Thư viện

Tư tưởng Bác Hồ về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

TQĐT – Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, năm 2009, cán bộ, đảng viên, công chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể chính trị – xã hội triển khai học tập chuyên đề: “Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Bác Hồ dạy: “Làm cán bộ, tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”.
Ảnh chụp Bác tại Đại hội II của Đảng (2-1951)

Nói về những phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam, Bác Hồ chỉ rõ: Mỗi người đều phải tuân theo đạo đức công dân. Đạo đức công dân, theo Bác là hăng hái tham gia công việc chung, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ Tổ quốc, cần, kiệm xây dựng nước nhà… Người nói, mỗi người đều phải có bổn phận với đất nước. Nước là của dân và dân là chủ của nước. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm công dân trước hết và bao trùm nhất là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân.

Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, Người yêu cầu, vừa phải thực hiện đạo đức công dân, vừa thực hiện đạo đức của người cán bộ – đạo đức cách mạng, nghĩa là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”. Xuất phát từ quan niệm “dân là chủ và dân làm chủ”; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Chính phủ, cán bộ, công chức nhà nước là công bộc của dân, phải nêu cao ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân. Trong bức thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17-10-1945 Bác viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đày tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”.

Với cán bộ, đảng viên, cần nhận thức rõ, nêu cao ý thức trách nhiệm hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, là mục đích và bản chất của Đảng. Bác Hồ đã khẳng định, Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của nhân dân lao động, của dân tộc. Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc; đại biểu cho lợi ích giai cấp và dân tộc. Đảng lấy dân làm gốc. Đảng cầm quyền, nhưng dân làm chủ. Đảng cầm quyền là để bảo đảm cho dân làm chủ. Người dân uỷ thác quyền lực đó cho những chức danh cụ thể, kể cả chức vụ Chủ tịch nước. Trong buổi gặp các nhà báo đầu năm 1946, Bác Hồ đã tuyên bố: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm…”.

Cán bộ, đảng viên, công chức phải phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vì theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng là do nhân dân tiến hành. Nhân dân là người làm ra lịch sử. Sức mạnh của nhân dân là vô địch. Không có nhân dân, Đảng, Chính phủ không có lực lượng. Có dân là có tất cả: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trước hết, về ý thức trách nhiệm, theo Bác Hồ, đó là thể hiện trong mối quan hệ với nhiệm vụ được giao, với công việc phải làm. Khi được giao việc gì, bất kỳ to, hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải dồn hết tâm huyết làm đến nơi, đến chốn, tự giác làm. Nếu làm việc theo lối cẩu thả, dễ làm, khó bỏ, làm cho qua chuyện, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm. Ý thức trách nhiệm còn thể hiện không thụ động, trông chờ, ỷ nại; phải chủ động nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện đúng đường lối quần chúng.

Bác Hồ căn dặn cán bộ, đảng viên, Đảng, Chính phủ đề ra đường lối, chính sách; cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần… Từ đó, căn cứ tình hình thực tế đơn vị, địa phương mình rồi đặt ra kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực; tuyên truyền, vận động, tổ chức nhân dân thi đua thực hiện. Đồng thời, phải bàn với dân, hỏi han, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình, “Phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân”.

Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh là mọi người đều phải có trách nhiệm với Đất nước – Tổ quốc. Tổ quốc và nhân dân có mối quan hệ máu thịt, theo nghĩa “đồng bào”. Thế nên, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải tận tâm, tận lực, tận tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Và phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, xác định vì nhân dân mà làm việc: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh”. Bác Hồ đã nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Phục vụ nhân dân là phải “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Phục vụ nhân dân theo tư tưởng Bác Hồ là hướng dẫn nhân dân tự chăm lo đời sống của chình mình (hướng dẫn tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…); là đề ra được các chủ trương, chính sách đúng đắn vì lợi ích của nhân dân (hợp lòng dân). Bác đã căn dặn, việc to, việc nhỏ đều phải phù hợp với lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng, thì mới có thể phục vụ được quần chúng, “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa…”. Phụng sự, phục vụ nhân dân phải luôn luôn thấu triệt cán bộ là công bộc, là đày tớ của dân. Bác Hồ đã dạy: “Làm cán bộ, tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi học suốt đời mới thuộc được”. Làm đày tớ thì phải học dân, hỏi dân, hiểu dân. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc, Đảng và dân tộc là trên hết, là mục đích cao cả nhất, đó là trách nhiệm của một người dân mất nước, khi nước nhà chưa giành được độc lập, tự do. Vì vậy, Người xác định trách nhiệm: “Riêng phần tôi, xin đem hết toàn lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dẫu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”. Đó là tấm gương suốt đời, tất cả vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc, lợi dân”. Trước khi “từ biệt thế giới này”, đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin, Bác viết trong bản Di chúc: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân hết sức rộng lớn và sâu sắc. Trước hết là ở nhận thức về Tổ quốc, về nhân dân, về vị trí, vai trò của cán bộ, đảng viên, công chức. Dân là chủ, là gốc của nước. Cán bộ là công bộc, là đày tớ của dân. Phục vụ nhân dân là nhiệm vụ của mọi cán bộ, công chức, là gốc của mọi công việc. Đó cũng là những vấn đề cốt lõi của việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tấm gương đạo đức Bác Hồ kính yêu.

Phan Nguyễn

baotuyenquang.com.vn

Lựa chọn, sử dụng cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Người còn là vị lãnh tụ, người thầy của lớp lớp cán bộ cách mạng ưu tú của Đảng, của cách mạng Việt Nam.

Một số cán bộ sau này trở thành những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, của Nhà nước. Những lời dạy của Người về cán bộ và công tác cán bộ đến nay còn có ý nghĩa thiết thực cho mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay học tập, rèn luyện, để phục vụ đất nước.

315634080569472656250.jpgCán bộ là cái gốc của mọi công việc (Hồ Chí Minh). Ảnh: Tuấn Anh

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của cán bộ. Người cho rằng: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”([1]). Chính vì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”([2]) nên việc lựa chọn cán bộ phải tuân theo những tiêu chuẩn nhất định như phải có đạo đức cách mạng, phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của nhân dân; có mối liên hệ mật thiết với nhân dân, hiểu biết nhân dân, luôn chú ý đến lợi ích của nhân dân; người cán bộ phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, có trí tuệ, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi, chí công vô tư… Những đòi hỏi này có thể coi là những tiêu chuẩn cơ bản chung nhất của người cán bộ cách mạng trong tất cả các thời kỳ, ở tất cả các cấp, ở tất cả các địa bàn. Với những yêu cầu này, các cấp, các ngành, các địa phương có thể vận dụng để đề ra tiêu chuẩn cụ thể để lựa chọn cán bộ cho ngành mình, địa phương mình, cấp mình.

Có thể thấy, dù yêu cầu của lịch sử, nhiệm vụ của cách mạng, quyền lợi của nhân dân, ở mỗi thời điểm có thay đổi, tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh vào hai chữ Đức và Tài. Bởi cán bộ có đức thì mới chí công vô tư trong cách làm việc và cán bộ cần có tài, đủ năng lực để lãnh đạo nhân dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là đạo đức. Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Người đã phân tích sâu sắc vai trò đạo đức, coi đó là tiêu chuẩn đặc biệt quan trọng mà Đảng, chính phủ và các đoàn thể phải quan tâm để lựa chọn, rèn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng. Người thường nói: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”([3]). Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng, vì mọi việc thành hay bại, điều chủ chốt là ở cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không, vì tính xấu của một người thường chỉ hại cho người ấy, còn tính xấu của cán bộ, đảng viên sẽ hại đến Đảng, đến cách mạng, đến nhân dân. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên phải hiểu rõ bổn phận của mình là suốt đời hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phải cố gắng thực hiện cho kỳ được: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đấy mới là người cán bộ tốt, có tâm, có đức.

Trong khi coi đạo đức là gốc, là nền tảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời đánh giá rất cao và coi trọng tài năng. Tài không giản đơn thu gọn ở bằng cấp, học vị. Người tài trước hết phải có hoài bão, có động lực mạnh mẽ, có sự thôi thúc là phải làm được một cái gì đó cho đất nước, cho nhân dân. Trong quá trình thực hiện hoài bão đó, người tài cũng tìm được hạnh phúc cho bản thân thông qua công việc của mình.

Hai mặt đạo đức, tài năng trong tư tưởng Hồ Chí Minh có quan hệ mật thiết: đạo đức là cơ sở của tài năng, định hướng tư tưởng, hành động, đem tài năng phục vụ nhân dân. Người nói: “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô, hủ hóa có hại cho nước. Có đức mà không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”([4]). Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sau một đêm suy nghĩ đã ký bác đơn chống án của Trần Dụ Châu (nguyên là Cục trưởng Cục Quân nhu đã lợi dụng chức quyền tham ô, bớt xén của công để ăn chơi, hưởng thụ và bị kết án tử hình), chính là hành động kiên quyết của Người trong việc chống tham nhũng trong cán  bộ, đảng viên.

Với quan điểm “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, nên ngay sau khi cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề chống nạn dốt là vấn đề cấp bách thứ 2 của nhà nước sau vấn đề nạn đói. Bác kêu gọi mọi người thi đua học tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc thông thái. Đặc biệt, Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”. Người chỉ cho chúng ta con đường đưa đất nước phồn vinh. Đó là con đường phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, Người còn coi trọng chính sách sử dụng nhân tài. Nhìn lại thời điểm năm 1946, khi Người qua Paris với tư cách là Chủ Tịch nước Việt Nam độc lập, thượng khách của nước Pháp. Đó cũng là thời điểm cuộc đàm phán chính thức Việt-Pháp (Hội nghị Phôngtennơblô) diễn ra. Dẫu không tham dự, Người vẫn theo dõi sát sao từng diễn biến của cuộc đàm phán và cho những ý kiến chỉ đạo kịp thời. Cuộc đàm phán thất bại, đẩy chúng ta vào tình thế vô cùng khó khăn là không còn con đường nào khác ngoài con đường cầm vũ khí chống lại thực dân Pháp.

