đất nước, Người truyền nguồn năng lượng, ánh sáng trí tuệ ấy cho cả dân tộc, thổi bùng lên thành cuộc cách mạng tháng Tám, dành độc lập dân tộc, đem lại tự do cho nhân dân, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối.

Từ ý chí của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã sáng lên tầm nhìn Nguyễn Ái Quốc. Từ những hoạt động cách mạng không mệt mỏi của người cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã lung linh trí tuệ, bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Từ Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là một cuộc hành trình mang tầm thời đại. Cuộc hành trình ấy đem đến một cuộc cách mạng khởi đầu cho hàng loạt cuộc cách mạng của các quốc gia thuộc địa trên thế giới, mà âm vang của nó còn mãi đến bây giờ.

Và hơn hết, cuộc hành trình ấy để lại một thời đại Hồ Chí Minh, với mốc son dành độc lập dân tộc, thống nhất non sông, đi lên chủ nghĩa xã hội, hội nhập thế giới…

Người làm cuộc hành trình không để tạo ra những kỷ lục, nhưng cái đích của cuộc hành trình dài lâu mà Người hướng tới và đã đạt được, còn hơn cả một kỷ lục. Ánh sáng từ chủ nghĩa Mác- Lê nin mà Người tiếp nhận không chỉ lan tỏa và thành nguồn năng lượng mạnh thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng ở Việt Nam, giành độc lập dân tộc, tự do cho đồng bào mình, mà có sức lan tỏa, ảnh hưởng trên phạm vi thế giới, đặc biệt là đối với những quốc gia bị thực dân đế quốc xâm lược, thống trị.

Cuộc hành trình của Người cũng không vì sự nổi tiếng, nhưng những gian truân, thử thách, trải nghiệm mà Người gặp phải trên bước đường bôn ba đi tìm chân lý, khiến nhân loại cảm phục và ngưỡng mộ. Quá trình Người đi tìm chân lý, ánh sáng, cũng chính là quá trình Người phát hiện ra dân tộc mình, trong tương lai, ở tầm cao và chiều sâu, đó là bình đẳng với mọi dân tộc, sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới. Cuộc hành trình của Người là từ dân tộc, hướng ra thế giới, hướng ra biển lớn, đến với ánh sáng nhân loại, những điểm hẹn lịch sử, tiếp thu tinh hoa văn minh trí tuệ loài người, lại trở về, sáng danh, rạng rỡ dân tộc.

Cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh những năm đầu thế kỷ XX để lại những bài học kinh nghiệm quý giá cho dân tộc ta. Con đường cách mạng, con đường tìm đến chân lý không bao giờ bằng phẳng. Thành quả cách mạng, ánh sáng chân lý không tự dưng đến mà phải qua quá trình đấu tranh, vận động, bằng ý chí, trí tuệ, mồ hôi, xương máu của cả một dân tộc. Ý chí không cam phận hèn kém, yếu thế không bao giờ ngưng nghỉ trong mỗi người Việt Nam. Mỗi cá nhân, dù ở cương vị nào, phải có trách nhiệm với dân tộc, với đất nước, cùng góp phần tạo ra những thời cơ, vận hội mới cho dân tộc.

Tinh thần cuộc hành trình cứu nước một trăm năm trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thêm trí tuệ, ý chí, nghị lực và bản lĩnh của dân tộc ta, trên con đường tới mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.

Uông Ngọc Dậu

dangcongsan.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước và 6 điều Người dạy lực lượng CAND

Trung tướng, GS.TS Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thứ trưởng Bộ Công an.

Trung Tướng, GS.TS Trần Đại Quang, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Thứ Trưởng Bộ Công An

Cách đây tròn 100 năm ngày 5/6/1911, từ cảng Sài Gòn, với thẻ làm việc mang tên Nguyễn Văn Ba, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc trên con tàu Latuche de Tréville đi Pháp với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu1.

