Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác là tấm gương sáng về tiết kiệm

Chúng ta đang tích cực và nghiêm túc thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, với tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Ở Bác, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không chỉ thể hiện trong lời nói mà còn trong mọi việc làm hằng ngày.

Người ta biết đến Bác với những câu chuyện Bác đi dép cao su, mặc áo ka ki bạc màu, ăn cơm đạm bạc rau muống chấm tương… Nhưng ít ai biết, cả đời Bác chắt chiu từng mẩu giấy trắng. Cho đến những ngày cuối cùng, sửa lại những dòng chữ cuối cùng trong Di chúc của mình, Bác vẫn dùng mặt giấy còn lại của tờ bản tin…

Chuyện kể rằng, thực hiện ý kiến nhắc nhở của Bác, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) hằng ngày gửi bản tin để Bác đọc, đều in hai mặt giấy. In rônêô, nên bản tin hay bị nhòe, Bác vẫn cố gắng đọc. Sang năm 1969, thấy Bác không được khỏe, TTXVN gửi bản tin in một mặt. Xem xong, những tư liệu, tin tức cần thiết, Bác giữ lại, còn thì gửi cho Văn phòng để gấp thành “phong bì tiết kiệm”…

Gần bốn tháng trước khi qua đời, ngày 10-5-1969, Bác viết lại toàn bộ phần mở đầu bản Di chúc, gồm một trang viết tay, vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Bác viết những dòng chữ lịch sử và vô cùng thiêng liêng ấy bằng mực xanh và chữ sửa sau đó bằng mực đỏ. Những chữ mực đỏ, nét run run, không cứng cáp như Bác thường viết. Có lẽ Bác sửa lần cuối Di chúc, khi thấy trong người không còn khỏe…

Nhìn những dòng chữ ấy trên mặt giấy tiết kiệm, mọi người đều xúc động và càng kính trọng Bác bao nhiêu lại càng thương Bác bấy nhiêu.

Thanh Hương

bqllang.gov.vn

Tiết kiệm chút nào là có lợi cho dân chút ấy !…

Vào năm 1955, Bác Hồ đến thăm công trường xây dựng cầu Phủ Lạng Thương. Đầu tiên, Bác đến thăm khu nhà ở, khu vệ sinh, giếng nước ăn và nhà bếp tập thể của công nhân.

Sắp đến giờ ăn trưa, Bác mở lồng bàn, xem suất cơm và các món ăn, rồi Bác khoát tay gọi anh chị em công nhân lại gần và nói: “Bác hỏi câu này, các cháu phải trả lời trung thực – mọi người còn đang bất ngờ, Bác hỏi luôn – Hằng ngày các cháu có được ăn nhiều cơm, đủ món ăn như hôm nay không? Hay biết tin Bác đến, các chú chỉ huy công trường “làm cỗ” để Bác vui lòng ?”.

Thực tế, thợ cầu đường là những người vất vả, cực nhọc nhất, nên chỉ huy công trường thường xuyên chăm lo miếng ăn, giấc ngủ cho anh em, không có chuyện bày đặt để làm vui lòng Bác. Nhưng sau câu hỏi sâu sát của Bác, mọi người đều thấm thía về sự trung thực, về sự chăm lo lẫn nhau trong điều kiện có nhiều khó khăn. Nếu có sự bày đặt, chắc chắn uy tín của cán bộ chỉ huy công trường sẽ bị giảm sút. Nguy hại hơn, sự đoàn kết, nhất trí của tập thể cũng giảm sút theo và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình.

Cũng nhân một bữa ăn, Bác lại nhắc đến việc tiết kiệm. Đó là dịp Đại hội Đảng lần thứ III, Bác thường xuyên ăn cơm cùng các đại biểu. Một bữa trưa, Bác ăn cơm với đoàn đại biểu ngành Đường sắt. Mấy anh chị cứ chống đũa không chịu ăn để được ngắm Bác. Thấy vậy, Bác đến bên và hỏi vui: “Các cô, các chú mệt quá hay ốm mà bỏ cơm thế này? – Rồi Bác nói luôn – ăn ngon miệng, ăn hết thì báo nhà bếp nấu thêm. Nhưng ăn không hết cũng phải báo cho nhà bếp để giảm khẩu phần đi. Mỗi đĩa xào, mỗi bát canh đều là tiền của đóng góp của nhân dân lao động. Tiết kiệm, thu vén được chút nào là có lợi cho dân chút ấy !”.

Mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lời nói, mọi cử chỉ của Bác Hồ đều thấm đẫm tình yêu thương và bài học về đạo đức. Hãy lắng nghe, hãy làm theo Người, bởi tư tưởng, đạo đức của Người vẫn là sự tốt đẹp, trong sáng nhất.

Vũ Trần

bqllang.gov.vn

Ðức của Bác lớn lắm, sáng lắm

Ðối với dân tộc ta, nhân dân ta, công đức và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng to lớn. Ðã có rất nhiều bài văn, bài báo, bài thơ, bài hát, bài ca dao, vở kịch, tấm ảnh và cả những bài luận văn có tầm cỡ ngợi ca đức tính tốt đẹp, công lao vĩ đại của Người. Có thể tóm tắt những lời ngợi ca ấy bằng bốn chữ “Ðức lớn, tâm đầy”.

“Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành huyền thoại ngay khi còn sống. Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”. (Tiến sĩ M.Amét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương).

Khi nói về chữ Ðức ở Bác rất nên ghi lại những lời chân thành của cố Phó Thủ tướng Phan Kế Toại. Cụ Phan gần Bác suốt cả chín năm kháng chiến nơi chiến khu Việt Bắc, cho nên cụ rất hiểu Bác. Cụ nói: “Gần Ông Cụ thì lòng dạ mình được sáng thêm, ý thức phục vụ nhân dân càng đầy thêm. Hồ Chí Minh như một trái núi nam châm, Bác có sức hút mãnh liệt lại có sức tỏa sáng rộng lớn”.

