Thư viện

Vì sao gọi Người là Bác Hồ?

(Petrotimes) – Một ông bạn người nước ngoài gửi e-mail đến hỏi vì sao tất cả người Việt Nam đương đại đều cùng gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ? Bài báo này như lá thư trả lời bạn xa.

Quốc Hiếu

Có một tình cờ thú vị là người đầu tiên viết tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh in thành sách lại là một, Jean Lacouture. Ông được người Pháp đánh giá là một trong những nhà văn chuyên viết tiểu sử nổi tiếng nhất nước Pháp đương đại… Lý do là ở trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng thuận cho viết tiểu sử mình. Nhà báo Phan Quang, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam nhớ về Jean Lacouture như sau:

“…Trong một bữa ăn, tôi nói với Jean về cảm tưởng khi lần đầu đọc cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thời ấy, cả nước Việt Nam đang bừng bừng khí thế đánh Mỹ. Quân dân ta đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.000… Thành thật mà nói, những tư liệu anh viết về Bác Hồ đối với chúng tôi không có gì mới. Nhưng sách của anh là cuốn tiểu sử hoàn chỉnh đầu tiên về Hồ Chí Minh. Trước anh, mới có cuốn sách mỏng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất bản ở Liên khu 5 từ thời kháng Pháp, bài báo của đồng chí Trường Chinh và một số hồi ký của các nhà cách mạng… Hơn nữa, tác phẩm được thực hiện và xuất bản khi Người còn khỏe (1967). Chúng tôi rất biết ơn những lời tốt đẹp anh viết về Việt Nam. Có phải chính anh đã viết: Ai muốn học bài học về chủ nghĩa lạc quan, hãy đến Việt Nam?…”.

Jean Lacouture kể lại một kỷ niệm. Hôm ấy, tại Hà Nội, giữa hai đợt bom Mỹ, khi đang phỏng vấn Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì cửa phòng hé mở và Bác Hồ nhẹ nhàng bước vào. Tiếng chân Người bước đi vẫn rất nhẹ, còn nhẹ hơn tiếng sột soạt của bộ áo quần kaki Bác mặc trên người. Bác Hồ mỉm cười, đưa tay ra hiệu bảo mọi người cứ ngồi yên và nói: “Thủ tướng nói về chính sách của Chính phủ hay hơn tôi. Tôi đến đây chỉ như một người bạn cũ để chuyện trò với nhau về những ngày đã qua thôi. Thế nào, Paris có gì mới nào, anh bạn?”.

Jean Lacouture nhận xét, Bác Hồ trông có khác đi nhiều. Tóc bạc nhiều hơn. Bộ râu dường như thưa thớt hơn lần anh được gặp trước. Dáng người của Bác vẫn dong dỏng trong bộ quần áo kaki, tuy khuôn mặt có đầy đặn hơn một chút so với hồi trước…

Và Jean Lacouture kết thúc cuốn tiểu sử bằng ý kiến riêng của mình với những dòng sau:

“Ai mà biết được? Bác Hồ bây giờ là một người cao tuổi. Đời Bác đã trải qua cả nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng… Nhưng nếu cậu bé Cung trở thành Nguyễn Tất Thành, trở thành anh Ba, trở thành Nguyễn Ái Quốc, trở thành Vương, trở thành Line, rồi trở thành Hồ Chí Minh không được tự mắt nhìn thấy nước Việt Nam độc lập và thống nhất từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau, thì những người Việt Nam khác, những người được Bác Hồ đào tạo nên và cũng đều được tôi luyện trong chiến đấu, họ sẽ thay mặt Người mà chứng kiến điều ấy trở thành hiện thực…”.

Vậy là Jean Lacouture là một trong những người nước ngoài sớm gọi “Bác Hồ”.

Một người nước ngoài khác, con trai nhà báo Wilfred Burchett là George Burchett được sinh ra tại Hà Nội năm 1955 luôn có cảm tình đặc biệt với Bác Hồ. Anh nói rằng, Wilfred Burchett ngưỡng mộ Hồ Chủ tịch nhiều hơn bất cứ nhân vật nào trong lịch sử – bởi nhân cách, cũng như sự thông tuệ đáng khâm phục, tư tưởng quốc tế và tài lãnh đạo của Người.