Ra đi trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân chìm trong đau khổ, Nguyễn Tất Thành đến với phương trời xa lạ mang mỹ từ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” để tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau vẻ mỹ miều của cụm từ đó và cả tận cùng của sự thật với mong muốn: “Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta2. Cuộc hành trình lênh đênh qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia với nhiều nghề để vừa kiếm sống, vừa thâm nhập đời sống của những người cần lao, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc đã giúp người thanh niên Nguyễn Tất Thành thấu hiểu: Chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở chính quốc cũng như các nước thuộc địa. Cũng chính cuộc hành trình đó đã giúp Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đến được với Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới, để từ đó hoàn toàn tin tưởng theo Lênin và quyết định “bỏ phiếu tán thành và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế III3  (ngày 30/12/1920). Sự gặp gỡ Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin đã đưa Người trở thành một chiến sĩ cách mạng tiên phong, người Cộng sản chân chính tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mình theo con đường cách mạng của Lênin.

Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận khoa học và bản chất cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định, đó là chủ nghĩa “cách mạng nhất, chân chính nhất“. Đi sâu nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, bởi độc lập, tự do không thể cầu xin mà có…; trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền; một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình hoạt động, lãnh đạo cách mạng của Người và hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và an ninh quốc gia.

Ngày 3/2/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản thành một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam, đánh dấu chuyển biến về chất của cách mạng nước ta, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, xác định rõ con đường cứu nước, cứu dân, thể hiện tính quy luật lịch sử của xã hội Việt Nam trong thế kỷ XX: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” 4.

Bến cảng Nhà Rồng.

Xây dựng lực lượng Công an nhân dân – công cụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng

Ngay khi Đảng ta mới thành lập, bằng kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn đã được trải nghiệm, ngày 23/4/1931, Người viết thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lưu ý nhiệm vụ đề cao cảnh giác và giữ gìn bí mật để bảo vệ lực lượng cách mạng. Người căn dặn: “Các cơ quan không đặt bí hiệu hay sao? Sao mà nhiều lần cơ quan lộ rồi mà đồng chí cứ chui vào cho lộ. Hoặc có đứa phản chăng? Tài liệu bí mật, nhất là về giao thông có lộ không?… Nên tìm mi thuật gì mà giữ gìn lấy đồng chí trọng yếu chứ nếu nó cứ túm mòn những vắt khá đi thì hại cho công việc quá!… Thái Bình, Phủ Lý thì nó lại cứ giở sổ mà đi bắt người! Xem những việc đó thì có thể nói rằng Đảng còn kém đường bí mật công tác…5.

Thực hiện sự chỉ đạo của Người, Đảng ta đã kịp thời đối phó với âm mưu khủng bố của địch, bảo vệ lực lượng cách mạng và phong trào đấu tranh của quần chúng. Đầu năm 1931, Thường vụ Trung ương Đảng đã thông báo cho các Xứ ủy chủ trương tổ chức Đội tự vệ công nông. Tháng 3/1931, Đảng ra Nghị quyết về tổ chức Đội tự vệ; đó là lực lượng nòng cốt đầu tiên bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Tháng 3/1935, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng, qua tổng kết công tác đấu tranh chống phản cách mạng, công tác giữ gìn bí mật được Đảng ta coi là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động của Đảng. Đại hội còn có riêng một nghị quyết về đội tự vệ để lực lượng đó làm nhiệm vụ “hộ vệ quần chúng hàng ngày trong các cuộc tranh đấu6.

Qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945, những nguyên tắc hoạt động bí mật mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút được từ thời kỳ hoạt động bí mật ở nước ngoài, đã được quán triệt sâu sắc trong việc phát triển lực lượng, các cuộc hội họp và phát triển tổ chức của Đảng và các tổ chức tiền thân của lực lượng Công an nhân dân. Năm 1943, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “về công tác giữ bí mật“, nêu rõ: “Nguy cơ bại vong của giặc Nhật mỗi ngày một gần; vì vậy, chúng ra tay khủng bố bừa bãi để phá hoại phong trào cách mạng và làm hậu thuẫn cho chính sách bóc lột táng tận của chúng. Do vậy, công việc của chúng ta khó khăn vô cùng. Một vô ý là đã làm tan vỡ một tổ chức và nguy hại cho bao nhiêu quần chúng ở chung quanh. Cho nên, các đồng chí phải biết áp dụng nguyên tắc bí mật cho triệt để mới mong tránh được gươm súng của quân thù7.

Chính vì thực hiện tốt nguyên tắc hoạt động bí mật theo chỉ thị của Người nên lực lượng cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa được bảo vệ an toàn và phát triển mạnh mẽ, mặc dù kẻ địch ráo riết thực hiện các chiến dịch săn lùng, khủng bố.

