Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1936)

Mùa hè

Nguyễn Ái Quốc cùng với một số đồng chí trong Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản chuẩn bị cho các đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, Tú Hưu về nước qua đường Pháp – Hồng Kông – Việt Nam. Người dặn kỹ kinh nghiệm, mật hiệu liên lạc khi đến Hồng Kông… Người còn dặn mấy ý kiến chuyển tới đồng chí Duy (tức Lê Hồng Phong) ở Thượng Hải: Trung ương Đảng phải chuyển về trong nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào; không thoả hiệp với bọn tơrốtxkít; lập Mặt trận Dân tộc dân chủ rộng rãi chống phátxít, chống chiến tranh đế quốc…

– Tú Hưu: Đi họp Quốc tế Cộng sản, Nxb. Dân tộc, Việt Bắc, 1964.

– Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 325-327.

Mùa hè

Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị kế hoạch xin về nước. Người dự định sang Béclin rồi sang Pháp, và từ Pháp đi tàu về Đông Dương… Nếu gặp khó khăn thì đến Thượng Hải, nơi Quốc tế Cộng sản đã lập lại các cơ sở liên lạc của mình, rồi tìm đường về Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc được Vụ Tổ chức cán bộ của Quốc tế Cộng sản mời đến làm tờ khai lý lịch, hộ chiếu, giấy đi đường…

Song, chuyến đi này phải huỷ bỏ vì tình hình thay đổi.

Trong khi chờ đợi một dịp khác, Nguyễn Ái Quốc vào làm việc tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa8 đặt trụ sở tại nhà số 25, đại lộ Tvécxkôi ở Mátxcơva.

– Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 322.

– Nguyễn Khánh Toàn: Gặp Bác Hồ ở Liên Xô, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 114.

Khoảng cuối năm

Sau khi nhận công tác tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc (Lin) chuyển chỗ ở về phố Bansaia Brônnaia, nhà số 6a, phòng 417.

– Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây). Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1935)

Tháng 1, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông 1), ký tên Lin, nêu lên tình trạng thiếu lý luận cách mạng của đại đa số cán bộ Đảng Cộng sản ở Đông Dương, Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia… và những vấp váp, sai lầm, bế tắc của họ do “trình độ lý luận và chính trị rất thấp” gây nên.

Người yêu cầu Ban Phương Đông “phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có” và nêu tên 30 loại sách, tài liệu cần xuất bản viết về các vấn đề sau đây: Tuyên ngôn Cộng sản, Đảng Cộng sản và tổ chức của Đảng, Lịch sử Quốc tế Cộng sản, Luận cương và Nghị quyết về vấn đề thuộc địa của Quốc tế Cộng sản… Theo Người, đó là “biện pháp duy nhất có hiệu quả” để nhanh chóng chấm dứt tình trạng lạc hậu về lý luận cách mạng nói trên. Kết luận, Người nhấn mạnh, đối với những đồng chí ở các nước thuộc địa như Đông Dương, mà ở đây Đảng hoạt động bất hợp pháp và trình độ văn hoá của những người lao động còn thấp, thì những quyển sách nhỏ này rất có ích.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 83-87.

            – Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 6, ngày 29

Hoàn cảnh của Nguyễn Ái Quốc từ sau khi thoát khỏi nhà tù Hồng Kông được đề cập trong thư của Trưởng phòng Đông Dương Vêra Vaxiliêva gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, bày tỏ băn khoăn về việc Nguyễn Ái Quốc dễ dàng thoát khỏi nhà tù Hồng Kông, sự theo dõi sát sao của cảnh sát Pháp và việc tại sao Nguyễn Ái Quốc không được đi thực tế và tham gia vào công tác bí mật của Đảng. Bức thư có đoạn: “Tháng 6 – 1934, Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva. Qua lời kể của đồng chí thì khó xác định được tại sao đồng chí lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp… Đồng chí nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vayăng Cutuyariê (Vaillant Couturier) trong thời gian ở Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng tất cả những việc này cần phải được kiểm chứng một cách thận trọng. Khi đồng chí đến đây, chúng tôi đã chuyển đồng chí tới Trường Lênin tại Mátxcơva, nơi đồng chí đang nghiên cứu… Nhiều lần đồng chí đề xuất với tôi xem xét vấn đề và thảo luận việc thành lập mối liên lạc giữa các Đảng. Đồng chí kiên trì theo dõi những chuyến đi của học viên, họ đi đâu và với nhiệm vụ gì và rất đau khổ vì tại sao đồng chí không được tham gia vào việc này hay việc khác của công tác bí mật “.

            – Thư của Vêra Vaxiliêva gửi Ban Thư ký Phương Đông (bản sao gửi Phòng Cán bộ IKKI), tiếng Nga, bản chụp, lưu tại Văn phòng Trung ương Đảng.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 239.

Tháng 8, ngày 16 2)

Nguyễn Ái Quốc điền Bản khai đại biểu tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản7.

1. Quê quán: Đông Dương.

2. Họ, tên, bí danh trong Đảng hiện nay: Teng Man Huon.

3. Họ, tên, bí danh trong Đại hội: Lin.

4. Dân tộc: Đông Dương.

5. Tuổi: sinh năm 1900, 35 tuổi.

6. Thành phần xuất thân: Gia đình trí thức.

7. Trình độ học vấn: tự học.

8. Đã học trường Đảng chưa? Từ năm nào đến năm nào?: Đang học Trường Quốc tế Lênin.

9. Nghề nghiệp, đã làm bao nhiêu năm?: thuỷ thủ, làm thuê 10 năm.

10. Phương tiện sinh sống hiện nay: sinh viên Trường Quốc tế Lênin.

11. Đã tham gia những bộ phận nào của Quốc tế Cộng sản? Từ năm nào đến năm nào?

– Từ năm 1921 – 1930 tham gia Đảng Cộng sản Pháp.

– Từ năm 1930 đến nay là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.

12. Có tham gia các đảng phái nào khác? Từ năm nào đến năm nào?: không.

13. Những công tác Đảng đã và đang tham gia từ Đại hội VI Quốc tế Cộng sản?

– Từ năm 1928, tổ chức phong trào công nhân và nông dân ở Xiêm.

– Năm 1930 – 1931, tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương.

14. Có bị bắt vì hoạt động cách mạng không? Bao nhiêu năm bị tù đày?

– Năm 1931 bị bắt, bị tù 2 năm.

– Năm 1933 ra khỏi tù.

15. Đã tham gia những Đại hội, những Hội nghị quốc tế nào? (Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Công đoàn…).

– Đã tham gia Đại hội V Quốc tế Cộng sản với tư cách đại biểu… và Đại hội quốc tế Công đoàn.

16. Từ nước mình hay nước ngoài đến (Liên Xô)?

– Từ nước ngoài (Trung Quốc).

17. Có là thành viên của nghị viện, cơ quan hành chính nào không?

– Không.

Ký tên: Lin.

            – Bản khai đại biểu tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 310-312.

Tháng 8, sau ngày 20

Nguyễn Ái Quốc và Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản dự bữa cơm thân mật do Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp M. Tôrê (M. Thorez) và Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc Vương Minh tổ chức ở ngoại ô Mátxcơva để chúc mừng Đảng Cộng sản Đông Dương đấu tranh oanh liệt, thắng lợi vẻ vang.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 318.

Tháng 9, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc cùng với Nguyễn Thị Minh Khai,
Tú Hưu 3) dự Đại hội lần thứ VI Quốc tế Thanh niên, khai mạc tại Trụ sở các công đoàn Liên Xô. Tại Đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã trả lời nhà văn I. Êrenbua khi được hỏi cảm nghĩ về mùa xuân này: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 320. 

—————————– 

1) Thư viết bằng tiếng Pháp. Cuối thư ký tên Lin (bằng tiếng Nga) (B.T).

2) Ngày 16-8-1935 là ngày tháng ghi ở cuối Bản khai. Còn ở phần trên Bản khai ghi ngày 13-8-1935 (B.T).

3) Tú Hưu: đồng chí Hoàng Văn Nọn (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1934)

Mùa xuân, trước tháng 6

Vào một ngày xuân, trong bộ quần áo dài Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc bước lên một chiếc tàu hàng Xôviết ở Thượng Hải để đi Liên Xô. Sau mấy ngày, tàu cập cảng Vlađivôxtốc (Liên Xô).

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo tập 1 (1920-1954), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 211.

            – X. Aphônhin, E. Cabêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị, Mátxcơva, 1980 (bản tiếng Nga), tr. 93.

Tháng 6

Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva.

            – Thư của Vêra Vaxiliêva, ngày 29-6-1935, gửi Ban Thư ký Phương Đông, tiếng Nga, bản phôtô bức thư, lưu tại Văn phòng Trung ương Đảng.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 239.

Tháng 9, khoảng cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc được Ban Phương Đông gửi đến điều dưỡng tại nhà an dưỡng Ximêít ở vùng Crưm.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 296-297.

Tháng 10

Với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc chính thức được nhận vào học Trường Quốc tế Lênin6 năm học 1934-1935 (theo Quyết định số 45, ngày 2-10-1934 của Ban Giám đốc Trường Quốc tế Lênin do Phó giám đốc Liđốpxky và Chánh Văn phòng Makinhe thì Lin được Đảng Cộng sản Đông Dương gửi đến học).

Người được đăng ký trong danh sách sinh viên, số hiệu 375.

            – Bản chụp tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2 – 1988, tr. 46.

Tháng 10 đến tháng 12

Ở Trường Quốc tế Lênin, lúc đầu Nguyễn Ái Quốc sinh hoạt trong nhóm tiếng Trung Quốc. Vài ngày sau, thấy không thích hợp, Người được chuyển sang sinh hoạt ở những nhóm tiếng Pháp.

Người thường gặp gỡ nhóm học sinh Việt Nam học ở Trường đại học Cộng sản Phương Đông để giúp đỡ họ trong học tập lý luận cũng như trong sinh hoạt.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 304.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1933)

Tháng 1, ngày 12

Nguyễn Ái Quốc quyết định đi Anh, không chờ chính quyền Anh trả lời, nhưng đến Xinhgapo thì cảnh sát tại đây được nhà cầm quyền Hồng Kông báo trước, không cho Nguyễn Ái Quốc lên bờ, bắt quay trở lại Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Tháng 1, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc trên đường từ Xinhgapo trở lại
Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Tháng 1, ngày 19

Nguyễn Ái Quốc cập bến Hồng Kông và bị cảnh sát Hồng Kông bắt lại.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi luật sư Lôdơbi báo tin mình lại bị giam giữ và yêu cầu luật sư can thiệp. Thống đốc Hồng Kông chỉ thị cho cảnh sát ngay đêm 19 tháng 1 phải trả lại tự do cho Người.

                – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 235, 282.

                – E. Côbêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985, t.1, tr. 256.

Tháng 1, ngày 22

17h 00 Nguyễn Ái Quốc cải trang như một thương gia giàu có, bí mật cùng người thư ký riêng của luật sư Lôdơbi rời khỏi Hồng Kông trên một chiếc xuồng không phải của chính quyền, đưa Người ra khơi để lên tàu Anhui như một hành khách đến muộn. Kế hoạch này được Thống đốc Hồng Kông giao cho một trợ lý giám thị cảnh sát thực hiện theo cam kết mà chính quyền Hồng Kông đã thoả thuận.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 80-81.

            – F.H. Lôdơbi: Băng ghi âm buổi toạ đàm tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tháng 2-1960, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 235, 282.

Tháng 1, ngày 25 (30 tháng Chạp năm Nhâm Thân)

Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 41.

Tháng 1, từ ngày 25 đến tháng 7

Nhận lời mời của một số người bạn, Nguyễn Ái Quốc lưu lại ở Hạ Môn qua Tết âm lịch để vừa tìm cách bắt liên lạc với tổ chức, vừa tránh sự theo dõi của mật thám.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr.41.

            – Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 162.

Tháng 3, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Pháp phát lệnh truy nã.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Khoảng tháng 7

Nguyễn Ái Quốc từ Hạ Môn đáp tàu thuỷ lên Thượng Hải.

Đến hôm trước, hôm sau xem báo được biết: “Hôm qua, những tàu biển cập bến tô giới Pháp đều bị các nhà chức trách lục soát rất kỹ”. Người tiếp tục đóng vai một thân sĩ, quần áo sang trọng, ở khách sạn, nhưng đêm đêm khoá phòng lại ăn khoai trừ bữa và tự giặt lấy quần áo.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 46.

Khoảng mùa thu đến cuối năm

Ở Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục tìm cách bắt liên lạc với các tổ chức cách mạng và đồng chí của mình. Nhờ đọc báo, Người được biết một đoàn đại biểu từ châu Âu đến Viễn Đông tuyên truyền chống chiến tranh đế quốc đang có mặt ở đây, trong đoàn có Pôn Vayăng Cutuyariê. Người liền viết thư gửi cho Pôn, thuê một chiếc xe du lịch đến tự tay bỏ vào thùng thư trước nhà bà Tống Khánh Linh để nhờ bà chuyển giúp tới Pôn Vayăng Cutuyariê 1).

Vài hôm sau, Nguyễn Ái Quốc gặp Pôn Vayăng Cutuyariê. Người kể cho Pôn Vayăng Cutuyariê biết hoàn cảnh khó khăn của mình. Còn Vayăng Cutuyariê nói cho Nguyễn Ái Quốc rõ tình hình phong trào cách mạng Đông Dương và phong trào cách mạng thế giới thời gian qua. Mấy ngày sau cuộc gặp gỡ này, Nguyễn Ái Quốc đã chắp được liên lạc với đoàn thể. Sau này, Người có dịp kể lại nỗi vui mừng của Người lúc ấy:

“Ba năm lưu lạc linh đinh,

Nay đà trở lại trong đại gia đình công nông”.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 46-47.

            – Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 162.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 289-292.

 ——————————

1) Nhà bà Tống Khánh Linh lúc đó ở số 29 phố Môlie, Thượng Hải. Viết xong thư, Nguyễn Ái Quốc ăn mặc sang trọng, thuê một chiếc xe du lịch đến, tự  tay bỏ vào thùng thư trước cổng nhà.

Sau này, một lần sang nghỉ ở Trung Quốc, Người kể lại với những người xung quanh câu chuyện năm xưa: nhờ sự giúp đỡ của bà Tống mà nối lại được liên hệ với tổ chức Đảng. Người vui vẻ nói: “Lúc đó, tiền lương trong túi sắp hết, nếu không có bà Tống Khánh Linh giúp đỡ thì thật không biết làm thế nào” (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1932)

Tháng 1, ngày 26

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc do Toà án tối cao Hồng Kông chuyển lên, Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh ở Luân Đôn đã nhận được.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.

Tháng 6, ngày 27

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc gửi lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh đã được các luật sư của Nguyễn Ái Quốc và luật sư của Bộ Thuộc địa cùng nhau thoả thuận giải quyết một số điều khoản như sau:

 Nguyễn Ái Quốc sẽ rút đơn kháng án nếu chính quyền Hồng Kông cam kết:

1- Bỏ việc chỉ định “tàu biển” trong lệnh trục xuất.

2- Trong bất cứ trường hợp nào cũng không giao người kháng án cho Pháp hoặc đến một lãnh thổ do Pháp bảo hộ hoặc xuống một tàu biển của Pháp.

3- Chính quyền Hồng Kông sẽ hết sức cố gắng để bảo đảm rằng người kháng án sẽ đến được nơi muốn đến.

4- Chi 250 bảng Anh cho phí tổn của người kháng án.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 183-184.

Tháng 7, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc biết tin về nội dung các thoả thuận trên do các luật sư đại diện cho Tống Văn Sơ ở Luân Đôn gửi điện thông báo cho các luật sư đại diện của Tống Văn Sơ ở Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 188.

Tháng 7, ngày 21

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc và bản thoả thuận của luật sư cả bên nguyên và bên bị đã được Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh chấp thuận cho Nguyễn Ái Quốc rút đơn kháng án và chỉ thị cho Thống đốc Hồng Kông cùng các bên có liên quan phải thực hiện nghiêm chỉnh.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 190-191.

Tháng 8, trước ngày 15

Nguyễn Ái Quốc vẫn yêu cầu chính quyền Hồng Kông cho mình được sang Anh theo điều khoản thoả thuận vì phải sang Trung Quốc là một mối nguy hiểm cho mình. Vì vậy xin kéo dài thời gian phải ra đi sau hai tháng nữa để chờ chính quyền Anh trả lời.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 210.

Tháng 8, ngày 29

Nguyện vọng đi Anh của Nguyễn Ái Quốc không được Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh chấp nhận, nói rằng trong bản thoả thuận, Chính phủ Hoàng gia Anh không bị ràng buộc bởi yêu cầu này. Ông ta yêu cầu chính quyền Hồng Kông cần bảo đảm cho Nguyễn Ái Quốc đến một nơi mà không có nguy cơ bị Pháp bắt.

Các luật sư đại diện cho Tống Văn Sơ ở Luân Đôn đã phản ứng việc từ chối của Bộ Thuộc địa Anh, trước đã đồng ý nay lại không đồng ý, như vậy là vi phạm điều khoản đã thoả thuận.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 211-212.

Tháng 12, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc được đưa ra khỏi bệnh viện và được tự do.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1931)

Tháng 1, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc viết tài liệu Phong trào cách mạng ở Đông Dương (bằng tiếng Anh), ký tên Vícto. Bài viết tổng kết tình hình năm 1930 bằng những số liệu cụ thể, trong đó Người thống kê, phân tích, phân loại các cuộc đấu tranh liên tiếp của các tầng lớp nông dân, công nhân, học sinh, phụ nữ… Đông Dương.

Người tố cáo những tội ác của đế quốc Pháp trong “Khủng bố trắng” như: bắt giết hàng loạt người, đốt phá, huỷ diệt nhiều làng mạc và cả những thủ đoạn gây hỏa hoạn, bỏ thuốc độc xuống giếng nước để khủng bố những địa phương có phong trào cách mạng.

Người kết luận:

“Tình hình Đông Dương là như thế.

Nhiệm vụ cấp thiết của giai cấp vô sản thế giới – đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp – là chìa bàn tay hữu nghị anh em và giúp đỡ tới Đông Dương, để chứng tỏ tình đoàn kết thực sự và tích cực của họ, Đông Dương bị áp bức và cách mạng cần điều ấy!”.

            – Bản chụp bút tích, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 55-60.

Tháng 1, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc gửi thư báo cáo Quốc tế Cộng sản về việc đón nhận 11 đồng chí bị Chính phủ Xiêm trục xuất về Sơn Đầu (Trung Quốc), việc bồi dưỡng sức khoẻ, huấn luyện thêm về chính trị và giao công tác cho họ.

Người viết:

“Tôi là người chịu trách nhiệm ở đây, nên không thể để mặc họ chết đói hoặc chết rét…”.

            – Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 2, ngày 8

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Ban Phương Đông về một số vấn đề.

– “Số 1. Tin tức đấu tranh ở Trung Kỳ” (10.000 nông dân, nam nữ và trẻ em, đã tổ chức những cuộc biểu tình kỷ niệm Quảng Châu bạo động).

– “Số 2. Ở Nhà máy xi măng Hải Phòng” (3.000 công nhân Nhà máy xi măng đã bãi công và đấu tranh).

– “Số 3. Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương gửi các Xứ uỷ” về củng cố các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ và các Uỷ ban đặc biệt, bổ sung cán bộ, tuyên truyền về việc thay đổi tên Đảng, tổ chức Công hội…

– “Việc kết nạp hội viên mới vào Công hội”.

            – Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 61- 63.

Tháng 2, ngày 12

Ký tên Vícto, Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông dưới hình thức trao đổi giữa một khách hàng với một công ty. Trong thư có đoạn: “Tôi đã gửi cho ông ba lần mẫu hàng trong nước, qua người giao dịch Trung Quốc của ông, lần gửi cuối cùng vào ngày 8 tháng 2, tôi mong ông đã nhận được cả.

… Ông xem, 9 hay 10 người ở một nhà, chúng ta sẽ ăn Tết thật là vui vẻ. Các em và cháu tôi nhân cơ hội này sẽ đi Thượng Hải…

Ông đã tìm hiểu về việc “Công ty xe hoả tốc hành Mỹ” chưa? Tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để gửi tiền cho hành khách.