Từ nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc để cùng toàn dân kháng chiến. Sự kiện đáng chú ý trong thời gian Người ở Pháp là Người đã cảm hoá và đưa về nước được những trí thức lớn của đất nước như Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước,… Sau đó, với tư cách là Chủ tịch nước, Người đã ra chỉ thị cho các địa phương phải tìm người hiền tài ra gánh vác công việc cho nước, cho dân. Chúng ta có thể cảm nhận được chính sách “chiêu hiền đãi sĩ”, “cầu người hiền tài” của Người qua những lời cảm kích sau đây: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức. Nghe vì Chính phủ nghe không đến, thấy không gấp đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó, tôi xin thừa nhận”([5]).

Đi theo tiếng gọi của Người, rất nhiều trí thức Việt Kiều về nước và những trí thức trong nước đã từ chối cuộc sống giàu sang, đầy đủ vật chất, danh vọng của chế độ tư bản để chấp nhận gian khổ hy sinh cùng với dân tộc mình. Những năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lưu ý đến quy trình lựa chọn, sử dụng cán bộ kiểu mẫu như những tiêu chí mà Người đề ra trong cuốn Sửa đổi lối làm việc viết vào tháng 10/1947. Những tên tuổi trí thức nho học và tây học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chinh phục như Huỳnh  Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Giám, Lương Định Của, Phạm Huy Thông, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Hoàng Xuân Sính,… đều đã trở nên những người con kiên trung cho Tổ quốc, thành vốn cán bộ quý cho Đảng, cho Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.

Tư tưởng về tài và đức của Bác đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn sáng mãi tính khoa học, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, là bài học vô cùng quý giá cho chúng ta noi theo trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước có cả cơ hội và thách thức đan xen ngày hôm nay. Phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến, ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” vẫn đã và đang diễn ra. Cách thức sử dụng và bổ nhiệm cán bộ của chúng ta còn nhiều quan liêu, tiêu cực, thoả hiệp dễ dãi theo cơ cấu. Rất nhiều người có tài đức không được bổ nhiệm, giao nhiệm vụ hoặc có được bổ nhiệm lại trái chân. Cách đánh giá và tuyển chọn cán bộ ở nhiều ban ngành cơ quan còn dựa vào tiêu chí thân quen, bằng cấp, chân truyền chứ không căn cứ vào thực chất, khả năng trí tuệ sáng tạo của những người cán bộ thực sự cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hậu quả của phương thức sử dụng, bổ nhiệm cán bộ sai lầm này góp phần làm nảy sinh nhiều bất cập trong cơ chế và tiêu cực trong đời sống xã hội. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống dẫn đến sự quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra rất nghiêm trọng.

Chính vì thế, hơn lúc nào hết, trong bối cảnh hiện nay, việc lựa chọn đội ngũ nhân sự của Đảng gồm những người biết lo cái lo của dân, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư như Bác Hồ kính yêu của cả dân tộc ta đã răn dạy càng cần thiết. Chỉ có những công bộc thực sự của dân và vì dân như vậy mới đáp ứng được mong muốn của nhân dân và tập hợp được cả dân tộc thành một lực lượng hùng hậu để xây dựng đất nước Việt Nam hùng mạnh, làm cho dân tộc ta sánh vai được với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn.

Bùi Kim Hồng
Giám đốc khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”

Tư tưởng về chiến lược trồng người là một giá trị to lớn Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam, chiến lược trồng người của Hồ Chí Minh là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt trong cuộc đời Người, mang tính nhân văn sâu sắc và có  giá trị to lớn đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

293.jpgBác Hồ với các cháu thiếu nhi. Ảnh: Tuấn Anh

Là một người suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải  phóng con người, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến những quyền con người xứng đáng được hưởng, những quyền “bất khả xâm phạm”, đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(1) , sự quan tâm của Người đã trở thành khát vọng giải phóng triệt để con người, là ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời 79 mùa xuân của mình. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một chiều sâu về văn hóa, chiều sâu đó xét ra chính là chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn cao cả, đó là sự tôn trọng, đề cao và nâng cao những giá trị thuộc về con người.

Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nêu ra yêu cầu tất yếu để xây dựng một xã hội mới, chế độ mới tốt đẹp hơn – Chủ nghĩa xã hội đó chính là yếu tố con người, Hồ Chí Minh cho rằng: “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”(2) , Người cũng khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” (3), theo Hồ Chí Minh những con người xã hội chủ nghĩa này phải hội đủ 2 yếu tố đó là “vừa hồng, vừa chuyên”, nói rộng ra đó thực chất chính là hai mặt đức và tài, trong đó Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là nền tảng, là yếu tố căn cốt của con người mới và là nhân tố thể hiện sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội.

Vậy, muốn có những con người xã hội chủ nghĩa thì cần phải làm gì? Hồ Chí Minh cho rằng: “vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(4) , muốn có những con người đủ đức, đủ tài để đảm  đương nhiệm vụ trọng đại của dân tộc thì phải tiến hành “trồng người” đó là lợi ích trăm năm, là kế sách lớn cho sự phát triển.

Trong bản Di chúc lịch sử Người để để lại cho toàn Đảng và toàn dân ta, Hồ Chí Minh yêu cầu công việc đầu tiên mà Đảng phải làm sau khi đã “chỉnh đốn” lại đó là “công việc đối với con người”(5) , trong đó Hồ Chí Minh đã căn dặn “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” (6). Để làm được điều đó thì Người cho rằng “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”(7).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”, rất toàn diện và sâu sắc. Tùy từng thời kỳ và nhiệm vụ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh lại đặt ra những yêu cầu khác nhau về công tác trồng người. Nhưng tựu chung lại có thể khái quát thành những nội  dung lớn sau đây:

Thứ nhất, chiến lược trồng người phải làm sao đào tạo được những con người có đạo đức cách mạng, đó là lòng trung thành với tổ quốc và nhân dân, không ngừng bồi dưỡng, trau dồi những phẩm chất đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, có lòng yêu thương con người và tinh thần quốc tế vô sản, có ý thức và tinh thần làm chủ tập thể “mình vì mọi người, mọi người vì mình”(8) , đồng thời Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải đấu tranh chống lại những căn bệnh do chủ nghĩa cá nhân sinh ra như tham ô, lãng phí, quan liêu. Theo  Hồ Chí Minh, đó chính là một thứ giặc nguy hiểm, giặc nội xâm, giặc ở trong lòng, nó phá hoại sự nghiệp của chúng ta từ bên trong, nó là “kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội” vì vậy phải  kiên quyết “quét sạch”.

Thứ hai, chiến lược trồng người là phải tạo nên những con người có ý chí học hỏi, cầu tiến bộ, không ngừng vươn lên làm chủ những thành tựu văn hóa, khoa học kỹ thuật, những hiểu biết mới của thời đại. Trong “Thư gửi các học sinh” nhân ngày khai trường năm 1945, Người đã chỉ ra nhiệm vụ cho thế hệ trẻ đó là “phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta” , để “cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu”, đó là một trách nhiệm rất nặng nề song cũng vô cùng vẻ vang. Trong nhiệm vụ vẻ vang giáo dục, đào tạo ấy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng và Nhà nước phải hết sức quan tâm, chú ý vì đó là tiền đồ, là tương lai của dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ trong sự nghiệp cách mạng to lớn ấy là “cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào đạo  thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”(9).

Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưa phải là ở lý tưởng cao xa, ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng được tự do giải phóng, mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những người cộng sản luôn sống và chiến đấu cho lý tưởng đó của loài người thành hiện thực(10) . Trong bài nói chuyện tại buổi lễ khai mạc đại học nhân dân Việt Nam ngày 19/1/1955 Người đã chỉ ra nhiệm vụ của thế hệ trẻ trong thời kỳ kiến thiết nước nhà xây dựng chế độ mới đó là “không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?” (11), vì vậy, thế hệ trẻ phải có trách nhiệm với sự tồn vong, hưng thịnh của dân tộc.

Thứ ba, chiến lược trồng người phải tạo nên những con người có tinh thần tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, “Phải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được. Phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp”(12) . Đó là những con người phải nhạy bén với cái mới, biết vận dụng nó vào thực tế công tác để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Đồng thời, đó phải là những con người “có chí tự động, tự cường, tự lập, phải có khí khái ham làm việc, chứ không ham địa vị” (13). Hồ Chí Minh cũng yêu cầu thế hệ trẻ phải hết sức tránh xa ba sự ham muốn đó là ham muốn về tiền tài, danh vọng và quyền lực, Người còn cho  rằng “thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư, tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị, chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”(14)  có làm được như thế thì “mới xứng đáng thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà.”(15) . Người căn dặn thế hệ trẻ phải chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng các phẩm chất của đạo đức cách mạng đó là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, những tác phong đẹp đẽ của đạo đức như khiêm tốn, giản dị, siêng năng, gan dạ, sáng tạo và những đức  tính tốt đẹp như trung thành, thật thà, chính trực. Hồ Chí Minh đã đặt trọn niềm tin và sự kỳ vọng vào thế hệ trẻ. Người khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”(16) . Với Hồ Chí Minh, tiền đồ và tương lai của dân tộc Việt Nam gắn bó chặt chẽ với tiền đồ và tương lai của đội ngũ thanh niên.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược trồng người là một hệ thống quan điểm chặt chẽ, phong phú, hợp logic trong tiến trình phát triển tư tưởng của Người. Tư tưởng đó vừa thể hiện tính khoa học, vừa mang tính cách mạng và là một nội  dung quan trọng trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người và giải phóng con người.