Tháng 8/1945, với thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa, chính quyền cách mạng đã được thành lập trong cả nước. Lực lượng Công an nhân dân ra đời trong những ngày tháng sục sôi cách mạng đó, triển khai ngay nhiệm vụ bảo vệ thành quả mà cách mạng vừa mới giành được. Trên cương vị là Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, Bác Hồ đã ý thức sâu sắc về tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng, bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp. Bác nhấn mạnh rằng, để bảo vệ lực lượng và thành quả cách mạng, lực lượng Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng. Người thường xuyên quan tâm vấn đề xây dựng lực lượng Công an nhân dân làm lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng. Người đã dày công nghiên cứu, vận dụng Tư tưởng của Lênin “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn” để đưa ra phương hướng và biện pháp thích hợp trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhằm giữ vững chính quyền cách mạng. Theo tư tưởng của Người, cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là cuộc đấu tranh thường xuyên, lâu dài. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10 (tháng 1/1956), Người nói: “Nhân dân ta có hai lực lượng, một là Quân đội, để đánh thắng ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hoà bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hoà bình. Lúc chiến tranh thì Quân đội đánh giặc, lúc hoà bình thì luyện tập. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hoà bình lại càng nhiều việc. Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột là còn bọn phá hoại. Chúng nhằm phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa (…) Nhiệm vụ của Công an là phải chặn tay bọn phá hoại (…). Địch không phải tài tình gì đâu. Nó phá hoại được vì ta sơ hở, chủ quan. Nếu Công an ta biết giữ gìn và biết dựa vào nhân dân, làm cho nhân dân cũng biết cách giữ gìn, không để sơ hở thì nhất định địch không làm gì được8.

Nhưng để làm được việc đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Công an nhân dân phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng. Tại buổi lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang (tháng 3/1959), Người nói: “Công an nhân dân vũ trang, hay là Quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế”9. Quan điểm này của Người tiếp tục được khẳng định trong bài phát biểu tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 14: “Công tác Công an rất cần, rất quan trọng nhưng đồng thời cũng rất khó. Tình báo, gián điệp đế quốc rất nguy hiểm… Công tác Công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Đảng; nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng thì dù khéo mấy cũng không kết quả10.

Nội dung tư tưởng, quan điểm Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự còn thể hiện rõ tư tưởng đoàn kết toàn dân, dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng. Trong rất nhiều bài viết, bài nói chuyện của Người, tư tưởng đó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, thể hiện một quan điểm nhất quán và sâu sắc. Trong lớp chỉnh huấn khoá 2 (ngày 16/5/1959) của Bộ Công an, Người chỉ ra rằng: “Làm Công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công”. Đây chính là vấn đề căn bản nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự mà nội dung cốt lõi được Người đặc biệt nhấn mạnh là tư tưởng về xây dựng tư cách người Công an cách mạng. Người khẳng định: nếu không dựa vào dân, không được dân tin yêu thì lực lượng Công an sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng để được dân tin, dân yêu và giúp đỡ Công an thì mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải “trau dồi đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, có như vậy “mới xứng đáng là người cán bộ được Đảng và nhân dân tín nhiệm“.

Bác Hồ với các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam (1969)

Ngày 11/3/1948, trong thư gửi đồng chí Giám đốc Công an Khu XII, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những phẩm chất đạo đức và tư cách người Công an cách mạng phải có, đó là:

Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính;
Đối với đồng sự phải thân ái, giúp đỡ;
Đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành;
Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép;
Đối với công việc phải tận tụy;
Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo.

Sáu điều Bác Hồ dạy người Công an cách mạng là đạo lý, nguyên tắc, phương châm, thái độ đối nhân xử thế, là chuẩn mực về nhân cách mà mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù ở bất kỳ cương vị nào, hoàn cảnh công tác nào đều phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu. Sáu điều Bác Hồ dạy là di sản quý báu thể hiện đậm nét nhất tư tưởng, quan điểm của Bác về xây dựng người Công an cách mạng suốt đời vì nước, vì dân.

Sống, chiến đấu, công tác và học tập theo lời Bác dạy

Là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo, xây dựng và dìu dắt, hơn 65 năm qua, lực lượng Công an nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì nhân dân phục vụ. Suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an luôn tích cực hưởng ứng và tự giác thực hiện sáu lời dạy của Bác với những nội dung sáng tạo, thiết thực, hình thức phong phú, bám sát yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng.

