Thư viện

Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Băng-la-đét đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam.

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Băng-la-đét, Sếch Ha-xi-na (Sheikh Hasina) thăm chính thức Việt Nam từ ngày 2 đến 4-11-2012. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của bà Sếch Ha-xi-na trên cương vị Thủ tướng Băng-la Đét, đánh dấu một cột mốc mới trong quan hệ Việt Nam – Băng-la-đét. Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Băng-la Đét nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, thúc đẩy hợp tác mọi mặt giữa hai nước trong thời gian tới, đồng thời trao đổi một số vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm.Việt Nam và Băng-la-đét có quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp. Ngay sau khi giành được độc lập, Băng-la Đét quan tâm theo dõi và ủng hộ cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, phong trào ủng hộ Việt Nam ở Băng-la-đét lên cao, lan rộng trong cả nước. Băng-la-đét là nước đầu tiên ở Nam Á công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Ngày 11-2-1973, Việt Nam và Băng-la Đét chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Hai bên bắt đầu trao đổi về lĩnh vực kinh tế, thương mại. Từ tháng 11 năm 1993, Băng-la-đét lập Đại sứ quán tại Hà Nội.

thu tuong bangladetThủ tướng Sếch Ha-xi-na cùng Đoàn đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong thời gian ở thăm Việt Nam, sáng 3/11/2012, Thủ tướng Sếch Ha-xi-na đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, bày tỏ sự kính trọng đối với vị Chủ tịch đã dành trọn cuộc đời của mình đấu tranh giành độc lập, tự do thống nhất cho nhân dân Việt Nam, đồng thời giương cao ngọn cờ đấu tranh giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Sếch Ha-xi-na, Thủ tướng Chính phủ Băng-la-đét kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Sau đó Bà Thủ tướng và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Băng-la-đét đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Bắc Sơn, Hà Nội. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Sếch Ha-xi-na, Thủ tướng Chính phủ Băng-la-đét kính viếng các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hội đồng Châu Âu đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Herman Van Rompuy và Phu nhân sang thăm chính thức nước ta từ ngày 31/10/2012 đến ngày 2/11/2012.

chu   tich hoi dong CÂ1
Ngài Chủ tịch Hội đồng Châu Âu và Phu nhân đến đặt vòng hoa
tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người

Đây là chuyến thăm lần đầu tiên của Chủ tịch Hội đồng Châu Âu đến Việt Nam kể từ khi hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1990. Năm 1996, Liên minh Châu Âu chính thức mở Phái đoàn đại diện tại Hà Nội. Kể từ đó đến nay, quan hệ hai bên đã đi vào khuôn khổ, phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu. Liên minh Châu Âu trở thành một trong các đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thương mại, đầu tư, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Các nước thành viên Liên minh Châu Âu hiện là một trong các nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam.

Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Herman Van Rompuy thăm Việt Nam nhằm thể hiện sự coi trọng vai trò, vị thế ngày càng tăng của Việt Nam tại khu vực đang phát triển năng động; khẳng định mong muốn tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam; tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế – xã hội, đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế thành công của Việt Nam; trao đổi các biện pháp tăng cường hợp tác song phương trong khuôn khổ hợp tác rộng lớn hơn của Hiệp định PCA; trao đổi các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm; thông báo các biện pháp Liên minh Châu Âu triển khai đối phó với khủng hoảng khu vực đồng Euro và trao đổi các biện pháp tăng cường quan hệ hai bên tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 1/11/2012, Ngài Chủ tịch và Phu nhân đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Liên minh Châu Âu Kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.”

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch – Vị anh hùng không nghĩ tới mình

U. Bớcsét (Ôxtrâylia)

Nói tới một con người mà cả cuộc đời đã để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hồ Chủ tịch - Vị anh hùng không nghĩ tới mình

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều ân hận là Người đã qua đời trước khi hoàn thành sự nghiệp cách mạng và đạt được mục đích giành độc lập hoàn toàn cho một nước Việt Nam thống nhất mà Người đã cống hiến cả đời mình, nhưng ít nhất thì Người cũng đã ra đi với một lòng tin tưởng vào thắng lợi không còn bao xa nữa.

Hồ Chí Minh là một người đã cảm hóa tất cả mọi người Việt Nam từ già đến trẻ. Người là một con người thẳng thắn, khiêm tốn, giản dị. Hình ảnh anh hùng không nghĩ tới mình trước sau như một của Người, từ cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh trước đây đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt cộng (Mặt trận Dân tộc giải phóng) ngày nay, đã cổ vũ, trở thành tấm gương cho hàng chục vạn thanh niên Việt Nam thà chết, không chịu làm nô lệ.

Từ khi bắt đầu ném bom miền Bắc, Mỹ đã dùng mọi cách tàn phá những công trình công nghiệp, y tế, giáo dục – tất cả đều được xây dựng sau khi thắng Pháp – hầu như tất cả những di sản của tổ tiên để lại cũng đều bị bom đạn Mỹ biến thành những đống gạch vụn, nhưng toàn thể nhân dân miền Bắc Việt Nam đều tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, dù có bị tàn phá nặng nề đến như thế nào, dù cả Hà Nội và Hải Phòng cũng bị tàn phá chăng nữa.

Trong thời gian miền Bắc bị ném bom ác liệt nhất, một nông dân Việt Nam đã nói với tôi: “Ném bom quả là đáng sợ thật, nhưng so với ách chiếm đóng của bọn thực dân thì không nghĩa lý gì. Có bị tàn phá thì chúng tôi lại xây dựng lại”.

Làm việc ở ngoài hiên

Một chuyện điển hình về Hồ Chủ tịch là sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Người đã đặt Văn phòng Chủ tịch ở một căn nhà nguyên là chỗ ở của những nhân viên phục vụ Phủ toàn quyền của Pháp trước đây. Còn Phủ toàn quyền, Người chỉ chuyên dành cho các cuộc tiếp đãi chính thức.

Khi tôi hỏi Người: “Văn phòng của Chủ tịch đâu?”. Câu trả lời của Người làm cho tôi kinh ngạc: “Lúc nào trời tối thì ở ngoài hiên, khi trời mưa thì ở trong buồng ngủ”.

Sự thực là Người không có một ngôi nhà nào khác. Khi tôi đến thăm Người, với bộ quần áo vải nâu mà những người nông dân thường mặc và đôi dép cao su lốp ô tô, Người ra đón tôi như đón một người quen cũ. Tác phong giản dị, không cầu kỳ đó, Hồ Chủ tịch suốt đời không thay đổi.

Một con người ít nói

Một đặc điểm nữa của Hồ Chủ tịch là Người trình bày những sự việc hết sức phức tạp bằng những lời lẽ rất ngắn gọn, dùng những hình ảnh hết sức trong sáng khiến cho ai cũng có thể hiểu được.

Sau khi Mỹ đưa quân đội chiến đấu vào miền Nam Việt Nam, có dư luận cho rằng chúng sẽ tiến công ra miền Bắc. Tôi hỏi Hồ Chủ tịch là nếu quân Mỹ làm như vậy thì kết quả sẽ ra sao?

Hồ Chủ tịch đã để cho tôi liên tưởng tới chuyện: “Con cáo bị mắc bẫy một chân” rồi trả lời tôi: “Nếu cứ giãy giụa lung tung định hòng thoát bẫy thì còn chân kia cũng sẽ mắc nốt. Nếu Mỹ dám tiến công miền Bắc thì kết quả rồi sẽ như vậy”.

Lần đầu tiên được gặp Hồ Chủ tịch, tôi cũng đã được thấy những hình ảnh tả thực, được nghe những câu nói ngắn gọn như những lời tiên tri như vậy. Đó là vào đầu tháng 3 năm 1954. Tuy mới đặt chân lên đất nước Việt Nam, nhưng trên đường tới đây tôi đã được nghe Đài Phát thanh Hà Nội – lúc này vẫn đang ở trong tay người Pháp – đưa tin về tình hình hoạt động của quân Pháp ở phía sau quân “Việt Minh” từ căn cứ Điện Biên Phủ. Khi đó tên Điện Biên Phủ mới bắt đầu được nói tới trong cuộc chiến tranh, do đó tôi đã hỏi Hồ Chủ tịch về Điện Biên Phủ. Hồ Chủ tịch đặt ngửa chiếc mũ lên bàn, chỉ vào đáy mũ và nói: “Đây là Điện Biên Phủ, một thung lũng có núi bao bọc xung quanh”. Sau đó Người vòng tay theo vành mũ, nói tiếp: “Quân viễn chinh Pháp ở dưới thung lũng này, chúng tôi từ trên núi ở xung quanh bao vây chúng. Chúng nhất định không thể thoát được”.

Đó là xu thế tất nhiên và lịch sử đã chứng minh rằng Hồ Chủ tịch đã nói đúng.

Khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, tôi lại hỏi Hồ Chủ tịch là Người nghĩ như thế nào đối với việc Mỹ tuy thừa nhận là chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam nhưng lại huênh hoang là bằng cách ném bom miền Bắc chúng sẽ có thể thắng được. Hồ Chủ tịch trả lời: “Mỹ đã tính lầm nếu cho rằng dựa vào việc tàn phá miền Bắc bằng bom đạn, chúng sẽ có thể thắng ở miền Nam”, “chúng tôi quyết không ngừng chiến đấu, dù là 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Cuộc chiến đấu của chúng tôi là chính nghĩa, chúng tôi sẽ được sự ủng hộ của nhân dân toàn thế giới kể cả nhân dân Mỹ. Chúng tôi sẽ thắng”.

Ấn tượng nổi bật nhất mà bất cứ ai lần đầu tiên gặp Hồ Chủ tịch cũng đều cảm thấy là trí tuệ tập trung ở đôi mắt đen ngời sáng của Người, là lòng nhân đạo và sức hấp dẫn làm cho người tới thăm thấy gần gũi ngay với Người. ấn tượng thứ hai là khả năng đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề bằng những lời lẽ ngắn gọn và rất đúng. Điều này chứng tỏ Người nắm rất chắc một cách toàn diện nội dung bàn luận. Người không những biết sử dụng rất nhiều thứ tiếng Âu, Á mà đồng thời còn rất hiểu tình hình trong nước của những người khách đến thăm.

Lịch sử sẽ dành cho Người vinh dự của một vị lãnh tụ vĩ đại mà thế kỷ XX đã sinh ra. Nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi ca ngợi Người.

(Trích từ sách: Người là Hồ Chí Minh, (Tập hồi ký), Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 1995).

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Tôi đã làm Thư ký cho Hồ Chủ tịch

Đalila Caxenli (Pháp)

Trong đời hoạt động cách mạng của tôi (43 năm), tôi đã có hạnh phúc được ở gần năm chiến sĩ cộng sản lỗi lạc: Mácxen Casanh, Pôn Vayăng Cutuayriê, Môrixơ Tôrê, Giắc Đuyclô, và Hồ Chí Minh. Một trường học phong phú biết bao đối với một chiến sĩ cách mạng.

toi lam thu kyBác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Pa-ris năm 1946

Một trong những dịp mật thiết là dịp cho phép tôi cộng tác với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi là Thư ký của Người suốt thời gian cuộc thương lượng ở Phông-ten-nơ-blô, năm 1946. Chúng tôi ở khách sạn Ngôi Sao. Hàng ngày tôi sắp xếp báo chí mà Người theo dõi. Chúng tôi thảo luận về những diễn biến của cuộc đàm phán. Qua những lúc trò chuyện, tôi cảm thấy Người yêu quý đất nước của mình hơn hết, và Người âu yếm biết bao các cháu thiếu nhi. Người nhắc đến những cái đó với biết bao nhân ái. Gương mặt Người rạng rỡ lên.

Người hiền hòa, lanh lợi, rất tế nhị, đồng thời rất kiên quyết. Người ân cần thăm hỏi sức khỏe của cha mẹ già tôi, nhất là cha tôi. Và mỗi lần như thế, mắt Người lại tươi cười, vì tôi đã kể một giai thoại về cha tôi cho Người nghe. Thật thế, khi cha tôi làm thợ giầy ở Lôdan, ông đã được biết Lê-nin. Ông nom thấy Lê-nin bước vào cửa hàng của mình với vẻ lo lắng, vì Lê-nin đem đến cho ông đôi giầy độc nhất bị hỏng gần như không sửa chữa được. Nhưng Lê-nin tỏ ra đáng mến và trông Người thiếu thốn đến nỗi cha tôi – bản chất ông cũng là người tốt – phải nén một tiếng thở dài và bắt tay vào sửa đôi giầy. Câu chuyện đó làm Hồ Chủ tịch cười hoài, vì Người cũng đã trải qua những lúc khó khăn như vậy.

Cuộc đàm phán có nhiều trở ngại, và Hồ Chủ tịch lại rất muốn giảm bớt sự đau khổ cho nhân dân nên Người có ý lo nghĩ.

Người tiếp khách nhiều. Một hôm Người cử tôi đến nói với Ximon Têry – viết Báo Nhân đạo – hãy vui lòng tiếp chuyện Người. Tôi còn nhớ, Ximon Têry cần dậy sớm – trong khi làm báo bà ta lại ngủ muộn. Tuy vậy, việc đó là một niềm hân hoan đối với Ximon Têry.

Một hôm khác, Người cử tôi đến nói với Ilya Êrenbua, nhà văn Xôviết vừa ghé qua Pa-ris, vui lòng gặp Người, nhưng kín đáo một chút, vào một giờ rất sớm.

Tôi gặp lại Ilya Êrenbua trong căn phòng rộng của khách sạn, thú vị với giờ giấc đã được ấn định. Ông vui vẻ cho biết, ông không thể biến thành màu sắc của bức tường, dù là lúc sáng sớm, nhưng ông rất hoan hỉ đến chỗ hẹn. Đấy là một chút bí mật mà Hồ Chủ tịch mong muốn.

Rõ ràng là cần phải thận trọng. Căn nhà này có nhiều bóng người qua lại, những cái tai tọc mạch lê la khắp mọi nơi, và những cuộc thảo luận về chính trị quan trọng nhất đã diễn ra trong phòng Người..

Trích từ sách: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1981

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Tổng thống nước Cộng hòa Panama đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng liệt sỹ

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ngài Ricardo Martinelli Berrocal – Tổng thống nước Cộng hòa Panama và Phu nhân đã sang thăm chính thức nước ta từ ngày 24/10/2012 đến ngày 27/10/2012. Trong khuôn khổ chuyến thăm của Ngài Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Panama, sáng ngày 25/10/2012, Ngài Tổng thống, Phu nhân và các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Kính viếng các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam”. Sau đó Đoàn đã đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt hoa tưởng niệm Người, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

DSC 0047Tổng thống nước Cộng hòa Panama và Đoàn đại biểu cấp cao nước
Cộng hòa Panama đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên ở cấp Nguyên thủ Nhà nước Panama kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (28/8/1975). Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Ricardo Martinelli và Phu nhân diễn ra trong bối cảnh hai nước đạt được những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Panama là một nước ở khu vực Trung Mỹ. Nền kinh tế Panama chủ yếu dựa vào ngành dịch vụ (chiếm 79,2% GDP); thu nhập phần lớn từ các dịch vụ của kênh đào Panama (bảo hiểm, cảng kho, đăng ký cờ tàu), ngân hàng, Khu Tự do thương mại Colon và du lịch. Tại các diễn đàn đa phương và khu vực, hai nước thường xuyên trao đổi ủng hộ lẫn nhau. Panama là một trong những nước sớm ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và bỏ phiếu bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc khóa 2008-2009. Năm 2010, Panama đã công nhận Quy chế Kinh tế thị trường cho Việt Nam.

Đây cũng là dịp lãnh đạo hai nước trao đổi các khả năng và biện pháp tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của mỗi bên; triển khai thực hiện các thỏa thuận đã ký kết trong các lĩnh vực như nông nghiệp, khoa học – kỹ thuật, hàng hải… thiết thực phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển ở mỗi nước.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Pa Pa Hồ với Chậu Xu-pha-nu-vông: Câu chuyện vượt thế kỷ…

Những năm 60 của Thế kỷ 20, tôi công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Mát-xcơ-va, may mắn được ít lần đưa đón Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Sau này ông Vũ Kỳ kể thêm nhiều chuyện, chúng tôi rút ra nhận định: Từng lời nói, việc làm của Bác Hồ đều là những bài học, lời răn dạy quí báu cho các thế hệ con cháu Việt Nam trong quan hệ Việt-Lào.

Bác Hồ đoàn kết Việt – Lào – Cam-pu-chia

Bác Hồ không chỉ lo cho độc lập, thống nhất đất nước và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới mà Người còn quan tâm đặc biệt tới khối đại đoàn kết ba nước Việt – Lào – Cam-pu-chia. Người không tán thành ý tưởng thành lập “Liên bang Đông Dương” chắc hẳn chỉ với tư tưởng chủ đạo: Tôn trọng quyền độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia dân tộc, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa nước lớn. Người chủ trương đặt tên Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ năm 1930. Năm 1951 tại Đại hội II, chủ trương đổi tên Đảng Lao động Việt Nam và đề xuất hai nước Cam-pu-chia, Lào thành lập đảng riêng ở mỗi nước của Bác được đại diện hai nước anh em rất hoan nghênh. Chính Sta-lin và Mao Trạch Đông được Bác thông báo tháng 1-1950 cũng rất tán đồng sáng kiến này.