“Mỗi lần trở lại Việt Nam qua những chuyến thăm ngắn ngủi, Wilfred Burchett đều nói rằng, Bác Hồ gửi tới những đứa trẻ chúng tôi lời hỏi thăm ấm áp nhất – dành cho anh trai tôi, chị gái tôi và tôi. Bởi vậy, có thể nói rằng, Bác Hồ luôn hiện diện trong gia đình tôi như một hình ảnh vô cùng mạnh mẽ. Và bởi vì cha tôi đã luôn kiên định với cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và thống nhất của Việt Nam, nên Việt Nam cũng luôn hiện diện trong gia đình tôi. Với tôi, Việt Nam – Bác Hồ thực sự là một điều gì đó sâu sắc và có thực.

Trong tâm trí tôi, Bác Hồ và cha tôi luôn có mối quan hệ mật thiết. Tôi yêu quý và trân trọng họ với tất cả trái tim mình…”.

Xưng hô chính thức và đầu tiên của Hồ Chủ tịch trước công luận là xưng… “tôi” trong câu hỏi nổi tiếng, khi Người đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945: “Đồng bào nghe tôi nói có rõ không?”. Đồng bào và tôi. Mỗi lần nói với toàn thể hay một tập hợp người Việt, Người đều dùng chữ đồng bào.

Trong nhiều trang hồi ký các nhân vật lịch sử cho thấy, Hồ Chủ tịch rất uyển chuyển khi trò chuyện với các đối tượng khác nhau. Những người như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh thì Người gọi là tiên sinh, tướng Trần Tu Hòa là Trần tướng quân, giám mục Lê Hữu Từ là cụ, linh mục Lê Văn Yên là ngài, các ông Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố… đều là cụ, đại diện các gia đình hảo tâm quyên góp cho Chính phủ là các bà và các ngài, hội hảo tâm là quý hội, Chủ tịch Quốc hội là cụ chủ tịch, một bộ trưởng là cụ bộ trưởng, đại diện các ủy ban nhân dân là các bạn… Trong một bức thư gửi các ngụy binh, Người gọi họ là anh em. Gửi những người đi lính cho Pháp và bù nhìn, Người viết: “Tôi thiết tha kêu gọi các người”.

Vậy “Bác Hồ” bắt đầu được gọi như vậy từ bao giờ, từ đâu ra? Thư tịch và tài liệu lưu trữ cho hay, tháng 9/1947, lần đầu tiên Người xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10/5/1947: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỷ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu”. Và Người vẫn ký Hồ Chí Minh, chứ không ký Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám” năm 1947, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng.

Các nhà nghiên cứu lưu ý Hồ Chủ tịch chỉ xưng “Bác” trong hai trường hợp quan hệ. Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Điều này là bình thường. Ở tuổi 55, khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thời đó, Người đã là một người cao tuổi. Bác gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chủ tịch với nhi đồng là tự nhiên. Cuối thư gửi nhi đồng, Bác Hồ thường hôn các cháu. Trong một bức thư, Bác Hồ còn hôn các cháu rõ kêu, một kiểu biểu lộ tình cảm của người Âu – Mỹ lại được diễn đạt đậm đà bản sắc Việt Nam. Người cũng xưng trong quan hệ với những cộng sự, giúp việc kém tuổi mình. Bác ở đây là bác – cô/chú.

“Bác Hồ”, danh xưng thân thương này được dùng với mọi người, mọi nơi ở Việt Nam. Những người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không gọi Bác mà gọi Bok Hồ (Cha Hồ). Nay trong nhiều gia đình “tam đại đồng đường”, thậm chí “tứ đại đồng đường”, cả nhà cùng gọi Bác Hồ vẫn tự nhiên như thường mà quên đi khái niệm tuổi tác. “Bác Hồ”, danh xưng này vượt qua tính chất gia đình mà là tấm lòng yêu quý, lòng kính trọng, biết ơn của mọi con dân nước Việt hôm nay và mai sau đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ sống mãi trong mỗi gia đình người Việt.