Việc học tập, thực hiện 6 điều Bác dạy không chỉ dừng lại ở chỗ nghiên cứu, thấm sâu nhận thức, mà còn biến thành hành động, thể hiện ở những việc làm cụ thể, thiết thực hằng ngày của từng người. Trong suy nghĩ và việc làm, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù là lãnh đạo, chỉ huy hay cán bộ, chiến sĩ đều lấy 6 điều dạy của Bác, tấm gương đạo đức của Bác để tự soi mình, tự sửa mình, phấn đấu để không ngừng hoàn thiện bản thân. Qua đó, nêu cao vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Cũng từ việc học tập, thực hiện sáu lời dạy của Bác, lực lượng Công an nhân dân đã không ngừng xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; dựa vào dân để công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, tích cực tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong quá trình công tác và chiến đấu, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong“; ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy 6 điều Bác dạy Công an nhân dân làm tiêu chuẩn rèn luyện phẩm chất, tư cách đạo đức và nâng cao năng lực công tác của mỗi người.

Việc thấm nhuần sâu sắc lời của Bác và tích cực tham gia phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân đã góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức trong sáng; kỷ cương, kỷ luật chặt chẽ; đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động. Phong trào luôn được duy trì và liên tục phát triển, thực sự là động lực quan trọng thúc đẩy, động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Mỗi giai đoạn cách mạng, phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân được triển khai một cách thiết thực, hiệu quả bằng những nội dung và phương thức cụ thể, song mục đích hướng tới không nằm ngoài tư tưởng chỉ đạo của Người. Bởi vậy, thời kỳ nào lực lượng Công an nhân dân cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đã có ngày càng nhiều tập thể, cá nhân công tác tận tụy, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường và chủ động hội nhập quốc tế, bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới không thể xem thường. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ những nhiệm vụ hết sức nặng nề trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đó là: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị – xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch…11, trong đó giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, mà lực lượng Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

Để triển khai có hiệu quả nhiệm vụ vẻ vang đó, cùng với việc quán triệt sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, lực lượng Công an nhân dân càng phải nỗ lực phấn đấu, đề cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, với ý chí vượt lên mọi khó khăn, thử thách; chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân; cải tiến, đổi mới nội dung, phương thức công tác chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ, thường xuyên tổng kết và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân” gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

***

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và 121 năm Ngày sinh của Người, lực lượng Công an nhân dân ngày càng nhận thức sâu sắc đường lối cách mạng mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho dân tộc Việt Nam là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; phương pháp bảo vệ chính quyềnđược Người chỉ đạo áp dụng là dựa trên tư tưởng “Giành chính quyền đã khó, bảo vệ chính quyền càng khó hơn“; phương pháp công tác Công an theo Người là: “phải dựa vào dân, không được xa rời dân” và phẩm chất đạo đức mà người Công an cần có chính là 6 lời dạy của Người.

Lực lượng Công an nhân dân nguyện tiếp tục đi theo lý tưởng cách mạng cao đẹp của Người, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, thường xuyên nâng cao ý thức tự phê bình và phê bình, tăng cường gắn bó máu thịt với nhân dân, bồi đắp ý chí quyết tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với sự tin cậy của Bác Hồ lúc sinh thời, đáp ứng tình cảm và mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang dành cho lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

——-

(1) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 1, tr.94
(2) Trần Dân Tiên – Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1994. tr.13
(3) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, SĐD, tập 1, tr.94.
(4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.10
(5) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.78
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.91
(7) Văn kiện Đảng, tập 1, BNCTKLS Bộ Công an xuất bản, 1967, tr.314-315
(8) Hồ Chí Minh, Về an ninh, trật tự, Viện CL và KHCA, NXB CAND, Hà Nội, 2005, tr.81,82
(9) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.117

(10) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

T.Đ.Q

cand.com.vn

Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước – sự vượt thoát truyền thống đế đến với những giá trị mới của thời đại

(ĐCSVN)Xuất thân trong một gia đình Nho học giàu truyền thống yêu nước, từ lúc thiếu thời đến tuổi trưởng thành, Hồ Chí Minh đã nhận được sự giáo dục theo đạo Thánh hiền và được nuôi dưỡng bằng truyền thống nhân ái của dân tộc. Quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là một quá trình vận động biện chứng từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản chân chính.

