Thư viện

Tư duy Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh – đó là chủ nghĩa Mác – Lênin trong cái phần tinh hoa và thực tiễn của nó, ở Việt Nam.

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã dặn rằng, học thuyết của các vị không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động. Cho nên học Mác không chỉ đơn giản là đọc sách, làm theo sách hay diễn giải sách theo ý riêng mình. Điều cốt tử là nắm lấy linh hồn của học thuyết đó, vận dụng nó vào thực tiễn, lấy thực tiễn kiểm nghiệm và điều chỉnh lý thuyết. Hồ Chí Minh đã làm như vậy. Và Cụ đã từng bị người ta phê phán. Nhưng Cụ đã đúng.

Khi còn trẻ, Cụ đã từng đưa ra một nhận xét táo bạo và sâu sắc, rằng học thuyết Mác chưa bao hàm cả văn hóa – triết học phương Đông. Đúng như vậy thật, và đó cũng là điều dễ hiểu: Mác chưa nghiên cứu phương Đông nhiều, đặc biệt là Trung Hoa; trong khi Nguyễn Ái Quốc là người xuất phát từ nền văn hóa đó, trên đất Việt Nam… Ngày nay, chúng ta thấy nên có một sự tổng hợp mới, Đông – Tây để làm phong phú và toàn diện chủ nghĩa Mác.

“Dĩ bất biến ứng vạn biến” – câu châm ngôn này là vũ khí tư duy của Hồ Chí Minh. Có lẽ, nó xuất phát từ tinh thần của Kinh Dịch và được một triết gia cổ đại nào đó nêu lên. Nhưng một khi nó được Hồ Chí Minh thốt ra, trong bối cảnh của năm 1946 ở nước Việt nam với cụ Huỳnh Thúc Kháng, thì nó có nghĩa là hãy lấy lòng yêu nước, khí phách kiên cường để ứng biến với mọi tình thế phức tạp. Ba mươi năm sau đó, kháng chiến và cách mạng Việt Nam, đã sáng tạo theo phương châm này và đã giành thắng lợi.

Hồ Chí Minh đọc rất nhiều, từ cổ đến kim, bằng nhiều ngoại ngữ. Nhưng người không nệ vào sách, không thích trích dẫn, không thích một sự phân tích dài dòng văn tự. Những người thích làm thế, nhiều khi dựa theo những tiên đề sai của sách, của lý thuyết. Tư duy tư biện hoặc máy móc không có chỗ trong tư duy Hồ Chí Minh. Người nghiên cứu, tìm hiểu, sống với đời sống và nói lên chân lý, theo kiểu của nhà hiền triết hơn là của một nhà lý luận.

Người rất ghét từ chương, sáo ngữ, biện luận dài dòng. Vì thế mà những lời của Người dễ vào lòng người, dễ nhập tâm dân chúng, và ai cũng thấy như Người phát ngôn cho mình. Các mục tiêu định ra là rõ ràng, chân thật, ai cũng tán thành.

Người thích diễn đạt bằng tục ngữ, ca dao, văn vần, thành ngữ, những cách nói dân dã. Người lại thích dẫn những câu thành ngữ Hán học mà vào thời đó các cụ nhà nho, các người có chút vốn học vấn đều thuộc, để diễn đạt ý mình. Sâu xa, đó là thừa kế có chọn lọc kho tàng tri thức Á Đông. Chẳng hạn câu: “Không sợ thiếu (vì nghèo), chỉ sợ không công bằng” (Bất hoạn bần nhi hoạn bất quân) trong kho cổ ngữ Trung Hoa.

Thế cho nên, người ta thấy Cụ Hồ gần mình lắm, tư tưởng của Cụ bình dị và gần gũi như cánh đồng lúa Việt Nam, đi vào lòng triệu triệu người.

Văn hóa, tức là cái đã được lọc, được quên đi và còn lại. Hồ Chí Minh là một bộ lọc vĩ đại đã lọc văn hóa của nhân loại, của phương Đông và Việt Nam. Học theo Người, chúng ta phải học nhân loại, học phương Đông, học Việt Nam và cố gắng tư duy một cách sáng rõ, gần với chân lý nhất, gần với cuộc đời nhất.

Bởi vì phàm đã là chân lý thì nó đơn giản. Các thứ lý thuyết rắc rối, cố làm ra vẻ cao siêu, khó hiểu, thần bí… đều trôi qua. Còn những lời minh triết của Cụ Hồ thì sống mãi.

honvietquochoc.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh – một con người, một sự nghiệp mà tên tuổi của Người gắn liền với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi đường, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Tư tưởng đó đã thôi thúc nhiệt tình cháy bỏng của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, mới ngoài 20 tuổi đời đã rời quê hương thân yêu đang bị bọn thực dân phong kiến, cai trị để đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

2_ng_x11-450.jpgNguyễn Ái Quốc và lớp bồi dưỡng lý luận chính trị tại Quảng Châu (Trung Quốc).
Ảnh: Tuấn Anh

Qua bao năm bôn ba ở nước ngoài, đi đến nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước văn minh nhất và những nước lạc hậu nhất ở châu á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ la tinh. ở đâu Hồ Chí Minh cũng thấy bộ mặt thật của bọn thực dân, đế quốc. Và Người đã rút ra kết luận, bọn thực dân, đế quốc như con đỉa hai vòi, một vòi bám vào các nước thuộc địa, một vòi bám vào chính quốc. Chúng là một bè lũ xâm lược xảo quyệt và tàn bạo. Không chỉ ở những nước thuộc địa, nhân dân bản xứ mới bị nô dịch, bị áp bức bóc lột đến tận xương tuỷ, mà ngay ở chính quốc, những người lao động và tầng lớp dưới cũng không thoát khỏi cảnh nghèo khổ, bị bần cùng hoá do chính giai cấp tư sản và bọn thực dân, đế quốc gây ra cho đồng bào mình dân tộc mình.

Trong những năm sống ở đất khách quê người, Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức cho việc học tập nghiên cứu lý luận. Người đã tìm hiểu ở những người bạn Pháp, những người cách mạng cùng chí hướng để bổ sung cho mình những nhận thức mới về những gì ẩn giấu đằng sau các từ “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” mà bọn xâm lược thường rêu rao. Trở thành đảng viên Đảng xã hội Pháp vào năm 1919, một đảng tiến bộ lúc bấy giờ và cùng với những đảng viên ưu tú của Đảng xã hội Pháp bỏ phiếu tán thành Quốc tế III – Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập, Hồ Chí Minh trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ đây, Người được trực tiếp đọc các trước tác của C. Mác Ph. ăngghen, V.I. Lênin. Được vũ trang bằng chủ nghĩa Lênin và được cổ vũ bởi Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại từ một người yêu nước chân chính, Hồ Chí Minh đã trở thành một người cộng sản kiên cường, một lãnh tụ vĩ đại của Đảng và cách mạng Việt Nam. Người là hiện thân của tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần cách mạng triệt để, vô song của nhân dân Việt Nam hơn bảy thập kỷ qua. Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Lênin với tất cả những thiện cảm và tư tưởng của một người khát khao độc lập tự do cho đất nước hạnh phúc cho nhân dân. Người kể lại rằng: “Luận Cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo. Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”1

Trong những di sản mà Hồ Chi Minh để lại cho Đảng ta, cho cách mạng Việt Nam có rất nhiều tư tưởng và quan điểm mà Đảng ta đã và đang vận dụng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tư tưởng của Người là vô cùng phong phú, đề cập đến rất nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, về xây dựng đảng, về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân… Bài viết này chỉ đề cập đến bốn tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thưc tiễn đối với cách mạng Việt Nam trước đây và hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam thể hiện trên những vấn đề sau.

1. Tư tưởng về giải phóng dân tộc và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Là một người yêu nước, thương dân, ngay từ thời niên thiếu Hồ Chí Minh đã chứng kiến sự ngang trái, bất công của xã hội đương thời, của bọn vua quan phong kiến và bọn thực dân, đế quốc xâm lược. Người rất đau lòng trước cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân một cổ hai tròng, không được làm người với tư cách là một con người, sản phẩm của tạo hóa sinh ra. Với tư chất thông minh lại được sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, được chứng kiến cảnh khổ đau của dân tộc, Hồ Chí Minh đã nung nấu trong lòng một ý chí, một quyết tâm giải phóng dân tộc, đánh đuổi thực dân, đế quốc. Chính tư tưởng này đã đẩy chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh lên tầm cao mới vượt khỏi Chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các nhà yêu nước tiền bối khác. Hồ Chí Minh đã tạm gác việc nhà, hy sinh hạnh phúc gia đình để tìm đường cứu nước, cứu dân. Với một tư duy sắc sảo, có tầm nhìn xa, trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấu hiểu tâm địa và bản chất của kẻ thù, đồng thời cũng biết được chỗ mạnh, chỗ yếu của chúng, biết được chí khí và sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Người nói “…chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”2. Đây là đặc điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà những người yêu nước đàn anh của Người chưa vươn tới.

Từ một người yêu nước trở thành một đảng viên cộng sản, một nhà cách mạng kiệt xuất, một chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh luôn canh cánh bên lòng nỗi yêu nước, thương dân. Người nói, chừng nào nước nhà chưa được độc lập, nhân dân chưa được tự do thì tôi ăn chưa ngon ngủ chưa yên. Bởi vậy, suốt đời Hồ Chí Minh đã đem hết tâm trí, nghị lực để đấu tranh cho sự trường tồn của dân tộc, nước nhà sạch bóng quân thù, xóa bỏ áp bức, bất công xã hội, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Khác với những nhà yêu nước khác, muốn dựa vào “lòng tốt” của tư bản nước ngoài để đòi độc lập tự do cho đất nước mình, theo kiểu “cõng rắn cắn gà nhà”, Hồ Chí Minh nhận thức một cách sâu sắc rằng muốn giành được độc lập phải dùng sức ta mà giải phóng cho ta. Người phân biệt một cách rõ ràng, bọn thực dân, đế quốc, giai cấp tư sản phản động với những người cách mạng, những người yêu nước và nhân dân lao động ở chính quốc. Do đó, một mặt phải có thái độ kiên quyết với kẻ thù, đấu tranh không khoan nhượng với chúng, không mơ hồ ảo tưởng vào những luận điệu giả nhân, giả nghĩa của chúng. Mặt khác, luôn luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới, với phương châm thêm bạn bớt thù để làm cho sức ta ngày càng mạnh lên, đồng thời để cô lập và đánh bại kẻ thù. Rõ ràng tư tưởng cứu nước, cứu dân và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã vượt xa tư tưởng giải phóng dân tộc của những nhà yêu nước khác. Điều này đã được lịch sử chứng minh hoàn toàn đúng đắn.

Tư tưởng giải phóng dân tộc và con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, Người nói, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Chính tư tưởng này đã chỉ đạo Hồ Chí Minh và Đảng ta trong việc đề ra chiến lược và sách lược cách mạng trong việc tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta vùng lên đấu tranh phá xích xiềng nô lệ của bọn thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh của một nước thuộc địa, nửa phong kiến, một nước nông nghiệp lạc hậu, nhân dân sống lầm than, khổ cực cùng với giặc ngoại xâm thì giặc đói, giặc dốt cũng đe dọa không kém. Nhưng với truyền thống quật cường của dân tộc, với tài thao lược của cha ông, được Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Lênin dẫn đường, Hồ Chí Minh đã quyết chí, bền lòng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng với một quyết tâm sắt đá: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Hồ Chí Minh khẳng định: “Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất”3 Và Người tin rằng “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ. Vậy ta là chính nghĩa, địch là tà. Chính nhất định thắng tà.”4

Hồ Chí Minh tỏ rõ thái độ và quyết tâm chống thực dân, đế quốc đến cùng để giải phóng dân tộc. Cho dù chiến tranh có thể kéo dài, nhân dân ta có thể chịu đựng nhiều hy sinh, gian khổ, nhưng chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Người kêu gọi đẩy mạnh kháng chiến với tinh thần “Chúng ta phải hy sinh, chịu khổ và phải gắng sức. Nhưng chúng ta quyết hy sinh, chịu khổ và gắng sức 5 năm, 10 năm để phá ta xiềng xích nô lệ hơn 80 năm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sau”5.

Như vậy, tư tưởng độc lập dân tộc và con đường giái phóng dân tộc cúa Hồ Chí Minh là nhất quán, trước sau như một, dù có khó khăn gian khổ đến mấy, dù có tổn thất hy sinh bao nhiêu cũng quyết tâm kháng chiến, chống thực dân, đế quốc đến cùng và phải giành cho được độc lập, tự do cho nước, cho dân và trước khi từ giã cõi đời này, Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, cho thế hệ hôm nay và mai sau một bản Di chúc lịch sử, trong đó Người khẳng định: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể có kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, con nước, còn người

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước ra sức đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và quyết tâm chống đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn ở miền Nam, lập nên chiến thắng vĩ đại vào mùa xuân năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

2. Giương cao hai ngọn cờ: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Từ khi đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh luôn ấp ủ trong lòng mình một hoài bão là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được ấm no hạnh phúc, mọi người trong xã hội được bình đẳng, không còn chế độ người bóc lột người. Tư tưởng đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động Cách mạng gần 60 năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người cho rằng, độc lập rồi mà nhân dân không được ấm no hạnh phúc, không được học hành thì nền độc lập đó cũng trở nên vô nghĩa, không thực hiện được mục đích cuối cùng của cách mạng và như vậy là có tội với dân tộc. Cho nên, việc giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, không chỉ Người đã hấp thụ chủ nghĩa Mác – Lênin, được Cách mạng Tháng Mười Nga soi sáng, cổ vũ, mà với thiên tài của mình, Người đã nhìn thấy xu hướng phát triển của lịch sử, của thời đại là chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản thì mới thực hiện triệt để mục tiêu của cách mạng nước ta, nếu không thì cũng chỉ mới một nửa cách mạng.

Về lý luận và thực tiễn đã chứng minh luận điểm độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn, và đó là sự lựa chọn duy nhất của người cộng sản, của cách mạng vô sản ngoài ra không có con đường nào khác. Cũng phải khẳng định rằng con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hợp quy luật, hơp với tiến trình lịch sử – tự nhiên. Nhưng đây cũng là một sự lựa chọn khó khăn đối với rất nhiều nước trong thế giới đương đại. Điều này lý giải vì sao hiện nay có rất nhiều nước giành được độc lập rồi nhưng vẫn còn dừng lại ở cách mạng dân tộc, dân chủ, chưa tiến lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí có những nước đi theo xu hướng tư bản chủ nghĩa. Ngay cả Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sau khi tan rã lại quay trở lại con đường tư bản chủ nghĩa gia nhập NATO, một liên minh quân sự của các nước đế quốc mà cách đây không lâu là một đối trọng của các nước Đông Âu.

Đối với Hồ Chí Minh và Đảng ta ngay từ đầu đã xác định rõ con đường đi của mình là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”7. Đây là một quyết định sáng suốt, dứt khoát có ảnh hưởng đến vận mệnh và tương lai của đất nước ta, dân tộc ta. Chính nhờ giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên sau khi giải phóng một nửa đất nước ở miền Bắc vào năm 1954 và giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975, Đảng ta chủ trương thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và 25 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước tuy còn nhiều khó khăn, thử thách lớn lao phải vượt qua, nhưng những thành tựu kinh tế – xã hội đạt được trong mấy chục năm qua nhất là 15 năm đổi mới đất nước có ý nghĩa quan trọng. Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: nước ta đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Với đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng ta, đất nước ta tiếp tục phát triển đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

3. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, chống chia rẽ, bè phái

Đại đoàn kết dân tộc là một tư tưởng lớn, thường trực trong con người Hồ Chí Minh. ở Người, hai từ Đoàn kết được vận dụng nhuần nhuyễn trong mỗi hành động, mỗi lời nói đối với mọi người ở đâu, bao giờ Người cũng luôn luôn nói đến đoàn kết nhất trí, nói đến sức mạnh của tập thể, của cộng đồng. Bởi lẽ, đó chính là nguyên nhân dẫn đến mọi thắng lợi, biến yếu thành mạnh, biến khó thành dễ. Người nói “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Chính nhờ có đoàn kết nhất trí, chung sức, chung lòng mà từ buổi bình minh của lịch sử và trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước ông cha ta đã chiến thắng biết bao kẻ thù, vượt qua biết bao gian lao thử thách để giữ cho sự phát triển vững bền của đất nước sự trường tồn của con Lạc, cháu Hồng.

Ngay trong những thời điểm kháng chiến ác liệt nhất chống kẻ thù xâm lược, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn Đảng toàn quân toàn dân đoàn kết chống kẻ thù. Người hiệu triệu: “Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc”. Và “Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng vào sức mạnh đoàn kết chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn răng chịu đựng nền tự do muôn ngàn đời sắp tới thì cũng bỏ công. Tướng sĩ trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ, cố gắng làm đúng bốn chữ cần, kiệm, liêm, chính thì cuộc trường kỳ kháng chiến của chúng ta nhất định vững vàng”8.

Hồ Chí Minh không chỉ là người thừa kế và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc ta từ ngàn xưa mà Người còn là một tấm gương sáng về thực hiện đoàn kết. Nội hàm về đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, nó bao hàm cả sự khoan dung đối với mọi người và sự đấu tranh tự phê bình và phê bình trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đoàn kết tất cả các lực lượng, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc, đoàn kết trong đảng và ngoài xã hội, đoàn kết Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. “Sự đoàn kết nhất trí giữa Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta trở thành một lực lượng vô cùng to lớn. Nó giúp ta vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ. Nó rèn luyện cho chiến sĩ, cán bộ, đồng bào ta trở thành những người anh hùng. Do đó chúng ta đã đánh thắng các liên minh ghê tởm giữa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai”.9

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đoàn kết nhất trí, làm sao cho triệu người như một, đồng tâm hiệp lực nhất hô bá ứng thì bất cứ nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trước lúc đi xa Người còn căn dặn Đảng ta “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con người của mắt mình”.Và không chỉ thế, Hồ Chí Minh còn quan tâm đến sự đoàn kết quốc tế, đến các đảng cộng sản anh em. Người tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhưng cũng rất đau lòng vì sự bất hòa của các đảng anh em và “mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đại đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý, có tình”.

Đối với Hồ Chí Minh chỉ có một nguyên tắc là đoàn kết nhất trí, do đó Người rất ghét những tư tưởng chia rẽ bè phái. Coi đó như một loại kẻ thù nguy hiểm cần phải chống lại, cần phải kiên quyết đấu tranh. Nếu không sẽ làm suy yếu nội bộ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng với chế độ. Trong thực tế Đảng ta đã vận dụng đúng đắn tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh nên đã tập hợp được tất cả mọi lực lượng, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác cho đến thắng lợi hoàn toàn.

4. Tư tưởng Hồ Chi Minh về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại

Ngay trong những ngày đầu tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy một sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam – một dân tộc anh hùng có bốn ngàn năm lịch sử, một dân tộc giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, dân tộc này vẫn ngẩng cao đầu, không chịu khuất phục trước lưỡi lê, họng súng và uy vũ của quân thù. Nhưng Hồ Chí Minh cũng tự đặt ra cho mình một câu hỏi. Vì sao, với một dân tộc anh hùng như vậy, nhưng không đánh đuổi được thực dân Pháp xâm lược, mà phải chịu 80 năm đô hộ? Phải chăng, lúc đương thời chưa có những lãnh tụ cách mạng đủ sức, đủ tầm để vạch ra đường lối đúng đắn chống thực dân, phong kiến. Phải chăng, ông cha ta chưa biết khơi dậy sức mạnh của cả dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc? Về một khía cạnh nào đó những vấn đề nêu trên thật có lý, nhưng không hoàn toàn đúng. Bởi, ngoài những lý do đó còn có vấn đề nghệ thuật lãnh đạo cách mạng, biết đánh và biết thắng kẻ thù, biết kết hợp sức mạnh bên trong và sức mạnh bên ngoài, sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đã có công lao to lớn trong việc gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Người luôn coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Do đó, Người chủ trương khơi dậy sức mạnh của dân tộc, động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn dân, huy động tối đa sức người, sức của vào công việc kháng chiến và kiến quốc. Mặt khác, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, của các đảng cộng sản anh em cả về tinh thần lẫn vật chất, cả đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao làm cho kẻ thù ngày càng bị cô lập bị chia rẽ và suy yếu.