Hôm nay, tôi gửi thêm cho ông những mẫu hàng khác của các thương cục Mã Lai và Nam Kỳ cũng qua người bạn Trung Quốc của ông. Nhờ ông chú ý khi mẫu hàng đến”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 64.

Tháng 2, ngày 16

Ký tên Vícto, Nguyễn Ái Quốc viết tiếp Thư gửi Ban Phương Đông, dưới hình thức trao đổi của một khách hàng với một công ty buôn bán. Trong thư có đoạn:

“Tôi mong ông đã nhận được tất cả thư của tôi cùng với những mẫu hàng mà tôi đã gửi qua nhân viên Trung Quốc của ông. Nay tôi gửi thêm những mẫu hàng khác qua người bạn Thượng Hải của tôi. Yêu cầu ông trả lời cho bạn tôi biết.

Tôi vừa nhận được hai tập sách rao hàng tiếng Anh của hãng “Inpơrétcơ và công ty”. Tôi còn phải nhận thêm ở bạn Thượng Hải của tôi nhiều tập sách ấy nữa (tiếng Pháp), để gửi cho các nhà buôn Đông Dương…”

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 65.

Tháng 2, ngày 19

Nguyễn Ái Quốc viết bài Nghệ Tĩnh đỏ (bằng tiếng Pháp), ký tên V. Bài viết có ba phần, đánh dấu I, II, III.

Phần I, giới thiệu sơ qua về tình hình địa lý, nhân văn, kinh tế và truyền thống cách mạng của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Kết thúc phần I, Người viết: “Nghệ – Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu “đỏ””!

Phần II, trình bày những hình thức đấu tranh cách mạng của nhân dân Nghệ – Tĩnh những ngày cuối năm 1930 đầu năm 1931, đặc biệt là cuộc lễ “đỏ” tổ chức ở làng Lộc Đa, cách Vinh 2 km.

Phần III, vạch rõ những thủ đoạn nham hiểm của đế quốc Pháp trong việc bắt ép nhân dân tham gia các cuộc biểu tình phản cách mạng nhằm lừa bịp dư luận.

Cùng ngày, Người viết bài Khủng bố trắng ở Đông Dương, ký tên V., trình bày việc đế quốc Pháp bắt giam, xử án những người hoạt động cách mạng ở Thái Bình, Hà Nội, Nam Định và thái độ hiên ngang, dũng cảm của họ trước phiên toà.

            – Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 70-72; 66-69.

Tháng 2, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông, ký tên K. Trong thư Người thông báo tin Lý Tự Trọng bắn chết tên mật thám Lơ Grăng và đã bị bắt. Người viết: “Đồng chí thanh niên chắc chắn sẽ bị chúng xử bắn” và yêu cầu Ban Phương Đông liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp “tổ chức biểu tình đòi thả đồng chí ấy ra”.

Người còn đề nghị Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Công hội đỏ lên tiếng đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương.

Cuối thư, Người yêu cầu Ban Phương Đông “chuyển tôi về Thượng Hải” và “Hỏi Tổng liên đoàn Lao động thống nhất Pháp xem có đồng chí ở trên các tàu của Công ty hàng hải không” để liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp và Tổng liên đoàn Lao động thống nhất Pháp.

            – Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 5

Với bí danh Quac. E. Wan, Nguyễn Ái Quốc viết bài Uy quyền của đế quốc Pháp ở Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản, tố cáo sự khủng bố dã man của đế quốc Pháp đối với nhân dân Đông Dương, ca ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân và khẳng định: “tinh thần đó sẽ đưa cách mạng đến thành công”, “không có lưỡi lê, bom đạn và súng máy nào có thể dập tắt được tinh thần đó”.

            – Bản chụp tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Trong thư, Người phê bình về cuộc Hội nghị Xứ uỷ Trung và Bắc trong “Cách khai hội”, “Cách thảo luận”, trong “Vấn đề công tác”, “Vấn đề tên Đảng”, “Lực lượng của Đảng”.

Người đề nghị Đảng phải sửa chữa những thiếu sót đó, phải có chương trình hành động cụ thể cho từng huyện và từng tỉnh, cho mỗi đồng chí trong mỗi tổ chức, và yêu cầu “Tất cả mọi đảng viên và tất cả các chi bộ phải thảo luận Chỉ thị của Quốc tế thứ ba và Nghị quyết của Trung ương”.

Thư có kèm theo một bảng thống kê số lượng đảng viên, chi bộ, thanh niên, công hội, nông hội, phụ nữ trong 13 tỉnh và huyện. Qua bảng thống kê này, Người chỉ ra “năm nơi có Nông hội rất yếu”, ở Trung (tức Trung Kỳ – B.T) chưa có chỗ nào tổ chức được công nhân nông nghiệp, ở Bắc (tức Bắc Kỳ – B.T) “chỉ có hai tỉnh là có Công hội”…

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 73-76.

Tháng 4, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (đầu thư đề ngày 23-4-1931, cuối thư đề ngày 24-4-1931 và không ký tên người viết).

Trong thư, Người thông báo về những cán bộ được cử về nước theo đường dây liên lạc, nhắc nhở công tác bảo vệ Đảng, giữ gìn bí mật, duy trì chế độ báo cáo giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản và đề nghị Trung ương ghi nhận nhiệm vụ của mình đã được Ban Phương Đông xác định.

Kèm theo thư là một “miếng giấy nhỏ” của Đoàn Thanh niên Cộng sản Quốc tế5.

            – Ảnh bút tích tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 77-80.

Tháng 6, ngày 6

Sáng sớm, Nguyễn Ái Quốc – tên trong thẻ căn cước là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Hồng Kông, dưới sự chỉ đạo của thanh tra cảnh sát Carây (A.E. Carey) bất ngờ vây bắt tại ngôi nhà số 168, đường Tam Lung 1), Cửu Long mà không có lệnh bắt. Cùng bị bắt với Nguyễn Ái Quốc còn có Lý Phương Thuận (Lý Sâm). Cảnh sát thu được một số giấy tờ do Người ghi những địa danh mà cảnh sát Anh và mật thám Pháp không xác định được.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 37-38.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 67 – 68.

            – Tự thuật của Lý Phương Thuận ngày 8-9-1969. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 6, từ ngày 6 đến ngày 11

Nguyễn Ái Quốc bị giam trong nhà giam của Sở Cảnh sát Hồng Kông. Được một người Việt Nam báo tin Người bị bắt và nhờ giúp đỡ, F.H.Lôdơbi (Francis Henry Loseby) 2) một luật sư người Anh đến thăm Người. Khi Nguyễn Ái Quốc nói không có tiền để nhờ cãi, ông Lôdơbi đã hứa sẽ giúp “vì danh dự chứ không nhất thiết vì tiền”.

Người đã cung cấp những thông tin cần thiết cho luật sư và cùng luật sư thống nhất về phương hướng bào chữa.

            – Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 106.

            – Lời kể của luật sư Lôdơbi, Trịnh Ngọc Thái ghi.

Tháng 6, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ nhất).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118.

Tháng 6, từ ngày 12 đến ngày 18

Nguyễn Ái Quốc bị đưa từ Nhà giam của Sở Cảnh sát Hồng Kông đến giam tại ngục Víchtôria.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118.

Tháng 6, ngày 15

Nhiều tài liệu do Nguyễn Ái Quốc viết bị cảnh sát tìm thấy ở Văn phòng của Hile Nulen (Hilaire Noulens) – Thư ký Chi nhánh Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản khi ông này bị bắt ở Thượng Hải.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 6, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc được luật sư người Anh F.H. Lôdơbi đến gặp tại ngục Víchtôria.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 263-271, 279.

Tháng 6, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ hai).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ ba).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ nhất.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ hai.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ ba.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 280.

Tháng 7, ngày 30

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ tư).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 280.

Tháng 7, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử -Phiên toà thứ nhất. Tại toà, luật sư Ph. C. Gienkin (F.C. Jenkin) theo sự uỷ nhiệm của luật sư Lôdơbi (F.H. Loseby), thuộc “Văn phòng luật sư Rớtxơ” (Russ & Co) thay mặt Nguyễn Ái Quốc (Tống Văn Sơ) và Lý Phương Thuận (Lý Sâm) nêu rõ: Việc bắt Nguyễn Ái Quốc và Lý Phương Thuận ngày 6 tháng 6 mà không có lệnh bắt là bất hợp pháp và việc thẩm vấn họ sau 1 tháng (ngày 10 tháng 7) mới tiến hành là phạm luật. Nội dung thẩm vấn vượt ra ngoài những quy định của Luật là không hợp lệ 3). Thêm nữa, sự vắng mặt của Nguyễn Ái Quốc và Lý Phương Thuận tại phiên toà là vi phạm Luật Bảo thân (Habeas Corpus)  4).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118-119, 280.

Tháng 8, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ hai, nhưng bị can không có mặt tại phiên toà. Luật sư Gienkin yêu cầu cho hai bị can có mặt để có thêm thông tin cần thiết, nếu cần, nhưng bị viên công tố Alabaxtơ phản đối. Ông ta đọc Lệnh trục xuất nguyên đơn trong 10 năm và kèm theo là Lệnh của Thống đốc yêu cầu nguyên đơn “phải rời Nhượng địa bằng một tàu biển được chỉ định rời Hồng Kông ngày 18 tháng 8, tàu Angiê”.

Tiếp đó, viên công tố đọc lời khai có tuyên thệ của nguyên đơn, trong đó chỉ rõ sự vi phạm luật của việc bắt và thẩm vấn Nguyễn Ái Quốc. Theo luật, người thẩm vấn chỉ có quyền hỏi một số câu hỏi nhất định, được in sẵn, nhưng cuộc thẩm vấn ở đây mang đầy tính đối chất về qúa khứ nhằm ép Nguyễn Ái Quốc phạm các tội tuyên truyền cách mạng và có những hành động sai trái khác. Cuối lời khai có tuyên thệ, Nguyễn Ái Quốc tố cáo có nhân viên của chính quyền Đông Dương theo dõi Người ở trong tù, và nói thêm: “Nếu tôi bị trục xuất đến Đông Dương, tôi sẽ bị giết, dù có xét xử hay không xét xử”.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 130-131, 280.

Tháng 8, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ ba. Tại toà, công tố viên Alabaxtơ đọc lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc): “Tống Văn Sơ đã phủ nhận lời khai có tuyên thệ của ông do Trợ lý Thư ký Trung Hoa vụ đưa ra, bởi vì lời khai đó làm người ta hiểu rằng chỉ có duy nhất một cuộc thẩm vấn, trong khi đó ông bị thẩm vấn ba lần. Bị cáo cũng tố cáo rằng ông bị bắt ngày 6 tháng 6 chứ không phải ngày 12 tháng 6”. Tiếp theo, Alabaxtơ đọc các câu hỏi và các câu trả lời khi thẩm vấn Tống Văn Sơ do Thư ký Trung Hoa vụ biên soạn, đã cố tình làm lệch lời khai; trong đó có đoạn: “Tôi phủ nhận lời buộc tội đó. Tôi không phải là một người cộng sản, nhưng tôi là người theo chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc, theo tất cả những gì mà chúng tôi biết, có nghĩa là chiến đấu vì nhà vua và vì đất nước… Chúng tôi là một dân tộc đang chiến đấu và có khả năng tự đứng vững trên chính đôi chân của mình, nhưng cũng cần phải tìm sự viện trợ từ bên ngoài… Vì tổ chức của tôi và tôi trông cậy vào sự giúp đỡ của nước Anh nên tôi không hiểu vì sao tôi lại bị bắt…. Trong thẩm vấn, khi viên Thư ký Trung Hoa vụ đưa ảnh của Nguyễn Ái Quốc ra hỏi: đây có phải là ảnh của Tống Văn Sơ không, Người đã trả lời: “Tôi thừa nhận rằng bức ảnh trông giống tôi và có thể là tôi, nhưng tôi không bao giờ đội cái mũ như vậy. Tôi thừa nhận bức ảnh trong hộ chiếu là của tôi (hộ chiếu này mang tên Tống Văn Sơ)… Tôi thừa nhận là tôi đã thuê căn hộ trong ngôi nhà số 186 đường Tam Kung. Tôi muốn nói rằng bạn tôi tên là Vương đã thuê căn hộ đó.

Ông Vương đã rời Hồng Kông vào tháng 4 và tôi đã tiếp quản từ ông ấy và trả tiền thuê nhà. Người bạn tên là Vương này là nhà buôn và là một người bạn cũ của tôi. Tôi biết ông ấy đã từ rất lâu. Ông ấy không phải là nhà cách mạng.

Tôi thừa nhận rằng tôi đã từng ở Thượng Hải nhưng đã cách đây nhiều năm rồi. Gần đây tôi không liên lạc gì với Thượng Hải. Không có đảng bộ nào của Đảng An Nam ở Thượng Hải…

Tôi không muốn bị trục xuất. Tôi muốn được tự do…

Tôi tha thiết đề nghị cho tôi được tự do hai hoặc ba tuần nếu tôi bị trục xuất, cốt để cho tôi có thì giờ kiến nghị tới Ngài Bộ trưởng rằng tôi muốn được phép sang Anh quốc” 5).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 133-136, 280.

Tháng 8, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ tư. Viên công tố Alabaxtơ tuyên bố thừa nhận lệnh trục xuất đối với Tống Văn Sơ lần thứ nhất là sai, do nội dung thẩm vấn sai; nhưng ngay sau đó lại tuyên bố lệnh trục xuất thứ hai vừa mới được ban hành vào chiều 15-8-1931, riêng với bị cáo nam và cho phép Lý Phương Thuận được rời ghế bị cáo.

Luật sư Ph. Gienkin phản đối vì: Nếu việc giam giữ là bất hợp pháp thì không thể biến thành hợp pháp bằng cách ban hành một lệnh trục xuất mới giữa hai phiên toà.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 142-143, 280.

Tháng 8, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên tòa thứ năm.

Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bảo vệ bằng cách vạch rõ sự giả dối và lừa bịp, đội lốt trục xuất để giao bị cáo cho nhà cầm quyền Pháp. Ông nói: “Cả hai lệnh trục xuất trên đây đều bất hợp pháp…

Giả sử lệnh thứ nhất đã được thực hiện, thì Hội đồng Thống đốc cũng không thể bắt giữ theo lệnh thứ hai vì nó hoàn toàn trái với luật hiện hành, quy định không được bắt giữ lại một người vừa mới được phóng thích theo Luật Bảo thân (Habeas Corpus) vì cùng một nguyên nhân, một vấn đề, hay một lý do”.

Sau đó, ông đọc lời khai mới có tuyên thệ của bị cáo Tống Văn Sơ trước toà: “Tôi 36 tuổi. Tôi sinh ở thành phố Đông Hưng thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Tôi đã gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng ở Việt Nam và Đông Dương nói chung, phong trào có mục đích cao nhất là lật đổ toàn bộ quyền lực của Chính phủ Pháp ở đó và thay thế bằng một chính phủ dân tộc dưới sự lãnh đạo của người bản xứ. Tôi đã tham gia tích cực vào phong trào này trong một thời gian trước ngày tôi bị bắt ở Hồng Kông ngày 6-6-1931.

Theo những người cầm quyền của Chính phủ Pháp thì tham gia vào một phong trào như vậy là phạm tội và kẻ phạm tội phải nhận án tử hình.

… Mục đích thực sự của Chính quyền Hồng Kông khi tiến hành các thủ tục trục xuất tôi là nhằm khẳng định việc giao tôi cho Pháp ở Đông Dương để Chính phủ Pháp xử lý tôi theo tội trạng đã nói trên.

Tiếp theo, luật sư Gienkin chất vấn: Hội đồng Hành pháp có họp được đông đủ vào thứ bảy ngày 15 tháng 8 hay không, và có cuộc họp vào ngày đó hay không, vì theo thông lệ chỉ họp vào thứ năm hàng tuần?

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 144-147, 280.

Tháng 8, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ sáu.

Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bênh vực bằng cách yêu cầu viên công tố phải thừa nhận rằng: tài liệu đánh máy do Ban Thư ký Trung Hoa vụ đưa ra nói rằng nguyên đơn (tức Tống Văn Sơ – T.G) khi thẩm vấn đã khai có bí danh thứ ba là Nguyễn Ái Quốc, là tài liệu giả. Cuối cùng, Công tố viên Alabaxtơ phải thừa nhận trước toà rằng: Cuộc họp của Hội đồng Hành pháp được tiến hành vào thứ năm ngày 13 tháng 8, còn lệnh trục xuất (Nguyễn Ái Quốc) đề ngày thứ bảy 15 tháng 8 (!).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 148-149, 281.

Tháng 8, trước ngày 28

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Thái tử Cường Để đang sống ở Nhật Bản nhờ Lý Phương Thuận (Lý Sâm) chuyển sau khi được trả tự do và rời khỏi Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.

Tháng 9, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ bảy.

Công tố viên Phitroi thừa nhận việc bắt giam Tống Văn Sơ là bất hợp pháp, nhưng lệnh trục xuất thứ hai ngày 15 tháng 8 và việc giam giữ sau đó là hợp pháp.

Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bênh vực bằng một lập luận: Không thể làm cho việc giam giữ bất hợp pháp được hợp pháp bằng việc ban hành một lệnh hợp pháp, ngay cả khi luật pháp cho phép. Ý kiến về điều này vẫn được bảo lưu.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 150-151, 281.

Tháng 9, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ tám.

Toà án đọc phán quyết: Trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương theo lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông ngày 15 tháng 8. Bảo vệ cho quyền lợi của Nguyễn Ái Quốc, luật sư Ph. Gienkin phản đối lệnh trục xuất này: “Luật Bảo thân (Habeas Corpus) cấm bắt lại một người vì cùng một lý do hoặc cùng một sự việc, sau khi người đó đã được phóng thích theo Luật Bảo thân và ở đây nguyên đơn phải được xem như đã được trắng án vì lệnh trục xuất thứ nhất là bất hợp pháp. Việc bắt giữ một người đang bị giam giữ bất hợp pháp là một việc làm bất hợp pháp, dù cho lệnh bắt giữ là hợp pháp”. Lệnh trục xuất có kèm theo lệnh chỉ định tàu biển đi về hướng Đông Dương thực chất là một thủ đoạn dẫn độ, là sai luật.

Luật sư Ph. Gienkin tuyên bố sẽ kháng án lên Hội đồng Cơ mật.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 152-154, 281.

Tháng 9, ngày 12

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ chín.

Tại toà, luật sư của Nguyễn Ái Quốc phát biểu chống lại phán quyết của Toà án thực chất là muốn giao Người cho nhà đương cục Pháp, là trái với Luật Dẫn độ. Luật sư yêu cầu cho Tống Văn Sơ được tự lựa chọn nơi đến, yêu cầu hưởng quyền tự do công dân mà ông đã bị tước đoạt từ ngày 6 tháng 6 và phải trả cho ông số tiền là trên 5000 đôla.

Sau khi Toà nghe bản kháng án tám điểm của luật sư Ph. Gienkin và nghe lời phản đối của ông công tố Alabaxtơ, Toà án chấp nhận cho phép Tống Văn Sơ kháng án lên Hội đồng Cơ mật với điều kiện phải nộp hồ sơ trong thời hạn ba tháng.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 155- 156, 281.

Tháng 9, ngày 13

Ngay sau Phiên toà thứ chín kết thúc một ngày, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Thống đốc Hồng Kông xin được đi Anh mà không yêu cầu điều kiện gì, miễn là được bảo đảm an toàn. Sau đó, Thống đốc Hồng Kông đã gửi điện cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh biết về yêu cầu này, hỏi ý kiến có đồng ý giải quyết như thế không, và nếu đồng ý thì có muốn đặt điều kiện đặc biệt nào không?

Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh trong thư trả lời, gợi ý: Chỉ cần phóng thích, cho ông ta tự thu xếp rời Nhượng địa trong thời hạn ấn định, và làm thế nào để tránh được sự phản đối của Pháp.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 167, 168.

Tháng 10, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc tiếp bà Xtenla Benxơn 6). – một nhà hoạt động văn học và sân khấu ở Hồng Kông, vào thăm Người trong nhà tù Hồng Kông.

Người nói chuyện với bà Xtenla Benxơn bằng tiếng Anh với một thái độ rất lịch thiệp. Với thiện cảm đặc biệt, bà Benxơn đã yêu cầu chồng mình – ông Tômát Xaothonơ, lúc đó là Phó thống đốc Hồng Kông – giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc.