Q.H
petrotimes.vn

Câu chuyện: Người Pháp, Người Mỹ nói về Bác

Việt Nam - Hồ Chí MinhTuần báo Đây Paris ra ngày 18-6-1946 là một trong những bài viết sớm nhất, tương đối đầy đủ nhất về phong cách của Bác Hồ.

“Chủ tịch nước Việt Nam là một người giản dị quá đỗi. Quanh năm ông chỉ mặc một bộ áo kaki xoàng xĩnh và khi những người cộng tác quanh ông để ý, nói với ông rằng với địa vị ông ngày nay, nhiều khi cần phải mặc cho được trang trọng, thì ông chỉ mỉm cười trả lời:

“Chúng ta tưởng rằng chúng ta được quí trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào mình trần đang rét run trong thành phố và các vùng quê”?

Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một nhà ẩn sĩ, đó là một đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hành hạ mình cho khổ sở mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo cho đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người xung quanh đều bắt chước hành động đó của ông.

Trong những ngày thường, ông dùng cơm ở Bắc Bộ phủ, ngồi chung với hết thảy mọi người. Người ta thấy quây quần xung quanh bàn ăn: các bộ trưởng, những thư ký và cả những cậu thiếu niên phục vụ bàn giấy. Nhờ có đức tính giản dị của ông mà khi ngồi ăn với mọi người ông không làm ai phải giữ kẽ nhiều quá, mà trái lại, không khí chung lộ ra, lúc nào cũng thân mật, cũng vui vẻ, gây cho bữa ăn một vẻ gia đình.

Tính giản dị và thân mật của ông còn biểu lộ ra trong những bài diễn văn. Không bao giờ ông tỏ vẻ thông thái, vốn rất rộng của ông. Ông thông thạo nhiều thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm, trái lại ông chỉ dùng những câu nôm na, khiến cho một người dù quê mùa, chất phác nghe cũng hiểu ngay được. Ngày ông viết xã luận cho báo Cứu Quốc, trước khi đem bài cho nhà in, bao giờ ông cũng đem đọc cho một số người không biết chữ, ông già, bà già cùng nghe. Nếu ông thấy thính giả tỏ vẻ không hiểu mấy những ý tưởng trong bài viết lập tức ông viết lại ngay bài khác. Tất cả đức tính Hồ Chí Minh bao gồm trong một cử chỉ bé nhỏ đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét lối nói khoa trương, văn vẻ. Mỗi bài diễn văn của ông là một bài học nhỏ kết luận bằng một ý kiến đạo đức. Bởi những ý tưởng hết sức giản đơn ấy mà bài diễn văn của ông có một tiếng vang lớn trong giới trí thức và dân chúng”.

Hai mươi lăm năm sau bài viết trên, năm 1971 – sau khi Bác Hồ đã mất, một người Mỹ – nhà báo, nhà văn Đâyvít Hanbơcstơn trong cuốn sách Hồ của mình, do Nhà xuất bản Răngđôm Haosơ ở New York ấn hành đã viết:

“… Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này – hơi giống Găngđi, hơi giống Lênin, hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ. Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc quần áo đơn giản nhất – cách ăn mặc của ông không khác mấy người nông dân nghèo nhất – một phong cách mà Phương Tây đã chế giễu ông trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy chính cái tính giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông.

Trong một nước khi mà dân chúng đã thấy những người cầm đầu đạt tới một địa vị nào đó rồi trở thành “Tây” hơn là “Việt Nam”, bị quyền lực, tiền bạc và lối sống phương Tây làm thối nát; trong một nước khi những người đó đã ngoi lên khá cao thì không làm gì cho dân chúng cả, lập tức bị bán mình cho người nước ngoài, tính giản dị của ông Hồ là một sức mạnh. Địa vị càng cao sang, ông càng giản dị và trong sạch. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh cửu của người Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Ông Hồ không cố tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân, với lịch sử, đến nỗi không cần những pho tượng, những cái cầu, những pho sách, những tấm ảnh để chứng tỏ điều đó cho mình và cho thiên hạ biết. Việc ông từ chối sự sùng bái cá nhân là đặc biệt đáng chú ý trong cái xã hội kém phát triển…”.