Cố Tổng Thư ký Ðảng Xã hội Việt Nam, nhà khoa học Nguyễn Xiển cảm nhận được tấm lòng, đức độ của Bác qua những ánh mắt nhân hậu của Bác. Ông đã có một câu nói xuất phát từ trái tim của một nhà trí thức đã đi theo Bác Hồ từ những ngày đầu tiên: “Lá cờ đỏ sao vàng với cặp mắt Bác Hồ, đó là mùa xuân của dân tộc và cũng là mùa xuân của đời tôi”.

Những ngày nước ta mới giành được chính quyền, nạn đói chưa dứt, lại lăm le giặc ngoại xâm, bao nhiêu là gánh nặng của quốc gia đặt lên đôi vai gầy của Bác. Nhiều đêm Bác thức với ngọn đèn chong. Ðồng chí Hoàng Hữu Kháng, một trong tám đồng chí bảo vệ Bác nhớ lại những năm tháng gian truân ấy: “Tính Bác rất dễ xúc động. Có một đêm Bác ngủ trên một căn gác của một ngôi nhà. Bốn giờ sáng, Bác thức giấc. Ngoài trời gió vun vút đập vào cửa kính. Ở trong phòng còn thấy lạnh, thế mà có tiếng trẻ em rao hàng cuối đường phố vọng lên. Bác mở cửa sổ ngó nhìn cho tới khi chú bé rao hàng đi khuất, Bác mới từ từ khép cửa lại”.

Báo “Sống” số 1 ra ngày 6-1-1946 tại thủ đô Hà Nội viết về cái rét cuối năm 1945 và tấm lòng của Bác. Năm 1945 ấy, dân ta đã đói lại rét, mà cách mạng vừa mới thành công, việc nước còn ngổn ngang trăm mối. Chính phủ do Bác đứng đầu đang gắng sức giải quyết từng việc lớn. Trời rét lạnh lại có mưa phùn, nhìn trời nhìn đất, Bác nói: “Rét thế này, đêm qua có bao đồng bào đói rách chết bên đường”.

Một đời lo việc nước, việc dân, Bác sống gương mẫu, nêu một lối sống “nhân văn cộng sản” cho mọi người trông vào và có thể noi theo. “Chúng tôi hiểu và nhận ra rằng: chính cái giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông. Ðịa vị càng cao, ông càng giản dị, trong sạch hơn. Hình như ông luôn luôn giữ được giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”. (Nhà báo David Sten, Australia).

Ca dao dân gian có câu: “Ðếm sao cho hết vì sao; Kể sao cho hết công lao Cụ Hồ”. Bác là người không chỉ đấu tranh cho nền độc lập, tự do của dân tộc ta mà còn là người góp phần soi ánh sáng cho các dân tộc mạnh bước trên con đường tranh đấu của mình. R.Chandra, nhà văn hóa nổi tiếng Ấn Ðộ, một chiến sĩ hòa bình được thế giới yêu mến, viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

Theo Báo Nhân dân

bqllang.gov.vn

Chu đáo từ việc nhỏ nhất

Bất kể ai vinh dự được sống, làm việc gần Bác đều có thể kể về hàng trăm việc làm, cử chỉ chăm lo chu đáo từ việc nhỏ nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với mọi người.

Cuối năm 1950, Bác đi dự Lễ tổng kết chiến dịch Biên giới. Khi về, Người không quên gửi quà cho hai nữ nhân viên văn phòng. Đó là mấy chiếc kẹo sôcôla, quà chiến lợi phẩm sau chiến dịch Biên giới, chiêu đãi tại hội nghị.

Ở chiến khu, gần nơi Bác ở có các cháu là con của các đồng chí lãnh đạo, như con các anh Trần Duy Hưng, Trường Chinh… Lâu lâu, vào chủ nhật, Bác cho đón các cháu vào chỗ Bác chơi, chiều lại về với bố mẹ. Một hôm, vợ đồng chí Trường Chinh đến thăm Bác, có dắt theo con nhỏ. Hai bác cháu chơi với nhau rất vui. Bác hỏi: “ở đây với Bác nhé!”. Cháu bé vui vẻ nhận lời ngay. Nhưng đến khi mẹ về, cháu quên ngay lời hẹn ở lại, vội chào Bác và chạy theo mẹ. Bác tiễn cháu, nước mắt rưng rưng: “Cái nghiệp mình thế, không có gia đình!…”. Bà Trường Chinh lặng người, thương Bác vô cùng!. Hơn ai hết, bà biết Bác luôn quan tâm chăm lo cho gia đình mọi người và thường nhắc nhở bố trí cho các gia đình cán bộ ở gần cơ quan.

Theo lời kể của nhiều người, buổi tối hôm diễn ra Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần đầu tiên, tại Việt Bắc hồi tháng 5 năm 1952, có chiếu phim. Bác ngồi xem ở hàng cuối, cạnh nhà thơ Tú Mỡ. Phe phẩy quạt giấy, Tú Mỡ cố ý quạt nghiêng sang phía Bác. Một lúc sau, Bác bảo Tú Mỡ đưa quạt và Người cũng phe phẩy, cố ý để Tú Mỡ cùng được hưởng mát. Chiếu bóng xong, mọi người lục tục đứng dậy ra về, Bác vội đứng lên, giơ tay ra hiệu trật tự và nói to: “Hãy khoan đã, để cho các cháu bé ra trước, kẻo lộn xộn, các cháu sẽ lạc đấy!”. Bác lo toan hàng vạn việc lớn lao, nhưng vẫn không quên những việc nhỏ, đời thường mà nhiều người không hề nghĩ tới…

Thanh Hương

Bữa tiệc tân gia nhà sàn Bác Hồ

Chuyện làm nhà cho Bác Hồ ở đã được báo cáo trước với Bác, kể cả phần dự trù kinh phí. Sợ việc làm nhà ồn ào, bụi bặm ảnh hưởng tới sức khỏe của Bác nên anh em đợi đúng dịp Bác đi công tác mới khởi công. Ai nấy đều thấy vinh dự, tự hào được làm nhà cho Bác Hồ nên đều cố gắng hết sức mình, sao cho nhà Bác đẹp, chắc chắn và xong trước ngày Bác đi công tác về. Một đợt thi đua tự giác, không cần phát động…

Quả nhiên, trước hôm Bác về, mọi việc đều đã đâu vào đấy. Nhìn ngôi nhà sàn hai gian thoáng đãng, tầng dưới bốn phía đều để trống, tầng trên chia làm hai phòng, một phòng để Bác làm việc, một phòng để Bác nghỉ, xung quanh là hành lang rộng có mành che, mọi người vừa mừng, vừa hồi hộp. Không biết ngôi nhà có hợp ý Bác không ? Ai cũng mong được nghe ý kiến trực tiếp của Bác.