Hiện nay còn lưu giữ trong kho tư liệu của Trung ương biên bản viết tay lời giải thích thêm của Bác, đại ý, lúc này – năm 1951, mà nói đến giai cấp vô sản chuyên chính, lập chính quyền Xô Viết v.v.. ở Miên (Cam-pu-chia), Lào là chống lại chủ nghĩa Mác(1). Được biết, chính Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (Chậu Xu-pha – tên gọi thân mật trong Hoàng cung) cũng rất tán thành với Bác Hồ rằng Hoàng thân “chưa vội” vào Đảng thì có lợi hơn cho cách mạng.

Sau Đại hội II “giải thể” Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập đảng riêng ở 3 nước, đã tiến hành Hội nghị liên minh để thành lập khối liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương(2) Chậu Xu-pha là đồng Chủ tịch của Khối.

pa pa 1Bác Hồ với gia đình Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Ảnh tư liệu.

Ông Vũ Kỳ giải thích, sự kiện lịch sử chứng tỏ Bác Hồ từ khi còn là anh thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã có tầm nhìn xuyên thấu ba nước Đông Dương phải dựa vào nhau mới tránh được “mũi dao thọc sườn” của kẻ thù từ bên ngoài trong mưu thâm “chia để trị” của đủ loại ngoại xâm. Rõ nhất là từ năm 1928 Người về Thái Lan đã qua Lào “một công đôi việc”: Tổ chức hoạt động yêu nước trong Việt Kiều, đồng thời qua đây, tìm hiểu, gây mầm trong các dân tộc Lào, đặc biệt trong dòng tộc của Phó vương Bun Khoống qua nhiều đời đều có tư tưởng chống ngoại bang xâm lược.

Năm 1941 về nước, Bác chỉ thị “bắt mối” gây dựng cơ sở yêu nước cách mạng trong các bộ tộc Lào. Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, với tư cách đại biểu dự Hội nghị Trung ương VIII tại Pác Bó, Cao Bằng, Người chỉ đạo hội nghị thông qua Nghị quyết khẳng định: Nhật, Pháp ngày nay không phải chỉ là kẻ thủ của công nông mà là kẻ thù của cả các dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương thoát khỏi ách của giặc Pháp Nhật… (3)

Việt Minh bí mật bảo vệ ông Hoàng

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, kỹ sư Chậu Xu-pha đang trông coi thi công cầu Yên Xuân – Nghệ An. Chủ tịch Ủy ban hành chính Đà Nẵng Lê Văn Hiến nhận lệnh bổ sung vào Đoàn đại diện Chính phủ dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại, sau đó đón ông ta ra Hà Nội và qua Vinh thì mời ông bà Hoàng thân cùng đi chuyến xe. Dọc đường xe ông bà bị hỏng, được mời sang xe Bảo Đại. Bà Hoàng không muốn ngồi cùng xe với ông vua bị hạ bệ đầy tai tiếng, nên đề nghị ở lại sửa xe, ra sau, nhưng mặt khác, lại lo cho ông Hoàng ra Hà Nội sẽ ăn, ở đâu, Chính phủ Cụ Hồ đối đãi thế nào…?

Bà nóng lòng tìm gặp cho được chồng mình. Người cần vụ lễ phép dẫn bà vào Dinh Khâm sai, qua vài phòng cửa đóng then cài vắng teo, bà càng nghi ngại, nóng ruột. Một anh khác vội chạy tới báo: Hoàng thân đang dùng bữa dưới bếp – bà Hoàng càng chẳng hiểu ra làm sao, vội bước theo xuống… bếp. Tới cửa bà sững lại: Đúng là Chậu Xu-pha cùng Cụ Hồ y chang trong ảnh – đang ăn cơm vui vẻ. Hai vị buông đũa bát. Cụ Chủ tịch nhanh nhẹn đứng lên đỡ bà tới ngồi cạnh ông: Cô ăn cơm luôn! Bà chưa kịp định thần, dạ, dạ như một cái máy…

Theo lệnh Chủ tịch, một đĩa ruốc được bưng ra. Cụ nói: “Món đặc sản này đồng bào Hà Nội vừa cho tôi, chúng tôi đã dùng, cô ăn nhiều đi cho hồi sức mấy ngày đi đường mệt…”. Nghe lời Cụ Chủ tịch chân tình, giản dị quá, cổ bà cứ nghẹn lại, cố giữ cho nước mắt khỏi ứa ra… Anh cần vụ xới bát cơm đặt trước mặt bà. Cơm gạo đỏ rẻ tiền, muối mè, dưa chua và chút xì dầu như bữa ăn nơi cửa thiền. Vậy mà là bữa cơm ngon lành, hạnh phúc trong đời bà và chắc hẳn cả ông, chưa bao giờ cảm nhận được như thế!

papa 1Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Vương quốc Lào
Su-va-na Phu-ma ký tuyên bố chung Việt Nam – Lào tại Hà Nội (1962).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Xu-pha-nu-vông đứng sau chứng kiến. Ảnh tư liệu.

Cơm nước xong, Cụ Hồ chủ động mời: Để Chậu đưa cô đi nghỉ… Trên gác hai, một phòng rộng sang trọng, chiếc giường to quá cỡ còn phủ nguyên khăn trải giường phẳng phiu, trắng muốt. Trên nền sàn gỗ giữa phòng trải chiếc chiếu mộc, một gối mây dài hơn một mét. Ông Hoàng cho biết: Mấy đêm rồi, Cụ và ông ngủ chung, cùng gối cái gối này. Ông mừng quá “lộ” bí mật với bà về chuyện còn giật mình nữa kia mà không hay biết.

– Chuyện chi lạ dữ vậy mình? – bà vội hỏi

Thì ra, từ lâu, hai kẻ thù Nhật, Pháp gầm ghè tranh miếng mồi Đông Dương, ở Lào, các nhà yêu nước như anh em Hoàng thân Phết-xa-lạt, Xu-pha-nu-vông đều là mục tiêu hàng đầu trong sổ đen của chúng. Do đó, Việt Minh đã theo sát, bảo vệ anh em Hoàng thân mà người chỉ huy trực tiếp chính là Trần Đăng Khoa – bạn thân, đồng nghiệp của ông. “Và, Cụ Hồ… mình đã hay… là ai chưa? Cụ Nguyễn Ái Quốc đấy!…” Bà Hoàng thốt lên: “-Trời đất ơi! Bà con ta đồn đại không sai: Cụ Hồ là vị thánh sống, vị cứu tinh của các dân tộc Đông Dương…”.

Ông Hoàng còn nói, Cụ lo cả khả năng xấu từ phía “người… mình” tự phát trong những ngày sục sôi cách mạng nên “giấu kín” ông, ông “đâm lo”… (Hoàng thân quen dùng từ “mình” cả khi nói với chúng tôi: mỏ than Hồng Quảng của mình, cảng Tu-ran của mình v.v..)

Song, điều ông vui mừng nhất muốn khoe với bà là chỉ mới ít ngày gần Cụ mà lòng dạ, tầm nhìn ở ông đã sáng ra, đổi mới, hứa hẹn một tương lai mới cho các bộ tộc Lào và nhân dân anh em ba nước Đông Dương. Ông chưa thấy có sách báo nào, bậc vĩ nhân nào nêu được tấm gương chân thực như Cụ Hồ về lý tưởng độc lập tự do cho dân tộc, đạo đức, nhân cách lớn của con người. Ông khẳng định sẽ học tập, đi theo con đường của Cụ và đề nghị bà cùng gọi cụ là Pa Pa Hồ. Bà mừng: Sao mình nói trúng ý em thế…. Người Việt ta đã gọi “Hồ Chí Minh – vị cha già dân tộc… Người Lào cũng sẽ gọi PaPa Hồ…”.

Ba anh em phải chung lưng đấu cật

Một lần, Hoàng thân cùng dịp Thủ tướng Chu Ân Lai qua Mát-xcơ-va đi Thụy Sĩ chuẩn bị họp Hội nghị Giơ-ne-vơ về Lào, ông Chu mời Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô Cu-dơ-nhét-xốp (sau là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô) cùng Hoàng thân dự cơm thân mật. Đại biện lâm thời Sứ quán ta Nguyễn Hữu Ngô cũng được mời, tôi tháp tùng. Trong chuyện vui, ông Cu-dơ-nhét-xốp ví Chính phủ Lào hiện tại giống như mùa đông ba anh em đắp chung một cái chăn. Người nằm giữa – chỉ Hoàng thân trung lập Phu-ma không phải co kéo gì vẫn luôn được ấm, trong khi hai bên tả-hữu: Xu-pha-nu-vông và Hoàng thân Bun-ùm (thân phương Tây) – bên này kéo được ấm thì bên kia hở bị lạnh.