Lớn lên trong thời kỳ đất nước bị chìm đắm trong vòng nô lệ, Người đã được chứng kiến nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào yêu nước của các nhà chí sĩ bị thực dân Pháp dập tắt như cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng hay các phong trào Đông Du, Duy Tân của Phan Bội Châu, Phan Chu Chinh. Sự đàn áp của thực dân Pháp khiến cách mạng nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng, thiếu hẳn một con đường cách mạng phù hợp với tình hình mới. Một đòi hỏi tất yếu là phải tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc. Hồ Chí Minh khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,… nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ.

Xuất phát từ thực tiễn đất nước trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, Hồ Chí Minh đã vượt thoát khỏi tín điều Nho giáo, phê phán các phong trào yêu nước mang nặng cốt cách phong kiến. Người cho rằng, các cuộc khởi nghĩa mang “cốt cách phong kiến” lỗi thời không thể có được sức mạnh thực hiện nhiệm vụ đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập cho dân tộc trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Bên cạnh đó, mặc dù sớm tiếp xúc với Tân văn, Tân thư của các nhà cách mạng Trung Quốc, chứng kiến các phong trào yêu nước trên lập trường dân chủ tư sản và cũng đồng thời chứng kiến sự thất bại của các phong trào này, Hồ Chí Minh nhận ra một điều rằng lập trường dân chủ tư sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam chưa đủ sức tập hợp được lực lượng để chống lại chủ nghĩa thực dân, chưa đủ sức chống lại được sự đàn áp của thực dân Pháp.

Chính vì vậy, để tìm ra con đường cứu nước, không còn con đường nào khác là phải ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác như thế nào, để trở về giúp đồng bào mình. Do đó, Người đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Năm 1923 Người đã trả lời một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”[1]: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”[2]

Trên chiếc tàu Pháp  Đô đốc Latútsơ Tơrêvin này, năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (tên lúc đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh) rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước. (Ảnh tư liệu)

Đi nhiều nơi, đến nhiều nước trên thế giới, Hồ Chí Minh đã học hỏi được rất nhiều điều mà trong nước không thể có. Những khái niệm, những giá trị mới, tiến bộ như: tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền, dân quyền, pháp quyền, dân chủ, xã hội chủ nghĩa… đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Hồ Chí Minh. Những giá trị mới như Độc lập, Tự do… là những giá trị, theo Người, không thể tìm thấy trong các chế độ phong kiến chuyên chế, ở các nước thuộc địa.

Có thể nói, mặc dù được nuôi dưỡng bằng truyền thống yêu nước nhưng Hồ Chí Minh, bằng bản lĩnh của mình, đã vượt lên trên truyền thống mà nhiều nội dung không còn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để tìm con đường cứu nước mới.

Ngày 5-6-1911, trên con tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin, từ bến cảng Sài Gòn, thành phố Sài Gòn, Hồ Chí Minh rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Tìm hiểu những cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới là cách mạng Mỹ (năm 1776), cách mạng tư sản Pháp (năm 1789), đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân, Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này, nhưng không thể đi theo con đường đó được. Bởi vì, như Người đã nói: “Kách mệnh Mỹ cũng như kách mệnh Pháp là kách mệnh tư bản, kách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”[3].

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ. Đầu năm 1919, V.I.Lênin và những người theo chủ nghĩa Mác ủng hộ lập trường của Lênin họp đại hội ở Mátxcơva, thành lập Quốc tế III – tức Quốc tế Cộng sản. Quốc tế Cộng sản đã kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin được Đại hội lần thứ hai Quốc tế Cộng sản họp năm 1920 thông qua, đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Báo Nhân đạo, ngày 16 và 17-7-1920 đã đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Tên đầu bài có liên quan đến vấn đề thuộc địa lập tức thu hút sự chú ý của Người. Trong văn kiện này, V.I.Lênin phê phán luận điểm sai lầm của những người đứng đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các đảng cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung. Đặc biệt, trong bản Luận cương, V.I.Lênin đã đề cập đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc dựa trên lợi ích thiết thực về kinh tế, chính trị…

Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh khẳng định: trong thế giới bây giờ chỉ có kách mệnh Nga là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc, tự do bình đẳng thật sự. Kách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công nông các nước và các dân tộc bị áp bức, các thuộc địa làm kách mệnh để lật đổ tất cả đế quốc và tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Áp dụng cho cách mạng Việt Nam, Người vạch ra chân lý muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

Trên hành trình tìm đường cứu nước, qua những trải nghiệm lao động, học tập, đấu tranh của bản thân và thực tiễn cách mạng thế giới, với tâm và tầm của một nhà cách mạng kiệt xuất, Hồ Chí Minh đã đến với của chủ nghĩa Mác – Lênin – tìm thấy con đường duy nhất có thể thực hiện được mục tiêu cứu dân cứu nước của mình.

Trong suốt hành trình tìm đường cứu nước, động lực mạnh mẽ thôi thúc Hồ Chí Minh chính là lòng yêu nước, vì dân. Khi đến với Luận cương của V.I.Lênin, đến với Quốc tế III, Người thấy rằng đó chính là con đường duy nhất có thể giúp dân tộc mình có được độc lập, dân mình có được tự do. Người viết: “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”[4]. Theo Người, chủ nghĩa dân tộc gắn với tôn quân (quân quyền) phải được thay thế bởi chủ nghĩa dân tộc gắn với dân quyền. Người xác định cần phải phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ. Người nói: “…người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”[5].

Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh thể hiện sự phát triển tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Người đã tổng kết quá trình tìm đường cứu nước của mình như sau: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[6]. Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với con đường cách mạng vô sản, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và cách mạng tháng Mười. Có thể nói, sự vượt thoát truyền thống để đến với những giá trị mới của thời đại trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước đã giúp Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, đó là con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản.

Ngày nay, để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực hành động dựa trên chủ nghĩa yêu nước, thực hiện mong ước của Người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp Cách mạng Thế giới”./.


[1] Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923.
[2] Báo Nhân dân, ngày 18-5-1965.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, tr.268.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, tập 1, tr.466.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, tập 1, tr.467.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, Tập 10, tr. 128.

Thiếu tá, ThS Nguyễn Giáo (Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự)

dangcongsan.vn

Những dấu mốc quan trọng trên hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ

(ĐCSVN)Hành trình đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ bắt đầu từ ngày 5/6/1911 khi Người rời bến cảng Sài Gòn làm phụ bếp trên một chiếc tàu thuỷ của Pháp sang phương Tây tìm cách học hỏi để cứu đồng bào khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân. Như có lần Bác hồi tưởng về mục đích của cuộc ra nước ngoài này là nhằm giành “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, T1, tr112).

Trên hành trình tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trải qua bao khó khăn thử thách, nhiều sự kiện quan trọng ghi dấu ấn lớn trong cuộc đời của Người và cũng là những dấu ấn lớn của cách mạng Việt Nam.

Đi theo con đường cách mạng của Lênin

Đây là quyết định hết sức có ý nghĩa đối với con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và vận mệnh dân tộc ta. Từ đầu thế kỷ 20, chứng kiến sự áp bức , bóc lột của thực dân Pháp và chế độ phong kiến, Nguyễn Tất Thành đã suy nghĩ rất nhiều trước những lầm than, cực khổ của nhân dân và  thất bại của những bậc tiền bối, các phong trào kháng Pháp.

Tấm lòng yêu nước, thương dân thôi thúc Nguyễn Tất Thành tìm cách cứu giúp đồng bào nhưng Người không tán thành những con đường của các bậc tiền bối và các sĩ phu đương thời. Hấp dẫn bởi khẩu hiệu TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI của cách mạng Pháp, Nguyễn Tất Thành đã quyết định đến Pháp là nước đô hộ dân tộc mình và các nước ở phương Tây xem họ làm thế nào để về nước hướng dẫn đồng bào giành lấy độc lập tự do.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của 
Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12/1920 (Ảnh tư liệu)

Nhận làm phụ bếp trên một con tàu thuỷ để đến được nước Pháp, sau khi đến nước Pháp, vừa lao động kiếm sống, vừa tìm hiểu tình hình thực tế, Nguyễn Tất Thành còn đến nhiều quốc gia trên thế giới, đến tận nước Mỹ , quê hương của Tuyên ngôn độc lập năm 1776, nơi có tượng Thần Tự do đặt bên bờ biển…và đã phát hiện ra rằng ở đâu cũng có hai hạng người bóc lột và bị bóc lột.