Sự nghiệp đổi mới đã đi qua được hơn 25 năm, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, vị thế của đất nước không ngừng được tăng cao trên trường quốc tế, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, tuy vậy tiềm lực của chúng ta còn rất lớn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế tri thức,để có một thế hệ tương lai đủ đức, đủ tài gánh vác các trọng trách lớn lao của dân tộc, đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà, đó là những con người phải có cả đạo đức và tài năng, những người thực sự xứng đáng gánh vác những tiền đồ to lớn mà thế hệ cha ông đã để lại. Trong sự nghiệp vĩ đại đó, Đảng, Chính phủ và Nhân dân phải có trách nhiệm đối với  sứ mệnh này. “Đó là một trách nhiệm nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Mong mọi người phải cố gắng làm trọn nhiệm vụ”(17).

Đào Tuấn Anh – Nguyễn Thị Liên
Học viện Chính sách và Phát triển – Đại học Luật Hà Nội


(1)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.1
(2)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.281
(3)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.66
(4)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.528
(5)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.616
(6)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.622
(7)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.622
(8)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.66
(9)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.616-617
(10)Giáo trình tư tuởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.252
(11)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 9, tr.265
(12)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.464
(13)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.464
(14)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 9, tr.265
(15)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.464
(16)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.216
(17)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.518

hochiminhhoc.com

Tìm hiểu thực chất và ý nghĩa của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh hầu như không dùng ngôn ngữ triết học và không tự thừa nhận mình là nhà khoa học, nhưng trong tư tưởng của Người lại luôn nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan, một hệ thống tư duy triết học.

Picture3.jpg
Hồ Chí Minh – Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ảnh: Tuấn Anh

Là học trò của C.Mác, Ph. Ăng ghen, V.I.Lênin nên thế giới quan, tư duy triết học của Người là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Người đã bảo vệ và phát triển tư duy triết học trên nền tảng triết học Mác – Lênin. Khác với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lê nin, Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm triết học như: Hệ tư tưởng Đức, Luận cương Phoiơbắc, Biện chứng của tự nhiên, Bút ký triết học… Bởi vì, Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng, dẫn đường và nhiệm vụ của Người là cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hoà bình, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Chính nhiệm vụ này đã cuốn hút Người với tất cả tinh thần và sức lực, làm cho Người sống gần gũi với nhân dân, đem tinh tuý, sâu sắc của triết học diễn đạt thành những điều giản dị, cụ thể, rõ ràng và thiết thực để nhân dân dễ hiểu, dễ làm. Rõ ràng, phải có một trình độ triết học sâu sắc, uyên bác, Hồ Chí Minh mới có thể chuyển hoá thành triết học của cuộc sống. Nhờ đó, người trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan duy vật biện chứng, giúp họ nhìn nhận, xem xét, đánh giá đúng tình hình, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát thực tế, có hiệu quả; đồng thời không rơi vào dao động, không mắc phải sai lầm ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí cũng như giáo điều, xét lại; mặc dù khi viết, khi nói Người ít dùng các thuật ngữ triết học.

Nghiên cứu di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ở Người toát lên những tư tưởng triết học sâu sắc. Hồ Chí Minh đã dựa chắc vào vấn đề cơ bản triết học để giải quyết mối quan hệ giữa việc nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa phát triển sản xuất với củng cố hệ thống chính trị, tăng trưởng kinh tế với phát triển giáo dục văn hoá và nhiều mối quan hệ khác như mối quan hệ giữa xây dựng đất nước với đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với thời đại, giữa kháng chiến với kiến quốc. Rõ ràng, khi giải thích hàng loạt các vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh đã nói tới triết học, bàn tới triết học và tư tưởng triết học Hồ Chí Minh thể hiện rõ những giá trị nhân văn đặc sắc, tràn đầy tinh thần biện chứng duy vật. Trong đó có sự hoà quyện đến nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tinh hoa văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây và lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Với tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người, chúng ta nhận thấy ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phép “biến dịch” của triết học phương Đông và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Thế giới quan Hồ Chí Minh là thế giới quan khoa học. Trong đó, thế giới quan triết học Mác – Lênin đóng vai trò quyết định bản chất khoa học, cách mạng. Thế giới quan của Người còn ảnh hưởng của tư tưởng triết học dân tộc, của tinh hoá văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây. Về khuynh hướng tư duy, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đi sâu lý giải các vấn đề xã hội và nhân sinh. Bởi lẽ, xuất phát từ hoài bão lớn lao và mục đích chính trị cao cả là “cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc” nên Người đặc biệt chú trọng xây dựng lý luận về chính trị – xã hội, đạo đức cách mạng nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn hơn là hình thức học thuyết triết học, nhận thức và lôgíc học như các nhà triết học vẫn thường làm.

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sản phẩm của quá trình hoạt động tư duy lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người có vai trò to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Chính tư tưởng, quan điểm triết học của Người cùng với triết học Mác -Lênin luôn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta không thể hiểu rõ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh nếu như không hiểu cái gì là cốt lõi quy định cách nhìn, cách nghĩ và phương pháp cách mạng cũng như cái gì là trung tâm dẫn dắt đồng bào ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đã đi vào thực tiễn xã hội Việt Nam, lấy cái cốt lõi là giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, đem lại cuộc sống hoà bình, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào làm mục đích hướng tới, đạt tới. Đây thực chất là những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với việc bảo vệ và phát triển triết học Mác – Lênin trong điều kiện lịch sử mới, nhất là việc phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Những cống hiến của Hồ Chí Minh trong phát triển triết học Mác -Lênin là tư tưởng về giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực ra hai khái niệm này đều được Hồ Chí Minh dùng cùng một nội hàm như nhau. Đối với Hồ Chí Minh, thực tế không đối lập với thực tiễn, nó chỉ rộng hơn thực tiễn mà thôi. Khi bàn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của triết học Mác -Lênin, Hồ Chí Minh dùng khái niệm thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn thì Người thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, khái niệm thực tiễn và thực tế được nhân dân ta hiểu và sử dụng cùng nghĩa (xem từ điển Tiếng Việt 1991).

Trong thế giới quan triết học của Hồ Chí Minh, vấn đề con người chiếm vị trí hết sức quan trọng. Phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề con người ở Hồ Chí Minh không phải là chung chung, trừu tượng, phi lịch sử như trong triết học nhân bản mà là con người hiện thực, con người lao động “đồng bào tôi”. Trọn đời mình, Người phấn đấu, hy sinh là nhằm mục đích đem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm cho đồng bào. Chủ nghĩa nhân văn hiện thực cao cả của Hồ Chí Minh thể hiện ở lòng thương yêu con người, tôn trọng, tin tưởng ở nhân dân, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân.

Có thể khái quát tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp sáng tạo đạt đến sự nhuần nhuyễn giữa tư duy triết học Mác -Lênin mà cốt lõi là tư duy biện chứng duy vật trong sự hoà quyện với tư duy duy triết học và văn hoá phương Đông, phương Tây, tư duy, trí tuệ, văn hoá dân tộc Việt Nam và phong cách Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra bản chất, quy luật và hình thành nên hệ thống luận điểm về chủ nghĩa thực dân, về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội …có những quyết định đúng đắn, sáng tạo, đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Từ quan niệm trên, có thể thấy tư tưởng triết học Hồ Chí Minh có một số đặc trưng cơ bản như sau:

Trước hết, tư duy triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học và tính cách mạng, giữa lập trường, quan điểm và phương pháp nhận thức, hành động. Sự kết hợp này vừa là đặc trưng tư duy triết học Hồ Chí Minh vừa là nguyên tắc của Hồ Chí Minh nhận thứ và hành động. Thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng triết học của Người.

Tư duy triết học Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, sáng tạo, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, suy nghĩ và hành động, giữa lời nói và việc làm thể hiện sự hoàn chỉnh chu kỳ vận động: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn hoạt động cách mạng Việt Nam.

Tư duy triết học Hồ Chí Minh được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng. Có thể coi đây là đặc trưng đặc sắc, độc đáo của tư duy triết học Hồ Chí Minh.

Việc nắm vững thực chất phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lê nin và truyền thống triết học phương Đông, nắm vững ngôn ngữ của quần chúng nhân dân và quan hệ mật thiết với họ đã giúp Người diễn đạt tư tưởng triết học duy vật biện chứng vốn là tư duy khoa học, có hàm lượng trí tuệ cao, có sự trừu tượng hoá và khái quát cao, sâu sắc trở nên phổ thông, dễ hiểu mà vẫn giữ được bản chất khoa học, cách mạng của nó.

Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật khách quan: nắm vững quan điểm thực tiễn và thực hiện đúng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; giải quyết mọi việc phải toàn diện, nhấn mạnh trọng điểm và lấy hiệu quả làm mục đích; xem xét sự việc trong sự phát triển, thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; giải quyết mọi việc đều vì con người, do con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Về thực chất, đó là phép biện chứng Hồ Chí Minh, là phương châm xem xét và hành động khoa học được Hồ Chí Minh đúc kết từ sự tiếp thu, kế thừa, vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển phép biện chứng duy vật mác-xít, kết hợp với kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tư duy triết học phương Đông và thực tiễn giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam.

Khái quát lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm, quan niệm duy vật biện chứng về con đường cách mạng Việt Nam, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú mà nền tảng của nó là tư tưởng triết học. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo triết học Mác -Lênin mà còn có sự phát triển Triết học Mác -Lênin, nhất là một số vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú, giàu có thêm kho tàng lý luận Mác -Lênin nói chung, triết học Mác -lênin nói riêng. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách mạng, là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta.

PGS, TS Nguyễn Bá Dương
Theo cpv.org.vn

hochiminhhoc.com

Phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

(TuanVietNam) – Tiếp tục mạch bài, GS Tương Lai cho rằng:Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi để hiểu được sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nghiệm ra rằng, cần phải xác lập cho mình một cách thức tìm hiểu, điều mà người ta hay nói là phương pháp luận.