            – F. H. Lôdơbi: Băng ghi âm buổi toạ đàm tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tháng 2-1960, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 273.

Tháng 11, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao phổi ở dạng tái phát. Nhờ sự can thiệp của luật sư Lôdơbi, Người được chuyển từ ngục Víchtôria sang bệnh xá của nhà tù.

Những ngày nằm ở bệnh viện, Nguyễn Ái Quốc được mọi người kính trọng. Một lần, cô y tá Trung Quốc thường ngày chăm sóc Người, hỏi: “Cộng sản là thế nào? Chú làm cộng sản làm gì để bị bắt bớ khổ thân?”. Nguyễn Ái Quốc đã giải thích tóm tắt cho cô hiểu và khêu gợi ở cô tinh thần dân tộc chống đế quốc.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1994, tr. 46.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 201, 281.

Tháng 12, ngày 1

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc gửi lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh được Toà án tối cao Hồng Kông chấp thuận.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.

Tháng 12, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư kèm theo 300 yên và thuốc men của Thái tử Cường Để từ Nhật Bản gửi khi biết Người bị ốm nặng trong nhà ngục ở Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr.170, 281.

_____________________________

1) Có tài liệu ghi là Tam Tung hoặc Tam Kung (chưa xác minh được). Bản thảo bút tích của T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện viết là Tam Tung (B.T).

2) F.H. Lôdơbi là luật gia dân chủ tiến bộ người Anh, lúc đó là Giám đốc Công ty luật sư RUSS (của người Anh) ở Hồng Kông (B.T).

3) Theo luật pháp Anh quốc, khi thẩm vấn chỉ được hỏi bảy câu hỏi: 1. Tên, 2. Tuổi, 3. Nơi sinh, 4. Người ta tố cáo rằng…. và chứng minh về sự vô tội của bị cáo, 5. Đã ở đây bao lâu, 6. Có người nào quen ở đây? Tên gì? Ở đâu? 7. Người làm chứng, địa chỉ của họ. Nhưng khi thẩm vấn, người thẩm vấn đã hỏi Nguyễn Ái Quốc có phải là cộng sản hay thành viên của Quốc tế thứ ba, hay người cách mạng không? Khi thẩm vấn Lý Phương Thuận lại hỏi: Có chồng hay chưa? (Trong khi Lý Phương Thuận mới 16 tuổi) (B.T).

4) Luật Bảo thân có nghĩa là “bị cáo phải có mặt” tại phiên toà nhằm giám sát các toà án cấp dưới, kiểm tra tính hợp pháp của việc giam giữ một người nào đó và bị cáo phải có mặt tại phiên toà (B.T).

5) Những nội dung trên đây được báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, ngày 17-8-1931 đưa tin (B.T).

6)  Bà Xtenla Benxơn là bạn thân của bà Lôdơbi. Bà đã cùng chồng vào thăm Nguyễn Ái Quốc trong nhà tù Hồng Kông (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1930)

Tháng 1, một buổi chiều ngày đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải (Trung Quốc) hẹn gặp Nguyễn Lương Bằng. Người dẫn đồng chí Bằng đi dạo quanh mấy phố, hỏi han về tình hình công nhân, binh lính, về chỗ ở và tình hình hoạt động của đồng chí Bằng, đã bị lộ chưa. Người căn dặn đồng chí Bằng: “Tôi ở đây chỉ vài ngày… Hôm nay chỉ cốt gặp nhau thôi, hẹn hôm sau nói chuyện lâu. Đồng chí công tác cố gắng đấy, nhưng phải cẩn thận. Nó đang khủng bố riết”.

– Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 152.

Tháng 1, buổi sáng hôm sau

Theo lời hẹn, Nguyễn Ái Quốc gặp Nguyễn Lương Bằng tại một căn buồng thuê vào hạng rẻ tiền trong một khách sạn ở Thượng Hải. Người mời đồng chí Bằng ở lại ăn cơm để có thời gian trò chuyện. Người dặn đồng chí Bằng: “Hoạt động trong binh lính phải rất thận trọng. Anh em hăng nhưng trong tay sẵn có vũ khí thì dễ manh động”.

            – Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 153.

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Nguyễn Lương Bằng, hẹn đến thư viện ở đường Nam Kinh. Cuối thư có câu: “Đến thư viện phải ăn mặc tươm tất, đi vào phải cho êm”. Khi đến thư viện, đồng chí Bằng mới hiểu hết ý nghĩa dặn dò trong thư của Nguyễn Ái Quốc và được chỉ dẫn thêm: “Phong trào bây giờ lên khá cao, công việc của đồng chí thì nhiều, một mình làm không xuể. Phương tiện cũng ít ỏi. Muốn đẩy mạnh công tác, phải có sự giúp đỡ của Đảng anh em. Người cộng sản bất kỳ hoạt động ở nước nào cũng phải chịu sự lãnh đạo của Đảng ở đấy” 1).

            – Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 153.

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc liên lạc được với cơ quan của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hồng Kông và được sự giúp đỡ của các đồng chí Trung Quốc.

– Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 1, khoảng giữa tháng

Tại cơ quan bí mật của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc tiếp Nhiêu Vệ Hoa2).

Người thông báo về mục đích chuyến công tác là để thống nhất các tổ chức cộng sản của Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản.

– Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 1, cuối tháng

Tại nơi ở của mình, Nguyễn Ái Quốc tiếp Lý Phú Xuân và Thái Sướng đến thăm.

– Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 2, trước ngày 3

Tại nơi ở của mình, Nguyễn Ái Quốc tiếp Nhiêu Vệ Hoa và một nữ đồng chí3) của cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Đông, Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Nhiêu Vệ Hoa đã chúc mừng việc triệu tập Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

– Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 2, từ ngày 3 đến ngày 7

Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam1.

Hội nghị được tiến hành từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 (từ ngày 5 đến ngày 9 tháng Giêng năm Canh Ngọ). Buổi đầu tổ chức tại một căn phòng của một công nhân nghèo, sau đó chuyển qua một số địa điểm khác ở Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc).

Đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, chi bộ của những người cộng sản Việt Nam ở nước ngoài, đã tham dự Hội nghị 4).

Hội nghị đã nhất trí với đề xuất của Nguyễn Ái Quốc về việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua những văn kiện chính thức của Đảng – Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt…- do Người khởi thảo. Nội dung của các văn kiện này xác định cách mạng Việt Nam là “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”; “thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng,v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý”; “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v…) thì phải đánh đổ”, “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp”, “phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”. Các văn kiện này là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 1-7.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 68.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr. 4-5.

Tháng 2, khoảng từ ngày 5 đến ngày 8

Nguyễn Ái Quốc “đãi” các đại biểu một bữa cơm nhân dịp Tết Nguyên đán, vừa tiết kiệm vừa linh đình, nhân sự kiện thành lập Đảng.

– T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 35.

Tháng 2, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc rời Hồng Kông.

– Bản chụp Báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, ngày 18-2-1930 (viết bằng tiếng Anh), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 17.

Tháng 2, ngày 18

Nhân sự kiện lịch sử thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản2 và Đảng Cộng sản Việt Nam viết Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột.

Mở đầu, Người viết:

“Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và thấy có trách nhiệm phải gửi tới anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này”.

Sau khi tố cáo sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp, Người kêu gọi: “Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng” để đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng, làm cho nước An Nam được độc lập, thành lập Chính phủ công – nông – binh,… đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân, thực hành giáo dục toàn dân, thực hiện nam nữ bình quyền.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Anh).

Báo cáo gồm các mục sau:

A/ Vài nét về hoạt động của Người trong năm 1928-1929 (những hoạt động với Việt kiều ở Xiêm).

B/ Công tác của Người ở Lào (tình hình Việt kiều).

C/ Đi về An Nam (hai lần cố gắng về nước song phải quay trở lại).

D/ Tới Trung Quốc (đến ngày 23-12-1929, triệu tập hai nhóm Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, họp vào ngày 6-1-1930, tiến hành hợp nhất và thành lập Đảng; các đại biểu về nước ngày 8-2-1930).

E/ Công tác của Trung ương mới (tổ chức các tổ chức quần chúng,…).

F/ Những lực lượng của chúng ta: 5 tổ chức chính trị ở Đông Dương: Đảng Lập hiến, Đảng Tân Việt, Quốc dân Đảng, Hội An Nam Thanh niên Cách mạng, Đảng Cộng sản.

G/ Phong trào đình công.

H/ Khủng bố trắng.

I/ Kinh tế và chính trị nói chung.

J/ Những kiến nghị (về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng bộ Xanhgapo, Đảng Cộng sản Trung Quốc).

K/ Một số vấn đề khác.

L/ Trong lời nhắn thêm, Người viết: “Tôi rời Hồng Kông vào ngày 13-2. Cho tới khi đó tôi không nhận được tin tức gì từ Pháp và hai đồng chí An Nam. Tôi rất lo lắng về họ” 5).

Sau báo cáo có kèm Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị em bị áp bức, bóc lột. Cuối cùng là mấy dòng tái bút với chữ ký tắt N.A.Q.

– Bản chụp bút tích tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 11-18.

Tháng 2, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc viết một số bức thư.

Trong Thư gửi đại diện Tổng Công hội thống nhất Pháp ở Quốc tế Công hội, Người yêu cầu đồng chí đại diện “hỏi Đảng bộ về việc gửi các báo và tạp chí của Đảng cho chúng tôi… Đồng thời gửi cho chúng tôi một tờ báo tư sản của nước các đồng chí để cãi với cảnh sát nếu chúng phát hiện chúng tôi nhận báo chí cộng sản”.

Cuối thư, Người thay mặt Đảng Cộng sản Đông Dương, ghi địa chỉ của mình: Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Kông.

Trong Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Pháp), Người đề nghị xin cho Người một giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế giới (Die Welt) – một tờ báo không mang cái tên “có tính chất lật đổ”, với “Tên của tôi sẽ là L.M. Vương” để có một nghề nói với người khác trong hoàn cảnh sống không hợp pháp.

Cuối thư, Người ghi địa chỉ “để gửi giấy chứng nhận”: ông Tiết Nguyệt Lâm, Hoa Phong công ty, số nhà 136, đường Wan Chai, Hồng Kông.

Trong Thư gửi đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Pháp), Nguyễn Ái Quốc thông báo “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập”, yêu cầu “cho chúng tôi một tủ sách” và hướng dẫn cách gửi. Người đề nghị các đồng chí Pháp “cho chúng tôi biết tên những con tàu chạy đường Pháp – Viễn Đông trên đó có các đồng chí Pháp làm việc và cho chúng tôi biết tên các đồng chí đó để chúng tôi có thể bắt liên lạc với họ”, yêu cầu Trường đại học Phương Đông3 “không nhận các đại biểu hoặc học sinh An Nam nào không có sự giới thiệu của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Coi như bước đầu của sự hợp tác giữa hai Đảng, Người đề nghị “Đảng Cộng sản Pháp công bố một bức thư góp ý kiến với Đảng Cộng sản Việt Nam và ra lời kêu gọi lính Pháp ở Đông Dương”.

Trong thư có đoạn yêu cầu được làm rõ vị trí của Nguyễn Ái Quốc, thời hạn và vị trí mà Quốc tế Cộng sản giao cho Người hiện đã hết chưa: “Lúc này tôi chưa biết rõ vị trí của tôi. Tôi hiện là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp hay Đảng Cộng sản Việt Nam? Cho đến khi có lệnh mới, tôi vẫn phải chỉ đạo công việc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng với danh nghĩa gì? Tôi không tham gia Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vì tôi chưa trở về Đông Dương được, nhất là lúc này, chúng đã ban cho tôi một cái án tử hình vắng mặt. Sự uỷ nhiệm công tác của Quốc tế Cộng sản cho tôi đã hết hạn chưa?… Tôi đề nghị các đồng chí nhắc Ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản cho quyết định về việc này”.

Cuối thư, Người đề nghị các đồng chí Pháp công bố trên báo LHumanité và tập san Inprekorr Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, và thông báo địa chỉ gửi thư: Gửi cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đề trên phong bì: Ông Vícto Lơbông, 123 – Đại lộ Cộng hoà, Pari, Pháp. Về sách báo thì gửi theo địa chỉ: Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Kông. Thư cũng đặt các vấn đề vị trí của Nguyễn Ái Quốc lúc này – đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, hay Việt Nam, danh nghĩa chỉ đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, thời hạn uỷ nhiệm của Quốc tế Cộng sản đối với Nguyễn Ái Quốc đã hết chưa…

Trong Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Mỹ, Người đề nghị gửi báo và tạp chí của Đảng và một tờ báo tư sản “để cãi với cảnh sát nếu chúng phát hiện chúng tôi nhận báo Đảng”.

Trong Thư gửi đồng chí Sôta 6). Liên đoàn chống đế quốc – Béclin, Nguyễn Ái Quốc báo tin: “Tôi đang ở Trung Quốc”, “Đảng đã được thành lập ở Đông Dương” và đề nghị đồng chí Sôta gửi cho Người Điều lệ, Cương lĩnh, tài liệu của Liên đoàn (chống đế quốc), đồng thời cũng thông báo sẽ gửi cho đồng chí những phong bì để đề nghị đồng chí chuyển cho báo Gudok (Tiếng còi), Pravda (Sự thật), Inprekorr(Thư tín quốc tế) theo các ký hiệu trên phong bì.

Cuối thư, Người “Gửi tới đồng chí và Anna những kỷ niệm cách mạng thân mến”, ký tên: Pôn.

Thư gửi Quốc tế Công hội đỏ (viết bằng tiếng Anh), ký tên Nguyễn Ái Quốc, có nội dung và địa chỉ giống bức thư thứ nhất.

Trong Thư gửi Văn phòng Đảng Cộng sản Mỹ ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Anh), Nguyễn Ái Quốc yêu cầu gửi sách báo, tài liệu của Đảng Cộng sản Mỹ tới Hồng Kông để sử dụng trong công tác tuyên truyền. Địa chỉ ở cuối thư cũng ghi như bức thư trên.

– Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 19-26.

Tháng 2, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Pháp).

Nguyễn Ái Quốc đề nghị gửi cho Người báo La Vie Ouvrière (Đời sống công nhân) và tạp chí của Quốc tế Công hội đỏ, đồng thời gửi cho Người bất kỳ một tờ báo tư sản nào để “chối cãi nếu cảnh sát thấy rằng chúng tôi nhận các báo chí “lật đổ””.

Cuối thư, Người viết: gửi “Lời chào cộng sản thân ái. Thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam (Đông Dương)”. Ký tên Nguyễn Ái Quốc và ghi địa chỉ như sau:

Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Kông.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi các đồng chí Liên Xô nói ý định giới thiệu về nước Nga cho những người Việt Nam chỉ biết tiếng Việt một quyển sách có tên “Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi” một cách “sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện”. Người nêu Đề cương cuốn sách, gồm các phần: I. Trước cách mạng; II. Trong cuộc cách mạng; III. Ngày nay. Người yêu cầu cung cấp tài liệu theo địa chỉ “Gửi ông Vícto Lơbông, 123 – Đại lộ Cộng hoà, Pari, Pháp”, với câu ghi: “Nhờ chuyển ngay tức khắc”.

– Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 30; 27-29.

– Bút tích tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông (Quốc tế Cộng sản) báo cáo về tình hình Mã Lai, Đông Dương; về việc gửi ba học sinh đi học; hỏi ý kiến của Ban Phương Đông về “đề nghị của tôi xin chuyển” và cho biết là “không đọc ra những con số, số kép hay số đơn, tiếng Pháp hay tiếng Anh” và “cho tôi biết lại mã chữ khoá”.

Cuối thư, Người đề nghị “có thể mua hối phiếu của công ty xe lửa tốc hành Mỹ đề tên T.V. Wang và gửi bưu điện cho tôi”, “giao các sốInprekorr cho người bạn tôi”, và nhắc lại việc liên hệ với công ty hàng hải Pháp để liên lạc về Đông Dương…

Cùng ngày, Người còn viết thư (bằng tiếng Pháp) báo cáo với Quốc tế Cộng sản về việc Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam; một Ban Chấp hành lâm thời đã được bầu và thông báo về tình hình cuộc bạo động Yên Bái nổ ra ngày 9-24.

Cùng ngày, Người còn viết thư gửi Lê Hồng Phong thông báo: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đã cử Ban Chấp hành lâm thời để phụ trách công việc. Đảng bao gồm trên 500 đồng chí với hơn 40 chi bộ, hơn 3000 quần chúng…

– Bản chụp các bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh và Viện Lịch sử Đảng.

– Tạp chí Xưa và Nay, số 31, tháng 9-1996, tr. 33.

Tháng 3, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam (bằng tiếng Anh).

Báo cáo trình bày những phong trào yêu nước từ khi đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam cho đến khi thành lập Đảng. Trước năm 1905, phong trào là “một sự hỗn hợp giữa chủ nghĩa phản đế, chống công giáo và Cần vương”. Từ năm 1905, thắng lợi của Nhật đối với Nga, ảnh hưởng của “nền văn học cải lương Trung Hoa”, đã đưa “tinh thần dân tộc An Nam lên cao độ”, tiếp đó là cuộc Đông du. Năm 1908, một cuộc bãi công của nông dân nổ ra trong toàn quốc – “cuộc bạo động của những anh em tóc ngắn” – bị khủng bố. Năm 1910, xảy ra “cuộc đầu độc” binh lính Pháp ở Hà Nội. Tiếp đó là các cuộc bạo động Thái Nguyên, khởi nghĩa Duy Tân, việc mưu sát Toàn quyền Méclanh, phong trào đòi thả Phan Bội Châu, sự ra đời, hoạt động và chia rẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Phong trào cách mạng phát triển rầm rộ và bị đế quốc thực dân Pháp khủng bố và “ngày nay các nhóm cộng sản đã thống nhất vào một đảng, hoạt động nhất định sẽ tốt hơn trước nhiều”. Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo mạnh mẽ sự đàn áp dã man của chính quyền thuộc địa, ca ngợi tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân và chỉ ra một số thiếu sót của các tổ chức yêu nước, kể cả các tổ chức cộng sản.

Cuối tài liệu, Người khẳng định: “Chúng ta có thể tin tưởng chắc chắn rằng với kinh nghiệm và lòng hy sinh, với quần chúng ở bên cạnh, những người cộng sản nhất định sẽ chiến thắng”.

– Bản chụp bút tích tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 31-38.

Tháng 4, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi đồng chí ZAO 7) và các học sinh Việt Nam đang học ở Liên Xô.

Sau khi thông báo “trong nước bây giờ đã có Đảng thống nhất vững vàng, không còn những tệ chia lìa ấu trĩ như trước nữa”, Người báo tin sẽ có các đại biểu là công nhân sang Liên Xô dự Đại hội Quốc tế Lao động. Người yêu cầu đồng chí ZAO “phụ trách phần dịch cho các đại biểu đó” và gợi ý những việc phải làm để giúp các đại biểu hoàn thành nhiệm vụ.

Người còn căn dặn: “Tất cả anh em học sinh, nhất là người phụ trách, đối với đại biểu lao động phải tỏ tình rất thân mật. Chớ để người ta trông thấy sự phân biệt trí thức và vô sản”8). Người yêu cầu: “làm sao cho anh em đại biểu hiểu, hăng hái, và yêu mến Xô-Nga, lại có cảm tình với anh em lao động các nước”. Và nhắc lại sau Đại hội phải gửi thư về báo cáo qua Ban Phương Đông.

– Bản chụp bút tích tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 39-40.

Tháng 4, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Quốc tế Cộng sản báo cáo tình hình về những ngày đầu đến Xiêm, về việc lập Hội Thân ái,… Phần lớn báo cáo nói về việc hợp nhất Đảng, xây dựng cương lĩnh, vấn đề chiến lược, chiến thuật theo đường lối của Quốc tế Cộng sản, về việc lập ra một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời gồm bảy người chính thức và bảy người dự khuyết…

– Hồ sơ lưu trữ Quốc tế Cộng sản, ký hiệu 495, 154, 612.

– Bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Đông – Bắc nước Xiêm (ngày nay là Thái Lan). Người báo tin cho một số đồng chí ở đây biết các nhóm cộng sản ở Việt Nam đã thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại đây Người còn làm nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao.

