Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Bác Hồ, người sáng tạo phong tục mới trong Tết cổ truyền

Người là niềm tin tất thắngBác Hồ kính yêu, nhà văn hóa lớn, bôn ba năm châu bốn biển, hiểu biết nhiều nền văn minh nhân loại. Bác càng yêu mến truyền thống văn hóa dân tộc hơn. Nghĩ tới Bác, chúng ta vẫn nuôi dưỡng hình ảnh một ông già văn hóa Việt Nam chất phác và thông thái.

Với Tết Nguyên Đán, không những Bác tôn trọng truyền thống mà còn sáng tạo phong tục và truyền thống mới, làm cho hương sắc ngày xuân Việt Nam thêm tươi sáng và tràn đầy sinh lực hơn.

Vào giờ phút thiêng liêng nhất của Tết: Giao thừa, Bác đã chúc Tết đồng bào, đồng thời đọc thơ chào mừng năm mới. Lời thơ của Bác cùng với tình cảm Bác gửi trong thơ luôn luôn làm cho mọi người Việt Nam yên tâm, phấn khởi bước vào năm mới với tinh thần lao động và chiến đấu mới.

“Ông cụ trồng cây”, đó là danh hiệu đầy lòng kính mến, nhà thơ Xuân Diệu gọi Bác Hồ, khi Bác khởi xướng tục trồng cây ngày Tết bắt đầu năm 1959. Mỹ tục này là một sáng tạo tưởng như bình thường, nhưng hiệu quả rất to lớn do tính chất thực tiễn của hành động và do từ lãnh tụ được nhân dân kính mến đề ra. Hành động này rất phù hợp với truyền thống gieo trồng ngày xuân của nhân dân ta nên rất nhanh chóng được hưởng ứng rộng rãi và ngày nay thực sự đã trở thành một phong trào, một nếp sống mới mỗi lần xuân tới.

Cuối năm 1959 nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng trồng cây do Người phát động từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 6 tháng 2 năm 1960. Đợt trồng cây này gọi là “Tết trồng cây”, mỗi người trồng ít nhất một cây và chăm bón cho tốt. Hồ Chủ tịch khuyên nhân dân ta nên duy trì bền bỉ Tết trồng cây vào đầu xuân hàng năm. Người lại ân cần nhắc nhở động viên nhân dân ta thực hiện tốt Tết trồng cây. Người đã xuống các địa phương tham gia nhiều Tết trồng cây để cổ vũ nhân dân ta. Người dạy rằng:

Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.

Hưởng ứng chủ trương sáng suốt của Bác Hồ, Tết trồng cây từ đó đến nay trở thành một tập quán tốt đẹp của nhân dân ta, mang lại nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế và quốc phòng, góp phần làm giàu đẹp cho Tổ quốc.

CTTGTĐT – Sưu tầm
bqllang.gov.vn

Vui Tết giữa rừng Việt Bắc

Ngày 5-2-1951, tức là ngày 29 Tết. Ngày mai, là ngày mồng một Tết Tân Mão, Hội đồng Chính phủ vẫn họp phiên họp đầu năm.

Ngày 29 Tết, Bác Hồ đã đến địa điểm họp gặp gỡ của các đại biểu trong Hội đồng Chính phủ. Tối hôm ấy, Bác chủ tọa buổi gặp cuối năm với các đồng chí trong Hội đồng Chính phủ. Một bữa tiệc nhỏ có cả những thức ăn của ngày Tết và có cả rượu chiến lợi phẩm của quân đội từ mặt trận gửi về. Không khí ngày Tết giữa rừng Việt Bắc hôm ấy tuy còn khó khăn, thiếu thốn, nhưng thật vui vẻ.

Bữa cơm của Bác Hồ và các chiến sỹ ở Tân Trào
trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp

Sau bữa ăn, Bác Hồ cùng các thành viên Hội đồng Chính phủ quây quần quanh đống lửa ấm áp, kể chuyện vui ngày Tết.

Sáng hôm sau, ngày mồng một Tết Tân Mão, Bác Hồ dậy sớm và đi đến tận các phòng nghỉ của các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng để bắt tay và chúc Tết từng người. Mọi người hết sức vui mừng, phấn khởi khi thấy Bác đến và được bắt tay Bác trong buổi sáng sớm đầu năm. Một vài đồng chí ngủ dậy muộn khi Bác đến chỉ kịp nhảy xuống giường giơ tay ra nắm lấy tay Bác cười vui vẻ, không kịp nói gì.

Ăn sáng xong, Bác cùng các đồng chí trong Hội đồng Chính phủ đi họp.

Mở đầu một đại biểu Quốc hội thay mặt Chính phủ chúc mừng Bác và Quốc hội nhân dịp năm mới. Đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân đội đọc lời chúc mừng và hứa nỗ lực hơn nữa để năm mới giành nhiều thắng lợi mới to lớn trên chiến trường.

Sau đó, Bác Hồ đứng đậy, cảm ơn và chúc Tết mọi người. Bác gửi tặng mỗi đại biểu một quả cam và dặn mang về làm quà cho gia đình. Bác còn đưa một số vải lụa gửi tặng các đại biểu có con nhỏ dưới 5 tuổi để về làm quà cho các cháu.

Buổi tối ngày mồng một Tết năm ấy, Bác Hồ và các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng trong Hội đồng Chính phủ cũng vui lửa trại. Trong đêm vui lửa trại đầu năm, có nhiều bài thơ, câu đối của các đại biểu tự sáng tác và đọc lên để chúc mừng Bác.

Bác Hồ bảo mỗi người phải tự nghĩ ra một trò chơi hoặc một bài thơ, một câu chuyện, một bài hát hay điệu múa cho cuộc vui. Thế là lần lượt bắt đầu từ Bác đến các đồng chí trong Hội đồng Chính phủ đều đứng lên đóng góp tiết mục của mình cho đêm lửa trại đầu năm.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
bqllang.gov.vn

Năm mới đọc thơ Bác Hồ năm 1946

Bác Hồ chúc Tết71 năm trước, năm Bính Tuất – 1946 toàn dân tộc ta hồ hởi, phấn khởi, vui mừng đón Tết độc lập đầu tiên sau bao nhiêu năm đất nước chìm đắm trong đêm trường nô lệ.

Tết Bính Tuất – 1946 là một Tết đặc biệt và có một sự kiện rất đặc biệt là, Bác Hồ người đứng đầu đất nước có đến ba bài thơ chúc Tết mừng xuân đồng bào và chiến sĩ. Chúc Tết Bính Tuất – 1946Mừng báo Quốc giaGửi chị em phụ nữ xuân Bính Tuất cùng bốn bức thư: Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp đầu năm mớithư chúc Tết Việt kiều ở Lào, XiêmThư gửi thanh niên và nhi đồng nhân dịp Tết Bính Tuất và một bài báo có tên là Tết.

