Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

“Bác vẫn như đang nói với chúng ta”

Khâu Tý là một quả đồi thuộc xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên – được gọi là “Phủ Chủ tịch” đầu tiên thời chống Pháp. Thăm Khâu Tý dịp sinh nhật Bác, được nghe lại những điều Bác viết trong cuốn Sửa đổi lối làm việc chính tại căn lán nơi Bác sống, làm việc càng thấy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay.

Đến căn lán Bác ở ngày xưa, chúng tôi gặp các cụ Ma Đình Khánh, Ma Đình Hoàng đang quét dọn nơi ở của Bác để chuẩn bị đón một đoàn khách. Các cụ nhớ lại: Hôm ấy trời bắt đầu chuyển sang hè, một đêm có hai anh thanh niên (sau này biết một người là Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác, một người tên là Nhất, bảo vệ của Bác), cầm giấy giới thiệu đề nghị giúp làm một căn lán nhỏ trên đồi cho một người ở, nhưng ngăn làm đôi. Một căn lán to ở sườn đồi cho chừng 9-10 người ở.

Anh Triệu Đình Quân dạo ấy là chủ nhiệm Việt Minh xã huy động chín dân quân, tất cả đều là đảng viên, dưới sự hướng dẫn của anh Kỳ và anh Nhất làm trong khoảng năm ngày thì xong. Cây vầu làm cột, lá cọ lợp mái (hai thứ có sẵn trên đồi). Riêng sàn thì vợ chồng Ma Đình Tịnh, Ma Đình Hèn có một số tấm ván xẻ lát sẵn sàng cho mượn.

Đứng trước căn lán hai buồng đơn sơ, trước cái bếp đắp bằng đất, ba thanh sắt đã bắt đầu hoen gỉ, lòng chúng tôi bồi hồi, xiết bao xúc động, bởi cảm thấy như hình bóng Bác vẫn còn đâu đây.

Chúng tôi nhẹ bước lên chiếc cầu thang ngắn vỏn vẹn ba bậc để lên chiếc lán của Bác. Chiếc lán rộng chừng 10m2, được ngăn làm đôi, một nửa dùng làm buồng ngủ, một nửa để làm việc, tiếp khách. Chiếc giường và chiếc bàn làm việc cũng bằng vầu.

Theo đại tá Kim Sơn (một chiến sĩ giải phóng quân có mặt ở Tân Trào từ Cách mạng Tháng Tám), Khâu Tý là một trong những địa điểm Bác dừng lại lâu nhất trong suốt thời gian tám năm ở ATK Định Hóa: 4 tháng 19 ngày. Có lẽ do nơi đây khá thuận lợi về địa thế. Từ Khâu Tý có đường mòn ra Quảng Nạp đi Phú Minh, sang huyện Đại Từ hoặc ra chợ Chu, ngược ra chợ Đồn (Bắc Kạn) hoặc vượt đèo De, núi Hồng sang Tân Trào.

Mặt khác, ở gần Bác lúc này còn có Tổng bí thư Trường Chinh và văn phòng Trung ương Đảng ở xóm Phụng Hiển. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Văn phòng Bộ Quốc phòng, Tổng chỉ huy ở xóm Khẩu Hấu. Quyền trưởng ban thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng ở xóm Đồng Mua.

Ở gần Khâu Tý còn có chủ nhiệm Tổng bộ Việt Minh Hoàng Quốc Việt và chủ nhiệm báo Cứu Quốc Xuân Thủy ở xóm Roòng Khoa. Đây là hai cơ quan, hai con người Bác hằng yêu quý. Bác vốn là người sáng lập ra Mặt trận Việt Minh và ngày 19-5, ngày thành lập Mặt trận cũng chính là ngày sinh của Người. Con người Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chính là nhà báo vĩ đại nhất trong lịch sử báo chí VN.

Ở Khâu Tý – Phủ Chủ tịch đầu tiên của “thủ đô gió ngàn” – từng diễn ra những cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại trong một lần họp như thế, mọi người đã được nghe bài thơ Cảnh khuya của Bác vừa làm xong.

Đặc biệt, tại căn lán đơn sơ ấy đã ra đời một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Hồ Chí Minh. Đó là cuốn Sửa đổi lối làm việc. Theo đồng chí Vũ Kỳ, khi giặc Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc ngày 7-10-1947 thì Bác cũng vừa đánh máy xong trang cuối cùng của tập sách bằng chiếc máy chữ Hermes Bác mang theo từ hồi ở Tân Trào. Rất nhanh chóng, Sửa đổi lối làm việc trở thành tập sách gối đầu giường của cán bộ, đảng viên, góp phần to lớn vào thành công của công tác xây dựng Đảng.

GSTS ngôn ngữ học Nguyễn Như Ý tâm sự: “Chúng ta có một Hồ Chí Minh thật vĩ đại. Vấn đề là chúng ta phải làm sao xứng đáng với điều đó”. Bao nhiêu năm qua có một câu hỏi lớn cứ vương vấn trong đầu giáo sư: Sao mà từ năm 1947, giữa một khu rừng heo hút, trong căn lán nhỏ đơn sơ giữa lúc giặc Pháp đang đổ quân vây kín mọi ngả rừng, cố tìm bắt sống cho bằng được Hồ Chí Minh mà Người vẫn có thể viết ra những lời vĩ đại như thế?

…Rời Khâu Tý, chúng tôi nhớ mãi câu nói của đồng chí Vũ Kỳ, người từng được sống cạnh Bác Hồ trong suốt thời gian Bác viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc trong căn lán nhỏ giữa “thủ đô gió ngàn”: “Lời Bác viết cách đây hơn nửa thế kỷ mà vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay”.

Đại tá Thế Kỷ
(Người giúp việc của ông Vũ Kỳ – thư ký của Bác Hồ)

bqllang.gov.vn

Tấm lòng Bác Hồ đối với chiến sỹ

Đối với chiến sĩ là những người hy sinh nhiều nhất cho dân tộc, Bác Hồ thường dành cho anh em sự chăm lo săn sóc ân tình, chu đáo nhất.

Mùa đông, thương anh em chiến sĩ rét mướt ở rừng núi hay bưng biền, Bác đem tấm áo lụa của mình được đồng bào tặng, bán đấu giá để lấy tiền mua áo ấm gửi cho các chiến sĩ. Bác thường nói: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được”. “Chiến sĩ còn rách rưới, mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi!”.

Mùa hè năm 1967, trời Hà Nội rất nóng. Sức khỏe Bác Hồ đã kém, thần kinh suy nhược, dễ bị toát mồ hôi, ướt đầm, có ngày Bác phải thay mấy lần quần áo, có khi hong tại chỗ, rồi lại thay ngay. Thế nhưng, Bác vẫn không dùng máy điều hòa nhiệt độ. Bác bảo: “Mùi nó hôi lắm, Bác không chịu được!” (Bác không dùng nên nói vậy thôi, chứ máy đã có nút xả thơm).

Thấy trời oi bức quá, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:

– Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc Hội trường Ba Đình thì chịu sao được? Các chú ấy có đủ nước uống không? Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết.

Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng máy 14,5 ly; ụ cát sơ sài, nếu địch bắn vào thì chỉ có hy sinh, rất nguy hiểm.

Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi:

– Các đồng chí có nước ngọt uống không?

– Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!

Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Văn Tiến Dũng: “Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc Hội trường Ba Đình rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để đảm bảo an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu?”.

Sau đó Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu.

Tại sao Bác có tiền tiết kiệm? Lương Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ tiêu. Mọi chi phí cho sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà, đều ghi vào lương cả.

Tiền tiết kiệm của Bác là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết báo nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác cũng đã có tiền tiết kiệm. Đến dịp tết Nguyên đán, Bác lại đem chia cho cán bộ các cơ quan chung quanh Bác, mua thịt lợn để đón xuân. Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo:

– Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền rất lớn, tương đương với khoảng 60 lạng vàng).

Bác bảo:

– Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!

Phạm Phú Bình
(Báo Tuổi trẻ)

bqllang.gov.vn

Tình bạn giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh

Đại Công báo”, một tờ báo Trung Quốc có hơn một trăm năm lịch sử, là một trong ba tờ báo Hoa văn có uy tín trên thế giới do Liên hợp quốc bình chọn, số ra ngày 6-4-2011 đã đăng bài “Vài mẩu chuyện về tình bạn giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai” của tác giả Lý Gia Trung, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam từ tháng 12-1995 đến tháng 7-2000. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tham khảo.

Hai vị vĩ nhân xưng hô với nhau là anh em

Tháng 11-1956, Thủ tướng Chu Ân Lai sang thăm Việt Nam. Trong lời chào mừng các vị khách quý dự tiệc chiêu đãi cấp nhà nước, với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không đọc bài viết sẵn, mà nói vo một đoạn: “Với tôi, đồng chí Chu Ân Lai là người anh em của tôi. Chúng tôi đã từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau làm công tác cách mạng. Anh ấy là người bạn chiến đấu thân mật của tôi trên ba mươi năm qua!”

Tiếp lời, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng nói: “Hồ Chủ tịch vừa nhắc đến cá nhân tôi trên ba mươi năm trước đã quen thân anh, đúng thế! Ba mươi tư năm trước, tại Pa-ri, tôi đã quen thân Hồ Chủ tịch. Anh là người dẫn đường của tôi. Khi ấy, anh đã là một người Mác-xít thành thục, mà tôi khi ấy mới vừa tham gia Đảng Cộng sản. Anh ấy là lão đại ca của tôi!”

Lúc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đứng lên nói với mọi người có mặt: “Câu nói vừa rồi của đồng chí Chu Ân Lai, các đồng chí nghe biết là được rồi, không nên nói lại với những người khác. Mọi người đều biết, đồng chí Chu Ân Lai là nhà lãnh đạo của một Đảng lớn và một nước lớn dân số nhiều nhất trên thế giới!”.

Vì thế, báo chí Việt Nam không đưa tin viết bài kỹ câu chuyện này. Mãi cho đến ngày 14-5-1960, Nhân dân nhật báo Trung Quốc mới tiết lộ tình tiết này.

Từ năm 1965 về sau, tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được tốt. Thủ tướng Chu Ân Lai rất quan tâm đến bệnh tình của Người, trực tiếp lựa chọn những chuyên gia y tế có trình độ cao nhất Trung Quốc thành lập Tổ điều trị, đến Hà Nội chữa bệnh cho Hồ Chủ tịch.

Tháng 5-1969, bệnh tình của Hồ Chủ tịch tương đối ổn định, phía Việt Nam bèn đề nghị các chuyên gia của Tổ điều trị Trung Quốc về nước nghỉ ngơi củng cố một chút, một tháng sau thì trở lại. Trước khi lên đường, các chuyên gia hỏi Hồ Chủ tịch yêu cầu từ Bắc Kinh mang về những gì. Hồ Chủ tịch nói luôn: “Cái gì cũng không cần, chỉ mang về một con vịt quay Bắc Kinh là được rồi!”.

Sau khi về nước, trong khi nghe báo cáo tình hình, Thủ tướng Chu Ân Lai biết Hồ Chủ tịch thích ăn vịt quay, nói ngay: “Một con không được! Phải mang hai con, đồng thời phải là vịt to, sườn mỏng và tưới ma-gi thơm ngọt và đầy đủ gia vị”. Thủ tướng Chu Ân Lai còn suy nghĩ, nhắc nhở: Việt Nam đang mùa hè, Hồ Chủ tịch lại là người cao tuổi, cơ thể yếu, nên giải quyết đông lạnh bảo quản thực phẩm tươi ngon là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch

Vì chuyện này, Thủ tướng Chu Ân Lai mời đồng chí Lý Cường, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đến bàn bạc, song đồng chí Lý Cường cũng không am hiểu những tri thức về mặt đông lạnh. Cuối cùng, thông qua Công ty Xuất nhập khẩu Lương thực thực phẩm, một đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại thương, tìm đến Nhà máy Rượu Bắc Kinh, ở đây sản xuất được một loại băng khô có thể làm lạnh, sau khi đưa vịt quay và các gia vị vào thùng lót xốp, chung quanh rắc băng khô lên, có thể khống chế nhiệt độ ở độ âm, bảo đảm chắc chắn vịt quay không thể biến chất. Đến khi ấy, Thủ tướng Chu Ân Lai mới yên tâm.
Hạ tuần tháng 6, chuyên gia trong Tổ điều trị trở lại Hà Nội.

Tháng 5-1960, Thủ tướng Chu Ân Lai thăm Việt Nam. Hồ Chủ tịch và Chu Thủ tướng
vui với các cháu thiếu nhi Việt Nam. Ảnh do Vũ Phong Tạo cung cấp.

Hồ Chủ tịch quyết định đem một con vịt quay tặng Tổ điều trị, còn một con nữa, Người yêu cầu cùng thưởng thức với Đại sứ Trung Quốc Vương Ấu Bình.

Ngày 30-6, Phủ Chủ tịch Việt Nam gọi điện thoại đến Đại sứ quán Trung Quốc, thông báo: Ngày mai là Kỷ niệm 48 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chủ tịch quyết định mời cơm Đại sứ Vương Ấu Bình tại Phủ Chủ tịch, vào 12 giờ trưa.

Ngày hôm sau, tôi là phiên dịch tháp tùng Đại sứ Vương Ấu Bình đúng giờ đến Phủ Chủ tịch. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Hồ Chủ tịch dẫn chúng tôi vào phòng ăn. Trước khi Hồ Chủ tịch đi vào phòng ăn, đồng chí Vũ Kỳ kể với chúng tôi câu chuyện: Sau khi nghe Tổ điều trị phản ánh, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gửi vịt quay sang.

Sau 30 năm, năm 1999, tôi đã gặp đồng chí Vũ Kỳ, năm ấy đã 78 tuổi. Khi nhắc đến chuyện Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch, đồng chí ấy vô cùng xúc động. Đồng chí nói với tôi: Đến nay đồng chí ấy vẫn giữ gìn cẩn thận chiếc lọ sứ đựng ma-gi ngọt hồi ấy, coi như một hiện vật văn hóa quý báu có ý nghĩa lịch sử.

Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp đến Hà Nội viếng Hồ Chủ tịch

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.

Sau khi nghe tin, Thủ tướng Chu Ân Lai vô cùng đau thương.

Ngoài việc gửi điện chia buồn đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung Quốc cử Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm dẫn đầu Đoàn Đại biểu Đảng và Chính phủ Trung Quốc sang dự Lễ tang Hồ Chủ tịch, tổ chức vào ngày 9 tháng 9.

Thủ tướng Chu Ân Lai còn quyết định trước đó vào ngày 4-9, ông và Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh cùng đến Hà Nội, viếng Hồ Chủ tịch.

Các nhà lãnh đạo cao cấp: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng Võ Nguyên Giáp… trực tiếp ra tận sân bay đón tiếp. Thủ tướng Chu Ân Lai rơm rớm nước mắt, nói: “Tôi đến muộn rồi!”.

Trong khi hội đàm với những nhà lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai đều nói rõ các thành viên của Đoàn đại biểu đều là những đồng chí quan hệ mật thiết với Hồ Chủ tịch. Bản thân đồng chí thay mặt cho Mao Chủ tịch đến. Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, Diệp Kiếm Anh đã từng cùng Hồ Chủ tịch công tác tại Văn phòng Bát Lộ Quân tại Trùng Khánh. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Vi Quốc Thanh làm Đoàn trưởng Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc sang Việt Nam công tác.

Thủ tướng Chu Ân Lai nói:

“Hồ Chủ tịch suốt đời phấn đấu, chẳng những lập công bất hủ vì nhân dân Việt Nam, mà còn có cống hiến rất lớn vì giai cấp vô sản quốc tế. Hồ Chủ tịch có quan hệ đặc biệt mật thiết đối với cách mạng Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng chí mấy lần đến Trung Quốc, tham gia cách mạng Trung Quốc, cùng chung hoạn nạn, kề vai sát cánh chiến đấu với nhân dân Trung Quốc, dày công vun đắp tình cảm sâu đậm với nhân dân Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Phẩm chất cộng sản của Hồ Chủ tịch, sự quan tâm đến nhân dân lao động, ý chí cách mạng, tinh thần đấu tranh triệt để với kẻ thù, tác phong công tác gian khổ chất phác của Chủ tịch, trước sau như một, xứng đáng được mọi Đảng viên cộng sản học tập.”

Thủ tướng Chu Ân Lai nhiều lần nói: “Tôi đến muộn rồi, không thể gặp mặt lần cuối cùng với Hồ Chủ tịch!”.

Khi ấy, thi hài của Hồ Chủ tịch đã được giao cho chuyên gia Liên Xô để tiến hành xử lý y học, không cho người không có phận sự tiếp xúc, nên đáng lẽ Đoàn không thể đến với Người.

Nhưng, vì tình hữu nghị chiến đấu sâu đậm của Thủ tướng Chu Ân Lai với Hồ Chủ tịch, trước khi Đoàn đại biểu lên đường về nước, phía Việt Nam đã phá lệ, bố trí cho Thủ tướng Chu Ân Lai và các đại biểu trong Đoàn đến bái biệt Hồ Chủ tịch.

Theo http://www.qdnd.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện về người đầu bếp đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đó là đồng chí Hoàng Văn Lộc, tên thật là Nguyễn Văn Ty, sinh năm 1900, quê tại xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đồng chí Lộc vốn là một Việt kiều ở Xiêm (Thái Lan).

Năm 1928, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc đó là Nguyễn Ái Quốc) đến Xiêm, đồng chí được chọn đi cùng Bác khắp 16 tỉnh Đông Bắc Xiêm có Việt kiều sinh sống nhằm tuyên truyền cách mạng cho kiều bào yêu nước. Từ Xiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe tin ở trong nước, ba tổ chức cộng sản đã ra đời và đang có sự phân liệt tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau. Trước tình hình đó, tháng 11 năm 1929, Người trở về Hồng Kông để triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2-1930). Cũng chính dịp này đồng chí Hoàng Văn Lộc cũng tạm chia tay người vợ trẻ ở Xiêm, để đi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc, tiếp tục con đường hoạt động cách mạng.

Sau đó, hàng loạt sự kiện liên tiếp diễn ra: Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, tạo tiền đề cho phong trào đấu tranh cách mạng phát triển lên một tầm cao mới; nhưng ngày 6-6-1931, Chủ tịch Hồ Chí Minh bị bắt tại Hồng Kông. Trải qua gần 3 năm bị giam giữ và lưu lạc, tháng 6-1934 Người trở về hoạt động ở Liên Xô. Năm 1938, đứng trước thực tế lò lửa chiến tranh Thái Bình Dương đã xuất hiện, không thể yên tâm học tập và hoàn thành luận án nghiên cứu sinh Phó Tiến sĩ sử học, Nguyễn Ái Quốc đề nghị và được Quốc tế Cộng sản điều về hoạt động ở Trung Quốc. Trong khoảng thời gian từ 1938-1940, Người cùng một số đồng chí đã di chuyển qua nhiều địa điểm ở Trung Quốc, một mặt tiếp tục hoạt động và tuyên truyền cách mạng, mặt khác Người cùng các đồng chí không ngừng tìm cách chắp nối liên lạc để tìm đường về nước.

Cuối tháng 5-1940, đồng chí Hoàng Văn Lộc và đồng chí Đặng Văn Cáp tới Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh phái Bùi Thanh Bình và Hoàng Văn Lộc về Hà Khẩu thăm dò đường sá để về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai. Cuối tháng 6-1940, đường giao thông Côn Minh – Lào Cai bị tắc, kế hoạch về nước bằng đường Lào Cai phải hủy bỏ. Đồng chí Hoàng Văn Lộc được gọi trở về Côn Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chọn đường về nước qua Cao Bằng.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941 đoàn cán bộ cùng Bác Hồ vượt qua cột mốc biên giới Việt – Trung số 108 về Cao Bằng. Cùng đến Pác Bó với Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có 5 đồng chí: Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc – người đã gắn bó với Bác từ những ngày đầu hoạt động đầy khó khăn ở Thái Lan những năm 1928, 1929.