Theo cuốn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh  do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương phát hành năm 2007
Thu Hiền (st)/ http://tuyengiao.haiduong.org.vn

bqllang.gov.vn

Gặp “cô bé Trung Quốc” được chụp ảnh với Bác Hồ

1
Bà Vương Phong và bức ảnh quý chụp với Bác Hồ khi xưa.
Ảnh: Xuân Vịnh/Vietnam

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Báo Tiền Phong số 190, ra từ ngày 1-4/6/1957 đã trang trọng in trên trang nhất bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” chụp Bác Hồ kính yêu cùng một bé gái khoảng 5 tuổi, mặc váy màu trắng có đôi mắt to, đen láy đang cầm cành hoa hồng.

Bức ảnh của tác giả Mai Nam, minh họa cho bài viết “Một bức thư của các bạn nhỏ ở Mátxcơva nhân ngày 1/6.”

Do bức ảnh in trên báo khi đó không chú thích cụ thể nên nhiều người không biết nhân vật đặc biệt đã vinh dự được chụp ảnh với Bác Hồ chính là cô bé Tiểu Hồng, con gái của nhà báo Vương Duy Chân, nguyên Trưởng Phân xã Tân Hoa xã tại Hà Nội từ năm 1955-1960.

Tìm lại người trong ảnh

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, kỷ niệm về những người bạn Việt Nam cùng Thủ đô Hà Nội thơ mộng vẫn mãi mãi khắc sâu trong trái tim cô bé Tiểu Hồng khi xưa và bà Vương Phong đang sống tại Bắc Kinh (Trung Quốc) hiện nay.

Đầu năm 2013, chúng tôi có dịp đến thăm gia đình cố nhà báo Vương Duy Chân tại Bắc Kinh và bất ngờ được nghe bà Vương Phong, con gái của nhà báo xúc động kể lại giây phút vinh dự được gặp Bác Hồ tại Thủ đô Hà Nội gần 60 năm về trước. Đặc biệt hơn, bà Vương Phong còn cho biết mình chính là cô bé Tiểu Hồng, nhân vật đặc biệt trong bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” in trên báo Tiền phong năm 1957.

Năm tháng đã dần lùi xa, nhưng bà Vương Phong vẫn nhớ như in giây phút vô cùng xúc động mà mình vinh dự được gặp Bác Hồ tại sân bay Gia Lâm ngày 20/5/1957. Bà Vương Phong cho biết, vào năm 1956, khi đó bà hơn 5 tuổi, được theo phụ thân là nhà báo Vương Duy Chân sang công tác tại Phân xã Tân Hoa Xã ở Thủ đô Hà Nội.

Cô bé Tiểu Hồng khi đó mặc dù còn rất nhỏ nhưng qua sự giới thiệu cũng như những câu chuyện kể của cha mình hàng ngày đã cảm thấy vô cùng khâm phục các nhân vật anh hùng của dân tộc Việt Nam, trong đó đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hình ảnh Bác Hồ giản dị mà vô cùng kính yêu cũng theo đó dần khắc sâu trong tâm trí của Tiểu Hồng. Cô bé thầm nghĩ mình nhất định sẽ phải gặp bằng được con người vĩ đại đó. Cuối cùng, cơ hội đã đến khi Nguyên soái Liên Xô Kliment Yefremovich Voroshilov (1881-1969) sang thăm Việt Nam vào tháng 5 năm 1957. Sau khi nghe phụ thân nói Bác Hồ hôm nay sẽ ra sân bay Gia Lâm đón khách, Tiểu Hồng muốn gặp Người thì hãy nhanh chóng chuẩn bị, cô bé lập tức thay chiếc váy màu trắng mà mình yêu thích nhất, ra vườn hái một cành hoa hồng mang theo rồi cùng cha ra sân bay.