Chưa có năm nào, kể cả sau này, Bác có thơ và thư chúc Tết nhiều như Tết độc lập Bính Tuất -1946. Đồng bào và chiến sĩ cả nước xúc động đón nhận và lắng nghe thư và thơ chúc Tết của Bác. Lời chúc đầu năm mới của Bác là lời chúc Tết tốt đẹp nhất, muôn sự tốt lành, muôn việc đều tiến tới. Song, Bác nhấn mạnh đến hai nhiệm vụ chiến lược cấp bách trước mắt và lâu dài của dân tộc là: Kiến quốc và kháng chiến. Đất nước được độc lập, tự do về với nhân dân còn có niềm vui nào hơn.

Niềm vui ấy lại được nhân đôi khi lần đầu tiên toàn dân được đón Tết độc lập, tự do. Trong một bài thơ chúc mừng một tờ báo đăng trong số Tết, Bác khẳng định:

Tết này mới thực Tết dân ta,
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia.
Độc lập đầy vơi ba chén rượu,
Tự do vàng đỏ một rừng hoa,
Mọi nhà vui đón Xuân dân chủ,
Cả nước hoan nghênh phúc Cộng hoà.

(Mừng báo Quốc Gia)

Thực Tết dân ta là gì? Bác gói gọn trong mấy chữ chào mừng – mấy từ giản dị, chân lý: Độc lập, Tự do, Dân chủ, Cộng hoà. Mấy từ này trước đây gần một thế kỷ và chỉ cách đây mấy tháng thôi còn là mơ ước, là mong muốn vậy mà giờ đã nắm chắc trong tay; trước đây quằn quại trong câu chữ của thơ văn yêu nước, nhất là thơ văn Đông Kinh Nghĩa Thục thì giờ đây thoái mái, mạnh mẽ và vững chắc trong thơ Bác. Mấy chữ chào mừng của Bác thực sự là nội dung Tết độc lập đầu tiên. Thực Tết dân ta là nội dung đời sống chính trị – xã hội của đất nước ta. Vì vậy mà lời chào mừng, lời chúc Tết của Bác chứa đựng sự hồ hởi, niềm hân hoan, sung sướng của cả dân tộc và của Bác mà thành thơ. Thơ chân thật, nôm na, vừa ý vị, vừa mạnh mẽ. Thơ của chân lý. Mọi nhà vui, cả nước hoan nghênh là vậy. Mọi người dân yêu nước vâng theo lời Bác, hơn lúc nào hết bắt tay ngay vào việc kiến quốc. Nhưng xây dựng lại đất nước bắt đầu từ đâu và như thế nào thì phải dựa trên cơ sở bối cảnh thực tại, Bác đã chỉ ra và nói rõ việc làm tất yếu đầu tiên phải xây dựng một đời sống mới làm nền tảng.

Năm mới Bính Tuất
Phụ nữ, đồng bào
Phải gắng làm sao…
Gây “Đời sống mới”
                        (Gửi chị em phụ nữ xuân Bính Tuất)

Muốn xây dựng đời sống mới phải có con người mới, phải phấn đấu trở nên những công dân mới mà theo Bác phẩm chất đạo đức đầu tiên của con người mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Trong thơ và thư, Bác giải thích rõ ràng, cụ thể, cặn kẽ và dễ hiểu nhất thế nào là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Bác yêu cầu mọi người tu dưỡng rèn luyện để có những phẩm chất tốt đẹp này.

Cần, Kiệm, Liệm, Chính
Canh giữ được vẹn mười
Tức là những người
Sống “Đời sống mới”

Thơ Bác chúc Tết phụ nữ nhưng cũng là cho mọi người, cho đồng bào, đồng chí. Phụ nữ, đồng bào cả nước đã phấn đấu làm theo lời Bác chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và kiến thiết đất nước, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Khẩu hiệu vừa sản xuất vừa chiến đấu mà bác và Đảng đề ra được quán triệt và trở thành hành động, là việc làm hàng ngày trong suốt cả quá trình kháng chiến và xây dựng đất nước. Ngay từ năm Bính Tuất 1946 đồng bào và chiến sĩ ta vui mừng đón Tết nhưng không quên những chiến sĩ đang chiến đấu ở ngoài mặt trận. Thấu hiểu nỗi lòng chiến sĩ và đồng bào, trong thư chúc Tết, Bác kêu gọi, chia sẻ, động viên: Hỡi các chiến sĩ yêu quý, Trong khi đồng bào đốt hương trầm để thờ phụng tiền nhân thì các bạn đốt thuốc súng để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào đốt pháo mừng xuân thì các bạn nổ súng chống địch. Các bạn hăng hái chống địch để cho đồng bào được an toàn mừng xuân. Vậy nên đồng bào quyết không bao giờ quên công lao các bạn. Trong ba ngày Tết, đồng bào ai cũng đoàn tụ sum vầy chung quanh những bình hoa, mâm bánh. Còn các bạn thì chịu ăn gió nằm mưa lạnh lùng chốn sa trường. Song hình dung các bạn thì ấm áp trong lòng thân ái của mỗi một quốc dân. Tôi thay mặt Chính phủ và toàn quốc đồng bào chúc các bạn năm mới mạnh khoẻ và thắng lợi. Bác còn có thơ, những lời thơ tha thiết, tràn đầy tình cảm.

Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào
Tết này ta tạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.

Ở bài thơ mừng báo Quốc gia, Bác chúc:

Ta chúc ta rồi ta nhớ chúc
Những người chiến sĩ ở phương xa

Những bài thơ chúc Tết mừng xuân Bính Tuất – 1946 của Bác mãi mãi còn nguyên ý nghĩa thời sự, còn nguyên giá trị.

CTT – GTĐT Sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Xuân Nhâm Ngọ và tác phẩm ‘Lịch sử nước ta’ của Bác Hồ

Những trang vàng của lịch sử dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20 được tiếp nối một cách sinh động hơn, đặc biệt hơn bởi được lưu giữ về cuộc đời, sự nghiệp của người Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Nhưng đứng ở góc độ sử học, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ làm rạng danh những trang vàng đó, mà Người còn là một sử gia lớn. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ 20, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã lấy các đề tài lịch sử để sáng tác các tác phẩm lớn, như: Kịch Con rồng tre, Lời than vãn của bà Trưng Trắc… để tuyên truyền thức tỉnh đồng bào trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Bác Hồ làm việc trong hang đá ở Việt Bắc năm 1951. Ảnh tư liệu

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mùa xuân năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người đã về sống và làm việc tại hang Pác Bó – Cao Bằng. Ý thức sâu sắc mục đích của việc học tập, nghiên cứu lịch sử để tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, từng bước đưa họ vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cuối năm 1941, Người đã viết cuốn Lịch sử nước ta. Ðây là tập diễn ca lịch sử gồm 208 câu lục bát, phần kết có 30 mốc lịch sử dân tộc quan trọng.