Hôm tôi dẫn Hoàng thân và nhà văn Xi-xa-nạ Xa-văn đi Ôs-tan-ki-nô thăm Triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân Liên Xô, Hoàng thân chậm rãi nói: – Bác Hồ mình có hình tượng ba anh em tựa lưng vào nhau chống thù ngoài. Đó là Việt – Cam-pu-chia – Lào ba nước tựa vào dãy Trường Sơn… Bác nói sau Đại hội II, hôm đó có cả đại biểu Sơn Ngọc Minh của Cam-pu-chia cũng rất tán thưởng. Trong ngôn ngữ ba nước đều có câu chung ý nghĩa: “một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”- đó cũng chính là nội dung một học thuyết cơ bản của Hồ Chí Minh: Đoàn kết đại đoàn kết, thành công đại thành công.

Chuyện cho nghìn năm sau

Ông Vũ Kỳ theo dõi từ đầu đến cuối một chuyện lạ, sau đó hỏi thêm tướng Lê Chưởng tháp tùng hai vị lãnh đạo Bạn cho trọn vẹn. Ấy là vào đầu năm 1963, Hồ Chủ tịch tiếp Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và Tổng Bí thư Đảng cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Từ hôm trước, Bác chỉ bảo ông Vũ Kỳ chuẩn bị cho hai chiếc khăn len quàng cổ, không nói để làm gì.

Khách vừa an tọa, chủ thân mật hỏi: Ở Lào không rét như bên này thì phải. Sang đây các đồng chí có rét lắm không? Sao các đồng chí không quàng khăn cổ cho ấm?

– Dạ thưa, khi sang Hà Nội thì trời chưa trở gió mùa Đông Bắc ạ!

– Thế thì rét lắm! Có khăn quàng cổ đấy! Nói đoạn, Bác đứng lên vào phía trong lấy ra hai chiếc khăn mới, chậm rãi đặt xuống bàn, rồi cởi chiếc khăn đang quàng cổ ra, nói:

– Đồng chí Xu-pha-nu-vông và tôi tuổi cao, già cả nên hai chiếc khăn mới này dành cho chúng tôi mỗi người một cái. Người trao tay một chiếc cho Hoàng thân, một chiếc tự quàng cổ, rồi cầm chiếc khăn cũ đi lại bên phía đồng chí Cay-xỏn, nói: – Đồng chí Cay-xỏn, Bác trao lại chiếc khăn này của Bác cho đồng chí!

Có lẽ trong cuộc tiếp kiến còn nhiều chuyện, tới khi ngồi trong xe trên đường về, hai vị khách mới hồi tưởng không thể vô tình về 3 chiếc khăn. Hoàng thân bỗng quay sang đồng chí Bảy Cay – xỏn nói to:

– Chà, Bác Hồ với tôi, hai người già hai khăn mới…

– Còn tôi, tôi được “kế thừa” khăn Bác Hồ…

Không hiểu sao chỉ nói được đến đó, Tổng Bí thư Đảng anh em bỗng im lặng, trầm ngẫm suy nghĩ, hẳn là về hai chữ KẾ THỪA…

——————–

(1) GS. Trịnh Nhu. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Kỷ niệm 60 năm Đại hội II của Đảng. Tháng 2/2011 tại Kim Bình, Chiêm Hóa, Tuyên Quang.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập. T.6. Trang 186. NXB CTQG. 2006.

(3) Văn kiện Đảng 1930 – 1945. Tập 3. Trang 195-196.

Trịnh Tố Long
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bức tượng Hồ Chí Minh trên hòn đảo Châu Phi

Đêm. Gió biển thổi lồng lộng. Đứng trên bến cảng Toamashina của hòn đảo Madagascar, nhìn ra Ấn Độ Dương bao la, tôi hình dung hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đứng trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville dõi mắt xa xăm theo đại dương thăm thẳm, nhớ đến quê hương trên hành trình vạn dặm tìm con đường giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Sóng vỗ vào thân các con tàu trên bến khiến tôi bỗng nhớ câu thơ của Chế Lan Viên viết trong bài “Người đi tìm hình của nước”: “Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương”.

tuongTượng đồng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô Antananarivo.

Sử sách ghi lại người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba đã xin một chân phụ bếp trên tàu Đô đốc Latouche Tréville và đi qua các miền đất Châu Phi. Mỗi khi tàu cập cảng, người thanh niên ấy lại tranh thủ lên bờ, tìm hiểu cuộc sống của vùng đất mới đến.

Năm 2003, Madagascar đã đặt bức tượng Hồ Chí Minh tại Quảng trường cũng mang tên Hồ Chí Minh ở trung tâm Thủ đô Antananarivo. Bức tượng bằng đồng đặt trên bệ đá hoa cương, với tổng chiều cao 3,4m, tại một trong những quảng trường đẹp nhất của Thủ đô Antananarivo, phía bên dưới có tấm biển đồng khắc câu nói nổi tiếng của Người: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Nhiều người bản xứ nói với tôi rằng, Madagascar dựng tượng đài Hồ Chí Minh không chỉ vì Người là anh hùng giải phóng dân tộc, Người đã nhóm lên ngọn lửa đấu tranh đòi tự do cho các dân tộc nô lệ, trong đó có Madagascar. Người dân Madagascar cũng biết rằng, Hồ Chí Minh từng là bạn chiến đấu của lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo trong những năm tháng hoạt động tại Pháp.

Trong Từ điển Bách khoa toàn thư mở có một câu viết: At the beginning of 1924 Ralaimongo was still in Paris meeting others of a socialist view including the future Ho Chi Minh (Đầu năm 1924 Ralaimongo vẫn còn ở Paris và gặp gỡ nhiều người theo quan điểm xã hội chủ nghĩa, trong đó có Hồ Chí Minh).

Giống như Việt Nam, Madagascar từng là thuộc địa của Pháp. Phong trào đấu tranh giành độc lập tại Madagascar bùng nổ sau khi các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi ở Việt Nam và một số nước Đông Nam Á. Đến năm 1947, các cuộc đấu tranh nhỏ lẻ tập hợp thành phong trào đấu tranh vũ trang. Người bản xứ Madagascar giao chiến với quân Pháp, kết quả 8.000 người tử thương. Chính phủ Pháp cố giải quyết và xúc tiến cải tổ hành chánh với Bộ luật Loi Cadre.

Năm 1958 nước Cộng hòa Malagasy ra đời nhưng chỉ được hưởng quy chế một nước tự trị trong cộng đồng Pháp (hậu thân của Liên hiệp Pháp). Thể chế này chấm dứt ngày 26-6-1960 khi Madagascar tuyên bố hoàn toàn độc lập theo Hiến pháp mới soạn thảo năm 1959.

Vào năm 1911, khi con tàu Đô đốc Latouche Tréville đi qua các cảng Châu Phi, quốc đảo này vẫn còn là thuộc địa của Pháp. Hình ảnh người dân nô lệ làm việc dưới đòn roi của những tên thực dân Pháp đã khiến người thanh niên Việt Nam rơi nước mắt khi anh nghĩ đến số phận những người dân mất nước giống như nhân dân mình.

Madagascar đã để lại dấu ấn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Từ rất sớm, bằng thực tiễn cuộc sống, trong đó có hình ảnh người nô lệ Madagascar, Người đã phát hiện một chân lý: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai loại người: Loại người bóc lột và người bị bóc lột”.

Trong thời gian sống tại Pháp, Người đã cùng các bạn châu Phi, trong đó có hai bạn người Madagascar là Jean Ralaimongo, nhà cách mạng yêu nước và Samuel Stephanie, tích cực tổ chức và tham gia lãnh đạo Hội Liên hiệp thuộc địa, tập hợp những người dân thuộc địa của Pháp (cuối tháng 11năm 1921), ra Báo Le Paria (Người cùng khổ) để mở rộng tuyên truyền đến các thuộc địa (tháng 4 năm 1922).

Ngay số đầu phát hành, Báo Le Paria đã khẳng định: Báo “ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Madagascar, ở Đông Dương, ở quần đảo Ăng Ti và Guy An”.

Trung tâm Thủ đô Antananarivo của Madagascar.

Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản tại Paris năm 1925, Bác Hồ với tên Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo hành động man rợ của đội quân viễn chinh Pháp ở Madagascar năm 1895. Người nhắc lại cuộc tàn sát đẫm máu mà thực dân Pháp đã gây ra cho nhân dân Madagascar: “Chúng đã thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát một lúc 5.000 người của bộ lạc Sacavala trên bờ biển phía Tây của Madagascar”. Trong buổi trò chuyện với nhà thơ Xô Viết Osip Emilyevich Mandelstam, Nguyễn Ái Quốc cũng nhắc lại “những người anh em Madagascar”.

Giữa Thủ đô Antananarivo có 3 tượng đài: Một tượng đài tưởng niệm nhà yêu nước Madagascar Jean Ralaimongo, bức tượng của Lênin và bức tượng của Hồ Chí Minh. Xúc động nhất là rất nhiều người dân Madagascar mà tôi đã gặp trước tượng đài Hồ Chí Minh đều nói rằng họ biết về Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Dấu chân Người trên các bến cảng Châu Phi đã xóa nhòa vết tích theo thời gian, nhưng dấu chân Người trong tâm trí người dân Madagascar vẫn còn in đậm.

Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành là người đã đặt viên gạch đầu tiên cho mối quan hệ hai nước Việt Nam và Madagascar bằng tình bạn chiến đấu giữa Người với lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo. Việt Nam và Madagascar bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18-12-1972.

Trong những năm qua, các hoạt động ngoại giao giữa hai bên diễn ra khá thường xuyên. Tháng 8 năm 2004 và tháng 10 năm 2008, lần lượt Đoàn Bộ trưởng Công nghiệp, Thương mại và Phát triển kinh tế tư nhân Madagascar và Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp sang thăm Việt Nam. Về phía Việt Nam, tháng 3 năm 2003 và tháng 11 năm 2003, lần lượt Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Phạm Quang Nghị và Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa cũng sang thăm Madagascar.

Việt Nam và Madagascar hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Về giáo dục, những năm 1980, Việt Nam có 45 chuyên gia giáo dục sang làm việc tại Madagascar.

Về nông nghiệp, năm 1999, Việt Nam đã cử 80 chuyên gia, kỹ thuật viên nông nghiệp và thủy sản sang làm việc tại Madagascar theo mô hình hợp tác 3 bên với sự tài trợ của Tổ chức Nông lương LHQ (FAO).

Hiện nay, Việt Nam còn 3 chuyên gia nông nghiệp đang làm việc tại Madagascar trong khuôn khổ hợp tác song phương. Hai nước cũng đã ký kết một số thỏa thuận song phương: Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học và công nghệ (tháng 11 năm 2003).

Về thương mại, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2008 đạt hơn 10 triệu USD, năm 2009 đạt 5,8 triệu USD. Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng như: Sắt thép, dệt may, phân bón… và nhập từ Madagascar chủ yếu sắt thép phế liệu, sản phẩm chất dẻo, phụ liệu may, da giày…

(Tư liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam)

Theo sggp.org.vn
Thúy Hằng
(st)
bqllang.gov.vn

Trích Nghị quyết của UNESCO…



————————————-

Toàn văn nghị quyết của Tổ chức giáo dục,
khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO)
về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phiên họp toàn thể;

Xét thấy việc tổ chức kỷ niệm trên quy mô quốc tế những nhà tri thức lỗi lạc và danh nhân văn hóa và góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu của UNESCO và vào sự hiểu biết trên thế giới;

Nhắc lại Quyết định số 18C 4351 về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại;

Ghi nhận rằng năm 1990 sẽ được đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa kiệt xuất;

Xét thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội;

Xét thấy sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau;

1 – Khuyến nghị các quốc gia thành viên kết hợp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách tổ chức những hoạt động đa dạng để tưởng niệm Người, để làm cho mọi người hiểu được tầm vóc to lớn của những tư tưởng và sự nghiệp của Người vì công cuộc giải phóng dân tộc;

2 – Đề nghị ông Tổng Giám đốc UNESCO tiến hành những bước đi phù hợp để kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giúp đỡ các hoạt động tưởng niệm chung được tổ chức nhân dịp này, đặc b iệt là những hoạt động diễn ra ở Việt Nam.

(Theo Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam.
NXB Chính trị Quốc gia)
quehuongonline.vn

Tượng đài Hồ Chí Minh tại Hungary (Châu Âu)

Nằm cách Thủ đô Budapest chừng 220km, Zalaegerszeg là một đô thị nhỏ, thủ phủ của tỉnh Zala (khu vực Tây – tả ngạn sông Danube), được biết đến như một trong những thành phốnhiều cây xanh và hoa lá nhất của Cộng hòa Hungary. Tuy nhiên, đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, thành phố  có hơn 700 năm tuổi này lại mang một ý nghĩa đặc biệt khác: Tại đây, cho đến giờ, vẫn tọa lạc một tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, có lẽ là độc nhất vô nhị trong vùng Đông – Trung Âu!

H1
Đất nước Hungary

Hồ Chủ tịch trong lòng các bạn Hungary

Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề xa lạ với người dân Hungary. Dẫn đầu phái đoàn Việt Nam trong chuyến thăm chính thức Hungary kéo dài 4 ngày vào mùa hè năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc trong lòng những bạn bè Hungary. Trong các hồi tưởng, nhiều ký giả, chính khách Hungary đã cảm nhận ở Bác hình ảnh của một nhà ái quốc vì dân vì nước, một vị hiền triết phương Đông với những tư tưởng thâm trầm.

Sự tôn trọng mà đất nước Hungary dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiện cảm của người dân nước này với cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam đã khiến Hungary trở thành một người bạn thân thiết với Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Hungary đã có những hỗ trợ đáng kể và quý báu cho miền Bắc, trong phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam, trong việc đào tạo nhiều thế hệ du học sinh – trong đó, có nhiều học viên quân sự – để nhiều người trong số họ trở thành các chuyên gia đầu ngành, phục vụ hiệu quả cho cuộc chiến tranh vệ quốc.

Trong những năm tháng ấy, tên của Hồ Chủ tịch đã được đặt cho Trường Cao đẳng Sư phạm ở thành phố Eger, tại nhiều vùng trên toàn quốc, những pho tượng bán thân, phù điêu mang hình Bác được đặt ở những Quảng trường, vườn hoa… Tuy nhiên, tượng đài kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Zalaegerszeg là món quà quý báu duy nhất của nhân dân Hungary đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian và thời cuộc.

Để tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của tượng đài Hồ Chí Minh cách đây hơn 3 thập niên, chúng tôi đã có dịp trao đổi với ông Hóbor József, một người bạn nhiệt thành của Việt Nam, người đã có những “hệ lụy” sâu sắc với tượng đài. Ông cho biết:

“Dạo ấy, Việt Nam rất được yêu quý ở Hungary: Một năm sau ngày thống nhất, đất nước của các bạn được coi như xứ sở được ưa chuộng nhất trong khối Xã hội chủ nghĩa. Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đồng nghĩa với tự do, ái quốc, với sự thống nhất của những lý tưởng cánh tả và xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã trở thành một khái niệm, từ đó đến giờ, và ngay cả những địch thủ của ông cũng không thể nói được gì xấu về ông”.

“Cũng trong thời gian ấy, tại Xí nghiệp May ở thành phố Zalaegerszeg (gần nơi tượng đài tọa lạc), có rất nhiều phụ nữ Việt Nam làm việc. Đây có lẽ cũng là một lý do khiến thành phố quyết định dựng tượng Bác Hồ”.

Một tác phẩm lớn từ tay một điêu khắc gia lớn

Những năm 70 thế kỷ trước, Zalaegerszeg là một trong số các thành phố phát triển năng động nhất của Hungary, đồng thời, cũng là một đô thị rất để tâm đến những giá trị văn hóa. Trong khuôn viên của thành phố, có rất nhiều pho tượng giá trị và khi nảy ra ý định dựng tượng đài Hồ Chí Minh, Ban lãnh đạo thành phố cũng đã “cầu viện” tới một bậc thày trong nền điêu khắc Hungary: Ông Marton László (1925-2008).

H2
Ông Marton László

Được coi là một trong những điêu khắc gia vĩ đại nhất của Hungary trong mọi thời đại, từng được Giải Kossuth (phần thưởng cao quý bậc nhất cho những đóng góp xuất sắc trên bình diện văn hóa và nghệ thuật), Marton László là tác giả của chừng 150 pho tượng trên toàn quốc, trong số đó, có hơn 40 pho tượng đặt tại Budapest.

Các tác phẩm của ông được trưng bày tại Phòng Trưng bày Quốc gia Hungary và nhiều thành phố lớn trên thế giới, như Paris, London, Berlin, Vatican…, cũng như, trong những bộ sưu tập cá nhân của các nhân vật nổi tiếng như Hoàng đế Nhật Bản, hoặc Hoàng tử xứ Wales. Pho tượng đồng thi hào József Attila, đặt bên cạnh Nhà Quốc hội Hungary, hướng ra bờ sông Danube, là một kiệt tác nổi tiếng của ông.

Có thể đặt tượng đài Hồ Chí Minh trong loạt các tác phẩm khắc họa những danh nhân Hungary và quốc tế của Márton László. Thể hiện hình tượng Bác Hồ một cách dung dị, nhưng rất sắc nét và có hồn, mang dáng dấp một “Ông Ké Cao Bằng”, dẫn đường cho quần chúng lao khổ, nhà điêu khắc Hungary đã tránh được lối mòn của trường phái “hiện thực xã hội chủ nghĩa” thịnh hành thời ấy, với những nét khoa trương, lên gân không cần thiết.