Tại sân bay Gia Lâm, do phải tác nghiệp để đưa tin phản ánh về chuyến thăm tới Việt Nam của Nguyên soái Voroshilov nên nhà báo Vương Duy Chân đã để cô con gái Tiểu Hồng của mình đứng cùng với gia đình Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam – La Quý Ba. Trong lúc chờ máy bay đến, bé Tiểu Hồng bỗng nghe thấy mọi người hô to “Hồ Chủ tịch đến rồi! Bác Hồ đến rồi!” và đồng loạt vỗ tay hoan hô. Lúc đó, cô đã nhìn thấy Bác Hồ – một ông cụ râu tóc bạc phơ – đang ung dung đi đến nên vui mừng nhảy lên gọi to :” Bác Hồ! Bác Hồ!” và cầm cành hoa vẫy liên tục.

Cho đến tận bây giờ, bà Vương Phong vẫn nhớ như in hình ảnh ngộ nghĩnh của mình và những gì diễn ra sau đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến nói chuyện với Đại sứ La Quý Ba và phát hiện ra bé Tiểu Hồng đáng yêu đang đứng bên cạnh liên tục gọi “Bác Hồ! Bác Hồ” bằng tiếng Trung. Bác cúi xuống, dẫn Tiểu Hồng ra khỏi đội hình đang xếp hàng chuẩn bị đón khách và hỏi: “Cháu mấy tuổi rồi? Cháu có thích Việt Nam không?”

Ngay lập tức bé Tiểu Hồng trả lời: “Cháu thích Việt Nam! Cháu yêu Bác Hồ.”

Lúc này rất nhiều phóng viên đang có mặt tại sân bay chạy đến và đèn flas của các máy ảnh chớp sáng liên tục. Bác Hồ lại âu yếm hỏi: “Cháu có biết tiếng Việt Nam không?” Tiểu Hồng đáp “Cháu có!” và nói liền một mạch cả ba câu mà mình đã học thuộc mặc dù chưa biết nghĩa của chúng là gì: “Ăn cơm chưa? Ăn cơm rồi! Chào đồng chí!” Nghe vậy, Bác Hồ và mọi người xung quanh đều bật cười vui vẻ.

Sau này, mỗi khi nhớ lại giây phút đó bà Vương Phong đều cảm thấy vô cùng xúc động, hình ảnh kính yêu của Bác Hồ cùng những câu nói nghộ nghĩnh “tự hỏi, tự trả lời” của một cô bé 5 tuổi mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm.

Giây phút cô bé Tiểu Hồng được gặp Bác Hồ tại sân bay Gia Lâm khi đó đã được rất nhiều phóng viên đang có mặt tại đây ghi vào ống kính máy ảnh và sau đó tặng lại cho nhà báo Vương Duy Chân.

Bà Vương Phong cho biết bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” đăng trên báo Tiền Phong nhân ngày 1/6/1957 kể trên chính là khoảnh khắc Bác Hồ bật cười vui vẻ khi nghe Tiểu Hồng nói “Ăn cơm chưa? Ăn cơm rồi! Chào đồng chí!”

Tờ báo này đã được nhà báo Vương Duy Chân sưu tầm và tự tay ghi vào bên cạnh dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tiểu Hồng.”

Hiện nay, tờ báo vẫn đang được bà Vương Phong trân trọng lưu giữ và coi như bảo vật vô cùng quý giá của bản thân cũng như cả gia đình.

Ngoài ra, bà Vương Phong hiện cũng đang lưu giữ một số tấm hình khác cùng chụp khoảnh khắc được gặp Bác Hồ ở các góc độ khác nhau, trong đó có hai bức ảnh do Phóng viên ảnh Tạ Sỹ Phong thuộc Tân Hoa Việt báo chụp sau đó tặng lại cho nhà báo Vương Duy Chân.