Lịch sử đấu tranh chống thực dân, đế quốc và phong kiến của nhân dân ta đã chứng minh, trong những thời điểm khó khăn, phức tạp nhất, quyết liệt nhất, nếu biết phát huy sức mạnh tổng hợp từ bên trong và bên ngoài, biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại thì sẽ nhân sức mạnh của cách mạng, của dân tộc lên gấp nhiều lần. Và đó là một trong những nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng, cho sự phát triển bền vững của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

TS. Phạm Hảo (Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 4(41)/2000)

hochiminhhoc.com

Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản

TCCSĐT – Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là một tư tưởng khoa học và cách mạng. Nó được Đảng ta vận dụng trong toàn bộ tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập và tiếp tục theo đuổi lý tưởng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, mọi sự hiểu lầm hay cố tình xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải tiếp tục được đấu tranh loại bỏ để làm cho tư tưởng vĩ đại ấy ngày càng trong sáng hơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt Nam. Người đã để lại một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng vừa phải giành độc lập dân tộc thực sự, vừa phải giải quyết vấn đề dân chủ triệt để, giải phóng nhân dân lao động hoàn toàn thoát khỏi áp bức, bóc lột. Và, luận điểm trung tâm, xuyên suốt để giải quyết triệt để cả hai vấn đề ấy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, như thế, vấn đề dân tộc cần phải được giải quyết theo lập trường của giai cấp vô sản. Gần một thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân tộc Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, căn bản, có ý nghĩa lịch sử và thời đại.

Thế nhưng, gần đây lại có luận điểm cho rằng: “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Đây là một luận điểm không hiểu hoặc cố tình không hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó làm mất đi một “tính từ” không chỉ làm thay đổi ngữ nghĩa của tiếng Việt, mà như vậy, nó làm mất đi sự hoàn hảo, làm biến dạng một khái niệm.

Vấn đề dân tộc luôn gắn liền với vấn đề giai cấp. Chủ nghĩa dân tộc bao giờ cũng bảo vệ lợi ích, dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định, không có chủ nghĩa dân tộc phi giai cấp, chủ nghĩa dân tộc chung chung, cải lương. Lịch sử đã cho thấy, từ khi dân tộc xuất hiện cho đến nay, giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất thống trị luôn nắm quyền thống trị dân tộc. Giai cấp thống trị dân tộc bao giờ cũng giải quyết vấn đề dân tộc, bảo vệ độc lập, tự chủ và phát triển dân tộc theo hình ảnh và lợi ích của giai cấp mình. Vì thế, chủ nghĩa dân tộc, với tính cách là hệ tư tưởng chính trị và tâm lý đòi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc, bao giờ cũng phụ thuộc vào lập trường, quan điểm của giai cấp thống trị dân tộc.

Gắn liền với các giai cấp đã nắm quyền thống trị dân tộc là các cách tương ứng bảo vệ độc lập, tự chủ và phát triển dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc. Giai cấp phong kiến, tư sản và vô sản nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc khác nhau. Nhân loại từng biết, chủ nghĩa dân tộc truyền thống thể hiện lòng yêu nước lâu đời của một dân tộc, chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa dân tộc vô sản, chủ nghĩa dân tộc cách mạng, chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi… Không có dân tộc phi giai cấp. Chưa có và chừng nào còn giai cấp sẽ không có chủ nghĩa dân tộc phi giai cấp. Chủ nghĩa dân tộc luôn mang tính giai cấp, chủ nghĩa dân tộc luôn có “tính từ” như đã nói.

Cũng cần lưu ý rằng, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã rất chú ý bản chất giai cấp trong khi đề cập đến chủ nghĩa dân tộc. Ngay từ những năm đầu đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã phân biệt rõ “chủ nghĩa dân tộc bản xứ” – chủ nghĩa dân tộc truyền thống ở các nước thuộc địa, với “chủ nghĩa quốc tế” – chủ nghĩa dân tộc theo lập trường của giai cấp vô sản. Người viết “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước… Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản… Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(1). Người luôn nhắc nhở khi giải quyết vấn đề dân tộc phải đứng vững trên lập trường vô sản, tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô-vanh cũng như chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại.

Do vậy, khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là “chủ nghĩa dân tộc” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ nội dung cách mạng, tiên tiến nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. V.I.Lê-nin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”(2).

Đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam rên xiết dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành, với lòng yêu nước, thương dân, với nhãn quan chính trị sắc sảo đã nhận thấy không thể cứu nước và giải phóng dân tộc theo cách cũ, chẳng hạn, phong trào Cần Vương, đại biểu cho hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến; phong trào nông dân Yên Thế mà thực chất cũng theo khuynh hướng tư tưởng phong kiến, cũng không thể theo con đường của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, đại biểu cho khuynh hướng tư tưởng tư sản dân tộc thuần tuý…

Với quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, sau gần mười năm qua nhiều châu lục, tìm hiểu chủ nghĩa thực dân, đế quốc cả ở “chính quốc” và thuộc địa của chúng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được xu hướng phát triển tất yếu của thời đại, Người đã gặp chủ nghĩa Mác – Lê-nin và trở thành người cộng sản. Người cộng sản Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc…”(3) Người chỉ rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(4).

Bằng sự phân tích sâu sắc trên cơ sở cứ liệu lịch sử chính xác, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa thấy rằng, công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không thể đi theo con đường cách mạng tư sản, vì đó là “cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(5). Con đường đúng theo Nguyễn Ái Quốc là con đường Cách mạng Tháng Mười Nga – con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư (Các Mác- TG)và Lê-nin”(6).

Người rút ra kết luận: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc gắn bó thống nhất với tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, trong thời đại ngày nay, con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc do đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo sẽ là tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Bởi: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7). Và theo Người, chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do; về bản chất, chủ nghĩa xã hội là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm là không hưởng. Đó cũng là ước nguyện cháy bỏng của Người khi ra đi vào cõi vĩnh hằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(8).

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập, trong Chính cương vắn tắt do Người khởi thảo đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong triển vọng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người đã làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đặt nền tảng cho bước chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Người khẳng định: chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội, và chỉ có làm cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững những thành quả do sự nghiệp giải phóng dân tộc mang lại.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, người chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này “là ra sức xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(9). Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 3-1960), luận điểm này đã được tái khẳng định, những năm tháng cuối đời, Người vẫn không quên căn dặn đảng viên: “không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới”(10). Chỉ hơn một tháng trước khi từ trần, trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Nhân đạo, Người đã tiếp tục khẳng định thêm một lần nữa: “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới”(11).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ xã hội đã định hướng chính trị, chỉ đạo nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm nghiệm, khẳng định thành công trong giai đoạn Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (1945-1954), giai đoạn tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, trong đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là cơ sở vững chắc của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà (1954-1975), cũng như giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn kế tiếp, đặc biệt là nó vẫn luôn có ý nghĩa thời sự đối với công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

Hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc phải gắn liền với quyết tâm chính trị lớn nhằm đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” đang được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới nhằm ra sức phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(12).

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chính là luận điểm trung tâm, nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một đóng góp của cách mạng Việt Nam vào kho tàng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đại hiện nay. Thực tiễn cách mạng đã chứng tỏ sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam cần thiết, có thể và hiện thực đã được giải quyết theo lập trường của giai cấp vô sản, chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vì vậy thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản.

Kết luận trên cũng có nghĩa là luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một cách hiểu và diễn đạt không chính xác, không đầy đủ và xuyên tạc tư tưởng của Người. Luận điểm sai trái ấy đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – tư tưởng chỉ đạo chiến lược lớn xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam. Rõ ràng luận điểm ấy muốn Việt Nam từ bỏ ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, từ bỏ con đường mà dân tộc ta đã lựa chọn và quyết hy sinh phấn đấu trong hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu có ý đồ chính trị rõ ràng, muốn “lập lờ đánh lận con đen”, muốn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thực chất là cổ suý cho quan điểm muốn nước ra từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Tại Đại hội XI, Đảng ta chỉ rõ bài học đầu tiên của quá trình 20 năm đổi mới là: ”Phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(13). Mọi sự tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự nhận thức chưa đầy đủ, chưa hiểu hoặc cố tình xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều đó sẽ dẫn đến không nhận rõ mục tiêu chính trị của Đảng; mơ hồ, thậm chí dao động, sự mập mờ về tư tưởng bởi không nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; và tất yếu trong hành động sẽ dẫn đến mất định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự mơ hồ về chính trị, dao động về tư tưởng, mất định hướng trong hành động như vậy sẽ là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước mà chúng ta cần tích cực, chủ động đấu tranh ngăn chặn, khắc phục.

—————————————

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000, t1, tr 466-467
(2) V.I.Lê-nin: Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t23, tr 57
(3)Hồ Chí Minh. Sđd, t1, tr 461
(4) Hồ Chí Minh. Sđd, t2, tr 268
(5) Hồ Chí Minh. Sđd, t3, tr 268
(6) Hồ Chí Minh. Sđd, t3, tr 280
(7) Hồ Chí Minh. Sđd, t4, tr 56
(8) Hồ Chí Minh. Sđd, t4, tr 161
(9) Hồ Chí Minh. Sđd, t9, tr 156
(10) Hồ Chí Minh. Sđd, t12, tr 93
(11) Hồ Chí Minh. Sđd, t12, tr 474
(12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 tr 266
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, sdd , tr 70

Dương Quốc Dũng
Đại tá, PGS, TS, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội nhân văn quân đội, Bộ Quốc phòng.

tapchicongsan.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người

Copy1111 804152009164049 copy.pngYêu thương tất cả chỉ quyên mình. Ảnh: Tuấn Anh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản ủa toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”. Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình”. Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những “người nô lệ mất nước” và “người cùng khổ”. Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm “con người” của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm “giai cấp vô sản cách mạng”. Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc biệt là nông dân). Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn về cách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v…) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: “Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không “dựa vào lực lượng của toàn dân”. Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc”; “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân” xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm của Ăngghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay”. Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, “cần có con người xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: con người là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.

Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thương con người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, “lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại” là “không bao giờ thay đổi”. Người có một niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm. Từ những năm tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tư của những người dân lao động trong nước và nước ngoài. Người đã khẳng định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”1. Tin vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh) về con người. Nếu như quan điểm của Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân”, thì các nhà Nho phong kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực “lấy dân làm gốc”, mặc dù cũng chủ trương khoan thư sức dân”, nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một “kế sách”, một phương tiện để thực hiện mục đích “trị nước”, “bình thiên hạ”. Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: “Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử”.

Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền thống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu nước khác có cùng quan điểm “ái quốc là ái dân”, nhưng điểm khác cơ bản trong tư tưởng “ái dân” của Người là tình thương ấy không bao giờ dừng lại ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện đến cùng sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao, xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm người cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như toàn bộ tư tưởng về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nó tồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia với quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam, Người đồng thời yêu thương nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.

Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của “cái cá nhân” và “cái xã hội”, con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.

Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là “đầy tớ trung thành” có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng “chăn dân” của những người cầm đầu nhà nước phong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán với tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng và qua các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung tâm trong “chiến lược phát triển toàn diện”; đang là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

TS. Vũ Thị Kim Dung

hochiminhhoc.com

Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam – Hồ Chí Minh, một tầm nhìn triết học

Dân tộc Việt Nam ta trong quá trình đấu tranh và xây dựng đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Việt Nam Và ngày nay đã phát triển lên đỉnh cao mới mà ở đó chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết tinh cả chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn Đông Tây và nhân lại xưa nay- có tác dụng định hướng lớn và phát huy cao độ nội lực trong phát triển, hiện đại hóa và hội nhập. Chủ nghĩa nhân văn này không chỉ là giá trị về mặt văn hóa mà còn có tầm tinh hoa, tầm triết học, thực sự là như một triết học. Nó cũng là một cơ sở và nội dung chủ yếu của chủ nghĩa duy vật nhân văn. Do đó, khác với nhiều bài viết khác cùng chủ đề, bài viết này là luận ở góc đội triết học là chính.

1634086016965468750.jpg

I- Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam hướng tới chủ nghĩa nhân văn mácxít cần phát huy trong thời kỳ mới

1- Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam

Trong lịch sử tư tưởng và văn hóa Việt Nam ta, thấy rằng có một số nhà trí thức hoặc một số lãnh tụ của dân tộc thường bàn về các triết lý Nho giáo, triết lý Phật giáo, triết lý yêu nước và nhân ái Việt Nam hoặc sau này là một số triết lý và tư tưởng phương Tây như là những tư tưởng triết học về giải phóng con người (cá nhân) trần gian gắn liền với chính trị, gắn liền với đời sống nhân sinh.

Công bằng mà nói dân tộc ta ít để lại những nhà triết học và những lý thuyết triết học thật sự. Nhưng điều đó không có nghĩa là dân tộc ta không có tư tưởng triết học. Triết học là tinh hoa của một nền văn hóa nhất định. Nền văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa lâu đời nên có chiều sâu triết học của nó.

Chúng tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu và giáo dục có hệ thống chủ nghĩa nhân văn Việt Nam nhất là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là việc làm thật sự cần thiết. Gần đây có một số sách đã xuất bản nói về lịch sử tư tưởng Việt Nam, lịch sử văn hóa Việt Nam, tư tưởng triết học Việt Nam, thực chất là theo hướng đó. Tuy rằng việc làm trên cần được tốt hơn nữa để tạo ra sự nhận thức nhất quan về bản sắc, bản linh và sức mạnh văn hóa Việt Nam. Có thể nói rằng chủ nghĩa nhân văn (yêu nước và nhân nghĩa) Việt Nam là kết tinh, thể hiện tập trung và nổi bật nhất bản sắc và bản lĩnh đó. Tinh túy ấy thực chất là tư tưởng triết học Việt Nam từ truyền thống lên hiện đại.

Để hiểu những tư tưởng triết học của nền văn hóa ấy, chúng ta phải làm nhiệm vụ phân tích, hệ thống hóa nó, xây dựng thành một lý thuyết triết học thật sự mang sắc thái dân tộc Việt Nam, trí tuệ và tình cảm Việt Nam. Ngày nay chúng ta có điều kiện làm việc đó dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống này bao gồm những tư tưởng của các nhà chính trị các nhà trí thức và bao gồm cả những triết lý cơ bản trong dân gian. Tất cả những điều đó tổng hợp lại thành một hệ thống giá trị thể hiện cả mặt trí tuệ, ý chí, khí phách, tình cảm và đạo lý. Hệ thống đó có nội dung đa dạng, nhiều cấp độ nhưng nói chung có bản chất nhân bản, nhân đạo, nhân văn. Do đó có thể khái quát bằng một tên gọi là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam trong suốt 4000 năm lịch sử có tư tưởng cốt lõi của nó. Đó là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và nhân nghĩa Việt Nam. Có thể sử dụng hai khái niệm của chủ nghĩa này để diễn đạt các phương diện tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Nhưng theo chúng tôi chủ nghĩa nhân văn rộng hơn khái niệm chủ nghĩa yêu nước, bởi vì tư tưởng yêu nước là tư tưởng nhân văn chủ đạo của dân tộc Việt Nam, bên cạnh đó còn có thành ohần cơ bản khác là nhân nghĩa Việt Nam. Do đó, gần đây khái niệm về chủ nghĩa nhân văn Việt Nam đã được giới khoa học chú ý nghiên cứu có hệ thống và sâu hơn nhưng vẫn chưa có chiều sâu triết học.

Có thể trình bày chủ nghĩa nhân văn Việt Nam theo quá trình lịch sử tư tưởng gắn với quá trình lao động và đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Nhưng trước hết chúng tôi muốn trình bày về mặt lôgíchh, tổng quát mang tính lý luận triết học, làm nổi bật những nội dung quan trọng của nó. Điều đó còn nhằm mục đích luận chứng cho quan niệm chủ nghĩa nhân văn Việt Nam với tư cách là một triết học theo cách nhìn hiện đại ngày nay.

Có thể nói rằng trung tâm của sự suy nghĩ, sự biện luận, sự cảm nhận và hành động của con người Việt Nam là xoay xung quanh số phận của con người, số phận của dân tộc trong quá trình đấu tranh và lao động. Đúng là dân tộc ít bàn về thế giới tự nhiên mà bàn về số phận của con người và dân tộc mình. Số phận của con người và dân tộc từng được nhìn dưới góc độ sau đây: số phận của con người trong chế độ áp bức bóc lột, bất công, chuyên chế và trước sức mạnh tàn khốc của thiên nhiên, số phận này thể hiện một mặt là nghèo đói, bệnh tật, một mặt là bị áp bức, đàn áp. Một góc độ nữa của số phận con người là số phận của dân tộc trước họa xâm lăng của ngoại bang với sự chết chóc và bị đàn áp diễn ra liên miên trong nhiều thế kỷ. Bàn về số phận của con người, nỗi khổ đau, tủi nhục của con người trong tư tưởng Việt Nam như vậy là khác với tư tưởng Phật giáo mặc dù có sự tương đồng, đồng cảm nào đó. Những nhà chính trị, những hiền nhân và kể cả nhân dân lao động đi tìm nguyên nhân của số phận con người và dân tộc Việt Nam trước thiên tai địch họa. Cũng có thể có ý kiến cho rằng nỗi khổ nhục như vậy là do thiên mệnh. Không, đa số các bậc trí thức và nhân dân đều nhận thấy rằng nỗi khổ chính là do con người gây nên trước hết là giặc ngoại xâm, sau nữa là quan lại tham tàn. Đọc Tuyên ngôn của Lý Thường Kiệt, Binh pháp của Trần Hưng Đạo, thơ Nguyễn Du, Đại Cáo Bình Ngô của Lê Lợi, Nguyễn Trãi, đọc các tác phẩm Phan Bội Châu, đọc Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh và tục ngữ ca dao Việt Nam chúng ta đều cảm nhận được đều đó. Sự nhận thức những vấn đề nói trên của dân tộc ta vừa bằng lý trí vừa bằng tình cảm, vừa bằng hữu thức vừa bằng vô thức. Ở đây không tuyệt đối duy lý hoặc, duy tình mà lý tình kết hợp, có lý có tình.

Người Việt Nam cảm nhận mình là con người, phải vươn lên sống xứng đáng là con người trong cộng đồng dân tộc, do đó rất đề cao đạo lý làm người, đồng thời đấu tranh chống áp bức bất công để được sống xứng đáng với con người. Khát vọng ấy, lý tưởng ấy là một hiện thực khác quan. Dân tộc Việt Nam tự xác định là một dân tộc, tự quyết, tự tôn và độc lập mang tính tất nhiên như trời đất,có đất đai lãnh thổ, phong tục, văn hóa, văn hiến riêng biệt. Đó là dân tộc không chịu làm nô lệ, không có gì quí hơn độc lập tự do. Đó cũng là khát vọng và xu hướng khách quan của lịch sử. Tất cả đã tạo thành sức mạnh, bản lĩnh Việt Nam.