Những ngày hoạt động ở Pác Bó cuộc sống vô cùng gian khổ và thiếu thốn. Đồng chí Lộc được giao nhiệm vụ nấu ăn cho cả cơ quan. Để cải thiện bữa ăn đạm bạc cho Bác và các anh em, đồng chí Lộc không ngại khó khăn gian khổ mò cua, bắt ốc, trồng rau, đơm cá, đặc biệt đồng chí biết rất nhiều các loại rau rừng và cũng rất chịu khó cải tiến món ăn. Trong thời gian hoạt động tại Cao Bằng, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người đầu bếp đầu tiên của Bác Hồ.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và các cơ quan Trung ương trở về thủ đô Hà Nội. Các đồng chí hoạt động cách mạng từ trước khởi nghĩa nhiều người được giao đảm đương những cương vị xứng đáng. Riêng đồng chí Lộc cùng với một số đồng chí khác được Bác Hồ cử ở lại Việt Bắc tiếp tục xây dựng “hậu phương lưu trú”. Bởi với tầm nhìn chiến lược, trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng địch và ta, đặc biệt nhìn rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp đối với dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán việc Chính phủ sớm muộn sẽ phải trở lại Tân Trào để tiếp tục kháng chiến. Vì vậy, việc không ngừng củng cố và xây dựng hậu phương là một vấn đề tối cần thiết. Người đã tin tưởng giao nhiệm vụ khó khăn này cho đồng chí Hoàng Văn Lộc.

Đúng như Bác dự đoán, ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng đi qua các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, và đến tháng 5-1947, Người trở lại Tân Trào, bắt đầu cuộc trường kỳ kháng chiến. Đồng chí Lộc đang làm việc tại công binh xưởng, được gọi trở về cơ quan Phủ Chủ tịch để làm nhiệm vụ cấp dưỡng, nấu ăn cho Bác. Để biểu thị quyết tâm trong cuộc kháng chiến, cũng là để nhắc nhở các cán bộ chiến sĩ đồng lòng quyết tâm, Bác Hồ đã đặt tên cho các chiến sĩ, cán bộ phục vụ xung quanh Người theo khẩu hiệu: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi và Đồng, Tâm, Kiên, Quyết, Trung, Dũng, Cần, Kiệm, Liêm… Đồng chí Lộc được mang tên là Đồng. Không phụ lòng tin cậy của Bác, Đồng chí Lộc một lần nữa nỗ lực hết mình, tận tụy hoàn thành nhiệm vụ được Đảng phân công.

Trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ nhưng hào hùng ấy, ngày 3-5-1948, do bị một cơn sốt rét ác tính, đồng chí Lộc qua đời. Anh em ngậm ngùi chôn cất đồng chí trong khu rừng Khuôn Tát, xã Phú Đình, Định Hoá, Thái Nguyên. Sau khi đồng chí qua đời, có một kỷ niệm vô cùng sâu sắc mà tất cả các anh em đều nhớ mãi. Đó là, sáng 19-5-1948, anh em cảnh vệ phục vụ giúp việc Bác Hồ bí mật sửa soạn từ tối hôm trước để tổ chức chúc thọ Bác. Anh em dậy từ đêm, hái một bó hoa rừng, chờ sẵn Bác, khi Người bước từ căn gác nhỏ nhà sàn xuống, anh em chạy lại xếp hàng ngang trước mặt Bác, và cử một đồng chí nhanh nhẹn nói một câu vắn tắt: “Nhân dịp sinh nhật Bác, chúng cháu kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu”.

Anh em đều rất vui mừng vì đã tổ chức một buổi sinh nhật Bác rất đúng kế hoạch, giản dị mà vui vẻ. Nhưng khi cầm bó hoa rừng anh em vừa trao tặng, Bác rưng rưng nước mắt, Người nói: “Bác cám ơn các chú. Bác nhờ các chú đem bó hoa này đặt lên mộ chú Lộc cho Bác”. Lúc đó anh em ai cũng chảy nước mắt vì nhớ thương một người đồng chí và vì cả tình cảm mà Bác dành cho anh. Sau khi các anh em đem bó hoa rừng ra viếng mộ đồng chí Lộc theo đúng ý Bác, trở về Bác cháu quây quần dưới nhà sàn, Bác kể cho anh em nghe về đồng chí Lộc. Lúc này anh em mới biết người đồng chí nhỏ nhắn, thông minh, nhanh nhẹn, linh hoạt, hay cười, lạc quan không bao giờ nói đến khó khăn gian khổ, một người làm công việc tưởng chừng như nhỏ bé, giản đơn lại có một tiểu sử đáng khâm phục đến như vậy. Anh em càng xúc động hơn khi kết thúc câu chuyện, Bác nói: “Chú Đồng làm nhiệm vụ nấu ăn cho Bác và cho các chú, không phải vì chú ấy không có năng lực, ngược lại chú Đồng rất có khả năng, có thể đảm đương nhiều công việc quan trọng. Nhưng do tổ chức tin tưởng phân công cho chú ấy nấu ăn cho Bác và các chú, nên chú vui vẻ làm và làm việc gì cũng đến nơi đến chốn”. Vậy là lễ mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy đã trở thành một buổi Bác dạy anh em giúp việc, cảnh vệ về tấm gương của người cộng sản chân chính, mẫu mực và vô cùng giản dị, gần gũi: Hoàng Văn Lộc (tức Đồng, tức Ty).

Câu chuyện về đồng chí Lộc được đồng chí Vũ Kỳ – nguyên Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trên báo Nhân dân năm 1970. Hơn 10 năm sau (1981), Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh bất ngờ được đón một bà cụ cùng một người cháu từ Quảng Bình ra. Bà cụ xưng tên là Nguyễn Thị Cúc, và nói rằng bà chính là vợ ông Đồng (ông Lộc) – người đã được đồng chí Vũ kỳ viết bài trên báo Nhân dân. Sau khi tìm hiểu các nhân chứng để xác minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh khẳng định đây chính là vợ của đồng chí Lộc, người vợ trẻ năm 1929 khi ông Lộc chia tay đi cùng Bác Hồ về Trung Quốc có dặn lại: “Anh đi công việc cho thượng cấp, em ở lại, nếu 3 năm anh không về em cứ đi lấy chồng”. Nhưng không phải chỉ 3 năm mà là hơn 50 năm sau, tức là đến năm 1981, chị Cúc mà hôm nay đã là bà Cúc mới có tin tức và biết về những việc làm của chồng qua bài báo của đồng chí Vũ Kỳ. Rất tiếc khi chia tay hai người chưa có con, nhưng bà Cúc ở vậy và tích cực tham gia các phong trào yêu nước của Việt kiều sinh sống tại Thái Lan.

Bà đã được về nước trong đoàn Việt kiều đầu tiên hồi hương năm 1960. Về đến Việt Nam bà được ban Việt kiều phân công định cư tại Quảng Bình. Trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hầu như tài sản của bà không còn gì. Không vốn liếng, không con cái, bà sống một cuộc sống khá chật vật, nhờ vào mở một quán nước bên bến phà.

Năm sau (1982), khi đi công tác qua phà Quảng Bình, tôi đã được theo đồng chí Vũ Kỳ tìm đến thăm bà cụ. Chứng kiến cảnh nghèo khó của bà Cúc, đồng chí Vũ Kỳ rất xúc động. Khi vào đến thành phố Huế, đồng chí Vũ Kỳ đã đề nghị Bí thư Tỉnh Uỷ Bình Trị Thiên khi đó là đồng chí Vũ Thắng đón bà cụ vào nhà dưỡng lão của tỉnh Bình Trị Thiên (ở thành phố Huế) để thuận tiện chăm sóc cụ khi tuổi già sức yếu. Năm 1985, đích thân đồng chí Vũ Kỳ làm văn bản đề nghị Nhà nước truy tặng đồng chí Lộc là liệt sỹ, và giải quyết cho bà Cúc được hưởng chế độ vợ liệt sỹ. Sau đó, trong những buổi nói chuyện với chúng tôi, đồng chí Vũ Kỳ thường hay nhắc: Chúng ta có cuộc sống hôm nay bởi có biết bao những tấm gương hy sinh thầm lặng như đồng chí Lộc, như bà Cúc. Những con người hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình vì hạnh phúc chung của toàn dân tộc, mà không một toan tính, không một lần đòi hỏi được đền đáp.

Trọn đời mình, đồng chí Lộc là một cán bộ trung thành, tận tụy, liêm khiết, lạc quan, hoàn thành xuất sắc tất cả các nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, một tấm gương trung thành với Đảng, suốt đời làm việc cho Đảng, không tính toán cá nhân, đòi hỏi địa vị.

Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa những chiến sĩ cách mạng cống hiến cả cuộc đời mình cho dân tộc. Đặc biệt nhằm ghi nhận đầy đủ những đóng góp của đồng chí Lộc và người bạn đời của ông đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, những người cán bộ viên chức của Bảo tàng Hồ Chí Minh chúng tôi có nguyện vọng tiếp tục thực hiện mong mỏi của bà Cúc mà trước đây bà vẫn chưa kịp hoàn thành: Đề nghị nhà nước truy phong danh hiệu “gia đình có công với nước” và Huân chương cao quý cho đồng chí Hoàng Văn Lộc – người đảng viên cộng sản chân chính, người được Bác Hồ nhận xét bằng những lời giản dị, ngày 19-5-1948: “Trong lúc khó khăn gian khổ làm việc không chút nề hà, đến lúc nước nhà độc lập cũng không mảy may đòi hưởng thụ”./.

Theo TS. Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tượng đài Bác Hồ trên Quốc đảo Singapore

Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương, được bao quanh bởi nhiều đảo nhỏ khác. Singapore từng là một làng cá của người Malaysia. Tên Singapore xuất phát từ Singapura trong tiếng Malaysia (hay tiếng Malay), vốn được lấy từ nguồn gốc của chữ Phạn là singa (sư tử) và pura (thành phố). Từ đó, Singapore được biết đến với tên Thành phố Sư Tử. Từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 19, Singapore là một phần của Tiểu Vương quốc Johor (một bang của Malaysia. Năm 1819, nằm trong Khu thuộc địa của Anh, hòn đảo này dân cư còn rất thưa thớt, chỉ có một làng chài nhỏ với số dân chưa đầy 1000 người.

Sau khi thuộc quyền sở hữu của Anh, người Anh đã bắt đầu xây dựng Singapore từng bước thành một cảng thương mại lớn ở Đông Nam Á và vào những năm 1830 nó đã trở thành một trong ba cảng thương mại chính ở Đông Nam Á cùng với Manila ở Philipinnes và Batavia (Jarkata ngày nay) ở đảo Java. Tháng 2/1942, Singapore bị quân đội Nhật đã chiếm đóng đổi tên thành Syonanto, nghĩa là Ánh sáng Phương Nam. Tháng 9/1945, khi Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội Anh quay trở lại chiếm đóng hòn đảo này và từ tháng 3/1946, Singapore trở lại thuộc địa của Vương quốc Anh. Trước năm 1950, người Việt Nam còn biết đến Singapore dưới những tên: Chiêu Nam và Hạ Châu.

Singapore trở thành một nước tự chủ vào năm 1959 và ông Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của Singapore. Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vào Liên bang Malaysia đã đạt được vào năm 1961 và đưa Singapore trở thành một thành viên Liên bang Malaysia có quyền tự trị vào tháng 9/1963. Cuộc hợp nhất không đạt được nhiều thành công và 2 năm sau đó, ngày 9/8/1965 (sau này đã trở thành ngày Quốc khánh của Singapore), Singapore đã tách khỏi Malaysia và trở thành một quốc gia độc lập với nền dân chủ có chủ quyền lãnh thổ. Ngày 22/12/1965, Singapore đã chính thức trở thành một nước Cộng hòa độc lập.

Trở thành nước độc lập, Singapore phải đối mặt với nhiều khó khăn trong giai đoạn này: Không ổn định về chính trị xã hội, không phát triển về kinh tế, đất đai và tài nguyên thiên nhiên rất ít (tài nguyên thiên nhiên được ghi trong tài liệu giới thiệu về quốc gia này chỉ có thủy sản và cảng nước sâu) … Từ năm 1959 đến năm 1990, Chính phủ Singapore, do Thủ tướng Lý Quang Diệu đứng đầu, đã từng bước kiềm chế thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống và thực hiện một chương trình nhà ở công cộng với quy mô lớn (hơn 90% dân cư Singapore sống trong các khu nhà xây dựng sẵn của Ban Phát triển Nhà ở và gần một nửa dân cư sử dụng phương tiện giao thông công cộng hàng ngày); các cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước được phát triển, mối đe dọa của căng thẳng chủng tộc được loại bỏ và một hệ thống phòng vệ quốc gia được thiết lập; đầu tư nước ngoài và công cuộc công nghiệp hóa do nhà nước chỉ đạo đã tạo nên một nền kinh tế dựa chủ yếu trên xuất khẩu hàng điện tử và gia công… Từ một “làng chài” nghèo khó đầu thế kỷ 20, diện tích chỉ tương đương đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang), từ một nước đang phát triển, đến cuối thế kỷ 20, Singapore đã vươn lên thành một nước phát triển. Hiện nay, Singapore là một nước công nghiệp với thu nhập bình quân đầu người khoảng 38.000 USD (năm 2010). Với cơ sở hạ tầng hoàn hảo, những nét văn hoá tương phản đầy hấp dẫn cùng những điểm tham quan thu hút du khách là những yếu tố góp phần đem đến sự thành công cho Singapore và biến quốc gia này trở thành điểm đến hàng đầu cả trong lĩnh vực thương mại lẫn du lịch.

Trên đất nước Singapore tươi đẹp có một địa chỉ mỗi năm thu hút hàng vạn lượt khách tới tham quan: Đó là Bảo tàng Văn minh châu Á, nằm bên bờ sông Singapore. Phần trưng bày về Việt Nam trong Bảo tàng nổi bật với phiên bản trống đồng Đông Sơn, tranh Đông Hồ…Với tình cảm mến yêu Việt Nam và tôn vinh một trong những nhân vật vĩ đại nước ngoài từng đặt chân tới Singapore, nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Singapore, Ủy ban Di sản Quốc gia Singapore đã đặt tấm bia tưởng niệm Người trước sân tiền sảnh trong khuôn viên bảo tàng (trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 2 lần tới Singapore. Lần đầu vào tháng 5/1930, lần thứ hai là tháng 1/1933). Từ tháng 9/2007, Ủy ban Di sản quốc gia Singapore và Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore, với sự giúp đỡ trực tiếp của Bảo tàng Hồ Chí Minh đã hợp tác chặt chẽ từ việc hình thành ý tưởng đến khâu thiết kế và xây dựng nội dung tạc trên bia tưởng niệm. Bia tưởng niệm với chất liệu đá hoa cương đen, cao 1,8m, rộng 0,75m, dày 0,23m; trên có chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và tiểu sử tóm tắt của Người. Mặt sau bia tạc bài thơ Giã gạo của Bác. Hình hoa sen tiêu biểu cho làng Sen quê Bác chạm mờ được hiển thị trên cả hai mặt của tấm bia. Tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đánh dấu đầy đủ theo tiếng Việt, góp phần tăng thêm tính biểu tượng và tôn nghiêm cho tấm bia. Ngày 20/5/2008, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Ngoại giao Singapore George Yeo đã cắt băng khánh thành bia tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không chỉ dừng lại ở bia tưởng niệm, những người bạn yêu mến Việt Nam ở Uỷ ban Di sản Quốc gia Singapore, Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore có sự phối hợp của Bảo tàng Hồ Chí Minh đã có ý tưởng đặt tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh bên cạnh bia tưởng niệm. Ý tưởng này đã được các cơ quan chức năng của Việt Nam và Singapore hoàn toàn nhất trí. Phía Bạn đã trân trọng chọn việc dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Văn minh châu Á khởi đầu cho chương trình tôn vinh “Những người bạn đến bờ biển chúng ta”.

Sáng ngày 28/10/2011, trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến dự lễ khánh thành tượng Bác Hồ tại Bảo tàng Văn minh châu Á. Phát biểu tại lễ khánh thành, Chủ tịch Ủy ban Di sản Quốc gia Singapore khẳng định bức tượng Bác Hồ cũng là niềm tự hào của nhân dân Singapore. Sự kiện này ghi tiếp dấu ấn trong mối quan hệ hợp tác tin cậy, tình cảm hữu nghị giữa Việt Nam và Singapore./.

Theo Nguyễn Thúy Đức
Bảo tàng Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhìn lại cuộc đời Hồ Chủ tịch ngay sau ngày mất

Alden Whiteman đã viết rất thiện cảm với Bác Hồ cũng như cuộc đấu tranh chống đế quốc của dân tộc Việt Nam ngay khi nước Mỹ còn tham chiến. Ảnh: TL

LTS: Trên báo chí phương Tây có một mục gọi là Obituary. Đó là mục dành cho những bài viết về cuộc đời và sự nghiệp của một người nổi tiếng vừa mất. Nhiều cơ quan báo chí đã đặt sẵn bài viết về các nhân vật nổi tiếng ngay khi họ còn sống, và khi họ vừa nằm xuống thì có ngay bài xuất hiện ở mục Obituary.

Bài viết về chủ tịch Hồ Chí Minh dưới đây là thuộc loại bài Obituary như vậy. Nó được đăng trên tờ báo danh tiếng của Mỹ New York Times ngay sau khi Bác Hồ của chúng ta vừa qua đời. Tác giả bài viết là Alden Whitman (1913-1990), một nhà báo Mỹ, viết cho New York Times từ 1951 và nổi tiếng về những bài viết cho mục Obituary.

Chính khách nổi bật

Trong số các chính khách thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nổi bật về sự dẻo dai và kiên trì khi ông theo đuổi mục đích giành độc lập cho Việt Nam và về thành công trong việc kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cộng sản.

Từ trẻ ông đã mong muốn tự do cho Việt Nam đang bị Pháp đô hộ. Ông đã kiên trì qua nhiều năm khi cơ hội đạt mục đích của ông là vô cùng nhỏ nhoi và dường như khó tin. Cuối cùng, ông đã tổ chức nên việc đánh bại Pháp năm 1954 tại trận Điện Biên Phủ lịch sử. Trận đánh đó, khúc ca khải hoàn của chiến lược chiến tranh du kích, diễn ra chín năm sau ngày ông được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Sau sự phân chia tạm thời nước Việt Nam bằng vĩ tuyến 17 theo hiệp định Geneve năm 1954 và sau khi sự phân chia đó bị chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam được Mỹ hậu thuẫn biến thành thực tế tàn nhẫn, ông Hồ đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc chống chọi lại thế lực quân sự hùng mạnh của Mỹ. Trong chiến tranh, Thủ đô Hà Nội của ông Hồ cùng với các thành phố khác thường xuyên bị máy bay Mỹ ném bom.

Đồng thời ông Hồ còn là nguồn cảm hứng cho Mặt trận Dân tộc giải phóng (Việt Cộng) hoạt động ở Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh lâu dài và tốn kém chống lại chế độ Sài Gòn cùng Mỹ và các đồng minh.

Trong cuộc chiến tranh mà Mỹ ngày càng dính sâu vào, đặc biệt từ sau năm 1964, ông Hồ vẫn khéo léo giữ được thế cân bằng trong quan hệ với Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Hai nước này bất đồng về tư tưởng nhưng vẫn là nguồn chính cung cấp lương thực và vũ khí cho Việt Nam. Nhờ những biện pháp ngoại giao khôn khéo của mình, ông vẫn giữ được quan hệ thân thiện với mỗi bên.

Nhã nhặn, tinh tế, thạo đời, lịch thiệp, không thù ghét cá nhân

Đối với 19 triệu người ở bắc vĩ tuyến 17 và hàng triệu người khác ở nam vĩ tuyến, thân hình nhỏ bé, mảnh khảnh giống như chiếc ngà voi của ông Hồ, với khuôn mặt dài khổ hạnh, chòm râu phơ phất, đôi má trũng sâu, và cặp mắt sáng, là của một vị tộc trưởng, là George Washington của dân tộc ông.

Mặc dù tên ông không được gắn cho các quảng trường, dinh thự, nhà máy, sân bay hay tượng đài, nhưng sức hấp dẫn của ông là hiển nhiên, cũng như tình cảm của người dân bình thường dành cho ông.

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến nền giáo dục nước nhà. Ảnh T.L

Ông được người dân quen thuộc gọi là “Bác Hồ”. Trước khi những đòi hỏi của chiến tranh khiến ông phải hạn chế bớt các bổn phận của mình, ông thường tới thăm các làng mạc và thị trấn. Ăn mặc giản dị, ông đặc biệt thích đến các trường học và trò chuyện với trẻ em.

Những người phương Tây biết ông đều tin rằng, dù ông rất khôn ngoan, mưu mẹo trong các vấn đề chính trị rộng lớn, nhưng trong cách nói chuyện của ông đối với dân chúng không hề có cảm giác nào như vậy.

Quả thực, uy tín cá nhân của ông Hồ phổ biến đến mức tất cả mọi người, ngay cả các kẻ thù chính trị của ông, đều thừa nhận là nếu như cuộc tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneve được tổ chức thì nước Việt Nam đã được thống nhất dưới sự lãnh đạo của ông.

Thông minh, tháo vát và tận tụy, ông Hồ đã tạo được ấn tượng tốt đẹp nơi nhiều người tiếp xúc với ông. Một người như thế là Harry Ashmore của Trung tâm nghiên cứu các thể chế dân chủ và là cựu chủ bút tờ Arkansas Gazette.