“Bác Hồ kính yêu mãi mãi trong trái tim tôi”

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, bà Vương Phong hiện đang sống cùng mẹ và con trai tại một khu phố yên tĩnh nằm ở khu vực phía Tây của Thủ đô Bắc Kinh. Trong căn nhà tập thể giản dị này, chúng tôi thấy rất nhiều hình ảnh cũng như các bức tranh về phong cảnh Việt Nam và Thủ đô Hà Nội được chủ nhân nâng niu đặt tại những vị trí trang trọng.

Nhắc lại kỷ niệm được gặp Bác Hồ khi xưa, bà Vương Phong cho biết trong suốt những năm tháng sau này và cho đến tận bây giờ hình ảnh cùng nhân cách của Người vẫn mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm, mỗi ngày một thêm rực rỡ và vĩ đại hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng giống như các lãnh đạo cách mạng tiền bối của Trung Quốc đều hy sinh tất cả cho nhân dân, cho tổ quốc, cho độc lập tự do và bình đẳng. Một sự hy sinh cao cả mà mọi lời nói, mọi lời ca đều khó có thể diễn đạt hoặc ngợi ca hết, mãi mãi được khắc ghi trong lòng mọi người.

Bà Vương Phong cho biết mình luôn cảm thấy tự hào khi kể lại cho bạn bè nghe về kỷ niệm quý báu của đời mình và thường nói với mọi người “Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam mãi mãi trong trái tim tôi.”

Trong khi trò chuyện, chúng tôi lại vô cùng bất ngờ và trân trọng khi được biết bà Vương Phong không những yêu thích mà còn học thuộc và hát rất hay nhiều ca khúc Việt Nam. Bà cho biết khoảng năm 2000, bà đã có dịp quay lại thăm Việt Nam sau đó tự sưu tập, nhờ người dịch sang tiếng Trung một số bài hát nổi tiếng của Việt Nam như “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người,” “Hà Nội mùa Thu” và “Em ơi Hà Nội phố”… để về Trung Quốc giới thiệu và hát lại cho mọi người nghe./.

Xuân Vịnh/Bắc Kinh (Vietnam+)
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Nguyễn Ái Quốc và “duyên nợ” ở Hồng Kông

“Tôi sẽ bào chữa cho ngài vì niềm vinh dự, không phải vì tiền” – Đó là câu trả lời của vị luật sư nổi tiếng người Anh Frank Loseby với Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông cách đây 79 năm, khi biết Người bị bắt vì những hoạt động yêu nước.

Xin giới thiệu với độc giả bài viết của Laura Lam cho DTInews, về bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hồng Kông, nơi Người đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ cảm động khi phải đối mặt với lệnh dẫn độ và khả năng bị tử hình:

lS

Frank Loseby

Năm 1932, Hồ Tùng Mậu đã gặp Frank Loseby, một luật sư người Anh xuất chúng, nổi tiếng có lòng thương người và tính tình chính trực. Luật sư này vài năm trước đã từng bảo vệ một người Việt Nam có trường hợp tương tự, nên nắm rất rõ tình hình ở Đông Dương. Ông đã gật đầu với trường hợp của Nguyễn Ái Quốc. Ông đã gặp thân chủ và lập tức cảm thấy đặc biệt tôn trọng người đàn ông này. Ông nói với Nguyễn Ái Quốc rằng một trong những đồng sự của ông đã đại diện cho Tiến sĩ Tôn Trung Sơn khi ông này bị bắt và bị giam giữ ở London vì những hoạt động chính trị. Nguyễn Ái Quốc rất lo lắng về việc không có tiền để chi trả cho luật sư. Nhưng Loseby nói: “Tôi biết ngài là nhà lãnh đạo của phong trào cách mạng Việt Nam. Tôi sẽ bào chữa cho ngài vì niềm vinh dự, chứ không phải vì tiền”.