Con đường để trở thành một dân tộc độc lập, một con người tự do không phải chỉ là con đường cầu mong, “cầu trời khấn phật”, hoặc đơn giản tu thân tề gia, hoặc thực nghiệm tâm linh để giải thoát mà chủ yếu là con đường dấn thân vào cuộc đấu tranh trong hiện thực xã hội với mọi thế lực xâm lược và áp bức nhân dân. Nhận thức rõ kẻ thù của dân tộc và nhân dân, tìm con đường đấu tranh bằng sức mạnh của nhân dân dựa vào thế núi non, dựa vào lòng dân, dựa vào sức mình mà sáng tạo và chiến thắng. Trải qua thực tiễn đoàn kết xây dựng và đấu tranh như vậy mà đúc kết lên thành những quan niệm những tư tưởng, những phương sách để đấu tranh và chiến thắng. Tư duy như vậy là một tư duy thấm nhuần tính chất duy vật, thực tiễn và biện chứng, đồng thời thấm nhuần tinh thần nhân đạo và nhân văn.

Con người và dân tộc Việt Nam mang trong mình những phẩm chất yêu và thương, lý và tình kết hợp. Yêu hòa bình, yêu tự do, yêu công bằng và lẽ phải. Yêu cái đẹp, yêu chân lý và thương người như thể thương thân, bầu ơi thương lấy bí cùng. Tóm lại là tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân, quý trọng độc lập, tự do, thủy chung, từ bi hỉ xả, bao dung, bác ái, lạc quan và yêu đời. Do đó trong khổ đau vẫn vươn lên, trong thất bại vẫn hi vọng thành công. Tin ở sức mạnh đoàn kết của cộng đồng, tin ở sức mạnh của nhân dân, dân là gốc của nước. lật thuyền mới biết dân mạnh như nước. Dân tộc Việt Nam biến sức mạnh căm thù thành sức mạnh chiến thắng. Nhưng khi kẻ thù chịu thua trận thì sẵng sàng dối xứ khoan dung, tử tế, “trải chiếu hoa” và cấp lương thực cho về nước, là lầy nhân nghĩa tháng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo. Trong hành động của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam luôn luôn thể hiện việc giải quyết đúng đắn giữa mối quan hệ giữa tình và lý, giữa tình thương và lẽ phải, giữa thiện và ác. Do đó tư tưởng triết học của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam thật sự mang tính chất nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Triết học đó đề cao con người, tin yêu vào sức mạnh của con người trần thế. Triết học đó cũng giải quyết tốt mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng của cuộc đấu tranh và tạo dụng, giải quyết mối quan hệ giữa gia đình với đất nước, làng xóm với tổ quốc, giữa những con người cùng chung một cảnh ngộ cần đoàn kết để đấu tranh và phát triển và đúng là đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công thành công, đại thành công như sau này chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết. Triết học đó cũng giải quyết mối quan hệ giữa thực tại và ý thức, nhu cầu và hành động. Từ đó phát huy sức mạnh của nội lực để thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Dân tộc Việt Nam trong quá trình phát triển, xây dựng và đấu tranh luôn luôn có sự giao lưu và tiếp nhận các luồng tư tưởng và văn hóa của các nước khác ngày càng mở rộng. Nhưng đó là quá trình giao lưu, tiếp nhận và sáng tạo, giữ gìn bản sắc Việt Nam, làm phong phú tư tưởng, trí tuệ, tình cảm Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Đạo Nho, đạo Phật ở đây đã trở thành đạo Nho đạo Phật Việt Nam khi bao hàm tư tưởng yêu nước và bị chi phối bởi tư tưởng yêu nước Việt Nam. Đạo Phật vào đây cũng vậy Và sau này tinh hoa văn hóa phương Tây, nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin đã tiếp thu và vận dụng ở Việt Nam cũng vậy. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế công nhân, giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc và xã hội, gắn văn hóa nhân văn của dân tộc với khoa học công nghệ hiện đại càng thể hiện rõ điều đó.

Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam có nguồn gốc bản địa và tố chất của văn hóa Việt Nam nhưng cũng được bồi bổ bằng chủ nghĩa nhân văn phương Đông và phương Tây và cuối cùng hoà nhập với chủ nghĩa nhân văn mácxít, được nâng lên một trình độ mới và thể hiện tập trung trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Chất nhân văn trong con người Hồ Chí Minh được nhiều người mô tả một cách sinh động. Theo J.Roux thì đó là “người kết hợp tới mức nhuần nhuyễn phi thường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước tuyệt vời và tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống với lòng nhân đạo đối với con người”. Còn N. K. Sing thì “Hồ Chí Minh là một con người quần chúng… biết kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ và ý chí kiên quyết nhất”; “là người gắn kết một cách tự nhiên sự tao nhã cao quí với tác phong dễ gần gủi, rất dân chủ giữa tự do không nghi thức, thoải mái và tự nhiên với thái độ đàng hoàng và thận trọng”. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam thấm nhuần tinh thần trong cuộc đời của con người Việt Nam là “đem hết sức mình để đem lại cơm ăn, nước uống cho những ai đói khát, bênh vực cho những kẻ yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ” (Montaron, Báo Bằng chứng Thiên Chúa giáo) . Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là một tình yêu lớn mà “ngay cả trong đời sống hàng ngày đều dành chỗ cho mọi người, không sót một ai… lo lắng chu đáo cho mỗi người việc làm, đời sống và học tập, vừa nghiêm khắc đòi hỏi, vừa yêu thương dìu dắt” (Phạm Văn Đồng). Theo Inđra Gandi cho rằng “Tính độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hi sinh và lòng dũng cảm sẽ cổ vũ cho các thế hệ mai sau” (trích theo PGS. PTS Bùi Khánh Thế: Bản sắc văn hóa – tiếp cận từ ngôn ngữ trong Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vai trò của nghiên cứu và giáo dục, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999, tr 561) .

Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam như một dòng chảy của dân tộc suốt chiều dài lịch sử đất nước. Từ đỉnh cao của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, ta nhìn lại khơi nguồn, hệ thống hóa để xây dựng thành chủ nghĩa nhân văn Việt Nam ngày nay. Cần phải lý luận hóa tư tưởng, trí tuệ và tình cảm nhân văn ấy. Đồng thời lại thực tiễn hóa nó trong quá trình xây dựng xã hội mới như một tư tưởng chỉ đạo cơ bản có ý nghĩ thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận. Điều đó là nằm trong bản chất của chủ nghĩa xã hội chân chính khoa học và nhân bản. Chủ nghĩa xã hội là một chủ nghĩa nhân đạo hiện thực và hoàn bị như sự khẳng định của chủ nghĩa Mác – Lênin và thể hiện rất rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam ngày nay là thời đại mới của chủ nghĩa nhân văn. Có thể coi chủ nghĩa nhân văn từ thế kỷ XIX về trước là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam truyền thống. Chủ nghĩa nhân văn từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo cho đến ngày nay gọi là chủ nghĩa nhân văn cách mạng mà tiêu biểu nhất là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Quá trình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội gọi là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa nhân văn trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa nhân văn có tính tự giác cao, có tính hệ thống. Về mặt thực tiễn, chủ nghĩa nhân văn này có cơ sở kinh tế xã hội mới, những nội dung và hình thức mới, những tính chất và trình độ mới. Chẳng hạn chủ nghĩa nhân văn hiện nay bao hàm cả vấn đề nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho tất cả nhân dân. Chủ nghĩa nhân văn này bao hàm cả vấn đề dân chủ, vấn đề công bằng xã hội, bao hàm cả giải phóng cá nhân và cộng đồng, xóa bỏ nghèo đói tiến lên giàu mạnh văn minh. hướng tới tôn trọng tư do và phát triển toàn diện con người. Nói tóm lại là những khát vọng nhân đạo và nhân văn trong các lý tưởng tốt đẹp của mọi tôn giáo, mọi xu hướng tư tưởng tiến bộ được thực hiện và dần dần đảm bảo đầy đủ ngày càng cao cùng với quá trình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Chúng tôi nhất trí với nhận định sau đây của PGS PTS Bùi Khánh Thế cho rằng: chủ nghĩa nhân văn Việt Nam luôn luôn là cốt lõi, là hằng thể ẩn tàng trong những biến thể của bản sắc văn hóa Việt Nam. Bằng vào thực tế và cách suy nghĩ biện chứng chúng ta có thể đoán trước rằng bản sắc văn hóa Việt Nam rồi đây bước vào thế kỷ XXI sẽ có thể có thêm những biến thể mới, nhưng chừng nào nhân tố hằng thể ấy – chủ nghĩa nhân văn Việt Nam – còn bảo tồn thì bản sắc văn hóa Việt Nam vẫn sẽ không bị phai nhạt “chủ nghĩa nhân văn Việt Nam cũng như cấu trúc ngữ pháp đối với một ngôn ngữ”( PGS. PTS Bùi Khánh Thế: Bản sắc văn hóa – tiếp cận từ ngôn ngữ trong Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vai trò của nghiên cứu và giáo dục, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999, tr 561) . Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam là nền tảng bền vững, cái bất biến trong cái vạn biến. Đó là cái sức mạnh bất chiến bất thắng từ xưa đến nay và cả sau này của dân tộc Việt Nam. Đó là sức mạnh tạo ra cấp số nhân trong vănhóa Việt Nam cả phương diện không gian văn hóa, và thời gian văn hóa, là “sự hòa hợp tuyệt vời giữa quá khứ và hiện tại”, “thời gian tích tụ, như ngưng đọng lại thành một sức mạnh”, “một thời gian đông đặc, một thời gian không hề vơi đi”, “không làm cho quá khứ chết thêm mà làm sống lại quá khứ” như lời khẳng định của nữ sĩ Blaga Đimitrôva trong tác phẩm Ngày phán xử cuối cùng (trích theo GS. TS Nguyễn Duy Quý)

Do đó, cần phát huy và vận dụng chủ nghĩa nhân văn Việt Nam – Hồ Chí Minh như là nhân sinh quan và phương pháp luận, hệ tư tưởng và đạo lý trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và bảo vệ tổ quốc thân yêu của mình. Nhưng làm sao đó thế hệ trẻ tiếp nhận một cách có hệ thống, sâu sắc chủ nghĩa nhân văn ấy như một nội lực và sức mạnh thần kỳ để vượt qua mọi khó khăn thử thách trên bước đường đi tới. Câu trả lời là tiếp tục nghiên cứu, giáo dục và thể hiện trong mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước để dễ dàng đi vào cuộc sống.

2- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam- tập trung bản sắc, bản lĩnh và động lực của văn hóa nhân văn Việt Nam

Từ xưa đến nay, chúng ta đều thừa nhận rằng ở Việt Nam có một chủ nghĩa yêu nước – đó là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Giới nghiên cứu, các nhà khoa học cũng đã đề cập rất nhiều, từ các góc độ khác nhau đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Nhưng nhìn chung vẫn thiên về tình cảm, ý chí, tinh thần yêu nước, chứ chưa đề cập nhiều về mặt tư tưởng, về mặt trí tuệ có hệ thống. Hoặc vấn đề được trình bày nhiều về phương diện thông sử mà, chưa đề cập có hệ thống về mặt văn hóa học. Nghĩa là vấn đề chủ nghĩa yêu nước- sự thể hiện tập trungbản sắc,bản lĩnh , động của văn hóa và xã hội Việt Nam chưa được nhìn đầy đủ ở cấp độ lý luận, cấp độ phương pháp luận.

Trước yêu cầu của sự phát triển ngày nay, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò động lực của văn hóa truyền thống, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời kỳ xây dựng mới, buộc chúng ta phải nghiên cứu sâu hơn, cơ bản hơn, có hệ thống hơn về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Và làm được điều đó không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn ý nghĩa về mặt giáo dục, và về mặt thực tiễn.

Tôi muốn có một cách nhìn nhận hơi khác hoặc nhận thức lại chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, trên cơ sở kế thừa sự nghiên cứu và đánh giá của giới khoa học nưóc ta, đặc biệt trong những công trình lớn có tính chất tổng kết về văn hóa và tư tưởng Việt Nam.

Trước hết, chúng ta đều thấy rằng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tình cảm, ý chí của dân tộc Việt Nam, có chiều sâu trong tâm linh, trong tâm tưởng dân tộc. Tình cảm, ý chí ấy là hết sức mãnh liệt, được kết tinh lại, trở thành những làn sóng ngầm và được thể hiện rõ nét nhất trong những thời kỳ dân tộc gặp nguy nan, phải cứu dân, cứu nước. Đó là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là những làn sóng ngầm mạnh mẽ đã nhiều lần nhấn chìm các thế lực xâm lược, đưa dân tộc đến bến bờ độc lập tự do. Đó là tinh thần không chịu làm nô lệ, không có gì quý hơn độc lập tự do, được hun đúc nên trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Nó có sức cố kết dân tộc trong việc chiến thắng thiên tai và địch họa.

Dân tộc nào cũng có tinh thần yêu nước, nhưng mức độ sâu đậm là khác nhau do hoàn cảnh lịch sử tạo ra. Cái độc đáo trong hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam là phải chống giặc ngoại xâm liên tục trong nhiều nghìn năm, trong nhiều thời đại với nhiều đế quốc to và hùng mạnh như chúng ta đã biết. Chính vì vậy, tinh thần yêu nước ở đây như một “tôn giáo” chính thống của dân tộc. Nó còn hơn cả một tôn giáo vì nó có chiều sâu tâm linh, chiều cao của niềm tin, chiều rộng của cộng đồng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ mọi người, toàn dân đánh giặc, cứu nước, sẵn sàng “tử vì đạo” yêu nước. Đạo yêu nước này không viễn vông cao xa, thoát tục, mà rất đời sống, nhưng cũng hết sức linh thiêng. Khắp đất nước ta đã có nhiều đền thờ các anh hùng dân tộc, những người có công đã xả thân hy sinh vì nước. Dân tộc ta coi Hùng Vương, Trần Hưng Đạo … Hồ Chí Minh như là một vị thánh. Đó là điều ít có ở các dân tộc khác. Nói chung, người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước nồng nàn, dù theo đạo hay không theo đạo nhưng đều bị thu hút bởi chủ nghĩa yêu nước. Và chủ nghĩa yêu nước ấy đã trở thành điểm sáng và sức sống chủ yếu trong tâm hồn họ.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không đơn giản là ý thức tinh thần, mà còn là khí phách dân tộc, là ý chí, là trí tuệ, là hành động đoàn kết, bất khuất, kiên cường, quật khởi trong hành động. Điều đó tạo thành chủ nghĩa anh hùng Việt Nam. Chủ nghĩa anh hùng Việt Nam là hành động thực của chủ nghĩa yêu nước. Trong sự nghiệp chiến thắng thiên nhiên xây dựng đất nước, nhất là sự nghiệp chiến thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ quyền tự quyết, quyền độc lập tự do của dân tộc, thì không chỉ làm nảy sinh hành động anh hùng ở một số người, một số tầng lớp đặc biệt nào đó, mà là ở tất cả mọi tầng lớp người, và ở trong tất cả các dân tộc của cộng đồng Việt Nam trong các giai tầng, trong các giới tính. Anh hùng vô danh hoặc anh hùng có tên tuổi hoặc hành động anh hùng đã trở thành phổ biến trong nhiều thời kỳ lịch sử đã hun đúc nên phẩm chất anh hùng của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam. Phẩm chất ấy được lưu giữ, di truyền trong gen của nhiều thế hệ. Hình tượng Thánh Gióng là một hình tượng nhân cách hóa, thần thoại hóa, dả sử hóa của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam. Trong thời chiến tranh cứu nước, khi nói rằng “ra ngõ gặp anh hùng” là hoàn toàn chính xác. Vì vậy, không chỉ yêu nước thành chủ nghĩa, mà anh hùng cũng thành chủ nghĩa, hai mà một

Chính vì chủ nghĩa ấy mà nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết trong thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước : “Có lúc dân lấy hạt muối cuối cùng nuôi cán bộ, ta mất hết còn gì đâu, còn lại cái anh hùng. Từ gốc ấy bỗng xuân về chớm nở, lại xanh chồi, rừng lộc biếc xanh um” !

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là tình cảm, không chỉ là hành động mà nó còn là trí tuệ của dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh phải đối đầu chống giặc ngoại xâm trong nhiều nghìn năm, trong nhiều thời đại du lúc thắng lúc thua nhưng cuối cùng đều đánh đổ được giặc xâm lăng, giành độc lập cho dân tộc. Trong môi trường thực tiễn đó đã tạo ra một kho tàng kinh nghiệmvà trí tuệ của dân tộc được đúc kết, trở thành có tính lý luận, có tính khoa học, có hệ thống đủ sức soi đường và trở thành vũ khí tinh thần của dân tộc, của toàn dân mà không có một thế lực nào, một vũ khí nào, có thể đè bẹp được. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được nâng lên ở trình độ tự giác, nhưng không phải được luận lý theo kiểu hàn lâm mà là theo kiểu lý luận thực hành, và không phải chỉ bàn luận trong sách vở mà trở thành triết lý trong dân gian trong các lời hịch cứu nước, trở thành cách suy nghĩ của cả một dân tộc yêu nước. Chẳng hạn dân thì nói rằng “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” hoặc tướng lĩnh đã nói rằng “Hết cỏ nước Nam mới hết người đánh Tây” hoặc “Bệ hạ muốn đầu hàng thì hãy cắt đầu thần trước”… Đó còn là cách nói có luận lý nước mất nhà tan, thà hy sinh tất cả, nhưng quyết không làm nô lệ, đó còn là phương pháp lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo, dựa vào dân với kế sâu rễ bền gốc, dựa vào thế núi non hiểm trở, xây dựng thành trong lòng dân hơn xây dựng thành lũy bằng đất đá v.v… Chính vì vậy chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là kết tinh trí tuệ của dân tộc và luôn luôn được bồi đắp mở rộng và có thể nói rằng đã xây dựng nên khoa học về chiến tranh nhân dân, khoa học về cứu nước, khoa học về sự nghiệp giải phóng dân tộc mà thể hiện cao nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh của thời đại chúng ta. Chủ nghĩa yêu nước như vậy có giá trị như một triết học nhân sinh cơ bản của Việt Nam. Dù rằng tư tưởng triết học trong lịch sử Việt Nam chịu ảnh hưởng và có kế thừa nhiều dòng triết học Đông – Tây, nhưng chủ nghĩa yêu nước với tinh thần, trí tuệ như vậy là triết học nhân sinh cơ bản của Việt Nam, trở thành cội nguồn, hạt nhân của các giá trị truyền thống Việt Nam.

Văn hóa truyền thống Việt Nam, trong đó trước hết là chủ nghĩa yêu nước tạo thành một hệ thống giá trị, nhưng chủ nghĩa yêu nước là giá trị lớn nhất, giá trị ấy thể hiện tập trung ở mệnh đề mà Hồ Chí Minh đã tổng kết, trở thành chân lý của dân tộc và thời đại là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Như thế, là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là hệ tư tưởng của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử. Dân tộc ta làm chiến tranh cứu nước và tự vệ luôn là những cuộc chiến tranh chính nghĩa, vì lợi ích chính đáng của dân tộc. Chúng ta không bao giờ xâm lược ai mà chỉ đánh quân xâm lược để khẳng định chủ quyền dân tộc.

Dân tộc ta hình thành sớm ngay từ thời dựng nước và hình thành dân tộc không giống như các dân tộc ở phương Tây sau này. Nó được hình thành không chỉ do những điều kiện tự nhiên, ngôn ngữ, văn hóa mà trưóc hết là trong cuộc đụng đầu với các thế lực ngoại bang. Do đó, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam phản ánh nguyện vọng, lợi ích, lý tưởng hiện thực trong sự hình thành, bảo vệ, tự khẳng định và phát triển dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn của Lý Thường Kiệt: Nam quốc sơn hà nam đế cư, Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư, Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!.