Từ cuối năm 1917, Nguyễn tất Thành trở lại Pháp và tham gia các hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp vì Người nhận thấy có mối liên hệ của Đảng với khát vọng giải phóng dân tộc của mình. Năm 1919, tại Pháp, với cái tên Nguyễn Ái Quốc, Người đã gửi Bản yêu sách đến hội nghị Véc Xây (hội nghị các cường quốc chiến thắng trong thế chiến thứ nhất) đòi quyền tự quyết cho nhân dân Việt Nam. Tuy không được chấp nhận nhưng Bản yêu sách của Người đã có tiếng vang lớn trên chính trường quốc tế .

Trong khoảng giữa tháng 6 năm 1920, tham gia sinh hoạt trong Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa “ của V.I Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ánh sáng và con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa trong bản Luận cương của Lênin. Người hoàn toàn tin theo Lênin, lãnh tụ của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại và quyết tâm đi theo con đường cách mạng của Lê nin. Ngày 30 tháng 12 năm 1920, tại Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế Cộng sản do Lê nin lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên và là một thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục lao động kiếm sống và hoạt động trong phong trào giải phóng dân tộc các thuộc địa, phong trào công nhân, học tập, nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin, nghiên cứu kinh nghiệm các cuộc cách mạng trên thế giới. Đặc biệt là Cách mạng tháng Mười Nga, Người đã nhận thấy “chỉ có cách mạng Nga là thành công đến nơi “ vì đem lại quyền lợi cho đông đảo quần chúng công nông. Nguyên nhân chính đưa tới sự thành công của cách mạng tháng Mười Nga là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Bôn sê vích do Lênin đứng đầu.

Nguyễn Ái Quốc đã đến Liên xô, quê hương của Lênin và Cách mạng tháng Mười học tập và hoạt động trong các tổ chức của Quốc tế cộng sản. Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) liên hệ với các tổ chức yêu nước Việt Nam và thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, sáng lập báo Thanh niên nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, lý luận cách mạng và huấn luyện, đào tạo cán bộ, tuyển chọn những người ưu tú để đưa sang Liên Xô đào tạo. Người tích cực tuyên truyền, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt nam, chuẩn bị các điều kiện, nhất là mở các lớp huấn luyện cán bộ từ trong nước sang để tiến tới thành lập Đảng. Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc tập hợp các bài giảng trong các lớp huấn luyện cán bộ xuất bản cuốn sách Đường Cách mệnh làm tài liệu đào tạo cán bộ để tiến tới thành lập Đảng.

Trong cuốn sách quan trọng này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: Cách mạng trước tiên cần có Đảng Cách mạng. Đảng có vững cách mạng mới thành công. Cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Do đó, cách mạng Việt Nam muốn đi đến thắng lợi trước tiên phải xây dựng được một Đảng cách mạng vững mạnh. Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm cốt, trong Đảng ai cũng phải học, ai cũng phải theo. Nguyễn Ái Quốc còn phát hiện ra rằng, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc là động lực lớn của phong trào giải phóng dân tộc và Đảng Cộng sản là đội tiền phong cách mạng của giai cấp và dân tộc.

Đầu năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện của Quốc tế cộng sản đã tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Chánh cương vắn tắt và Sách lược văn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc đề ra đã được các đại biểu nhất trí thông qua, trở thành ngọn cờ tập hợp toàn dân , đoàn kết đứng lên đấu tranh giành độc lập tự do.

Sáng tạo đặc biệt quan trọng của Nguyễn Ái Quốc trong thành lập Đảng Cộng sản Việt nam còn ở chỗ là đã kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với phong trào công nhân và chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện Việt Nam là một xứ thuộc địa, lực lượng giai cấp công nhân còn nhỏ yếu, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, manh mún, nông dân chiếm số đông trong dân số.

Với việc thống nhất các tổ chức cộng sản và đề  đường lối cách mạng giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đưa cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới, chấm dứt sự khủng hoảng đường lối và vai trò lãnh đạo của giai cấp tư sản, đưa giai cấp công nhân lên vũ đài chính trị, thực hiện sứ mạng thiêng liêng là giải phóng dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội./.

TS. Phạm Văn Khánh

dangcongsan.vn