– Lê Mạnh Trinh: Những ngày ở Quảng Châu, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 96.

Tháng 4, khoảng cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Malaixia làm nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 72.

Khoảng tháng 4

Tại Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc gặp đồng chí Trần Phú từ Liên Xô trở lại Trung Quốc. Người thông báo cho đồng chí Trần Phú về việc hợp nhất Đảng tháng 2-1930 và đã báo cáo với Chi nhánh Ban Phương Đông ở Thượng Hải, các đồng chí đã nhất trí. Sau đó, phân công đồng chí Trần Phú về Bắc, còn đồng chí Ngô Đức Trì về Sài Gòn.

– T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 49.

– Lời khai của Ngô Đức Trì. Tài liệu đánh máy của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh. Bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh, tr. 18-19.

Tháng 5, ngày 1

Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Xinhgapo.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 72.

Tháng 5, cuối tháng

Từ Xinhgapo, Nguyễn Ái Quốc trở lại Hồng Kông.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 72.

Khoảng tháng 7, tháng 8

Tại Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc tham dự một cuộc họp có mặt các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Đỗ Ngọc Du (Phiếm Chu), Lưu Quốc Long để góp ý về công tác vận động binh lính.

Người căn dặn: “Không nên chỉ hô hào thợ thuyền, dân cày chung chung. Không nên nói vô sản một cách cứng nhắc. Trước mắt chúng ta là phải đánh đổ thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Cho nên, phải khơi lòng yêu nước của mọi người. Đối với anh em binh lính, ta nên khêu gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, rồi chuyển sang khêu gợi lòng yêu nước, thương nòi. Như thế, mới đi vào lòng người ta được”.

Xem những số báo Kèn gọi lính, Nguyễn Ái Quốc nhắc nhở các đồng chí tại cuộc họp: Không nên dùng chữ khó hiểu, phải viết ngắn, gọn, rõ ràng. Sau đó, Người viết mấy bài cho báo với nội dung yêu nước, ghét thống trị Pháp dưới hình thức văn vần, văn xuôi rất ngắn gọn và dễ hiểu.

– Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 154-155.

Tháng 9, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết tài liệu Phong trào cách mạng ở Đông Dương, nêu các sự kiện chi tiết về cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân chống đế quốc Pháp ngày càng trở nên quyết liệt. Người không chỉ tố cáo tội ác của đế quốc Pháp đàn áp dã man các cuộc đấu tranh mà còn âm mưu “chuẩn bị tấn công Liên Xô, tấn công cách mạng Trung Quốc và chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc trên Thái Bình Dương”. Người kêu gọi công nhân, nông dân toàn thế giới giúp đỡ công nhân, nông dân Đông Dương.

– Tài liệu đánh máy tiếng Nga, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 41-50.

Tháng 9, ngày 29

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, báo cáo về những cuộc đấu tranh từ ngày 11 đến ngày 17-9 của nông dân Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Can Lộc, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An.

Người khẩn thiết yêu cầu “các đồng chí làm những việc có thể được để giúp đỡ các nạn nhân của cuộc đàn áp đẫm máu”.

Trong thư, Người cho biết: “Ba uỷ viên Trung ương từ Nam Kỳ đã tới đây – ngày 19-9, chờ các đồng chí từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới” để dự Hội nghị Trung ương vào tháng sau.

Cuối thư, Người báo “đã viết thư sang Xiêm và Mã Lai khoảng một tháng trước đây, nhưng chưa nhận được trả lời”.

Ký tên: Vícto

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 51-52.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.2, tr. 81-82.

Tháng 11, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Quốc tế Nông dân (bằng tiếng Pháp) báo cáo về phong trào nông dân từ tháng 5 đến tháng 10-1930 ở bảy tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Vĩnh Long, Sa Đéc, Bến Tre, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho và hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh: “Mặc dầu bị đàn áp dã man, phong trào vẫn tiếp tục phát triển”, “ở một số làng đỏ, Xôviết nông dân đã được thành lập”.

Cuối thư, Người yêu cầu “Quốc tế Nông dân có thể giúp đỡ gấp cho các nạn nhân bị khủng bố…”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 53-54.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr. 223-224.

Tháng 12, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông báo tin “Một đại biểu Đảng Mã Lai đã đến đây hôm qua, 30-12-1930”, và cho biết “Hai đồng chí Việt Nam phụ trách liên lạc đã bị bắt ngày 11-12-1930, 11 đồng chí bị trục xuất khỏi Xiêm mới đến”, “hai đại biểu và một học sinh đã về đây ngày 31-12-1930, một người đã trở lại làm việc cũ”, “liên lạc của chúng ta đã bắt đầu tổ chức lại”…

Cuối thư, Người viết: “Tôi gửi cho các đồng chí một bài báo viết về Việt Nam”… và “rất nhiều bài khác nhưng không thấy một bài nào đăng ở Inprekorr…”

– Bản chụp bút tích bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Khoảng cuối năm

Tác phẩm Nhật ký chìm tàu của Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Việt Nam, được bí mật truyền tay đọc trong đảng viên và quần chúng 9).

– Nguyễn Duy Trinh: Con đường cách mạng, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1970, tr. 73.

————————–

1) Sau đó ít ngày, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được gặp đồng chí Thái Sướng – một cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc; đồng chí Thái Sướng lại giới thiệu đồng chí Nguyễn Lương Bằng với một Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, phụ trách công tác vận động binh lính ngoại quốc của Đảng. Từ đó, đồng chí Nguyễn Lương Bằng và các đồng chí cùng hoạt động được các đồng chí Trung Quốc giúp đỡ tận tâm, như cung  cấp cho bàn, dũa, giấy nến, bút thép, giúp việc ấn loát, phân phát báo Kèn gọi lính (do nhóm đồng chí Nguyễn Lương Bằng viết) vào các trại lính Việt  Nam…(B.T).

2) Nhiêu Vệ Hoa, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc này công tác ở cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Đông, là người được cử tới giúp đỡ Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiêu Vệ Hoa và Nguyễn Ái Quốc đã quen biết nhau khi Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Quảng Châu những năm  20 của thế kỷ XX (B.T).

3) Bấy giờ ở Hồng Kông, chỉ những người có gia đình mới dễ thuê nhà. Nữ đồng chí này được bố trí đóng vai người nhà của Nguyễn Ái Quốc, giúp Người thuê nhà để sắp xếp chỗ ở cho các đại biểu Việt Nam từ trong nước ra (B.T).

4) Các đại biểu có mặt tại Hội nghị hợp nhất là: Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Đức Cảnh và Trịnh Đình Cửu (Đông Dương Cộng sản Đảng), Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu (An Nam Cộng sản Đảng), Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn (hai cán bộ hoạt động ở nước ngoài. Có  tài liệu cho rằng hai đồng chí này chỉ giúp chuẩn bị Hội nghị chứ không dự Hội nghị – T.G). Đông Dương Cộng sản liên đoàn mới thành lập nên chưa kịp cử đại biểu dự Hội nghị này (B.T).

5) Ý nói về hai đồng chí Trần Phú, Ngô Đức Trì về nước đầu tháng 11-1929, qua đường Pháp: đến nay đã giữa tháng 2-1930 mà chưa có tin tức gì (B.T).

6) Các tài liệu trước đây đều ghi là Satô, nay theo bản chụp bút tích (nguyên văn Chota), nên sửa lại là Sôta (B.T).

7) Đồng chí Zao: đồng chí Bùi Công Trừng, thường được gọi là Giáo vì trước khi xuất dương có làm nghề dạy học (B.T).

8) Nguyên bản viết bằng tiếng Pháp (viết tắt): intellect và prolet (B.T).

9) Nhật ký chìm tàu: Tác phẩm được hoàn thành trên cơ sở vốn sống thực tiễn của Người trên đất nước Nga Xôviết, kết hợp với những tư liệu từ Liên Xô gửi đến, và trực tiếp trao đổi với một số cán bộ của phái đoàn M. Bôrôđin trong thời gian Người ở Quảng Châu.

Nhật ký chìm tàu kể chuyện ba thuỷ thủ: Pôn (người Âu), Zô (người Phi), và Râu (người Việt) sống sót sau vụ tàu buôn Pháp đắm, được tàu Liên Xô cứu, đưa về Liên Xô.

Trong thời gian ở Liên Xô, ba anh được đối xử tử tế, đi thăm nhiều nơi, được Đảng Cộng sản Liên Xô tạo điều kiện cho học tập văn hoá, chính trị và tìm cách để họ trở về Tổ quốc.

Nhật ký chìm tàu ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm 24 chương, khoảng 100 trang giấy rơm, khổ 22 x 18cm, viết chữ thường bằng bút sắt, in litô, giấy một mặt. Mỗi chương mở đầu bằng hai câu lục bát và phần kết cũng bằng hai câu lục bát:

… Không bột mà gột nên hồ,

Tay không xốc nổi cơ đồ, cừ không!

Cho đến nay, nguyên bản Nhật ký chìm tàu chưa tìm lại được (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Lời giới thiệu)

HỒ CHÍ MINH – BIÊN NIÊN TIỂU SỬ

2

1930 – 1945

(Xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung)

HÀ NỘI – 2006

——————————

 TỔNG CHỦ BIÊN

GS. ĐẶNG XUÂN KỲ

——————————

PHÓ TỔNG CHỦ BIÊN

GS. SONG THÀNH

——————————

NHÓM BIÊN SOẠN TẬP 2

GS, TS. PHAN NGỌC LIÊN

PGS, TS. LÊ VĂN TÍCH


LỜI GIỚI THIỆU

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, tập 2, giới thiệu những sự kiện cơ bản về những hoạt động sôi động, phong phú trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, từ đầu năm 1930, khi thành lập Đảng đến tháng 9-1945, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.

Với 400 sự kiện, tập sách phác hoạ theo trình tự thời gian những hoạt động của Người qua các thời kỳ:

– Thời kỳ thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam, thành lập chính đảng duy nhất của giai cấp vô sản và hoàn chỉnh dần đường lối cách mạng của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng;

– Thời kỳ bị bắt giam và xét xử tại Toà án tối cao Hồng Kông;

– Thời kỳ ở Liên Xô: học tập tại Trường Quốc tế Lênin, tham gia Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản và làm việc tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa;

– Thời kỳ trở lại hoạt động tại Trung Quốc, chắp nối liên lạc để về nước hoạt động;

– Thời kỳ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Trong thời kỳ này có hai giai đoạn Người sống ở nước ngoài, khi bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch giam giữ tại Quảng Tây và thời gian ngắn hoạt động ngoại giao tại Côn Minh.

Tập sách kết thúc bằng sự kiện trọng đại: Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Mười lăm năm ấy cũng là thời gian mà Người phải trải qua nhiều gian khổ và cả những đau khổ về thể chất lẫn tinh thần trong cuộc đấu tranh đầy gian truân và hy sinh to lớn của mình. Hai lần bị giam cầm trong xà lim và ngục tù của bọn đế quốc phản động, cả hai lần đều bị ốm nặng và có tin đã chết (!). Trong việc đấu tranh để xác lập và bảo vệ đường lối cách mạng đúng đắn chống mọi khuynh hướng “tả” và hữu trong Đảng ta và trong Quốc tế Cộng sản, Người đã bình tĩnh, sáng suốt, kiên trì giữ vững quan điểm sáng tạo, đúng đắn của mình. Bằng dũng khí và trí tuệ, với sự tế nhị khéo léo, với ý thức tổ chức, kỷ luật, Người đã phấn đấu quyết liệt và bền bỉ để Đảng, do Người sáng lập, đi đúng đường lối mà Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định và ngày càng lớn mạnh. Vì vậy, mới mười lăm tuổi, Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập và đánh đổ chế độ quân chủ mười mấy thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà. Thật đúng là:

Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,

Mười lăm năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình!

Nhưng cũng chính hoàn cảnh hoạt động bí mật cùng những năm tháng tù đày nói trên đã khiến cho việc sưu tầm tài liệu gốc về tiểu sử Nguyễn Ái Quốc thời kỳ này trở nên khó khăn. Tài liệu gốc cực kỳ hiếm hoi. Hơn nữa, việc lưu trữ quản lý những tài liệu gốc ở nước ta hiện nay còn khá phân tán và điều kiện tra cứu cũng rất hạn chế. Nhóm biên soạn mới chỉ được tiếp xúc một phần tư liệu về Nguyễn Ái Quốc tại Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin Liên Xô (trước đây). Một phần không nhỏ tài liệu quý khác về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đang nằm tại nhiều cơ quan lưu trữ ở Nga, Trung Quốc và nhiều nước khác… đến nay Nhóm biên soạn vẫn chưa có điều kiện tiếp xúc, khai thác.

Đã có một số hồi ký cách mạng của các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng, hoặc những bài viết dựa theo lời kể của những người đã từng được Bác dìu dắt khi hoạt động cách mạng, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Song, các hồi ký thường không đưa ra được ngày tháng cụ thể – điều hết sức quan trọng đối với biên niên tiểu sử – hơn nữa vì những lý do khác nhau, nhiều khi có những nhầm lẫn. Việc sử dụng các hồi ký vì thế cũng gặp không ít khó khăn.

Các sách chuyên khảo có giá trị khoa học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã được khai thác ở mức độ cần thiết, lựa chọn hết sức thận trọng.

Việc sử dụng và khai thác nguồn tư liệu đã tuân thủ các nguyên tắc và quy định chung của bộ Biên niên tiểu sử được trình bày trong Lời giới thiệu chung. Khi vận dụng vào tập 2, Nhóm biên soạn đã bổ sung thêm một số chi tiết cụ thể:

1. Đối với các cuốn sách được tái bản nhiều lần có sửa chữa, thì sử dụng bản mới nhất. Đối với cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên, chúng tôi sử dụng bản tiếng Việt in năm 1994 và kết hợp sử dụng bản Trung văn Hồ Chí Minh truyện do Trương Niệm Thức dịch, xuất bản ở Thượng Hải tháng 6-1949. Về cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan thì sử dụng bản in năm 1994.

2. Khi sử dụng tài liệu theo sách của các nhà nghiên cứu nước ngoài, chúng tôi vừa ghi chú nơi lưu trữ tài liệu mà họ đã khai thác, vừa ghi rõ tác giả, tên sách.

3. Với một số sách, báo khác, dù độ tin cậy chưa cao, song cũng có một vài sự kiện đưa ra được những tư liệu mới, phù hợp với lôgíc hoạt động và cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc, thì Nhóm biên soạn đã xử lý, xác minh, chọn lọc để đưa vào tập 2 này.

Trong việc xác minh thời gian và địa điểm hoạt động của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau khi Người về nước, chúng tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát thực địa, phỏng vấn các nhân chứng lịch sử có đối chiếu, so sánh để làm cho nguồn tư liệu được chính xác.

Lần xuất bản này đã bổ sung, sửa chữa nhiều sự kiện, đưa lên tổng số: 400 sự kiện, 21 chú thích  28 chỉ dẫn tên người. Chất lượng bản thảo cũng được nâng lên, khoảng trên 40% số sự kiện được sửa chữa, bổ sung về nội dung, làm cho nội dung sự kiện được phong phú, chính xác hơn. Tài liệu được bổ sung nhiều nhất là các thời kỳ Người hoạt động ở Trung Quốc, đặc biệt trong thời kỳ Người bị giam tại Sở Cảnh sát Hồng Kông, nhà tù Víchtôria và trong thời gian xét xử tại Tòa án tối cao Hồng Kông. Hầu hết các năm đều có sự kiện bổ sung, sửa chữa, trong đó năm 1931 được bổ sung nhiều nhất, đưa tổng số sự kiện trong năm lên gần 30 sự kiện so với 12 sự kiện của lần xuất bản đầu tiên. Các sự kiện mới được bổ sung đều có nguồn tin cậy.

Trong quá trình xây dựng bản thảo, Nhóm biên soạn đã nhận được sự cộng tác nhiều mặt của các PGS, TS. Nguyễn Đình Lễ; PGS, TS. Nguyễn Ngọc Cơ; sự giúp đỡ về tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, Cục Lưu trữ Nhà nước và sự phối hợp, cộng tác có hiệu quả của nhiều cán bộ nghiên cứu lịch sử Đảng thuộc Tỉnh uỷ các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Bắc Kạn…; của GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Hồ Song và các đồng chí Hoàng Tùng, Nguyễn Thành cùng nhiều học giả, nhà nghiên cứu khác đã đọc và góp nhiều ý kiến bổ ích cho lần xuất bản thứ nhất. Nhóm biên soạn trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành.

Tuy đã có nhiều cố gắng trong công tác biên soạn, song khó tránh khỏi những thiếu sót, chưa thể làm thoả mãn được yêu cầu cao của giới nghiên cứu, của đồng bào, đồng chí trong nước và bạn bè quốc tế.

Chúng tôi rất mong nhận được những góp ý chân thành của các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu, cùng đông đảo bạn đọc gần xa để những lần xuất bản sau được tốt hơn.

NHÓM BIÊN SOẠN

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Chú thích và bản chỉ dẫn tên người)

CHÚ THÍCH

1. Phong trào đấu tranh ở Trung Kỳ: Năm 1908, ở các tỉnh Trung Kỳ đã bùng nổ phong trào đấu tranh quyết liệt của nông dân chống sưu cao thuế nặng, chống đi lao dịch dài hạn. Phong trào bắt đầu ở Quảng Nam, sau lan rộng ra các tỉnh Quảng Ngãi, Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá. Hàng vạn nông dân đã rầm rộ biểu tình, liên tục từ cuối tháng 2. Đến cuối tháng 5, phong trào bị thực dân Pháp dập tắt trong máu lửa.

Nguyễn Tất Thành khi đó đang học ở Trường tiểu học Pháp – Việt Thừa Thiên đã tham gia phong trào này. Tr. 28.

2. Hội nghị Vécxây (Versailles): Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari, nhưng thực chất đó là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp bức. Văn kiện chính của hội nghị là Hiệp ước Vécxây xác định sự thất bại của nước Đức và các nước đồng minh của Đức, phân chia lại bản đồ thế giới theo hướng có lợi cho các đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh Nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Tr.62.

3. Báo L’Humanité: Tờ báo ra hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giăng Giôrét (Jean Jaurès) sáng lập năm 1904. Từ sau Đại hội Tua (12-1920), Đảng Xã hội Pháp chia thành Phân bộ Pháp thuộc Quốc tế Cộng sản (SFIC – Section Française de l’Internationale communiste) và Phân bộ Pháp thuộc Quốc tế Công nhân (SFIO tức Section Française de l’Internationale Ouvrière).

Đến tháng 10-1921, phân bộ SFIC chính thức mang tên Đảng Cộng sản. Báo L’Humanité là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp.

Rất nhiều bài viết của Nguyễn Ái Quốc được đăng tải trên tờ báo này. Tr.67.

4. Báo Le Populaire: Tờ báo ra hằng ngày ở Pari từ tháng 5-1916, là cơ quan trung ương của Đảng Xã hội Pháp. Từ sau Đại hội Tua (12-1920), Le Populaire tiếp tục là cơ quan trung ương của Đảng Xã hội (SFIO). Bị gián đoạn trong những năm Pháp bị Đức chiếm đóng. Tháng 8-1944, báo tục bản. Tháng 2-1970 thì đình bản.

Nguyễn Ái Quốc là cộng tác viên tích cực của tờ báo này. Tr .70.

5. Hội Liên minh nhân quyền: Một tổ chức dân chủ tư sản nhằm đấu tranh đòi bảo vệ những quyền tự do tư sản.

Tổ chức này được thành lập năm 1898 ở Pháp do sáng kiến của nhà văn Pháp Tơrariơ (Trarieux) nhân vụ nhà cầm quyền Pháp xử phạt nhà văn Êmin Dôla (Émile Zola). Tr.76.

6. Tổng Liên đoàn Lao động Pháp: Viết tắt là CGT (Confédération Générale du Travail), thành lập từ năm 1895, bị những phần tử cơ hội cầm đầu, mất tính chất cách mạng. Một bộ phận tiến bộ tách ra lập Tổng liên đoàn lao động thống nhất (CGTU) do Gaxtông Môngmútxô (Gaston Monmousseau) lãnh đạo. Tháng 3-1936, hai tổ chức CGT và CGTU đã hợp nhất lại. Tr.81.

7. Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản): Tổ chức cách mạng quốc tế của giai cấp vô sản, trung tâm lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới.

Do ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sau khi Quốc tế II bị phá sản, cuộc đấu tranh của Lênin và những người cộng sản chân chính chống bọn cơ hội chủ nghĩa đã thúc đẩy sự ra đời của các Đảng Cộng sản và tổ chức cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Để giúp các tổ chức cộng sản này lãnh đạo phong trào các nước đi theo con đường của chủ nghĩa Mác chân chính, tháng 1-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, Hội nghị đại biểu của tám Đảng Cộng sản và nhóm cộng sản đã kêu gọi tất cả các Đảng Cộng sản, các tổ chức xã hội chủ nghĩa phái tả tham gia Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III).

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, tháng 3-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, các Đảng Cộng sản và tổ chức cộng sản của 30 nước đã tiến hành Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva.

Quốc tế Cộng sản đã góp công lao to lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Đối lập với Quốc tế II, Quốc tế Cộng sản đã rất chú trọng tới vấn đề giải phóng dân tộc. Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được Đại hội II Quốc tế Cộng sản (1920) thông qua đã đặt nền tảng chính trị và tư tưởng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề phức tạp của phong trào giải phóng dân tộc. Trên con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế Cộng sản.

Tháng 5-1943, căn cứ vào hoàn cảnh mới, Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản với sự tán thành của đa số các Đảng Cộng sản, đã thông qua nghị quyết giải tán tổ chức quốc tế này. Tr.85.

8. Cách mạng Tháng Mười Nga: Cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới.

Ngày 7-11-1917 (tức ngày 24-10, theo lịch Nga), dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và bọn phản cách mạng, thành lập Chính phủ Xôviết do Lênin làm Chủ tịch. Giai cấp công nhân Nga đã đập tan bộ máy thống trị của các giai cấp bóc lột, lập nên Nhà nước kiểu mới – chính quyền Xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản.

Cách mạng Tháng Mười thắng lợi mở ra một thời đại mới cho lịch sử nhân loại. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân bị áp bức, soi sáng con đường cho các dân tộc bị nô dịch đi tới cách mạng giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong quá trình Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước, Cách mạng Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng to lớn đến sự chuyển biến tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Người đã sớm khẳng định con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức là con đường của Cách mạng Tháng Mười. Tr.86.

9. Báo La Dépêche Coloniale: Báo xuất bản ở Pari từ tháng 8-1896. Sau đổi tên thành La Dépêche Coloniale et MaritimeTr.89.

10. Quốc tế II: Thành lập năm 1889 tại Đại hội Liên minh quốc tế các đảng xã hội chủ nghĩa tổ chức tại Pari theo sáng kiến của Ph.Ăngghen. Quốc tế II đã có tác dụng phổ biến chủ nghĩa Mác về bề rộng, đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cơ sở để phong trào cách mạng phát triển rộng rãi trong nhân dân lao động ở nhiều nước.

Sau khi Ăngghen mất, cơ quan lãnh đạo của Quốc tế II rơi vào tay các phần tử cơ hội chủ nghĩa. Bọn này đòi xét lại học thuyết cách mạng của Mác, phản đối chuyên chính vô sản, thay thế lý luận đấu tranh giai cấp bằng thứ lý luận “hợp tác giai cấp”, “chủ nghĩa tư bản hoà bình tiến lên chủ nghĩa xã hội”, v.v. và tiến hành những hoạt động chống phá phong trào công nhân các nước.

Về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế II ủng hộ chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước thuộc địa. Tr. 98.

11. Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp: Đại hội họp tại thành phố Tua (Pháp) từ ngày 25 đến ngày 30-12-1920, thảo luận vấn đề Đảng nên gia nhập Quốc tế III hay ở lại Quốc tế II. Với đa số phiếu tuyệt đối (3.208 phiếu tán thành, 1.022 phiếu chống), Đảng Xã hội Pháp tán thành gia nhập Quốc tế III.

Nguyễn Ái Quốc tham gia đại hội với tư cách là đại biểu thuộc địa Đông Dương. Cùng với các đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp, Người đã bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III và được Đảng Cộng sản Pháp công nhận là một trong những người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Tr. 109.

12. Báo Le Matin: Tờ báo xuất bản ở Pari từ tháng 2-1884. Tr.110.

13. Báo Le Libertaire: Tuần báo của Hội vô chính phủ – cộng sản, sau đó là cơ quan ngôn luận của Liên đoàn Cộng sản tự do Pháp, xuất bản ở Pari từ năm 1895. Tr.117.

14. Tuần lễ đẫm máu: Cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt diễn ra trong suốt bảy ngày (từ ngày 21-5 đến ngày 27-5-1871) của giai cấp công nhân và quần chúng Pari chống quân phản động Vécxây để bảo vệ thành quả cách mạng của Công xã Pari. Trong những ngày đó, các chiến sĩ Công xã đã biểu lộ một ý chí dũng cảm và một tinh thần bất khuất vô biên, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Quân Vécxây đã tàn sát các chiến sĩ Công xã một cách man rợ. Lịch sử gọi tuần lễ đó là “Tuần lễ đẫm máu”. Tr .126.

15. Ban Nghiên cứu thuộc địa: Một tổ chức nghiên cứu những vấn đề thuộc địa của Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, thành lập tháng 6-1921. Nguyễn Ái Quốc là uỷ viên của tổ chức này. Ban đã sưu tầm và phổ biến các tài liệu về tình cảnh các xứ thuộc địa và cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, tiến hành công tác tuyên truyền trong nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa về tinh thần đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước đế quốc với các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Ban đã gửi nhiều bài đăng trên mục Thuộc địa của báo L’Humanité và tìm cách gửi báo đến các thuộc địa. Hoạt động của Ban đã góp phần tích cực vào công tác tuyên truyền học thuyết của Lênin và đường lối của Quốc tế Cộng sản về vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc. Tr.128.

16. Khởi nghĩa Thái Nguyên: Cuộc khởi nghĩa của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp ở Thái Nguyên tháng 8-1917.

Đêm 30-8-1917, dưới sự lãnh đạo của Đội Cấn (tức Trịnh Văn Cấn) và Lương Ngọc Quyến, binh lính người Việt Nam trong quân đội Pháp ở Thái Nguyên đã nổi dậy đánh chiếm tỉnh lỵ. Sau sáu ngày chiến đấu quyết liệt với quân Pháp được tăng viện từ Hà Nội và nhiều nơi khác đến, Lương Ngọc Quyến hy sinh, nghĩa quân phải rút khỏi tỉnh lỵ, chuyển về hoạt động ở vùng rừng núi các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hoà Bình, Sơn Tây.

Do bị truy nã và đàn áp ráo riết, cuộc khởi nghĩa yếu dần. Ngày 11-1-1918, Đội Cấn tự sát để giữ trọn khí tiết. Cuộc khởi nghĩa thất bại.Tr.136.

17. Hội liên hiệp thuộc địa: Một tổ chức cách mạng của những người thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc cùng một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp sáng lập tháng 7-1921, tại Pari. Lúc đầu, hội có 200 hội viên, phần lớn là những người trước đây ở trong Hội những người yêu nước Việt Nam và Hội đấu tranh cho quyền công dân của người Mađagátxca. Ban Thường vụ của hội gồm bảy người, trong đó có Nguyễn Ái Quốc. Cơ quan tuyên truyền của hội là báo Le Paria. Đến năm 1926, hội ngừng hoạt động. Tr.140.

18. Hội chợ thuộc địa Mácxây: Năm 1922, tại thành phố Mácxây (miền Nam nước Pháp), Chính phủ Pháp mở Hội chợ triển lãm thuộc địa, trưng bày các sản vật mang từ các thuộc địa của Pháp sang, để nói lên sự giàu có của thuộc địa và công lao “khai hoá” của người Pháp, đồng thời kêu gọi tư bản Pháp bỏ vốn kinh doanh và khai thác ở các thuộc địa. Tr.169.

19. Hội Tam điểm (Franc-Maçonnerie): Nguyên thủy là một hội có tính chất nghề nghiệp của những người thợ xây nhà thờ, họ thống nhất với nhau về ba điểm (tam điểm): hữu ái (Fraternité), giúp đỡ lẫn nhau (mutualité) và đoàn kết (solidarité), không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc. Họ muốn xây dựng lên một “thánh đường của lòng nhân ái” và có thực hiện một số nghi thức tượng trưng nào đó.

Kế thừa tên gọi ngày xưa, Hội Tam điểm hiện đại có tính chất tư biện và đầu cơ về tinh thần, xuất hiện ở Anh thế kỷ XVII, ở Pháp thế kỷ XVIII. Hội đã vượt lên tính chất nghề nghiệp, trở thành một đoàn thể có tính chất chính trị, có tính chất quốc tế. Hội kết nạp một cách rộng rãi, không bí mật, nhưng khép kín, tập hợp những người thuộc các tầng lớp khác nhau, chủ yếu thuộc lớp dưới, gắn bó với nhau trên cơ sở hữu ái, tương tế, đoàn kết, có tính cách khai tâm và bí huyền, nhằm xây dựng nên một “thánh đường” của nhân loại.

Trên bước đường học cách tổ chức, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia và tìm hiểu cách tổ chức và hoạt động của hội này. Tr.171.

20. Quốc tế Nông dân: Một tổ chức cách mạng hoạt động dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, thành lập năm 1923, nhằm đoàn kết rộng rãi giai cấp nông dân các nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Quốc tế Nông dân họp Hội nghị lần thứ nhất vào tháng 10-1923, tại Mátxcơva.

Với tư cách là đại biểu nông dân của các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự hội nghị và phát biểu ý kiến. Tại hội nghị, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Tr. 244.

21. Trường đại học Phương Đông (Trường đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông): Trường thành lập tại Mátxcơva (Liên Xô) năm 1921, theo quyết định của Quốc tế Cộng sản, nhằm mục đích đào tạo cán bộ cách mạng trước hết cho các nước phương Đông thuộc Liên Xô và các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Tại đây, các học viên được trang bị những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng. Trong thời gian học tập, học viên phải nắm vững các môn quan trọng như chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị, lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, v.v..

Trong gần 20 năm tồn tại, Trường đại học Phương Đông đã đào tạo cho các nước phương Đông hàng ngàn cán bộ, trong đó có những người sau này đã trở thành cán bộ lãnh đạo có uy tín của các Đảng Cộng sản ở các nước.

Quan tâm sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc và vấn đề đào tạo cán bộ cách mạng cho các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã viết rất nhiều bài báo để cổ vũ, giới thiệu Trường đại học Phương Đông. Sau khi về hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn và cử nhiều cán bộ Việt Nam và một số nước khác ở châu Á sang học tại Trường đại học Phương Đông.

Trong số những cán bộ Việt Nam được đào tạo tại Trường đại học Phương Đông, nhiều đồng chí sau này đã trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, v.v.. Tr. 251.

22. Thổ Nhĩ Kỳ: Một nước nằm ở phía tây châu Á, có vị trí quan trọng nối liền ba châu lục, lại giáp liền ba vùng biển là Địa Trung Hải, Êgiê và Hắc Hải. Trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, Thổ Nhĩ Kỳ đứng về phía Đức bị thất bại. Các đế quốc giành lại những vùng đất phụ thuộc Thổ Nhĩ Kỳ và xâu xé ngay chính nước Thổ Nhĩ Kỳ (Hiệp ước Xevơrơ tháng 8-1920). Sự kiện đó làm bùng lên cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân và nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ đòi thành lập một nhà nước cộng hoà thống nhất. Tháng 11-1922, Kêman, thủ lĩnh đảng của giai cấp tư sản “Thổ Nhĩ Kỳ trẻ”, đã thủ tiêu chế độ phong kiến; tháng 10-1923, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà; tháng 4-1924, ban hành Hiến pháp tư sản. Đối với giai cấp tư sản, cuộc cách mạng được coi như đã hoàn thành. Nhưng quần chúng nhân dân lao động là lực lượng góp phần quyết định thắng lợi của cách mạng thì không được quyền lợi gì.

Phong trào đấu tranh của công nhân Thổ Nhĩ Kỳ đã phát triển mạnh mẽ từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tháng 9-1920, Đảng Cộng sản Thổ Nhĩ Kỳ thành lập, lãnh đạo cuộc đấu tranh. Trong nửa đầu những năm 20 thế
kỷ XX, phong trào bãi công lan rộng và rất rầm rộ, có nơi cuộc bãi công thu hút tới 50 vạn người tham gia. Tháng 11-1923, Đại hội công nhân ở Côngxtantinốp thành lập Liên minh công nhân Thổ Nhĩ Kỳ, đoàn kết đông đảo nhân dân trong nước. Nhưng Chính phủ Kêman đã hạ lệnh cấm các hội công nhân hoạt động và đàn áp họ.

Theo dõi tình hình phát triển của phong trào công nhân Thổ Nhĩ Kỳ, Nguyễn Ái Quốc dự báo “Nhất định họ sẽ còn tiến nữa”. Tr. 253.

23. Đại hội Liông: Đại hội lần thứ III Đảng Cộng sản Pháp họp ở Liông (Pháp) tháng 1-1924. Vấn đề chủ yếu của đại hội là đấu tranh để củng cố Đảng về mặt tổ chức và tư tưởng. Vấn đề thuộc địa cũng được đại hội đưa vào chương trình nghị sự. Tr. 259.

24. Inprekorr. Viết tắt tên Tạp chí International Press correspondence (bản tiếng Anh), cơ quan nghiên cứu lý luận của Quốc tế Cộng sản. Tạp chí này được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng như Anh, Đức, Pháp, Nga. Tr.262.

25. Quốc tế Thanh niên Cộng sản: Tổ chức quốc tế của thanh niên lao động cách mạng. Theo sáng kiến của Lênin, Đại hội lần thứ nhất của thanh niên xã hội chủ nghĩa được triệu tập ở Béclin (Đức) từ ngày 20 đến ngày 26-11-1919 (có 29 đại biểu của 13 nước tham dự) đã thông qua nghị quyết thành lập Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Tổ chức này đã gia nhập Quốc tế Cộng sản với tư cách là một phân bộ.

Quốc tế Thanh niên Cộng sản có những phân bộ riêng của mình ở 56 nước. Các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Thanh niên Cộng sản là Đại hội Quốc tế và Ban Chấp hành. Quốc tế Thanh niên Cộng sản hoạt động dưới sự lãnh đạo về tư tưởng và tổ chức của Quốc tế Cộng sản. Nó đã có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin trong thanh niên, đề ra mục tiêu, phương pháp đấu tranh cho thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới.

Năm 1943, cùng với việc giải tán Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên cũng tự giải tán. Tr. 274.

26. Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản: Đại hội họp từ ngày 17-6 đến ngày 8-7-1924 tại Mátxcơva. Đại hội đã tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm về đấu tranh giai cấp từ năm 1918 đến năm 1923 và đề ra chủ trương tăng cường công tác xây dựng các Đảng Cộng sản để lãnh đạo phong trào đấu tranh thực hiện những mục tiêu lâu dài của cách mạng và những quyền lợi thiết thực của quần chúng. Đại hội cũng chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là phải đấu tranh chống chủ nghĩa cải lương, cơ hội, chống những phần tử phái hữu và trốtxkít.

Nguyễn Ái Quốc đã tham dự đại hội và đã ba lần phát biểu ý kiến về vấn đề dân tộc và thuộc địa và những vấn đề khác. Tr. 275.

27. Quốc tế Cứu tế đỏ: Một tổ chức cách mạng thành lập năm 1923 hoạt động theo đường lối của Quốc tế Cộng sản. Mục tiêu chủ yếu của Quốc tế Cứu tế đỏ là đoàn kết các lực lượng cách mạng để đấu tranh chống lại những hành động đàn áp khủng bố của chính quyền đế quốc, đòi trả tự do cho những nhà hoạt động chính trị của giai cấp công nhân và của phong trào giải phóng dân tộc bị bọn thống trị bắt bớ giam cầm. Tổ chức này còn động viên sự đóng góp của quần chúng lao động để giúp đỡ về tinh thần và vật chất cho những gia đình có người thân hy sinh hay bị tù đày vì hoạt động cách mạng. Quốc tế Cứu tế đỏ có chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới.

Năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu tổ chức này và nêu lên sự cần thiết phải thành lập một chi nhánh Cứu tế đỏ ở Đông Dương. Tr. 281.

28. Quốc tế Công hội đỏ (Quốc tế Công đoàn): Tổ chức liên hiệp quốc tế của các công đoàn cách mạng, được hình thành về mặt tổ chức vào ngày 23-7-1921, tồn tại đến cuối năm 1937. Tổ chức này liên kết các trung tâm công đoàn không gia nhập vào tổ chức công đoàn cải lương là Quốc tế Amxtécđam (Quốc tế của các công đoàn) và liên kết các nhóm, các khuynh hướng đối lập tiến bộ trong nội bộ các tổ chức công đoàn cải lương ở các nước. Quốc tế Công hội đỏ đấu tranh để thiết lập sự thống nhất trong phong trào công đoàn trên cơ sở đấu tranh cách mạng nhằm bảo vệ những yêu sách của giai cấp công nhân, chống nguy cơ chiến tranh đế quốc chủ nghĩa và đoàn kết với giai cấp công nhân nước Nga Xôviết. Tr.282.

29. Báo Thanh niên: Cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhưng suốt từ số 1 ra ngày 21-6-1925 đến số 107 không đề cơ quan ngôn luận của tờ báo, đến số 108 ra ngày 28-7-1929 mới thấy có tiêu đề: Cơ quan của Đảng Việt Nam Cách mạng Thanh niên, và ở góc trái phía trên có thêm hình vẽ ngôi sao nhỏ năm cánh và hình búa liềm thay cho vị trí ngôi sao to trước kia.

Báo dự định xuất bản hằng tuần, nhưng do khó khăn khách quan nên không đều kỳ. Thông thường mỗi số có hai trang hoặc bốn trang, khổ giấy 18 x 24 cm, in litô. Tên báo được viết bằng hai thứ chữ: chữ Việt và chữ Hán.

Báo có các chuyên mục: xã hội, bình luận, tin tức, diễn đàn, vấn đáp, phê bình, trả lời bạn đọc, v.v.. Mỗi số báo được in khoảng 100 bản, hầu hết được bí mật gửi về Việt Nam, một số ít gửi cho các cơ sở ở Xiêm.

Nội dung của báo Thanh niên thường đề cập đến những vấn đề chính sau đây:

– Đế quốc và thuộc địa.

– Cách mạng và cải lương.

– Thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

– Đảng Cách mạng và Đảng Cộng sản.

– Cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới.

– Cách mạng và mặt trận dân tộc thống nhất.

– Học tập lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, v.v..

Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập và là cây bút chủ chốt của tờ báo. Một số uỷ viên của Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm cũng tham gia trong ban biên tập.

Những bài viết của báo Thanh niên đều ngắn gọn, lời lẽ giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Nhờ báo Thanh niên mà tổ chức hội đã thống nhất về phương hướng và nội dung tuyên truyền giáo dục trong và ngoài hội. Báo Thanh niên đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa
Mác – Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam vào đầu năm 1930. Sự xuất hiện của báo Thanh niên đánh dấu sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam. Ngày 21-6 hằng năm được lấy là Ngày báo chí Việt Nam. Tr.324.