Ông Ashmore và ông William C.Baggs, chủ bút tờ Miami News đã quá cố, là những người Mỹ cuối cùng đã có cuộc trò chuyện dài với ông Hồ khi họ đến thăm Hà Nội đầu năm 1967.

“Ông Hồ là một người nhã nhặn, tinh tế, rất thạo đời, với cung cách lịch thiệp và không hề có sự thù ghét cá nhân”, ông Ashmore nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. Tại buổi gặp ông Hồ mặc bộ quần áo trắng cổ cao quen thuộc của ông, chân đi đôi dép cao su hở ngón. Ông liên tục hút thuốc, loại thuốc Salems của Mỹ.

“Tôi nghĩ tôi biết nhân dân Mỹ”

Cuộc nói chuyện kéo dài một giờ của họ bắt đầu bằng tiếng Việt có người phiên dịch, ông Ashmore nhớ lại, nhưng sau đó chuyển ngay sang tiếng Anh. Ông Hồ đã khiến Ashmore kinh ngạc trước khả năng thông thạo tiếng Anh của ông. Tiếng Anh là một trong những thứ tiếng ông Hồ nói lưu loát, cùng với các thứ tiếng Trung, Pháp, Đức và Nga.

Có một lúc ông Hồ nhắc lại với Ashmore và Baggs là ông đã từng đến Mỹ. “Tôi nghĩ là tôi biết nhân dân Mỹ”, ông Hồ nói, “và tôi không thể hiểu làm sao họ lại có thể ủng hộ sự dính líu vào cuộc chiến tranh này. Chẳng lẽ tượng Thần Tự do đã bị lộn ngược đầu?”

Đây là câu hỏi tu từ mà ông Hồ cũng đặt ra đối với những người Mỹ khác để nhấn mạnh điều ông nghĩ là mâu thuẫn: Một dân tộc thuộc địa đã làm cách mạng giành được độc lập lại gây chiến để đàn áp nền độc lập của một dân tộc thuộc địa khác.

Ông Hồ hiểu sâu sắc lịch sử nước Mỹ và ông đã tận dụng lợi thế này vào mùa hè năm 1945 khi viết bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ông nhớ nội dung Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, chứ không phải thuộc từng câu chữ. Từ phái đoàn quân sự Mỹ khi đó hợp tác với ông, ông đã cố gắng vô vọng kiếm một bản sao của Tuyên ngôn, và khi không có ai kiếm được nó, ông Hồ đã tóm tắt lại những điều ông nhớ được.

Bản Tuyên ngôn của Mỹ mở đầu: “Tất cả mọi người được tạo ra bình đẳng; họ được tạo hóa của họ cấp cho một số quyền không thể chuyển nhượng được; trong số đó có quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc”. Sau khi giải thích điều đó nghĩa là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, ông Hồ liền liệt kê, theo cách Tuyên ngôn của Mỹ, những nỗi khổ của nhân dân mình và tuyên bố sự độc lập của họ.

“Hãy chờ khi tôi chết đã. Khi đó anh có thể viết gì về tôi tùy ý”

Ngoài những người Mỹ, ông Hồ còn gây được thiện cảm với nhiều người có dịp gặp ông trong nhiều năm. “Một con người hết sức đáng yêu và thân thiện” là lời mô tả của Jawaharlal Nehru, lãnh tụ Ấn Độ. Paul Mus, nhà Đông phương học người Pháp từng có nhiều cuộc trò chuyện thân thiết với ông Hồ những năm 1946 và 1947 nhận thấy ông là “một nhà cách mạng không khoan nhượng về chính trị và không thể mua chuộc được, một kiểu Thánh Just”.

Một sĩ quan hải quân Pháp có dịp quan sát con người Việt Nam mảnh khảnh này trong ba tuần ông là khách đi tàu đã kết luận rằng ông Hồ là “một con người thông minh và quyến rũ, một nhà lý tưởng nồng nàn dốc hết đời mình cho sự nghiệp đã theo đuổi” và là một người “có niềm tin chất phác vào những khẩu hiệu chính trị – xã hội của thời đại chúng ta, và nói chung, vào mọi thứ được in ra”.

Ông Hồ là một người cộng sản hết sức thực tế, làm nhiều hơn nói. Các bài viết bài nói của ông đơn giản, rõ ràng, phần lớn mang nội dung tuyên truyền hoặc luận chiến, khó kết được vào hệ thống của học thuyết Mác-xít.

Giống Mao Trạch Đông, một lãnh tụ cộng sản anh em, ông Hồ có làm thơ, một số bài khá xúc động. Bài “Đêm thu” ông làm khi bị Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giam năm 1942-1943 đã được đọc lên qua bản dịch của Aileen Palmer:

Trước cửa lính canh bồng súng đứng
Trên trời trăng lướt giữa làn mây
Rệp bò lổm ngổm như xe cóc
Muỗi lượn nghênh ngang tựa máy bay
Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ
Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay
Ở tù năm trọn thân vô tội
Hòa lệ thành thơ tả nỗi này.

Việc ông Hồ lên nắm quyền và nổi tiếng thế giới là một câu chuyện không có đầy đủ tài liệu. Ngược lại, những chi tiết của quá trình này lại có một số điểm thiếu chính xác. Điều này dẫn đến chỗ có thời gian người ta ngờ là có hai ông Hồ, một thông tin mà Sở mật thám Pháp coi thường khi họ so sánh các bức ảnh hai thời kỳ trước và sau của ông Hồ.

Một cách giải thích cho sự nhầm lẫn này là ông Hồ dùng hàng chục bí danh trong quá trình hoạt động của mình mà tên gọi Hồ Chí Minh chỉ là một trong số đó. Một lý do khác là ông Hồ không muốn công khai tiểu sử của mình. “Anh biết đấy, tôi là một người già, và một người già như tôi thì thích giữ lại cho mình một vài bí mật nho nhỏ”, ông nói với B. Fall. Và ông nháy mắt nói tiếp: “Hãy chờ khi tôi chết đã. Khi đó anh có thể viết gì về tôi tùy ý”.

Tuy nhiên, ông Fall kể lại, trước khi rời Hà Nội ông đã nhận được một bản tóm tắt cuộc đời ông Hồ không có chữ ký, “rõ ràng đây là làm theo lệnh ông cụ”.

Bất chấp bề ngoài có vẻ muốn tự xóa mình đi, ông Hồ vẫn biết cách thể hiện mình. Ông Fall kể có lần ông đưa cho ông Hồ xem bức ký họa vợ ông vẽ ông Hồ. “Phải, đẹp lắm. Trông nó rất giống tôi”, ông Hồ thốt lên.

Ông lấy bó hoa ở bàn bên cạnh trao cho Fall và nói: “Anh hãy nói với cô ấy là bức vẽ rất đẹp, nhờ anh thay tôi tặng cô ấy bó hoa này và hôn vào hai má cô ấy hộ tôi nhé”.

Vũ khí nguyên tử cũng không thể bắt chúng tôi đầu hàng

Ông Hồ tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của cuộc chiến tranh. Năm 1962 khi cuộc chiến còn bó hẹp giữa một bên là quân đội Nam Việt Nam và 11000 cố vấn Mỹ và một bên là quân giải phóng số lượng ít hơn, ông đã nói với một vị khách Pháp: “Chúng tôi đã phải chiến đấu gian khổ tám năm để đánh bại nước Pháp các ông, mà ông biết là nước ông có những quan hệ cũ ở đây. Bây giờ chế độ Nam Việt Nam được trang bị tốt hơn, lại được Mỹ hỗ trợ. Quân Mỹ mạnh hơn Pháp rất nhiều, dù họ hiểu chúng tôi kém hơn. Vì vậy có lẽ phải mất 10 năm để làm việc đó, nhưng nhân dân anh hùng của chúng tôi ở miền Nam cuối cùng sẽ đánh bại chúng”.

Đầu năm 1967 ông vẫn tin tưởng như vậy khi trò chuyện với Ashmore và Baggs. “Chúng tôi đã chiến đấu cho nền độc lập của mình hơn 25 năm”, ông nói với họ, “và tất nhiên chúng tôi yêu quý hòa bình, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ nền độc lập của mình để đổi lấy hòa bình với Mỹ hay bất cứ ai khác”.

Kết thúc cuộc gặp, ông nắm bàn tay phải lại thành quả đấm và nói xúc động: “Các ngài cần phải biết quyết tâm của chúng tôi. Ngay cả vũ khí nguyên tử của các ngài cũng không thể bắt được chúng tôi đầu hàng sau cuộc đấu tranh lâu dài và mãnh liệt vì nền độc lập của đất nước”.

Ông bình thản khi nói về cái chết của mình. Người ta yêu cầu ông bỏ thuốc lá nhưng ông vẫn hút. “Khi các ngài đến tuổi già như tôi thì chẳng phải lo lắng đến tác hại của thuốc lá nữa”, ông nói.

Bài viết của tác giả Alden Whitman, New York Times, 4/9/1969
Ngân Xuyên (dịch)
Theo hoatdongtuthien.org
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh tấm gương đạo đức ngời sáng cho mỗi người Việt Nam học tập, noi theo

Hơn một năm rưỡi qua, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã có nhiều hoạt động phong phú, cụ thể, thiết thực, diễn ra ở khắp các cấp, các ngành, địa phương trong cả nước, thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên công chức và các tầng lớp nhân dân tham gia, tạo nên một luồng sinh khí mới trong sinh hoạt Đảng, trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân. Nhiều cán bộ, đảng viên, công chức đã có ý thức tự giác trong rèn luyện đạo đức, lối sống, học tập nâng cao trình độ và có tinh thần trách nhiệm cao hơn đối với công việc được giao, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân đã có nhiều tiến bộ hơn so với trước.

Lòng tôn kính, quý trọng và biết ơn vô hạn của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Bác Hồ càng được khẳng định, vun đắp, củng cố son sắt hơn thông qua cuộc vận động. Đúng như Ban Chỉ đạo TW Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Cuộc vận động này là đúng và “trúng”, đáp ứng tình cảm và lòng mong đợi của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu. Còn nhiều việc phải làm trong một cuộc vận động lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này. Việc xây dựng một nền tảng đạo đức mới tốt đẹp, sẽ không phải là công việc đơn giản có thể làm xong trong ngày một, ngày hai, mà cần phải có thời gian lâu dài với cách thức, bước đi phù hợp.

Bởi vì như Bác Hồ đã viết: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố”. Đó cũng chính là sự tổng kết cả quá trình đấu tranh, rèn luyện trọn cuộc đời của Người để tạo nên một tư tưởng, đạo đức, nhân cách vĩ đại Hồ Chí Minh.

Mỗi một đức tính tốt, dù nhỏ cũng không phải tự nhiên và dễ dàng có được, mà phải trải qua cả một quá trình hình thành, chắt lọc, rèn luyện lâu dài. Vì đạo đức là cái ở trong tâm của mỗi con người, thuộc về bản chất, chứ không phải chỉ là sự biểu hiện bề ngoài, cũng không phải cứ học thuộc một bài học về đạo đức là chúng ta đã có ngay được điều đó. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh lại càng đòi hỏi mỗi người phải có sự phấn đấu, rèn luyện bền bỉ, thường xuyên hàng ngày, thậm chí hàng giờ.

Đồng thời phải biến những bài học đó thành thói quen hành động và rèn luyện cho những thói quen ấy ngấm sâu trong “máu thịt” trở thành nhân cách, chỉ có như vậy mới có được đạo đức thật sự, bền vững.

Tất nhiên, từ việc học tập đến việc làm theo cũng không phải là dễ, nếu không có sự tự giác, quyết tâm cao. Và để xây dựng được một nhân cách, đạo đức tốt, trước hết mỗi con người cần phải tự đấu tranh với chính bản thân mình. Vì ở trong mỗi người đều luôn tồn tại hai mặt thiện và ác, nên nếu không có ý chí đấu tranh, rèn luyện bản thân, chỉ cần một lúc buông thả, mất cảnh giác thì những cám dỗ, tác động từ ngoại cảnh, cùng với cái xấu, cái ác, cái sự ham muốn địa vị, vật chất, ham muốn hưởng thụ… bên trong sẽ trỗi dậy, lấn át cái tốt.

Sẽ không thể học được cái mới tiến bộ, nếu không sửa được cái cũ lạc hậu ở bên trong mình. Đặc biệt, trước những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường và mở cửa hội nhập, nhiều giá trị đạo đức truyền thống đã bị xem nhẹ hoặc mai một; lối sống thực dụng, nặng về vật chất, sính ngoại… đang có chiều hướng gia tăng; sự quan liêu, hách dịch, cửa quyền, thiếu dân chủ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo; tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức, tác động không tốt đến tư tưởng, tình cảm, lòng tin của cán bộ, công chức và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ…. thì đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên chúng ta phải phấn đấu, nỗ lực nhiều hơn nữa, vượt qua chính mình và những cám dỗ, tác động tiêu cực đó để từng bước rèn luyện, xây dựng cho mình một đạo đức tốt, góp phần vào thành công của Cuộc vận động.

Chúng ta tin tưởng rằng, với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân; sự phấn đấu, rèn luyện tâm huyết và bền bỉ của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, nhất định Cuộc vận động sẽ thu được những kết quả tốt đẹp. Tư tưởng, đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ luôn là tấm gương trong sáng để mỗi người Việt Nam chúng ta học tập, noi theo. Hãy tự nhắc mình phải sống và làm việc sao cho xứng đáng với truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam; xứng đáng công lao, tình cảm mà Bác Hồ kính yêu đã giành cho Tổ quốc, cho dân tộc.

Thành Lợi

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Ngày 19 tháng 4 năm 1946, Hội nghị các dân tộc thiểu số miền Nam được tổ chức tại Pleiku (Gia Lai). Trên 100 đại biểu dân tộc Tây Nguyên, Nam Trung Bộ đã về dự Hội nghị. Trong Hội nghị này, các đại biểu đã vinh dự đón nhận bức thư viết của Bác Hồ: “Đồng bào Kinh hay Tày, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Ba Na, Xê Đăng hay M’Nông và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng, khổ, no, đói bên nhau…Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt…”.

Đó là tình cảm cao quý của Người đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, như truyền thêm sức mạnh cho đồng bào vững niềm tin vào Đảng, Bác Hồ, đoàn kết đứng lên làm cách mạng, đánh đuổi quân xâm lược, giữ lấy núi rừng Tây Nguyên.

Cách mạng tháng Tám thành công, bác sĩ Y Ngông được trúng cử vào Quốc hội. Trong buổi đầu tiên Quốc hội ra mắt, bác sĩ Y Ngông được nghe Bác Hồ phát biểu:…“Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của người Kinh và người Thượng”…

Bác sĩ Y Ngông kể: Tôi còn nhớ một chuyện xảy ra năm 1949, giặc Pháp vào một làng Ê Đê ở Đak Lak, chúng đem hai tấm ảnh, một ảnh Đắc-Giăng-Liơ (D’Argenlieu) và một ảnh Hồ Chủ tịch ra hỏi dân làng:

– Ai là Hồ Chí Minh, ai là D’Argenlieu?

– Người gầy gầy là ông Hồ Chí Minh, người mũi lõ là D’Argenlieu.

– Ai tốt, ai xấu?

– Ông Hồ Chí Minh là người tốt, D’Argenlieu là người xấu

– Vì sao ông Hồ Chí Minh tốt?

– Vì người lãnh đạo đánh thực dân phát xít Pháp, phát xít Nhật, đem lại hạnh phúc cho dân tộc chúng tôi. Thực dân Pháp là kẻ thù xâm lược.

Lòng kính yêu Bác Hồ của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nhiều như cây trên rừng, cao như núi đá, dài như nước suối. Từng rễ cây rừng cũng muốn uống nước nguồn của Bác Hồ, từng lá cây trên núi cũng muốn đón gió của Bác Hồ.

Anh A Vai, dân tộc Pakô, anh hùng lực lượng vũ trang kể:

– A Vân, một trai làng của dân tộc Pakô, dẫn dân làng đi gặt lúa, tiếp tế cho cách mạng. Mọi người đang gặt thì địch đến càn. A Vân hô lớn báo hiệu cho bà con rút chạy. Anh ở lại đánh lạc hướng và bị địch bắt. Bọn chúng tra khảo anh nhưng anh không hề khai lấy nửa lời. Chúng đánh đập anh rất dã man làm anh ngất đi nhiều lần. Khi tỉnh dậy chúng lấy đinh đóng vào mười đầu ngón tay và mười ngón chân của anh vào cây Tyo. Anh A Vân đau đớn nhưng không hề kêu than lấy một lời. Anh im lặng nhìn thẳng vào mặt quân thù. Cái nhìn im lặng và cặp mắt anh làm cho quân thù khiếp sợ. Trước khi hi sinh A Vân đã gọi A Vóoc Hồ ba lần…

Hôm tôi lên đường ra thăm miền Bắc, các già làng băn khoăn sợ tôi còn trẻ không nói hết tấm lòng của người Pakô với A Voóc Hồ, với Cách mạng và đồng bào miền Bắc ruột thịt, nên các già làng đã căn dặn tôi: “Nếu được gặp A Voóc Hồ, con không biết nói điều gì thì cứ kể chuyện A Vân và cây Tyo kia cho A Vóoc Hồ nghe là đủ, vì đó là tấm lòng của người Pakô chúng ta đối với A Vóoc Hồ.”

Gần đây, chúng tôi về thăm lại vùng căn cứ kháng chiến Buôn Ngô, huyện Kroong Bông, được gặp lại già làng A MaRil là một du kích dũng cảm thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã từng dùng tên tẩm thuốc độc bắn chết nhiều lính Mỹ, đẩy lùi nhiều trận càn của địch, bảo vệ an toàn vùng căn cứ kháng chiến của ta. Gặp lại chúng tôi A MaRil mừng lắm. Sau một ngày leo đèo vượt suối, dẫn chúng tôi vào thăm lại hang đá Buôn Ngô. A MaRil tiếp chúng tôi dưới một mái nhà sàn, bên ché rượu cần và nói:

– Có được cuộc sống ấm no như hôm nay, người dân Buôn Ngô ơn Bác Hồ, ơn Đảng lắm.

Ơn này cao như núi Cư Yang Sing, dài như sông Krông Bông, người Buôn Ngô khắc sâu muôn đời.

Rồi A MaRil lấy ra một gói nhỏ được bọc nhiều lớp vải và giấy, trong đó có một ảnh Bác Hồ và một lá cờ đỏ sao vàng bằng giấy lụa đã bạc màu.

A MaRil nói: Ảnh Bác Hồ và lá cờ Tổ quốc này là do một cán bộ miền Nam tặng mình hồi mới đánh xong giặc Pháp, tập kết ra miền Bắc. Mình giữ vật quý này gần 50 năm rồi đấy. Trong những năm đánh Mỹ ác liệt, mấy lần buôn làng bị cháy, bọn địch càn đi quét lại nhiều lần, nhưng mình vẫn giữ nó. Hai vật quý này là niềm tin của mình, của Buôn Ngô đối với Bác Hồ, với Cách mạng đó.

Rồi A MaRil kể: “Hồi kháng chiến chống Mỹ cứu nước, buôn mình có ba người gùi gạo vào rừng cho cách mạng. Trên đường đi họ gặp một toán biệt kích, chúng bắt được 3 người và định đưa ra bắn. Trong nhóm người đó có già làng AMaYa, ông nói với lính ngụy: Trước sau gì bọn mày cũng bắn chúng tao, nhưng trước khi đưa ra bắn, bọn mày cho tao được hát. Thế thôi, AMaYa hát bài Khan Êđe. Cả toán lính ngụy, chủ yếu là người dân tộc, ngồi nghe im phăng phắc theo lời kể khan của AMaYa. Kể xong già làng AMaYa nói: Cán bộ, bộ đội Cụ Hồ là Cách mạng, họ cũng tốt như Đam San, đánh kẻ ác, cứu người nghèo khổ bảo vệ làng buôn. Bọn mày là con em đồng bào, nên quay súng trở về với Cách mạng với Bác Hồ, để được như Đam San diệt kẻ ác cứu đồng bào, buôn làng mình”.

Nghe AMaYa nói vậy, một tên lính đứng lên và nói: “Già làng nói trúng cái bụng chúng mình lắm. Thôi chúng mình đi theo già làng về với Cách mạng, anh em ơi! Thế là cả toán lính ngụy trở về với Cách mạng”.

Kể xong A MaRil cười sảng khoái và nói: “Tình cảm của người dân Buôn Ngô đối với Bác Hồ, đối với Cách mạng là thế đó”.