>> Hiểu kỹ Hồ Chí Minh hãy nói đến tư tưởng của Người
>> Tầm vóc Hồ Chí Minh

Tuần Việt Nam xin giới thiệu một số suy ngẫm của GS về vấn đề này:

Ảnh tư liệu.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh có sự bình thường sau khi đã trải qua sự cao siêu; có sự giản dị sau khi đã trải qua sự phong phú, đa dạng, phức tạp;

Cụ thể sau khi đã trải qua trừu tượng; mộc mạc sau khi đã rất tinh tế; đạm, rất đạm sau khi đã rất nồng; khiêm nhường sau khi đã từng trải để rất biết người, biết mình; ung dung, thanh thản sau khi tự mình đã trải nghiệm qua biết bao sự chịu đựng cay đắng đủ điều, từ sự chịu đựng vì sự nghiệp của nước, của dân cho đến sự đắng cay của cuộc sống cá nhân, của thân phận con người.

Vì vậy, đơn giản hóa, tầm thường hóa, dung tục hóa, hoặc ngược lại rắc rối đến cầu kỳ, phức tạp, đi sâu vào tầm chương trích cú, tìm sự phong phú ở cái rậm rạp, xô bồ trong cách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh thì rồi dù vô tình hay cố ý cũng đều không dẫn đến cách nắm bắt và tiếp nhận cái cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cũng giống như những nhà tư tưởng lớn của loài người mà Hồ Chí Minh đã học hỏi tiếp thu, tư tưởng Hồ Chí Minh có sự đa dạng, nhiều chiều, năng động, luôn luôn phát triển chứ không phải là “nhất thành bất biến”. Chỉ có một điều cần thấy rõ, đó là, từ lúc manh nha, đến lúc hình thành, và khi vận dụng vào cuộc sống, rồi được sửa chữa, bổ sung, đều đã thể hiện sự nhất quán, rất nổi bật “tính chất trước sau như một” của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cả hai biểu hiện ấy, “đa dạng, năng động, nhiều chiều, không “nhất thành bất biến” thông nhất với sự nhất quán, “trước sau như một”, xin được gọi là “tính chất một” cực kỳ hàm súc của tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất lớn.

2. Chú ý đến biểu hiện ấy trong phương pháp luận nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là chú ý đến sự gặp gỡ thú vị của phong cách Hồ Chí Minh với xu thế hiện nay của khoa học và của đặc điểm trí tuệ của thời đại là: tổng thể hóa trong đa dạng, chứ không chỉ là chuyên biệt hóa ngày càng sâu, càng tinh vi khi đi sâu vào phân tích cụ thể mà thiếu sự tổng hợp.

Đây là sự tổng thể hóa đầy mâu thuẫn trong đời sống và hoạt động của con người, từ cá nhân đến cộng đồng, từ một góc tâm linh, một nét tiềm thức hoặc là vô thức sâu kín, bí ẩn nhất của mỗi con người, cho đến động thái của mỗi dân tộc và của cả loài người.

Ảnh tư liệu.

Có sự tổng thể hóa nhiều sắc thái của kiến thức và nghiên cứu khoa học của con người, nó là kết quả đan xen vào nhau, trở thành nhau của nhiều ngành, nhiều phương pháp khoa học, trong khi mà sự chuyên biệt hóa, bên cạnh mặt mạnh của nó, ngày càng bộc lộ những nhược điểm khá rõ.

Đó là sự liên ngành, mà thực chất mới chỉ là sự phối hợp, kết hợp giữa nội dung và phương pháp của nhiều ngành để bổ sung và làm sáng tỏ cho nhau nhưng vẫn chưa bộc lộ hết tiềm năng của nó, chưa đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại.

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh phải là sự nghiên cứu rất hiện đại. Nếu chỉ dừng lại phương pháp liên ngành như đã từng có trong nửa cuối thế kỷ XX thì chưa đủ, hơn nữa, đã bị vượt qua. Phương pháp phân tích cụ thể quá sẽ thành ra chi li, dẫn đến phân tán. Tuy rằng đi sâu vào từng lĩnh vực của tư tưởng Hồ Chí Minh thì cần thiết, song không đủ.

Cách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh có triển vọng nhất đó là một, nhất quán trong đa dạng, tổng thể hóa trong phong phú. Với phương pháp luận đó thì có thể sẽ tìm ra và nhấn mạnh không nhiều, nhưng lại có sức khái quát lớn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động, cho nên phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp nhận và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng phải như vậy. Sự nghiên cứu uyên bác là rất cần, càng uyên bác, thâm thúy thì càng hay. Nhưng cần nhớ rằng cái chất của Hồ Chí Minh, cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động. Uyên bác và thâm thúy nhất của Hồ Chí Minh là thiết thực và có hiệu quả trong hành động.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh là chân thực. Bởi vậy, vấn đề là phải làm sao phát hiện được, tiếp nhận được tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự chân thực đó.

Ảnh tư liệu.

Trong những thiên lệch cần phải tránh thì trước hết phải tránh sự “tụng ca”, “vĩ nhân ca”. Không nên và không thể cộng thêm cái gì vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vì tư tưởng ấy cũng chính là nhân cách Hồ Chí Minh.

Mọi ý định, cho dù là thiện chí muốn thêm vào thì chỉ là trừ đi, và nếu Hồ Chí Minh biết thì sẽ cười rằng “vẽ rắn thêm chân”! Sự cường điệu về chất, về mức là không trung thực, hoàn toàn không cần thiết, hơn nữa, là có hại.

Vấn đề là ở chỗ nhận cho ra đâu là nét đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời nói, qua bài viết, qua cơ đồ, qua sự nghiệp. Đừng cố tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có, cũng đều “vĩ đại”, vì như vậy chính là xuyên tạc, hạ thấp hoặc là bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải thấy cho rõ, cho đúng, cho đủ những thiếu sót, sai lầm chủ quan đã để lại dấu ấn trong tư tưởng, trong việc làm, trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh .

Những cái đó không thể không có, vì Hồ Chí Minh là một con người chứ không phải là một vị thánh. Hồ Chí Minh không thể không có sai lầm, cần phải khách quan và trung thực chỉ ra. Mà chỉ ra được những sai lầm và tác hại của nó một cách đúng đắn là thể hiện sự kính trọng và tin yêu Hồ Chí Minh, người con vĩ đại của dân tộc ta, nhân dân ta và là người lãnh đạo tuyệt vời nhất mà nhân dân ta tự hào có được.

Cùng với cái đó, cũng phải phân tích rõ những hạn chế lịch sử mà Hồ Chí Minh không thể vượt qua được, trong đó, kể cả những điều mà Hồ Chí Minh không thể thuyết phục được những đồng chí và học trò của mình.

Chuyện “Chính cương và Sách lược” của Đảng do Nguyễn Ái Quốc chủ xướng bị phê phán là “quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh” vì “giai cấp tranh đấu là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” để rồi bị thay thế bằng “Luận cương chính trị” của Trần Phú là một ví dụ đau xót.

Ảnh tư liệu.

Và rồi “cải cách ruộng đất” là một ví dụ xót xa nữa đủ để nói lên những oái oăm của lịch sử. Và chính những điều đó đã để lại những di lụy không nhỏ trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh đã đến lúc cần phải trung thực nêu lên.

4. Kế thừa, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự nâng niu, bảo quản như bảo quản một di vật quý trong bảo tàng. Kế thừa là vận dụng và phát triển. Vậy thế nào là kế thừa và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay, điều kiện của dân tộc, của thế giới, của thời đại? Đây là một khó khăn phức tạp và có thể tác động ngược lại đến việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thông thường, việc kế thừa và vận dụng một tư tưởng đòi hỏi một sự lựa chọn. Nếu không có sự lựa chọn thì cũng không thể có sự kế thừa, vận dụng và phát huy. Và nói lựa chọn tức là đòi hỏi phải bỏ qua một số điểm nào đó, cố ý làm nổi bật lên hay làm nhẹ bớt đi một số điều nào đó, là nắm bắt những thông điệp nào đó và lướt qua những thông điệp nào đó.

Đấy là cách làm đúng đắn mang tính khoa học cao. Có thể gọi đó là điều có tính quy luật được vận dụng phổ biến, để không chỉ nhằm học tập, tiếp thu những thành tựu trí tuệ của văn hóa và văn minh loài người đã đạt được, mà cũng chính là cách những người được xem là những vĩ nhân, những nhà tư tưởng lớn của loài người đã thực hiện như thế nào để trở thành vĩ nhân.

5. Có một lập luận cho rằng: hãy nghe thấy trong Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nghe vào chính lúc này. Hãy tìm thấy, làm nổi bật lên, học theo và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nhất vào lúc này với niềm tin rằng, những cái đó đều có trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ảnh tư liệu.

Lập luận đó có cơ sở đúng bởi vì, thường là vĩ nhân nào mà cốt lõi tư tưởng là vì con người, dân tộc và loài người thì tư tưởng của họ càng đa dạng và phong phú, càng chứa đựng nhiều thông điệp cần thiết cho mọi thời đại, càng dễ vận dụng theo cách lựa chọn trên.

Vấn đề là, với sự tiếp cận này, sự chân thực có được với niềm tin rằng đó là khách quan và khoa học đạt được đến đâu và đâu là điểm dừng cần phải có?

Những người phản bác lại lập luận đó thì cho rằng, với cách ấy rất dễ chủ quan, tùy tiện gán cho Hồ Chí Minh những điều mà mình muốn, mình đang trông chờ chứ không phải là trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có những điều đó. Lúc này đang cần có tri thức và kinh nghiệm về kinh tế thị trường thì cố đào cho ra trong tư tưởng Hồ Chí Minh những điều ấy.

Khi đất nước đang bị hút vào quỹ đạo của toàn cầu hóa thì đã cố moi tìm chỗ này, chỗ kia rằng Hồ Chí Minh đã nói về toàn cầu hóa và hội nhập hay chí ít cũng manh nha những tư tưởng ấy. Nếu làm như vậy thì đúng là giả tạo và không biết đến điểm dừng.