Được khai trương đúng vào dịp kỷ niệm 1 năm Ngày Việt Nam thống nhất (30-4-1976), tượng đài Hồ Chí Minh đã đoạt giải của Bộ Văn hóa Hungary năm 1977 và trở thành một phần của nét văn hóa thành phố Zalaegerszeg. Sau khi Hungary thay đổi thể chế chính trị, nhiều pho tượng thời xã hội chủ nghĩa đã bị dẹp bỏ, nhưng đúng như nhận xét của ông Hóbor József, “bằng một cách nào đó, vẻ đẹp của bức tượng và hình tượng Hồ Chí Minh đã không cho phép người ta đụng vào tượng đài”.

Biểu tượng của tình hữu nghị Hungary – Việt Nam

Đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg chỉ được biết đến một cách rộng rãi từ năm 2005 qua một dịp rất ngẫu nhiên và lý thú.

H3Tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg

Trong lễ kỷ niệm 60 năm thoát khỏi ách phát-xít Đức (tổ chức tại Nhà Quốc hội Hungary), đã có sự hiện diện của Đại sứ Việt Nam Trần Hữu Tùng, cũng là một cựu du học sinh Việt Nam tại Hungary thập niên 60 thế kỷ trước. Ông Hóbor József hồi tưởng: “Bỏ qua mọi nghi lễ ngoại giao, tôi đã tiến đến trò chuyện với ngài đại sứ và cho ông biết rằng, tại nơi tôi ở, thành phố Zalaegerszeg, có một tượng đài Hồ Chí Minh rất đẹp, mời các bạn Việt Nam đến thăm và nhân cơ hội đó, có thể thắt chặt mối quan hệ giữa thành phố Zalaegerszeg và Việt Nam”.

Vài bữa sau, tại Ngày Thơ ca Hungary (12 tháng 4 hàng năm) tổ chức ở Zalaegerszeg, được biết Hồ Chủ tịch đồng thời cũng là một nhà thơ, ông Balogh Mikós, một chính khách Đảng Xã hội Hungary, khi ấy là nghị sĩ Quốc hội và thành viên Hội đồng thành phố, đã đến đặt hoa tại tượng đài và đọc một số thi phẩm của Bác. Thành phố Zalaegerszeg có một truyền thống đẹp là mỗi thành viên Hội đồng thành phố đều nhận phần gìn giữ, chăm sóc một pho tượng đặt tại thành phố, và ông Balogh Miklós – cũng là một người bạn Hungary có mối giao tình đẹp đẽ với Việt Nam – đã nhận phần chăm sóc tượng đài Hồ Chí Minh.

Nhờ sự tích cực của các ông Hóbor József và Balogh Miklós, cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh tại Zalaegerszeg đã trở thành một điểm đến hàng năm của các đoàn thể Việt Nam tại Hungary và trong nước.

Theo Tienphong.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Tượng đài Hồ Chí Minh tại Hungary (Châu Âu)

Nằm cách Thủ đô Budapest chừng 220km, Zalaegerszeg là một đô thị nhỏ, thủ phủ của tỉnh Zala (khu vực Tây – tả ngạn sông Danube), được biết đến như một trong những thành phốnhiều cây xanh và hoa lá nhất của Cộng hòa Hungary. Tuy nhiên, đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, thành phố có hơn 700 năm tuổi này lại mang một ý nghĩa đặc biệt khác: Tại đây, cho đến giờ, vẫn tọa lạc một tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, có lẽ là độc nhất vô nhị trong vùng Đông – Trung Âu!

H1Đất nước Hungary

Hồ Chủ tịch trong lòng các bạn Hungary

Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề xa lạ với người dân Hungary. Dẫn đầu phái đoàn Việt Nam trong chuyến thăm chính thức Hungary kéo dài 4 ngày vào mùa hè năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc trong lòng những bạn bè Hungary. Trong các hồi tưởng, nhiều ký giả, chính khách Hungary đã cảm nhận ở Bác hình ảnh của một nhà ái quốc vì dân vì nước, một vị hiền triết phương Đông với những tư tưởng thâm trầm.

Sự tôn trọng mà đất nước Hungary dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiện cảm của người dân nước này với cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam đã khiến Hungary trở thành một người bạn thân thiết với Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Hungary đã có những hỗ trợ đáng kể và quý báu cho miền Bắc, trong phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam, trong việc đào tạo nhiều thế hệ du học sinh – trong đó, có nhiều học viên quân sự – để nhiều người trong số họ trở thành các chuyên gia đầu ngành, phục vụ hiệu quả cho cuộc chiến tranh vệ quốc.

Trong những năm tháng ấy, tên của Hồ Chủ tịch đã được đặt cho Trường Cao đẳng Sư phạm ở thành phố Eger, tại nhiều vùng trên toàn quốc, những pho tượng bán thân, phù điêu mang hình Bác được đặt ở những Quảng trường, vườn hoa… Tuy nhiên, tượng đài kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Zalaegerszeg là món quà quý báu duy nhất của nhân dân Hungary đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian và thời cuộc.

Để tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của tượng đài Hồ Chí Minh cách đây hơn 3 thập niên, chúng tôi đã có dịp trao đổi với ông Hóbor József, một người bạn nhiệt thành của Việt Nam, người đã có những “hệ lụy” sâu sắc với tượng đài. Ông cho biết:

“Dạo ấy, Việt Nam rất được yêu quý ở Hungary: Một năm sau ngày thống nhất, đất nước của các bạn được coi như xứ sở được ưa chuộng nhất trong khối Xã hội chủ nghĩa. Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đồng nghĩa với tự do, ái quốc, với sự thống nhất của những lý tưởng cánh tả và xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã trở thành một khái niệm, từ đó đến giờ, và ngay cả những địch thủ của ông cũng không thể nói được gì xấu về ông”.

“Cũng trong thời gian ấy, tại Xí nghiệp May ở thành phố Zalaegerszeg (gần nơi tượng đài tọa lạc), có rất nhiều phụ nữ Việt Nam làm việc. Đây có lẽ cũng là một lý do khiến thành phố quyết định dựng tượng Bác Hồ”.

Một tác phẩm lớn từ tay một điêu khắc gia lớn

Những năm 70 thế kỷ trước, Zalaegerszeg là một trong số các thành phố phát triển năng động nhất của Hungary, đồng thời, cũng là một đô thị rất để tâm đến những giá trị văn hóa. Trong khuôn viên của thành phố, có rất nhiều pho tượng giá trị và khi nảy ra ý định dựng tượng đài Hồ Chí Minh, Ban lãnh đạo thành phố cũng đã “cầu viện” tới một bậc thày trong nền điêu khắc Hungary: Ông Marton László (1925-2008).

H2Ông Marton László

Được coi là một trong những điêu khắc gia vĩ đại nhất của Hungary trong mọi thời đại, từng được Giải Kossuth (phần thưởng cao quý bậc nhất cho những đóng góp xuất sắc trên bình diện văn hóa và nghệ thuật), Marton László là tác giả của chừng 150 pho tượng trên toàn quốc, trong số đó, có hơn 40 pho tượng đặt tại Budapest.

Các tác phẩm của ông được trưng bày tại Phòng Trưng bày Quốc gia Hungary và nhiều thành phố lớn trên thế giới, như Paris, London, Berlin, Vatican…, cũng như, trong những bộ sưu tập cá nhân của các nhân vật nổi tiếng như Hoàng đế Nhật Bản, hoặc Hoàng tử xứ Wales. Pho tượng đồng thi hào József Attila, đặt bên cạnh Nhà Quốc hội Hungary, hướng ra bờ sông Danube, là một kiệt tác nổi tiếng của ông.

Có thể đặt tượng đài Hồ Chí Minh trong loạt các tác phẩm khắc họa những danh nhân Hungary và quốc tế của Márton László. Thể hiện hình tượng Bác Hồ một cách dung dị, nhưng rất sắc nét và có hồn, mang dáng dấp một “Ông Ké Cao Bằng”, dẫn đường cho quần chúng lao khổ, nhà điêu khắc Hungary đã tránh được lối mòn của trường phái “hiện thực xã hội chủ nghĩa” thịnh hành thời ấy, với những nét khoa trương, lên gân không cần thiết.

Được khai trương đúng vào dịp kỷ niệm 1 năm Ngày Việt Nam thống nhất (30-4-1976), tượng đài Hồ Chí Minh đã đoạt giải của Bộ Văn hóa Hungary năm 1977 và trở thành một phần của nét văn hóa thành phố Zalaegerszeg. Sau khi Hungary thay đổi thể chế chính trị, nhiều pho tượng thời xã hội chủ nghĩa đã bị dẹp bỏ, nhưng đúng như nhận xét của ông Hóbor József, “bằng một cách nào đó, vẻ đẹp của bức tượng và hình tượng Hồ Chí Minh đã không cho phép người ta đụng vào tượng đài”.