Tác phẩm Lịch sử nước ta do Việt Minh tuyên truyền Bộ ấn hành ra mắt lần đầu tiên giữa ngàn trùng Pác Bó tháng 2-1942, vào đúng dịp Tết Nguyên đán Nhâm Ngọ. Và Xuân Nhâm Thìn năm nay (2012), vừa tròn 70 năm ra đời tác phẩm.

Chỉ với 208 câu thơ lục bát, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc, xác định giới thiệu những nhân vật, những sự kiện chân thực khách quan đủ để khôi phục chính xác bức tranh hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc với những nét cơ bản về truyền thống yêu nước, đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Mở đầu tác phẩm, Bác đánh giá cao vấn đề nghiên cứu lịch sử nguồn gốc dân tộc và tự hào về truyền thống tốt đẹp của tổ tiên:

“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam…”.

Ðọc tác phẩm, chúng ta nhận thấy lịch sử dân tộc không còn là lịch sử của các triều đại với vai trò tuyệt đối của các vua chúa, mà là lịch sử của quần chúng nhân dân ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi thành phần:

“Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn”.

Quan trọng nhất là Lịch sử nước ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm duy vật mác-xít khi bình luận, giải thích sự kiện, nhân vật, phá tan các quan điểm duy tâm, thần bí, các tư tưởng “thiên mệnh”, “ngụy”, “chính thống”… trong các sách sử thực dân, phong kiến…

Ôn lại lịch sử dân tộc, Lịch sử nước ta đã giúp người đọc nắm được bài học kinh nghiệm cốt tử, như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định ở hai câu thơ kết thúc phần diễn ca của tác phẩm:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng
Ðồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

Tin tưởng vào truyền thống của dân tộc và sức mạnh đoàn kết của toàn dân sẽ đưa cuộc đấu tranh đến bến bờ thắng lợi, nên kết thúc tác phẩm Nguyễn Ái Quốc đã tiên đoán một dấu mốc lịch sử quan trọng: “1945, Việt Nam độc lập”.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh viết cuốn Lịch sử nước ta, trước hết, làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu, đồng thời, với mục đích phổ biến rộng rãi trong nhân dân, để giáo dục và ôn lại truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc. Người khẳng định từ nam phụ lão ấu, người bình dân hay tầng lớp phú hào, quý tộc đều có lòng yêu nước nồng nàn, anh dũng chống ngoại xâm, để giành lấy độc lập cho nước nhà. Qua đó, Người động viên, khích lệ nhân dân ta phát huy truyền thống yêu nước, nâng cao lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập tự do.

Cũng như chùm các bài ca viết cùng thời gian nhằm tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, khi viết cuốn Lịch sử nước ta theo diễn ca lịch sử, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặc biệt chú ý đến đặc điểm của một số tác phẩm diễn ca lịch sử dân tộc viết bằng chữ Nôm từ thế kỷ 17. Các tác giả của những tác phẩm đó dù mang quan điểm sử học phong kiến nhưng cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống yêu nước của dân tộc. Quan trọng nhất là tác phẩm của họ đạt thành công lớn trong việc chuyển tải tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, có sức sống rộng rãi trong quần chúng bằng hình thức dân gian truyền miệng, lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chọn thơ ca làm phương tiện thể hiện và chuyển tải những kiến thức lịch sử cơ bản cho người dân vì thực tế đất nước ta khi đó, có hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ và còn trong đói nghèo. Ðồng thời, Người cũng hiểu sâu sắc rằng, thơ ca rất gần gũi, quen thuộc với người dân nước Việt, nhờ đặc tính có vần, có điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người.

Nghiên cứu và hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc đó, càng nhận thức hết giá trị thực tiễn lớn lao của tác phẩm Lịch sử nước ta. Tác phẩm đã khéo kết hợp được hai yêu cầu khoa học và nghệ thuật dưới hình thức thơ lục bát rất quen thuộc với nhân dân ta. Lời thơ ngắn gọn, dung dị, dễ hiểu, nhưng rất súc tích, giúp người đọc ôn lại lịch sử vẻ vang của dân tộc và nhận thức đúng đắn lịch sử của đất nước. Về phương pháp viết sử, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc sự kiện, tài liệu chứ không sa đà vào các chi tiết lịch sử. Quan trọng nhất là Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng nhận định, đánh giá khái quát các sự kiện và nhân vật lịch sử tiêu biểu.

Ðể giới thiệu tác phẩm Lịch sử nước ta tới đồng bào, đồng chí, trong bài viết “Nên học sử ta”, đăng trên báo Việt Nam độc lập (số 117, ngày 1-2-1942) lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh mục đích nên học lịch sử dân tộc và khẳng định lịch sử  nước ta dạy cho ta bài học: “lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do”. Cuối bài này có ghi thêm “Vừa mới xuất bản quyển “Sử nước ta” bằng thơ. Hay lắm, giá mỗi quyển 1 hào ai muốn mua hỏi cán bộ địa phương”.

Sau đó, tác phẩm trên được tái bản nhiều lần. Hiện nay, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam còn lưu được một số bản in cuốn Lịch sử nước ta xuất bản năm 1942, 1947 và 1949. Năm 1977, tác phẩm này đã được in trong cuốn Thơ ca cách mạng ở Việt Bắc của Vũ Châu Quán – Triều Ân – Hoàng Quyết (Nxb Văn hóa dân tộc). Ðến năm 1983, Lịch sử nước ta mới được chính thức in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, có nội dung đúng như văn bản do Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2-1942.

Sau tác phẩm Lịch sử nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục khai thác các đề tài lịch sử dân tộc phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền các tầng lớp nhân dân thêm yêu mến các bậc tiền nhân, trân trọng các di sản và truyền thống dân tộc. Ðặc biệt hơn cả là vào các dịp đầu xuân, Người gửi tới đồng bào, chiến sĩ cả nước những bài thơ chúc Tết độc đáo. Nhưng Lịch sử nước ta mãi mãi là một tác phẩm giá trị cả ở góc độ sử học và văn học, có vị trí quan trọng trong kho tàng lịch sử và văn học mà Người đã để lại. Lịch sử nước ta đã in sâu vào tâm trí của nhiều đồng bào, đồng chí. 70 năm đã trôi qua kể từ lần đầu tiên tác phẩm Lịch sử nước ta được xuất bản, đến nay có những người thuộc thế hệ những năm tháng đó vẫn còn thuộc lòng toàn văn hoặc từng đoạn của tập diễn ca này. Ðây chính là bài học kinh nghiệm quý giá đối với những người làm công tác biên soạn sách giáo khoa lịch sử các cấp phổ thông hiện nay.