Như đoán được ý nghĩ của mọi người, Bác tổ chức một bữa “tiệc ngọt”, liên hoan ngay ở tầng dưới ngôi nhà sàn. Anh em nói vui, gọi đó là “bữa tiệc tân gia” mừng nhà mới của Bác. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh (người có vinh dự được giao nhiệm vụ thiết kế và thi công nhà sàn Bác Hồ) kể rằng, không khí buổi liên hoan vừa thiêng liêng, vừa đầm ấm lạ thường. Bác như người cha hiền từ với đàn con xúm xít chung quanh, vui mừng khi trong nhà làm được một việc lớn. Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước. Nói về việc làm nhà sàn, Bác khen:

– Các chú làm như thế là nhanh, tốt, bảo đảm thời gian, nhưng còn một khuyết điểm. Các chú có biết khuyết điểm gì không ?

Mọi người nhìn nhau lo lắng. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh vội đáp lời:

– Thưa Bác, so với ý Bác dặn thì có tốn kém hơn đôi chút ạ!

– Chú nói đúng ! – Bác cười, chòm râu rung nhè nhẹ.

– Thưa Bác, làm nhà để Bác ở, chúng cháu ai cũng cố gắng làm tốt, làm đẹp trong từng phần việc của mình. Mỗi người dù rất tiết kiệm, nhưng vẫn phải thêm thắt tý chút. Chúng cháu còn muốn Bác ở nhà đẹp hơn, tốt hơn – Anh Ninh lại đỡ lời.

– Nước ta còn chưa giàu – Bác Hồ nói tiếp – dân ta còn khổ, chưa đủ nhà ở. Bác ở thế này là quá tốt rồi, các chú không phải lo cho Bác.

Hôm tân gia và cũng là ngày Bác dọn về ở nhà sàn đúng ngày 18-5-1958, một ngày trước sinh nhật của Người. Nhà sàn trở thành món quà sinh nhật lớn thật có ý nghĩa.

Thanh Hương

bqllang.gov.vn

Thương Bác vô cùng !…

Bà Dương Thúy Liên, cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch từ năm 1949 đến năm 1954, kể lại rất nhiều câu chuyện cảm động về Bác Hồ kính yêu, nhất là sự giản dị, tiết kiệm trong cuộc sống, trong sinh hoạt của Bác.

Bà Dương Thúy Liên, cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch từ năm 1949 đến năm 1954, kể lại rất nhiều câu chuyện cảm động về Bác Hồ kính yêu, nhất là sự giản dị, tiết kiệm trong cuộc sống, trong sinh hoạt của Bác.

Bà kể: “Ngoài công việc chuyên môn của văn phòng, tôi còn nhận thêu thùa, may vá quần áo, chăn màn, vỏ gối cho Bác. Nhiều tấm áo rách, phải vá đi, vá lại mấy lần Bác mới chịu bỏ, thay áo khác. Có lần, anh Cần (người phục vụ Bác) đưa cho tôi chiếc vỏ gối màu xanh hòa bình và bảo vá tiếp chỗ rách. Cầm chiếc vỏ gối đã vá đi vá lại, miếng vá nọ thay miếng vá kia, tôi rưng rưng nước mắt, nói với anh Cần:

– Thôi, anh đừng bắt tôi vá áo gối cho Bác nữa, tôi thương Bác lắm, anh thay chiếc áo gối khác cho Bác dùng !

– Tôi đã đề nghị với Bác thay áo gối mới, nhưng Bác chưa đồng ý. Chị chịu khó vá giúp tôi ! – Anh Cần nói.

Tay cầm kim mà tôi không đưa nổi mũi kim. Tôi xúc động và thương Bác quá chừng. Bác thường giải thích, đất nước vẫn còn nghèo, dân ta vẫn còn khổ, mọi người, mọi nhà đều phải thực hành tiết kiệm, Bác căn cơ như thế cũng là việc nên làm… Mỗi lần may vá quần áo, chăn màn cho Bác, tôi đều thấy thân thương, gần gũi như đang chăm sóc người cha. Bác đối với chúng tôi cũng như người cha, người anh đối với con em mình”.

Bà Liên còn kể, hồi ở chiến khu Việt Bắc, có một lần Bác đi công tác về muộn và khá mệt, bà được mọi người giục nấu cháo để Bác ăn. Đang nằm nghỉ, nghe thấy chuyện nấu cháo, Bác liền nhổm dậy bảo: “Còn cơm thừa, cô Liên đem nấu cháo cho Bác, vừa nhanh chín, vừa đỡ phí !”. Mấy người có mặt khi đó đều lặng đi vì thương Bác. Đã mệt, không ăn được cơm, mà lại ăn cháo cơm nguội rời rạc, khó ăn, ai mà không thương Bác. Biết thế, nhưng bà Liên vẫn phải làm theo, nếu không sẽ bị Bác phê bình nghiêm khắc.

Vũ Trần

bqllang.gov.vn

“Ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”

Quân dân miền Trung vừa phải gồng mình đối chọi với một đợt lũ chồng lũ lịch sử mà gần nửa thế kỷ qua mới có. Trong lúc việc khắc phục hậu quả lũ chưa xong thì cơn bão số 7 lại đang trên đường tiến vào đất liền. Thiên tai đã và đang đe doạ đến cuộc sống của rất nhiều người dân đất Việt.