Hay tuyên ngôn của Nguyễn Trãi – Lê Lợi trong Đại cáo Bình Ngô đã khẳng định chủ quyền dân tộc, nền văn hiến và văn hóa lâu đời, khẳng định chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, lòng bao dung và trí tuệ của dân tộc. Hoặc Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là một bản tổng kết lịch sử trong thời đại ngày nay về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam gắn với chủ nghĩa quốc tế chân chính, không chỉ về mặt tinh thần, khí phách mà cả trí tuệ, tư tưởng của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam còn trở thành hệ quy chiếu, phương pháp nhìn nhận xem xét đâu là bạn đâu là thù, đâu là chính đâu là tà. Đâu là đạo đức, đâu là phi đạo đức. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là đạo lý của dân tộc Việt Nam có sức bền vững, trở thành cội nguồn của sức sống dân tộc. Giữ và phát huy được truyền thống ấy với việc tiếp thu của tinh hoa thời đại thì không có sự việc nào là không thành công.

Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người và đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, nâng chủ nghĩa yêu nước lên một tầng cao mới. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở thành một trong những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, và tất nhiên cũng là một trong những nguồn gốc chủ yếu hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, dù trong lịch sử gắn liền với các chế độ xã hội khác nhau trong lịch sử, nhưng đều như một dòng nước trong, ánh sáng tinh khiết trong đời sống tinh thần Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước ấy ngày nay thông qua tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nội dung quan trọng của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam và dân tộc Việt Nam trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó chủ nghĩa yêu nước ấy đang mang những nội dung mới, hình thức mới, tiếp tục đóng vai trò động lực, tiếp tục giải phóng mọi nguồn lực trong sự nghiệp chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu, chiến thắng mọi thế lực muốn diễn biến hòa bình đối với chế độ mới ở nước ta.

Gần đây cùng với vai trò của văn hóa truyền thống được nâng cao trong quan điểm phát triển theo lối mới, Đảng ta đã nhấn mạnh tiếp tục phát huy, phát triển chủ nghĩa yêu nước việt Nam trong thời kỳ mới hội nhập quốc tế để chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tiến đến dân chủ, giàu mạnh và văn minh. Chủ nghĩa ấy phải được phát huy, phát triển cả vầ mặt tình cảm ý thức, cả về mặt ý chí và khí phách, cả về mặt trí tuệ và tư tưởng, cả về mặt nhận thức và phương pháp luận.

Do đó, phải tiếp tục nghiên cứu nó sâu hơn, toàn diện và cơ bản hơn. Không chỉ về mặt thông sử và lịch sử văn hóa và cả về mặt lý luận. Đáng tiếc là chưa có một công trình lý luận nào tầm cỡ xứng đáng với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Đây không phải là đề cao mình, mà sự thật lịch sử là như vậy, chân dung của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là như vậy. Vai trò và sứ mệnh lịch sử của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là như vậy. Công tác tuyên truyền giáo dục về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam mà trong đó chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi vẫn chưa đạt đến một trình độ cơ bản, có hệ thống. Dù rằng việc này chúng ta đã làm nhiều với những hình thức khá sinh động và thực sự ít nhiều có hiệu quả. Nhưng làm điều đó trong chiến tranh cứu nước thường dễ hơn, nhưng trong hòa bình xây dựng thì khó hơn nhiều.

Trước thời cuộc phát triển kinh tế thị trường mở cửa; công nghiệp hóa – hiện đại hóa; hội nhập xu thế toàn cầu hóa thì nền văn hóa các dân tộc nói chung, ở nước ta nói riêng đang đứng trước những thử thách to lớn. Ở đây đòi hỏi nâng cao chủ nghĩa yêu nước lên một trình độ mới, nội dung mới để bảo vệ và phát triển dân tộc mình trước cuộc chiến tranh không tiếng súng về tư tưởng, về thông tin, về công nghệ, về kinh tế. Nhìn nhận một cách sâu sắc thì đây là thời điểm phải thức dậy ý thức dân tộc. Dân tộc, yêu nước bây giờ là tiến lên giàu mạnh về kinh tế và giàu mạnh về văn hóa, bảo vệ nền bản sắc văn hóa dân tộc, chủ quyền dân tộc, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, sức sáng tạo của trí tuệ Việt Nam.
Niềm tự hào của dân tộc bây giờ chủ yếu không phải là chiến thắng một kẻ thù xâm lược, trực tiếp mà là ở chỗ ra sức phát triển kinh tế xã hội để nâng cao vị thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Ngày xưa, kẻ thù thường khinh ta là quân man di, mọi rợ, nhưng khi ta thắng chúng thì chúng phải khâm phục và nhất là trong các cuộc chiến tranh cứu nước trong thế kỷ XX của dân tộc ta, thì Việt Nam đã trở thành lương tâm của thời đại, nhiều người nước ngoài đã từng ao ước sau một đêm ngủ dậy trở thành người Việt Nam. Chúng ta tự hào thời Bà Trưng, Bà Triệu, thời Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi, thời Quang Trung thì chúng ta tự hào thời dựng Đảng – tức thời đại Hồ Chí Minh, Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta. Nhưng thế giới còn khinh ta nghèo, không biết làm ăn kinh tế. Quả thật chúng ta còn là một trong hai mươi nước nghèo nhất thế giới, nếu xét về mặt kinh tế. Có nhiều nguyên nhân kể cả nguyên nhân chủ quan nhưng chủ yếu là do bị chiến tranh liên miên. Ngày nay chúng ta đã có hòa bình đang ổn định và phát triển, có nhà nước của dân, do dân và vì dân, Đảng tin dân – dân tin Đảng, một dân tộc thông minh và quật cường nhất định sẽ làm được sự nghiệp vì dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh. Ngày nay đã có cơ hội cho các dân tộc chậm tiến, vượt lên nhanh chóng trở thành giàu mạnh, văn minh. Các con rồng châu Á là một điển hình thuyết thục, chúng ta sẽ làm được điều mà các dân tộc đi trước trong sự nghiệp xây dựng kinh tế đã làm được.

Hơn mười năm đổi mới với những thành công bước đầu đã nâng cao vị thế nước ta trong hoàn cảnh mới; là một bằng chứng mà người nước ngoài không còn dám coi thường, họ đã bắt đầu thất sự phục hưng của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã chịu nhiều đau thương và mất mát…

Tất nhiên, chúng ta phải chiến thắng, vượt qua những trở lực không phải chỉ ở bên ngoài mà trước hết ở trong chính mình, ở trong Đảng cầm quyền, ở trong Nhà nước của dân, ở các cấp các ngành và ở mọi người dân yêu nước. Cùng với các sức mạnh và sự sáng suốt khác của thời đại mà ta có được, thì chủ nghĩa yêu nước là một cái chủ yếu trong đó.

Chúng ta rất tự hào có chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, có chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường, thu hút tinh hoa, trí tuệ và nhân tâm nhân lọai, nhất định sẽ thực hiện được khát vọng của dân tộc và của Hồ Chí Minh – anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của nhân loại.

II- Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh- một tầm cao mới

1- Di chúc Hồ Chí Minh và cơ sở triết học của chủ nghĩa nhân văn cách mạng

Có thể nói rằng Di chúc Hồ Chí Minh là một sự tóm tắt trí tuệ, tư tưởng, tình cảm của Người. Đó là một tấm gương phản chiếu cô đọng tập trung nhất gợi mở chiều sâu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Nói cách khác phải hiểu chiều sâu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh mới thấm nhuần được những tư tưởng và chỉ dẫn trong Di chúc của Người.

Nội dung của chủ nghĩa nhân văn thể hiện trong Di chúc trên khá nhiều phương diện gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới. Ở đó Người quan tâm đến số phận của nhân dân, số phận của tất cả các tầng lớp con người trong xã hội, vừa là chủ thể của công cuộc giải phóng đã có nhiều cống hiến xuất sắc, nhưng đồng thời cũng như nạn nhân chịu nhiều đau thương, mất mát do chế độ thực dân và tay sai thống trị và đàn áp dân tộc trong nhiều thập kỷ qua. Người yêu cầu Đảng và cách mạng phải đền đáp và phải có kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống cho nhân dân, xây dựng đất nước và môi trường cảnh quan ngày càng tươi đẹp; đồng thời xây dựng những thế hệ cách mạng nòng cốt, trẻ tuổi để trở thành lực lượng chủ lực xây dựng thắng lợi xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là từng bước thực hiện cho được những mục tiêu nhân văn mà Người và cả dân tộc theo đuổi, đó là: Toàn Đảng, toàn dân đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Với Di chúc mà nội dung cụ thể đã được nhiều bài viết đề cập, ở đây chỉ xin nói gọn lại là: Người để lại cho Đảng ta và nhân dân ta một tư duy độc lập sáng tạo, luôn luôn đổi mới; để lại một tình cảm thương yêu rộng lớn, nồng hậu trên tinh thần của chủ nghĩa nhân văn cách mạng; để lại một thông điệp có tính cương lĩnh cho một thời kỳ xây dựng và phát triển mới của đất nước; và cũng đã để lại cho nhân loại tiến bộ trên thế giới một ngọn cờ của hoà bình và hạnh phúc, biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai. Đó là tiếng nói của một Con Người gửi đến Con Người vì Con Người.

Chúng ta hãy trở lại mạch nguồn của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh. Trước hết là lô gích của lịch sử, ta thấy rằng người thanh niên Nguyễn Tất Thành sống trong khung cảnh nước mất nhà tan, dân tộc và nhân dân bị nô lệ, Anh đã mang trong trái tim mình tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc, nói rộng ra là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam để đi tìm đường cứu dân, cứu nước với một cách tiếp cận khác những người đi trước. Hành trang của Hồ Chí Minh còn có chủ nghĩa nhân văn phương Đông Nho giáo và Phật giáo và đã bắt đầu gặp chủ nghĩa nhân văn của thời Phục hưng, và cách mạng tư sản Pháp. Người đã đến với nền văn hóa và tư tưởng nhân văn tiến bộ ở phương Tây thông qua con đường tự học tập, lao động, đấu tranh cho nước nhà được độc lập, dân được tự do, sau nữa là cho những người lao động và bị áp bức trên toàn thế giới. Từ rất sớm Người đã nói rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội là do những người lao động và bị áp bức thực hiện. Đó là niềm tin vô hạn vào sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của con người. Người nói trong bầu trời không có gì mạnh bằng sức mạnh nhân dân, không có gì quý bằng nhân dân. Từ đó Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin tiếp thu phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa nhân văn thực tiễn trên cơ sở một nhận thức khoa học và thực tiễn của thời đại. Người trở về sáng tạo ra Đảng cộng sản Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từng bước thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh và hoàn chỉnh nó lên một trình độ mới.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh như vậy là có cội nguồn trong lịch sử tư tưởng và thực tiễn của thời đại và dân tộc. Lô gích lịch sử ấy của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã mở ra một con đường độc đáo hội nhập văn hóa Đông – Tây, kết hợp truyền thống và hiện đại, xây dựng một nền văn hóa nhân văn đầy đủ nhất, tiến bộ nhất trong thời đại ngày nay. Đó là chủ nghĩa nhân văn xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh là một đỉnh cao mới trên con đường chiếm lĩnh và sáng tạo chủ nghĩa nhân văn ấy. Đó là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam hiện đại năng động và có tính chiến đấu cao.

Mặt khác, chúng ta lại thấy rằng về mặt lôgíc nội dung, lôgíc cấu trúc của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là sự hội tụ và phát triển tất cả những tinh hoa tốt đẹp nhất trong cuộc sống của con người, trong lịch sử của dân tộc và nhân loại được thể hiện trong những phạm trù: hòa bình, hữu nghị, độc lập, tự do, dân chủ, công bằng,bình đẳng, bao dung, bác ái, ấm no, hạnh phúc và tiến bộ cho mọi con người và mọi dân tộc mọi cộng đồng xã hội trước hết cho dân tộc mình rồi sau đó là toàn bộ nhân loại. Hồ Chí Minh đã đưa ra một triết lý nổi tiếng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tư tưởng hạt nhân đó của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết dính được toàn bộ nội dung tiến bộ trong chủ nghĩa nhân văn tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn triết học Đông và Tây. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh như một hệ thống tư tưởng thấm nhuần trong tất cả đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường sinh thái. Nền tảng của chủ nghĩa nhân văn ấy lại dựa trên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Đó là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam trong thời đại ngày nay dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin có sức lay động mọi con tim và khối óc trong lao động và đấu tranh cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của con người, xứng đáng hơn với con người. Đó là cuộc đấu tranh chống nạn áp bức dân tộc, áp bức và bất công xã hội, đấu tranh chống nghèo đói, lạc hậu, dốt nát, đấu tranh chống cường quyền, độc đoán, quan liêu và chủ nghĩa cá nhân để hướng tới độc lập tự do, ấm no hạnh phúc cho dân tộc và nhân dân, tức là vươn tới một vương quốc tự do, con người làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên, làm chủ bản thân mình. Đó là một sự nghiệp vô cùng vĩ đại, lâu dài, khó khăn nhưng hết sức vinh quang mà nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân chắc chắn sẽ dành được. Chính vì sự nghiệp đó, với tư cách là người suốt đời phấn đấu hy sinh và cùng nhân dân mình thực hiện từng bước mà được thế giới công nhận Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa, của thế giới.. Nhưng chúng ta còn thấy Người là một nhà hiền triết lớn của thời đại, một lãnh tụ cộng sản lỗi lạc.

Là một nhà nhân văn hành động, Người đã dốc toàn lực cùng với toàn Đảng, toàn dân tìm con đường cụ thể đề ra những mục tiêu và biện pháp cụ thể hết sức thiết thực để thực hiện công cuộc giải phóng. Tự khẳng định mang tính chất phát hiện là chỉ có con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, và nói rộng ra là giải phóng được xã hội và con người, Hồ Chí Minh trở thành một kiến trúc sư của cách mạng Việt Nam, đã thiết kế và chỉ đạo công cuộc giải phóng ấy. Mô hình và tiến trình về đại thể là đi qua cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; thực hiện dân chủ mới đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Toàn bộ những nội dung và chỉ đạo cụ thể phải phù hợp với quy luật tiến hóa, xu hướng thời đại và đặc điểm của đất nước trong từng thời kỳ. Hồ Chí Minh thựcsự là một nhà nhân văn hiện thực, một nhà cách mạng nhân văn triệt để. Người tránh được các ảo tưởng trong các tư tưởng tôn giáo, tính không triệt để và hẹp hòi trong các tư tưởng nhân văn trong lịch sử cổ đại và cận đại (chẳng hạn chủ nghĩa nhân văn thời phục hưng, chủ nghĩa nhân văn Khổng giáo). Nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp, các trước tác và Di chúc của Người, có lẽ không cần nêu dẫn chứng ở đây, chúng ta đều thấy rõ điều đó. Con đường của Người, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã và đang được thực hiện là thể hiện sinh động, lôgích của tiến trình hành động của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh và trình bày cuối cùng là: Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh tiếp tục đặt cơ sở, một sự gợi mở đầy sáng tạo để xây dựng một triết học nhân văn hiện đại. Nói cách khác, đó là chủ nghĩa duy vật nhân văn trong quan hệ thống nhất và là một sự tiếp tục nhất quán của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chủ nghĩa duy vật nhân văn là một triết học toàn diện về con người và sự nghiệp giải phóng con người. Bộ phận mới đó, hình thái mới đó của triết học Mác hiện đại có vị trí khá cơ bản trong hệ thống triết học do Mác sáng lập. Chủ nghĩa duy vật nhân văn khắc phục được thiếu sót duy tâm của chủ nghĩa nhân bản Phơbách cũng như trong các tôn giáo và trong triết học tư sản hiện đại; đồng thời khắc phục được quan niệm duy vật thô thiển, tầm thường, máy móc hoặc quan niệm duy lý hoặc duy tình về vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng con người.

Không chỉ là một vài vấn đề triết học về con người được trình bày trong các giáo trình triết học hiện nay mà vấn đề là phải được xây dựng và trình bày thành một hệ thống triết học về con người với tư cách chủ nghĩa duy vật nhân văn, một triết học tương đối độc lập. Đặt vấn đề như vậy chúng ta mới có điều kiện kế thừa tất cả những giá trị triết học nhân văn trong lịch sử, triết học về đời sống, và khoa học nhân dạng, đồng thời phát triển, bổ sung mới dựa trên các thành tự khoa học hiện đại như cận sinh học, cận tâm lý học và từ thực tiễn của những cuộc đấu tranh vì hòa bình công bằng, an toàn sinh thái và tiến bộ xã hội trên thế giới hiện nay, để làm sáng tỏ hơn nữa tầm triết học về vấn đề con người. Tại sao không? Có thể nói rằng những vấn đề triết học và thế giới vật chất, về xã hội loài người đã được căn bản giải quyết thông qua triết học Mác-Lênin. Nhưng những vấn đề triết học về con người, dù có một số công trình nghiên cứu nhưng còn là một khoảng trống khó khăn và chưa trở thành một triết học thật sự (nhìn vào các giáo trình triết học hiện nay chúng ta càng nhận thấy điều đó). Triết học nhân văn hiện đại dựa trên nguyên lý Thiên – Địa – Nhân hợp nhất, con người là tiểu vũ trụ, sánh ngang với trời đất; dựa trên quan điểm của Mác về con người thực tiễn và sự nghiệp giải phóng con người và cũng dựa trên xu hướng chủ đạo của thời đại ngày nay là xu hướng văn hóa và nhân văn.

Triết học nhân văn nói trên có đối tượng nghiên cứu nguồn gốc, cấu trúc, bản chất vai trò và số phận của con người; những động lực, những điều kiện hình thành và phát triển con người cũng như sự nghiệp giải phóng con người một cách toàn diện và triệt để. Chủ nghĩa duy vật nhân văn với ý tưởng vừa đặt ra và nêu tóm tắt ở trên, chúng tôi đã có dịp trình bày trên tạp chí lý luận của Đảng như là tạp chí Cộng sản, tạp chí Sinh hoạt lý luận và ở một Hội thảo khoa học trong những năm gần đây (Tạp chí Cộng sản, năm 1994; Tạp chí Sinh hoạt lý luận năm 1992, 1995, 1998; Hội thảo của Học viện Nguyễn Ái Quốc năm 1992) . Muốn hiểu được chủ nghĩa nhân văn nói chung và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nói riêng một cách có hệ thống, khoa học phải đặt nó trên một cơ sở triết học trực tiếp. Cơ sở triết học trực tiếp đó là chủ nghĩa duy vật nhân văn. Triết học nhân văn này cần phải được tiếp tục xây dựng, làm cơ sở thế giới quan, phương pháp luận cho các khoa học nhân văn, các vấn đề con người và văn hóa, sự nghiệp và xây dựng phát triển chủ nghĩa xã hội do con người và vì con người trước hết ở Việt Nam.

Trở lại Di chúc Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh mà nội dung bao trùm và cốt lõi là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong hành động như những giá trị bền vững, tiếp tục thúc giục, soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa nhân văn ấy có giá trị nhân loại hết sức hấp dẫn mà nhiều nhà tư tưởng và chính khách đã đánh giá. Chúng tôi nghĩ rằng cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển chủ nghĩa nhân văn ấy ở tầm triết học, nghĩa là tầm triệt để nhất để thấy cả nền móng của một ngôi nhà, phần chìm của một tảng băng, gốc của một cây đại thụ. Mô tả về chi tiết, những biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh làm cho nó trở nên sinh động và cụ thể là hết sức cần thiết. Nhiều bài viết đã biểu đạt khá sinh động và có cách tiếp cận khá thú vị về vấn đề này trên các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh nhất là tư tưởng về văn hóa đã được công bố gần đây. Trân trọng và kế thừa sự nghiên cứu ấy. chúng tôi muốn nghiên cứu về lô gích của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh; đồng thời muốn đặt ra tình huống của sự xuất hiện triết học nhân văn hiện đại và suy nghĩ về cách xây dựng triết học ấy.