Thực dân Pháp đã đưa ra bằng chứng đầy đủ để “hợp pháp hóa” lệnh bắt giữ Nguyễn Ái Quốc. Tại Tòa án Dân sự Tối cao ở Hồng Kông (khi đó là thuộc địa của Anh), chúng đã buộc tội ông “âm mưu lật đổ chính phủ Vương Quốc Anh”. Trước tiên, luật sư Loseby chỉ ra rằng Tống Văn Sơ (tên của Hồ Chủ Tịch khi đó) đã bị bắt vào ngày 6/6/1931, nhưng lệnh bắt lại được ký ngày 12 tháng 6 năm đó. Ông cũng lập luận rằng nếu Tống Văn Sơ bị bắt và bị dẫn độ về Đông Dương (khi đó còn là thuộc địa của Pháp), thì chắc chắn ông sẽ bị tử hình.

Thực dân Pháp chắc mẩm rằng nhà cầm quyền Hồng Kông sẽ giao Nguyễn Ái Quốc cho chúng. Ngày 24/8/1931, văn phòng Sở Liêm phóng Pháp tại Hà Nội đã gửi điện vào Sài Gòn thông báo rằng Nguyễn Ái Quốc sẽ rời Hồng Kông vào ngày 1 tháng 9 trên con tàu GeneralMetzinger. Hai cảnh sát được được giao nhiệm vụ áp tải Nguyễn về Việt Nam.

Sau 9 phiên tòa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 tháng 1931, Tống Văn Sơ không bị tuyên phạm bất kỳ tội danh nào. Tòa án Dân sự Tối cao đã ra phán quyết trả tự do cho ông. Tuy nhiên, ông không được phép lưu lại Hồng Kông. Nguyễn Ái Quốc đã tự yêu cầu cho phép ông tạm thời đến Anh.

Pháp tiếp tục gây áp lực buộc chính quyền Hồng Kông trục xuất nhà cách mạng Việt Nam. Trước đó, chúng đã loan báo khoản tiền thưởng tới 75.000 đồng Đông Dương cho bất kỳ ai có thể bắt giữ Nguyễn Ái Quốc và giao nộp ông cho chúng. Trong khi đó, Sở Liêm phóng Pháp đã yêu cầu mật vụ “Pinot” của chúng cung cấp thông tin về các đảng viên trong tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội bị bắt ở Canton (Trung Quốc). Chúng cho rằng những người Việt Nam này có thể đã có liên lạc với Nguyễn Ái Quốc. “Mật vụ Pinot” chính là Lâm Đức Thụ (tức Nguyễn Công Viên), một thành viên của Thanh niên Cách mạnh Đồng chí Hội, người đã phản bội Nguyễn Ái Quốc và khiến ông bị bắt vào ngày 6 tháng 6.

Luật sư Frank Loseby quyết định đấu tranh với vấn đề dẫn độ bằng cách đưa vụ này lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh ở London.

Ngày 12/9/1931, La Prade, Tổng Lãnh sự Pháp tại Hồng Kông, đã gửi điện cho Bộ Ngoại giao ở Paris. Thư viết: “Tòa án Tối cao, sau khi tuyên bố lệnh dẫn độ có hiệu lực vào sáng nay, đã cho phép Nguyễn Ái Quốc, theo như yêu cầu mà ông đưa ra hôm qua, được kháng án lên Hội đồng Cơ mật ở London. Theo những gì tôi hiểu thì quyết định này sẽ không được thực thi trước 1 năm và trong khoảng thời gian này, Nguyễn Ái Quốc sẽ vẫn bị giam giữ ở đây”.

Ngay sau đó, Frank Loseby đã có một tuyên bố công khai về Nguyễn Ái Quốc: “Tôi muốn cho tất cả các ngài biết rằng thân chủ của tôi là một người có trình độ học vấn cao. Vì nhiều lý do, tôi là người duy nhất ông ấy có thể tin tưởng. Do lý do nhân đạo, tôi thường đến thăm ông và giữa chúng tôi đã nảy sinh tình bạn thân thiết. Vì vậy, nếu Nguyễn Ái Quốc bị dẫn độ sang Pháp để bị xử tử, hoặc nếu mật vụ Pháp ám sát ông, thì đó sẽ là mất mát lớn với cá nhân tôi”.