30. Phong trào 30-5: Một phong trào chống đế quốc của nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo.

Từ sau Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Trung Quốc (1-1925), phong trào quần chúng nhanh chóng phát triển, công nhân Nhà máy tơ của Nhật ở Thượng Hải, Thanh Đảo lần lượt bãi công. Đế quốc âm mưu dùng bạo lực dập tắt phong trào. Ngày 14-5, công nhân một nhà máy tơ của Nhật ở Thượng Hải đã bãi công phản đối bọn chủ sa thải vô lý công nhân Trung Quốc. Ngay ngày hôm sau, bọn chủ Nhật đã nổ súng vào công nhân bãi công, bắn chết đảng viên cộng sản Cố Chính Hồng, bắn bị thương hơn 10 người khác. Hành động đó thổi bùng lên ngọn lửa căm phẫn cao độ trong công nhân, học sinh và nhân dân. Ngày 30-5, trong cuộc mít tinh của hơn 2.000 học sinh Thượng Hải tổ chức trong khu vực tô giới để phản đối hành động bạo lực của đế quốc, hơn 100 người đã bị bắt, càng làm cho hàng vạn quần chúng căm phẫn, tập trung trước trại giam đòi thả những người bị bắt. Lính Anh đã nổ súng làm hàng chục người chết và bị thương, gây ra vụ thảm sát “30-5”. Ngày 31-5, Tổng Công hội Thượng Hải được thành lập dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp đó liên tục nổ ra các cuộc bãi công, bãi thị, bãi khoá. Ngày 7-6, Hội Liên hiệp Công – Thương – Học thành lập, một đại hội quần chúng có hơn 20 vạn người tham gia tổ chức vào ngày 11-6 đã thông qua 17 điều kiện thương lượng với nội dung chống chủ nghĩa đế quốc. Phong trào “30-5” đã dấy lên khắp Trung Quốc một cao trào chống đế quốc, trong đó cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh (Hồng Kông – Quảng Châu) có quy mô lớn nhất, ảnh hưởng rộng nhất. Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia cuộc bãi công lớn này. Tr .327.

31. Bản án chế độ thực dân Pháp: Là một tác phẩm lớn do Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp được những người bạn cùng hoạt động với Người xuất bản lần đầu tiên tại Thư quán Lao động (Librairie du Travail) Pari, cuối năm 1925.

Tác phẩm ra đời giữa lúc làn sóng cách mạng đang dâng lên mạnh mẽ ở khắp các thuộc địa của thực dân Pháp, phong trào yêu nước ở Việt Nam đang sôi nổi diễn ra khắp Bắc – Trung – Nam; và giữa lúc Nguyễn Ái Quốc đang nỗ lực tổ chức lực lượng nòng cốt của cách mạng Việt Nam theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga. Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm đã có tiếng vang lớn trong nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa.

Với lời văn giản dị, trong sáng và châm biếm sâu sắc, tác phẩm đã tố cáo và lên án đanh thép những tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân nói chung và chủ nghĩa thực dân Pháp nói riêng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Bằng những chứng cớ cụ thể, tác phẩm đã vạch rõ nguồn gốc của mọi sự áp bức bóc lột, của mọi nỗi khổ cực của quần chúng ở các thuộc địa.

Toàn bộ tác phẩm toát lên tinh thần cách mạng tiến công, tư tưởng cách mạng triệt để, bước đầu vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn và những chiến lược, sách lược cách mạng cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa; thức tỉnh, cổ vũ các dân tộc bị áp bức đi theo lời kêu gọi của Các Mác: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” và đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ động tiến hành đấu tranh cách mạng để tự giải phóng mình.

Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp ra đời đã giáng đòn tiến công quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân đế quốc, trước hết là đế quốc Pháp; vạch ra con đường cách mạng và tương lai tươi sáng cho các dân tộc bị áp bức. Nó là một cống hiến quan trọng của Nguyễn Ái Quốc đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đã góp phần tích cực vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và các nước thuộc địa khác. Nó không những có giá trị lớn về lý luận – chính trị mà còn có giá trị lớn về văn học – nghệ thuật.

Những tư tưởng lớn của tác phẩm không chỉ soi đường cho cách mạng Việt Nam và cách mạng các nước thuộc địa phụ thuộc nói chung trong hơn nửa thế kỷ qua, mà ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị đối với cách mạng nước ta và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Tr.341.

32. Đường cách mệnh: Là cuốn sách gồm những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Người tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) trong những năm 1925 – 1927. Các lớp huấn luyện chính trị này nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng và phương pháp cách mạng cho những người cách mạng Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930. Cuốn sách này do Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản năm 1927 để làm tài liệu học tập và tuyên truyền.

Đường cách mệnh là một trong những tác phẩm lớn đánh dấu một trong những mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời là một trong những văn kiện lý luận đầu tiên của Đảng ta, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam. Tr.367.

33. Liên đoàn chống đế quốc: Đây là một tổ chức thống nhất đầu tiên có tính chất mặt trận giữa giai cấp công nhân quốc tế với trí thức tiến bộ của các nước tư bản và đại biểu các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, do những nhà trí thức tiến bộ như Anbe Anhxtanh (Albert Einstein), Hăngri Bácbuýt (Henri Barbusse), v.v. sáng lập ở Brúcxen (Thủ đô nước Bỉ) tháng 2-1927. Tôn chỉ của tổ chức này là chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược, ủng hộ phong trào độc lập của các dân tộc bị áp bức. Tổng bộ lúc đầu đặt ở Béclin (Đức), sau chuyển sang Mátxcơva, có tổ chức chi nhánh ở nhiều nước.

Tháng 7-1929, Liên đoàn chống đế quốc đã tổ chức một đại hội nhân dân các thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc. Hoạt động của tổ chức quốc tế này có ảnh hưởng nhất định đối với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc lúc bấy giờ. Tr. 379.

34. Công tác quân sự của Đảng trong nông dân: Bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại trường quân sự của những người cộng sản Đức ở Mátxcơva vào khoảng cuối năm 1927 và được xuất bản lần đầu tiên ở Đức vào năm 1928 (Theo Huỳnh Kim Khánh: Phong trào cộng sản Việt Nam 1925 – 1945, Cornell University Press, Itheca and London, 1972).

Trong cuốn Khởi nghĩa vũ trang do A. Neuberg tuyển chọn, biên tập và xuất bản ở Luân Đôn năm 1970, bài này được xếp vào chương XII là chương cuối cùng của cuốn sách. Erich Wolleuberg, một người cộng sản Đức, từng làm việc cùng với Nguyễn Ái Quốc tại Quốc tế Cộng sản năm 1924, trong lời giới thiệu cuốn sách với tựa đề Chúng tôi đã viết Khởi nghĩa vũ trang như thế nào? đã viết như sau: “Tác giả của chương XII: Công tác quân sự của Đảng trong nông dân, là một nhà cách mạng Đông Dương khiêm tốn, thân thiết, người dần dần bước vào lịch sử đấu tranh giải phóng xã hội và dân tộc vĩ đại của thời đại chúng ta, dưới tên Hồ Chí Minh”.

Có thể nói rằng, đây là tài liệu đầu tiên bàn về quân sự của Hồ Chí Minh, trong đó chứa đựng những tư tưởng quan trọng về vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng (cả cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản), về tổ chức, cấu trúc và hoạt động du kích trong tiến trình cách mạng. Đây chính là cơ sở quan trọng để sau này Người viết các tác phẩm quân sự như Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Nga, làm tài liệu huấn luyện và trực tiếp chỉ đạo cán bộ chiến sĩ ta từ năm 1941 trở đi, chuẩn bị có hiệu quả cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám sau này. Tr.381.

35. Uỷ ban Ximông: Tên gọi tắt tổ chức Uỷ ban nghiên cứu thể chế Ấn Độ do Ximông làm Chủ tịch.

Giôn Anxơbrúc Ximông (1873 – 1954) là luật sư người Anh, làm việc tại Bộ Nội vụ Anh, đã đưa ra nguyên tắc về quyền tự quản của các tỉnh và lấy đó làm cơ sở xây dựng thể chế của Ấn Độ. Thực chất quan điểm của Ximông là muốn chia cắt Ấn Độ thành những khu vực riêng biệt, theo tôn giáo hoặc theo sắc tộc để dễ bề thực hiện chính sách “chia để trị”. Tr. 386.

36. MOPR (Tổ chức Quốc tế giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng”): Được thành lập theo sáng kiến của Quốc tế Cộng sản vào tháng 9-1921 tại Béclin (Đức), từ cuộc Hội nghị quốc tế của các Uỷ ban giúp đỡ nhân dân các vùng bị đói ở nước Nga Xôviết. Sau này, tổ chức đó trở thành trung tâm quốc tế giúp đỡ các nạn nhân của chế độ tư bản. Từ năm 1935, tổ chức quốc tế này ngừng hoạt động. Các chi bộ của nó tham gia vào các mặt trận nhân dân hoặc đấu tranh để thành lập các mặt trận nhân dân ở các nước. Tr.387.

BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI

B

BÔRÔĐIN M.M. (tên thật là Grudenbéc) (1884 – 1951), đảng viên bônsêvích Nga từ năm 1903. Năm 1915 là Bí thư Ban Chấp hành Riga của Đảng Công nhân dân chủ xã hội (b) Nga. Từ năm 1907 đến năm 1918, lưu vong ở Mỹ. Từ năm 1918 đến năm 1922, làm việc ở Bộ Dân uỷ Ngoại giao Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Nga và trong Quốc tế Cộng sản. Những năm 1923 – 1927, là cố vấn của Tôn Dật Tiên. Từ năm 1927, là Phó Chủ tịch dân uỷ lao động, Phó Giám đốc Thông tấn xã Liên Xô và hoạt động ở nhiều tổ chức khác của Liên Xô.

BƠLUM, Lêông (1872 – 1950), đảng viên xã hội phái hữu, nhiều năm làm chủ bút báo Le Populaire – Cơ quan trung ương của Đảng Xã hội Pháp. Sau khi Mặt trận nhân dân giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử năm 1936, Bơlum đứng đầu Chính phủ Pháp và đã thi hành chính sách làm suy yếu Mặt trận nhân dân và phá hoại việc thực hiện cương lĩnh của Mặt trận. Năm 1946, là thành viên trong đoàn đại biểu Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ ta.

C

CASANH, Mácxen (1869 – 1958), nhà hoạt động xuất sắc của phong trào công nhân Pháp và quốc tế. Từ năm 1912 đến năm 1918, biên tập viên báo L’Humanité -Cơ quan trung ương của Đảng Xã hội Pháp và năm 1918 là chủ bút tờ báo đó. Casanh là một trong những người tích cực và giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động ở Pháp.

         Năm 1920, ông tham gia Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản với tư cách là đại biểu Đảng Xã hội Pháp.

        Từ năm 1924 đến năm 1943, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Casanh còn liên tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp.

         Năm 1957, ông được Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Lênin.

CLÊMĂNGXÔ, Gióocgiơ Bănggia (1841 – 1929), vốn là thầy thuốc, tham gia hoạt động chính trị sau ngày Đế chế thứ II sụp đổ (4-9-1870), nghị sĩ cấp tiến trong Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ (1906 – 1909). Năm 1920, bị thất bại trong tranh cử Tổng thống, Clêmăngxô ra nước ngoài và viết sách.

CÔLARỐP, Vaxin Pêtơrốp (1877 – 1950), nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào công nhân Bungari và phong trào công nhân quốc tế. Ông là đảng viên Đảng Công nhân dân chủ xã hội Bungari từ năm 1897. Từ năm 1897 đến năm 1900, học luật ở Giơnevơ và tổ chức nhóm mácxít quốc tế. Năm 1905, tại Đại hội lần thứ XII Đảng Công nhân dân chủ xã hội Bungari (những người xã hội chủ nghĩa phái hẹp), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương. Từ năm 1921, là Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Từ năm 1922 đến năm 1924, ông được bầu làm Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản. Ông cùng Đimitơrốp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tháng 9-1923 chống phát xít. Khởi nghĩa thất bại, ông sang cư trú tại Liên Xô đến năm 1945.

        Từ năm 1945 đến năm 1946, ông là Chủ tịch Quốc hội và là Chủ tịch lâm thời nước Cộng hoà nhân dân Bungari khi mới thành lập. Từ năm 1947 đến năm 1949, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Từ năm 1949 đến năm 1950, là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà nhân dân Bungari.

CUTUYARIÊ, Pôn Vayăng (1892 – 1937), một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, nguyên nghị sĩ Quốc hội Pháp, cựu Chủ nhiệm báo L’Humanité, là người giới thiệu Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp (1919).

        Tại Đại hội Tua năm 1920, Pôn Vayăng Cutuyariê là một trong những người đấu tranh bảo vệ chủ trương Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế Cộng sản và ủng hộ bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc ở đại hội này. Ông còn là người tích cực giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc khi Người thoát khỏi nhà ngục Hồng Kông lên Thượng Hải, bắt liên lạc với tổ chức để đến Liên Xô.

D

DÉTKIN, Clara (1857 – 1933), nữ chiến sĩ cách mạng Đức, nhà hoạt động nổi tiếng của giai cấp công nhân Đức và phong trào phụ nữ quốc tế. Bà là đảng viên Đảng Xã hội dân chủ Đức, đứng về phía Xpáctaquýt và có những cống hiến tích cực vào việc thành lập Đảng Cộng sản Đức.

DINÔVIÉP, Rađômưxlơxki G.E (1883 – 1936), gia nhập Đảng Công nhân dân chủ – xã hội Nga năm 1901. Sau Cách mạng Tháng Mười, là Chủ tịch Xôviết Pêtơrôgrát, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (b) Nga, Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Hai lần bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản và được phục hồi; năm 1934, bị khai trừ hẳn khỏi Đảng Cộng sản.

DUY TÂN (1900 – 1945), tức Nguyễn Vĩnh San, vua thứ 11 nhà Nguyễn từ năm 1907 đến năm 1916. Duy Tân là ông vua yêu nước và có tinh thần dân tộc. Năm 1916, ông cùng với Thái Phiên và Trần Cao Vân trong Việt Nam Quang phục hội định dựa vào số binh lính bị mộ sang Pháp, tổ chức khởi nghĩa ở Huế và miền nam Trung Kỳ. Công việc bị bại lộ, khởi nghĩa không thành. Duy Tân bị thực dân Pháp đày sang đảo Rêuyniông (châu Phi). Ông là người ham học và có ý chí. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Duy Tân gia nhập quân đội Đồng minh chống phát xít. Năm 1945, mất vì tai nạn máy bay ở châu Phi.

Đ

ĐÁCLƠ, Ôguytxtơ Êđua (1875 – 1940), cử nhân văn chương. Năm 1906, sang Đông Dương vào ngạch 4 quan cai trị. Đáclơ làm Công sứ tỉnh Thái Nguyên, đã chủ trương đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy của binh lính người Việt do Đội Cấn (Trịnh Văn Cấn) và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo, tháng 8-1917.

ĐUME, Pôn (1857 – 1932), Nghị sĩ Quốc hội Pháp (phái cấp tiến) năm 1888 – 1895. Bộ trưởng Bộ Tài chính năm 1895 – 1896, 1921 – 1922. Toàn quyền Đông Dương năm 1896 – 1902. Chủ tịch Thượng viện năm 1927. Tổng thống Pháp năm 1931. Tác giả cuốn sáchIndochine – Française (Đông Dương thuộc Pháp hay Đông Pháp). Bị ám sát năm 1932.

ĐUYCLÔ, Giắccơ (1896 – 1975), Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp từ năm 1946 đến năm 1952, Thượng nghị sĩ Pháp năm 1946 đến năm 1952; Thượng nghị sĩ Pháp năm 1959; Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1931. Ông gặp và quen biết Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919. Vào các năm  1946, 1957, ông lại có dịp gặp lại Người.

F

PHRỐTXA, Luđôvích Ôxca, Tổng Bí thư Đảng Xã hội Pháp năm 1918, bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế Cộng sản tại Đại hội Tua năm 1920, sau đó giữ chức Tổng Bí thư cho đến khi ra khỏi Đảng Cộng sản ngày 1-1-1923. Ông đã từng tham gia Chính phủ tư sản Pháp.

G

GĂNGĐI, Môhanđát Karamsan (1869 – 1948), nhà triết học, nhà văn, nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ. Để chống lại thực dân Anh, giành độc lập dân tộc, Găngđi chủ trương không dùng bạo lực và không coi bạo lực là phương thức đấu tranh chính trị. Trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Ấn Độ (1919 – 1922), Găngđi trở thành lãnh tụ của Đảng Quốc đại và giữ vai trò quan trọng trong việc biến đảng này thành một tổ chức quần chúng chống đế quốc. Học thuyết đề kháng tiêu cực của ông trở thành tư tưởng chính của Đảng Quốc đại trong cuộc đấu tranh cho nền độc lập Ấn Độ. Năm 1946, ông tuyên bố là không nhất thiết chỉ dùng phương pháp đấu tranh không bạo lực. Găngđi có ảnh hưởng và uy tín lớn ở Ấn Độ. Nhân dân Ấn Độ suy tôn ông là Mahátma nghĩa là “Tâm hồn vĩ đại”. Năm 1948, ông bị bọn phản động ám sát.

K

KHẢI ĐỊNH (1882 – 1925), tức Nguyễn Bửu Đảo, vua thứ 12 nhà Nguyễn. Năm 1916, được người Pháp đưa lên ngôi và đứng đầu triều đình đến năm 1925. Khải Định là một ông vua bạc nhược, hoàn toàn phụ thuộc vào người Pháp.

KHÁNH KÝ, tên thật là Nguyễn Dư Khánh (1874 – 1946), người làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, sang Pháp từ năm 1911 – 1912. Ông đã dạy cho Phan Châu Trinh làm nghề ảnh, và sau này Phan Châu Trinh đã truyền lại nghề này cho Nguyễn Ái Quốc.

L

LÊNIN, Vlađimia Ilích (1870 – 1924), lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử loài người, và sáng lập ra Quốc tế Cộng sản. Kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã đấu tranh kiên quyết để bảo vệ tinh thần cách mạng của chủ nghĩa Mác, chống lại mọi sự xuyên tạc của bọn cơ hội chủ nghĩa và phát triển thiên tài cả ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa mác (triết học mácxít; kinh tế chính trị học mácxít; chủ nghĩa xã hội khoa học), giải quyết đúng đắn về lý luận và thực tiễn các vấn đề đặt ra cho cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.

        Lênin đặc biệt chú ý và đã đưa ra nhiều luận điểm quan trọng về phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. TrongSơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa được trình bày tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920), V.I.Lênin đã nêu ra những vấn đề cơ bản của phong trào giải phóng dân tộc.

LIÔTÂY, Lui Uybe Gôngdavơ (1854 – 1934), Thống chế Pháp. Có mặt nhiều năm ở các thuộc địa Pháp. Năm 1894, Liôtây sang Đông Dương. Năm 1912, làm Tư lệnh quân đội Pháp ở Marốc. Năm 1916 – 1917, làm Bộ trưởng Bộ Chiến tranh. Bằng những hành động quân phiệt hết sức tàn bạo, Liôtây chỉ huy những cuộc đàn áp đẫm máu các cuộc nổi dậy đòi giải phóng, chống thực dân Pháp ở các thuộc địa.

LƠPHEVRƠ, Raymông (1891 – 1920), nhà văn Pháp. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã cùng đồng đội nổi dậy chống chiến tranh đế quốc và là một trong những người sáng lập Hội Cộng hoà cựu chiến binh (ARAC). Ông là đại biểu chính thức của Đảng Xã hội Pháp tham dự Đại hội II Quốc tế Cộng sản. Khi trở lại Pháp bị đắm thuyền, mất tích.

LÔNG, Môrixơ (? – 1923), chính thức nhận chức Toàn quyền Đông Dương từ tháng 12-1919. Tháng 1-1923, khi về Pháp công cán, qua Côlômbô bị giết, lúc chưa hết nhiệm kỳ.

LÔNGGHÊ, Giăng (1876 – 1938), cháu ngoại Các Mác. Đảng viên Đảng Xã hội Pháp, nhưng đến Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp thì ngả sang phái hữu. Ông là người có công giúp Nguyễn Ái Quốc tập viết báo.

M

MÁC, Các (1818 – 1883), lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới, nhà tư tưởng vĩ đại, người sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học. Mác là người sáng tạo ra lý luận cách mạng vô sản. Từ sự phân tích sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, Mác đã đề ra học thuyết về chuyên chính vô sản là công cụ của bước quá độ cách mạng từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội. Từ sự phân tích xã hội tư bản, Mác đề ra học thuyết về giá trị thặng dư.

        Mác không chỉ là nhà lý luận thiên tài mà trước hết Mác là nhà cách mạng vĩ đại. Năm 1847, Mác và Ăngghen gia nhập Liên minh những người cộng sản. Năm 1864, Mác sáng lập và là linh hồn của Quốc tế thứ I. Mác đã đấu tranh chống các thứ chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân, chống bọn vô chính phủ và định ra sách lược cách mạng cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân.