Xuân Nhâm Thìn này, trong bối cảnh toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân ta đang tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, không gì thiết thực hơn đối với những người làm công tác giáo dục, giảng dạy, nhất là ở bộ môn Lịch sử, chính là học tập và làm theo phương pháp viết và dạy lịch sử của Bác Hồ. Ðó là điều hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học sử đối với thế hệ trẻ ngày nay.

TS CHU ĐỨC TÍNH (Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh)
tutuonghochiminh.vn

Những mùa xuân của Bác Hồ

Đối với Bác Hồ, trên đời này không gì đẹp bằng tình yêu thương con người, trước hết là tình thương yêu với tuyệt đại đa số nhân dân lao động. Yêu thương con người, theo Bác, là phải đoàn kết phấn đấu đạt cho được mục tiêu “Ai cũng có cơm ăn, áo mặc. Ai cũng được học hành”.

Trong 79 mùa xuân của Bác có 30 mùa xuân tha hương, cộng thêm hai mùa xuân vừa tha hương vừa nằm trong ngục Tưởng Giới Thạch. Trừ những năm thơ ấu, những năm tha hương và chịu đọa đày trong tù ngục, Bác Hồ thân yêu thực sự chỉ hưởng được 30 cái Tết ở trong nước. Dù phải trải qua biết bao gian khổ, canh cánh trong lòng ước mong giành độc lập tự do ấm no cho dân tộc, với niềm tin tưởng và tinh thần lạc quan cách mạng, Người đã có những mùa xuân tươi đẹp nhất.

Đó là mùa xuân năm 1923 trên đất Pháp, khi Người viết truyền đơn cổ động mua báo Le Paria. Mùa xuân ấy, lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm kiểm nghiệm cuộc sống, Nguyễn Ái Quốc viết: “Cho đến nay chủ nghĩa tư bản chỉ là những vách tường dày ngăn cách những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Mùa xuân năm 1924, Người đến Matxcơva, quê hương của Lê – nin vĩ đại, quê hương của mùa xuân mới. Mùa xuân 1930 là một mùa xuân tươi đẹp, sung sướng nhất của Bác Hồ, vì “từ nay đã có Đảng lãnh đạo, cách mạng sẽ thành công”.

Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm cách xa tổ quốc, sau khi mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ ở biên giới Việt – Trung, theo nội dung sách sau này được in với tên Con đường giải phóng. Con đường mới đi được chặng đầu trong khí trời trong lành của một buổi sớm xuân, trong hương thơm của hoa rừng biên cương Người trở về Tổ quốc.Những mùa xuân phấn khởi như vậy rất ít đối với Người, vì rằng Người đã “nghĩ mình trong bước gian truân, tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng”.

Mùa xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mùa xuân của nghĩa tình, chan chứa lòng yêu thương đồng cảm với nhau. Xuân năm 1959, trên đất Liên Xô, Bác nói với các cháu thiếu nhi: “Tết bây giờ khác trước rồi. Mùa xuân của chúng ta không phải là 3 tháng mà là dài hơn, gia đình họ hàng của ta là cả gia đình quốc tế vô sản”. Người mong muốn mùa xuân cho mọi người, xuân cho mọi ngày. Trong ngày xuân, gặp được đồng bào, đồng chí, bạn bè, Người lại thấyXuân này, xuân lại thêm xuân, Nước non xa, anh em gần, vui thật là vui!

Khi Tết đến xuân về, dù không tiền bạc, bánh quà để tặng những người nghèo khổ, Bác vẫn đến với họ, sẻ chia một tấm lòng, một sắc xuân của trái tim con người. Chị công nhân vệ sinh bất ngờ vì không bao giờ nghĩ là Bác đến tận nhà thăm hỏi trong thời khắc giao thừa thiêng liêng. Ân cần như một người thân trong gia đình, Người nói: “Bác không đến thăm những người như gia đình cháu thì còn thăm ai?”. Mùa xuân ấy đối với căn nhà rách nát nghèo nàn của chị công nhân vệ sinh thật là “một mùa xuân cả thế gian, phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”.

Nếu như “Chủ nghĩa Cộng sản là mùa xuân của nhân loại” còn quá cao trên đỉnh núi mà ta chỉ chiêm ngưỡng được trong những ngày trời đẹp, hoặc còn quá xa như một viễn cảnh, thì trong những ngày này, thế giới này, quả đất này có thể đã có một mùa xuân “không gì ngăn cản được những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Đó là lời tuyên bố của Nguyễn Ái Quốc trong mùa xuân năm 1923.

Suốt cuộc đời Bác mong muốn mùa xuân dài hơn với áo ấm, cơm no, với tự do, hạnh phúc, với cái tâm, cái thiện cho mỗi con người.

Họp mặt kỉ niệm 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Minh Thảo – Bản tin Thủ Đức (theo Nhớ lời Bác dạy)
thuduc.gov.vn

Bác Hồ với mùa xuân thành lập Đảng

Trong cuộc đời hoạt động của mình, với 30 năm đi khắp thế giới tìm con đường cứu nước, Bác Hồ của chúng ta đã có biết bao những mùa xuân đáng ghi nhớ. Bác đã từng đón rất nhiều cái Tết Nguyên đán Việt Nam ở xứ người. Những cái tết đạm bạc nhiều khi chỉ là bát cháo và cái bánh mỳ rẻ tiền ở một quán ăn nhỏ. Những ngày Tết, Bác nhớ đất nước quê hương da diết cùng với bao những dự định lớn lao. Nhưng mùa xuân năm 1930 có thể nói là mùa xuân lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là mùa xuân lịch sử của cách mạng Việt Nam.

Mùa xuân Canh Ngọ 1930, nhận được liên lạc của Quốc tế cộng sản, Bác Hồ của chúng ta từ một vùng quê ở Thái-lan, đáp xe lửa đi Băng-Cốc, rồi đi tàu thuỷ đến Xanh-ga-po. Tại đây, Người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng-Kông. Ngồi trên tàu, qua cánh cửa, Bác được nhìn thấy bờ biển Tổ quốc thấp thoáng nơi chân trời. Nỗi nhớ nước, thương nhà làm tim Người thắt lại! Nỗi đau riêng của gia đình (cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh ra Người đã qua đời) hoà trong nỗi đau chung của cả một dân tộc. Bác nghĩ đến những đêm dài nô lệ, biết bao sĩ phu yêu nước đã tập hợp nhân dân, giương cao ngọn cờ chống giặc ngoại xâm. Nhưng những cuộc nổi dậy ấy đều bị dìm trong biển máu. Và trách nhiệm lịch sử nặng nề ấy đã đặt lên vai những người cộng sản. Ba tổ chức cộng sản ở Bắc, Trung, Nam được thành lập. Song yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải có một Đảng thống nhất trong nước. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã bí mật ra tận cảng biển để đón Bác.