Cụ Y BilAlêô, dân tộc Êđê, nguyên là Phó Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, được hân hạnh gặp Bác, sau khi Người thăm hỏi ân cần…cụ mạnh dạn thưa chuyện với Bác: “Đồng bào Tây Nguyên còn nghèo lắm, nghèo cả cán bộ nữa, muốn xin Bác cho nhiều cán bộ giỏi ạ”.

Bác cười và nhẹ nhàng hỏi lại:

– Đồng bào ta có nuôi gà không?

– Thưa bác, đồng bào nuôi nhiều gà lắm ạ.

– Đồng bào nuôi nhiều gà như vậy là tốt, lần này gà đẻ năm trứng, lần sau mười trứng, mười trứng rồi nở thành con. Chính những con gà đẻ và nở trong vùng ấy mới thích hợp với hoàn cảnh ở đó…Cứ mỗi năm có một hai cán bộ dân tộc đi làm việc, nhiều năm sẽ có nhiều cán bộ gương mẫu, hiểu tâm tư nguyện vọng của dân tộc mình…

Cụ Y BilAlêô khẳng định: “Tình cảm của Bác Hồ đối với dân tộc là sức mạnh vô biên, luôn luôn tràn đầy như nước sông Ba và cao như ngọn núi Cư Giang Sin. Chúng tôi nhớ lời Bác Hồ và uống rượu cần thề với nhau sẽ mãi mãi đi theo con đường của Bác vạch ra để giải phóng quê hương”.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng tư tưởng của Bác về vấn đề dân tộc vẫn còn im đậm trong trái tim chúng ta, tình cảm của Bác Hồ đối với đồng bào dân tộc Tây Nguyên vẫn sống mãi trong lòng mọi người. Nó đã trở thành niềm tin, sức mạnh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vững bước đi theo con đường của Bác Hồ đã chọn, để bảo vệ và xây dựng Tây Nguyên ngày càng đẹp giàu.

Theo cuốn Hồ Chí Minh – Hiện thân của Văn hóa Hòa bình
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Vào Quốc hội không phải để làm quan

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Bác Hồ và 100 năm ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước năm nay lại cận kề với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XIII và đại biểu HĐND các cấp.

Dịp này, nhà sử học Dương Trung Quốc đã dành cho Pháp Luật TP.HCM bài viết về một ứng cử viên mang tên Hồ Chí Minh. Bài viết cho thấy nhiều quan điểm, hành động của Bác về công tác bầu cử cũng như hoạt động của cơ quan dân cử vẫn có giá trị dẫn đường cho đến ngày hôm nay.

Là người kiến tạo ra nền chính trị Việt Nam hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức được tầm quan trọng của QH trong một thể chế dân chủ-cộng hòa được khẳng định từ rất sớm trong cương lĩnh Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Người lãnh đạo càng phải gương mẫu

Có thể nói không chỉ những vấn đề lý luận mà ngay cả kỹ năng tổ chức QH và kỹ năng thực thi trách nhiệm của một ĐBQH cũng được Bác rất quan tâm. Bác đặc biệt quan tâm đến việc làm sao một tổ chức chính trị của một đảng cách mạng và một quần chúng mới thoát ra khỏi thân phận là thần dân của chế độ phong kiến, thuộc dân của chế độ thuộc địa có thể bắt kịp với một cuộc bầu cử và đưa vào vận hành một thể chế chính trị tiên tiến như QH. Bác rất ý thức được tâm thế của người phương Đông là tính gương mẫu của người cầm quyền của các nhà lãnh đạo. Vì thế Bác luôn tự mình làm gương cho mọi người.

Để bảo đảm mối đoàn kết toàn dân, tháng 11-1945, theo chủ trương của Bác, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động không công khai, chỉ có một bộ phận công khai mang tên tổ chức “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”. Khi ra ứng cử Bác cũng không lấy danh nghĩa này mà ứng cử với danh nghĩa “Đảng Quốc dân”. Thực chất chưa hề thành lập một tổ chức chính trị như thế nhưng có thể đấy là cách Bác cụ thể hóa tư tưởng đã từng tuyên bố công khai: “Đối với tôi chỉ có một đảng là Đảng Việt Nam tập hợp tất cả mọi người Việt Nam chỉ trừ hai hạng người là kẻ phản quốc và tham nhũng…”.

Các ứng cử viên ĐBQH khóa I trong lễ ra mắt cử tri tại Việt Nam học xá (nay là trường Đại học Bách khoa Hà Nội). (Ảnh tư liệu trong sách ảnh 60 năm chính phủ Việt Nam của Nhà xuất bản Thông Tấn)

Bác dạy ta “bài học vỡ lòng” về dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tại Hà Nội. Khi ấy, 118 vị chủ tịch UBND và tất cả các đại biểu làng xã tại Hà Nội đề nghị Bác “miễn phải ứng cử” và suy tôn làm chủ tịch vĩnh viễn nhưng Bác đã từ chối. Đấy là bài học vỡ lòng về “dân chủ” mà Bác muốn truyền cho nhân dân về nguyên lý: Mọi công dân đều bình đẳng và tuân thủ pháp luật. Nó cũng biểu hiện tính gương mẫu của người lãnh đạo vì lúc này Bác đang là chủ tịch Chính phủ lâm thời cũng được bầu ra từ một “Quốc dân đại hội” (họp trên Tân Trào) – là một hình thức sơ khai, tiền thân của QH.

Tôi muốn trích lại một đoạn trong thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ngày 15-12-1945: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi… Nhưng tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên không thể vượt qua thể lệ tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở TP Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa…”.

Tại kỳ họp thứ hai (từ ngày 23-10 đến 9-11-1946), trong buổi khai mạc, ĐBQH tỉnh Rạch Giá là ông Nguyễn Văn Tạo (sau này từng làm bộ trưởng Bộ Lao động) đã thay mặt các đại biểu Nam Bộ đưa ra đề nghị QH suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người Công dân số 1” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là cách vinh danh mà nhiều nước tiên tiến đã sử dụng và được toàn thể QH đồng tình tán thành. Đó cũng là sự xác nhận một sự thực lịch sử là Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đã lựa chọn và xác lập thể chế cộng hòa-dân chủ của nước Việt Nam độc lập.

Đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu

Ta có thể đọc rất nhiều bài viết hay và sâu sắc của Bác về QH và vai trò ĐBQH. Tôi muốn nhấn mạnh đến sự lựa chọn và thiết lập một thể chế chính trị phù hợp với Việt Nam của Bác, khi cách mạng đã giành được chính quyền.

Bác đã từng say mê với lý tưởng “tự do-bình đẳng-bác ái” của cách mạng Pháp; Bác cũng từng khâm phục tư tưởng về một nhà nước “của dân, do dân, vì dân” của A. Lincohn và thể chế nghị viện của Mỹ; Bác cũng từng trải nghiệm chế độ Xô Viết ở Liên Xô và thời Quảng Châu công xã ở Trung Quốc. Cuối cùng Bác lựa chọn chế độ cộng hòa dân chủ. Đây là một thể chế chính trị gắn với học thuyết “Tam Dân” của Tôn Trung Sơn, một nhà dân chủ Trung Hoa đã tiếp thu và phương Đông hóa những tư tưởng chính trị phương Tây mà hạt nhân là của Mỹ. “Tam Dân” gắn với ba mục tiêu: dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc.

Tuy nhiên, Bác cũng vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam khi đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu. Do vậy mà QH Việt Nam luôn coi trọng tính đại diện của mọi tầng lớp nhân dân. Bác chủ động mời hay vận động nhiều đối tượng mà sự có mặt của họ trong QH có lợi hơn là để họ đứng ngoài, ví như Cựu hoàng Bảo Đại, nhiều vị quan lại cao cấp của chế độ cũ, các trí thức tiêu biểu… Thậm chí những người đối lập Bác cũng tìm mọi cách vận động tham gia QH.

Nhiều người hay nhắc đến việc tại kỳ họp đầu tiên, 70 đại biểu một số đảng phái đối lập từng chống phá Việt Minh tham gia QH. Đúng là họ đòi chia quyền, tẩy chay bầu QH. Nhưng QH bầu rồi Bác vận động họ tham gia và vận động cả QH cho phép họ tham gia. Thực tế cho thấy họ tham gia trong khuôn khổ hoạt động QH khiến họ khó chống đối hơn, thậm chí có một số vị đã ngả dần theo nhân dân. Đến kỳ họp sau (tháng 10 và 11-1946), khi quân Tưởng đã rút và ta đã ký Hiệp định Sơ bộ thì tự động họ bỏ cuộc… Đó không chỉ là nước cờ cao tay mà thực sự là một cách làm chính trị chính nghĩa.

Vào QH để đóng góp, hy sinh

Tại kỳ họp đầu tiên của QH khóa I, người điều khiển do một vị nhân sĩ Thiên Chúa giáo đảm nhiệm vì là người cao tuổi nhất; dân chúng được vào xem QH (ngồi trên tầng trên cùng của Nhà hát Lớn)… Tức là đúng như những tập quán của các nước dân chủ tiên tiến khi đó.

Bầu cử với số dư rất lớn, Hà Nội chọn có sáu đại biểu từ 72 ứng cử viên. Người được bầu làm trưởng Ban Thường trực (Chủ tịch) cũng là một nhân sĩ, một nhà sử học – cụ Nguyễn Văn Tố. Chính cụ đã nêu tấm gương kiên cường chấp nhận hy sinh khi giặc Pháp bắt được (1947). Và trước đó, ngay trong ngày mở đầu Toàn quốc kháng chiến, bác sĩ Nguyên Văn Luyện, cũng là một ĐBQH đã bị Pháp sát hại ngay tại thủ đô… QH có sức mạnh, có uy tín vì như Bác nhắc nhở và kỳ vọng rằng “vào QH không phải để làm quan, để phát tài mà là để đóng góp, hy sinh, thực sự làm đầy tớ nhân dân…”.

DƯƠNG TRUNG QUỐC

phapluattp.vn

Những câu chuyện kể về Bác Hồ – Kỳ 1

1. CỬA HÒA BÌNH

Năm 1958, Bác đi thăm Ấn Độ, Người rời Thủ đô Niu Đêli bằng xe lửa đặc biệt để thăm thành phố Bombay. Đông đảo đại diện ngoại giao các n­ước và quần chúng Thủ đô Niu Đêli ra tiễn Bác. Các thành viên của đoàn ta lên các toa tr­ước để khi Bác đến là tàu có thể chuyển bánh được ngay.

Bác đến, rồi đi chào các đại diện ngoại giao đang xếp hàng ngang trong phòng khách của nhà ga. Khi ra sân ga chỉ có Bác, Thủ t­ướng Ấn Độ Nêru và ông Vụ tr­ưởng Vụ Lễ tân của Ấn Độ. B­ước đến toa dành riêng cho Bác, Bác không vào ghế ngồi ngay mà đứng lại ở cửa, nói một vài câu chuyện với Thủ t­ướng Nêru. Khi còi tàu nổi lên báo hiệu tàu sắp chuyển bánh, Thủ t­ướng Nêru thân mật và ân cần nói với Bác:

– Chủ tịch hãy cẩn thận, tàu sắp chuyển bánh đó.

Tư­ơi cười và rất hiền hoà, Bác Hồ nói với Thủ t­ướng Nêru:

– Ông bạn thân mến cứ yên tâm, đây là cửa của hoà bình.

Nghe Bác nói, Thủ t­ướng Nêru cười vui vẻ, cảm kích và trả lời Bác:

– Thư­a Chủ tịch, cửa hoà bình luôn luôn rộng mở.

Câu chuyện rất thân mật này diễn ra giữa hai người đứng đầu hai quốc gia, đồng thời cũng là hai người bạn yêu chuộng hoà bình, luôn luôn đấu tranh cho hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc đã làm cho các nhà báo Ấn Độ và nước ngoài có mặt hôm ấy rất chú ý.

Sáng hôm sau các báo lớn của Ấn Độ đăng lại cuộc đối thoại lý thú này và đã tạo dư­ luận rất tốt trong quần chúng. Nhiều báo nhắc lại câu nói của Bác: Đây là cánh cửa hoà bình.

2. TẤM VÁN LÁT ĐƯỜNG

Hôm ấy, một buổi chiều cuối hè 1958. Sau cơn mưa giông ngày hôm trước, trời vén mây cao tít, để lộ ra từng khoảng trời xanh biếc, đôi lúc có những lớp mây trắng bạc bập bềnh đuổi nhau. Đó là một buổi chiều đẹp trời, mát mẻ.

Lúc bấy giờ, khu tập thể của Nhà máy Cơ khí Hà Nội còn nghèo, chưa có nhà ba tầng, đường chưa lát đá như bây giờ. Trận mưa còn để lại những vũng lầy lội. Một chiếc ô tô màu xám nhạt đi rất êm, nhẹ, dừng lại bên hàng rào nứa cạnh chiếc quán lá bán quà sáng cho công nhân. Bác đến! Lúc đó nhiều anh chị em công nhân trông thấy Bác reo ầm lên, đổ xô cả lại. Vẫn bộ kaki bạc màu, đôi dép cao su đen, quai to bản, đế mỏng, Bác nhanh nhẹn bước vào khu tập thể. Anh chị em công nhân theo Bác rất đông, trong đó có một số đồng chí lãnh đạo nhà máy. Khi sắp đến một vũng nước ngay giữa lối đi, đồng chí Thư ký Công đoàn nhà máy vội vàng đi lấy một tấm ván kê vào chỗ lội để Bác bước lên thềm hội trường. Bác xua tay, vén quần và cứ thế lội xuống nước cùng anh chị em công nhân bước lên thềm nhà. Sau đó, Bác dừng lại, quay về phía anh em công nhân, rồi nói với đồng chí Thư ký Công đoàn nhà máy:

– Các chú là người phụ trách, các chú cần phải để ý đến nơi ăn, chốn ở của công nhân hơn nữa. Không phải bắc ván chỉ cốt để Bác đi, mà phải làm sao đường sá được sạch sẽ, để khi anh chị em công nhân đi làm về khỏi phải đi vào chỗ lầy lội, bẩn thỉu…

3. LỜI KHUYÊN CỦA MỘT “LÃO NÔNG”

Tháng 8-1958, với cương vị Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh Nam Định, tôi được cùng các đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo Hội nghị phát động phong trào sản xuất đông xuân họp tại xã Yên Tiến (Ý Yên).

Đúng ngày họp, Bác về thăm. Đồng chí Phan Điền, Bí thư Tỉnh ủy ra tận đường đón Bác. Bác mặc áo bà ba nâu, hồng hào, mạnh khoẻ, tươi cười bước vào hội trường, đi từ dưới lên bắt tay nhiều đại biểu xã, huyện rồi mới bước lên bục nói chuyện.

Bác rút từ túi áo một tờ giấy ghi chép số liệu và nói về tình hình sản xuất trong toàn tỉnh, sự sút kém trong thu hoạch vụ chiêm và mức cấy chưa đạt kế hoạch vụ mùa. Bác phê phán bệnh chủ quan của cán bộ lãnh đạo và khen ngợi ba huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và một số bà con nông dân có nhiều cố gắng trong chăm bón lúa.

Bác dừng lại, nhìn xuống cuối hội trường và nhấn mạnh: Chúng ta làm ruộng, muốn lúa tốt, thu hoạch nhiều, phải hiểu thế nào là “nhất thì, nhì thục”, thế nào là “một nước, hai phân, ba cần, bốn cải tiến kỹ thuật?”. Phải có đủ mạ tốt và cấy đúng thời vụ; phải chăm sóc cây lúa từ lúc còn là cây mạ đến lúc thu hoạch, bón đủ phân và có đủ nước, thường xuyên chống sâu, chuột. Lời nói của Bác như lời khuyên của một cụ “lão nông tri điền”, vừa gần gũi vừa thiết thực. Bác quay lại nhắc các đồng chí trong Tỉnh ủy phải đi sát nông thôn, trực tiếp giúp đỡ và lãnh đạo sản xuất, đẩy mạnh phong trào thi đua trong toàn tỉnh.

Trước khi ra về, Bác vào thăm một số gia đình nông dân và ra thăm cánh đồng xã Yên Tiến. Bác ngồi xuống bờ một thửa ruộng, dùng gang tay mình đo khoảng cách giữa 2 khóm lúa. Bác tỏ ra rất vui khi thấy lúa tốt và khen “cấy dầy vừa phải”.

Lần về thăm của Bác rất ngắn nhưng đã thôi thúc chúng tôi rất nhiều. Sau đó, cả Tỉnh ủy phân công nhau đi sâu xuống từng huyện, từng xã, dành thì giờ cùng nhân dân bàn việc làm phân xanh, đốn đốc việc cấy kịp thời vụ, chăm sóc lúa mùa và chuẩn bị vụ đông xuân.

4. BÁC HỒ VỚI DÂN TỘC PHÙ LÁ

Tháng 8-1958, tôi (Phàn Phí Giá) được cử trong đoàn đại biểu nhân dân các dân tộc Tây Bắc đi dự lễ Quốc khánh ở Thủ đô Hà Nội. Tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì sẽ được gặp Bác Hồ, được tham quan Thủ đô, sẽ được thấy nhiều cái mới lạ; lo vì người Phù Lá chưa đi đâu hết Châu Mường Tè bao giờ mà nay lại đi đến tận đâu đâu… Tôi đi bộ thật nhanh, năm ngày về đến Lai Châu, được ngồi ô tô về khu, về Hà Nội. Sau đó, lại được ngồi ô tô về xem các thành phố Hải Phòng, Nam Định… Đến đâu chúng tôi cũng được đón tiếp niềm nở, được biết nhiều cái mới lạ mà trong đời mình chưa được thấy bao giờ. Sáng ngày thứ bảy, chúng tôi được tin là sắp được lên gặp Hồ Chủ tịch. Cả đoàn phấn khởi. Riêng tôi, tuy phấn khởi nhưng lại rất lo không biết mình sẽ phải làm gì. Tôi bồn chồn gặp các anh em đã từng đi Hà Nội, đã được gặp Bác để hỏi xem cách chào hỏi, đi đứng như thế nào.

Sáng hôm ấy, Đoàn đại biểu Tây Bắc ai cũng ăn mặc rất đẹp, rồi lên ô tô đến Phủ Chủ tịch, và được dẫn vào phòng họp, ngồi vừa yên chỗ thì Bác đến. Mọi người chào. Bác giơ tay chào lại rồi ai nấy ngồi vào ghế. Bác hỏi đến dân tộc nào thì đại biểu dân tộc ấy đứng lên cho Bác thấy. Các dân tộc khác đều có hai hoặc ba đại biểu, riêng dân tộc Phù Lá thì chỉ có mình tôi. Tôi chưa biết tiếng phổ thông nên phải nhờ người dịch ra tiếng Quan Hoả mới hiểu được. Bác hỏi thăm sức khoẻ các đại biểu. Ăn ngủ ra sao? Bác khen Đoàn có nhiều đại biểu các dân tộc, nhưng lại phê bình là Đoàn ít đại biểu nữ quá… Bác hỏi thăm tình hình sức khoẻ, làm ăn, đoàn kết, trị an của các dân tộc anh em, Bác nói đại ý: Các dân tộc dù ít người dù nhiều người đều là anh em bình đẳng như nhau. Ngày xưa các dân tộc ít người bị thiệt thòi nhiều nhất, bây giờ cần cố gắng để tiến kịp các dân tộc anh em để được sống ấm no hạnh phúc, cần học văn hoá và tham gia các mặt công tác”.

Nói chuyện một lúc rồi Bác mời mọi người ăn kẹo, uống trà, phòng họp thật vui vẻ. Tôi ngồi im khoanh tay, không dám nhìn thẳng vào Bác, cũng không dám ăn uống gì. Bỗng có bàn tay khẽ vỗ vào vai tôi. Tôi ngẩng lên, bàng hoàng cả người: Bác Hồ! Chính Bác đang đứng sát bên tôi. Bác mỉm cười gật đầu hiền từ, thân mật khiến tôi bình tĩnh trở lại. Bác cầm tay tôi, chỉ vào phần chuối, kẹo vẫn còn nguyên vẹn trước mặt, Bác đưa tay làm hiệu, bày cách cho tôi ăn và bỏ cả kẹo vào túi tôi. Trước cử chỉ ân cần của Bác, tôi xúc động và chỉ biết làm theo.

Trước lúc chia tay, Bác ân cần chúc các đại biểu khoẻ mạnh, Bác dặn các đại biểu về địa phương phải nói lại với bà con những điều mắt thấy tai nghe trong dịp về thăm Thủ đô. Bác nhờ các đại biểu chuyển lời Bác hỏi thăm đồng bào các dân tộc, hỏi thăm các cụ già, các chị em phụ nữ và cả các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng.