Nhớ lại sáu mươi năm trước, trong thư gửi đồng bào trung du và hạ lưu chống lụt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Người ta thường nói “thuỷ, hoả, đạo, tặc”. Chúng ta phải ra sức ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”.

Thực hiện lời dạy của Bác, trong suốt sáu chục năm qua, cùng với nhiệm vụ xây dựng, giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, cả nước đã dồn sức, dốc lực trong công cuộc phòng chống thiên tai. Cũng như trên mặt trận chống giặc ngoại xâm, trên mặt trận phòng, chống lụt bão, vai trò của quân đội đã luôn ở vị trí xung kích. Đặc biệt, trong đợt lũ lịch sử vừa qua, các đơn vị quân đội đã là lực lượng chủ công trong việc sơ tán dân, cứu hộ, cứu nạn. Nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi… sẽ khó phai mờ hình ảnh các anh Bộ đội Cụ Hồ thức suốt đêm để bảo vệ an toàn đê biển, lội nước đến tận bụng để cõng người già, trẻ em ra khỏi vùng nguy hiểm, thả hàng cứu trợ bằng máy bay trực thăng…

Tuy nhiên, qua đợt cao điểm phòng, chống thiên tai vừa qua, cũng phải thẳng thắn đánh giá, ở một vài địa phương đã không thực hiện tốt lời Bác dạy, chưa coi việc ” ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”, tổ chức hiệp đồng chưa tốt, để xảy ra thiệt hại lớn về người và tài sản. Thậm chí có nơi bị động khi nước lũ lên nhanh, các phương tiện thông tin liên lạc khi bão, lũ ập về không phát huy được tác dụng. Công tác sơ tán dân đã không thực hiện kiên quyết, dẫn đến những tai nạn đáng tiếc cho dân. Việc khắc phục hậu quả chưa kịp thời, dẫn đến những tổn thất do bão lũ gây ra rất lớn.

Để chống được giặc ngoại xâm, từ hàng nghìn năm nay, chúng ta đã có rất nhiều bài học xương máu từ công tác tổ chức, chỉ huy, xây dựng chiến thuật, thế trận…Để phòng, tránh và ngăn chặn thiên tai, chúng ta cũng đã từng có những kinh nghiệm rất quý từ việc đắp đê chống lụt đến chuyện xây nhà chống bão. Thế nhưng, cũng giống như chống giặc ngoại xâm để “ngăn giặc lụt”, đòi hỏi người dân vùng lụt phải tổ chức chặt chẽ, có thế trận hiệp đồng, có chỉ huy, sự phối hợp giữa các lực lượng…

Việt Nam nằm trong vùng có nhiều thiên tai của thế giới, trong đó nhiều nhất là bão, lũ. Dù khoa học kỹ thuật đã phát triển đến mức rất cao, nhưng cho đến thời điểm này, chúng ta chưa có khả năng điều chỉnh hướng đi của bão theo ý muốn, chưa có khả năng khống chế thời tiết mưa, nắng trên diện rộng. Vì vậy việc tránh thiên tai là rất khó. Thế nhưng, chúng ta hoàn toàn có khả năng giảm thiểu tác hại của thiên tai thông qua các giải pháp thích hợp như sơ tán dân khỏi vùng nguy hiểm, không cho tàu thuyền hoạt động ở những vùng có gió bão, neo chắc nhà cửa, tổ chức tốt việc cứu nạn… “Ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”, lời dạy của Bác Hồ từ sáu chục năm trước, cho đến thời điểm này vẫn còn nguyên tính thời sự.

Lê Văn Thuỳ

bqllang.gov.vn

Mong có sức khoẻ để phục vụ Đảng và nhân dân

(ĐCSVN)-“Tôi chỉ nghĩ sao còn có sức khỏe tốt để làm được nhiều việc Đảng và nhân dân giao cho. Tôi cũng rất tin tưởng và mong muốn lớp đảng viên trẻ hôm nay sẽ học tập thấm nhuần tư tưởng đạo đức của Bác Hồ, luôn phát huy được vai trò gương mẫu của người Đảng viên”.

Tôi gặp ông tại hội nghị khen thưởng của thành phố về tấm gương người tốt việc tốt. Tôi cứ có ấn tượng mãi về ông, nhìn bề ngoài trông ông giống như một “Bác chủ nhiệm hợp tác xã thời bao cấp”, dáng vẻ hiền lành, nụ cười đôn hậu chất phác. Ông Nguyễn Văn Nịnh ở số 10/11B ngõ Thanh Miến, Phường Văn Miếu, Quận Đống Đa, Hà Nội – hiện ông là Bí thư chi bộ cụm dân cư số 2 thuộc phường Văn Miếu. Ông sinh năm 1932, năm nay đã bước sang tuổi 75 và có hơn 57 năm tuổi Đảng, sinh ra và lớn lên tại quê lụa Hà Đông, xuất thân từ một gia đình bần nông.Năm 1949 sớm được giác ngộ cách mạng, người thanh niên 16 tuổi Nguyễn Văn Nịnh đã tham gia du kích tập trung của xã chiến đấu chống càn quét của thực dân Pháp. Năm 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, ông gia nhập bộ đội chủ lực F320 tham gia chiến dịch Trung du – Hà Nam Ninh. Năm 1952 bị giặc Pháp bắt giam tại nhà tù Nhà Tiền Hà Nội (Nay là nhà in Tiến Bộ), sau bị chuyển vào nhà giam Hạnh Thông Tây, Sài Gòn. Mặc dù bị địch tra tấn dã man nhưng ông vẫn giữ vững ý chí chiến đầu kiên cường của người chiến sỹ cách mạng. Hòa bình lập lại, ông được trao đổi tù bình về E55 thuộc Bộ tổng tư lệnh, sau đó ông chuyển về ngành giao thông vận tải. Trải qua các thời kỳ được học tập đào tạo chính trị, chuyên môn nghiệp vụ từ công nhân sửa chữa động cơ ô tô trở thành cán bộ chính quyền, công đoàn cơ sở của ngành vận tải ô tô. Dù ở bất cứ vị trí nào, ông luôn phát huy phẩm chất người lính bộ đội Cụ Hồ, hoàn thành tốt mọi công việc được giao. Về hưu trở về đời thường, bầu nhiệt huyết cách mạng và mong muốn được cống hiến vẫn tiếp tục thôi thúc người Đảng viên lão thành không quản tuổi cao, sức khỏe ông đã tham gia nhiều hoạt động ở địa phương như: Chi hội trưởng Hội cựu chiến binh, thành viên ban công tác Mặt trận, Bí thư chi bộ cụm dân cư. Với bản tính nhiệt tình và đầy trách nhiệm ông lại tối ngày lăn lộn với phong trào, luôn gương mẫu đi đầu trong thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước. Trong cuộc sống gia đình ông thực sự là một tấm gương sáng cho các con cháu noi theo. Hàng ngày, ông đảm đương việc nội trợ, từ mua bán thực phẩm đến nấu nướng giặt giũ và thuốc men chăm sóc người vợ bị ốm suốt 14 năm kéo dài của bệnh tiểu đường cao huyết áp. Năm 2001 vợ ông bị tai biến tê liệt nửa người, lúc đầu nằm bất động ông đã học và thực hiện phương pháp chữa bệnh cho vợ cùng chế độ ăn uống hợp lý, thuốc men uống đều theo sự chỉ dẫn của bác sỹ, ông đã tự tiêm cho bà một ngày 4 lần. Ông thường xuyên đưa bà ra vườn hoa bằng xe lăn để rèn luyện sức khỏe mong kéo dài tuổi thọ cho bà. Ông còn nuôi một cháu ngoại từ nhỏ sau khi mẹ cháu qua đời, đến nay cháu ngoại của ông đã lập gia đình và có công ăn việc làm ổn định.