Thế giới còn đổi thay nhưng chủ nghĩa nhân văn cách mạng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng chúng ta đi.

TINH-DAU-HOA-SEN-NGUYEN-CHAT-L`ATURELLE-1634079187516875000.jpg

2- Hệ thống phạm trù trong tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh

Chủ nghĩa nhân văn hành động trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ đề còn mới mẻ, chưa được nghiên cứu theo chiều sâu ở giác độ triết học. Sau đây xin trình bày một số suy nghĩ khái quát về mặt phương pháp luận – mặt lô gích của tư duy và tư tưởng nên không đi vào chi tiết.

Trong các tư tưởng cấu thành học thuyết Hồ Chí Minh với tư cách là một hệ thống (gồm tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức, tư tưởng kinh tế…), thì nền tảng, tinh hoa, sợi chỉ đỏ xuyên suốt, kết dính tất cả là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh và theo tôi, đó là “chủ thuyết” triết học của Người (mặc dù Người không có ý định lập thuyết ). Mà về mặt chính trị là thực hành một xã hội, xã hội chủ nghĩa nhân văn.

Tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh có chiều sâu là chủ nghĩa duy vật nhân văn. Đó là một triết lý, một triết học về sự phát triển xã hội theo mục tiêu độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Chúng ta đã từng biết đến triết học duy vật, triết học biện chứng, trí tuệ và văn hóa nhân loại, cũng như dân tộc với xu hướng cơ bản của thời đại đang làm lộ ra, hé mở đích thực một triết học nhân văn. Có thể lúc đầu là những ý tưởng, những tư tưỏng, lẫn vào trong chính trị, hòa nhập vào văn hóa, trong nhiều trường hợp như ở tư tưởng Hồ Chí Minh cũng vậy.
Đã đến lúc cần xây dựng lý thuyết nhân văn, phạm trù và nguyên lý nhân văn với tư cách đặt nền móng cho một triết học nhân văn. Đó là triết học thống nhất trong nó ba phạm trù truyền thống chân – thiện –ích- mỹ được cụ thể hóa thành những phạm trù nhân sinh độc đáo có tính thời đại. Và từ đó có lẽ gọi là triết học nhân văn tổng quát hơn, rộng hơn, khái niệm nhân đạo hay nhân bản. Và tất nhiên không phải là nhân bản duy tâm như Phơbách.

Triết học nhân văn là thực chất của triết học về bản chất con người và sự nghiệp giải phóng con người. Đó là chủ nghĩa duy vật nhân văn, bắt nguồn từ chủ nghĩa duy vật lịch sử, duy vật thực tiễn của Mác, nhưng dần dần sẽ trở thành một bộ phận cơ bản cùng với chủ nghĩa duy vật lịch sử tạo thành triết học Mác hiện đại.

Theo dõi thành quả nghiên cứu hiện nay, ta càng rõ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận mới, một trình độ mới của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là gạch nối, hội tụ – cộng sinh trí tuệ văn hóa Đông, Tây, kim cổ, Việt Nam và thời đại trong đó hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội khoa học. Lấy nguyên lý giải phóng dân tộc, giải phóng đồng bào làm điểm xuất phát nhưng lại gắn chặt với nguyên lý giải phóng con người, giải phóng giai cấp trong chủ nghĩa Mác-Lênin; nguyên lý và phạm trù nhân – nghĩa, kiêm ái ở phương đông, tư tưởng yêu nước Việt Nam; lòng từ bi của đạo Phật, lòng bác ái của đạo Thiên Chúa của Giêsu; phạm trù bình đẳng, tự do, bác ái, trong ngọn cờ cách mạng tư sản, tư tưởng nhân quyền và dân chủ Tây phương… trên lập trường mới. Hồ Chí Minh không những tích hợp, lựa chọn mà còn là sáng tạo cho riêng mình, cho Việt Nam đương đại hệ phạm trù, nguyên lý, tư tưởng triết học (dù người không có ý định làm triết gia). Đó là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà hệ thống của nó thể hiện trong các mệnh đề rất cơ bản.

Độc lập – tự do – hòa bình – thống nhất – đoàn kết – hữu nghị – giàu mạnh – dân chủ – công bằng – ấm no – hạnh phúc- tiến bộ -văn minh.

Môi trường thực hiện trước hết trước hết là ở Việt Nam, nhưng lại có ý nghĩa phổ quát toàn cầu.

Đó là lý tưởng nhân văn và hiện thực cuộc đời mà Người theo đuổi. Hạt nhân của tư tưởng nhân văn đó như ta đã biết là “Độc lập – Tự do – Ấm no – Hạnh phúc” được ghi dưới tiền đề Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cần nghiên cứu có hệ thống những phạm trù, nhưng tư tưởng nhân văn nói trên, sắp xếp thành hệ thống. Nhưng dù sao cũng khẳng định được rằng yêu nước, thương dân; cứu nước, cứu dân, độc lập dân tộc là phạm trù xuất phát cơ bản và rất mới của Người. Những phạm trù cao nhất là hạnh phúc và tiến bộ. Có thể xếp các phạm trù trên thành từng cặp theo hệ thống thứ bậc và mạng lưới, tức là theo lô gích của tư duy và tư tưởng:

Độc lập – Tự do; Hòa bình – Thống nhất; Dân giàu – Nước mạnh; Dân chủ – Công bằng;
Đoàn kết – Hữu nghị; Văn minh – Tiến bộ; Ấm no – Hạnh phúc; Nói và Làm…

Đó là hệ thống phạm trù kế thừa nền văn minh và văn hóa nhân loại nhưng lại mang nội dung dân tộc được ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể Việt Nam mà rất nhân loại. Những phạm trù này đã làm rõ các khía cạng phong phú trong bản chất con người mà bao trùm là bản chất nhân văn. Mô hình và tiến trình thực hiện tư tưởng nhân văn đó là thông qua cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa để tiến lên cho ngoài xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là con người hành động, con người cách mạng, không chỉ là cộng đồng, đồng bào mà là con người cá nhân mà không quên con người xã hội, dân tộc và con người giai cấp. Không chỉ là con người chính trị, con người văn hóa mà còn là con người đạo đức. Trong con người toàn diện ấy nổi lên là con người nhân văn, cả trong cuộc đời và sự nghiệp của Người. Và đó cũng là từ con người thực tiễn của Mác. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất hiện thực – cụ thể. Con người trí tuệ, con người lý trí, con người tình cảm, con người hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về con người nhân văn – hiện thực và hành động – tự giải phóng. Con người đó là cá nhân, tập thể, nhân dân và nhân loại mà Người hằng yêu mến, quí trọng (Xem thêm: PGS.TS.Thành Duy:Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 23-103) .Do đó, quan niệm về con người ở Hồ Chí Minh là con người toàn diện như thực thể tự nhiên- xã hội- văn hóa hài hòa giữa cá nhân và đồng lọai, con người tu dưỡng đạo đức, tinh thần, tự học và chăm bồi phát triển trí tuệ và con người hành động thực tiễn hiệu quả, chứ không phải là con người một mặt, con người tự nhiên chủ nghĩa, nhân bản thuần túy; không phải là con người ần dật tu thân, hay chỉ rèn luyện tâm linh, hoặc không phải là con người cá nhân cô lập, buồn chán, thất vọng hiện sinh chủ nghĩa, cũng không phải là con người thực dụng, hoặc con người lý tưởng đến mức không tưởng.

Hồ Chí Minh đến với con người và để lại cho con người không chỉ là một trí tuệ lớn mà còn là một tình thương bao la, một ý chí kiên nhẫn, khí phách quất cường, một tinh thần năng động sáng tạo và biết đổi mới, một nhân cách vì dân vì nước. Do đó, tự nó nâng chủ nghĩa nhân đạo lên tầm khoa học và nâng khoa học lên tầm nhân đạo, nhân văn, biến thực tiễn thành lý luận và biến lý luận thành cuộc sống. Do vậy, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh kết tinh giá trị nhân tâm và trí tuệ của dân tộc và nhân loại

Hồ Chí Minh ít bàn luận lý về con người nhưng lại suy tư về thân phận con người, thân phận đồng bào, thân phận dân tộc mình và của các dân tộc khác, bằng cả họat động và trải nghiệm của Người, đã hòa nhập chủ nghĩa nhân văn Việt Nam với chủ nghĩa nhân đạo của chủ nghĩa cộng sản để trở thành chủ nghĩa nhân đạo hiện thực.

Suy tư về các nền văn hóa Đông – Tây cổ kim cổ, đễ tìm con người đường xác lập một thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận cho một sự nghiệp và đã thành công vì không chỉ đúng, mà còn tốt, không chỉ khoa học mà còn văn hóa. Người đã hòa nhập khoa học và văn hóa, chính trị và đạo đức làm một trong tính thống nhất hài hòa và cụ thể trên con đường cách mạng của dân tộc tất cả vì con người do con người, cho con người. Suy tư và hành động ấy, với kết quả tất nhiên, tự nhiên đã làm rộ ra một tư tưởng triết học thật sự của chủ nghĩa duy vật nhân văn, triết học nhân văn hiện đại rất Việt Nam mà rất nhân loại cần phải được phát triển.

Triết học ấy tạo thành sức sống và sinh khí của dân tộc Việt Nam đương đạo xét cả lý luận và thực tiễn, thế giới quan và phương pháp luận.

Hồ Chí Minh là nhà hiền triết mác xít phương Đông kiểu Việt Nam, có hình thái, phong cách, bộ mặt riêng, bác học mà bình dân, khoa học mà văn hóa, tư tưởng mà rất đời, rất thực… Người không định làm triết học, nhưng Người đã tiếp nối triết học Mác và đã sản sinh ra tiền đề của một triết học mới theo phong cách phương Đông. Do đó chúng ta phải nhận lấy, phân tích xây dựng nó về mặt lý thuyết khoa học.

Chúng tôi nghĩ rằng, chính nhờ triết học mới này, bộ phận nhân sinh quan, thế giới quan và phương pháp luận mới không chỉ biện chứng mà còn nhân văn này mà định hướng chủ nghĩa xã hội của Người không chỉ là chủ nghĩa xã hội khoa học, mà còn là chủ nghĩa xã hội nhân văn. Đó là một tư tưởng, một chủ nghĩa định hướng cho chúng ta đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công như đã thành công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Ngày nay, chúng ta càng rất cần chủ nghĩa Mác-lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hơn bao giờ hết trong bước thử thách ngặt nghèo này. Chúng ta còn thiếu khoa học kỹ thuật hiện đại, thiếu nền pháp quyền hoàn chỉnh, thiếu kinh tế thị trường phát triển. Tất thảy đều cần để tạo ra cơ sở của chủ nghĩa xã hội đích thực. Không được coi thường mặt nào của cơ thể xã hội hiện đại, nhưng cần thấy đâu là mục đích, đâu là phương tiện.

Nhưng chúng ta có thế mạnh của lịch sử và văn hóa dân tộc với một chủ nghĩa yêu nước mạnh mẽ, và nếu triết học đó kế thừa và phát triển được những tư tưởng triết học tiến bộ trong các tôn giáo và các tư tưởng triết học khoa học, duy vật hiện đại.

Triết học Mác không thiếu vấn đề con người, thiếu vấn đề “nhân sinh”, dù thực tế là có lúc trong các giáo trình lý luận triết học có lúc đã có khiếm khuyết đó (thậm chí một khiếm khuyết lớn) thì hãy nhìn vào Hồ Chí Minh – một nhà Mác xít bậc danh nhân thế giới dưới hai danh hiệu anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn mà cả thế giới công nhận.

Dù chưa trình bày, luận chứng được tường tận, nhưng tôi tin rằng có tư tưởng triết học chính trị, triết học nhân văn ở Hồ Chí Minh, và không chỉ là một số tư tưởng mà tương đối có hệ thống. Và chúng ta cũng không nên hiểu rằng triết học nào cũng được trình bày một cách trừu tượng theo lôgích như triết học của Hêghen, kiểu phương Tây. Quả là có nhiều dạng thức triết học như triết học Khổng Tử, triết học Phật giáo, triết học Hiện sinh. Cố nhiên, không nên tầm thường hóa mọi ý nghĩa, mọi hành động đã là triết học. Mà quan trọng xem tự ý thức, cái hữu thức, tường minh trong tư tưởng, hành động của tác giả dưới vẻ tự nhiên, có khi rất đời thường, nhưng lại rất thâm thúy với chiều sâu triết lý có hệ thống theo phương thức tảng băng trôi.

Quả là với cách tiếp cận, thể hiện về thực thi chủ nghĩa Mác-Lênin, theo phong cách văn hóa, đặc thù hóa, nhân văn hóa, truyền thống hóa mà hiện đại ở Hồ Chí Minh, đang để chúng ta ngẫm về việc giáo dục, thực thi và phát triển triết học Mác. Tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh gắn liền với tư tưởng triết học xã hội của Mác. Thế hệ con cháu phải hệ thống hóa, xây dựng triết học nhân văn ấy, nâng cao tư tưởng triết học ấy.

Triết học trước hết suy tư về con người và thế giới có con người trong cái nôi của thế giới tự nhiên. Tư tưởng Hồ Chí Minh suy tư chủ yếu về số phận con người, số phận đồng bào và dân tộc mình, suy tư về con người và sự nghiệp giải phóng và đã hiện thực hóa suy tư ấy, đưa họ lên địa vị độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, tiến bộ với những mục tiêu từ thấp lên cao rất đời thường hiện thực – “hiện sinh” (ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ai cũng được tự do, mưu cầu hạnh phúc, ai cũng tiến bộ).

Triết học là hạt nhân và”gạch nối” và là “linh hồn” của khoa học với văn hóa. Triết học nhân văn của Hồ Chí Minh là triết học như thế. Tư duy đúng đích thực về triết học là gì cho chúng ta một phương pháp nhận thức lại chất triết học trong nền văn hóa dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hơn nữa nó sẽ mở ra một triển vọng mới cho sự phát triển triết học Mác-Lênin và triết học Việt Nam.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một lô gích triết học nhân văn cần phải được phát triển.

TS. Hồ Bá Thâm (*)
Sách Chủ nghĩa duy vật nhân văn và định hướng nhân văn của sự phát triển xã hội (2005)

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Giáo dục – 1

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” ở nước ta, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết thực.

293.jpg

Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ…

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là thành qủa của sự chắt lọc tinh tế tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại, vừa mang đậm hơi thở của cuộc sống. Do vậy, ở Hồ Chí Minh, lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau. Đúng như Nghị quyết UNESCO đánh giá: “Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Có thể nói, tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo và phê phán từ các tiền đề: Một là, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, giáo dục và tinh thần nhân ái Việt Nam, Hai là, triết lý giáo dục phương Đông, đặc biệt là triết lý nhân sinh của Nho, Phật, Lão và Ba là, những tư tưởng tiến bộ thời kỳ cận đại. Nhưng tiền đề quan trọng nhất, cái tạo nên sự phát triển về chất trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên cơ sở đó và cùng với quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng sinh động, phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm hết sức sâu sắc và mới mẻ về vai trò, mục đích, nội đung và phương pháp giáo dục.

Về vai trò và mục đích của giáo dục. Theo Hồ Chí Minh, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới. Người nói: “Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên”.

Không những thế, giáo dục còn góp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Người kêu gọi:

“Quốc dân Việt Nam!
Muốn giữ vững nền độc lập,
Muốn làm cho dân mạnh nước giàu,

Mọi người Việt Nam… phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Từ thực trạng nền giáo dục dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã vạch trần và lên án chính sách giáo dục của thực dân Pháp là làm cho “ngu dân dễ trị”. Bằng ngòi bút với lời lẽ sắc bén, Người đã chỉ rõ bộ mặt thực của cái gọi là “khai hoá văn minh” của thực dân Pháp: những người đến trường được “đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp”, những người không đến trường thì bị đầu độc bằng các thói hư, tật xấu như rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện. Do vậy, theo Người, để khẳng định chính mình, mỗi người phải thẳng thắn đấu tranh với cái lỗi thời, lạc hậu và các tệ nạn xã hội. Người viết: “Phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ. Và cần xây dựng tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Thật vậy, ngay từ những năm đầu bước vào đời, khi tham gia giảng dạy ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, tại đây, bên cạnh việc truyền bá những kiến thức về văn hoá, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú trọng đến việc truyền thụ tinh thần, truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc.

Nhưng mục đích cao cả của Hồ Chí Minh – mục đích mà Người nguyện suốt đời phấn đấu – là mong cho dân tộc, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi, đối với Người, “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Suốt đời, Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản Chủ nghĩa. Và để xây dụng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên” trong thời đại mới. Và như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa”, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện “tài”, rèn “đức” cho cán bộ. Bởi, theo Người, “có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người”.

Đạo đức trong quan niệm của Hồ Chí Minh được coi như “cái gốc” của cây, “cái nguồn”của sông, do đó, theo Người, “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Như vậy, đạo đức mà Hồ Chí Minh quan niệm hoàn toàn khác với đạo đức của chế độ thực dân phong kiến “đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời”. Đạo đức mà Người hướng tới là đạo đức cách mạng, đạo đức của giai cấp công nhân, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, thực hành nhân, nghĩa, trí, dũng… chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Còn tài là giỏi về kiến thức chuyên môn và giỏi về cách thức, phương pháp vận dụng kiến thức đó vào hoạt động thực tiễn, làm cho ích nước lợi dân. Tài không có nghĩa là kiến thức hoàn chỉnh, tuyệt đối, khép kín, mà là một kiến thức mở, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn được bổ sung và phát triển qua thực tiễn cách mạng sinh động. Do đó, theo Người, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc… học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”.

Người có tài tham gia hoạt động thực tiễn phải biết dựa vào dân, bởi theo Hồ Chí Minh, “có dân là có tất cả”. Người viết:

“Dễ mười lần không dân cũng chịu,
Khó trăm lần dẫn liệu cũng xong”.

Là Người luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân, Người rất chú trọng việc giáo dục nâng cao trình độ văn hoá cho dân để dân “làm ăn có ngăn nắp”, “bớt mê tín nhảm”, “bớt đau ốm”, “nâng cao lòng yêu nước” và “để thành người công dân đứng đắn”. Người chỉ rõ: “Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc làm cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, văn minh và giàu mạnh”.

Mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới. Nhưng do yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phối hợp. Ở thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng, Người tập trung vào việc triển khai các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, Trung Quốc nhằm nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ về con đường cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đến giai đoạn toàn quốc kháng chiến và xây dựng nền dân chủ, Người kêu gọi sửa đổi giáo dục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài kháng chiến kiến quốc. Tất cả giáo dục tập trung phục vụ kháng chiến kiến quốc. Bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, mục đích giáo dục lại gắn liền với tình hình mới. Đó là thời kỳ rất cần những con người làm chủ xã hội, làm chủ sản xuất, biết quản lý cơ quan, xí nghiệp, trường học…

Về phương pháp giáo dục. Tuy Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm, một hệ thống lý luận về phương pháp giáo dục, nhưng những việc làm thiết thực, những bài viết ngắn gọn, súc tích của Người đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực. Người lấy nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nguyên tắc này được Người sử dụng trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… Nó được coi như “kim chỉ nam” để lồng dẫn nhận thức, hành động và bồi dưỡng tinh thần yêu nước cho tất cả mọi người. Hơn nữa, nguyên tắc này có tính chất quyết định trong việc chuyển hướng giáo dục và trở thành đặc trưng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Người nhấn mạnh: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”.

Để nâng cao trình độ nhận thức của người lao động, Hồ Chí Minh cho rằng cần có quan điểm dân chủ, thẳng thắn, không nhồi sọ và cần có sự đối thoại trong quá trình học tập, nhận thức. Người chỉ rõ: “Mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh”. “Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lý”. Từ đó, Hồ Chí Minh kêu gọi cán bộ, nhà giáo phải biết tôn trọng ý kiến người khác, không nên có thành kiến đối với các ý kiến trái với ý kiến của mình.