Sau khi bàn bạc với các đồng chí của mình, liên lạc với các đồng chí quen biết cũ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bác quyết định tổ chức hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Việt Nam và Trung Quốc, Tết Nguyên đán là ngày hội cổ truyền, thường kéo dài hàng tuần, người đi lại rất đông. Chính trong dịp này, những đại biểu tham dự hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Hội nghị họp từ ngày 3 đến mồng 7 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long (Trung Quốc) thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế là kể từ ngày rời bến Nhà Rồng năm 1911, ước mơ thiêng liêng của Người nay đã thành sự thật. Ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa cơm nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn. Người xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lênin vĩ đại đã nói: Chỉ Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy nhân dân ta lại thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này, và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”. Thế là mơ ước thiêng liêng và mục tiêu cao cả, mà gần hai mươi năm qua, kể từ khi Người ra đi từ bến Nhà Rồng để tìm đường cứu nước, nay đã trở thành sự thật. Cách mạng Việt Nam từ nay đã có một đội quân tiên phong đoàn kết chiến đấu.

Trong suốt những năm tháng lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng, Đảng ta luôn luôn làm theo lời Bác, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, đoàn kết nhân dân thành một khối vững chắc để đánh giặc giữ nước và xây dựng nước nhà. Đảng ta luôn coi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

Đón xuân mới, cùng với kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến Bác Hồ kính yêu – Nhà lãnh đạo thiên tài. Không những chúng ta mà bạn bè thế giới đã nói: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “một cuộc đời, một bước ngoặt kỳ diệu, một sự nghiệp vĩ đại…”.

(Theo canbotre.danang.vn)
tinhdoanbinhthuan.vn

Bác Hồ với thực hành tiết kiệm trong dịp Tết

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm và đề cao tiết kiệm. Người thường dùng hình ảnh “Sản xuất mà không tiết kiệm như gió vào nhà trống”. Người đặc biệt chú trọng kêu gọi, nhắc nhở cán bộ và nhân dân thực hành tiết kiệm trong dịp Tết.

Vào dịp sắp Tết Nguyên đán năm Ất Mùi, ngày 5-2-1955, Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua sản xuất tiết kiệm mùa xuân, gửi đồng bào và cán bộ các địa phương. Bác chỉ rõ hòa bình đã trở lại miền Bắc, nhiều nơi đang chuẩn bị giảm tô và cải cách ruộng đất, đó là những điều kiện để phát triển nông nghiệp.

Song khó khăn vẫn còn nhiều như hạn hán, sâu bọ, ruộng bị bỏ hoang, công trình thủy lợi bị hư hỏng. Vì vậy, Bác Hồ kêu gọi “Ra sức thi đua trong mùa xuân này” thực hiện 6 nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ tiết kiệm về mọi mặt.

Trong lời kêu gọi đồng bào tăng gia sản xuất và tiết kiệm, vào dịp Tết Đinh Dậu (1957), Bác viết: “Tôi thân ái chúc đồng bào và cán bộ vui vẻ ăn Tết trong phong trào thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm”.

Đầu năm 1958, Bác về tham gia chống hạn ở xã Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội. Khi ấy còn 1 tháng 10 ngày nữa mới đến Tết Nguyên đán (Mậu Tuất 1958), tại buổi nói chuyện với nhân dân trong xã, Bác góp ý: “Năm ngoái bà con ăn Tết mổ lợn, mổ bò… rồi thiếu trâu bò cày. Đấy là chưa kể rước sách linh đình, đồng bóng bói toán thật là lãng phí, ảnh hưởng không tốt đến thuần phong mỹ tục. Năm nay nhất định sửa. Tết năm nay phải là Tết vui vẻ, lành mạnh, tiết kiệm”.

Bác Hồ về thăm lại đồng bào Păc Bó - Cao Bằng, năm 1961Bác Hồ về thăm lại đồng bào Păc Bó – Cao Bằng, năm 1961

Vào dịp Tết, Bác thường xuống cơ sở để thăm tình hình nhân dân ăn Tết. Sáng 28 tháng Chạp năm Bính Thân, nghĩa là chỉ còn 2 ngày nữa là Tết Đinh Dậu (1957), Bác tiếp đoàn đại biểu xã Nhật Tân (Từ Liêm, Hà Nội) đến chúc Tết Bác và biếu Bác cây đào để đón xuân. Bác hỏi tình hình đón Tết của đồng bào.

Đồng chí Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính xã thưa với Bác rằng, Tết năm ngoái nhân dân toàn xã ăn Tết rất phấn khởi, Tết năm nay còn phấn khởi hơn vì cải cách ruộng đất đã thắng lợi, nhân dân đã thực sự làm chủ ruộng đất nên đã chủ động chung nhau lợn, trâu, bò để mổ ăn Tết. Nghe vậy, Bác không vui và ân cần căn dặn: “Các chú tổ chức cho nhân dân ăn Tết phấn khởi đấy, nhưng phải nhớ tiết kiệm.Vì đất nước còn nghèo, lại vừa trải qua chiến tranh, còn phải làm nhiều việc lớn hơn”. Những người có mặt lúc đó đều thấm thía lời dạy của Bác. Mấy ngày sau, câu chuyện được gặp Bác và những lời cặn dặn của Người được các vị cao niên trong đoàn đại biểu kể lại cho dân làng nghe tại sân đình các thôn trong xã. Tết năm sau (1958) cả xã không còn mổ trâu bò ăn Tết nữa.

Bác Hồ không chỉ khuyên nhủ đồng bào ăn Tết Nguyên đán tiết kiệm, chính Người là tấm gương sáng. Nhân dân ta còn nhớ mùa xuân cuối cùng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Bác về trồng cây trên đồi Đồng Váng, thôn Yên Hồ, xã Vật Lại (Sơn Tây – Hà Nội ngày nay). Trước khi đi, Bác nhắc nhở các đồng chí phục vụ mang theo cơm nước. Bác cùng đồng bào và cán bộ trồng cây xong, lúc ấy gần 12 giờ trưa. Bác mời đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Chủ tịch tỉnh Hà Tây cùng Bác ăn Tết ngay trên chiếc chiếu trải trên đồi. Bữa cơm thân mật Bác cùng khách thưởng thức thật đơn giản, có bánh chưng, giò với dưa hành, canh nóng đựng trong phích. Hôm ấy là ngày mùng 1 Tết Kỷ Dậu 1969.

Ngày nay, mức sống của nhân dân ta đã được nâng lên rất nhiều, một cái Tết “to” cách đây nửa thế kỷ trước so với bây giờ thì quá bình thường, nhưng những lời căn dặn của Bác “Ăn Tết tiết kiệm” vẫn còn giữ nguyên giá trị giáo dục và có ý nghĩa biết bao trong bối cảnh hiện nay…

P.V (Tổng hợp)
baokhanhhoa.com.vn

Bác Hồ và ba mùa xuân đáng nhớ

(BNS) Trong những năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, Bác Hồ từng đón xuân ở nhiều nước như: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan… Trong đó, có ba mùa xuân đáng nhớ, đánh dấu những mốc quan trọng trên hành trình tìm đường cứu nước của Người và của cách mạng nước ta.