Ông tâm sự “ Tôi tuổi đã cao, sức khỏe giảm đôi lúc thay đổi thời tiết, bệnh phổi và bệnh tim do di chứng của thời kỳ bị giặc tra tấn tù đày lại làm cho tôi có những cơn đau tức ngực khó thở, có lúc tôi nghĩ sở dĩ tôi vượt qua được những khó khăn vất vả chồng chất trong cuộc sống hàng ngày về gia đình lại đảm nhiệm được bí thư chi bộ là người đứng đầu lãnh đạo khu dân cư với biết bao diễn biến hàng ngày xảy ra. Tôi chỉ tự nhủ mình phải toàn tâm toàn trí không tiếc sức mình óc nghĩ chân bước tay làm cùng với tập thể cấp ủy, cán bộ cơ sở củng cố kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở, cùng nhau hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao”.

Trước khi chia tay, tôi mới nói mục đích của buổi gặp gỡ. Ông cười khiêm tốn nói : “Tôi chỉ nghĩ sao còn có sức khỏe tốt để làm được nhiều việc Đảng và nhân dân giao cho và bù đắp lại một phần cho vợ tôi lúc tuổi xuân ở nhà chăm sóc mẹ già em nhỏ đảm đương công việc gia đình để tôi yên tâm đi kháng chiến”./.

Lê Châu

bqllang.gov.vn

Bài học trong lần gặp Bác

Đã vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng bà vẫn tích cực tham gia công tác phụ nữ ở phường Thanh Lương. Các con bà đều đã trưởng thành, công tác ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước… Tên bà đã từng được Nhà xuất bản Giáo dục đưa vào bài toán đố học sinh cấp I thời chống Mỹ: “Chị Nguyễn Thị Minh Liên mỗi công ca máy dệt được 28,5m vải…”.

“Năm 1958, tôi xung phong vào công trường xây dựng Nhà máy dệt 8-3, đến cuối năm 1964 các phân xưởng dệt, sợi, nhuộm đã được hình thành. Lớp công nhân đầu tiên vào phân xưởng dệt có bà Kiều Minh Châu, tôi, Nguyễn Kim Dung… Đúng ngày 8-3-1965, Nhà máy khánh thành và vinh dự được đón Bác về thăm. Từ phân xưởng dệt, tôi chạy như bay sang phân xưởng nhuộm. Anh chị em đứng quanh Bác đông nghịt. Tôi cố kiễng chân lên để nhìn Bác cho rõ và nghe Người nói chuyện.

Làm theo lời Người dạy, cả nhà máy bừng lên khí thế mới hăng say sản xuất “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt” và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Tôi đảm nhận từ 4 máy lên 8 máy rồi 12 máy trong suốt ca dệt và thường xuyên đạt 28-30m vải một công ca máy, dẫn đầu phân xưởng dệt phẳng. Ngoài giờ sản xuất, tôi tham gia đại đội tự vệ của nhà máy. Là phụ nữ chân yếu tay mềm, nhưng chúng tôi đều phải luyện tập thành thục để bắn trả máy bay Mỹ. Năm 1968, tôi được chọn đi hội thao các môn quân sự ở trường bắn dưới Từ Liêm do Bộ Tư lệnh Thủ đô tổ chức và đạt 4 điểm 10 ở môn bắn súng, giành giải Nhất. Cũng sáng hôm ấy tôi được lãnh đạo nhà máy báo chuẩn bị lên gặp Bác. Tôi vô cùng hồi hộp và sung sướng. Chiếc xe con đưa tôi vào đến sân Phủ Chủ tịch rồi mà tôi vẫn thấy trống ngực đập thình thịch. Ngồi trong phòng khách, tôi hồi hộp chờ đợi giây phút được gặp Bác. Rồi Bác xuất hiện vẫn chiếc áo ka ki giản dị mà tôi nhìn thấy trên ảnh. Bác tươi cười ôm hôn tôi hỏi “Nữ du kích Hoàng Ngân đoạt giải Nhất ở hội thi hôm qua đây phải không ? Cháu giỏi lắm !”. Nói sao hết bao nỗi xúc động của tôi lúc đó. Người ân cần hỏi chuyện chồng tôi đi B năm nào ? ở chiến trường nào ? Mẹ già có khỏe không? Các con đi sơ tán có khỏe không ? Học giỏi không?”. Tôi trả lời từng câu hỏi của Bác mà lòng cảm động khôn xiết. Bác đưa tôi vải lụa mang về biếu mẹ già và vải áo cho hai con, tặng tôi huy hiệu của Người. Người ôm hôn tôi lần nữa và dặn dò tôi cố gắng nuôi con tốt, sản xuất và chiến đấu giỏi, xứng đáng là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu. Tôi nhận quà và nghe Bác dặn mà nước mắt bỗng trào dâng.