Biểu tượng của tình hữu nghị Hungary – Việt Nam

Đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg chỉ được biết đến một cách rộng rãi từ năm 2005 qua một dịp rất ngẫu nhiên và lý thú.

H3Tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg

Trong lễ kỷ niệm 60 năm thoát khỏi ách phát-xít Đức (tổ chức tại Nhà Quốc hội Hungary), đã có sự hiện diện của Đại sứ Việt Nam Trần Hữu Tùng, cũng là một cựu du học sinh Việt Nam tại Hungary thập niên 60 thế kỷ trước. Ông Hóbor József hồi tưởng: “Bỏ qua mọi nghi lễ ngoại giao, tôi đã tiến đến trò chuyện với ngài đại sứ và cho ông biết rằng, tại nơi tôi ở, thành phố Zalaegerszeg, có một tượng đài Hồ Chí Minh rất đẹp, mời các bạn Việt Nam đến thăm và nhân cơ hội đó, có thể thắt chặt mối quan hệ giữa thành phố Zalaegerszeg và Việt Nam”.

Vài bữa sau, tại Ngày Thơ ca Hungary (12 tháng 4 hàng năm) tổ chức ở Zalaegerszeg, được biết Hồ Chủ tịch đồng thời cũng là một nhà thơ, ông Balogh Mikós, một chính khách Đảng Xã hội Hungary, khi ấy là nghị sĩ Quốc hội và thành viên Hội đồng thành phố, đã đến đặt hoa tại tượng đài và đọc một số thi phẩm của Bác. Thành phố Zalaegerszeg có một truyền thống đẹp là mỗi thành viên Hội đồng thành phố đều nhận phần gìn giữ, chăm sóc một pho tượng đặt tại thành phố, và ông Balogh Miklós – cũng là một người bạn Hungary có mối giao tình đẹp đẽ với Việt Nam – đã nhận phần chăm sóc tượng đài Hồ Chí Minh.

Nhờ sự tích cực của các ông Hóbor József và Balogh Miklós, cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh tại Zalaegerszeg đã trở thành một điểm đến hàng năm của các đoàn thể Việt Nam tại Hungary và trong nước.

Theo Tienphong.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng các dân tộc

Vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của nhân dân toàn thế giới (Bộ trưởng Cựu chiến binh An-giê-ri Mô-ha-mét Che-ríp Áp-ba)

Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân An-giê-ri biết đến không chỉ là biểu tượng của tình đoàn kết, Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn là vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của nhân dân toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu đã có tác động không nhỏ tới cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp diễn ra cùng thời điểm ở An-giê-ri. Bị thực dân Pháp đô hộ từ cuối thế kỷ 19, nhân dân An-giê-ri đã đứng lên đấu tranh, từ đầu những năm 1950 bắt đầu tiến hành cách mạng. Chiến thắng Điện Biên Phủ ở Việt Nam đã tiếp cho nhân dân An-giê-ri giành thắng lợi, giải phóng dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của chính nghĩa, niềm tin vào nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân Việt Nam đã ghi dấu son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của mình, mở ra con đường giải phóng nhân loại khỏi ách thực dân, thắt chặt tình đoàn kết của nhân dân toàn thế giới, là tấm gương cho nhân dân các dân tộc bị áp bức noi theo.

Nhân dân An-giê-ri luôn ghi nhớ sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam. Hai nước có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hai nước vừa phải đấu tranh xây dựng và phát triển đất nước, vừa phải đối mặt những thách thức, mặt trái của toàn cầu hóa gây ra do sự áp đặt của chủ nghĩa thực dân mới. Bất chấp khoảng cách địa lý xa xôi, nhiều khó khăn mới, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam – An-giê-ri phát triển tốt đẹp trong các lĩnh vực nhất là về kinh tế, thương mại. Hai nước ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế. An-giê-ri kêu gọi đầu tư nước ngoài, nhất là các nước bạn bè truyền thống, trong đó có Việt Nam.

Tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân (Ông Cho Jae Hyun, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Hàn Quốc-Việt Nam, giáo sư tiếng Việt, Trường đại học Ngoại ngữ Xơ-un)

Là người nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt và lịch sử Việt Nam trong nhiều năm, tôi đặc biệt ngưỡng mộ truyền thống đấu tranh và hy sinh anh dũng của dân tộc Việt Nam, không một thế lực nào có thể khuất phục được Tôi khâm phục những người dân Việt Nam sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc trong các cuộc chiến tranh đánh đuổi đế quốc, ngoại xâm. Và trong công cuộc xây dựng đất nước, họ lại tràn đầy ý chí, quyết tâm mang lại sự giàu mạnh, phồn vinh cho dân tộc. Những người dân Việt Nam thời đại mới thật xứng đáng là hậu duệ của vua Hùng, Ngô Quyền, Quang Trung- Nguyễn Huệ… một người Hàn Quốc đầu tiên học tiếng Việt tôi đọc nhiều sách về Điện Biên Phủ và luôn mơ ước một ngày nào đó được đặt chân lên mảnh đất lịch sử ấy. Cuối tháng tư vừa qua, tôi được ngắm nhìn tận mắt nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954, nơi thể hiện ý chí bất khuất, quật cường của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết tinh sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần đoàn kết, nhất trí của toàn dân Việt Nam.

Tôi đặc biệt ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lãnh tụ vĩ đại, nhưng trong cuộc sống, Người thật giản dị, dễ gần. Tôi luôn ghi nhớ tư tưởng vĩ đại của Người “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Người là một tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân. Người đã hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình để toàn tâm, toàn ý phục vụ một mục đích cao cả là mang lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Tôi tin rằng với tinh thần đoàn kết và yêu nước, quyết tâm huy động mọi nguồn lực, những người dân Việt Nam cần cù, thông minh sẽ đạt nhiều thành tựu to lớn hơn nữa trong công cuộc đổi mới. Việt Nam nhất định sẽ trở thành một ”con rồng” của Châu Á trong tương lai không xa.

Con đường mãi mãi khắc sâu tình hữu nghị Ấn Độ – Việt Nam (Thứ trưởng Ngoại giao Ấn Độ R.Ma-du-ca A-bi-an-ca)

Tôi vô cùng vinh dự và phấn khởi dự mít-tinh kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ tổ chức tại Thủ đô Hà Nội và thật cảm động khi được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị Tổng Tư lệnh tài ba chỉ huy Chiến dịch lịch sử này. Chiến thắng Điện Biên Phủ không những giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp sau hơn 100 năm mà còn cổ vũ các dân tộc bị áp bức khác trên thế giới, đặc biệt cổ vũ nhân dân Ấn Độ đứng lên giành chính quyền từ tay thực dân Anh. Đến Việt Nam trong những ngày tháng 5 lịch sử này, đúng dịp đất nước các bạn tưng bừng kỷ niệm các ngày lễ lớn trọng đại của dân tộc, trong đó có kỷ niệm 114 năm Ngày sinh của Chủ tinh Hồ Chí Minh tôi cảm thấy thật hạnh phúc. Nhân dân Ấn Độ kính yêu và ngưỡng mộ vị cha già của dân tộc mình Gia-oa-hác-lan Nê-ru cũng như nhân dân Việt Nam tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại thành phố Can-cút-ta thuộc bang Tây Ben-gan có Tượng đài của Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng trên đường phố mang tên Người. Đường Hồ Chí Minh ấy mãi mãi khắc sâu tình hữu nghị truyền thống tốt đẹp Việt Nam – Ấn Độ do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Gia-oa-hác-lan Nê-ru gây dựng, vun đắp. Trải qua thử thách của thời gian, có thể tự hào nói rằng, mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước ngày càng phát triển, lớn mạnh. Trong những năm qua, hai nước thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao thăm chính thức lẫn nhau. Kết quả nổi bật là hai nước ký Tuyên bố chung về hợp tác Việt Nam – Ấn Độ trong thế kỷ 21, đặt nền móng vững chắc thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương lên tầm cao mới. Ấn Độ hiện là nước đối tác – đối thoại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ấn Độ đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong ASEAN. Hai nước có nhiều tiềm năng hợp tác, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, đào tạo, đánh bắt hải sản… Quan hệ Việt Nam – Ấn Độ đang hướng tới sự hợp tác toàn diện và hiệu quả hơn.

Theo Song Hạnh và Hồng Cầm
(Báo Nhân Dân cuối tuần)
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Tình bạn giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh

“Đại Công báo”, một tờ báo Trung Quốc có hơn một trăm năm lịch sử, là một trong ba tờ báo Hoa văn có uy tín trên thế giới do Liên hợp quốc bình chọn, số ra ngày 6-4-2011 đã đăng bài “Vài mẩu chuyện về tình bạn giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai” của tác giả Lý Gia Trung, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam từ tháng 12-1995 đến tháng 7-2000. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tham khảo.