Nhưng đã là phương pháp luận khoa học thì phải có sự lựa chọn, có mức độ, có điểm dừng, có thái độ trung thực khoa học đầy trách nhiệm để có cách xử lý thỏa đáng. Đây là điều không dễ dàng chút nào, song là một phương pháp luận, mà theo chúng tôi, cần phải chú ý vận dụng.

Một phương pháp luận nghiên cứu như thế mới có thể đưa tới những công trình nghiên cứu xứng đáng với Hồ Chí Minh. Càng kính trọng và tin yêu Hồ Chí Minh, thấy rõ tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn lao như thế nào đối với vận mệnh của đất nước, sự nghiệp của nhân dân và tương lai của dân tộc, càng phải tuân thủ phương pháp luận đó.

  • Tương Lai

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về củng cố Nhà nước pháp quyền thời kỳ đầu cách mạng

QĐND Online- Với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung và lịch sử Nhà nước Việt Nam nói riêng bước sang trang mới, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập. Với bao nỗi lo toan của người đứng đầu một nhà nước mới được thiết lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng bắt tay vào đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng mô hình một Nhà nước cộng hòa non trẻ. Mô hình đó như thế nào? Đó thực sự là một quá trình trăn trở, tìm tòi, vừa học, vừa làm, vừa bổ sung ngày một thêm hoàn chỉnh, Mối quan tâm đầu tiên của Chủ tịch Chính phủ lâm thời là phải củng cố nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân, quản lý Nhà nước phải bằng pháp luật. Nhà nước phải có luật pháp mới có đủ uy tín, quyền lực để bảo đảm và bảo vệ độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, văn minh thực sự. Do đó, ngoài những công việc lãnh đạo đất nước với trăm công ngàn việc, Chủ tịch  Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm củng cố xây dựng hệ thống pháp luật.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại

Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, từ rất sớm đã chứa đựng tư tưởng pháp luật cách mạng và tiến bộ. Trong bài ca về 8 yêu sách mà Nguyễn Ái Quốc gửi cho các nước đồng minh họp Hội nghị Vécxây đầu năm 1919 có hai câu:

“ Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Trong phiên họp đầu tiên của Chỉnh phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.  Tháng 11 năm 1946, chỉ một thời gian rất ngắn sau ngày Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, cuộc Tổng tuyển cử đã thành công tốt đẹp. Thắng lợi đó là một minh chứng hùng hồn nói lên cơ sở pháp lý vững chắc của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Sau đó, bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Sự kiện này đặt nền móng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Qua mỗi bước ngoặt lịch sử, Nhà nước ta đều có Hiến pháp và một hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ hơn và hoàn thiện hơn.

Thời kỷ đầu của Chính phủ lâm thời, điều kiện chưa tổ chức được cơ quan lập pháp, Bác Hồ trên cương vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời đã ký một loạt các sắc lệnh cấp bách làm cơ sở pháp lý quản lý đất nước. Điều đặc biệt, trước khi có Hiếp pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh giữ lại mọi luật lệ của chế độ cũ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do. Theo quan niệm của Người: Một xã hội không thể hoạt động không có pháp luật. Từ ngày 1- 9-1945 đến ngày 30- 5- 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban bố 90 sắc lệnh liên quan đến mọi mặt của xã hội, trong đó gần một nửa là những sắc lệnh củng cố hệ thống pháp luật Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Từ việc ra sắc lệnh ban bố Hiến pháp mới, Tổng tuyển cử đến việc tổ chức các cơ quan pháp luật như: Lập các tòa án, tổ chức đoàn luật sư, ban hành các luật… sự ra đời của các sắc lệnh này nhằm xóa bộ máy chính quyền quan lại, quan liêu cũ, thay bằng một hệ thống quản lý nhà nước kiểu mới, thay đổi luật pháp thực dân, luật pháp nô lệ phụ thuộc kiểu thuộc địa phong kiến bằng luật pháp dân chủ nhân dân.

Đặc biệt trước ngày đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 1- 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 3 về Tiết quân luật tại Hà Nội. Điều đó cho thấy sự quan tâm của Người đối với việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật. Tiếp đó, những sắc lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thời kỳ đầu Chính phủ lâm thời trong điều kiện chưa tổ chức được cơ quan lập pháp, những sắc lệnh của Người có giá trị pháp lệnh Nhà nước. Sắc lệnh ra đời được nhân dân hết lòng ủng hộ vì trước hết nó phục vụ cho quyền lợi của quảng đại quần chúng nhân dân, phục vụ cho lợi ích của dân tộc, quốc gia, phản ánh mọi nguyện vọng dân chủ trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục… được nhân dân tin tưởng và bảo vệ. Sắc lệnh số 34 về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp; Sắc lệnh số 39 về việc thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 13 ấn định cách tổ chức của Tòa án; Sắc lệnh số 46 về tổ chức Đoàn Luật sư; Sắc lệnh số 53 quyết định Quốc tịch Việt Nam… Những sắc lệnh của Chính phủ lâm thời ra đời dã góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền móng của chế độ mới.

Ngoài việc ban hành các sắc lệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cao công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật sâu rộng trong cán bộ, nhân dân. Làm sao mọi người có kiến thức pháp luật, tự giác chấp hành pháp luật và tham gia tích cực vào việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, của những người có chức có quyền vào việc chống vi phạm pháp luật. Đó là việc lâu dài nhưng đòi hỏi phải làm tốt thì pháp luật sau khi được công bố mới thực hiện tốt được.

Những ngày đầu có chính quyền cách mạng trong thế nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những thác gềnh mang theo những thành quả lớn lao làm nền tảng cho một quốc gia đó là một thể chế chính trị được thiết lập vững chắc với việc thành lập các cơ quan lập pháp, tư pháp và hành pháp.

Phí Hồng Vân

qdnd.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện nhân cách Đảng viên Cộng sản

Nhân cách Hồ Chí Minh là nhân cách của một vĩ nhân không chỉ ở tầm dân tộc, mà ở tầm thời đại, tầm nhân loại. Chính vì thế, Người đã được thế giới tôn vinh là danh nhân văn hóa. Trong thế giới biến động như hiện nay thì nhân cách trong sáng, thanh tao của Hồ Chí Minh lại càng nổi cao vời vợi.

Những năm 20 của thế kỷ XX (1925 – 1927) khi mở lớp tập huấn cho cán bộ đầu tiên – những hạt giống cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu bằng bài nói về Tư cách một người cách mệnh. Và cả sau này, khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, thì với Người, chủ đề nổi bật trong giáo dục, rèn luyện cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể, quân đội vẫn là vấn đề đạo đức cách mạng. Từ “Thư gửi các UBND các bộ, tỉnh, huyện và làng” (tháng 10/1945), “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10/1947) đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969) cho đến Di chúc, Người đã ân cần nghiêm khắc nhắc nhở “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất sớm nguy cơ tha hóa của người cán bộ, đảng viên khi ở vào vị trí quyền lực. Người thường xuyên nhấn mạnh: Cái tạo nên sức mạnh của Đảng là ở nơi mỗi cán bộ đảng viên biết thực hiện lời nói đi đôi với việc làm, tự mình nêu gương trước từ việc lớn đến việc nhỏ, lúc gian khổ khó khăn cũng như khi thành đạt. Trong lần nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa thứ 5. Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Bác nói:

“…Mình phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái. Tôi lấy thí dụ như trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tì tì thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được?”.

Những ai đang dầm mình trong đam mê quyền lực, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, bỏ rơi lý tưởng cách mạng hoặc lý tưởng chỉ còn trên đầu lưỡi, che đậy cho tham vọng thấp hèn, tội lỗi hãy nhớ lại cuộc sống của Bác, lời dạy của Bác về tư cách đạo đức của người cách mạng để suy ngẫm, soi xét mình, tăng thêm nghị lực cho cái thiện chiến thắng cái ác trong mỗi con người.

Tham ô, buôn lậu đã trở thành quốc nạn không chỉ gây nên thiệt hại vô cùng to lớn về kinh tế, mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào chế độ, vào Đảng, Nhà nước. Bác chỉ rõ: “Tham ô là trộm cướp… Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám… Chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc trên mặt trận…

Tham ô, lãng phí, quan liêu là một “thứ giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình…

Năm 1962, trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, Bác lại nói: “Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư…

Nếu nhà ai bị mất cắp, mất trộm, thì hô hoán lên và cả xóm, cả làng đuổi bắt kẻ trộm. Khi của công bị mất cắp, mất trộm thì mọi người đều có trách nhiệm vạch mặt kẻ gian và đưa nó ra trước pháp luật, vì mọi người đều có nghĩa vụ giữ gìn của công… Tham ô của công tức là xâm phạm đến lợi ích chung của nhân dân, tức là kẻ địch của nhân dân…”.

Bác chỉ rõ: kẻ địch gồm có ba loại: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm.

Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to .. Loại thứ ba là chủ nghĩa cá nhân”.

Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.

Hồ Chí Minh cho rằng, chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lợi ích cá nhân”, nhưng trong chủ nghĩa xã hội thì “mỗi người là một bộ phận của tập thể, giữ một vị trí nhất định và đóng góp một phần công lao trong xã hội. Cho nên lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể…”.

Chúng ta đang nghiên cứu để hiểu sâu hơn di sản Tư tưởng, Đạo đức Hồ Chí Minh nhằm kế thừa, vận dụng và phát triển vào hoàn cảnh hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện đổi mới và mở cửa… Có thế nói, nhiều người trong chúng ta, kể cả một số cán bộ, đảng viên và người có chức, có quyền, đã thực hiện không tốt, thậm chí lãng quên nhiều bài học vỡ lòng cơ bản mà Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ những ngày đầu sau khi cách mạng Tháng Tám thành công và không ngừng nhắc lại cho đến khi Người sắp qua đời. Học lại và nhất là thực hiện cho tốt những bài học ấy là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức của tất cả chúng ta từ các đồng chí Trung ương đến mọi người dân bình thường, để khẩu hiệu “sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” không phải là một câu sáo rỗng.