Sau lần gặp Bác, tôi vinh dự được đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc. Đó là những kỷ niệm thiêng liêng không bao giờ phai mờ trong ký ức tôi, người thợ dệt, cán bộ công đoàn phân xưởng dệt Nhà máy Dệt 8-3. Nhớ lời Bác dạy, tôi đã vượt qua nỗi đau đớn khi chồng tôi hy sinh. Tôi đã nén chịu riêng mình để các con yên vui học hành. Một mình gánh vác hai bên nội ngoại, tôi như con thoi giữa nhà máy và hai quê, vừa bảo đảm chất lượng vải trong ngày tăng ca (từ 2h chiều đến 6h sáng hôm sau), vừa lo cho cha mẹ già và hai con ăn học. Những ngày gian nan ấy, tôi luôn như thấy lời Bác văng vẳng và hình ảnh Bác bên mình tiếp thêm cho tôi sức mạnh vượt qua khó khăn. Năm 1969, trong đoàn đại biểu của Nhà máy đi viếng Bác, trước linh cữu của Người tôi thầm hứa sẽ khắc ghi lời Người dặn dò. Trong cuộc thi thợ giỏi toàn miền Bắc lần thứ hai, tôi đã giành giải nhất. Năm 1976, tôi được chọn vào đoàn đại biểu của Hội LHPN VN đi thăm các nước bạn bè.

Những lời Người dặn luôn thôi thúc tôi phấn đấu, trong 10 năm liền (1967-1977) tôi liên tục giữ vững danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn ngành dệt. Tôi vẫn dặn dò con cháu phải liên tục học và làm theo tấm gương của Người vì tôi có được như ngày nay là nhờ những bài học mà tôi đã học được trong lần gặp Bác.

Nguyễn Phạm

bqllang.gov.vn

“Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai ?…”

Chuyện xảy ra vào đêm giao thừa tết Nguyên đán năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Cũng giống như nhiều cuộc viếng thăm không theo chương trình.

Bác cùng vài đồng chí cảnh vệ, cải trang như những cán bộ bình thường, bất ngờ vào thăm nhà chị Tín. Gần đến giao thừa, chị Tín vẫn mải miết gánh nước thuê để sáng mùng một Tết có cơm cho 4 đứa con. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước. Nắm chặt bàn tay Bác, chị bộc bạch:

– Cháu… cháu không ngờ lại được Bác đến thăm… – Chỉ nói được vậy, chị đã òa khóc.

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai… – Vị Chủ tịch nước ân cần an ủi.

Vào nhà chị Tín (thực chất chỉ là cái lều bán mái), trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một nén hương. 4 đứa nhỏ, lớn nhất 10 tuổi đang ngồi trên giường chia nhau một gói kẹo. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó 4 năm, bản thân chị không có việc làm ổn định, lại đông con nên cuộc sống vô cùng vất vả. Bác đã trò chuyện, thăm hỏi khá lâu 5 mẹ con chị Tín.

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác trầm ngâm suy nghĩ. Về đến nhà, các đồng chí trong Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Ai nấy đều băn khoăn vì thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện, Bác nói: “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số cán bộ các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta”.

(Theo “Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ” – NXB Thanh Niên, tháng 5-2006)

bqllang.gov.vn

Tổ quốc và Bác Hồ trong lòng bà con Việt kiều

Những năm đầu của thập kỷ 1960 thế kỷ trước, ở Thái Lan, Việt kiều không được treo cờ Việt Nam một cách công khai như trước nữa. Bà con đã họp nhau lại và cùng nhất trí: Tuy ở xa đất mẹ, nhưng mỗi gia đình phải có một bàn thờ, có cờ hai màu đỏ và vàng để thờ Tổ quốc, thờ Bác Hồ và cúng tổ tiên. Được biết, có gia đình khá giả đã thuê thợ đóng bàn thờ tới hai ba ngàn bạt (đơn vị tiền tệ của Thái Lan), nhà tầm tầm thì vài ba trăm bạt, còn gia đình nào nghèo thì tự đóng lấy chẳng tốn là bao, miễn là có bàn thờ để thắp hương hướng về đất mẹ.

Thế là kiều bào ta ở Thái Lan nhà nào cũng có bàn thờ Tổ quốc, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh được treo ở nơi cao nhất, tôn kính nhất. Hình ảnh Bác Hồ luôn khắc sâu trong lòng mọi người dân Việt kiều. Bởi, “Chẳng thà thiếu mặc thiếu ăn. Quyết không thiếu được chân dung cụ Hồ”. Cứ mỗi năm sắp đến sinh nhật Người là kiều bào lại nhộn nhịp sửa soạn, nhắc nhau: “Dù ai buôn đâu bán đâu. Tháng 5, mười chín rủ nhau thì về…”.