XUÂN 1930, XUÂN KHỞI ĐẦU CỦA ĐẢNG

Bác Hồ chúc TếtĐầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Thái Lan thì được tin Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội bị tan rã. Người lập tức từ Thái Lan về Trung Quốc để chuẩn bị việc hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến Thượng Hải, Người tìm gặp đồng chí Nguyễn Lương Bằng và một số đồng chí Việt Nam khác để tìm hiểu kỹ tình hình trong nước. Người cũng đã tìm cách liên lạc với các cơ quan của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hồng Kông, gặp các đồng chí Nhiêu Vệ Hoa, Lý Phú Xuân và Thái Sướng… để tham khảo ý kiến.

Để giữ bí mật, khi bàn bạc việc chuẩn bị hội nghị, Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Việt Nam lúc giả đánh “mạt chược” ở khách sạn, khi vờ xem đá bóng ở sân vận động. Sau những buổi bàn luận kỹ càng, Người đã quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Nhận được tin, các đoàn đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và của An Nam Cộng sản Đảng lần lượt đến Hồng Kông vào những ngày giáp Tết. Hội nghị bắt đầu ngày mùng năm Tết Canh Ngọ (tức ngày 3-2-1930), khi không khí Tết ở Hồng Kông còn rộn ràng.

Sau năm ngày thảo luận sôi nổi và khẩn trương, hội nghị đã nhất trí tán thành hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Trước đây, các tổ chức này đã nhiều lần gặp nhau bàn việc hợp nhất, nhưng không thành vì có những ý kiến khác nhau và thiếu người có đủ uy tín đứng ra chủ trì. Hội nghị cũng đã nhất trí thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như một đại hội thành lập Đảng. Sự nhất trí cao và nhanh chóng của hội nghị là nhờ vào vai trò lãnh đạo, hướng dẫn của Nguyễn Ái Quốc. Nhờ uy tín và công lao to lớn của Người, Đảng ta đã ra đời, đảm nhận sứ mệnh cao cả và thiêng liêng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi.

Dịp này, để mừng Đảng ra đời và mừng xuân, Người đã đãi các đồng chí dự họp một bữa cơm Tết Nguyên đán trong không khí ấm tình đồng chí, đồng bào.
Tin mừng về việc thành lập Đảng làm cho nhân dân ta vô cùng phấn khởi, từ đó đồng tâm nhất trí đưa cách mạng vượt mọi thác ghềnh, không ngừng tiến lên.

XUÂN 1933: XUÂN HƯƠNG CẢNG THOÁT KHỎI NGỤC TÙ

Tháng 6-1931, Nguyễn Ái Quốc lúc đó lấy tên là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Anh bắt tại số nhà 186 phố Tam Lung (Cửu Long) và giam ở nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Kông. Được tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, thực dân Pháp ở Việt Nam rất vui mừng. Chúng phái cả bầy mật thám sang chầu chực ở Hồng Kông, tìm mọi cách vận động chính phủ, tòa án và cảnh sát Anh trao Nguyễn Ái Quốc cho chúng. Chúng đưa tàu thủy chực sẵn ở Hồng Kông, nếu tòa án Anh ký lệnh “trục xuất” là chúng bắt ngay Nguyễn Ái Quốc và đưa về Việt Nam.

Nhưng thực dân Pháp đã thất bại, Nguyễn Ái Quốc đã được Lô-dơ-bai, một luật sư người Anh có thiện tâm, tìm mọi cách giúp đỡ. Qua Lô-dơ-bai, Người đã tiếp bà Xten-la Ben-xơn, một nhà hoạt động văn học và sân khấu, vợ của Phó thống đốc Hồng Kông. Cảm phục về thái độ và trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc, bà đã yêu cầu chồng mình giúp đỡ Người.

Từ tháng 6 đến tháng 9-1931, tòa án họp chín phiên, vẫn quyết định đuổi Bác về Đông Dương. Luật sư Lô-dơ-bai chống án lên Hội đồng nhà vua Anh và nhờ luật sư Nô-oen Pơ-rit (Nowell’Pritt) ở Luân Đôn cãi hộ cho Nguyễn Ái Quốc.

Khoảng cuối tháng 1-1933, gần Tết Âm lịch, Hội đồng Nhà vua xóa án và ra lệnh cho phép Nguyễn Ái Quốc tự do, miễn là ra khỏi Hồng Kông.

Với sự giúp đỡ của Lô-dơ-bai và của vợ chồng Phó thống đốc Hồng Kông, Người đã rời Hồng Kông một cách an toàn. Đúng ngày 30 tháng Chạp năm Nhâm Thân (tức ngày 25-1-1933), Người đến Hạ Môn (Trung Quốc) nơi mà lãnh sự Anh và lãnh sự Pháp không có quyền can thiệp.

Tức tối vì không bắt được Nguyễn Ái Quốc, giận dữ đối với người Anh, các báo thực dân Pháp bịa đặt rằng, Nguyễn Ái Quốc mắc bệnh lao trong nhà lao Anh và đã chết (!).

Việc Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nhà tù của thực dân Anh là niềm vui, sự may mắn rất lớn cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta biết rằng, tháng 11-1929, thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn đã xử Nguyễn Ái Quốc vắng mặt với mức án tử hình. Chúng chỉ chờ bắt được Người là thi hành án. Thực dân Pháp cũng đã treo giải thưởng 75 ngàn đồng tiền Đông Dương (một số tiền rất lớn hồi đó) cho ai bắt được Người (1).

Thoát khỏi cảnh tù ngục, nhận lời mời của đồng chí và bầu bạn, Người đã lưu lại Hạ Môn nhiều tháng, vừa tìm cách bắt liên lạc với tổ chức, vừa tránh sự theo dõi của mật thám. Sau đó Người đi Thượng Hải.

Vào một ngày đầu xuân năm 1934, Người lên một chiếc tàu hàng Xô Viết ở Thượng Hải để đi Liên Xô. Sau khi tới cảng Vla-đi-vô-xtôc (Liên Xô), Người đến Mát-xcơ-va. Tại đây, Người đã gặp lại đông đảo đồng chí, bạn bè thân thiết trong niềm vui lớn.

XUÂN 1941: TỔ QUỐC VÀO XUÂN

Lúc còn ở Quế Lâm (năm 1940), Nguyễn Ái Quốc đã nhận định rằng thời cơ về nước đã tới. Đến cuối năm đó, Người cùng một số cán bộ Việt Nam rời Quế Lâm, đến Nam Ninh rồi đến Tỉnh Tây. Tại đây, Người đã cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên… mở lớp huấn luyện cán bộ trước khi về nước. Bốn mươi ba cán bộ cách mạng Việt Nam đã theo học lớp này tại làng Nậm Quang (Tỉnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Ngày 29 tháng Chạp năm Canh Thìn (tức ngày 26-1-1941), lớp học làm lễ bế mạc dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, trong khu rừng vắng vẻ rìa làng Nậm Quang. Hôm sau, ngày mùng một Tết Tân Tỵ, Nguyễn Ái Quốc cùng với anh em cán bộ đi chúc Tết bà con dân làng Nậm Quang.