Khi Bác ở phòng họp sắp ra, một đại biểu nói: được gặp Bác thì mừng; xa Bác về địa phương lại nhớ Bác”. Bác cười “… Nhớ Bác thì nhớ lời Bác dặn các dân tộc phải thật sự đoàn kết giúp nhau tiến bộ, phải chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ…”

Sau ngày được gặp Bác, đoàn chúng tôi trở về địa phương, đem theo nhiều điều mới lạ. Về đến nhà, tôi kể chuyện được gặp Bác và chia quà của Bác cho mọi người thân thuộc. Hôm ấy, nghe kể chuyện Bác Hồ, chuyện tham quan Thủ đô và miền xuôi, gia đình tôi và bà con ai cũng vui như tết. Sau đó, tôi có dịp đi báo cáo cho bà con người Phù Lá mọi chuyện về Bác Hồ. Tôi nhớ kỹ lời Bác dặn, nhắc lại rành rọt lời Bác gửi thăm hỏi mọi người và căn dặn các dân tộc ít người hay nhiều người cũng bình đẳng như nhau, đều là anh em một nhà, phải đoàn kết giúp đỡ nhau, sao cho các dân tộc đều được ấm no, học hành tiến bộ.

5. CON ĐƯỜNG TUỔI TRẺ

Chủ nhật ngày 16-10-1958, 100 học sinh các trường Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Trưng Vương và Nguyễn Huệ đang lao động xây dựng mở rộng đường Cổ Ngư thì Bác đến.

Hồ Chủ tịch nói: “Hôm nay, Bác đến thăm các cháu tham gia lao động xây dựng Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Bác rất vui mừng thấy ở đây có các cháu nam, nữ, các cháu miền Bắc, miền Nam đều khoẻ mạnh, hăng hái lao động, như thế là tốt…”

Bác dặn dò học sinh các trường thi đua nhau cùng làm tốt, phát huy sáng kiến tăng năng suất lao động… Bác sẽ đổi tên con đường này là đường Thanh niên.

Quan tâm tới công trường của tuổi trẻ thủ đô, ngày 6-6-1959, Hồ Chủ tịch lại đến thăm lần thứ hai giữa lúc học sinh nghỉ hè, tham gia lao động rất đông. Con đường hoàn thành, ngày 5-2-1961, Người đến trồng cây ở vườn hoa đường Thanh niên.

Được vinh dự tham gia trồng cây với Người có các đại biểu về dự Đại hội Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam Thành phố Hà Nội.

Nhân dịp này, Hồ Chủ tịch đã nói chuyện về lợi ích việc trồng cây: “Nếu mỗi thanh niên một năm trồng ba cây và chăm sóc thật tốt, 8 triệu thanh niên miền Bắc sẽ trồng được 24 triệu cây, 5 năm sẽ trồng 120 triệu cây. Nếu đem trồng số cây ấy trên đường nối liền Hà Nội – Mạc Tư Khoa thì con đường chủ nghĩa xã hội lên chủ nghĩa cộng sản càng xanh tươi”.

6. ĐỒNG BÀO THÁI BÌNH TĂNG GIA THÌ KHÁ NHƯNG TIẾT KIỆM THÌ PHẢI ĐÁNH DẤU HỎI

Cuối thu năm 1958, Thái Bình thu hoạch một vụ mùa thắng lợi. Bác biết tin và nói với đồng chí Giang Đức Tuệ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Thái Bình: “Bác sẽ về thăm đồng bào Thái Bình, nhưng các chú không nên làm cái gì phiền toái cho đồng bào vì đi lại đường xa, tàu xe không có”.

Ngày 26-10-1958, Thái Bình được đón Bác Hồ lần thứ ba. Sau khi làm việc với các đồng chí lãnh đạo của tỉnh, gần 11 giờ trưa Bác ra sân vận động nói chuyện với bốn vạn đại biểu của nhân dân. Bác nói: “Trong kháng chiến, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân là đánh giặc thực dân, nhờ có sự đoàn kết nhất trí chúng ta đã thắng. Hiện nay nhiệm vụ toàn Đảng, toàn dân là tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, hai cái đó phải đi đôi, nếu không thì làm được chừng nào thì sài hết chừng ấy. Đồng bào Thái Bình tăng gia thì khá nhưng còn tiết kiệm thì phải đánh dấu hỏi. Đồng bào đã tiết kiệm chưa?”. Mọi người cùng trả lời: “Chưa ạ!”… Bác tin đồng bào, cán bộ có thể làm được những điều hứa với Bác. Trong vụ mùa này và vụ chiêm tới, đơn vị nào khá nhất huyện, huyện nào khá nhất tỉnh, sẽ có giải thưởng. Ai muốn có giải thưởng giơ tay!

Mọi người đều giơ tay. Và Bác bắt nhịp bài hát Kết đoàn.

7. VƯỜN RAU AO CÁ CỦA BÁC

Dưới những vòm cây xanh phía sau Phủ Chủ tịch là một mái nhà sàn nho nhỏ, xinh xắn. Dòng người vào thăm lặng đi trong bồi hồi, xúc động. Căn phòng thanh bạch đơn sơ, thoảng mùi hương vườn. Tất cả như nói với đồng bào xa gần rằng Bác vừa đi công tác đâu xa, nhưng Người cũng còn kịp ra ao vỗ gọi cho đàn cá lên ăn. Nhìn đàn cá chen nhau tìm mồi, cạnh đó là vườn rau tươi tốt, dễ gợi cho mọi người nhớ về những ngày Bác sống ở chiến khu Việt Bắc.

Cuộc sống ở Việt Bắc khó khăn gian khổ nhiều. Tuy vậy dù bận đến đâu Bác cũng không quên nhắc nhở, động viên các cán bộ tích cực tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống, giảm bớt khó khăn. Ngày ngày, sau giờ làm việc lại thấy Bác đi tăng gia. Quanh khu vực Bác ở, mấy luống rau xanh, vài hốc bầu bí mọc lên là niềm vui, nguồn thúc đẩy anh em cùng làm theo Bác. Rau của Bác và các đồng chí cán bộ trồng tốt, nhiều khi ăn không hết, Bác lại nhắc đem sang tặng các cơ quan bên cạnh.

Khi về sống giữa Thủ đô, Bác vẫn giữ nếp quen lao động.

Năm đầu mới hoà bình có biết bao công việc bận rộn, nhưng Bác vẫn tranh thủ thời gian để tăng gia. Khu vườn trong Phủ Chủ tịch, lúc đầu, ngoài những chỗ trồng cây cũ còn có những khoảng đất bỏ trống, cỏ mọc um tùm. Thấy vậy, Bác bảo các đồng chí cán bộ:

– Bác cháu ta nên tổ chức khai hoang để lấy đất trồng rau ăn và trồng hoa cho đẹp.

Nghe lời Bác, buổi chiều nào mấy Bác cháu cũng vác cuốc ra vườn. Một thời gian sau, thay cho những đám cỏ hoang trước kia là những luống rau bắp cải, su hào xanh tươi mơn mởn. Trước ngôi nhà ở đã thấy các loại hoa khoe sắc, toả hương thơm ngào ngạt, trông thật vui mắt.

Cạnh nhà Bác ở còn có một ao tù cạn nước. Một lần, sau khi đi tưới rau về, Bác chỉ xuống ao vui vẻ bảo:

– Các chú sửa cái ao cạn này đi để nuôi cá thì rất tốt.

Theo ý Bác, mấy hôm sau các đồng chí cảnh vệ đã bắt tay vào sửa ao. Hàng ngày Bác thường ra động viên mọi người làm việc, Bác còn đem cả thuốc lá ra đưa tận tay cho từng người.

Công việc gần xong, Bác bảo:

– Ao đào sâu thế này Bác cháu ta sẽ thả được nhiều loại cá, như thế là tận dụng được thức ăn, không phí. Còn ở quanh ao, các chú thấy nên trồng cây gì cho đẹp?

Mọi người bàn tán sôi nổi. Người thì nêu ý kiến nên trồng hoa, người lại bàn trồng dừa, có người lại bảo trồng chuối… Mỗi người một ý. Nghe xong, Bác ôn tồn nói:

– Ý các chú đều hay cả, nhưng theo Bác thì ở xung quanh ta nên trồng râm bụt, cạnh bậc lên xuống ao trồng dừa, Bác cháu ta lại nhớ đến miền Nam.
Một thời gian sau, dừa và râm bụt đã lên xanh. Dưới ao, từng đàn cá bơi lội tung tăng. Chiều chiều, sau giờ làm việc, Bác ra ao cho cá ăn. Sau tiếng vỗ tay nhè nhẹ của Bác, cá nổi lên tranh nhau đớp mồi.

Cá trong ao được Bác chăm sóc rất chóng lớn. Hàng năm cứ đến dịp Tết hoặc ngày lễ, Bác lại nhắc đánh cá để cho anh em cải thiện.

Đến thăm nhà Bác, đứng trước ngôi nhà, lòng ta bồi hồi xúc động bao nhiêu thì khi ra thăm vườn cây ao cá, thấy rau xanh tốt, cá trong ao vẫn sinh sôi nảy nở, từng đàn cá nổi đặc trên mặt ao đòi ăn rất đúng giờ, ta thấy vui vui. Và chính từ nơi đây, những chú cá xinh xinh ở ao Bác Hồ đã và đang được nhân ra trên khắp mọi miền của Tổ quốc thân yêu.

8. NGƯỜI HAI LẦN ĐƯỢC MAY ÁO CHO BÁC HỒ

Ngày 8-1-1959, Xưởng May 10 (lúc đó thuộc Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần) vinh dự được đón Bác Hồ về thăm.

Năm đó, Bác đã 69 tuổi nhưng đi lại vẫn nhanh nhẹn. Bác lần lượt đi thăm từng phân xưởng. Chúng tôi rất xúc động khi thấy chiếc áo ka ki đã bạc màu, sờn tay Bác vẫn mặc từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Không ai bảo ai, mọi người có mặt trong buổi đón Bác về thăm đều mong muốn được may biếu vị lãnh tụ kính yêu bộ quần áo.

Một cán bộ Xưởng May 10 đem ngay ý tưởng đó trao đổi với đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác. Suy nghĩ giây lát, anh Kỳ nói: “Bác sắp đi thăm Inđônêxia nhưng quần áo của Bác đã cũ hết cả rồi. Các cậu có thể may biếu Bác một bộ. Ngày mai tôi sẽ đưa bộ quần áo của Bác xuống làm mẫu nhưng với điều kiện là phải… hết sức bí mật. Đường kim mũi chỉ quần áo cũ của Bác thế nào, dù cong hay thẳng thì các cậu cứ may y như thế. Và phải làm sao cho vải cũ như màu quần áo của Bác. Nếu phát hiện thấy áo khác đi, áo mới may là “ông Cụ” không dùng đâu”.

Ngay hôm sau, nhận được bộ quần áo mẫu, anh chị em Xưởng May 10 lập tức bắt tay vào việc. Xưởng cử người sang X20 (cửa hàng may đo lúc đó ở Cửa Đông) lấy vải ka ki Trung Quốc, màu sắc vải tương tự màu áo của Bác. Nhóm 3 người thợ lành nghề gồm: Trần Văn Quảng, Nguyễn Công Thái và Phạm Huy Tăng được giao nhiệm vụ may bộ quần áo này. Để làm cho vải cũ đi, họ thay nhau giặt xà phòng đến vài ba chục lần, giặt xong dùng bàn là là khô. Khi hai mẫu vải giống nhau, các anh mới đem cắt may. Điều khó là khi đo cắt vải mới nhưng lại không được tháo rời bộ quần áo mẫu. Những người thợ bèn cắt theo phương pháp quy vuông: Trải vải mới chồng lên bộ cũ.

Đặc điểm bộ quần áo của Bác là đường may bị lệch và thân quần một bên to một bên bé, phải cắt làm sao khắc phục nhược điểm trên nhưng thật khéo léo để Bác không nhận ra. Cuối cùng, sau khi cắt rất nhiều mẫu, các anh chọn lấy hai mẫu giống nhất để may. Sau hơn một tháng, áo may xong, Xưởng lập tức gửi ngay cho đồng chí Vũ Kỳ và gửi thêm một bộ mới nữa.

Đồng chí Cù Văn Chước, người phục vụ Bác, sau này là Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh lấy một bộ để lên chiếc bàn nhỏ kê ở góc nhà sàn. Hôm ấy sau khi Bác ăn cơm chưa về, đồng chí Chước thưa với Bác: “Anh chị em công nhân Xưởng May 10 tiết kiệm được vải, may biếu Bác bộ quần áo với tất cả tấm lòng thành, mong Bác vui lòng nhận cho”.

Bác Hồ cầm lên xem và khen may đẹp. Sau đó, Bác đánh máy bức thư gửi cán bộ, nhân viên Xưởng May 10, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần “… Cảm ơn các cô, các chú đã biếu Bác bộ áo. Bác nhận rồi, nay Bác gửi bộ áo ấy làm giải thưởng cho một đợt thi đua. Khi nào đợt thi đua kết thúc, ai khá nhất thì được giải thưởng ấy”.

Nhận thư Bác, một phong trào thi đua mới lập tức sôi nổi trong toàn xưởng may. Anh chị em nào cũng quyết tâm lập thêm thành tích để đền đáp lại tình cảm của Bác. Ngày ấy, mẹ mang con đứng dưới bàn may. Ngày nghỉ, nhiều công nhân trốn lãnh đạo, trèo tường vào nhà máy để sản xuất, thực hiện khẩu hiệu “Ngày không giờ, tuần không thứ”…

Mọi người rất vui mừng vì Bác nhận một bộ áo song rất băn khoăn không biết Bác có mặc được không? Mấy hôm sau anh Vũ Kỳ cho biết, nhiều lần các đồng chí phục vụ đề nghị Người dùng bộ áo mới nhưng Bác đều từ chối. Cho đến dịp đi thăm Inđônêxia, áo của Bác bị đứt cúc. Lúc đó anh Vũ Kỳ mới đưa bộ áo mới của Xưởng May 10 biếu Bác, đề nghị Bác mặc với lý do “quên” không mang theo kim chỉ nên không đính lại cúc áo được. Bác cười và bảo: “Thế là chú cố ép Bác mặc áo mới nhưng chú nên nhớ rằng, mình phải biết tiết kiệm, dân mình đang còn nghèo lắm”.

Ngày 2-9-1969, tôi và anh Quảng là người được may bộ quần áo cuối cùng cho Bác. Ngay sau khi Bác từ trần, đồng chí Trường Chinh được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ may quần áo cho Người. Ngày đó, những hiệu may nổi tiếng nhất Hà Nội cùng được nhận sứ mạng lịch sử này. Song tất cả các sản phẩm đều không được phê duyệt do dùng vải quá sang, không hợp với đức tính giản dị của Bác. Sau khi cân nhắc, nhiệm vụ này được giao cho Xí nghiệp May 10. Tôi và anh Quảng lại được chọn thực hiện việc may áo để Bác mặc trong Lăng. Chúng tôi đã thức trắng đêm, vừa làm vừa khóc vì thương nhớ Bác. Hai ngày sau, công việc hoàn thành.

Chuyên gia Liên Xô và các cán bộ khoa học kỹ thuật chịu trách nhiệm gìn giữ thi hài Bác đã kiểm tra hết sức cẩn thận từng đường kim mũi chỉ, từng sợi vải bằng nhiều loại máy móc hiện đại. Mọi thông số kỹ thuật đều đạt yêu cầu. Sản phẩm đã được Bộ Chính trị phê duyệt.

9. BỮA CƠM TRÊN TÀU VỚI BÁC

Cuối tháng 3-1959, lần đầu Bác Hồ cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng và các đồng chí ở Trung ương về thăm quân chủng Hải quân đi thăm biển, các đảo thuộc vùng biển tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng. Nhiệm vụ đưa đón Bác và các đồng chí đại biểu, cấp trên tin tưởng giao cho cán bộ, chiến sỹ tàu 524. Lúc đó, không riêng gì tôi (Trần Bạch) mà tất cả cán bộ, chiến sĩ tàu 524 đều cảm thấy vinh dự và tự hào.

Hôm Bác đi thăm đảo Tuần Châu xong, Bác trở về tàu 524, đồng chí Tư Tường bàn với anh em trên tàu là sẽ mời Bác, đồng chí Nguyễn Lương Bằng và các đồng chí cùng đi ở lại ăn cơm với cán bộ, chiến sỹ trên tàu. Sau khi anh Tư Tường báo cáo nguyện vọng của anh em với Bác, Bác vui vẻ nhận lời và bảo: Để Bác xem các chú nấu ăn có giỏi không?

Hôm đó tàu cử đồng chí Hiên là người khéo tay nhất làm bếp và trực tiếp nấu nướng. Tôi và các đồng chí cùng tham gia mỗi người một việc, từ vo gạo, nhặt rau… Ai nấy đều rất vui và chăm chú làm việc như muốn góp phần công sức của mình vào bữa ăn “chiêu đãi Bác”. Trong lúc anh em đang loay hoay nấu nướng thì Bác xuống bếp. Nhìn quanh một lượt, Bác khen bếp sạch, ngăn nắp. Bác đang xem ngăn để gia vị, hành tỏi, chợt quay lại bảo với Hiên:

– Chú nấu cơm khê rồi! Anh Tư Tường cũng quay lại. Hiên vội bớt lửa, rồi mở vung nồi ra kiểm tra. Khi đó anh em mới ngửi thấy mùi cơm khê. Anh Tư Tường và anh em trên tàu rất áy náy về việc nồi cơm bị khê. Tất cả không ai nói một lời và cảm thấy như mình có lỗi với Bác. Trong lúc mọi người chưa biết xử lý thế nào thì Bác bảo: Chắc các chú đói rồi, cơm hơi khê, không việc gì, ta ăn thôi.

Bác nói với giọng dịu dàng, khoan dung, làm xua tan đi nỗi băn khoăn, lo lắng của mọi người. Nghe theo lời Bác, mọi người vui vẻ cùng ngồi vào bàn ăn.

Lúc đó tôi không nghĩ mình được vinh dự ngồi ăn cơm với Bác. Khi nghe anh Tư Tường bảo: “Bạch lên cùng ăn cơm với Bác”, tôi xúc động không nói nên lời. Ngoài tôi ra còn có Trung sĩ Bùi Văn Đào là lính tín hiệu.

Hôm ấy danh nghĩa là tàu mời cơm Bác nhưng cũng chỉ có món thịt gà luộc, lòng gà xào miến và nước luộc gà nấu miến làm canh. Còn bàn ăn thì kê ngay ở mạn phải đuôi tàu. Bác ngồi ở phía ngoài, sát với cọc lan can. Nhìn Bác vui vẻ ăn, chúng tôi mới đỡ lo. Lúc đang ăn, Bác gọi xuống bếp: Thức ăn của ta đã nấu xong chưa hả chú? Đồng chí phục vụ trả lời: Thưa Bác xong rồi ạ! Mang lên đây góp cùng ăn với Hải quân. Đồng chí phục vụ Bác bê lên một đĩa bốn con cá rô phi rán. Nhìn đĩa cá, Bác bảo: ở giữa biển, Bác mời các chú ăn cá.

Sau này chúng tôi được biết bốn con cá rô phi là của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh biếu Bác, Bác dành cho bữa ăn với anh em ở tàu. Suy ngẫm về câu nói của Bác mới hay, phải chăng Bác muốn nhắc nhở sống ở khu vực có biển phải biết giăng lưới, thả câu bắt cá để cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Ấn tượng sâu sắc nhất đối với anh em trên tàu về bữa ăn hôm đó là khi sẻ thức ăn cho từng người, Bác bảo: Các chú ăn cơm với Bác hoặc ăn cơm phải ăn hết thức ăn, không được để thừa, thừa đổ đi thì lãng phí, để người khác ăn thừa của mình thì không được.

10. BÁC HỒ TỚI THĂM CÁC CHÁU ĐÓ!

Ngày 31-5-1959, Bác Hồ ra thăm đảo Cát Bà, vào một xóm chài. Một đoàn thuyền đi đánh cá đêm về vừa cập bến, cá trắng đầy khoang. Bác dừng lại giơ tay chào bà con rồi quay lại bảo đồng chí Bí thư Huyện ủy Cát Bà đi sau:

– Trời sa mù thường hay lắm cá.

– Vâng ạ.

– Mùa này thường nhiều cá đẻ phải không chú?

– Vâng ạ.

– Ở đây đã có thuyền lắp máy để đánh cá chưa?

– Dạ thưa Bác, chưa có ạ.

Bác nói:

– Rồi đây phải đưa máy móc vào nghề cá. Đảng và Chính phủ sẽ giúp đỡ bà con sắm thêm thuyền lưới tốt hơn.