Chiếc bàn thờ hiện đang lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là một trong những bàn thờ do kiều bào ta ở Thái Lan mang về khi hồi hương (tháng 11 năm 1963). Nó cũng giống như rất nhiều bàn thờ của các gia đình Việt Nam thường dùng theo phong tục thờ cúng tổ tiên. Một gia đình Việt kiều sinh sống nhiều năm ở Thái Lan, quê ở Quảng Bình mang chiếc bàn thờ về nước đã kể lại: “Chúng tôi sang Thái Lan từ năm 1925. Khi nghe trong nước đánh đổ giặc Nhật, giặc Pháp, giành chính quyền vào tháng 8-1945 thì ở bên này, gia đình tôi đã may cờ treo trong nhà và tự lập bàn thờ này để thờ tổ tiên, thờ Tổ quốc, thờ Bác Hồ, tưởng nhớ về quê hương. Lúc đầu chỉ thờ ảnh Bác Hồ, không treo cờ vì sợ bị bắt bớ. Nhưng sau thì chúng tôi treo cả cờ. Chính phủ mới nắm chính quyền được mấy tháng thì bắt đầu khủng bố, bắt Việt kiều phải di tản đi ba tỉnh miền núi, bắt dỡ bỏ bàn thờ. Việt kiều ta đấu tranh kịch liệt, đòi được thờ cúng tổ tiên theo phong tục người Việt Nam… Về sau, chính quyền phải nhượng bộ nhưng lại cấm treo cờ Tổ quốc. Vì vậy kiều bào ta đã phải treo cờ bên trong và để ảnh Bác Hồ bên ngoài để che mắt chính quyền… ”.

Thật cảm động khi được ngắm nhìn chiếc bàn thờ đơn sơ nhưng rất thiêng liêng, gồm hai lọ hoa bằng nhựa, một bình hương bằng gốm sứ tráng men có trang trí “Lưỡng long chầu nguyệt”, một bát đồng bạch có đế, một đĩa đồng bạch có đế, một lá quốc kỳ bằng vải đỏ có ngôi sao vàng ở giữa nay đã bạc màu, hai cành hoa nhiều màu bằng giấy. Bàn thờ còn có các khẩu hiệu: “Tổ quốc trên hết”, “Việt Thái thân thiện muôn năm”, “Việt kiều đoàn kết muôn năm”, “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Đồng bào ta tuy xa quê hương nhưng vẫn nhớ về đất tổ, nhớ đồng bào, nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh với bao niềm hy vọng lớn! Do đó, khi được trở về Tổ quốc họ cũng vẫn không quên mang theo chiếc bàn thờ nhỏ, kỷ vật thiêng liêng.

Bàn thờ bằng gỗ không lớn lắm, có kích thước (63 x 48 x 83,5) cm. Hiện chiếc bàn thờ đã cũ, sơn bị bong tróc đôi chỗ, hai lọ hoa giấy cũng đã ngả màu bởi thời gian. Nhưng nó vẫn là hiện vật quý chứng minh cho lòng yêu nước nồng nàn của Việt kiều ta ở Thái Lan. Tuy ở xa Tổ quốc, thiếu tin tức ở quê nhà, lại bị bọn phản động dùng đủ mọi mưu mô chia rẽ, nhưng họ vẫn vững lòng tin tưởng ở Chính phủ, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn luôn làm trọn nghĩa vụ với Tổ quốc.

Thờ Tổ quốc, thờ Bác Hồ – việc làm mang tính tâm linh này của các gia đình Việt kiều tại Thái Lan cho thấy, dù ở đâu, làm gì, tấm lòng người con đất Việt luôn hướng về Đất Mẹ với tình yêu tha thiết và niềm nhớ thương khôn nguôi. Bởi vậy, sau khi đất nước giành được độc lập, tự do và xây dựng trong hòa bình còn bao khó khăn gian khổ, kiều bào ta ở Thái Lan vẫn mong muốn trở về để được góp sức xây dựng quê hương, đất nước, thực hiện lời dạy của Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Lê Minh Độ

bqllang.gov.vn

Đồng chí Trương Tấn Sang: Học tập và làm theo Bác phải trở thành tập quán và chuẩn mực văn hoá của Đảng ta, nhân dân ta

Trong hai ngày 20-21/11, Đồng chí Trương Tấn sang, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã kiểm tra việc thực hiện Cuộc vận động tại Hà Nội. Đồng chí biểu dương đảng bộ, nhân dân thành phố Hà Nội đã nhận thức rõ tầm quan trọng, cũng như mục tiêu trước mắt và lâu dài của Cuộc vận động; từ đó việc triển khai thực hiện được tiến hành nghiêm túc, có nhiều sáng tạo.

Tham gia đoàn công tác có đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng ban Chỉ đạo Cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thành phố Hà Nội; đồng chí Vũ Văn Hiến, Uỷ viên T.Ư Đảng, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam; đồng chí Nghiêm Đình Vì, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; các đồng chí thường trực Ban chỉ đạo thành phố Hà Nội và bộ phận giúp việc Ban chỉ đạo Trung ương.

Đoàn công tác đã làm việc tại xã Liên Hà, huyện Đông Anh; Công ty cổ phận chế tạo máy điện Việt Nam-Hunggari; Huyện uỷ Đông Anh; Bệnh viện mắt Hà Nội; Sở kế hoạch – đầu tư và Ban chỉ đạo Thành uỷ Hà Nội. Qua kiểm tra cho thấy, thành phố Hà Nội đã tiến hành các bước của Cuộc vận động nghiêm túc, sáng tạo; mỗi cấp uỷ, mỗi đơn vị, xã, phường đều bám sát tinh thần chỉ đạo của cấp trên đồng thời gắn với đặc thù của đơn vị mình. Ở huyện Đông Anh, việc tuyên truyền Cuộc vận động, tổ chức thi kể chuyện về Bác Hồ đều gắn với kể chuyện truyền thống lịch sử địa phương và liên hoan văn nghệ…nên thu hút rất đông quần chúng tham gia. Hội thi kể chuyện về Bác Hồ được tiến hành ở phường, xã và thi liên phường, xã; sau đó thi cấp quận, huyện… tạo nên không khí sôi nổi, khơi dậy niềm tự hào về Bác kính yêu. Các đơn vị như: ngành y tế gắn Cuộc vận động với nội dung nâng cao y đức; ngành giáo dục gắn với nâng chất lượng dạy và học, chống tiêu cực trong thi cử.v.v…Ban chỉ đạo thành phố Hà Nội đã biên tập và phát hành hai cuốn sách “Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh” vừa phổ biến tới các đơn vị trong địa phương vừa gửi tặng Ban chỉ đạo cuộc vận động của các tỉnh, thành phố trong cả nước; những mẩu chuyện về Bác Hồ được ghi âm và gửi cho tất cả các đài truyền thanh xã, phường để phát trên đài định kỳ vào những ngày trong tuần để bà con nhân dân cập nhật. Nhiều phường, xã đã xây dựng “Chương trình truyền thanh về học tập và làm theo gương Bác Hồ.