Ngày mùng Hai tháng Giêng âm lịch, giữa lúc nhân dân Nậm Quang và khắp nơi đang vui vẻ ăn Tết thì Người lên đường trở về nước, với sự tháp tùng của các đồng chí: Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác. Đồng chí Lê Quảng Ba, trong bài viết “Bác Hồ về nước” kể: “Chúng tôi ăn cơm sớm đi chào bà con rồi lên đường”.

“Trong bộ quần áo chàm Nùng, Bác như gầy hơn. Ngước nhìn gương mặt sạm sương gió của Người, tôi thấy một dáng vẻ ung dung, điềm tĩnh rất thân quen. Tôi dẫn Bác theo những vệt đường mòn lượn giữa các nếp núi tiếp nối nhau ở vùng biên giới hướng về Cao Bằng. Bác cầm một cây gậy nhỏ, nhưng chỉ khi xuống dốc Bác mới chống. Chân Bác bước mau lẹ, dẻo như thanh niên”.

Hồi ký của T.Lan cũng kể lại tâm trạng của Nguyễn Ái Quốc lúc đó: “Xa rời Tổ quốc đã hơn 30 năm, đã mất bao nhiêu thời giờ và sức lực tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu năm thương nhớ đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động…” (2).

Sau đó ít ngày, Người đến ở hang Pắc Bó, với bí danh già Thu. Cũng trong mùa xuân này, Người đã sáng tác bài thơ tả cảnh Pắc Bó hùng vĩ:

Non xa xa, nước xa xa,
Nào phải thênh thang mới gọi là…
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Cũng tại đây, Người tiếp tục dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga ra tiếng Việt, để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Người cũng đã sáng tác bài thơ Tức cảnh Pắc Bó:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Tháng 5-1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đã xác định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương. Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi, lấy tên là Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng dân tộc và sinh tồn.

Với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, cách mạng Việt Nam chuyển hẳn sang một thời kỳ mới. Hơn 4 năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cũng chính từ đó, Tổ quốc ta bước vào một mùa Xuân mới – Xuân của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – từ sức xuân truyền thống của mình.

(Sưu tầm tài liệu và biên soạn theo “Chuyện xưa góp nhặt” của Nguyễn Trọng Thu – cán bộ tiền khởi nghĩa)
(1) Một tạ gạo chỉ 3 đồng
(2) T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, NXB Sự Thật, Hà Nội, tr 73

ĐOÀN MINH TUẤN
congan.com.vn

Tết kháng chiến

Năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước sang năm thứ hai. Trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc năm ấy, Bác Hồ kính yêu vẫn làm việc như mọi ngày và vẫn ăn ngày hai bữa cơm độn sắn như những bữa bình thường của một gia đình nông dân nghèo Việt Nam.

Đêm cuối năm, trời se se lạnh, mưa phùn không ngớt. Sáng ngày 30 Tết, Bác vẫn tranh thủ thời gian ngồi đọc tài liệu. Buổi chiều Bác đi họp Hội đồng Chính phủ. Sau khi họp xong, Bác lên ô tô đi đến Đài phát thanh để kịp đọc lời chúc mừng năm mới gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài.

Lúc bấy giờ, Đài Tiếng nói Việt Nam sơ tán về ở chùa Trầm thuộc tỉnh Hà Đông (nay là thành phố Hà Nội). Trời tối, gió rét, đường lầy lội, nhưng không quản vất vả, khó khăn Bác vẫn quyết tâm đi đến Đài kịp trước giao thừa. Có lúc xe của Bác bánh bị ngập bùn quá nửa, đi không được, phải xuống đẩy.

Đến gần 12 giờ đêm, trong lúc mọi nhà chuẩn bị đón giao thừa, mừng năm mới, đang quây quần sum họp bên bàn thờ tổ tiên, thì Bác cũng vừa đi đến Đài phát thanh. Bác vui vẻ thăm hỏi mọi người rồi đi thẳng đến Đài đọc lời chúc mừng năm mới. Giọng của Bác âm vang, qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam được truyền đến mọi nhà, mọi người.

Sau khi đọc xong, Bác Hồ lên xe trở về nhà. Xe chạy được một quãng cách chỗ ở 2 km thì bị tụt xuống hố, không chạy được nữa. Bác và anh em cùng nhau phải đi bộ dưới trời mua rét của đêm 30 Tết năm ấy.

Đến gần 3 giờ sáng, ngày mồng 1 Tết, Bác mới về đến nơi ở. Lúc bấy giờ thôn xóm đã im lìm trong đêm đầu năm.

Rửa chân tay xong, Bác cùng đồng chí giúp việc chưa đi ngủ mà còn giở cuốn sách của một nhà văn nổi tiếng của Pháp ra đọc.

Khoảng gần 5 giờ sáng ngày mồng một, lúc thôn xóm còn tĩnh mịch đã lên đèn, khói bếp các nhà đã lan tỏa, hòa vào sương sớm, Bác Hồ mới tắt đèn để lên giường nghỉ.

Đến 6 giờ 30 phút sáng, Bác lại trở đậy để làm việc như thường ngày.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Tết đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Năm 1941, sau 30 năm trời xa Tổ quốc để tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào, Bác Hồ bí mật trở về Pắc Bó (Cao Bằng) để trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

Bác Hồ về nước (28/1/1941)

Bác Hồ về Pắc Bó vào một ngày gần Tết. Và có lẽ đó là một trong những Tết đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Bởi vì, đây là lần đầu tiên sau những năm tháng ở nước ngoài, Bác Hồ được đón giao thừa trên mảnh đất của Tổ quốc, tuy còn gian khổ, khó khăn, nhưng ấm tình dân tộc, nghĩa đồng bào.

Vào dịp đón xuân mới năm 1961, TLan đã viết một bài báo nhan đề: “Bác ăn Tết với chúng tôi” kể về cái Tết năm 1941 như sau:

“Lớp huấn luyện vừa xong thì cũng vừa đến ngày Tết. Nhân lúc đi lấy củi trên rừng, Bác bàn với chúng tôi (trước khi làm việc gì, Bác cũng đưa ra bàn để chúng tôi phát biểu ý kiến).

– Dù chúng ta rất ít tiền, nhưng cũng phải “nhập gia tùy tục”. Đến Tết; chúng ta nên có một cuộc chiêu đãi đơn giản để tỏ lòng biết ơn người làng đã giúp đỡ chúng ta. Các chú nghĩ thế nào?