Hai vị vĩ nhân xưng hô với nhau là anh em

Tháng 11-1956, Thủ tướng Chu Ân Lai sang thăm Việt Nam. Trong lời chào mừng các vị khách quý dự tiệc chiêu đãi cấp nhà nước, với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không đọc bài viết sẵn, mà nói vo một đoạn: “Với tôi, đồng chí Chu Ân Lai là người anh em của tôi. Chúng tôi đã từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau làm công tác cách mạng. Anh ấy là người bạn chiến đấu thân mật của tôi trên ba mươi năm qua!”

Tiếp lời, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng nói: “Hồ Chủ tịch vừa nhắc đến cá nhân tôi trên ba mươi năm trước đã quen thân anh, đúng thế! Ba mươi tư năm trước, tại Pa-ri, tôi đã quen thân Hồ Chủ tịch. Anh là người dẫn đường của tôi. Khi ấy, anh đã là một người Mác-xít thành thục, mà tôi khi ấy mới vừa tham gia Đảng Cộng sản. Anh ấy là lão đại ca của tôi!”

Lúc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đứng lên nói với mọi người có mặt: “Câu nói vừa rồi của đồng chí Chu Ân Lai, các đồng chí nghe biết là được rồi, không nên nói lại với những người khác. Mọi người đều biết, đồng chí Chu Ân Lai là nhà lãnh đạo của một Đảng lớn và một nước lớn dân số nhiều nhất trên thế giới!”.

Vì thế, báo chí Việt Nam không đưa tin viết bài kỹ câu chuyện này. Mãi cho đến ngày 14-5-1960, Nhân Dân nhật báo Trung Quốc mới tiết lộ tình tiết này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Chu Ân Lai.

Từ năm 1965 về sau, tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được tốt. Thủ tướng Chu Ân Lai rất quan tâm đến bệnh tình của Người, trực tiếp lựa chọn những chuyên gia y tế có trình độ cao nhất Trung Quốc thành lập Tổ điều trị, đến Hà Nội chữa bệnh cho Hồ Chủ tịch.

Tháng 5-1969, bệnh tình của Hồ Chủ tịch tương đối ổn định, phía Việt Nam bèn đề nghị các chuyên gia của Tổ điều trị Trung Quốc về nước nghỉ ngơi củng cố một chút, một tháng sau thì trở lại. Trước khi lên đường, các chuyên gia hỏi Hồ Chủ tịch yêu cầu từ Bắc Kinh mang về những gì. Hồ Chủ tịch nói luôn: “Cái gì cũng không cần, chỉ mang về một con vịt quay Bắc Kinh là được rồi!”.

Sau khi về nước, trong khi nghe báo cáo tình hình, Thủ tướng Chu Ân Lai biết Hồ Chủ tịch thích ăn vịt quay, nói ngay: “Một con không được! Phải mang hai con, đồng thời phải là vịt to, sườn mỏng và tưới ma-gi thơm ngọt và đầy đủ gia vị”. Thủ tướng Chu Ân Lai còn suy nghĩ, nhắc nhở: Việt Nam đang mùa hè, Hồ Chủ tịch lại là người cao tuổi, cơ thể yếu, nên giải quyết đông lạnh bảo quản thực phẩm tươi ngon là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch

Vì chuyện này, Thủ tướng Chu Ân Lai mời đồng chí Lý Cường, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đến bàn bạc, song đồng chí Lý Cường cũng không am hiểu những tri thức về mặt đông lạnh. Cuối cùng, thông qua Công ty Xuất nhập khẩu Lương thực thực phẩm, một đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại thương, tìm đến Nhà máy Rượu Bắc Kinh, ở đây sản xuất được một loại băng khô có thể làm lạnh, sau khi đưa vịt quay và các gia vị vào thùng lót xốp, chung quanh rắc băng khô lên, có thể khống chế nhiệt độ ở độ âm, bảo đảm chắc chắn vịt quay không thể biến chất. Đến khi ấy, Thủ tướng Chu Ân Lai mới yên tâm.

Hạ tuần tháng 6, chuyên gia trong Tổ điều trị trở lại Hà Nội.

Tháng 5-1960, Thủ tướng Chu Ân Lai thăm Việt Nam. Hồ Chủ tịch và Chu Thủ tướng vui với các cháu thiếu nhi Việt Nam. Ảnh do Vũ Phong Tạo cung cấp.

Hồ Chủ tịch quyết định đem một con vịt quay tặng Tổ điều trị, còn một con nữa, Người yêu cầu cùng thưởng thức với Đại sứ Trung Quốc Vương Ấu Bình.

Ngày 30-6, Phủ Chủ tịch Việt Nam gọi điện thoại đến Đại sứ quán Trung Quốc, thông báo: Ngày mai là Kỷ niệm 48 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chủ tịch quyết định mời cơm Đại sứ Vương Ấu Bình tại Phủ Chủ tịch, vào 12 giờ trưa.

Ngày hôm sau, tôi là phiên dịch tháp tùng Đại sứ Vương Ấu Bình đúng giờ đến Phủ Chủ tịch. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Hồ Chủ tịch dẫn chúng tôi vào phòng ăn. Trước khi Hồ Chủ tịch đi vào phòng ăn, đồng chí Vũ Kỳ kể với chúng tôi câu chuyện: Sau khi nghe Tổ điều trị phản ánh, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gửi vịt quay sang.

Sau 30 năm, năm 1999, tôi đã gặp đồng chí Vũ Kỳ, năm ấy đã 78 tuổi. Khi nhắc đến chuyện Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch, đồng chí ấy vô cùng xúc động. Đồng chí nói với tôi: Đến nay đồng chí ấy vẫn giữ gìn cẩn thận chiếc lọ sứ đựng ma-gi ngọt hồi ấy, coi như một hiện vật văn hóa quý báu có ý nghĩa lịch sử.

Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp đến Hà Nội viếng Hồ Chủ tịch

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.

Sau khi nghe tin, Thủ tướng Chu Ân Lai vô cùng đau thương.

Ngoài việc gửi điện chia buồn đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung Quốc cử Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm dẫn đầu Đoàn Đại biểu Đảng và Chính phủ Trung Quốc sang dự Lễ tang Hồ Chủ tịch, tổ chức vào ngày 9 tháng 9.

Thủ tướng Chu Ân Lai còn quyết định trước đó vào ngày 4-9, ông và Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh cùng đến Hà Nội, viếng Hồ Chủ tịch.

Các nhà lãnh đạo cao cấp: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng Võ Nguyên Giáp… trực tiếp ra tận sân bay đón tiếp. Thủ tướng Chu Ân Lai rơm rớm nước mắt, nói: “Tôi đến muộn rồi!”.

Trong khi hội đàm với những nhà lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai đều nói rõ các thành viên của Đoàn đại biểu đều là những đồng chí quan hệ mật thiết với Hồ Chủ tịch. Bản thân đồng chí thay mặt cho Mao Chủ tịch đến. Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, Diệp Kiếm Anh đã từng cùng Hồ Chủ tịch công tác tại Văn phòng Bát Lộ Quân tại Trùng Khánh. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Vi Quốc Thanh làm Đoàn trưởng Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc sang Việt Nam công tác.

Thủ tướng Chu Ân Lai nói:

“Hồ Chủ tịch suốt đời phấn đấu, chẳng những lập công bất hủ vì nhân dân Việt Nam, mà còn có cống hiến rất lớn vì giai cấp vô sản quốc tế. Hồ Chủ tịch có quan hệ đặc biệt mật thiết đối với cách mạng Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng chí mấy lần đến Trung Quốc, tham gia cách mạng Trung Quốc, cùng chung hoạn nạn, kề vai sát cánh chiến đấu với nhân dân Trung Quốc, dày công vun đắp tình cảm sâu đậm với nhân dân Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Phẩm chất cộng sản của Hồ Chủ tịch, sự quan tâm đến nhân dân lao động, ý chí cách mạng, tinh thần đấu tranh triệt để với kẻ thù, tác phong công tác gian khổ chất phác của Chủ tịch, trước sau như một, xứng đáng được mọi Đảng viên cộng sản học tập.”

Thủ tướng Chu Ân Lai nhiều lần nói: “Tôi đến muộn rồi, không thể gặp mặt lần cuối cùng với Hồ Chủ tịch!”.

Khi ấy, thi hài của Hồ Chủ tịch đã được giao cho chuyên gia Liên Xô để tiến hành xử lý y học, không cho người không có phận sự tiếp xúc, nên đáng lẽ Đoàn không thể đến với Người.

Nhưng, vì tình hữu nghị chiến đấu sâu đậm của Thủ tướng Chu Ân Lai với Hồ Chủ tịch, trước khi Đoàn đại biểu lên đường về nước, phía Việt Nam đã phá lệ, bố trí cho Thủ tướng Chu Ân Lai và các đại biểu trong Đoàn đến bái biệt Hồ Chủ tịch.

Lý Gia Trung – (Vũ Phong Tạo dịch)
qdnd.vn