Trong khi viết và nói, Hồ Chí Minh luôn dùng các khái niệm giản dị, dễ hiểu, nhưng văn phong vẫn trong sáng, ý tưởng phong phú. Phong cách đó làm cho mọi tầng lớp, mọi người ở trình độ khác nhau đều hiểu. Đối với Hồ Chí Minh, viết và nói là làm cho người khác hiểu, cho nên viết và nói phải biết cách. Viết và nói phải thiết thực, ngắn gọn, rõ ràng, dễ nhớ và phải xuất phát từ người đọc, người nghe.

Trong giáo dục, theo Hồ Chí Minh, cần có phương pháp phù hợp với điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục. Giáo dục phải căn cứ vào “trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng”. Cần có phương pháp tổ chức giáo dục sao cho bảo đảm được sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh giáo dục với đối tượng giáo dục. Người viết: “công nhân, nông dân bận làm ăn, nếu dạy không hợp với người học, với làm ăn, bắt phải đến lớp có bàn có ghế là không ăn thua. Phải tuý theo hoàn cảnh làm ăn mà tổ chức học mới duy trì được lâu dài, mới có kết quả tốt”.

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc kết hợp các hình thức giáo dục, không tuyệt đối hoá bất cứ một hình thức giáo dục nào. Người viết: “Giáo dục dù trong nhà trường có tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Trong cuộc sống, trong việc làm… Hồ Chí Minh luôn là người đi đầu. Phương pháp làm gương là một biện pháp hữu hiệu nhất trong việc thống nhất giữa lời nói và việc làm. Người dạy: “Mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá”.

Đối với Hồ Chí Minh, tất cả các phương pháp giáo dục như phương pháp đối thoại, phương pháp học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, phương pháp làm gương, phương pháp kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội… đều nhằm mục đích “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”, nâng cao nhận thức, chất lượng và hiệu quả giáo dục. Các phương pháp này vừa mang tính truyền thống, lại vừa hiện đại, vừa hệ thống, khoa học, lại vừa cụ thể, thiết thực, luôn gắn với đời sống và thời đại.

Nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình với việc chăm lo, mở mang và xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa – một nền giáo dục mà mọi người đều có cơ hội phát huy khả năng sáng tạo, mọi người đều được học hành, không phân biệt giai cấp, tuổi tác, trình độ, giới tính…

Kế tục và quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn và cao cả đó của Người, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương khoá VIII đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là “nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ. Và mới đây, tại Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng đinh: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội.

Hơn 50 năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm, chiến lược, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo con người luôn soi sáng sự nghiệp trồng người ở Việt Nam. Tư tưởng đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc xác định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết thực và hiệu quả đối với người làm công tác giáo dục nói riêng, ngành giáo dục nói chung hiện nay.

Nguồn:  Tạp chí Triết học

hochiminhhoc.com

Di sản Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho chúng ta đi đến tương lai tươi sáng của dân tộc và nhân loại

Lê Hữu Nghĩa - GS,TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

TCCS – Là sự kết tinh của truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vĩ nhân của thời đại chúng ta bởi vai trò thúc đẩy của Người đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam và đóng góp vào tiến trình lịch sử nhân loại.

“Là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập.

“Là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người đầu tiên đã lãnh đạo nhân dân ta thi hành Bản án chế độ thực dân ở Việt Nam mà còn cùng nhân dân các dân tộc thuộc địa thực hiện bản án đó, xóa đi sự áp bức, nô dịch của chủ nghĩa thực dân trên hành tinh của chúng ta.

Là “tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau” giữa các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam thực hiện mục tiêu hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh cho đất nước của mình, đồng thời Người cũng “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Là “vị Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”, cuộc đời, sự nghiệp và di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị đối với dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa đối với nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới ở thời đại hiện nay.

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tôn kính đối với Người, đồng thời là cơ hội để chúng ta nhận thức đầy đủ hơn nữa những giá trị trong di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân loại.

Một là, di sản Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Độc lập dân tộc là một nội dung lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa thực dân – một trong những điều sỉ nhục lớn của loài người – đã đem xiềng xích, áp bức, đói nghèo, ngu dốt, bệnh tật… đè nặng lên số phận các dân tộc nhược tiểu. Giành lại tự do, độc lập là khát vọng cháy bỏng của các dân tộc bị áp bức trong thế kỷ XX. Hồ Chí Minh là một trong những người tượng trưng cho ý chí và khát vọng đó. Người đã nêu lên một chân lý nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Người được coi là một chiến sĩ đi tiên phong trong việc thức tỉnh dân tộc mình và các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành lại độc lập dân tộc và phẩm giá con người.

Chiến lược của Người là:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”.

Người không chỉ coi trọng đại đoàn kết dân tộc, giải quyết thành công mối quan hệ dân tộc với giai cấp, mà còn hết sức coi trọng tăng cường tình đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với các lực lượng yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới, kể cả với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ. Người đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, hình thành trên thực tế một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống xâm lược, đưa hai cuộc kháng chiến vĩ đại của Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn. Đường lối chiến lược đó được loài người tiến bộ thừa nhận là đường lối chiến lược hoàn hảo của thời đại chúng ta.

Tư tưởng và tấm gương đấu tranh bất khuất cho độc lập, tự do của Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX. Nhiều quốc gia độc lập đã thừa nhận ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của cách mạng Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngày nay, tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn giữ nguyên sức sống. Hàng trăm nước sau khi thoát khỏi chế độ thuộc địa vẫn đang bị kìm hãm trong tình trạng lạc hậu, kém phát triển. Một số cường quốc đang lợi dụng toàn cầu hóa, lợi dụng thế mạnh về kinh tế – tài chính, khoa học – công nghệ cao để mở rộng biên giới lợi ích quốc gia, xâm phạm độc lập và chủ quyền của các nước đang phát triển, đe dọa hòa bình, an ninh chính trị – xã hội của các nước này. Trong tình hình đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế, độc lập phồn vinh cho đất nước mình, đồng thời cho tất cả các dân tộc, vẫn đang tiếp tục tỏa sáng, vẫn là mục tiêu và khát vọng của loài người trong thời đại ngày nay.

Độc lập dân tộc ở Hồ Chí Minh luôn luôn gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Theo Người, “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”(1). Người tìm thấy giá trị của độc lập, tự do, hạnh phúc trong mục tiêu và lý tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học, vì vậy, Người khẳng định “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(2).

Chủ nghĩa xã hội ở Hồ Chí Minh không phải là những giáo điều cứng nhắc, xa lạ với lợi ích vật chất và tinh thần của con người, mà nó hết sức cụ thể và thiết thực. Người nói: chủ nghĩa xã hội là “làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(3)…

Có thể gọi đó là chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh”, một quan niệm về chủ nghĩa xã hội phù hợp với quan niệm truyền thống của dân tộc Việt Nam và hợp với xu thế của thời đại hiện nay.

Tất nhiên, quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, lại trải qua 30 năm chiến tranh tàn phá, là một quá trình lâu dài và gian khổ, chưa thể có ngay đời sống vật chất và văn hóa cao. Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh, chúng ta vẫn có thể từng bước phấn đấu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, có đời sống đạo đức lành mạnh và có mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Mác – Lê-nin kết hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam, với khát vọng công bằng, bác ái của loài người. Vì vậy, các dân tộc, trong khi từ chối con đường đau khổ của chủ nghĩa tư bản, có thể tìm thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội một hướng đi thích hợp cho sự lựa chọn của mình.

Ngày nay, nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội, về con đường và phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, trong sự thay đổi đó vẫn có những điều cơ bản không hề thay đổi, đó là khát vọng về một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, nhân đạo, văn minh, nói chung là lý tưởng mà Hồ Chí Minh đã nêu lên và suốt đời theo đuổi. Đi theo chỉ dẫn đó, công cuộc đổi mới ở Việt Nam gần 25 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tiềm lực đất nước và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng được biết đến rộng rãi trên thế giới. Nhiều nước Mỹ La-tinh, từ thực tế phát triển của mình, đang có ý tưởng đi tìm một mô hình về “chủ nghĩa xã hội cho thế kỷ XXI”, phù hợp với đặc thù Mỹ La-tinh. Sau nhiều công trình tưởng niệm đã có về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ni-ca-ra-goa, Vê-nê-xu-ê-la,… vừa qua, ác-hen-ti-na đã khởi công xây dựng công trình tượng đài Hồ Chí Minh ở Thủ đô Bu-ê-nốt Ai-ret – thêm một biểu hiện mới về ảnh hưởng và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh đang lan tỏa tại khu vực Mỹ La-tinh.

Hai là, di sản Hồ Chí Minh về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của khát vọng hòa bình Việt Nam, của tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người thiết tha với hòa bình – một nền hòa bình chân chính gắn liền với độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Kiên định về chiến lược đồng thời cũng hết sức linh hoạt về sách lược để giữ gìn hòa bình, Hồ Chí Minh đã kiên trì con đường thương lượng, đối thoại nhằm giải quyết mối xung đột Việt – Pháp bằng phương pháp hòa bình.

Đến khi kẻ thù buộc nhân dân Việt Nam phải đứng lên cầm súng kháng chiến, Người vẫn không buông ngọn cờ hòa bình, vẫn liên tục gửi thư đến Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp, kêu gọi họ hãy hướng chính sách của nước Pháp vào con đường chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Những người từng đối thoại với Hồ Chí Minh đều tỏ lòng kính trọng đối với “một con người mềm dẻo, kiên nhẫn, ôn hòa, luôn luôn tìm cách hòa giải về thể thức chuyển hóa”, đều ca ngợi Hồ Chí Minh là “người luôn luôn biết giải quyết những vấn đề khó khăn với nụ cười trên môi”.

Khẳng định Việt Nam là “một bộ phận trong phe hòa bình, dân chủ thế giới”(4), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định chính sách đối ngoại của Việt Nam là “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(5), “nhằm xây đắp nền hòa bình thế giới”(6).

Hồ Chí Minh là người đã bắc những nhịp cầu hữu nghị, đẩy mạnh việc giao lưu, tiếp xúc, nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc – một cơ sở để duy trì và củng cố hòa bình.

Nhân dân thế giới hiểu rõ cuộc đời chiến đấu hơn 60 năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình mà còn vì hạnh phúc và phẩm giá của các dân tộc bị áp bức. Bản án kết tội chủ nghĩa thực dân của Người đã có tiếng vang rộng rãi, góp phần thức tỉnh nhiều dân tộc thuộc địa vùng lên đấu tranh tự giải phóng.

Sau khi Việt Nam giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng giáo dục nhân dân về lòng yêu hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc, biết kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dẫn đầu nhiều cuộc đi thăm hữu nghị các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước láng giềng ở châu Á… Đến đâu, Người cũng nói lên tình cảm chân thành và nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam được sống trong hòa bình, độc lập, có quan hệ hữu nghị với tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Suốt đời mình, Hồ Chí Minh theo đuổi lý tưởng hữu ái, đoàn kết, thân thiện giữa các dân tộc, không phân biệt chủng tộc và màu da. Ngay từ năm 1930, Người đã viết:

“Rằng đây bốn bể một nhà,
Vàng, đen, trắng, đỏ đều là anh em”(7)

Người là hiện thân cao đẹp của tình hữu nghị giữa các dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền móng cho chính sách mở cửa và hợp tác rộng rãi của Việt Nam với thế giới trên mọi lĩnh vực. Ngay từ khi nhà nước Dân chủ Cộng hòa non trẻ của Việt Nam vừa mới thành lập, còn trong vòng vây bốn bề của hệ thống tư bản thế giới, chưa được một quốc gia nào công nhận, cuối tháng 12-1946, trong lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Hồ Chí Minh đã chủ động tuyên bố: Việt Nam dành thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay, đường sá giao thông cho buôn bán và quá cảnh quốc tế; Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc; Việt Nam sẵn sàng ký kết, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, những hiệp định an ninh và những hiệp định có liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân…

Trong tuyên bố đó, Hồ Chí Minh đã nói rõ: Việt Nam không chỉ chiến đấu vì những quyền lợi thiêng liêng của mình mà còn “chiến đấu cho một sự nghiệp chung: đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế” và “cho an ninh ở biển Đông”.

Trả lời phóng viên báo Pháp Regards, Người nói “Chúng tôi muốn lập với nước Pháp những mối quan hệ kinh tế và văn hóa trên cơ sở bình đẳng, hai bên đều có lợi và cộng tác thẳng thắn và tin cậy lẫn nhau… Đồng thời, chúng tôi muốn lập quan hệ hữu nghị với tất cả các nước khác, trước hết là các nước châu Á”(8)

Đó là những tư tưởng có tầm nhìn xa, đi trước thời đại, đặt nền móng cho chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa, hợp tác làm ăn với nước ngoài của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.

Ba là, các vấn đề văn hóa, đạo đức, nhân cách trong di sản Hồ Chí Minh

Sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự nghiệp và tư tưởng thấm đậm giá trị văn hóa bởi Người đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại cho nhân dân quyền sống đích thực của con người và góp phần cùng loài người loại trừ một trở lực trên con đường tiến tới văn minh là chủ nghĩa thực dân, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân loại.

Những giá trị văn hóa đó càng thêm sâu sắc khi Người chủ trương giác ngộ nhân dân, làm cho nhân dân hiểu rõ các quy luật phát triển của xã hội, nhận rõ mục đích đấu tranh và con đường giải phóng, tin chắc vào sự thắng lợi mà kiên quyết tự đứng lên làm cách mạng và xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột và tạo ra những điều kiện phát triển toàn diện cho con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia xây dựng nước nhà”(9).

Chủ trương “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, trong bất kỳ điều kiện nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú trọng phát triển văn hóa, nâng cao dân trí, giáo dục đạo đức, tạo điều kiện cho mỗi người tận lực phát triển những năng lực sẵn có của mình.

Nền văn hóa mới của Việt Nam, theo Người, phải kết hợp tốt giữa việc kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước nồng nhiệt kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Văn hóa phải thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn hóa phải chống lại tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ. Văn hóa phải làm cho mọi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình được hưởng.

Với quan niệm “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(10), Chủ tịch Hồ Chí Minh coi sự dốt nát cũng là một kẻ thù. Người chủ trương phải phát triển tốt nền giáo dục thì mới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, mới tiến kịp sự phát triển chung của nhân loại. Xác định rõ học tập để làm việc, làm người, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Người thường xuyên nhấn mạnh tới nhiệm vụ giáo dục lý tưởng, giáo dục đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Người khẳng định: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”(11).

Văn hóa có cốt lõi là đạo đức. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người không chỉ để lại một hệ thống quan điểm về đạo đức mới mà còn là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động, giữa nói và làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của sự toàn thiện, toàn mỹ về đạo đức: yêu đồng bào, yêu nhân loại; triệt để cách mạng và vô cùng nhân từ; uyên bác mà cực kỳ khiêm tốn; nguyên tắc về chiến lược nhưng rất linh hoạt về sách lược; nhìn xa trông rộng nhưng rất thiết thực cụ thể; vĩ đại mà rất mực bình dị; là nhà thơ trong người chiến sĩ cách mạng. Người là hình mẫu về nhân cách cao đẹp của người cách mạng, là nhà lãnh đạo gần gũi của nhân dân, được nhân dân thân thiết gọi là Bác Hồ. Người là kết tinh những giá trị cao quý nhất của văn hóa – đạo đức Việt Nam. Vì vậy thật có ý nghĩa khi Đảng Cộng sản Việt Nam phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tư tưởng và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cống hiến to lớn vào sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người. Sự tôn vinh của UNESCO đối với Người vừa là “Anh hùng giải phóng dân tộc” vừa là “Nhà văn hóa kiệt xuất” là một sự vinh danh kép, theo nghĩa: Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công văn hóa – đạo đức vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng và nâng cao phẩm giá con người, đó là một sự nghiệp anh hùng, đồng thời đó cũng là một sự nghiệp văn hóa cao cả nhất. Do đó, di sản Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản tinh thần vô giá của nhân dân Việt Nam mà còn là di sản văn hóa chung của toàn nhân loại, mãi mãi soi đường cho chúng ta đi đến tương lai tươi sáng của nhân loại./.

Lê Hữu Nghĩa
GS,TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

_________________________________________________________________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 4, tr 56
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 12, tr 305
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 17
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 6, tr 451
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 220
(6) Báo Cứu quốc, số 57, 3-10-1945
(7) Nhật ký chìm tàu (hiện chưa tìm lại được)
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 386
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 36
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 8
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 642

hochiminhhoc.com

Tôi chỉ có một sự ham muốn…

Mùa xuân năm 1962, trước tết Nhâm Dần, Bác muốn thăm những gia đình thật sự còn nghèo túng ở Thủ đô trong dịp giao thừa. Bác thương cảm vô cùng trước số phận người phụ nữ Nguyễn Thị Tín tần tảo đêm 30 Tết phải đi gánh nước thuê để lấy tiền đong gạo. Câu nói của Bác “Nhà cháu mà không đến thì Bác còn đến nhà ai!” đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của biết bao người dân Việt Nam về nhân cách của một con người Việt Nam vĩ đại nhất. Bài học sâu sắc nhất Bác để lại là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, lớn hơn là trách nhiệm của Chính phủ với nhân dân.

Bác Hồ – tên gọi thân thương mà tất cả người Việt Nam muốn dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu. Người là hiện thân của khát vọng đấu tranh giành độc lập dân tộc, hạnh phúc cho con người, đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, sáng chói mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu”.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến con người, chăm lo phát triển con người. Người tâm niệm: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (1). Đó là thông điệp Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến quốc dân đồng bào mục đích phấn đấu suốt đời của mình là vì độc lập, tự do của dân tộc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Người đã dành tất cả tình yêu thương cho đồng bào, đồng chí, cho già, trẻ, gái, trai, từ miền xuôi đến miền ngược, từ Bắc đến Nam…

Trước tình thương vô hạn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ Tố Hữu trân trọng viết:

“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già”
(Bác ơi)

Sinh thời, Người thường nhận được tặng phẩm do đồng bào và bạn bè quốc tế biếu, tặng, nhưng thật đáng trân trọng khi Bác dành những tình cảm đó cho các phụ lão, chiến sĩ, bộ đội, thương bệnh binh và những người có nhiều thành tích trong học tập, chiến đấu, lao động sản xuất, đặc biệt là những gia đình nghèo khó. Trong khi đó, Bác vẫn mặc áo sờn vai, vá nhiều chỗ. Bác nói: “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Câu nói của Người đã cảm hóa biết bao người, là lời dạy có ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với người cán bộ cách mạng. Đọc những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức và đời sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta mới thấm thía về tình thương vô hạn của Người đối với nhân dân, đặc biệt là đối với những người nghèo khổ. Người luôn dành tình cảm đặc biệt trước những số phận côi cút, những người phụ nữ tần tảo, đảm đang.

Mùa xuân năm 1962, trước tết Nhâm Dần, Bác muốn thăm những gia đình thật sự còn nghèo túng ở Thủ đô trong dịp giao thừa. Bác thương cảm vô cùng trước số phận người phụ nữ Nguyễn Thị Tín tần tảo đêm 30 Tết phải đi gánh nước thuê để lấy tiền đong gạo. Câu nói của Bác “Nhà cháu mà không đến thì Bác còn đến nhà ai!” đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của biết bao người dân Việt Nam về nhân cách của một con người Việt Nam vĩ đại nhất. Bài học sâu sắc nhất Bác để lại là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, lớn hơn là trách nhiệm của Chính phủ với nhân dân. Bác nhắc nhở: “Một Đảng cầm quyền mà để cho người dân nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…”, “nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(2). Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân, đặc biệt là người nghèo.