(Theo tạp chí xây dựng Đảng)

sites.google.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân

CPV- Bằng đường lối chính trị đúng đắn, bằng mục tiêu chính trị đúng đắn với sự mềm dẻo, linh hoạt trong chỉ đạo, Hồ Chí Minh đã thực hiện thành công việc tập hợp toàn dân vào các hình thức mặt trận, phát huy đến cao độ khả năng của dân trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, trường kỳ để rồi bằng chính sức mạnh của mình giành thắng lợi.

Tư tưởng quốc phòng toàn dân của Hồ Chí Minh được biểu hiện trước hết là việc phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng sức mạnh của toàn dân để đánh thắng kẻ thù.

Kế thừa truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc, vận dụng quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân là chủ, kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của dân; có dân là có tất cả; khởi nghĩa toàn dân để giành lại nền độc lập cho dân tộc, kháng chiến toàn dân để giữ vững nền độc lập ấy. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Trong quá trình kháng chiến, Người đã nhiều lần khẳng định: 20 triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn quân thực dân phản động. Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người kêu gọi toàn dân với tinh thần: mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Hai là, xây dựng lực lượng quân sự bao gồm ba thứ quân, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp và chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, sử dụng linh hoạt các phương pháp tiến công.

Ngay khi Đảng ra đời, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chú ý xây dựng các hình thức mặt trận. Mặt trận chính là tổ chức nhằm tập hợp đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân. Đây là cơ sở để xây dựng một đội quân chính trị rộng khắp.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh hết sức chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và nhiệm vụ chính trị cho họ. Đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ở Hồ Chí Minh, giữa chính trị và quân sự có mối quan hệ mật thiết. Dùng chính trị để phục vụ cho quân sự, dùng quân sự để xây dựng chính trị và kết hợp chính trị với quân sự để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng tinh thần và sức mạnh của toàn dân.

Ba là, kết hợp giữa kháng chiến và kiến quốc, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng này được thể hiện rất rõ trong hai cuộc kháng chiến. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương “Vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, khẩn trương xây dựng chính quyền và Mặt trận Liên Việt, kêu gọi toàn dân thi đua ái quốc “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm”, “hậu phương thi đua với tiền phương”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính, thi hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện các chính sách bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Người chủ trương xây dựng miền Bắc làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam và là cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Người đã động viên quân và dân miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch và chi viện cho miền Nam, với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.

Tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, hiện nay, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục ý thức quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân, kêu gọi nhân dân đề cao cảnh giác, chống các âm mưu và thủ đoạn của địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta đề ra chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia; kết hợp kinh tế với quốc phòng; kết hợp giữa xây dựng lực lượng vũ trang chính quy với các lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

ĐTH – ĐQ

sites.google.com

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong thời kỳ đổi mới

Một nội dung cơ bản và nhất quán trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN. Ngay từ rất sớm Người đã nói rõ “ham muốn” tột bậc của mình là làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Và qua 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, cuối cùng Người khẳng định, tin tưởng rằng: chỉ có CNXH mới là con đường để “ham muốn” đó được thực hiện. Tư tưởng của Bác đã trở thành tư tưởng hướng đạo cho cách mạng Việt Nam.

Thực tế cho thấy, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc. Không giành được độc lập dân tộc thì không có điều kiện để xây dựng CNXH. Độc lập dân tộc thật sự đòi hỏi xóa bỏ áp bức, nô dịch của dân tộc này với dân tộc khác, gắn liền độc lập dân tộc với tự do, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân, do đó chỉ có thể gắn liền với sự phát triển xã hội XHCN. Chính nhờ sự kiên định nội dung tư tưởng đó mà Đảng ta đã lãnh đạo dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, viết nên một lịch sử Việt Nam anh hùng với những mốc son chói lọi: Cách mạng Tháng 8 năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và đi lên xây dựng CNXH. Tư tưởng đúng đắn, hợp quy luật, hợp lòng dân đó đã được Đảng quán triệt xuyên suốt trong cả tiến trình cách mạng, đặc biệt là trong quá trình đổi mới.

Đại hội lần thứ VI (12-1986) của Đảng mở đầu thời kỳ đổi mới đất nước đã khẳng định: “Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VII tiếp tục nhấn mạnh: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta”.

Tiếp tục dòng chảy xuyên suốt và thống nhất đó, Báo cáo chính trị được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định bài học quan trọng đầu tiên đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: “Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong quá trình đổi mới; nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4-2001) – Đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI, đại hội của dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và đổi mới đã tiếp tục khẳng định: “Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Như vậy, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trên thực tế đã trở thành dòng chủ lưu, là tư tưởng xuyên suốt, được quán triệt và đề cao trong sự nghiệp đổi mới mà toàn dân ta đang tiến hành.

Chính nhờ sự kiên định đầy quyết tâm đó cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng mà nhân dân ta đã đứng vững và tiếp tục kiên trì mục tiêu CNXH trong khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã lâm vào thoái trào, tan rã; tạo cơ sở khẳng định vị thế và sức mạnh của cách mạng Việt Nam trên trường quốc tế. Niềm tin đối với Đảng trong lòng nhân dân ngày càng được củng cố, tăng cường, tạo đà cho sự phát triển mạnh hơn, cao hơn, triệt để hơn của thời kỳ CNH-HĐH.

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước tình trạng nhiều vấn đề xã hội bức xúc và gay gắt chưa được giải quyết tốt như nạn thiếu việc làm, sự phát triển của tệ nạn xã hội, sự khó khăn về đời sống của một bộ phận nhân dân, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã cảnh báo là nguy cơ chệch hướng XHCN, tụt hậu xa hơn về kinh tế, “diễn biến hòa bình” và tệ quan liêu tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp thì việc giữ vững định hướng, mục tiêu XHCN càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Hơn 70 năm chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta đã hoàn thành được một phần sứ mệnh lịch sử: đất nước độc lập, thống nhất, đi lên CNXH. Song con đường phía trước không hoàn toàn bằng phẳng, trơn tru. Sự đan xen sâu sắc giữa những thời cơ và thách thức mà thời đại đặt ra, buộc dân tộc ta, Đảng ta và bản thân mỗi người dân Việt Nam chúng ta phải “lớn” hơn ngày hôm qua. Trên bệ phóng của những thành công rực rỡ mà cha ông đã xây dựng, thế hệ trẻ Việt Nam khát khao được là người kế nghiệp xứng đáng. Thiết nghĩ, để khát khao ấy được thắp sáng, điểm xuất phát trước hết phải là sự trung thành đối với Tổ quốc, với lý tưởng của Đảng và của nhân dân, kiên định lập trường cách mạng, thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, đặc biệt là nhất quyết thực hiện sứ mệnh: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, xây dựng thành công CNXH.

Thi An
(Báo Bình Định)

sites.google.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, pháp luật, kỷ luật trong quân đội

Tư tưởng về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật trong Quân đội là một nội dung trong hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh. “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(1). Do đó, việc quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật của Quân đội có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ văn hoá pháp luật của quân nhân.

Văn hoá pháp luật trong Quân đội là một bộ phận, một biểu hiện của văn hoá nói chung, là tổng hoà những tri thức, tình cảm, hành vi ứng xử của quân nhân đối với pháp luật, với nền pháp chế và hệ thống quan hệ pháp luật. Văn hoá pháp luật của quân nhân biểu hiện tập trung ở sự hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí và lòng tin vào pháp luật Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội, tự giác hành động theo pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội. Bởi vậy, muốn có văn hoá pháp luật, kỷ luật tự giác nghiêm minh, con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất là phải học tập chính cương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội. Phải thực hiện phương châm: “Mỗi mệnh lệnh đưa xuống, cấp trên đã thảo luận cân nhắc kỹ càng nên cấp dưới phải phục tùng và kiên quyết chấp hành…”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến các biện pháp bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật cho quân nhân. Nghiên cứu tư tưởng của Người, có thể thấy:

Thứ nhất, chú trọng giáo dục tri thức pháp luật, kỷ luật, xây dựng ý thức tự giác và bản lĩnh chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân được hình thành phát triển trên cơ sở có nhận thức, hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí, lòng tin tưởng tuyệt đối vào pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội và hành vi tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Trong giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật cho cán bộ, chiến sỹ, Bác dạy phải chăm lo giáo dục những tri thức về pháp luật, điều lệnh, điều lệ của Quân đội, chỉ rõ những điều nên làm và không nên làm: “Đối với mỗi công tác quan trọng, cần phải làm cho mọi người hiểu cái gì nên làm, cái gì nên tránh, thế nào là đúng, thế nào là sai kỷ luật của Đảng. Như vậy kỷ luật của Đảng sẽ được bảo đảm, công tác của Đảng sẽ được thuận lợi, nhiệm vụ của Đảng sẽ chắc chắn hoàn thành”(3). Cùng với việc giáo dục tri thức pháp luật, cần khơi dậy ý thức tự giác chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của Quân đội. Phải làm cho bộ đội có nhận thức đúng đắn, sâu sắc nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của đơn vị, quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, yêu cầu khách quan của việc chấp hành pháp luật, kỷ luật, trên cơ sở đó có thái độ, động cơ, ý chí, trách nhiệm, tinh thần đoàn kết và ý thức tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật.

Hai là, phát huy vai trò trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị trong bồi dưỡng văn hoá pháp luật.

Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy là người chịu trách nhiệm về mọi mặt của đơn vị. Nhận thức sâu sắc vị trí trách nhiệm của mình, cán bộ quản lý, chỉ huy các cấp thường xuyên nêu cao trách nhiệm và năng động, sáng tạo đổi mới hình thức, biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, nâng cao chất lượng giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật, đồng thời tổ chức, quản lý đơn vị chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Mặt khác, bản thân mỗi cán bộ quản lý, chỉ huy cần tự tu dưỡng, tự rèn luyện, “phải làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sỹ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”(4). Hồ Chí Minh cho rằng, muốn có kỷ luật, điều quan trọng là cán bộ phải quyết tâm cao, tự giác: “Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng”(5). Thực tế cho thấy, ở đâu, lúc nào cán bộ quản lý, chỉ huy thực sự là tấm gương sáng về chấp hành pháp luật, kỷ luật, thì ở đó chiến sỹ sẽ có ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật tốt và ngược lại, ở đâu cán bộ quản lý, chỉ huy thiếu gương mẫu, tự do tuỳ tiện, thì ở đó sẽ có nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Ba là, duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật, rèn luyện tác phong chính quy, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Theo Hồ Chí Minh, việc bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật phải gắn với việc duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật và quản lý chặt chẽ mọi chế độ, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, “khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức”(6). Bác nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ phải hình thành thói quen có kỷ luật hằng ngày. Việc rèn luyện tác phong giữ nghiêm kỷ luật phải được thông qua việc hướng dẫn cụ thể, tỷ mỉ của người cán bộ; càng tỷ mỷ, cụ thể bao nhiêu thì càng bớt sai lầm, vi phạm pháp luật, kỷ luật bấy nhiêu. Người quan niệm: “Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết”(7). Vì vậy, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân không chỉ dựa trên công tác giáo dục cơ bản, mà còn phải dựa vào sự hướng dẫn, nhắc nhở thường xuyên, sâu sát của cán bộ các cấp, làm cho việc chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật trở thành thói quen. Người chỉ rõ: “Các cán bộ từ chỉ huy trở xuống phải cố gắng hơn nữa trong công tác, trong học tập, từ bước đi, từ cái chào đều phải chính quy hoá, cán bộ phải tiến trước và làm gương mẫu cho các chiến sỹ”(8).

Trong việc giữ vững tính nghiêm minh của pháp luật, Bác chỉ rõ: “Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng chưa bị xử lý kịp thời… Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm”(9). Người yêu cầu kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền lợi của người khác. Bác lưu tâm nhiều đến khen thưởng và xử phạt để động viên cán bộ, chiến sỹ chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Bác nói: “Khen thưởng người tốt, trừng phạt người xấu…”(10) và “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì không giữ vững kỷ luật”(11).

Bốn là, thống nhất bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật với việc nâng cao giáo dục đạo đức.

Pháp luật và đạo đức điều chỉnh hành vi con người, hướng con người tới Chân – Thiện – Mỹ. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là cơ sở thực hiện pháp luật. Đạo đức có tác dụng thúc đẩy, định hướng hành vi của quân nhân phù hợp yêu cầu của pháp luật, kỷ luật. Đạo đức cao nhất, theo Hồ Chí Minh là “Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”(12). Khi quân nhân biết tôn trọng và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức của xã hội thì đó sẽ là điều kiện tốt để họ chấp hành pháp luật, tỏ rõ tinh thần bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chân lý, giữ nghiêm kỷ luật. Đối với cán bộ Quân đội ta, Người yêu cầu phải luôn luôn là tấm gương sáng trong bồi dưỡng cũng như thực hành đạo đức cách mạng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”(13).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật đối với cán bộ, chiến sỹ mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động, là ngọn đèn pha soi đường để quân nhân phấn đấu bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2002, tr.560. (2) Sđd, tr.318. (3) Sđd, tập 7, tr.336. (4) Sđd, tập 8, tr.308. (5) Sđd, tập 5, tr.250. (6) Sđd, tập 12, tr.146. (7) Hồ Chí Minh, về xây dựng Đảng, NXBCTQG, H.1996, tr.426. (8) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXBCTQG, H.2002, tr.426. (9) Hồ Chủ tịch và pháp chế, Nxb TP. Hồ Chí Minh,1998, tr.148. (10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2002, tr.392. (11) Sđd, tập 7, tr.466. (12) Sđd, tập 9, tr.285. (13) Hồ Chí Minh với lực lượng vũ trang nhân dân,

NXBQĐND, H.1975, tr.157-158.
THƯỢNG TÁ, THS. VŨ VĂN THƯỜNG

xaydungdang.org.vn

Nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh

Quan điểm cơ bản của Ðảng ta ngày càng được nhận thức rõ hơn là: Chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Ðảng và của cách mạng Việt Nam.

Quan điểm này được khẳng định qua nhiều kỳ Ðại hội của Ðảng, đặc biệt là Ðại hội VII (6-1991), Ðại hội IX (4-2001) và gần đây là Chỉ thị 23 của Ban Bí thư Trung ương “Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới” (ngày 27-3-2003).

Có nhiều cách tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh theo các mảng về tư tưởng chính trị, triết học, kinh tế, văn hóa… Có những công trình tập trung làm rõ Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, v.v. Dù tiếp cận cách nào, cũng phải hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cách mạng và khoa học. Vì vậy nghiên cứu tư tưởng của Người với tinh thần và thái độ khoa học. Theo chúng tôi để nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh cần làm rõ:

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một chỉnh thể. Chỉnh thể tư tưởng Hồ Chí Minh tạo ra một hệ giá trị với một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Nói theo tinh thần nhiều nhà khoa học và chính khách trên thế giới thì tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu như một học thuyết, bao gồm một hệ thống những luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân, dân tộc Việt Nam và hiện thân cho khát vọng của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Những quan điểm, quan niệm của Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực phản ánh sự nhất quán, xuyên suốt từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng XHCN, với nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Marx – Lenin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Từ những năm hai mươi đến tận cuối đời, Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh chủ nghĩa Marx – Lenin là chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất; là cái cẩm nang thần kỳ; là mặt trời soi sáng con đường cách mạng của các dân tộc; là vũ khí tư tưởng không thể gì thay thế được… Người khẳng định chúng ta giành được thắng lợi là do nhiều nhân tố, trong đó cần phải nhấn mạnh là “do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lê-nin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với thực tế Việt Nam” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, T12, Tr 476).

Dân tộc Việt Nam ta có một lòng nồng nàn yêu nước, chủ nghĩa yêu nước là một động lực lớn; là tinh thần đoàn kết, tự tôn dân tộc, lòng nhân ái khoan dung, đức tính cần cù, sáng tạo… Việt Nam dưới thời Pháp thống trị là một thuộc địa nửa phong kiến, trong đó mâu thuẫn dân tộc nổi lên hàng đầu. Hồ Chí Minh chỉ rõ, thuộc địa không phải như nhiều người tưởng, đó chẳng qua “chỉ là một xứ dưới đầy cát và trên là mặt trời, vài cây dừa xanh và mấy người khác mầu da”. Ngược lại, “đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Ðông Dương giấu một cái gì đang sục sôi, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”. Theo Người, “nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở thuộc địa hơn là ở chính quốc” (Sđd, t1, tr 274).

Nhận thức về vấn đề thuộc địa như vậy là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh. Trong điều kiện đó, Hồ Chí Minh đã phát triển chủ nghĩa Marx – Lenin, không phải đặt nhiệm vụ giải phóng giai cấp lên trước, mà là giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Người đã phát triển nhận thức từ chỗ làm cách mạng tư sản dân quyền (1930), cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: Phản đế và điền địa, đến chỗ cuộc cách mạng tập trung giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng” (1941). Nghị quyết Trung ương VIII (5-1941) do Người chủ trì khẳng định: “Chưa chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền mà chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc” (Văn kiện Ðảng toàn tập, t7, Nxb CTQG, 2000, tr119).

Xuất phát từ thực tế Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa có khả năng chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và tác động trở lại cách mạng chính quốc. Như vậy, nhận thức và cách giải quyết của Hồ Chí Minh góp phần bổ sung làm phong phú lý luận Marx – Lenin về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Hồ Chí Minh còn có nhiều vận dụng sáng tạo khác như việc thành lập Ðảng Cộng sản ở nước thuộc địa; đại đoàn kết tất cả mọi công dân nước Việt trên cơ sở lực lượng nền tảng là công, nông; dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện các nước vốn là thuộc địa, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, khoa học-kỹ thuật kém phát triển, tiến thẳng lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Hồ Chí Minh xác định rõ phải phát huy nội lực, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (cả trong sự nghiệp giành độc lập và xây dựng CNXH), đồng thời tranh thủ ngoại lực và kết hợp cả hai loại sức mạnh đó.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đầy những sự tích kỳ diệu trong cuộc trường kỳ chống thiên tai, địch họa. Trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, dân tộc Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc để thắng hung tàn, đề cao bổn phận đối với Tổ quốc; trọng dân, đề cao dân, khoan dung, hòa hợp. Ðó cũng là triết lý phương Ðông mà Hồ Chí Minh đã từng nhắc tới: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Tư tưởng “cầu đồng tồn dị” (tìm nét chung để hạn chế cái khác biệt) là một nét đẹp của văn hóa phương Ðông mà có lúc Hồ Chí Minh đã nhắc nhở đồng bào theo tinh thần đó:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng

Ðồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”

Hồ Chí Minh đã chắt lọc từ văn hóa dân tộc, phương Ðông và phương Tây khát vọng hòa bình của con người, xây đắp một nền văn hóa hòa bình: Người hiện thân cho lý tưởng chung của nhân loại: Ðộc lập, tự do, bình đẳng, bác ái, hạnh phúc.