Bác vào một gia đình đánh cá ở đầu xóm. Người lớn đi vắng cả, chỉ có một em gái nhỏ đang ngồi nấu cơm. Bác hỏi em nhỏ:

– Bố mẹ cháu đi đâu?

Em bé đứng dậy, lễ phép thưa:

– Bố cháu đi đánh cá, mẹ cháu ra chợ ạ.

Em bé ngước nhìn ảnh Bác Hồ treo trên vách rồi nhìn Bác, lại nhìn tấm ảnh, rồi lại quay nhìn Bác. Chợt mắt em sáng lên, em chạy lại gần Bác và reo lên:

– Bác Hồ!

Đồng chí Bí thư Huyện ủy nói:

– Bác Hồ tới thăm gia đình cháu đó!

Bác ôm lấy em nhỏ, chỉ bếp lửa, quay lại nói với một đồng chí đi theo.

– Nồi cơm đang sôi, chú ra ghế giúp cháu bé kẻo khê.

Bác vừa cho em nhỏ kẹo vừa hỏi:

– Cháu mấy tuổi?

– Thưa Bác, cháu lên tám ạ.

Bác mỉm cười khen:

– Tám tuổi mà đã thổi được cơm giúp đỡ cha mẹ là ngoan.
Một thanh niên mình trần, da lấm tấm nước biển bước nhanh vào nhà. Thuyền anh vừa đến bến, nghe bà con nói Bác Hồ tới thăm gia đình anh, anh chạy vội về. Thấy Bác, anh đứng lại chào:

– Kính Bác ạ.

Rồi anh định với lấy cái áo treo trên vách mặc vào người. Bác biết ý, nắm lấy vai anh ngăn lại:

– Chú cứ đứng đây! – Bác ngắm khổ người vạm vỡ của anh thanh niên – Dân đánh cá phải mạnh khoẻ như chú hoặc hơn nữa mới được. Chú vào hợp tác xã có thấy dễ chịu hơn làm ăn riêng lẻ không?

– Dạ thưa Bác, vào Hợp tác xã dễ chịu hơn ở ngoài ạ.

– Dễ chịu thế nào, chú nói nghe thử?

– Thưa Bác, bây giờ đi đánh cá có đoàn, có đội, gặp nguy hiểm có sức mà chống đỡ. Ngày nào cũng có cơm ăn no, vợ chồng con cái được học hành…
Bác gật đầu, rồi cúi xuống hỏi em bé:

– Cháu học lớp mấy rồi?

– Cháu học lớp hai ạ.

Bác tỏ vẻ hài lòng và bảo đồng chí đi theo lấy cho cháu một tờ Báo ảnh Việt Nam còn thơm mùi giấy và mực in, Bác đã đem từ Hà Nội ra đảo với ý định làm quà cho bà con ngoài này. Bác vỗ vai anh thanh niên:

– Thôi chú sửa soạn ăn cơm kẻo đói. Những chuyến sau đi biển cố đánh cho thật nhiều cá.

bqllang.gov.vn

Những câu chuyện kể về Bác Hồ – Kỳ 2

11. BÁC HỒ TRONG LÒNG ĐỒNG BÀO TÂY BẮC

Sau khi kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Bác Hồ đã dành thời gian lên thăm nhân dân các dân tộc Tây Bắc. Ngày 7-5-1959, đồng bào các dân tộc Tây Bắc được đón Bác về thăm tại Thuận Châu, thủ phủ của khu Tây Bắc. Được tin Bác Hồ lên thăm, đồng bào các dân tộc ở quanh khu vực Thuận Châu, huyện Tuần Giáo (tỉnh Lai Châu) và đồng bào từ các bản xa không quản đèo dốc mang theo quà, cờ hoa nô nức đi đón Bác. Tại sân vận động huyện Thuận Châu, gần 10.000 đồng bào, đại diện cho hơn 430.000 nhân dân các dân tộc Tây Bắc lúc bấy giờ đến dự cuộc mít tinh kỷ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và đón Bác Hồ.

Khi Bác và Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ tiến vào lễ đài, tiếng hô: “Pú Hồ, Pú Hồ xen pi” (Hồ Chủ tịch muôn năm), từng đợt, từng đợt vang lên. Bác Hồ giơ tay vẫy chào thân thiết và ra hiệu cho mọi người im lặng. Cả rừng người im phăng phắc, lắng tai nghe. Bác khen ngợi bộ đội, cán bộ và đồng bào Tây Bắc đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống phong kiến, truy quét thổ phỉ cũng như trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước. Bác nói: Ngày trước, đồng bào bị giặc Tây áp bức, bây giờ, không còn giặc Tây nữa. Ngày trước, nhân dân không có ruộng, bây giờ, nhờ có Đảng và Chính phủ, nhân dân có ruộng, như thế là đời sống đồng bào có phần sung sướng. Bác mong muốn đồng bào các dân tộc đoàn kết giúp nhau tăng gia sản xuất, đuổi giặc đói, giặc dốt, đoàn kết bảo vệ bản làng, cán bộ, bộ đội, nhân dân phải đoàn kết chặt chẽ. Nếu đế quốc Mỹ muốn xâm lược nước ta, ta sẽ đánh vào đầu nó.

Bác trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất của Đảng và Nhà nước thưởng cho đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Người ân cần căn dặn: “Đồng bào, bộ đội, cán bộ Tây Bắc cần ra sức thi đua sản xuất và tiết kiệm, đưa Tây Bắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cho đời sống ngày càng ấm no và vui tươi hơn nữa”. Khi nói xong, Bác hỏi một câu bằng tiếng Thái: Pi noọng hụ báu (Đồng bào có hiểu không?). Một phút ngỡ ngàng, rồi chợt hiểu ra, cả rừng người sôi động: “Thưa Bác, hiểu ạ”. Nhiều người chưa kịp trả lời, nghẹn giọng xúc động, nhiều cụ già, em nhỏ thấm vội những giọt nước mắt sung sướng trước sự quan tâm sâu sắc của Bác. Cuộc mít tinh biến thành cuộc diễu hành, biểu dương lực lượng đại diện các giới, các đoàn thể tiến qua lễ đài. Ai cũng hướng về Bác để được khắc sâu hơn hình ảnh Người. Bác lưu luyến vẫy tay chào.

Sáng ngày 8-5-1959, Bác đến Yên Châu. Hơn 2.000 đồng bào, cán bộ, chiến sĩ huyện Yên Châu tổ chức mít tinh đón Bác và đoàn đại biểu Chính phủ tại bản Khoóng, xã Chiếng An. Khi Bác đến, mọi người cùng hướng về phía Bác, những tràng vỗ tay không ngớt, sung sướng trào nước mắt. Phong cách giản dị, lời nói ấm áp của lãnh tụ, thân thiết, gần gũi như ruột thịt đã chinh phục tình cảm của đồng bào. Người khuyên: “Đồng bào châu nhà kháng chiến anh dũng. Bây giờ hoà bình rồi, cũng vẫn phải anh dũng. Anh dũng trong mọi mặt. Trong kháng chiến anh dũng giết Tây, đuổi giặc, bây giờ anh dũng sản xuất, xoá nạn mù chữ…”.

Bác dặn dò cán bộ: “Cán bộ từ trên xuống dưới, từ Bác đến cán bộ xã đều là đầy tớ của nhân dân, không phải là vua, là quan như ngày trước mà đè đầu, cưỡi cổ nhân dân. Tức là, cán bộ phải chăm sóc đời sống của nhân dân, phải giúp nhân dân tổ chức được đời sống, hợp tác xã, dân quân. Cán bộ phải đến tận nơi giúp đỡ, bao giờ các tổ chức đó thật vững mới thôi”. Bác còn hỏi nhiều về sản xuất và hướng dẫn đồng bào áp dụng cải tiến kỹ thuật, làm thủy lợi, làm phân bón ruộng… một cách cụ thể, dễ hiểu. Thể hiện tấm lòng kính yêu với Bác, đồng bào Yên Châu kính tặng Bác chiếc khèn. Trước mọi người, Bác đưa chiếc khèn lên thổi. Tấm ảnh Bác thổi khèn được lưu giữ tại kho tư liệu ảnh của Thông tấn xã Việt Nam hiện nay chính là tấm hình ghi lại tấm lòng Bác Hồ với đồng bào Tây Bắc, đồng bào Yên Châu.

Từ Yên Châu, Bác đến thăm nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu. Niềm vui, nỗi hồi hộp xen lẫn, ai cũng muốn được thấy Bác đầu tiên, ai cũng muốn gần Bác nhất để được ngắm, được thỏa lòng mong ước bấy lâu. Bác vẫy tay chào, Bác hôn các cháu thiếu nhi. Bác thăm hỏi sức khoẻ, đời sống sản xuất của đồng bào, của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 335 đóng trên Mộc Châu. Rồi Bác thăm Nông trường Mộc Châu. Ngày Bác về thăm Mộc Châu cũng là ngày đầu tiên thành lập Nông trường Mộc Châu.

Tròn 40 năm qua, từ mảnh đất này, Nông trường chè Mộc Châu, Nông trường bò sữa Mộc Châu hôm nay đang từng ngày lớn mạnh, ở cái tuổi 40 chín chắn, vững vàng trong cơ chế thị trường, là những doanh nghiệp làm ăn phát đạt ở Sơn La. Đó cũng chính là biểu hiện tình cảm của nhân dân các dân tộc Tây Bắc thực hiện lời dạy của Bác, đoàn kết một lòng, chung thủy xây dựng mảnh đất Tây Bắc ngày một giàu đẹp.

12. HẠNH PHÚC LỚN LAO NHẤT CỦA ĐỜI TÔI

Ngày tạm biệt miền Nam lên đường tập kết ra Bắc, bà con, cô bác giao cho tôi (Ngô Thị Liễu) một nhiệm vụ, đơn giản mà rất thiêng liêng : “Có gặp Bác Hồ thì thưa giùm với Bác rằng bà con trong này ngày đêm trông Bác về thăm!” Tuy gật đầu lia lịa sẵn sàng nhận lời, nhưng tôi vẫn thầm nhủ rằng không dễ gì có được vinh dự ấy. Vậy mà tôi lại được gặp Bác vào cuối năm 1954, khi đoàn Tuồng Khu Năm được vào Phủ Chủ tịch diễn Tuồng chị Ngộ. Anh chị em trong đoàn ai cùng náo nức bồn chồn, nguyện mang hết sức mình diễn cho Trung ương xem. Đứng trên sân khấu, tôi lách nhẹ tấm màn nhung, nhìn ra qua kẽ hở: Bác Hồ! Đó, Bác ngồi đó! Bận quần áo nâu giản dị, ung dung thanh thản, hiền cách chi là hiền! Tôi tưởng như thủa nào mình đương đóng vai nường Xuân Hương mà gặp được tiên ông ban phép thần để có sức mạnh xua tan quân giặc. Rồi chẳng hiểu sao, tôi thấy rào rào trong tim mạch và nước mắt trào ra lúc nào tôi đâu có biết!

Khi diễn, lớp chị Ngộ bị giặc bắt buộc phải ôm đầu anh Tài quăng xuống cống, tôi nhìn thấy Bác chống tay lên cằm nghiêng đầu cúi xuống. Tôi lo lo. Đến khi buông màn kết thúc, khi Bác nắm tay chúng tôi động viên, cổ vũ, đồng chí Trường Chinh mới cho biết là xem lớp đó, Bác nói với đồng chí ngồi bên rằng: “Thấy giặc quăng đầu đồng chí mình như vậy, Bác đau nhói trong tim, chịu không nổi!”. Lời Bác nói đã làm chúng tôi giật mình nhìn kỹ lại, khiến ai cũng ghê sợ lớp tuồng đó. Bác đã thức dạy trong chúng tôi, đã dạy chúng tôi một cảm xúc thẩm mỹ mới. Từ ấy không ai có thể diễn nổi lớp đó nữa, và cũng từ ấy lớp đó bị cắt bỏ.

Qua năm 1959, chúng tôi lại được Bác gọi lên lần nữa. Lần này ông Tảo và tôi diễn lớp Trại Ba níu chồng là Địch Thanh. Theo lời đồng chí Lê Văn Hiến kể lại thì Bác thích lớp tuồng này lắm. Diễn xong, tôi được nắm tay Bác và được nghe lời Bác dạy. Tôi quên sao được cái nhìn trìu mến như cha nhìn con, tiếng nói đượm hơi ấm tình thương của Bác: “Hay lắm! Nghệ thuật của cha ông để lại hay lắm. Phải giữ cho được, nhưng chớ gieo vừng ra ngô!”

13. CÂU CHUYỆN XÂY DỰNG HỘI TRƯỜNG

Trước năm 1960, Ban Bí thư quyết định làm một hội trường lớn ở khu Quần Ngựa và đã di chuyển cơ sở quân sự ở đó đi nơi khác. Lý do là vào thời kỳ đó, Liên Xô làm Cung Đại hội, Trung Quốc xây dựng nhà Quốc hội, vì thế nước ta đã gấp rút thành lập Ban Chỉ huy xây dựng hội trường do đồng chí Trần Quý Hai, Phó Tổng Tham mưu trưởng làm chỉ huy trưởng. Chúng ta cũng đã chi một số tiền lớn vào công việc xây dựng.

Các đồng chí trong Ban Bí thư xem đây là việc nhỏ nên đã không báo cáo với Bác. Nhưng không biết bằng cách nào, Bác biết tin và nói:

– Chưa nên làm vì dân ta còn khổ quá. Bao giờ dân ta khá hơn, xoá được các nhà ổ chuột thì hãy làm. Mình nghèo anh em ai người ta chả biết, không có gì phải xấu hổ vì không có hội trường lớn.

Công trình xây dựng hội trường lớn được dừng lại, chỉ xây một hội trường vừa phải, đó là Hội trường Ba Đình của chúng ta bây giờ.

14. QUÀ CỦA BÁC HỒ TẶNG CÁC CHÁU

Ngày Tết dư­ơng lịch năm 1960, mọi người lên Phủ Chủ tịch để chúc Tết Bác Hồ. Các cơ quan, đoàn thể trong n­ước, đoàn ngoại giao và ủy ban quốc tế đều đến đông đủ.

Vẫn trong bộ ka ki giản dị, với phong thái ung dung, chủ động, Bác đáp lễ vui vẻ và nói lời chúc mừng.

Sau tiệc ngọt, Bác cầm lấy một quả táo to cùng một túi kẹo đứng lên. Bác đi đến chỗ ông Đại tư­ớng Ấn Độ và hỏi:

– Ngài Đại tướng có mang phu nhân sang đây không?

Vị Đại t­ướng râu hùm, hàm én, lẫm liệt oai phong là vậy mà lúc ấy, vì vô cùng xúc động tr­ước vinh dự bất ngờ, bỗng lộ vẻ lúng túng, ấp úng đáp:

– Thư­a Chủ tịch, cảm ơn Chủ tịch, tôi chỉ mang theo sang đây cháu trai năm nay chín tuổi.

– Thế thì – Bác Hồ nói – tôi gửi ông mang về cho cháu quả táo này và gửi cháu những cái hôn.

Mọi người đều xúc động và vô cùng cảm phục một cử chỉ vừa thân mật vừa tự nhiên của Hồ Chủ tịch.

Rồi quay lại phía khách n­ước ngoài, Bác nói:

– Tết nhất, ở nhà các vị chẳng thiếu thứ gì. Nh­ưng xin các vị hãy cầm lấy chút hoa quả ở trên bàn và mang về gọi là quà của Bác Hồ tặng các cháu ở nhà.

Cả phòng khách bỗng ồn ào nhộn nhịp hẳn lên. Khách n­ước ngoài khách trong nư­ớc ùa đến bàn tiệc, cầm lấy táo, lê, bánh kẹo, nét mặt hớn hở.

15. CÁC CHÚ BỘ ĐỘI CŨNG PHẢI BIẾT HÁT

Hồi ấy, vào những năm 1960, hàng tuần, những tối thứ bảy và chủ nhật, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 600 chúng tôi thường được đến xem phim với Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Như thường lệ, trước khi chiếu phim, các cháu thiếu nhi ở khối văn phòng cơ quan lên hát góp vui. Có hôm có cả các chị Trần Thị Tuyết, Ngọc Dậu và các ca sĩ khác đến hát và ngâm thơ, hát chèo. Bác thích xem hát chèo. Có hôm, các anh chị trong khối văn phòng, nhiều anh chị đã lớn tuổi cũng đứng lên thành hàng để hát. Mỗi lần hát xong được Bác thưởng kẹo.

Hôm đó, cũng như ngày khác, chúng tôi được đến xem, ai nấy đều đã ngồi vào vị trí. Tất cả hướng về Bác như chờ đến giờ Bác cho xem. Bỗng thấy Bác nhìn và cười vui, chỉ tay về phía cán bộ, chiến sĩ chúng tôi nói: “Hôm nay các chú bộ đội lên hát để Bác xem”. Cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đứng lên xếp hàng ngay ngắn. Nhưng rồi không thể hát được, vì quá đột ngột, vì chưa tập, chưa quen đứng lên hát như thế bao giờ. Tất cả cứ đứng ngây người ra. Đồng chí Lợi, Bí thư Đảng ủy thưa với Bác là xin để lần sau lên hát. Bác nhìn chúng tôi âu yếm và cười vui đôn hậu, rồi Người nói: “Các chú bộ đội cũng cần biết hát, biết biểu diễn văn nghệ để đơn vị được vui tươi, lành mạnh. Đó là tiêu chuẩn thi đua của đơn vị”.

Từ hôm đó trở về sau này, đơn vị chúng tôi tổ chức tập hát, đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ, viết báo tường và coi đó là một trong những chỉ tiêu thi đua. Văn hoá, văn nghệ cũng được chấm điểm như các chương trình huấn luyện khác. Và cũng nhờ tập luyện văn nghệ thường xuyên như thế, đơn vị chọn ra một số anh em có năng khiếu làm hạt nhân để hằng tuần, mỗi buổi đến xem phim lên hát góp vui. Đây là việc khó của đơn vị vì phần đông anh em là những cán bộ có kinh nghiệm trong chiến đấu, công tác, đã qua thử thách, tuổi đã từng trải, từng là cán bộ trung đội, đại đội về đây làm chiến sĩ. Còn nhớ, đúng vào dịp kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ, chúng tôi lần đầu tiên được lên hát để Bác nghe. Nhiều đồng chí mới tập hát và cả những người chưa quen hát bao giờ cũng đứng lên thành hàng, hát bài “Mùa xuân ơn Đảng”, được Bác khen: “Thế là tốt rồi”, được Bác thưởng kẹo.

Tôi (Minh Hiền) và đồng chí Khuê được đơn vị và chi đoàn phân công tập một làn điệu chèo. Đây là một việc khó vì là lần đầu chúng tôi tập hát chèo (tôi quê ở Quảng Bình). Đơn vị không có nữ, tôi được phân công đóng vai con gái, lại còn khó hơn. Không ngờ sau quá trình luyện tập, buổi hát hôm ấy đạt kết quả hơn mong đợi, được Bác khen: “Hát thế là tốt”. Rồi tất cả anh em chúng tôi xếp thành hàng để được Bác thưởng kẹo. Bác nhìn trong hàng không thấy tôi, vì lúc ấy tôi đang lui lại phía sau để tẩy trang, Bác hỏi: “Cháu gái đâu rồi?”. Tôi nghe Bác hỏi, vội vàng đi đến bên Bác và xúc động nói: “Dạ thưa Bác, cháu đây ạ”. Lúc này tôi mới bỏ được tóc giả, còn lại quần áo con gái vẫn còn nguyên. Thấy tôi trong trang phục như thế Bác cười, xoa đầu tôi và khen: “Cháu hát tốt lắm, Bác thưởng kẹo nhiều hơn”.