Xúc động làm sao trước hình ảnh một vị Chủ tịch nước đã ân cần đi sâu, đi sát vào đời sống của nhân dân, đã không còn ranh giới giữa người đứng đầu đất nước với một gia đình lao động nghèo. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Hồ Chí Minh là một con người phi thường và xuất chúng. Tuy nhiên, khi gặp Hồ Chí Minh, mọi người cảm thấy như thân thuộc từ lâu, dễ dàng nói chuyện cởi mở, tự nhiên, không chút nào cách bức”(3). Bác Hồ như người cha bao dung, trìu mến, đặc biệt là cái cách Người đến với nhân dân cũng làm chúng ta phải suy ngẫm. Đối với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ cách mạng phải biết tôn trọng và lễ phép; phải thương yêu, quý trọng con người, biết đồng cảm trước những khó khăn, đau khổ của nhân dân. Hoạt động hành chính phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, luôn chăm lo đến nhân dân. Người nói: “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Ngày nay, quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, Đảng và nhân dân ta càng thấy rõ việc chăm lo phát triển nông thôn và đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo đối với Việt Nam là một trụ cột của chiến lược tăng trưởng và phát triển bền vững. Theo đó, Đảng và Nhà nước phải “hết sức chăm lo đời sống nhân dân. Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khoẻ và giải trí của nhân dân. Đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các cụ già yếu và gia đình các liệt sĩ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong” (4).

Những tình cảm và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là ánh đuốc soi sáng cho tâm hồn, cho trí tuệ, cho tình cảm, cho đạo đức của mỗi chúng ta, nâng bước ta đi trên những chặng đường gian lao mà đầy vinh quang phía trước.

________________________

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, tập 4, tr.161-162
(2) Sách đã dẫn, t.7, tr.572.
(3) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, NXB Sự thật, Hà Nội, 1990, tr.62-63
(4) Sđd, t.10, tr.621.

Nguyễn Văn Quang
Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Huế

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Ðảng cầm quyền”

Trong Báo cáo chính trị tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Ðảng, năm 1951, khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Bác viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(*).

Story1.axd.jpg

Và trong Di chúc để lại, tác phẩm cuối cùng của đời mình, khi nói về Ðảng, một lần nữa Bác viết: “Ðảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Khái niệm về “Ðảng cầm quyền” thật ra không có gì xa lạ đối với các nước tư bản chủ nghĩa với nền chính trị đa đảng. Ở đấy, Ðảng nào giành thắng lợi trong tranh cử thì đứng ra lập chính phủ của mình và trở thành “đảng cầm quyền”. Cũng có nước, một số thế lực chính trị (hay quân sự) giành lấy chính quyền thông qua đảo chính hay lật đổ.

Ðối với Ðảng ta, vấn đề chính quyền đã được giải quyết thông qua con đường cách mạng, phù hợp với những điều kiện lịch sử của nước mình. Trước kia, khi nhân dân ta còn sống trong vòng nô lệ thì nhiệm vụ hàng đầu của Ðảng là lãnh đạo nhân dân làm cách mạng lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Và sau khi đã giành được chính quyền rồi thì trọng trách của Ðảng là lãnh đạo gìn giữ chính quyền, bảo vệ Tổ quốc, làm cho chính quyền ấy thực hiện tốt các nhiệm vụ của cách mạng, trước hết và trên hết là vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

Theo tư tưởng của Bác Hồ và của Ðảng ta từ trước đến nay, khái niệm Ðảng “nắm chính quyền” hay “cầm quyền” là đồng nghĩa với Ðảng lãnh đạo chính quyền.

Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Ðảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Ðảng, Người nhấn mạnh: “Ðảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Ðảng ta không có lợi ích gì khác”.

Quan điểm xuyên suốt trong các tác phẩm của Bác là Ðảng (nói chung) và cán bộ, đảng viên (nói riêng) “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Muốn vậy, Ðảng và cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Năm 1953, trong thư gửi Lớp chỉnh Ðảng Liên khu 5, Bác viết: “Mục đích chỉnh Ðảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đầy tớ của nhân dân”.

Năm 1968, làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Ðảng về việc xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”, Bác nói: “Một dân tộc, một Ðảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Ðảng, nói chung và về Ðảng cầm quyền nói riêng luôn được Ðảng ta trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển. Nói Ðảng cầm quyền hoàn toàn không có nghĩa là Ðảng tự biến mình thành chính quyền, một mình mình nắm giữ chính quyền và làm chức năng của chính quyền. “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là cơ chế vận hành của chế độ ta. Theo cơ chế ấy, Ðảng, Nhà nước và nhân dân đều là những chủ thể của quyền lực, nhưng quyền lực của mỗi chủ thể ấy lại không giống nhau. Quyền lực của Ðảng là quyền lãnh đạo, bao gồm cả quyền lãnh đạo chính quyền, nhưng bản thân Ðảng lại không phải là chính quyền nhà nước, không làm thay cho Nhà nước. Quyền lực nhà nước bao gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng quyền lực ấy không phải do Nhà nước tự có mà là do nhân dân giao phó cho những cơ quan quyền lực do mình cử ra. Quyền lực của nhân dân là quyền của người làm chủ đất nước và quyền làm chủ ấy được thực hiện thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, kể cả dân chủ tự quản ở cơ sở. Mẫu số chung của ba loại quyền lực nêu trên (lãnh đạo, quản lý và làm chủ), xét cho cùng, là tư tưởng Bác Hồ từng nêu lên trong bài báo “Dân vận” viết năm 1949 cách đây đúng 61 năm: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Cơ chế “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thực chất là phương thức tổ chức nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Cương lĩnh năm 1991 của Ðảng và những điều bổ sung, phát triển các quan điểm về Ðảng và Ðảng cầm quyền qua các kỳ Ðại hội của Ðảng và các khóa Trung ương từ bấy đến nay đều xác định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân làm chủ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta; phải xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, đại  diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, có nhiệm vụ không chỉ động viên, giúp đỡ đoàn viên, hội viên tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà còn thực hiện vai trò phản biện và giám sát. Ðảng Cộng sản Việt Nam là Ðảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Ðảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; thống nhất lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Ðảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Ðại hội X của Ðảng, khi đề cập nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Ðảng, đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối”. Ðại hội cũng chủ trương, về mặt lý luận, phải tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về xây dựng Ðảng và về đảng cầm quyền. Ðiều quan trọng hơn nữa là để xứng đáng là đảng cầm quyền, Ðảng phải làm những gì và làm như thế nào?

Cương lĩnh năm 1991 của Ðảng, trong khi nêu lên những bài học lớn, đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Ðảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Ðảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Ðảng và về Ðảng cầm quyền chắc chắn sẽ còn được làm sáng tỏ hơn nữa trong các văn kiện Ðại hội XI của Ðảng sắp tới.

(Nguồn: Báo Nhân Dân)

(*) Những trích dẫn lời Bác trong bài đều lấy từ “Hồ Chí Minh tuyển tập”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh sớm có tư tưởng tiên phong mở cửa

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng tiên phong theo xu hướng mở cửa, đa dạng hóa quan hệ với các nước, thu hút đầu tư, thúc đẩy quan hệ buôn bán với nước ngoài.

BacHo copy (Small).jpg

Ngay từ đầu tháng 12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho những người đứng đầu các nước Anh, Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô và Liên hợp quốc nêu rõ chính sách của Việt Nam là thực hiện chính sách mở cửa và hợp tác, mời các nhà đầu tư, các nhà kỹ thuật nước ngoài vào kinh doanh tại Việt Nam, sẵn sàng mở các cảng, sân bay và đường giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế, chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, đưa ra nhiều sáng kiến hòa bình đồng thời đẩy mạnh hoạt động ngoại giao làm cho dư luận thế giới thấy được bản chất của tình hình Việt Nam, chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc và luận điệu hòa bình giả dối của chúng.

Trong thư gửi cho người đứng đầu nhà nước và chính phủ của gần 70 nước trên thế giới trình bày tình hình chiến tranh Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Trải qua hơn 20 năm chiến tranh, hơn ai hết nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hòa bình để xây dựng đời sống của mình. Hồ Chí Minh không đề cập hòa bình và chiến tranh một cách trừu tượng. Trong thư gửi Đại hội Nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình, Người nêu rõ phong trào hòa bình phải gắn liền với phong trào độc lập dân tộc.

Người luôn lấy hòa bình hữu nghị và đạo lý làm tiêu chí để phân biệt bạn thù, phân biệt dân tộc với bọn phản động, hiếu chiến trong chính phủ của đối phương, luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, tập hợp rộng rãi nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới chống lại các thế lực gây chiến tranh xâm lược. Đó là nét đặc trưng của “ngoại giao tâm công” Hồ Chí Minh. Thực hiện đường lối “ngoại giao tâm công” với tinh thần đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo, ta đã tranh thủ được một mặt trận rộng rãi nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược.

Đối với Người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta là kẻ thù… Phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn và phải làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết. Đối với nước Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh phân biệt nhân dân với các chính phủ cầm quyền, để tranh thủ lực lượng tiến bộ và thúc đẩy phong trào phản chiến của nhân dân các nước này, cô lập lực lượng hiếu chiến.

Hồ Chí Minh chủ trương tập hợp lực lượng rộng rãi. Theo Người, không có khối phương Đông và khối phương Tây, mà chỉ có những người yêu chuộng hòa bình và có những kẻ chủ trương chiến tranh.

Quan điểm về đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cả các nước dân chủ đã hình thành trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ rất sớm. Đây là một tư tưởng vượt thời đại xét trong bối cảnh phân cực sâu sắc của chính trị quốc tế từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc cũng thấm đượm trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh. Điểm then chốt để “neo” thế giới quan của Hồ Chí Minh vẫn là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc và đi cùng với nó là tư tưởng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Phân tích tình hình thế giới là để giúp Người nhìn ra mối dây liên hệ giữa Việt Nam với thế giới và đánh giá đặc điểm quan hệ quốc tế là để giúp tìm lối đi cho con thuyền cách mạng Việt Nam.

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng tiên phong theo xu hướng mở cửa, đa dạng quan hệ, thu hút đầu tư, thúc đẩy buôn bán với nước ngoài. Đối với Người, khoa học là để phục vụ cách mạng và cụ thể hơn là phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng dân giàu nước mạnh. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh – vốn đã mạnh bởi cơ sở khoa học của nó – lại càng mạnh hơn vì đã dựa được vào sức mạnh của truyền thống dân tộc và giành được tính chính danh vì phục vụ lợi ích dân tộc.

Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định tiến lên chủ nghĩa xã hội phải từng bước phát triển kinh tế và văn hóa – xã hội; nâng cao đời sống vật chất của xã hội phải đồng thời với nâng cao đời sống tinh thần của con người; vấn đề không chỉ là sản xuất ra nhiều của cải, mà điều quan trọng hơn là chất lượng của cải phải ngày càng cao, và làm sao nâng cao được chất lượng sống cho nhân dân. Người cho rằng, chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội mà dân không được hưởng hạnh phúc thì chủ nghĩa xã hội đó cũng không có nghĩa lý gì.

Trong hệ thống các yếu tố của phát triển, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến chủ thể của quá trình phát triển – Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của một đảng cộng sản chân chính, trí tuệ và sáng tạo là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố cuối cùng có tính quyết định đối với sự định hướng và xây dựng một xã hội mới. Bởi theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của nhân dân, của cách mạng; mục đích của Đảng không có gì khác là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đó cũng thật sự là mục tiêu của bất kỳ một triết lý phát triển nào nhằm mục tiêu phát triển xã hội bền vững.

Ngày nay, với chủ trương xây dựng và chấn hưng đất nước, coi xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, thực chất là Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện triết lý phát triển theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là văn hoá đạo đức của Người.

Hơn nữa, với chủ trương tiến hành Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, rõ ràng Đảng ta đã thật sự thấm nhuần quan điểm phát triển xuất phát từ cách tiếp cận với văn hoá đạo đức, lấy đạo đức cách mạng làm gốc của người cách mạng chân chính.

Triết lý phát triển theo chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh gắn liền với bản chất chế độ ta, gắn liền với những thành tựu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang ra sức phấn đấu theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là triết lý hành động theo chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh chỉ có thể trở thành hiện thực khi mục tiêu cách mạng theo con đường Hồ Chí Minh đã chọn được thực hiện thành công ở nước ta.

hochiminhhoc.com

Hồ Chí Minh và sự lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười – từ góc nhìn văn hóa

Trong sự tiến triển của lịch sử loài người, thang giá trị cao nhất là sự giải phóng dân tộc và con người. Con đường cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn theo ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, đã ngời lên những biểu hiện văn hóa: vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc cho con người Việt Nam, vì hòa bình và hữu nghị giữa các nước. Sự lựa chọn đó đang được nhân dân ta tiếp tục thực hiện thắng lợi trong những điều kiện lịch sử mới.

Picture1.jpg

1. Với vị thế địa kinh tế – chính trị của đất nước, qua hàng ngàn năm lịch sử, đấu tranh sinh tồn, dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã đắp xây nên một truyền thống văn hóa tôn vinh những giá trị hướng tới và thực hiện sự giải phóng và phát triển của dân tộc và con người Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước – nhân văn là một truyền thống kép trong văn hóa Việt Nam, luôn tôn vinh những giá trị giải phóng và phát triển dân tộc đi đôi với giải phóng và phát triển con người phù hợp với sự tiến hóa của dân tộc và nhân loại.

Đây chính là bí quyết thắng lợi trong bảo tồn, phát triển dân tộc của ông cha ta và cũng là bí quyết thành công của các nhà chính trị nước ta trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam: thắng lợi của tất cả những cuộc đấu tranh bảo tồn nền độc lập dân tộc, xây dựng chế độ mới đều phải gắn liền với sự giải phóng con người Việt Nam và ngược lại. Giá trị của dân tộc gắn chặt với những giá trị về con người phải được hiện hữu trong tất cả chiến lược bảo tồn dân tộc và phục hưng đất nước.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân phương Tây, khát vọng giải phóng khỏi áp bức, bóc lột dân tộc và con người Việt Nam cực kỳ mạnh mẽ, đã làm nổ ra hàng loạt cuộc khởi nghĩa và thúc đẩy nhiều nhà cách mạng Việt Nam tìm tòi con đường cứu nước cứu dân.

Với ý chí cứu nước, cứu dân, hành trang lên đường của các nhà cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh, không có gì hơn là truyền thống văn hóa dân tộc với những giá trị đã làm nên bí quyết của cha ông ta trong bảo tồn dân tộc cũng như thành công của các nhà chính trị Việt Nam trước đó. Họ đều nhận thấy những hạn chế của phương thức cứu nước cũ và đều vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, đi ra nước ngoài hy vọng tìm ra con đường mới cứu nước, cứu dân. Việc ra đi tìm đường cứu nước đó, có động lực thúc đẩy của văn hóa truyền thống và đáp ứng sự đòi hỏi của thực tiễn Việt Nam.

Tuy nhiên, con đường mà các nhà cách mạng tiền bối như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu…thâu nhận là mới với lịch sử Việt Nam, với dân tộc ta, nhưng đã lỗi thời trong sự phát triển của nhân loại. Các cuộc cách mạng có giá trị lịch sử to lớn nhưng không tương thích với giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam về dân tộc và con người, đã bị chính những giá trị truyền thống này vượt qua. Đó là sự “không đến nơi”, như Hồ Chí Minh sau này đã viết về cách mạng Mỹ, Anh, Pháp – các cuộc cách mạng tư sản điển hình nhất lúc đó. Sự không tương thích về các giá trị văn hóa là điều giải thích căn cốt nhất cho việc khó thâm nhập và sự thất bại của con đường cách mạng tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ. Giá trị lớn nhất có thể kể tới của các cuộc cách mạng tư sản khi vào Việt Nam là nó cũng tạo ra một phong trào dân tộc bùng phát, nuôi dưỡng liên tục ngọn lửa cách mạng cứu nước ở nước ta, tạo cơ sở cho việc thâm nhập của con đường cách mạng – với những giá trị mới – tương thích với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Đó là sự chối từ của văn hóa Việt đối với những giá trị được diễn đạt rất hay nhưng vẫn ẩn chứa nội dung áp bức dân tộc và con người của cách mạng tư sản. Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam vẫn tiếp nhận một số giá trị chọn lọc mà nhân loại có được qua các cuộc cách mạng này.

Đây cũng là câu trả lời tại sao, sau gần mười năm gian khổ đi khắp thế giới tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh vẫn từ chối con đường cách mạng tư sản.

2. Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh về Pháp. Theo như Người viết: “Khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra ở nước Nga, tôi sống ở Pháp. Lúc đó, tôi chưa hiểu ý nghĩa của cuộc Cách mạng Nga. Trình độ tiếng Pháp của tôi còn kém và nhận thức chính trị của tôi còn bị hạn chế. Tôi mới chỉ là một người yêu nước có tinh thần cách mạng và một người chống chủ nghĩa thực dân…”(1).

Hồ Chí Minh cũng có nhận xét chung rằng, đến “Năm 1919, nhân dân thuộc địa chưa biết cuộc cách mạng Nga, biết được một ít thì lại bị tuyên truyền của đế quốc xuyên tạc… Do đó tất cả đều bị bài hát tự do của tổng thống Uyn-xơn mê hoặc. Cũng như dân tộc Triều Tiên, Ai Cập, Xy-ri và các dân tộc bị áp bức khác, một số những người quốc gia Việt Nam trẻ tuổi gửi một bản yêu cầu cho Hội nghị hoà bình ở Véc-xây. Họ nhận được những bức thư rất hay của các phái đoàn hứa sẽ “chú ý xem xét”. Thế là hết”(2). Và “những nhà cách mạng cuồng nhiệt theo chủ nghĩa Uyn-xơn”, theo Hồ Chí Minh, đã bị hoà ước Véc-xây “như gáo nước lạnh giội lên đầu” (3).

Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đã giúp cho Hồ Chí Minh quan sát thực tiễn và thấy rõ các cuộc cách mạng tư sản là “không đến nơi” và phát hiện thấy “sự mê hoặc của chủ nghĩa tự do Uyn-xơn” và sự hứa hẹn của các nước đế quốc là “trò lừa bịp”- như Người viết trong tác phẩm Đường cách mệnh – cũng như khi thấy rằng “trong tất cả những lời phát biểu” của các đại biểu của Quốc tế thứ hai, “đã ra sức lảng tránh vấn đề vận mệnh của các dân tộc thuộc địa”, Hồ Chí Minh đã đoạn tuyệt con đường cách mạng tư sản, đoạn tuyệt ảnh hưởng của Quốc tế hai để hướng tới ánh sáng mới, con đường cách mạng mới, vì giải phóng dân tộc và con người của Cách mạng Tháng Mười.

Hồ Chí Minh đã viết rằng, “Những người vô sản Pháp đã giúp”(4) Người hiểu rõ ý nghĩa vĩ đại của những sự kiện lịch sử diễn ra ở nước Nga, thấy rõ “cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người”(5) và chỉ ra con đường đúng đắn cho những người cách mạng của các dân tộc bị áp bức. Mặc dầu vậy, như Người viết, phải “nhờ kết quả thử nghiệm cũng như nhờ sự nghiên cứu sâu sắc” những nhà cách mạng này mới “đến với chủ nghĩa Mác hoặc như bản thân họ gọi là chủ nghĩa Lê-nin”(6).

Những kết quả thử nghiệm và những nghiên cứu sâu sắc ấy là gì để những nhà cách mạng ở các nước thuộc địa trong đó có Hồ Chí Minh lựa chọn chủ nghĩa Lê-nin và con đường Cách mạng Tháng Mười?

Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cách mạng Tháng Mười với kết quả của nó “đã đánh dấu việc mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người”, kỷ nguyên này được xác định với những biểu hiện sau đây:

Một là, “đã mở đường đi đến những thắng lợi mới của giai cấp công nhân trong cuộc sống xã hội”(7).