Phương pháp Hồ Chí Minh. Với tư cách là chủ thể, Hồ Chí Minh không những là một nhà tư tưởng lớn, nhà chiến lược thiên tài, nhà tổ chức vĩ đại mà ở Người còn nhuần nhuyễn về phương pháp, đặc biệt là phương pháp cách mạng. Về lĩnh vực này, thế giới coi Người là bậc thầy. Phương pháp Hồ Chí Minh không chỉ là một khoa học, mà còn là một nghệ thuật. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng và phương pháp hòa quyện vào nhau. Từ phương pháp luận, Hồ Chí Minh có những phương pháp hành động cụ thể đạt hiệu quả cao trong mọi tình huống. Phương pháp Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống và thực tiễn Việt Nam dưới ánh sáng chủ nghĩa Marx – Lenin; từ cái tâm, cái đức, trí tuệ, bản lĩnh và niềm tin vào nhân dân, vào thắng lợi của cách mạng không gì lay chuyển được của Người. Hồ Chí Minh là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, luôn kết hợp một cách tài tình lý luận với thực tiễn trên tinh thần “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Do đó Người có khả năng lôi cuốn, quy tụ mọi người Việt Nam, các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Người giải quyết thành công mối quan hệ thời – thế – lực; thiên thời – địa lợi – nhân hòa…

Hồ Chí Minh nổi bật là một anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Chất “anh hùng” và chất “văn hóa” luôn hòa quyện, thống nhất với nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với đường lối đúng đắn của Ðảng là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 70 năm qua, là tài sản tinh thần vô giá tiếp tục soi sáng sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, đúng như Mi-ghen Ðê-xtê-pha-nô, giáo sư, cố vấn Viện nghiên cứu Á châu (Cuba) đã viết: “Người không phải là một kỷ niệm của quá khứ. Người là một con người kỳ diệu cho tất cả mọi thời đại. Tất cả những người Cuba, tất cả những người có lương tri trên thế giới nhìn thấy ở Nguyễn Ái Quốc – “Người yêu nước”, ở Hồ Chí Minh – “Người chiếu sáng”, ở Bác Hồ “Vị Chủ tịch kính yêu”.

Trong công cuộc đổi mới, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phát huy trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần sáng tạo, đổi mới, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, kết hợp chặt chẽ lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm theo nguyên tắc “Dĩ bất biến ứng vạn biến” với ý thức phục vụ nhân dân cao nhất. Triết lý phát triển Hồ Chí Minh cũng chính là triết lý phát triển Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển.

sites.google.com

Xây dựng đội ngũ “công bộc của dân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Năm 1871, khi viết Dự thảo lần thứ nhất của “Nội chiến Pháp”, C.Mác lần đầu tiên đề cập đến tư tưởng cán bộ là đầy tớ của nhân dân: “Công xã[1] loại bỏ hoàn toàn hệ thống đẳng cấp chính trị và thay thế những ông chủ ngạo mạn của nhân dân bằng những đầy tớ luôn luôn có thể bị bãi miễn; thay thế một trách nhiệm tưởng tượng bằng một trách nhiệm thật sự, vì những người được uỷ nhiệm này luôn luôn hành động dưới sự kiểm soát của nhân dân”[2]. Tuy nhiên, C.Mác chưa có điều kiện thực hành tư tưởng này, chỉ đến khi lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng ta mới thực sự huấn luyện, giáo dục cán bộ và xây dựng được đội ngũ cán bộ cách mạng xứng đáng là công bộc của nhân dân.

Để có những công bộc của dân thực thụ, Hồ Chí Minh bắt đầu bằng việc xây dựng tiêu chuẩn đức và tài cho đội ngũ cán bộ của Đảng, trong đó Người xem đức là gốc, là cái căn bản của người cán bộ cách mạng, “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[3]. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân, sống nhân ái, có nghĩa, có tình, là thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là ý thức trách nhiệm trong công việc, tự phê bình và phê bình cao và có tinh thần quốc tế chân chính. Khi đức là gốc, người cán bộ cần có tài, bởi không có tài làm việc gì cũng khó. Tài thể hiện ở trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, phong cách làm việc khoa học, đúng kỷ luật, không quan liêu, có óc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Không chỉ đề ra tiêu chuẩn và yêu cầu cán bộ rèn luyện theo tiêu chuẩn đó, Hồ Chí Minh còn đề cao trách nhiệm của Đảng đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ đạt chuẩn để đảm đương nhiệm vụ công bộc của dân. Người chỉ rõ trong công tác cán bộ, Đảng phải lưu ý 5 việc: “Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ”[4].

Để hiểu cán bộ phải đánh giá đúng cán bộ. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, nên đánh giá cán bộ phải “căn cứ theo phẩm chất xã hội của họ, chứ không phải căn cứ theo phẩm chất tư nhân”[5], đồng thời phải đánh giá đúng thực chất. Muốn đánh giá đúng, theo Hồ Chí Minh, không được đối xử theo sự yêu ghét, đem khuôn chật hẹp lắp vào cho tất cả mọi người; nhận xét cán bộ không chỉ xét mặt ngoài, xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ toàn bộ công việc. Đánh giá đúng là cơ sở cho tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ… được chính xác.

Phải biết lựa chọn, bố trí, đề bạt cán bộ đúng. Hồ Chí Minh lưu ý việc tìm nguồn cán bộ là trách nhiệm của lãnh đạo. Phải lăn lộn với phong trào để lựa chọn cán bộ, chú ý tìm nguồn trong trường học, đội ngũ đảng viên. Chú ý nguồn cán bộ xuất thân từ công nhân, nông dân, đồng thời không được quên trí thức là nhân tài của đất nước. Chính Hồ Chí Minh đã trực tiếp mời những nhân sĩ trí thức ra giữ những chức vụ trọng yếu trong Chính phủ sau Cách mạng Tháng Tám như cụ Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Nội vụ), cụ Nguyễn Sơn Hà (Bộ trưởng Kinh tế)… Người còn kêu gọi được những trí thức Việt kiều về tham gia kháng chiến như Đặng Văn Ngữ, Trần Đại Nghĩa, Trần Đức Thảo… Đó là những người luôn trung thành, hăng hái, gắn bó với dân, có khả năng giải quyết vấn đề trong khó khăn, “khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo” và luôn giữ đúng kỷ luật[6].

Việc bố trí, đề bạt cán bộ phải hết sức cân nhắc. Hồ Chí Minh lưu ý việc “khéo” dùng cán bộ. Theo Người “dụng nhân như dụng mộc”, gỗ nhỏ gỗ to, gỗ thẳng gỗ cong, người thợ khéo đều có thể sử dụng được. Dùng đúng là khiến cán bộ có gan nói, đề ra ý kiến, có gan phụ trách. Đề bạt, cất nhắc cán bộ vì công việc, dựa trên tài năng và để cổ động cho người khác thêm hăng hái, tránh “đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo”. Người đưa ra một bài học: “Cất nhắc cán bộ không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Đối với cán bộ, chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi cất nhắc. Mà sau khi cất nhắc phải giúp đỡ họ, khuyên gắng họ, vun trồng lòng tự tin, tự trọng của họ”[7].

Để có cán bộ đáp ứng nhiệm vụ, phải tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đảng phải dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”[8], huấn luyện cán bộ “là công việc gốc của Đảng”[9]. Người chỉ ra 4 nội dung cần huấn luyện là: huấn luyện nghề nghiệp, theo phương châm làm việc gì học việc nấy; huấn luyện chính trị, đặc biệt cho cán bộ tuyên truyền và tổ chức; huấn luyện văn hoá, nhất là đối với cán bộ còn kém về văn hoá; huấn luyện lý luận, tập trung cho cán bộ trung, cao cấp. “Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc dạy. Không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện”[10].

Muốn dùng cán bộ lâu bền phải biết yêu thương, đoàn kết cán bộ. Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu thương cán bộ không phải là vỗ về, nuông chiều mà giúp đỡ họ tiến bộ, giúp giải quyết việc gia đình, luôn chú ý đến công tác, vun trồng ưu điểm để họ thêm hăng hái, gắng sức mà phục vụ nhân dân. Yêu quý cán bộ phải chăm nom đến vấn đề đoàn kết trong cán bộ, “phải đoàn kết cán bộ trong Đảng và cán bộ ngoài Đảng”, “giữ gìn sự đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa cán bộ xuất thân từ công nông và cán bộ xuất thân từ trí thức, tiểu tư sản, giữa cán bộ người kinh và cán bộ các dân tộc ít người, giữa cán bộ người ở địa phương và cán bộ ở địa phương khác đến”[11].

Để bảo vệ cán bộ phải phê bình cán bộ cho đúng, xử phạt cho nghiêm. Muốn phê bình đúng, trước hết dùng thái độ thân thiết, triệt để, thật thà, không mỉa mai, đâm thọc; giải thích rõ ràng để người mắc khuyết điểm tự tìm ra nguyên nhân, thấy được hậu quả và cách sửa chữa; phê bình việc chứ không phê bình người; quán triệt mục đích phê bình là “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”[12]. Đồng thời với phê bình cán bộ còn phải xử phạt cán bộ vi phạm kỷ luật cho nghiêm để không mở đường cho kẻ phá hoại. Hồ Chủ tịch đã từng tận tay ký bản án tử hình đối với trường hợp cán bộ cao cấp của Đảng tham ô, hủ hoá, gây tổn hại nghiêm trọng cho uy tín của Đảng. Người khẳng định phê bình đúng, kỷ luật nghiêm không làm giảm thể diện, uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo giành được thắng lợi có đóng góp của đường lối cán bộ đúng đắn được hình thành từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những tư tưởng ấy ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Nếu mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, biến nó thành phương châm hành động, thành mục tiêu phấn đấu, thành phong cách lãnh đạo trên thực tế thì nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng – những công bộc thực thụ của nhân dân – sẽ đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.

[1] Tức Công xã Pari
[2] C.Mác-Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, T1, Nxb ST,H, tr.35.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.252-253
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.277
[5] C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, T1, Nxb CTQG, 1995, tr 337
[6] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.275.
[7] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.282.
[8] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.273
[9] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.269.
[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.273.
[11] Văn kiện Đảng, T21, Nxb CTQG, H, 2002, tr.763
[12] Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.232

Ths. Trương Thị Bạch Yến
Khoa Xây dựng Đảng – Học viện Chính trị-Hành chính khu vực III

xaydungdang.org.vn