16. CHUYỆN Ở HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ III

Trước ngày khai mạc Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), Bác Hồ đến duyệt lần cuối việc trang trí ở hội trường. Nhìn thấy ảnh Các Mác và Lênin treo ở trên cao, Bác gọi mấy hoạ sĩ lại và nói: “Tại sao lại để Lênin trước Mác? Mác có trước. Lênin có sau cơ mà?”. “Dạ thưa Bác, đây là bức ảnh có sẵn ạ”. “ Có sẵn cũng phải sửa”, Bác nói. Thế là suốt đêm hôm ấy mấy anh họa sĩ phải sửa lại bức ảnh theo lời dạy của Bác: Lênin đứng đằng sau Các Mác. Nhìn quanh hội trường một lượt, Bác hỏi: “Phông màn và rèm cửa trong hội trường bằng vải gì mà đẹp thế?”. “Dạ thưa Bác, là nhung ạ…”. Bác lại hỏi: “Các chú lấy vải nhung ở đâu ra?”, “Dạ thưa Bác, chúng cháu đi mượn ở Công ty Bách hóa ạ”. Bác cười hồn hậu: “Các chú có biết rằng: các chú trang trí như thế này ở Đại hội Đảng toàn quốc thì các đại biểu ở địa phương cũng sẽ trang trí y hệt ở Trung ương không? Ở địa phương, họ lấy đâu ra nhiều vải nhung như thế để trang trí?”. Thế là ở hội trường Đại hội Đảng lần thứ III năm ấy đã được trang trí lại bằng vải thường. Thời gian ấy, không giống như hiện nay, thường Đại hội Đảng toàn quốc xong mới tiến hành Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh. Nhìn những chiếc quạt điện để quanh hội trường, Bác lại hỏi: “Các chú lấy đâu ra nhiều quạt thế?”. “Dạ, thưa Bác, cũng mượn ở Công ty Bách hoá. Chúng cháu sơn lại cho cùng màu ạ”. Bác cười và nói: “Mượn của người ta thì phải trả, sao các chú đem sơn lại như thế? Sơn lại như thế thì họ sẽ bán cho ai? Theo Bác, mượn của người ta như thế nào, cứ để nguyên như thế mà dùng, có sao đâu”. Trước khi ra về, Bác xuống xem cả khu vực vệ sinh. Một cô gái phục vụ đang sắp xếp lại một chồng khăn mặt, trông thấy Bác, cô gái chào Bác và nói: “Thưa Bác. Đây là chồng khăn mặt để đại biểu sau khi đi vệ sinh xong lau tay”. Bác hỏi: “Sao có ít thế?”. “Thưa Bác, còn nhiều nữa, bao giờ hết cháu sẽ đem vào bổ sung ạ”. Bác cười: “Lúc hết, cháu mới đem vào bổ sung, thế thì ngượng chết. Theo Bác không nên dùng khăn mặt ở đây, mà nên lấy vải diềm bâu hẹp khổ khâu liền lại thành những băng tròn treo lên dây một loạt, đại biểu nào cần lau tay cứ việc cầm lấy mà lau, vừa tiện lợi, vừa đỡ tốn kém”.

17. THẾ LÀ TA ĐẸP CHUNG

Tháng 3-1960, hai cán bộ tỉnh Nghệ An (ông Nghị, Phó Trưởng Ty Văn hoá và ông Liên, Bí thư xã Nam Liên) ra Bộ Văn hoá báo cáo và nhận kế hoạch xây dựng Nhà lưu niệm Hồ Chủ tịch và nhà khách ở quê, được Bác cho gọi vào gặp.

Các ông đến thì Bác và Thứ trưởng Bộ Văn hoá Lê Liêm đang chờ. Bác ân cần hỏi thăm các cán bộ ở tỉnh và bà con trong xã, tình hình mùa màng, công tác thủy lợi, rồi nói đại ý: Nam Liên là gọi cho đẹp thế thôi, trước đây là Làng Sen, còn Nam Chung thì gọi là làng Chùa, chứ ai biết Liên, Chung gì đâu. Còn cái nhà của Bác mấy năm qua các chú sửa sang lại, có nhiều cái đúng, nhưng cũng có cái không đúng. Ví dụ như cái thềm bằng đất chứ không phải bằng xi măng. Nhắc đến bộ đồng, Bác hỏi: Nghe nói các chú đã tìm được, làm sao mà biết chắc chắn đó là bộ đồng nhà Bác? Dạ, cũng là nhờ hỏi các cụ phụ lão. Nghe ông Liên đáp, Bác hỏi tiếp: Nghe nói Nam Liên nhiều khách đến thăm phải không? Tưởng là Bác đã đi vào việc, ông Nghị “dạ” thật to, nhưng Bác đã hỏi: “Đường từ Vinh lên Nam Liên bao nhiêu cây số?”. Dạ thưa “13 cây”. Bác nhẩm tính: “Hơn 13 cây, đi xe đạp chậm lắm mất một giờ rưỡi, thì cho đi hai giờ, đi ô tô chậm lắm mất nửa giờ…; sáng đi, trưa về Vinh nghỉ. Đi xe đạp thì đi sớm một chút, trưa cũng về Vinh…”, rồi nói rõ: Đừng bày chuyện xây dựng nọ kia làm gì cho tốn kém của dân!

Đến đây thái độ của Bác rất nghiêm khắc, hỏi dồn dập: “Nghe nói các chú đang xây dựng trong kia phải không?”, “Làm đến đâu rồi?”. “Những cái sai đã sửa chưa?”; “Bây giờ làm gì nữa?”; “Ai cho tiền làm?”; “Ai chịu trách nhiệm làm?”; “Ai ký giấy cấp tiền?”; “Cấp bao nhiêu?”; “Đã tiêu hết bao nhiêu rồi?”… Thứ trưởng Lê Liêm và hai cán bộ tỉnh trả lời không kịp.

Nghe báo cáo tiền được cấp hơn ba nghìn và đã tiêu hết bao nhiêu rồi, Bác bảo ông Nghị: Còn bao nhiêu trả lại Nhà nước. Thiếu đồng nào chú chịu trách nhiệm bỏ tiền túi ra mà bù nhé! Ba người nhìn nhau, im lặng. Bác trở lại thân mật, ôn tồn giảng giải: Thôi, bây giờ những vật liệu đã mua rồi, như : vôi, gạch, ngói, đá, sỏi… thời giao lại cho ngành giáo dục làm trường học và ngành y tế làm nhà hộ sinh. Việc sửa sang nhà Bác, làm nhà lưu niệm, nhà đón tiếp, dứt khoát phải đình chỉ. Các chú muốn cho quê Bác đẹp thì phải xây dựng chung, trước hết là sản xuất phải cho thật tốt, xã viên thật no đủ, đường sá thật sạch sẽ, trồng cây thật nhiều, vừa lấy gỗ, vừa có bóng mát. Các cháu ăn no, có quần áo đẹp, học cho giỏi, thế là ta đẹp chung. Còn nếu đường sá chật hẹp, các cháu ốm yếu, không được học hành, mà các chú lo tô vàng lên nhà Bác cho đẹp, thì chẳng qua là trát tí phấn lên bộ mặt gầy gò. Việc đó không nên và nhất thiết không được làm.

Bác bảo ông Vũ Kỳ lấy ra gói hạt phượng. Bác trao cho ông Liên và dặn: Loại phượng này cành lá sum xuê, nên trồng hai bên đường để các cháu đi học hay bà con đi làm về thì có bóng mát.

18. TẤM LÒNG BÁC BAO DUNG TẤT CẢ

Bác Hồ yêu các cháu, hiểu các cháu, tin tưởng các cháu. Vì đó là tương lai của dân tộc, là những mầm non, những búp trên cành… Tình yêu đó thấm đậm tình người.

Một sự tình cờ đầy ý nghĩa – sau ngày sinh của Bác Hồ là sắp đến ngày Quốc tế Thiếu nhi 1-6.

7 giờ ngày 27 tháng 5.

Bác gọi chị Thu Trà đến hỏi về tình hình có một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, quấy phá mà Bác được nghe báo cáo. Việc đó là có thật.

Nhưng Bác hỏi về khía cạnh khác: Các cô, các chú dạy dỗ thế nào? Bởi lúc ba má các cháu gửi ra miền Bắc thì các cháu đều ngoan và ba má các cháu đều tin tưởng ở hậu phương.

Bác nhắc phải chú ý đến việc các cháu thiếu tình cảm gia đình, phải tìm cách bù đắp. Rồi Bác kết luận: Lỗi các cháu một phần thì lỗi của người lớn chúng ta phải là mười phần.

Quả nhiên, sau này đưa các cháu đến với sự chăm sóc của các gia đình cán bộ khác thì các cháu đỡ hẳn chuyện gây gổ, nghịch ngợm. Phần Bác cũng nhận chăm sóc một cháu trai, hai cháu gái, con đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.

Bác luôn luôn coi trọng trẻ em bởi với Bác trẻ em cũng là một nhân cách, một thực thể đáng tôn trọng chứ không chỉ đáng yêu mến.

Nhớ hồi năm 1957, một hôm Bác hỏi tôi chuyện riêng tư:

– Chú Kỳ này, có bao giờ chú đánh con không?

Tôi ấp úng vì quả là lúc giận quá tôi cũng có đánh các cháu.

Không dám giấu Bác, tôi thú thật:

– Thưa Bác, khi nóng giận cũng có lúc tôi đánh dọa vài cái rồi ạ.

Bác vẫn không cao giọng, nhưng nghe thấy nghiêm khắc hơn:

– Thế là dã man đấy, chú ạ.

Tôi suy ngẫm thấy rất đúng.

Bác nhìn nhận khuyết điểm, nhược điểm của con người một cách bình tĩnh như hiểu cái lẽ tự nhiên “bàn tay có ngón ngắn ngón dài vậy”. Tấm lòng Bác mở rộng, bao dung cho tất cả…

Bác không nói trẻ em hư, không nói con người hỏng, mà nhận xét có một số chậm tiến, có một số cụ thể có lúc nào đó, ở chỗ nào đó chưa tốt, chưa hay lắm, cái chưa hay, chưa tốt ấy cần được uốn nắn một cách chân tình và kịp thời.

19. HỎI ÔNG BỘ TRƯỞNG

Vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX, tôi (Trần Ngọc Lân) phụ trách mục thơ châm “Ngược dòng 3 tốt” của báo Thương nghiệp. Tôi nhớ mãi một lần, nhân nghe chuyện mậu dịch Bắc Kạn bán cá khô mà giá đắt gấp 5 lần giá thịt lợn, nên bị ế, tôi viết ngay thành bài thơ châm:

Cá tươi đồng mốt một lô

Đem về ướp muối, phơi khô: năm đồng

Trong kho cá xếp chất đồng

Xuất ra rồi lại chạy vòng về kho

Cá nằm cá… khóc nhỏ to:

Vì đâu giá đắt người mua lắc đầu?

Nỗi niềm đã ngỏ từ lâu

Hỏi người duyệt giá cao sâu nghĩ gì?

Nghĩ gì… khi cá đổ đi?

Báo phát hành được vài hôm thì bất ngờ Văn phòng Bộ Nội thương nhận được số báo có đăng bài thơ châm ấy từ Phủ Chủ tịch gửi tới! Mở ra xem thì thấy dưới câu thơ thứ 8: “Hỏi người duyệt giá cao sâu nghĩ gì”, có một nét chì đỏ đậm, kèm theo dòng chữ: “Hỏi chú Nguyễn Thanh Bình”, bên cạnh ký tên: Bác Hồ!…

Chả là hồi ấy Bộ trưởng, Bộ Nội thương là đồng chí Nguyễn Thanh Bình mà.

Tôi (Nguyễn Thành) còn nhớ như in vào một buổi sáng hè (tháng 6-1960), sau khi dự Đại hội đoàn kết chống hạn tại Ứng Hòa – Mỹ Đức xong, Bác ra cánh đồng thôn Thái Bình, xã Vạn Thắng (Ứng Hòa) thăm nông dân chống hạn.

Những năm ấy, vì hệ thống mương máng, thủy lợi chưa có là bao nên bà con nông dân rất vất vả, nắng quá thì hạn, mưa nhiều thì úng. Đời sống của hàng triệu nông dân chỉ trông chờ vào đồng ruộng, thật bấp bênh.

Hôm ấy, Bác mặc quần áo gụ, đội mũ lá cọ, chân đi dép cao su, quần xắn trên đầu gối, khăn vắt trên vai, tay chống gậy đi ra cánh đồng thăm bà con nông dân đang tát nước.

Mới 10 giờ mà trời nóng như đổ lửa, chúng tôi – những cán bộ đi theo cũng thấm mệt, mồ hôi vã như tắm tràn xuống mặt giàn giụa, tràn vào miệng mặn chát. Bác đi rất nhanh. Mặc dù đường sống trâu, Bác vẫn thoăn thoắt đặt chân trên các gồ đất cách nhau 30-40cm một cách nhẹ nhàng như một lão nông dân thực thụ. Đến đầu một con mương, đồng chí Chủ tịch tỉnh Hà Đông thấy bờ mương hẹp khó đi, vội chạy lên trước để mời Bác đi theo đường chính. Bác xua tay và rẽ vào bờ mương để đến chân ruộng bà con đang lao động giữa cánh đồng bị hạn. Tất nhiên chúng tôi phải đi sau và cố hết sức mới kịp. Đến một chỗ bờ mương bị xẻ ra chừng 1,5m để tát nước gần đấy, đồng chí Chủ tịch tỉnh lại chạy lên định dắt Bác, chưa kịp thì Bác đã nhảy phắt qua hố và rẽ sang bên kia. Những người theo sau, người thì nhảy qua được, người thì phải men xuống ruộng để qua.

Thấy Bác đến, lại còn mặc như lão nông, bà con vui mừng bỏ cả gầu đổ xô lại vây quanh Bác rất đông. Có cháu thiếu niên 14, 15 tuổi len đến bên Bác, đưa tay lên vuốt râu Bác. Bác thân mật thăm hỏi mọi người, bắt tay bà con rồi nói bằng giọng miền Bắc pha xứ Nghệ ấm áp:

– Thủa nhỏ, đã nhiều năm tôi sống với bà con hàng xóm làm nông nghiệp, tôi hiểu nỗi cơ cực của bà con khi trời hạn hán. Bây giờ chúng ta có chính quyền, bà con đã làm chủ ruộng đồng, gặp lúc thiên tai phải cùng nhau đoàn kết chống hạn, cứu lúa.

Mọi người “vâng ạ!” thật rõ và to. Sau đó Bác lên đạp guồng cùng với một bác nông dân ngoài 50 tuổi để bác nông dân guồng đỡ vất vả và được nhiều nước. Bác căn dặn chính quyền thôn xã tích cực huy động bà con biết nghề mộc xẻ gỗ để đóng guồng.

Bà con hỏi Bác đủ thứ chuyện. Bác đều trả lời thân mật, dễ hiểu. Trước khi chia tay với bà con nông dân, Bác đã đọc hai câu thơ:

“Hỡi ai bưng bát cơm đầy,

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”.

Mọi người xúc động đứng mãi tại nơi đã gặp Bác, vẫy chào tạm biệt.

20. NẾU CÒN SỬ DỤNG ĐƯỢC THÌ CỐ MÀ TẬN DỤNG

Năm 1960, Bác ra thăm đảo Hòn Rêu ở Quảng Ninh. Trời trở lạnh, Bác lấy tất ra đi. Mấy chị bên Khu Hội phụ nữ thấy tất Bác không còn mới liền đem lại một đôi tất mới để Bác thay.

Ngay lúc ấy Bác không nói gì. Bác cúi xuống xoay chỗ tất sờn rách vào phía dưới lòng bàn chân và nói: Các cô chú xem tất Bác còn rách không? Nước mình còn nghèo, cái gì cũng vậy, nếu còn sử dụng được thì cố mà tận dụng, đừng vội vứt đi!

Một lần, khi sang Pháp đàm phán ở Hội nghị Phôngtennơblô trở về, Người ta thấy cụ Chủ tịch nước mặc một bộ quần áo ka ki đã cũ. Có người đề nghị Chủ tịch thay bộ quần áo khác, Chủ tịch đáp: Nhiều đồng bào ta nếu được bộ quần áo như thế này cũng là tốt lắm. Thế thì việc gì tôi phải thay.

bqllang.gov.vn

Những câu chuyện kể về Bác Hồ – Kỳ 3

21. AI THÍCH ĐI NHANH THÌ ĐỔI XE MỚI

Chiếc Pôvêđa là quà của Liên Xô tặng Bác, từ ngày về tiếp quản Thủ đô Bác vẫn dùng. Chiếc xe đã cũ, Văn phòng Trung ương xin phép được đổi cho Bác xe khác mới và tốt hơn. Thấy vậy, Bác hỏi đồng chí lái xe:

– Xe của Bác đã hỏng chưa?

Đồng chí lái xe thành thật:

– Thưa Bác xe chưa hỏng, nhưng chúng cháu muốn đổi xe mới để Bác đi nhanh và êm hơn.

Bác cười bảo:

– Thế thì chưa đổi…ai thích đi nhanh thì đổi xe mới, còn Bác thì vẫn dùng xe này vì nó chưa hỏng.

Một hôm sắp đến giờ Bác đi làm việc mà xe chưa phát máy được. Thấy Bác đứng đợi, đồng chí lái xe rất lo lắng. Đoán xe có sự cố, Bác bước lại gần ân cần bảo đồng chí lái xe:

– Máy móc thì có lúc nó trục trặc, chú cứ bình tĩnh mà sửa.

Vài phút sau, xe sửa xong, đồng chí lái xe xin lỗi Bác, Bác cười độ lượng:

– Thế là xe Bác vẫn còn tốt. Lần sau chú nhớ kiểm tra trước kẻo nhỡ việc của Bác.

Thế là Bác vẫn dùng chiếc xe Pôvêđa cũ kỹ cho đến ngày Bác đi xa.

22. TRỞ LẠI PÁC BÓ

Đầu năm 1961, đồng bào Pác Bó (Cao Bằng) đang vui xuân thì được tin có phái đoàn Đảng, Chính phủ về thăm quê hương cách mạng. Đồng bào ai cũng thầm ước mong trong đoàn có Bác. Thế rồi điều mong ước của đồng bào Pác Bó đã trở thành hiện thực.

Chiều ngày 19-2 năm đó, chiếc máy bay lên thẳng đưa Bác và phái đoàn đến thị xã Cao Bằng. Sáng ngày 20-2, xe ô tô đưa Bác cùng mọi người đến Đồn Chương. Đồng bào biết tin ra đón Bác. Họ còn mang cả ngựa đến để Bác và phái đoàn đi cho khỏi mệt, nhưng Bác đã từ chối không đi ngựa mà đi bộ. Dọc đường Bác vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ với đồng bào, cùng ôn lại những năm tháng hoạt động gian khổ ở Pác Bó 20 năm trước, khi Bác mới về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Khi Bác vừa đến Pác Bó, đồng bào già trẻ gái trai chạy ùa ra vây quanh Bác. Có cụ già nắm lấy tay Bác lắc lắc. Các bà, các chị ai cũng mừng mừng tủi tủi, nhớ lại những ngày cơ cực trước Cách mạng và cảnh no ấm tự do ngày nay. Thấy mọi người kéo đến ngày một đông, Bác liền hỏi: “Bà con làm gì mà đông thế này?”. Đồng bào vui vẻ reo lên: “Đón Bác! Đón Bác! Năm mới chúc Bác mạnh khỏe sống lâu. Bác nhìn mọi người và bảo: “Tôi về thăm nhà mà sao lại đón tôi?”. Nghe Bác nói vậy, đồng bào ai cũng cảm động rưng rưng nước mắt. Thực vậy, Bác về thăm Pác Bó là về thăm nhà. Nhà Bác, quê hương của Bác không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn mà nhà Bác, quê hương Bác là căn cứ địa cách mạng, là mọi nơi trên đất nước Việt Nam yêu dấu.

Sau khi gặp gỡ thân tình mọi người, Bác nói chuyện với đồng bào trong khối mít tinh. Bác đến thăm một số gia đình, cùng ăn bữa cơm thân mật với nhà một đồng bào rồi ra thăm lại hang Pác Bó năm xưa. Đứng trước cảnh non nước mây trời một vùng biên giới của tổ quốc được tự do, giải phóng, đã từng in dấu và che chở Người trong buổi đầu Cách mạng, Bác xúc động đọc mấy câu thơ:

“Hai mươi năm trước ở nơi này

Đảng vạch con đường đánh Nhật – Tây

Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu

Non sông gấm vóc có ngày nay”.

Hình ảnh Bác và những kỉ niệm về Người luôn sống mãi trong lòng đồng bào Pác Bó cũng như đồng bào trong cả nước.

23. “GÀ” VÙNG NÀO HỢP VỚI VÙNG ẤY

Sau Đại hội Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên (1961), Ban Chấp hành của phong trào cử cụ Chủ tịch Ibi Alê – ô ra thăm miền Bắc.

Hôm cụ Ibi Alê-ô vào tiếp kiến Hồ Chủ tịch, Bác ân cần tiếp đãi và hai người thân mật trò chuyện. Cụ năm nay bao nhiêu tuổi rồi? Thưa Bác, năm nay tôi đúng 61 mùa rẫy ạ. Từ trong chiến trường ra ngoài này, cụ đi mất bao lâu? Thưa Bác, ba tháng ạ. Đi xa như thế này, cụ có thấy mệt không? Có. Nhưng nhờ các cháu thanh niên giúp đỡ nên tôi cũng đi đến nơi đúng thời gian. Bác mời cụ Ibi Alêô ăn cam, ăn chuối, những trái cây trong vườn do Bác trồng và cũng là những thứ mà cụ thích. Cụ xúc động, rơm rớm nước mắt, không hiểu vì sao Bác Hồ lại biết rõ sở thích của mình mà chiều đến thế. Chắc chắn là Bác hiểu tấm lòng của nhân dân Tây Nguyên lắm.