Chúng tôi đều tán thành ý kiến của Bác.

Sáng 30 Tết, chúng tôi làm mấy mâm cơm nếp và thịt lợn mời các vị phụ lão và những người tai mắt trong làng đến chén một bữa vui vẻ.

Để khỏi chạm với phong tục mê tín của dân làng, Bác dặn chúng tôi: “Mồng một Tết các chú phải ở trong nhà, không được đi ra ngoài. Nếu các chủ nhà mời ăn Tết, thì mỗi tổ cử một vài người đi thôi…”

Chúng tôi vào làng mượn rơm, mượn ván đế tổ chức “đại bản doanh” trong hang. Bác và các anh tổ trưởng thì bàn kế hoạch công tác. Tối hôm đó, trong lúc đồng bào đang vui Tết, chúng tôi từng nhóm bí mật về các địa phương bắt đầu hoạt động.

Các anh Quảng Ba và Hoàng Sâm ở lại Pắc Bó với Bác. Chỉ trong vài tuần chúng tôi đã xây dựng được một số cơ sở Việt Minh và trở về Pắc Bó báo cáo xin kế hoạch mới.

Từ đó, phong trào phát triển rất nhanh, chẳng bao lâu tổ chức Việt Minh đã xây dựng được nhiều căn cứ vững chắc của cách mạng. Cách một năm sau, tổ chức Việt Minh đã có khắp tỉnh Cao Bằng và lan đến các tỉnh lân cận. Chúng tôi lại được ăn Tết với Bác ở Pắc Bó, một cái Tết rất là vui vẻ.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Nhớ bài thơ chúc Tết Mậu Thân 1968 của Bác Hồ

(VOH) – Trong không khí ấm áp, hân hoan chào đón Tết cổ truyền dân tộc – Xuân Quý Tỵ 2013 cũng là thời điểm toàn Đảng, toàn dân kỷ niệm 45 năm Tết Mậu Thân 1968, quân và dân miền Nam đồng loạt tấn công Mỹ nguỵ ở các đô thị trong vùng bị địch còn tạm chiếm. Nhớ lại cách đây 45 năm trong đêm giao thừa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết đồng bào chiến sĩ cả nước bằng bốn câu thơ:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta

Bác Hồ đọc thơ chúc tết. (ảnh tư liệu)

Sau lời chúc Tết, Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời đưa tin đồng bào, chiến sĩ miền Nam mở đợt tấn công vào kẻ thù ở nhiều nơi…Đồng chí Vũ Kỳ – thư ký riêng của Bác kể lại rằng, Bác đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước. Sáng chủ nhật 31/12/1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc tết vừa để Bác nghe, vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 01/01/1968, Bác gửi Thư chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước XHCN anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!. Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn khăc ghi mãi lời Bác, Đại tá Đặng Xuân Tẻo, nguyên Chính trị viên Đội 4 – biệt động Sài gòn – đơn vị được giao nhiệm vụ đánh chiếm Đài Phát thanh Sài gòn năm 1968 nhớ lại:

Khi ấy Bác đang nghe qua Đài Tiếng nói VN,và khi đài phát xong câu cuối Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!, Bác nói khẽ: Giờ này, miền Nam đang nổ súng! Và Bác đã chỉ ra kẻ thù số một của dân tộc Lạc Hồng là đế quốc Mỹ trong khi chúng cố đưa quân ào ạt vào miền Nam, đánh phá bằng không quân ra miền Bắc XHCN…

Nếu mừng xuân của Bác trong năm 1968 là lời chúc đầu năm mới mang tính khẳng định lại nét truyền thống trên chiến trường chống Mỹ, Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua; thì đến tháng 3 năm 1968 Bác viết bài Không đề với tâm trạng rạo rực tin vui của một thi nhân.

Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào
Tiến lên !Chiến sỹ đồng bào
Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn…..

Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ trong mỗi dịp Tết đều toát lên tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong một giai đoạn lịch sử, đặc biệt là năm Bác mừng xuân mới. Những vần thơ trong thư chúc Tết, được Bác tổng quát hoá tư tưởng lớn với ngôn ngữ giản dị, trong sáng tiếng Việt. Bà Lê Thị Thanh Hải, nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – người chuyên nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh bày tỏ suy nghĩ của mình :

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước. Tinh thần mạnh mẽ của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam..Xuân Quý Tỵ 2013 đã đến, hòa chung không khí đón xuân mới và kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chúng ta được sống lại không khí hào hùng của dân tộc “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta” trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước; đồng bào và chiến sỹ ta lại được tận hưởng tư tưởng, tình cảm cao đẹp của Bác Hồ yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi qua những vần thơ Tết Xuân Mậu Thân, cho ta soi mình vào tâm đức tổ tiên, và ra sức học tập và làm theo tấm gương phong cách, đạo đức của Người. Đây chính là suy nghĩ của ông Kiều Bình Chung, Phó Bí thư thường trực quận ủy Tân Bình khi nghĩ về bài thơ chúc Tết Mậu thân 1968 của Bác kính yêu :

Thành Sang
voh.com.vn

Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp đón xuân Quý Tỵ – 2013, sáng ngày 10/2/2013 (tức sáng mùng Một Tết), Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ – Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và đồng chí Trung tướng Mai Quang Phấn – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thắp hương tưởng niệm Người tại Nhà T67 (nơi Bác Hồ đã sống những ngày cuối cùng trong cuộc đời) và tới thăm, chúc Tết tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thuong tuong tang quaThượng tướng Đỗ Bá Tỵ – Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam thăm và chúc Tết đơn vị

Sau khi nghe lãnh đạo, thủ trưởng Bộ Tư lệnh báo cáo công tác chuẩn bị cũng như việc triển khai các công việc phục vụ việc đón Tết, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đã biểu dương tinh thần chủ động, sáng tạo của đơn vị trong việc bảo đảm an ninh, an toàn cho công trình Lăng cũng như đồng bào, khách quốc tế tới viếng Bác và du xuân tại khu vực Quảng trường Ba Đình. Đồng thời, phối hợp có hiệu quả với các cơ quan, ban, ngành có liên quan tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ nhân dân tại các tuyến phố đi bộ xung quanh Lăng Bác. Nhân dịp đầu xuân, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ và Trung tướng Mai Quang Phấn chúc cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ Tư lệnh sức khỏe, hạnh phúc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân đã tin tưởng giao cho.

Mai quang phan chuc tetTrung tướng Mai Quang Phấn – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thuong tuong vieng bacThượng tướng Đỗ Bá Tỵ cùng các đại biểu vào Lăng viếng Bác dịp đầu xuân mới

Cũng vào sáng ngày mùng Một Tết, Bộ Tư lệnh đã đón tiếp tận tình, chu đáo hơn 5000 lượt đồng bào và khách quốc tế đến dâng hương tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Nguyễn Văn Vượng
bqllang.gov.vn