MANUINXKI, Đimitri Dakhailôvích (1883 – 1959), đảng viên Đảng Công nhân dân chủ – xã hội Nga cuối năm 1903. Sau đó bị bắt, bị đi đày, rồi vượt ngục, sống lưu vong và gặp Lênin ở Pari. Năm 1912, bí mật trở về Nga hoạt động. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lênin cử ông ra mặt trận hàm Chính uỷ “đỏ”, rồi hàm Thứ trưởng Bộ Lương thực, Hội trưởng Chữ thập đỏ. Năm 1921, được cử làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ucraina. Từ năm 1922, chuyển sang công tác ở Quốc tế Cộng sản. Năm 1924, là Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Năm 1928, là Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Ba mươi năm liền là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.

MÔNGMÚTXÔ, Gaxtông (1883 – 1960), Tổng thư ký Liên đoàn Lao động Pháp, Tổng Biên tập báo La Vie Ouvrière, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp.

        Năm 1919, Môngmútxô đã gặp Nguyễn Ái Quốc và giúp đỡ Người cách viết báo và cho đăng những bài viết của Người trên báo La Vie Ouvrière.

N

NGUYỄN THỨC CANH (1884 – 1965), tức Trần Hữu Công, tức Trần Trọng Khắc, người huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, tham gia phong trào Đông du, sau học y khoa ở Béclin. Từ năm 1923 đến năm 1931, trở lại Thượng Hải làm bác sĩ ở một bệnh viện. Sau này về sống với con trai và mất tại Nha Trang ngày 11-8-1965.

NGUYỄN THẾ TRUYỀN (1898 – 1969), người quê Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, sang Pháp du học. Thời kỳ đầu có tham gia viết báo Le Paria và hoạt động trong Hội Liên hiệp thuộc địa. Nhưng sau đó đã đi theo xu hướng chính trị khác, lập Đảng Việt Nam độc lập và xuất bản báo chí chống cộng trên đất Pháp.

P

PÊTƠRỐP, Racônnicốp Phêđo, người Nga, đảng viên Đảng Cộng sản (b) Nga. Đại biểu dự Đại hội lần
thứ V Quốc tế Cộng sản, được đại hội bầu là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản năm 1924; tham dự nhiều phiên họp mở rộng của hội nghị Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản năm 1925 – 1927. Hội nghị mở rộng lần thứ IV của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản năm 1924 quyết định cử Pêtơrốp tham gia Ban Phương Đông. Hội nghị mở rộng lần thứ VI năm 1926, Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cử Pêtơrốp vào Ban Bí thư của Quốc tế Cộng sản kiêm Tổng thư ký Ban Phương Đông.

PHAN BỘI CHÂU (1867 – 1940), quê ở Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông là một sĩ phu tiến bộ trong phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam đầu thế kỷ XX.

        Ông là người khởi xướng chủ trương phong trào Đông du, muốn dựa vào Nhật để cứu nước, giải phóng đồng bào. Năm 1905 lập tổ chức Duy Tân hội theo kiểu quân chủ lập hiến. Năm 1912, cùng với những nhà hoạt động khác, ông lập Việt Nam Quang phục hội, theo đường lối quân chủ tư sản thay thế Hội Duy Tân. Năm 1924, ông cải tổ Việt Nam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân đảng. Tháng 12-1924, chịu ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc, ông chủ trương chuyển hoạt động của mình theo đường lối cách mạng mới. Nhưng năm 1925 bị địch bắt nên chủ trương không thành. Năm 1925, bị toà án thực dân xử tử hình, sau hạ xuống chung thân và giam lỏng ở Huế. Trong thời gian bị giam lỏng ở Huế, ông thường nhắc đến Nguyễn Ái Quốc và bày tỏ lòng tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội trong cuốn sách Chủ nghĩa xã hội do ông viết năm 1935.

PHAN CHÂU TRINH (1872 – 1926), người Quảng Nam, đỗ Phó bảng năm 1901. Năm 1903, làm Thừa biện Bộ Lễ. Năm 1905, cáo quan về quê hoạt động chính trị. Năm 1906, sau chuyến đi Nhật về, Phan Châu Trinh ra sức tuyên truyền chủ trương cải cách và trở thành một trong những người cầm đầu xu hướng cải lương ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Năm 1908, khi phong trào chống thuế của nông dân Trung Kỳ bị đàn áp, ông bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo.

        Năm 1911, nhờ có Hội Liên minh nhân quyền Pháp can thiệp, ông được trả tự do và sang cư trú tại Pháp.

        Năm 1925, thực dân Pháp bố trí đưa ông về nước, âm mưu lợi dụng chủ trương cải lương của ông để ngăn chặn phong trào cách mạng đang trên đà phát triển. Ông lâm bệnh và mất vào tháng 3-1926.

PHAN VĂN TRƯỜNG (1876 – 1933), quê huyện Từ Liêm, Hà Nội; sang Pháp năm 1908, vừa làm việc vừa tiếp tục học thêm. Năm 1914, bị bắt đi lính. Vì nghi hoạt động chống Pháp nên bị kết án 11 tháng tù, sau được trắng án, nhưng đến năm 1919 mới được giải ngũ. Phan Văn Trường hoàn thành luận án tiến sĩ luật và làm luật sư ở Toà thượng thẩm Pari. Năm 1933 về nước, thay Nguyễn An Ninh làm giám đốc chính trị báo La Cloche félée xuất bản ở Sài Gòn, đã cho đăng toàn văn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Mác và Ăngghen, đăng lại nhiều bài của các nhà hoạt động cộng sản Pháp đã xuất bản ở Pháp.

         Phan Văn Trường có cảm tình với Nguyễn Ái Quốc từ khi mới đến Pháp và cùng hoạt động yêu nước chống thực dân ở Pari, ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, tán thành đường lối của Quốc tế Cộng sản và kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân trên lập trường tiến bộ.

POANHCARÊ, Raymông (1860 – 1934), Tổng thống nước Pháp từ năm 1913 đến năm 1920, đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Từ năm 1922 đến năm 1924 và từ năm 1926 đến năm 1929, Poănhgcarê làm Thủ tướng Chính phủ Pháp, thi hành những chính sách tối phản động theo chủ nghĩa sô vanh và chống Liên Xô.

T

TÔN TRUNG SƠN, tên Văn, tự Dật Tiên (1866 – 1925), người huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông; lúc ở Nhật lấy biệt hiệu là Trung Sơn Tiều (người hái củi ở Trung Sơn) vì thế được gọi là Trung Sơn tiên sinh. Ông sinh ngày 12-11-1866 trong một gia đình nông dân, học trường y ở Hồng Kông và Quảng Châu. Nuôi chí lớn lật đổ nhà Thanh, ông sớm lập ra Hưng Trung hội. Năm 1905 sáng lập học thuyết Tam dân. Sau 1905, tổ chức các nhóm cách mạng bí mật của Trung Quốc ở trong và ngoài nước thành Trung Quốc cách mạng đồng minh hội. Nhiều lần khởi nghĩa nhưng đều thất bại. Năm 1911 (Tân Hợi) khởi nghĩa thắng lợi ở Vũ Xương, thành lập Trung Hoa dân quốc, được bầu làm Đại Tổng thống lâm thời, sau đó ít lâu thì từ chức, cải tổ Đồng minh hội thành Quốc dân đảng. Năm 1912, cải tổ Quốc dân đảng thành Trung Hoa cách mạng đảngNăm 1916, tổ chức Chính phủ quân sự ở Quảng Châu, được cử làm Đại Nguyên soái. Năm 1917, cải tổ Chính phủ, được bầu làm Tổng tài. Năm 1920, được bầu làm Đại Tổng thống ở Quảng Đông. Năm 1923, cải tổ Trung Hoa cách mạng đảng thành Trung Hoa Quốc dân đảngÔng chủ trương “Thân Nga, liên cộng, phù trợ công nông”, hợp tác với phong trào cộng sản.

         Về đối nội, ông chủ trương triệu tập Hội nghị  quốc dân. Về đối ngoại, ông chủ trương xoá bỏ các điều ước bất bình đẳng. Ngày 12-3-1925, từ trần vì bệnh ung thư trong chuyến đi công cán lên phương Bắc. Ông để lại di chúc “Cách mạng còn chưa thành công, các đồng chí vẫn cần cố gắng”.

         Ông là một nhà yêu nước và một nhà cách mạng vĩ đại, được Chủ tịch Hồ Chí Minh rất kính trọng.

TƠRANH, Anbe Êđua (1889 – 1971), người Pháp, đại biểu dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở Tua, được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban lãnh đạo của Đảng theo Quốc tế III, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp năm 1925 – 1926, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng năm 1923 – 1924. Năm 1928, bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản. Năm 1934, tham gia Đảng Xã hội.

U

UTƠRÂY, Ecnếxtơ, người Pháp, tham gia Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ và là đại biểu của Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ trong Hạ nghị viện Pháp. Utơrây là một đại địa chủ, dùng quyền thế chiếm 2.000ha đất lập đồn điền ở Nam Bộ. Về chính trị, Utơrây là một viên chức thực dân cực kỳ phản động.

UYNXƠN, Vuđrô (1856 – 1924), Tổng thống Mỹ năm 1913 – 1921. Dưới thời Uynxơn, về đối nội, Chính phủ Mỹ đã thi hành chính sách đàn áp dã man phong trào công nhân; về đối ngoại, Chính phủ Mỹ thi hành chính sách ăn cướp và bành trướng, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các nước khác, đặc biệt là với các nước Mỹ latinh.

         Năm 1918, Uynxơn đưa ra “Chương trình 14 điểm”, thực chất chương trình này là thiết lập ách thống trị của Mỹ trên thế giới, chống lại nước Nga Xôviết mới ra đời. Chính sách này được che đậy bằng những lời lẽ mỹ miều như “dân chủ”, “quyền dân tộc tự quyết”.

         Năm 1920, Uynxơn bị thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống và thôi hoạt động chính trị.

V

VAREN, Alếchxăngđrơ Clốtđơ (1870 – 1947), luật sư, nhà báo, đảng viên Đảng Xã hội Pháp, dự Đại hội Xtraxbua và Tua (thuộc phái Lôngghê), không tán thành Quốc tế Cộng sản. Toàn quyền Đông Dương năm 1925. Sau bỏ Đảng Xã hội. Nghị sĩ Quốc hội những năm 1945 – 1946. Năm 1945 là bộ trưởng.

VÔITINXKI (Đarkhin), Grigôri Naumôvích (1893 – 1953), người Nga, tham gia Đảng Cộng sản (b) Nga năm 1918. Năm 1920, làm Thư ký Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản; Phó Tiểu ban Viễn Đông của Ban Phương Đông. Những năm 20 thế kỷ XX, Vôitinxki đến Trung Quốc với tư cách đại biểu của Quốc tế Cộng sản làm việc với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ những năm 30 thế kỷ XX, làm công tác khoa học và giáo dục ở Liên Xô.

X

XARÔ, Anbe (1872 – 1962), Toàn quyền Đông Dương trong những năm 1911 – 1914 và 1917 – 1919. Trong những năm 20 thế kỷ XX, là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa. Năm 1936 là Thủ tướng Pháp. Năm 1951 là Chủ tịch Hội đồng Liên hiệp Pháp.

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1929)

Khoảng đầu năm

Từ Uđon, Nguyễn Ái Quốc đến Sacôn, nơi có đông Việt kiều hơn ở Uđon và các tổ chức cách mạng cũng ra đời từ lâu.

Ở Sacôn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục củng cố và xây dựng cơ sở cách mạng để mở rộng phong trào. Ngoài việc dịch sách và huấn luyện thanh niên, hằng ngày Người tổ chức cho cán bộ học tập và nghiên cứu về tình hình thế giới, tình hình trong nước, về chủ nghĩa Mác – Lênin, chú ý nhiều hơn việc giáo dục cán bộ về công tác quần chúng và công tác bí mật.

Kiều bào ở đây, một số theo đạo Thiên Chúa, một số theo đạo Phật, một số thờ Đức thánh Trần, nói chung còn chậm tiến và mê tín. Thấy bà con đau ốm lại chữa bệnh bằng cúng bái, Nguyễn Ái Quốc vận động lập tủ thuốc chung và mời thầy thuốc đến khám bệnh. Người viết bài ca Trần Hưng Đạo theo thể song thất lục bát, kể rõ sự tích đánh giặc cứu nước của vị anh hùng dân tộc để giáo dục lòng yêu nước cho kiều bào. Bài ca có đoạn:

            Diên Hồng thề trước thánh minh

            Lòng dân đã quyết hy sinh rành rành

            Nếu ai muốn đến giành đất Việt,

            Đưa dân ta ra giết sạch trơn,

  Một người dân Việt hãy đương còn,

            Thì non sông Việt vẫn non sông nhà.

Người còn viết nhiều vở kịch thường lấy đề tài lịch sử, bày cho bà con cách diễn kịch và đôi khi cũng tham gia diễn.

Một thời gian dài Nguyễn Ái Quốc ở ngay tại hiệu thuốc của Đặng Văn Cáp và đã tranh thủ học nghề thuốc, nắm được những hiểu biết cơ bản về thuốc và chữa bệnh. Có lần đã bốc thuốc cho một cán bộ bị ốm và người này đã khỏi bệnh. Người còn tìm ra cây hy thiêm mọc trong vùng, chữa được chứng bệnh phong thấp.

Thỉnh thoảng, Người cùng với một số cán bộ, cũng khăn gói tay đẫy đi buôn để gây quỹ cho tổ chức.

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –   Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 6

Vở kịch lịch sử do Nguyễn Ái Quốc viết về Hoàng Hoa Thám và hai vở kịch đả kích những tên bán nước Lê Hoan, Hoàng Cao Khải, được Việt kiều ở Sacôn trình diễn nhân dịp kỷ niệm ngày Phạm Hồng Thái hy sinh (19-6).

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Khoảng cuối tháng 7 đến cuối tháng 10

Rời tỉnh Sacôn Nakhôn, Nguyễn Ái Quốc đến tỉnh Nakhôn Phanom nằm kề sát bờ sông Mê Kông cách Thủ đô Băng Cốc 735km theo đường ôtô.

Tại tỉnh Nakhôn Phanom, Nguyễn Ái Quốc đã đi tuyên truyền vận động Việt kiều ở trung tâm huyện Thà U Then, trung tâm huyện Thạt Phanom và ở thị xã Nakhôn Phanom. Nơi hoạt động lâu nhất trong thời gian Người ở Nakhôn Phanom là làng Bản Mạy, còn có tên gọi là Nà Thoọc. Người đã xây dựng phong trào Việt kiều ở Bản Mạy trở thành một trong những địa điểm quan trọng của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Sau một thời gian ở Nakhôn Phanom, Nguyễn Ái Quốc đến huyện Amnạt Charơn, còn có tên gọi là Bùng, huyện Bùng, tỉnh Ubon Ratchathani (từ năm 1993, được nâng lên cấp tỉnh gọi là tỉnh Amnạt Charơn).

Tại tỉnh Amnạt Charơn, Người hoạt động chủ yếu ở huyện Bùng.

Rời Amnạt Charơn, Nguyễn Ái Quốc đến tỉnh Ubon Ratchathani, phía đông giáp sông Mê Kông, phía nam giáp Campuchia, cách Thủ đô Băng Cốc 575km theo đường xe lửa. Người hoạt động chủ yếu ở Bản Thà thuộc tỉnh Ubon Ratchathani. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác một bài thơ, giao cho đồng chí Nguyễn Tài ghi lại, sau đó đăng báo Thân ái:

            Hợp tác nề có anh thợ Vượng

            Tay nghề hay tính bướng cũng hay

            Những khi đi họp hàng ngày,

            Khi thì nói đổng, khi thì đòi ra.

            Chị khuyên bảo thiết tha khuyên bảo,

            Không nghe, coi táo bạo hung hăng.

            Rằng em chỉ muốn anh bằng người ta.

            Chị kiên nhẫn bẩy ba kiên nhẫn

            Làm cho anh đổi giận sang hiền

            Anh nghe lời vợ anh khuyên,

            Hội giao công việc anh chuyên cần làm

            Làm đúng đắn không ham lợi vặt,

            Nói như làm thẳng thắn phân minh.

            Một người trước bướng nay lành,

            Cả Hội hợp tác khen anh vô cùng.

            Tiếng chị Vượng khuyên chồng kết quả.

            Chị em đều hỉ hả mừng vui.

            Đăng lên mặt báo để rồi,

            Để rồi học tập, để rồi làm gương.

Nguyễn Ái Quốc còn đến tìm hiểu phong trào của Việt kiều ở thị xã Phi Mun, thuộc tỉnh Amnạt Charơn.

Tiếp đó Nguyễn Ái Quốc đến Mục Đa Hản, là một huyện của Nakhôn Phanom (từ năm 1982 được nâng lên thành tỉnh Mục Đa Hản) giao cho cán bộ tổ chức cơ sở xây dựng một địa điểm liên lạc và chuyển tài liệu báo chí về nước.

Từ Mục Đa Hản, Nguyễn Ái Quốc có ý định đi xuyên qua đất Lào để tiếp cận với phong trào trong nước nhưng không thực hiện được. Trong báo cáo ngày 18-2-1930, gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc có nhắc lại việc này: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam Quốc dân Đảng”.

Địa điểm cuối cùng trên đất Thái Lan mà Nguyễn Ái Quốc đã đặt chân đến là tỉnh Noọng Khai, nằm sát bờ sông Mê Kông đối diện với Thủ đô Viêng Chăn của nước Lào, cách Thủ đô Băng Cốc 616km. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc thường ở và làm việc tại chùa Xỉ Xum Xưn. Đây là nơi Nguyễn Ái Quốc hẹn các đồng chí đang sinh hoạt trong chi bộ Viêng Chăn, vượt sông Mê Kông sang làm việc.

            –  Theo đề tài nghiên cứu khoa học của Bảo tàng Hồ Chí Minh: Nghiên cứu các di tích Bác Hồ ở Thái Lan.

Tháng 10, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc bị Tòa án Vinh (Nghệ An) xử vắng mặt và đã bị khép vào tội tử hình.

            –  Biên bản danh sách kết án của Tòa án Vinh, ngày 10-10-1929. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 11

Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đi Trung Quốc.

Trong thời gian hoạt động ở Xiêm, Nguyễn Ái Quốc đã làm rất nhiều cho công tác giáo dục, tuyên truyền và tổ chức, tạo nên một sự thay đổi lớn trong phong trào Việt kiều ở đây. Nếu trước kia, khi ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc từ phương bắc tuyên truyền về nước, thì giờ đây, ở Xiêm, Người đã tuyên truyền về nước từ phía tây.

Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, dù đã hết sức cẩn thận vẫn không thể hoàn toàn giữ kín được. Thực dân Pháp sinh nghi, tung mật thám dò tìm. Người bị theo dõi ráo riết. Gặp khi nguy hiểm quá, Người thậm chí đã phải lánh vào chùa, tạm cắt tóc đi tu để tiếp tục hoạt động.

Nói về việc Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm lần này, Trần Dân Tiên trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch đã viết:

“Ông 1) biết rõ tình hình trong nước. Hai việc quan trọng làm cho ông từ giã nhà chùa và nước Xiêm. Việc thứ nhất là cuộc bạo động của Quốc dân Đảng đang chuẩn bị. Nhận xét cuộc bạo động đấy quá sớm và khó thành công, ông muốn bàn lại kế hoạch với anh em Quốc dân Đảng… Việc thứ hai: vừa mới đây “Tân Việt” và “Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí” lại chia ra hai nhóm. Mỗi nhóm tổ chức thành một Đảng Cộng sản. Như thế, lúc bấy giờ ở Việt Nam có ba Đảng Cộng sản. Mặc dầu sự khủng bố của Pháp, “Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí” phát triển rất nhanh chóng. Nhưng sự chia rẽ đã làm cho những người yêu nước lo lắng. Vì chia rẽ thì suy yếu”.

            –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 76, 78, 79.

Tháng 12, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc đến Trung Quốc chuẩn bị cho Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam.

            –  Báo cáo ngày 18-2-1930 của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh. 