Bác hỏi tình hình chiến đấu và đời sống của đồng bào trong đó. Cụ Ibi Alêô thưa: Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên cũng như miền Tây thiếu thốn đủ thứ. Muối chưa đủ mặn, cơm chưa đủ no, áo chưa đủ mặc. Nhưng truyền thống đoàn kết chiến đấu bất khuất bảo vệ Tổ quốc thì không nghèo. Nhân dân Tây Nguyên không sợ gian khổ hy sinh, mà chỉ sợ mình mất cái đất làm ăn của ông cha để lại đó thôi. Bác Hồ rất vui. Cụ Ibi Alêô nói tiếp: Đồng bào Tây Nguyên còn nghèo lắm, nghèo cả cán bộ nữa, muốn xin Bác có nhiều cán bộ giỏi ạ. Bác lại cười, nhẹ nhàng hỏi: Đồng bào ta có nuôi gà không? Thưa Bác, đồng bào nuôi nhiều gà lắm. Đồng bào nuôi nhiều gà như thế là tốt. Lần này gà đẻ năm trứng, lần sau sáu, bảy trứng, mười trứng, rồi nở thành con. Chính là những con gà đẻ và nở trong ấy mới thích hợp với hoàn cảnh ở đó.

Bác lại cười… Lúc sau, cụ Ibi Alêô hiểu ra rằng không phải Bác Hồ nói chuyện nuôi gà mà là khuyên cần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người các dân tộc. Mắt cụ sáng lên, sung sướng.

24. PHONG CÁCH ỨNG XỬ THÂN TÌNH

Ngày 15-12-1961, đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc do Nguyên soái Diệp Kiếm Anh dẫn đầu sang thăm hữu nghị nước ta. Bộ Ngoại giao và Văn phòng Bộ Quốc phòng đã lên kế hoạch đón đoàn. Đoàn đại biểu sẽ đến chào Bác ngay sau khi tới Việt Nam. Khi báo cáo vấn đề trên với Bác, Bác nói:

– Hồi trước, khi Bác đi từ Diên An về phương Nam, đồng chí Diệp Kiếm Anh đã từng là đội trưởng và Bác là Bí thư Chi bộ. Nay đồng chí ấy đến Việt Nam mà Bác lại đợi đồng chí ấy đến chào chính thức là không thân tình. Do đó, Bác quyết định là Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ ra đón đoàn ở sân bay, khi về tới Bắc Bộ phủ đã có Bác. Bác sẽ dự cơm thân mật với đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc, nhưng không công bố trên báo, vì như vậy sẽ không tiện về mặt lễ tân. Bởi vì lúc đó Bác là Chủ tịch nước, còn đồng chí Diệp Kiếm Anh chỉ là một trong mười nguyên soái của Trung Quốc, chưa phải là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhưng là chỗ thân tình từ trước nên Bác sẽ có mặt ở Bắc Bộ phủ. Bác không thể làm khác được. Đó là một cách xử trí rất tinh tế của Bác về mặt ngoại giao lại có lý, lại có tình.

25. PHÊ PHÁN CĂN BỆNH HÌNH THỨC CHỦ NGHĨA

Tôi nhớ, năm 1961 Bác Hồ có dịp về thăm quê ở Nghệ An. Trước lúc Bác về tôi (Thiếu tướng Nguyễn Văn Xoàn) được cử đi tiền trạm. Tôi dặn các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An: Lần này Bác về thăm quê, các anh đừng làm những việc gì không cần thiết để Bác phật lòng, phương châm là tôn trọng, chu đáo nhưng phải tiết kiệm. Các đồng chí ở Tỉnh ủy Nghệ An không đồng ý, muốn làm lớn vì đã lâu Bác mới có dịp về thăm quê. Tỉnh ủy chuẩn bị sẵn một chiếc ô tô con, mui trần để đi đón Bác. Tôi bảo như vậy cũng được nhưng hình thức chiếc xe bình thường thôi. Các anh Tỉnh ủy “chơi nổi” lấy vải trắng kết xung quanh xe, rồi còn lót vải trắng trong xe…

Bác xuống sân bay Nghệ An, các đồng chí Tỉnh ủy niềm nở mời Bác lên xe đó. Bác nhìn chiếc xe rồi cười: “Mấy chú cứ ngồi chiếc xe này chứ Bác không ngồi đâu. Bác về là để cốt thăm quê hương, đồng bào chứ có là quan khách đâu mà các chú làm hình thức, tốn kém”. Nói đoạn, Bác đi đến chiếc xe đi đầu, mui trần của bảo vệ, bước lên ngồi cạnh anh tài xế. Sau phen ngơ ngác, anh em bảo vệ buộc phải ngồi trên chiếc xe bọc vải trắng. Dọc đường nhân dân đi đón Bác đều hướng mắt vào chiếc xe vải trắng nhưng chỉ thấy toàn cảnh vệ, chẳng thấy Bác đâu. Ít ai ngờ được rằng chính Bác lại ngồi ở chiếc xe bình thường của cảnh vệ đi đầu.

Về đến nhà khách Tỉnh ủy, vừa trò chuyện Bác vừa nhìn ra con đường đi vào thấy có nhiều bông hoa rực rỡ nở đều trồng hai hàng ngay ngắn. Bất chợt Bác đi ra đường, dùng tay nhổ nhẹ một cánh hoa lay ơn. Tuyệt nhiên cánh hoa nhẹ bỗng, phía gốc không có một chiếc rễ nào. Gọi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đến, Bác bảo: “Đây là một việc làm thiếu chân thực và lãng phí. Tưởng các chú trồng hoa thì hay, có lợi cho môi trường. Nào ngờ vì Bác vào thăm nên các chú phải mua bông này về trồng. “Trồng” hình thức nó sẽ chết. Đây là một căn bệnh phô trương hình thức. Đón Bác như thế này Bác không vừa lòng”. Các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An liền đồng thanh xin lỗi Bác và hứa sẽ sửa chữa khuyết điểm.

26. BÁC CÓ PHẢI LÀ VUA ĐÂU

Bác Hồ là vị lãnh tụ của nhân dân, đ­ược nhân dân tin yêu, coi như­ ngọn cờ của toàn dân tộc. Nhưng Bác rất gần nhân dân và không cho phép mình đòi hỏi cho mình bất cứ một ngoại lệ, một đặc quyền đặc lợi gì.

Cuối năm 1961, Bác Hồ về quê h­ương Nghệ An thăm hỏi bà con xã Vĩnh Thành – nơi có phong trào điển hình về trồng cây. Bác đứng giữa nắng trưa nói chuyện với nhân dân khiến nhiều người băn khoăn, lo lắng. Đồng chí Chủ tịch huyện thấy vậy cho tìm m­ượn đư­ợc chiếc ô, định dương lên che nắng cho Bác. Thấy vậy Bác quay lại hỏi: Thế chú có đủ ô che cho tất cả đồng bào không? Thôi cất đi, Bác có phải là vua đâu?

Một lần, trong bữa ăn, đồng chí phục vụ dọn lên cho Bác một đĩa cá anh vũ, một loại cá sông quý hiếm th­ường chỉ có ở khúc sông Bạch Hạc – Việt Trì. Nhìn đĩa cá biết ngay là của hiếm, Bác khen và bảo: Cá ngon quá, thế mà chú Tô (tức đồng chí Phạm Văn Đồng) lại đi vắng. Thôi, các chú để đến chiều đồng chí Tô về cùng thư­ởng thức. Tư­ởng chuyện cũng sẽ qua đi, nhưng đến bữa sau, trong mâm cơm lại có món cá hôm trư­ớc. Nhìn đĩa cá, Bác hiểu ngay và tỏ ý không bằng lòng: Bác có phải là vua đâu mà phải cúng tiến!

Rồi Ng­ười kiên quyết bắt mang đi không ăn nữa. Như­ Bác đã từng nói, ở đời ai chẳng thích ăn ngon mặc đẹp, nh­ưng nếu miếng ngon đó lại đổi bằng sự mệt nhọc, phiền hà của người khác thì Bác đâu có chấp nhận.

27. BỮA ĂN TẬP THỂ

Khi đã về ở, làm việc trong Bắc Bộ Phủ, anh em cấp dưỡng vẫn nấu một nồi to, đến giờ thì Bác cùng xuống ăn với anh em những bữa cơm đạm bạc, như những ngày trong kháng chiến. Anh em giúp việc định nấu riêng cho Bác, nhưng Bác nhất định không đồng ý. Khi đi công tác, kể cả những khi đi thăm ngày Tết… bao giờ Bác cũng bảo chuẩn bị sẵn bữa ăn mang theo. Sau gần 50 năm mới có dịp về thăm quê lần đầu tiên, tháng 6-1957, trong bữa cơm tỉnh Nghệ An mời Bác có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng dự. Mâm cơm chỉ có mấy món ăn đơn giản, nhưng mỗi món đều được dọn làm 2 bát. Thấy vậy, Bác liền cất bớt, chỉ để mỗi món một bát. Bác bảo: “Ăn hết thì lấy thêm, không ăn hết để người khác ăn, chớ để người ta ăn thừa của mình!. Bữa cơm đó, một nửa số thức ăn vẫn còn nguyên. Riêng có món cà mắm chỉ có một bát nhưng mọi người ăn chưa hết, Bác gắp bỏ vào bát bảo mọi người phải ăn hết để khỏi lãng phí.

Lần thứ hai Bác về thăm quê năm 1961, bữa cơm chiều Bác dặn cả Chủ tịch và Bí thư của tỉnh là Võ Thúc Đồng và Nguyễn Sĩ Quế cùng đến ăn cơm với Bác cho vui, nhưng nhớ là phải mang phần cơm của mình đến. Khi vào bàn ăn, Bác lấy ra gói cơm của Bác có độn ngô và ít thịt rim mặn. Hai cán bộ tỉnh, phần cơm do nhà ăn của tỉnh chuẩn bị được nấu bằng gạo trắng, không độn; thức ăn có cá, thịt, miến… Thấy vậy, Bác hỏi: Các chú ăn như thế này à? Ông Võ Thúc Đồng trả lời: Dạ, thưa Bác. Hôm nay Bác về thăm, cơ quan mới chuẩn bị các món ăn như thế này, còn thường ngày thì không có đâu ạ! Bữa cơm hôm đó, mọi người cùng Bác ăn hết phần cơm độn ngô trước, khi dùng sang phần cơm cơ quan tỉnh mang đến thì Bác xin thôi không ăn nữa…

28. ĐỂ BÁC THUYẾT MINH CHO

Tối thứ Bảy nào cũng vậy, trong Phủ Chủ tịch thường tổ chức chiếu phim tại phòng lớn. Tiếng là chiếu phim để phục vụ Bác, nhưng Bác bảo mọi người chung quanh, nhất là các cháu nhỏ, tới xem để cùng vui.

Tối ấy nghe tin có phim hay, mọi người kéo đến khá đông. Đúng giờ, Bác tới. Người ra hiệu cho mọi người ngừng vỗ tay, rồi ngồi vào ghế. Một số cháu nhỏ tíu tít lại ngồi quây quanh Bác.

Đồng chí thuyết minh phim trình bày tóm tắt nội dung phim: Hoàng tử lấy cóc.

Phim lồng tiếng Pháp, người thuyết minh chưa kịp xem trước nên khi thuyết minh thường không đạt ý. Bác không bằng lòng, Người bảo:

– Chú thuyết minh như vậy mất cả cái hay của phim đi. Chú để Bác thuyết minh cho.

– Bác nói rồi liền ra hiệu cho đồng chí thuyết minh đứng dậy, Người cầm lấy ống nói và ngồi vào ghế của đồng chí thuyết minh một cách bình thản. Bác theo dõi trên màn ảnh, lắng nghe đối thoại rồi thuyết minh. Đôi khi Bác giải thích thêm những ý trong khi chuyển cảnh mà người xem cảm thấy khó hiểu. Bác thuyết minh rõ ràng, song ngắn gọn súc tích. Tiếng Người ấm và khi diễn đạt tình tiết trong phim rất gợi cảm. Mọi người lúc đầu thấy Bác thuyết minh thì rất ngạc nhiên và thích thú. Ai nấy đều bị cuốn hút bởi hình ảnh trong phim và lời thuyết minh của Bác.

Bác đang xem bỗng quay lại, thấy đồng chí thuyết minh đang đứng tựa vào tường xem phim, Bác chỉ vào chiếc ghế Bác đã ngồi lúc ấy để trống mà nói:

– Chú này lạ thực, ghế để không sao không ngồi mà lại đứng xem!

Các cháu cũng như mọi người xem cùng bật cười và nhắc đồng chí thuyết minh ngồi vào ghế. Đồng chí thuyết minh đành sẽ sàng chuyển chiếc ghế vào sát tường ngồi xem. Bác lại tiếp tục công việc thuyết minh phim.

Màn ảnh chuyển từng cảnh: Cung điện huy hoàng của nhà vua. Hoàng tử bắn cung để chọn vợ. Mũi tên rơi xuống cạnh một con cóc. Cóc nói tiếng người, yêu cầu hoàng tử đưa mình về cung… Hoàng tử sống với vợ cóc, nhưng chàng rất buồn.

Rồi những bữa cơm ngon lành, nhà cửa được xếp dọn sạch sẽ gọn gàng ngăn nắp làm Hoàng tử nghi hoặc, theo dõi cóc… Cuối cùng cóc hiện nguyên hình là một cô gái đẹp trước mắt Hoàng tử. Hai vợ chồng sống cuộc đời tươi đẹp…

Đèn bật sáng. Như thường lệ, mọi người quay về phía Bác chờ đợi một lời, một ý của Người và cũng là để chào Bác sau buổi tối xem phim. Bác cũng đứng dậy vui vẻ hỏi:

– Phim có hay không?

– Dạ, hay lắm! – Mọi người gần như đồng thanh trả lời.

– Hay vì sao?

– Mọi người còn đang suy nghĩ câu trả lời thì Người đã giải thích:

– Phim hay vì nội dung tốt, câu chuyện khuyên mọi người: Muốn có lứa đôi hạnh phúc thì đừng quá lệ thuộc vào hình thức bề ngoài, phải thấy cái đẹp bên trong. Cái đẹp về phẩm giá. Các tài tử đóng khéo. Màu sắc đẹp, tình tiết hấp dẫn.

Bộ phim được Bác nói gọn lại mấy ý, ai nấy thêm sáng ra. Trong dòng người ra về có những ý trao đổi:

– Phim hay thật!

– Không có Bác thuyết minh thì mất hay!

29. ĐẠO ĐỨC NGƯỜI ĂN CƠM

Một chiến sĩ bảo vệ Bác – sau này được phong quân hàm cấp tướng – có lần nói rằng:

“Bác thường dạy quân dân ta cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” Bác dạy phải làm gương trước. Bác dạy phải nêu cao đạo đức cách mạng. Có cán bộ nghĩ rằng “đạo đức” cách mạng là để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác thấy ngay trong khi ăn cơm Bác cũng đã dạy cho chúng tôi thế nào là “đạo đức”.

Thứ nhất, Bác không bao giờ đòi hỏi là Chủ tịch nước phải được ăn thứ này, thứ kia. Kháng chiến gian khổ đã đành là Bác sống như một người bình thường, khi lập lại hoà bình có điều kiện, Bác cũng không muốn coi mình là “vua”, có gì ngon, lạ là “cống, hiến”.

Thứ hai, món ăn của Bác rất giản dị, toàn các món dân tộc, tương, cà, cá kho… thường là chỉ 3 món, trong đó có bát canh, khá hơn là 4, 5 món thôi.

Thứ ba, Bác thường bảo chúng tôi, ăn món gì cho hết món ấy, không đụng đũa vào các món khác. Gắp món ăn cũng phải cho có ý. Cắt miếng bơ cũng phải cho vuông vức. Nhớ lần đi Khu 4, đồng chí Bí thư và Chủ tịch tỉnh Quảng Bình ăn cơm với Bác, trong mâm chỉ có một bát mắm Nghệ hơi nhiều. Bác dùng bữa xong trước, ngồi bên mâm cơm. Hai cán bộ tỉnh ăn tiếp rồi buông đũa. Bác nhìn bát mắm nói:

– Hai chú xẻ bát mắm ra, cho thêm cơm vào ăn cho hết.

Hai “quan đầu tỉnh” đành phải ăn hết, vừa no, vừa mặn… Lần khác, một cán bộ ngoại giao cao cấp người Hà Tĩnh được ăn cơm với Bác, đã gắp mấy cọng rau muống cuối cùng chấm vào bát tương ăn hết. Tưởng là đã “hoàn thành” nhiệm vụ nào ngờ Bác lại nói:

– Tương Nghệ đồng bào cho Bác, ngon lắm. Cháu cho thêm ít cơm vào bát “quẹt” cho hết…

Thứ tư, có món gì ngon không bao giờ Bác ăn một mình, Bác sẻ cho người này, người kia rồi sau cùng mới đến phần mình, thường là phần ít nhất. Ăn xong thu xếp bát đũa gọn gàng để đỡ vất vả cho người phục vụ.

Thứ năm, tôi có cảm giác là đôi khi ăn cơm có những giây phút Bác cầm đôi đũa, nâng bát cơm, Bác như tư lự về điều gì đó. Tưởng như Bác nghĩ đến đồng bào, cụ già, em bé đói rách ở đâu đâu. Tưởng như Bác nhớ lại những ngày lao động ở xứ người kiếm từng mẩu bánh để ăn, để uống, để làm cách mạng… Hay là Bác lại nhớ đến những lần tù đày không có gì ăn. Thật khó hiểu mà lại càng khó hiểu, tôi lại càng thương Bác quá, thương quá. Bây giờ vào những bữa tiệc cao lương, mỹ vị, rượu bia thức ăn bày la liệt, quái lạ tôi lại nhớ đến Bác rồi… có ăn cũng chẳng thấy ngon như khi xưa ngồi vào mâm cơm đạm bạc với Bác”.

30. NGĂN NẮP VÀ TRẬT TỰ

Hồi ở Pác Bó, dù sống ở trong hang đá hay trong một lán nhỏ, Bác Hồ vẫn giữ nếp sống ngăn nắp và trật tự. Đồ đạc, tài liệu Bác sắp xếp theo thứ tự riêng, cái nào ra cái đó, không bao giờ lẫn lộn. Sách, báo, tài liệu, Bác xếp để trên các bậc. Ấm chén, bút mực… cũng đều có quy định chỗ để hẳn hoi. Ai động đến là Bác biết. Bác có một chiếc máy chữ mang từ nư­ớc ngoài về, thường vẫn dùng để đánh tài liệu. Cứ sau mỗi buổi làm việc, Bác xếp máy chữ vào một túi riêng, còn tài liệu thì bỏ vào thùng sắt đậy cẩn thận. Chả thế mà có hôm báo động, chỉ mấy phút sau Bác đã xếp xong các thứ gọn gàng. Còn đồng chí khác thì chạy tới chạy lui, vấp cả vào nhau. Có đồng chí, thứ cần thiết thì không mang đi, thứ không cần thì lại lấy. Thấy thế, Bác nhẹ nhàng bảo:

– Gọn gàng, ngăn nắp cũng là một cách bảo mật. Khi hoạt động bí mật cũng như­ trong nếp sống hàng ngày của người cán bộ các chú phải thường xuyên chú ý rèn luyện.

Sau này, khi về sống ở Hà Nội, Bác vẫn giữ nếp sống gọn gàng, ngăn nắp ấy. Trên bàn làm việc của Bác dư­ới nhà sàn, ngày nào cũng vậy, sau giờ buổi sáng, tr­ước lúc sang ăn cơm, Bác đều xếp tài liệu, sách vở ngay ngắn. Buổi chiều hết giờ làm việc, Bác mang tài liệu lên nhà, mỗi thứ để một nơi theo đúng chỗ quy định.

Một lần, đang lúc giữa tr­ưa thì còi thành phố báo động có máy bay Mỹ đến. Bác bình tĩnh từ trên nhà đi xuống cầu thang. Nhìn thấy một số đồng chí bảo vệ tất tưởi chạy ra hầm, quần, áo, súng, đạn, balô không gọn gàng, Bác bảo:

– Các chú là bộ đội, phải bình tĩnh và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu. Lúc có giặc cũng nh­ư khi không có giặc. Muốn vậy, trong cuộc sống hàng ngày các chú phải sống ngăn nắp, trật tự và gọn gàng./.

bqllang.gov.vn