Hai là, đã xóa bỏ đi hiện tượng “quần chúng lao động là những người sáng tạo ra tất cả mọi của cải thì bị dìm trong đói khổ và ngu dốt, hai cái đó là số phận khốc hại và lâu đời của đại bộ phận loài người. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, nhân dân lao động đã bắt tay vào xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa không có bóc lột và áp bức dân tộc”(8).

Ba là, “đã chứng tỏ có khả năng lật đổ nền chuyên chính của bọn bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội bảo đảm cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng”(9).

Bốn là, “đã mở ra thời đại của một chính sách ngoại giao mới, chính sách hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”(10).

Với sự nhìn nhận của Hồ Chí Minh, bên cạnh thắng lợi có ý nghĩa vạch thời đại đã được chỉ rõ trên đây, Cách mạng Tháng Mười còn “đem lại cho nhân dân tất cả các dân tộc quyền tự quyết và những phương tiện thực tế để thực hiện quyền đó”,.. đã “tạo điều kiện cho sự liên minh tự nguyện giữa các dân tộc tự do trên cơ sở bình đẳng hoàn toàn về quyền lợi”(11), “làm cho các dân tộc thuộc địa – từ trước đến nay rời rạc với nhau – hiểu biết nhau, và đoàn kết với nhau, do đó đặt cơ sở cho một khối liên hợp tương lai giữa các nước phương Đông, khối liên hợp đó là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”, “làm cho đội tiên phong của giai cấp vô sản các nước thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này, chỉ có sự hợp tác đó mới có thể bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng” (12).

Với vị trí, vai trò đó, như Hồ Chí Minh viết: Cách mạng Tháng Mười “đã mở một thời đại mới của lịch sử loài người, thời đại công nông đấu tranh giành quyền làm chủ vận mạng của mình; thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành lấy tự do độc lập; thời đại thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc; thời đại suy sụp và tan rã của chủ nghĩa đế quốc, thực dân; thời đại mà chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thành lý trí và lương tâm của mọi người tiến bộ trên thế giới”.(13)

Nhờ nghiên cứu kết quả thử nghiệm và nghiên cứu sâu sắc về lý luận cũng như “thích tham dự vào các cuộc tranh luận sôi nổi” trong Đảng Xã hội Pháp, “thích đọc các tác phẩm của V.I. Lê-nin về các vấn đề thuộc địa” mà tại Đại hội Tua năm 1920, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba, khẳng định sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó là sự lựa chọn lý tính, vì như Người viết: “Lúc đó, tôi đã nắm vững tiếng Pháp và đã có thể tiến hành tự học chính trị một cách sâu sắc và có thể hiểu rõ các vấn đề quốc tế”(14).

3. Không thâu nhận học thuyết và mô hình cách mạng tư sản, không đi theo con đường của Quốc tế hai, nhưng Hồ Chí Minh lại nhanh chóng tán thành Quốc tế ba, tiếp nhận con đường Cách mạng Tháng Mười, con đường cách mạng vô sản vì giá trị thực tiễn của cuộc cách mạng này.

Sự lựa chọn con đường cách mạng của Hồ Chí Minh chính là sự lựa chọn của chính văn hóa truyền thống Việt Nam, là sự tương thích giữa giá trị văn hóa dân tộc với các giá trị mới của nhân loại mà cuộc cách mạng vô sản theo con đường của Cách mạng Tháng Mười đem lại về giải phóng dân tộc và giải phóng con người, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Sự nhìn nhận của Hồ Chí Minh về giá trị của Cách mạng Tháng Mười như đã trình bày trên đây và sự lựa chọn của Người dựa trên nền tảng văn hóa Việt Nam, nhu cầu thực tiễn của nhân dân Việt Nam theo thời đại mới được vạch ra sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười làm cho cách mạng Việt Nam có đủ yếu tố thiên thời – địa lợi – nhân hòa.

Đó là sự phù hợp với sự tiến hóa của thời đại mới: giải phóng dân tộc và con người trên một cấp độ mới cao hơn – là cơ sở tạo ra sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và thời đại (thiên thời).

Đó là sự đáp ứng được giá trị văn hóa và nhu cầu của dân tộc Việt Nam nên được nhân dân Việt Nam nhanh chóng tiếp nhận, đi theo, tạo cơ sở cho hình thành tối đa lực lượng đoàn kết dân tộc để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới vì con người (địa lợi).

Đó là sự phù hợp với sự phát triển của văn minh nhân loại, đáp ứng yêu cầu thường trực của các dân tộc về vấn đề giải phóng dân tộc và con người, tạo ra cơ sở cho sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh cho khát vọng độc lập dân tộc và vì tự do – hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa – đó là độ cao vô cùng của thế và sức mạnh vô tận của lực cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam (nhân hòa).

Lựa chọn con đường cách mạng là lựa chọn con đường phát triển của dân tộc, của đất nước Việt Nam. Tính đúng đắn của sự lựa chọn con đường cách mạng phụ thuộc vào sự phù hợp với văn hóa và đòi hỏi thực tế của dân tộc và chỉ khi đã được dân tộc Việt Nam tiếp nhận, đồng thời nó phải phù hợp với trình độ phát triển mới và xu thế tiến lên của loài người và được biểu hiện bằng sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Bởi vậy, sự lựa chọn con đường cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh theo con đường của Cách mạng Tháng Mười là tất yếu và đúng đắn.

Lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, nhưng ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cần phải vận dụng, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam” để hoạch định con đường cách mạng phù hợp với điều kiện Việt Nam và thời đại mới và chỉ có như vậy mới đáp ứng được sự phù hợp với yêu cầu về văn hóa và thực tiễn của dân tộc.

Từ năm 1924, khi trả lời phỏng vấn báo Unita (I-ta-li-a), Người đã nói: “chúng tôi tiếp tục đi theo con đường cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được”(15).

Sau này, Người viết: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần” (16).

Xuất phát từ điều kiện thiết thực của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vạch ra Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ ra con đường cách mạng nước ta là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(17). Sau này, Người phân tích rõ rằng: “Tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới… Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”(18).

Với con đường đó, cách mạng Việt Nam đã thắng lợi và như Hồ Chí Minh viết: “con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga”(19).

Con đường cách mạng vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam, vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc vẫn là con đường văn hóa nhất và mãi là con đường thắng lợi của cách mạng nước ta.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, t 8, tr 440
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 33 – 34
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 390
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 440
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 558
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 390
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 558
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 559
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 560
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 560
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 565-566
(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t 1, tr 302
(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 635
(14) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 441
(15) Hồ Chí Minh: Sđd, t 1, 482
(16) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 209
(17) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 1
(18) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 209
(19) Hồ Chí Minh: Sđd, t 11, tr 495

Phạm Hồng Chương
PGS.TS, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân Việt Nam – di sản có ý nghĩa cách mạng trong lĩnh vực quân sự

Cách đây 62 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đáp lại Lời kêu gọi của Người, toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt gái, trai, già, trẻ, dân tộc, đảng phái, tôn giáo đã đứng lên, không sợ hy sinh, không quản gian khổ, với mọi thứ vũ khí có trong tay, quyết giành lại độc lập cho dân tộc. Với chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc to, Việt Nam đã làm nên một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực quân sự. Đó là chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, mà tác động của nó còn ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến nghệ thuật quân sự thế giới trong thế kỷ XXI.

203.jpgBác Hồ trong chiến dịch biên giới 1950 Ảnh: Tuấn Anh

Trong hơn một thập niên vừa qua, trên thế giới có hàng loạt bài viết, chuyên đề, các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học cấp quốc gia và quốc tế bàn về chủ đề cuộc cách mạng mới trong quân sự. Nhiều chuyên gia quân sự trên thế giới cho rằng, cách mạng mới trong quân sự không chỉ xuất phát từ các thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự mà còn là sự phát triển có tính cách mạng trong nghệ thuật quân sự.

Xét về phương diện đó, với chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc to, Việt Nam đã làm nên một cuộc cách mạng thực sự trong quân sự. Đó là chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh mà tác động của nó còn ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến nghệ thuật quân sự thế giới trong thế kỷ XXI.

Nguồn gốc và cơ sở quan trọng nhất của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại mới là tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng ta, kế thừa, phát triển học thuyết quân sự Mác – Lê-nin, một học thuyết mang tính tổng hợp, coi sức mạnh quân sự gắn liền với chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và kỹ thuật v.v..

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng tài tình học thuyết quân sự Mác – Lê-nin vào điều kiện và hoàn cảnh cách mạng Việt Nam. Những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, trên những nét khái quát, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau.

Đảng lãnh đạo cách mạng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc đánh thắng kẻ thù xâm lược

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh cứu nước phải là sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của cả dân tộc. Dưới sự chỉ đạo sáng suốt và tầm nhìn xa, Đảng ta đã đưa ra ba quyết định có ý nghĩa lịch sử. Một là, quyết định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và kêu gọi cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hai là, quyết định kêu gọi cả nước đứng lên kháng chiến chống Pháp, đưa cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Pháp đến thắng lợi, giải phóng một nửa đất nước, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ba là, quyết định kêu gọi cả nước đứng lên kháng chiến chống Mỹ, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

225.jpgChiến tranh toàn dân toàn diện

Muốn đánh thắng những kẻ địch hung bạo, mạnh hơn ta gấp bội về kinh tế, quân sự, khoa học và công nghệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương phải tiến hành chiến tranh toàn diện, trong đó mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già trẻ, gái trai, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ đều phải trở thành chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ quy luật tất yếu: bảo vệ đất nước luôn luôn gắn liền với xây dựng đất nước, động viên toàn dân kháng chiến luôn luôn đi đôi với bồi bổ sức dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trường thực hiện kháng chiến toàn diện bằng sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, lấy đấu tranh quân sự là chủ chốt, là trực tiếp quyết định.

Gắn chặt tiến tuyến với hậu phương

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa tiền tuyến với hậu phương. Trong khi nêu khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, Đảng ta đồng thời đã đề ra nhiệm vụ xây dựng hậu phương vững mạnh về mọi mặt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào thi đua ái quốc. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Đảng ta và Bác Hồ đã phát động quần chúng thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất, xây dựng và củng cố hậu phương, tạo nên khí thế mới và sức mạnh mới, góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi vĩ đại trên mặt trận Điện Biên Phủ.

Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam, trở thành căn cứ địa cho cả nước, đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng miền Bắc, coi miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Bác chỉ rõ, mọi việc chúng ta làm ở miền Bắc đều nhằm tăng cường lực lượng của miền Bắc vào miền Nam. Bác xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Quá trình lịch sử trên 30 năm kháng chiến chứng tỏ rằng, chiến tranh ngày càng mở rộng, quy mô ngày càng lớn, mức độ ác liệt ngày càng tăng, thì vai trò của hậu phương ngày càng to lớn. Rõ ràng, hậu phương vững mạnh về mọi mặt là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi trong chiến tranh.

Nắm chắc ý đồ của địch, quán triệt quan điểm đánh lâu dài

Trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng nói chung và chỉ đạo chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc tình hình để phân tích cục diện trong nước và trên thế giới, đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trong từng giai đoạn của cách mạng nói chung, trong từng giai đoạn chiến tranh nói riêng, từ đó đề ra chiến lược, sách lược đúng đắn để chỉ đạo cuộc kháng chiến trường kỳ, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi từng bước và ngày càng to lớn.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định chiến lược đánh lâu dài nhằm làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương trường kỳ kháng chiến, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng, tích luỹ kinh nghiệm để đủ sức đánh bại quân địch. Trong trường kỳ kháng chiến, Bác rất coi trọng giành cho được những thắng lợi liên tiếp, dù nhỏ, vừa góp gió thành bão đưa kháng chiến tiến lên, vừa để nuôi dưỡng chí khí cách mạng, tinh thần kiên trì chiến đấu của đồng bào và chiến sĩ.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, Đảng ta một lần nữa lại đề ra chiến lược đánh lâu dài với lời kêu gọi của Bác: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá. Nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, cả nước một lòng, quyết đánh lui kẻ địch từng bước, đánh đổ chúng từng bộ phận, tiến tới hoàn toàn đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại

125.jpgBác Hồ và đội OSS Ảnh: Tuấn Anh

Ngay từ buổi đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ mối quan hệ hữu cơ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả, giữa tinh thần tự lực tự cường của dân tộc với việc tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, sự giúp đỡ quốc tế. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Phải luôn luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, giữ gìn và phát triển tình hữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa anh em; hết lòng ủng hộ phong trào giải phóng của các dân tộc; đoàn kết với giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.

Tinh thần cách mạng tiến công

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương, cách mạng là tiến công. Khởi nghĩa và kháng chiến là tiến công. Tiến công vào mọi kẻ thù của dân tộc, tiêu diệt chúng để giành lại độc lập và tự do. Tiến công vào chế độ cũ, dựng nên chế độ mới, xoá bỏ mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc. Muốn đưa cách mạng, đưa kháng chiến đến thắng lợi, phải tiến công liên tục, tiến công kiên quyết.

Khi chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Bác đưa ra quyết tâm “Dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn, chúng ta cũng phải giành lấy độc lập”.  “Hễ còn một tên lính thực dân trên đất nước Việt Nam thì cứ đánh, đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn”. Đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Bác ra lời kêu gọi: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”. Đó là tinh thần kiên quyết tiến công của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta, của toàn quân và toàn dân ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng.

Tư tưởng chiến lược tiến công là định hướng cơ bản của hành động. Về quân sự, hình thức tác chiến chủ yếu là tiến công, nhưng trong điều kiện cụ thể nhất định, có thể áp dụng hình thức tác chiến phòng ngự tạm thời để chuẩn bị tiến công. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. “Phải luôn luôn giành lấy chủ động”.

Nếu hành động tiến công là biện pháp chủ yếu để giành chủ động, thì quyền chủ động là sự thể hiện cao nhất của tư tưởng chiến lược tiến công, của quyền làm chủ trên chiến trường và trong toàn bộ cuộc chiến tranh cách mạng. Tư tưởng chiến lược tiến công thể hiện tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp công nhân.

Xây dựng quân đội cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng quân đội cách mạng. Người đã trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức các đội tự vệ và dân quân và sáng lập ra Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất sâu sắc rằng, muốn giải phóng dân tộc, phải dùng bạo lực cách mạng, sức mạnh của quần chúng được tổ chức lại là cơ sở cho bạo lực cách mạng, lấy lực lượng chính trị của quần chúng làm cơ sở, coi đó là nguồn sức mạnh vô tận. Từ đó, quy luật của bạo lực cách mạng ở nước ta ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ. Bác chỉ rõ đường lối tổ chức của các lực lượng vũ trang cách mạng là, trên cơ sở phát triển lực lượng vũ trang quần chúng mạnh mẽ và rộng khắp, cần ra sức xây dựng quân đội nhân dân chính quy và hiện đại.

223.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì dân mà chiến đấu, cho nên đi đến đâu đều được dân tin, dân phục, dân yêu. Người nói: “Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”. “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân dựa trên những nguyên tắc cơ bản của một quân đội cách mạng. Chỉ thị của Bác nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để thành lập một đội quân đầu tiên cần phải duy trì các lực lượng vũ trang địa phương”.

Từ những ngày ấy, Bác đã phác hoạ một lực lượng vũ trang nhân dân đông đảo gồm có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và các tổ chức, dân quân tự vệ. Trong suốt quá trình chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa và tiến hành kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Bác hết sức coi trọng vai trò chiến lược của dân quân tự vệ, là lực lượng vô địch của toàn dân tộc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó đều phải tan rã. Bác đã sớm thấy rõ vai trò chiến lược của đội quân chủ lực. Quân đội là công cụ của nhà nước vô sản chuyên chính. Bởi vậy, Bác Hồ luôn luôn coi trọng việc phát huy bản chất cách mạng và tăng cường sức chiến đấu của quân đội, coi trọng vấn đề không ngừng nâng cao chất lượng của quân đội.

Trong lãnh đạo chiến tranh, theo yêu cầu của nhiệm vụ và khả năng của đất nước, Bác và Trung ương Đảng đã chủ trương không ngừng động viên sức người, sức của, phát triển số lượng của cả ba thứ quân; đưa bộ đội chủ lực từ mấy trăm người, mấy nghìn người lúc đầu lên đến hàng vạn, hàng mấy chục vạn người trong kháng chiến chống Pháp, hàng trăm vạn người trong kháng chiến chống Mỹ. Số lượng và chất lượng đều là những nhân tố tạo nên sức mạnh chiến đấu. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển quân đội về số lượng, Bác Hồ và Đảng ta đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng về mọi mặt của quân đội. Quân đội càng phát triển về số lượng thì nâng cao chất lượng càng trở nên bức thiết. Chất lượng của quân đội là một vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định.

Không coi nhẹ vai trò của kỹ thuật

Con người và kỹ thuật là hai nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Con người là nhân tố quyết định. Kỹ thuật là yếu tố rất quan trọng. Trên bước đường tiến lên chính quy hiện đại, vũ khí và trang bị của quân đội ta ngày càng nhiều, trình độ hiện đại ngày càng cao, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng lớn. Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ và chiến sĩ phải coi trọng kỹ thuật, phải ra sức học tập để làm chủ kỹ thuật. Bác nói: “Giác ngộ chính trị thì cố nhiên cần rồi… nhưng lại phải có văn hoá, kỹ thuật để sử dụng máy móc ngày càng tinh vi”. Khen ngợi một số đơn vị có thành tích tốt về cải tiến kỹ thuật, Bác cho rằng: “Đó là bước đầu tiên trên con đường muôn dặm của cách mạng kỹ thuật”.

Cán bộ có vai trò quyết định

Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò rất quan trọng của cán bộ. Người nói, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Trong những năm lãnh đạo công việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Việt Bắc, Người luôn luôn nhắc nhở: “Muốn cho phong trào phát triển vững mạnh thì phải khéo phát hiện những phần tử trung kiên, đào tạo thành cán bộ nòng cột cho các tổ chức cứu quốc”. Khi đề ra chủ trương tổ chức các đội tự vệ chiến đấu, Bác nhấn mạnh: “Phải lựa chọn những phần tử hăng hái nhất, đưa những người có phẩm chất và năng lực ra làm chỉ huy, đội trưởng”. Quân đội là một tổ chức có trình độ tập trung và kỷ luật cao, có trách nhiệm, làm việc dũng cảm và khó khăn; thắng hay bại trong chiến đấu không những liên quan đến sự phát triển của phong trào cứu quốc, mà có ảnh hưởng đến xương máu của chiến sĩ. Vì vậy, khi đề ra chủ trương thành lập đội quân giải phóng, Người đã tự mình chọn lựa các cán bộ chỉ huy đầu tiên, căn dặn phải tuyển lựa các chiến sĩ có tinh thần chiến đấu cao, và được rèn luyện thử thách trong thực tiễn đấu tranh cách mạng.

224.jpg

Chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là một pho kinh nghiệm phong phú, vô giá, không chỉ đối với chúng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay và trong tương lai, mà còn đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới đứng lên giải phóng khỏi ách cai trị, chiếm đóng và áp bức từ bên ngoài.

Đã có không ít đoàn đại biểu quân sự các nước đến Việt Nam để học tập kinh nghiệm về chiến tranh nhân dân, còn viện nghiên cứu quân sự của các nước đế quốc đã dày công nghiên cứu về chiến tranh nhân dân Việt Nam để rút ra bài học, nhằm tránh thất bại trong các cuộc chinh phục thuộc địa ở nhiều nơi trên thế giới!/.

Nguyễn Đình Chiến
Thiếu tướng, TS. Viện Chiến lược quân sự

hochiminhhoc.com