______________________________

1) Chỉ Nguyễn Ái Quốc (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Bác Hồ sáng lập Báo Việt Nam Độc Lập

Sau ba tháng về nước, tại đầu nguồn Khuổi Nậm, Pắc Bó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) Bác đã triệu tập và chủ trì hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (họp từ ngày 10-19.5.1941). Tại hội nghị quan trọng này, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã thảo luận, quyết định đường lối, sách lược Cách mạng Giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận “Việt Nam độc lập Đồng minh hội”, gọi tắt là “Mặt trận Việt Minh” nhằm tập hợp thống nhất lực lượng cách mạng các dân tộc ở Đông Dương vì mục đích đánh đuổi Nhật, Pháp, giành nền độc lập vĩnh viễn cho Tổ quốc.

Sau hội nghị trung ương 8, Bác chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, lập căn cứ địa Cách mạng, chuẩn bị mở rộng khu giải phóng dọc biên giới, tạo hành lang thuận lợi, tranh thủ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản, nhân dân và quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, làm hậu thuận vững chắc cho cách mạng giải phóng dân tộc và kháng chiến chống Pháp sau này.

Một trong những họa bản của Báo Việt Nam độc lập ngày 25. 3.1945

Nhận thấy cần có công cụ và phương tiện tuyên truyền chủ trương, đường lối và sách lược cách mạng của Mặt trận Việt Minh trước mắt trong khu Cao-Bắc-Lạng mà lực lượng là nhân dân các dân tộc thiểu số, Bác Hồ đã sáng lập ra tờ báo Việt Nam Độc Lập với danh nghĩa ban đầu thuộc tổ chức Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Cách hội nghị trung ương lần thứ 8 không đầy 3 tháng, đúng ngày 1.8.1941, tờ báo Việt Nam Độc Lập được đánh số xuất bản 101 ra mắt bạn đọc. Sau này phong trào cách mạng phát triển, căn cứ địa mở rộng, Báo Việt Nam Độc Lập trở thành cơ quan tuyên truyền, cổ động, tranh đấu của Liên tỉnh Việt Minh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn. Suốt từ khi thành lập tới lúc chuẩn bị nội dung tuyên truyền chủ trương, chính sách, tổ chức lực lượng chính trị, vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân năm 1945, Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo viết bài cho Báo Việt Nam Độc Lập.

Giống như thời kỳ làm Báo Le Paria (Người Cùng Khổ) ở Paris năm 1922, làm Báo Thanh Niên năm 1925 ở Quảng Châu, Tạp chí Đỏ tại Hương Cảng năm 1930; để ra được Báo Việt Nam Độc Lập năm 1941, ở Pắc Bó, Bác Hồ lại tự mình viết tin, bài, tổ chức trình bày, tạo công cụ in ấn rồi phát hành, cổ động quần chúng đọc báo, làm theo báo và vận động bạn đọc quyên góp tài chính ủng hộ báo.

Vốn có nhiều kinh nghiệm làm báo bí mật ở nước ngoài, trước khi ra Báo Việt Nam Độc Lập, Bác Hồ đã tìm hiểu trình độ văn hóa, trình độ nhận thức của bạn đọc vùng dân tộc thiểu số nhiều năm bị chế độ thực dân Pháp, hệ thống quan lang kìm kẹp, áp bức, thực hiện chính sách ngu dân, chia rẽ dân tộc, lâu nay họ chưa được giác ngộ cách mạng. Nhận thấy mặt bằng dân trí còn thấp, các vùng đồng bào thiểu số có đoàn thể cứu quốc chưa nhiều, địa hình lại chia cắt nên Bác quyết định khổ báo 20cm x 30cm để dễ dàng in ấn, lưu hành, bảo quản, phổ biến. Mỗi số chỉ in hai trang, mỗi trang đăng từ hai đến ba tin bài, bài dài nhất không quá ba trăm chữ. Bài, tin phải gọn, thông tin những vấn đề cần thiết mà người dân quan tâm, cách viết giản dị, súc tích, gần gũi với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Bác Hồ phải viết thế nào để cho người không được học nhiều và cả người không biết chữ khi được nghe cũng hiểu, hiểu rồi là dễ làm theo. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tham gia viết bài cho Báo Việt Nam Độc Lập cũng đã có lần được Bác Hồ chỉ bảo cách viết một bài báo sao cho chính người cần vụ của mình đọc cũng hiểu.

Để có khuôn in Báo Việt Nam Độc Lập, Bác phải cùng các cán bộ địa phương lặn lội tìm kiếm trong rừng những phiến đá mềm, thớ đá mịn rồi đem về mài nhiều ngày đến lúc mặt đá phẳng lỳ, sờ tay vào cảm thấy mát lạnh thế là tạo được một khuôn in báo. Nếu in một lúc nhiều trang báo thì phải cần thêm số khuôn tương ứng số trang báo. Sau này, trong điều kiện kháng chiến chống Pháp khó khăn, nhiều địa phương, cơ quan in báo, in khẩu hiệu, truyền đơn, công văn đã học theo cách in Báo Việt Nam Độc lập, lâu dần người ta gọi là cách in ly tô. Khởi đầu cách in là họa sĩ trình bày ma két báo lên mặt đá. Bài, tin trang nào được trình bày gọn trang ấy, không chuyển tiếp trang sau. Họa sĩ thể hiện ma két theo nguyên tắc sao nguyên văn nội dung in, bài, tranh vẽ đã được duyệt vào từng cột, từng dòng. Tùy mức độ quan trọng khác nhau của tin, bài mà dùng ngòi bút sắt, mực keo viết chữ to, nhỏ, đậm, nhạt lên mặt đá. Lúc in báo hoặc tài liệu, giấy được đặt lên khuôn, người thợ dùng ru lô đã tẩm mực đẩy đi, đẩy lại nhiều lần sao cho chữ nổi lên đều trên mặt giấy là đạt yêu cầu. Vì phải in hai mặt nên trang một xong theo số bản quy định phải chờ mực khô mới in tiếp trang hai. Cách in thủ công này đòi hỏi tính kiên trì, nhẫn nại của người thợ, bởi mỗi lượt in, mặt chữ mòn dần, cạn nét, nếu muốn chữ rõ hơn, không còn cách nào khác là rửa khuôn liên tục, dùng bút sắt khơi sâu từng nét chữ trên mặt đá. Để ra được nội dung số báo sau, phiến đá khuôn in phải mài phẳng, xóa đi những dòng chữ đã khắc được viết tỉ mỉ, công phu từ số báo trước.

nguoi thap lua dau nguon cach mangBáo Việt Nam Độc Lập số ra ngày 1.1.1942

Trong hoàn cảnh “cháo bẹ, rau măng”, ăn ngủ làm việc trong hang đá thiếu thốn trăm bề lại phải thường xuyên di chuyển tránh sự theo dõi, truy tìm của bọn quan lang, tay sai, mật thám Pháp, Bác Hồ và những cán bộ giúp việc vẫn bảo đảm mỗi tháng ra ba kỳ báo, mỗi kỳ hai trang báo. Từ tháng 8.1941 đến khi Bác đi Trung Quốc (tháng 8.1942), Bác trực tiếp tổ chức xuất bản tại Khuổi Nậm, Pắc Bó được trên 30 kỳ Báo Việt Nam Độc Lập với 400 bản in từ khuôn đá. Tờ báo ra đời đầu nguồn Khuổi Nậm đã phản ánh rất phong phú, cụ thể phong trào cách mạng còn trứng nước ở căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái, góp phần khơi dậy, thổi bùng ngọn lửa cách mạng vốn âm ỉ cháy suốt mấy chục năm ở Việt Bắc. Dưới sự chỉ đạo và trực tiếp viết bài, tổ chức phát hành của Bác Hồ, tờ báo đã thông tin thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Đội cứu quốc quân, nêu gương đồng bào các dân tộc Việt Bắc ủng hộ cách mạng, cách tổ chức đoàn thể Việt Minh, bài học tăng gia sản xuất, xóa mù chữ, cách xây dựng khu căn cứ, chiến khu, cách vận động binh lính người dân tộc mang súng trở về với nhân dân, với cách mạng. Những bài thơ và diễn ca nổi tiếng của Bác dưới chuyên mục Vườn văn, Hòn đá to, hòn đá nặng, Khuyên bạn thanh niên, Dân cày, Tặng cho đội tự vệ phụ nữ, Con cáo và tổ ong, Ca Việt Minh, Ca tự vệ đội, Ca người lính, Ca du kích, Ca phụ nữ, Ca sợi chỉ… đều được in trên Báo Việt Nam Độc Lập trong thời kỳ chuẩn bị lực lượng giành chính quyền về tay nhân dân. Sau ngày Bác Hồ rời Cao Bằng đi Trung Quốc, Báo Việt Nam Độc Lập được giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách, tiếp tục xuất bản cho tới ngày Cách mạng tháng Tám thành công với 141 kỳ. Sau ngày giành chính quyền thắng lợi, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, Báo Việt Nam Độc Lập được chuyển giao cho Tổng bộ Việt Minh – Cao Bằng – Bắc Cạn – Lạng Sơn chỉ đạo nội dung xuất bản. Tờ báo do Bác Hồ sáng lập từ 1941 đã làm trọn vai trò, chức năng tuyên truyền “kháng chiến kiến quốc” trong suốt những năm cả nước dồn sức người, sức của đánh thắng thực dân Pháp.

VĂN HIỀN

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Học Bác cách viết báo

Trong thư gửi trí thức Nam Bộ ngày 25.5.1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”.

Học tập theo gương Bác

Tháng 9.1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”; “Làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, nội dung, cách viết”; “Viết để làm gì? Viết để cho ai xem? Viết như thế nào?”.

Trong nhiều dịp, Người còn khơi gợi về cách viết, thế nào là viết ngắn, viết dài, viết cho thiết thực để người khác có thể làm theo được.

Học tập cách viết của Bác, có lẽ phải học từ gốc, tức là xây dựng mình thành một “chiến sĩ”, phải hiểu vũ khí, chiến trường, đồng đội và kẻ thù của mình, mới có thể “phò chính, trừ tà”.

Lời – vũ khí của nhà báo

Vũ khí của nhà báo là cây bút, là ngôn ngữ, là Lời.

Cha ông ta nói: Bút sa gà chết, Nói phải củ cải cũng nghe, Lời nói đọi máu, Một lời nên nghĩa. Lại cũng nói: Nén bạc đâm toạc tờ giấy. Trong các thứ vạ, vạ miệng là một thứ ơ hờ nhất mà cũng nặng nề nhất. Trong lịch sử, có những nghi án văn chương dẫn đến tru di ba họ. Ngày xưa, thù nhau người ta vứt vào nhà vài dòng chữ hay một bài thơ có tính chất phạm thượng đối với vua, phỉ báng triều đình thì cũng giống và còn nguy hiểm hơn ngày nay vứt cả bọc ma túy vào nhà…

Bọn tham quan, gian thần thường ton hót để hại chết các trung thần, cất nhắc phường vô lại. Một lời có thể là thang mây, có thể là mồi lửa làm tan tành tất cả… Và thường, người ta chỉ nghe lời để phán xét, quyết định mà không mấy khi kiểm chứng.

Giá trị của lời hệ trọng đến như vậy, nên trước khi học cách viết hay, phải học cách thận trọng, thận trọng từ khai thác nguồn tin, đến thái độ phán quyết. Một lời trót đã nói ra/ Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo. Viết một bài báo sai sự thật, ảnh hưởng sinh mệnh con người, dù sau này có cải chính, vẫn gây ra những hậu quả khôn lường. Nhiều bài báo “phanh phui” kèm bình luận ác ý, đã làm đối tượng hoặc người thân của họ tự vẫn…

Lại có một chiều hướng khác: Đó là sự khen lấy, khen để những người có chức quyền; bất chấp sự rối rắm ở lĩnh vực họ phụ trách, bất chấp bất bình chính đáng của nhân dân. Thực tế cho thấy, báo chí đồng loạt khen một số người như thánh, chỉ một thời gian ngắn đã thấy họ là những kẻ tầm thường. Những nhà báo, những tờ báo như vậy, có thể được xem xét về đạo đức, lương tâm, chí ít cũng là trình độ nghề nghiệp.

Trong một bài ca vận động binh lính ngụy về theo nhân dân của Bác Hồ có câu: Hai tay cầm khẩu súng dài, Ngắm đi ngắm lại bắn ai thế này?

Nhà báo thời nay cầm vũ khí sắc bén của mình, nên hướng vào đâu để thực hiện được sự phò chính trừ tà? Đương nhiên, phải biết cái chính, cái tà là gì.

Chữ Tâm hay là vị thế của nhà báo

Chính – tà trước hết soi từ mình.

Trước hết phải thấy mình là ai, mình ham muốn gì. Nhân nói về ham muốn, tôi nhớ tới cách dùng từ của Bác. Khi nói đến điều lớn lao nhất, Bác cũng dùng từ “ham muốn”, “cần” chứ không dùng từ “lý tưởng”. Dùng từ ham muốn, cần, nó gần gũi, dễ tin, thể hiện chi phối cuộc sống hàng ngày.

Bác Hồ khi còn thanh niên ở Paris, đã trả lời sự mua chuộc của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp rằng: “Cái mà tôi cần nhất trên đời này là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

Năm 1946, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo, Bác khẳng định: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào… Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Có lẽ học tập tư tưởng, đạo đức và cách trở thành người chiến sĩ trên mặt trận báo chí, gốc là ở đây. Phải có tấm lòng và ham muốn vì dân vì nước; chứ không vì một chức danh, một sự nổi tiếng, hay vì bổng lộc nào đó mà cầm bút xông xáo phò tà.

Cách đây nửa thế kỷ, nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp

Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn…

Hạnh phúc của người trí thức, của một nhà báo chân chính, không thể chỉ đựng trong một tà áo đẹp, một mái nhà bình lặng và sung túc của riêng mình!

Học và làm theo những điều Bác dạy về báo chí, không học cắt khúc, máy móc

Văn Bác Hồ rất phong phú, đạt đến trình độ cao của nghệ thuật, giản dị tột cùng và sâu sắc tột cùng. Rất nhiều tác phẩm giàu hình ảnh. Chẳng hạn một đoạn trong Lời than vãn của bà Trưng Trắc: “Đêm tối quằn quại dưới làn mưa nhỏ hạt dầm dề. Mảnh trăng vàng vọt cố bíu trên những mái lều tranh. Cây đẫm ướt đầm đìa nước mắt tuôn rơi… Gió thổi qua những cụm lá mệt mỏi, va nhau thành tiếng kinh rợn. Cành cây vặn vẹo như những cánh tay ma quái, và những đám nước bị từng cơn gió đột ngột quất, cứ nức nở. Cảnh vật nước Nam lồng trong cây cỏ um tùm, vốn tươi vui và thơ mộng thế dưới ánh trăng, nay buồn thảm lạ lùng. Cơn hấp hối đang chơi vơi khắp nơi. Tai ương lảng vảng đâu đây…”.

Bác thường khuyên chúng ta học tập tinh hoa, lời ăn tiếng nói của nhân dân. Ngày 17.8.1952, Bác khuyên: “Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều”. Thời đó, trình độ văn hóa của công-nông-binh còn hạn chế, nên lời khuyên ấy là thiết thực. Ngày nay, tiếp thu tinh thần của Bác, cần viết rõ ràng nhưng không phải là đơn giản, và phải viết đúng trình độ của người xem. Mà viết đúng trình độ người xem bây giờ là một đòi hỏi rất cao, vì trình độ người xem, đôi khi, lại còn cao hơn trình độ người làm báo.

Viết, nói cho gọn, rõ, có tính thuyết phục là phải sâu sắc.

Tôi nhớ hồi làm phóng viên thường trú ở Nghệ Tĩnh, có gặp một đồng chí lão thành cách mạng, người trực tiếp đi kêu oan với Bác Hồ về cải cách ruộng đất. Đoàn Nghệ An sùng sục lắm, chắc mẩm chuyến này phải làm cho ra nhẽ, phải đòi Bác “truất” cho được mấy anh quy kết, xử tù, xử bắn bừa bãi. Nộ khí xung thiên. Bác bắt chờ hai ngày ở nhà khách Nguyễn Du. Càng ức. Đến buổi sáng hẹn gặp, Bác chủ tâm đến trễ vài phút. Khi Bác xuất hiện, anh nào cũng nhấp nhổm muốn tố ngay. Bác từ tốn rót nước chè xanh xứ Nghệ mời các đồng chí đó uống. Làm như tình cờ, Bác khẽ chạm tay làm đổ một cốc nước chè xanh. Cái sự kiện đột ngột ấy khiến ai cũng tập trung chú ý, ai cũng lo nước đổ ướt quần áo của Bác, ai cũng nhớn nhác tìm khăn lau bàn. Bác xua tay nói: “Bác làm đổ thì Bác phải lau. Cốc nước đổ rồi không thể lấy lại, Bác rót cốc mới…”. Cứ thế, Bác chủ động vào chuyện. Từ chuyện cốc nước sang chuyện đời… Mọi ấm ức được giải tỏa nhẹ nhàng. Các đồng chí đó có thêm bài học sâu sắc, nhớ đời để ứng xử trong cuộc sống.

Để khẳng định dân là gốc, nhân dân là lực lượng quyết định sự thành bại của cách mạng, sáng tạo ra mọi giá trị của lịch sử, Bác nói rất đơn giản:

Gốc có vững, dân mới bền

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân

Tư tưởng ấy xuất phát từ tư tưởng nhà nho mà Mạnh Tử đã viết: “Dân vi bản, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.

Gốc có vững, cây mới bền cũng là câu mở đầu trong tất cả các gia phả của dòng họ Việt Nam (Mộc hữu bản, thủy hữu nguyên…), bởi thế, nhân dân ta tiếp thu rất nhanh, nghe rất dễ, làm rất thoải mái tự nhiên.

Đặc biệt, có thể học Bác nhiều ở cách lập luận, ở cách nói khẳng định một cách rõ ràng, không mập mờ, ví như: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi hoàn toàn”; “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Có một ví dụ tiêu biểu về vấn đề này.

Đó là Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hộ họa năm 1951. Bác viết: “Chắc có người nghĩ Cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị. Đúng lắm, văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Mềm mại mà không bỏ lập trường, không bỏ nguyên tắc, chính là con người và cách viết của Bác.

Ngày 9.5.1965, Bác viết bài Hai ngày kỷ niệm vẻ vang đăng trên Báo Nhân Dân, Bác vào thẳng vấn đề luôn: “Mồng 7 tháng 5, kỷ niệm đại thắng Điện Biên Phủ của nhân dân ta, mùng 9 tháng 5, kỷ niệm đại thắng của Liên Xô”. Thế mà cho đến nay nhiều báo vẫn viết: “Hòa trong không khí…” là rất sáo.

Bác còn bày cho ta một “mẹo” để làm báo cho hẳn hoi: “Báo chí cũng phải hợp lý hóa. Đừng bày biện ra nhiều thứ. Làm ít nhưng làm cho hẳn hoi. Không hợp lý hóa lại như thế, rút cuộc báo viết ra không ai muốn đọc mà lại tốn kém trăm thứ” (tháng 5.1950).

Học tập Bác, còn là học tập cách giữ gìn trong sáng tiếng Việt. Điều này nhiều người nói, nhưng chưa hẳn đã biết cách làm. Thí dụ, báo tiếng Việt nhưng lại dùng quá nhiều từ nước ngoài, hoặc có xu thế ngược lại là không dám dùng từ nước ngoài nào, cứ phiên âm tất tật thành tiếng Việt dẫn đến sai lệch và rất khó tra cứu nguồn gốc. Nhân dân ta dùng tiếng ta và từ Việt gốc Hán thoải mái như hàng nghìn, hàng vạn, hàng ngày, hàng tháng trong khi có báo tránh từ Hán – Việt, không dùng từ “vạn” mà dùng “mười nghìn” đến nỗi có anh thư ký tòa soạn nhất nhất phải sửa “Cần cẩu vạn năng” thành “Cần cẩu 10 nghìn năng” và cứ dùng “hằng ngày”, “hằng tháng” rất khó đọc, chẳng chính xác gì hơn “hàng ngày”, “hàng tháng”…

Đây lại là cả một “rừng” chuyện cần nói, chắc mỗi nhà báo chúng ta có thể đóng góp nhiều cho tạp chí nghề của Hội…

Nguyễn Hoàng Nhật

Nguồn: nguoilambao.vn
Vkyno (st)