Trên cơ sở kiểm tra thực tế tại các đơn vị cơ sở, đoàn công tác đã làm việc với Ban chỉ đạo Thành phố Hà Nội. Đồng chí Trương Tấn Sang và đoàn công tác đã nghe đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ, Trưởng ban và các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo của Hà Nội báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện cuộc vận động trên địa bàn trong hơn 8 tháng qua. Nhìn chung, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên địa bàn Hà Nội đã trở thành đợt sinh hoạt văn hoá, chính trị sâu rộng, gắn với công tác chỉnh đốn, xây dựng Đảng và các chương trình thi đua khác. Công tác chỉ đạo từ thành phố đến cơ sở được quan tâm đúng mức; bám sát kế hoạch và có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn. Qua đó, đã kịp thời tháo gỡ những vướng mắc ở một số cơ sở. Mỗi tháng, các cấp uỷ đều kiểm điểm tình hình thực hiện Cuộc vận động về cả hai mặt: nhận thức và chuyển hoá thành hành động. Một quý, cấp uỷ, tổ đảng đều kiểm điểm tình hình thực hiện Cuộc vận động so với quý trước, những việc đã làm được, những hạn chế cần khắc phục. Thông qua các hoạt động “Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, lấy ý kiến quần chúng góp ý cho đảng viên ở cơ sở đã có tác động tốt, làm chuyển biến tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên. Thể hiện rõ nhất ở việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các công sở, sử dụng phương tiện công cộng; thái độ tiếp dân đúng mực; thúc đẩy cải cách hành chính, thực hiện “Một cửa liên thông giữa các sở, ban ngành” tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, cho nhân dân; thái độ phục vụ bệnh nhân được nâng lên bước; công tác trực phòng, chống dịch tả đã bảo đảm đủ 100% quân số trên 24/24 giờ mỗi ngày.v.v…

Qua phân tích, đánh giá tình hình thực hiện Cuộc vận động, đồng chí Trương Tấn Sang biểu dương đảng bộ, nhân dân thành phố Hà Nội đã nhận thức rõ tầm quan trọng, cũng như mục tiêu trước mắt và lâu dài của Cuộc vận động; từ đó việc triển khai thực hiện được tiến hành nghiêm túc, có nhiều sáng tạo. Mỗi cấp ủy, cơ quan, đơn vị đã thấy được tầm quan trọng, tính thiết thực của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị và toàn xã hội, bước đầu có tác động tích cực đến tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị. Cuộc vận động ở cấp xã, phường hiện tại đạt hiệu quả tốt; cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hăng hái tham gia học tập. Phần hạn chế trong thể thức lấy ý kiến quần chúng góp ý cho đảng viên cũng sẽ là kinh nghiệm tốt để Ban chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động bổ sung vào việc chỉ đạo. Đối với công nhân viên khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đồng chí Trương Tấn Sang yêu cầu Ban chỉ đạo thành phố Hà Nội quan tâm triển khai Cuộc vận động tại khu vực này bằng hình thức thích hợp. Đặc biệt phải chú trọng tuyên truyền, vận động tuổi trẻ tham gia học tập và làm theo Bác Hồ với nhiều chương trình phù hợp với nhà trường, với tuổi trẻ lao động ở khu công nghiệp, khu vực nông thôn. Trước hết, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, tự giác học tập và làm theo tấm gương của Bác, từ đó lôi cuốn quần chúng học tập, noi theo. Việc xây dựng tiêu chuẩn theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải có chuẩn mực chung và chuẩn mực riêng đối với từng ngành, cũng như đối với từng người trên từng cương vị công tác cụ thể. Khi xây dựng chuẩn mực đạo đức đối với cán bộ lãnh đạo phải cao hơn so với viên chức; hoặc cán bộ làm ở các sở, ban, ngành phải khác với tiêu chuẩn cán bộ công tác ở phường, xã…Trong công tác tuyên truyền phải chú ý vừa nêu tấm gương đạo đức Bác Hồ vừa biểu dương những gương người tốt, việc tốt đã học tập, làm theo Bác. Bởi vì, học tập Bác không khó bằng làm theo tấm gương của Bác trong mỗi suy nghĩ, công việc hàng ngày và rộng hơn là thực hiện nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó cho cán bộ, đảng viên.

Để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động thắng lợi trong thời gian tới, trước mắt cần sơ kết công tác năm 2007, xây dựng các giải pháp thực hiện kế hoạch năm 2008 với chủ đề: “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí….đồng chí Trương Tấn Sang yêu cầu Ban chỉ đạo thành phố tìm tòi nhiều hình thức tuyên truyền vừa tạo sức thuyết phục, lay động lòng người, vừa gắn với đời sống thực tiễn. Tránh tuyên truyền một chiều chỉ nêu tấm gương đạo đức của Bác mà không nêu điển hình tiên tiến học tập và làm theo theo tấm gương của Bác. Mặt khác, phải tổ chức tốt việc lấy ý kiến quần chúng ở nơi công tác và nơi cư trú về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức thật hiệu quả, tránh hình thức. Từ ý kiến của quần chúng phải tiến hành xem xét, sửa chữa ngay những khiếm khuyết của cán bộ, đảng viên để quần chúng tin tưởng vào hiệu quả thiết thực của Cuộc vận động. Đồng chí mong muốn mỗi cán bộ, đảng viên ở Thủ đô là những người đi đầu trong Cuộc vận động này, tạo sự chuyển biến và sức mạnh mới để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng; để Thủ đô trở thành đơn vị điển hình của cả nước về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Toàn đảng, toàn dân ta đều yêu kính Bác, chúng ta phấn đấu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải trở thành tập quán và chuẩn mực văn hoá của Đảng ta, nhân dân ta”.

TTXVN

bqllang.gov.vn