Phu nhân của luật sư Frank Loseby, bà Rosa, rất đồng cảm với tình cảnh của Nguyễn Ái Quốc. Bà và con gái là Patricia thường đi thăm ông tại nhà tùVictoria mỗi chiều thứ Bảy. Đầu tháng 11 năm 1931, bệnh lao tái phát và Nguyễn Ái Quốc bị ốm nặng. Ông được nhập viện dành cho tù nhân. Bữa ăn trong tù chỉ có rau vào buổi sáng và cháo trắng ăn với cá mắm vào buổi chiều đã khiến ông càng thêm yếu. Frank Loseby đã bố trí để ông có thể dùng bữa mỗi ngày qua một nhà ăn của Tàu ở khu vực đó. Nguyễn Ái Quốc vẫn phải lưu lại bệnh viện này trong hơn một năm.

Rosa Loseby và con gái vẫn tiếp tục các chuyến thăm Nguyễn. Mỗi tuần, họ mang tới cho ông những đồ dùng thiết yếu và một bó hoa lớn. Nguyễn đặc biệt vui mừng mỗi khi đón nhận bó hoa. Vẻ đẹp và hương thơm thanh khiết của những bó hoa tươi đã làm ông cảm động. Hoa đã trở thành bầu bạn của ông, giúp ông quên đi cái lạnh lẽo và điều kiện sống khắc nghiệt trong xà lim biệt lập. Trong nỗi khát khao được thoát khỏi nơi giam cầm ngột ngạt, chính những bó hoa này đã giúp Nguyễn Ái Quốc hòa mình trong tưởng tượng với thiên nhiên thanh bình quanh mình, với những vườn cây trái, với những ngọn gió trong lành.

Một hôm, khi qua Chợ Trung tâm mua hoa, bà Rosa Loseby đã gặp phu nhân của Bộ trưởng Thuộc địa Anh Quốc tại Hồng Kông. Hai người phụ nữ đã nói chuyện và vị phu nhân đã quyết định đến bệnh viện với Rosa Loseby. Ngay cuộc gặp đầu tiên, bà đã đặc biệt ấn tượng với khả năng nói tiếng Anh trôi chảy của người tù nhân đặc biệt cũng như phong thái giao tiếp của ông. Bà rơi nước mắt khi nghe kể về những thử thách mà con người này phải trải qua. Khi bà trở về và kể lại với chồng về chuyến đi đến bệnh viện,  ngài Bộ trưởng Thuộc địa đã quyết định gặp người tù gây tò mò này. Cuộc gặp đã giúp thay đổi số phận của Nguyễn Ái Quốc.

Vào cuối năm 1931, Hoàng thân nhà Nguyễn là Cường Để khi đó đang sống lưu vong ở Nhật Bản đã gửi cho Nguyễn Ái Quốc một bức thư bày tỏ tấm thịnh tình và 300 yên để giúp ông chi trả tiền chữa bệnh.

Trong một năm ròng đợi quyết định của Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh, Nguyễn Ái Quốc đã phải đương đầu với nỗi tuyệt vọng và sự cô độc bằng cách tự đắm mình vào những trang viết. Ngoài những bài thơ, ông còn dành thời gian viết một quyển sách. Đó là những trang viết đậm triết lý về những thách thức lớn trong cuộc sống và nỗi khổ cực trong đời người, toàn bộ đều bằng tiếng Anh.

Dịch: Việt Hà
Theo Dân trí

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Trung Quốc có biệt thự mang tên Hồ Chí Minh

Biệt thự Hồ Chí Minh tại Khách sạn Lư Sơn, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Theo http://www.goxly.com

Đó là một biệt thự siêu sao: Biệt thự danh nhân, trong khách sạn Lư Sơn, tại số nhà 394, đường Trung Cửu, thành phố Lư Sơn, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc.

Đây là một trong những biệt thự cao cấp ở thành phố Lư Sơn, xây dựng từ năm 1915, rất xinh đẹp, rất đặc biệt, rất lãng mạn, thể hiện phong cách dáng điệu nhàn tản, nhẹ nhàng.

Biệt thự nhìn theo hướng tây, một tầng xây bằng đá, mặt tiền chính hình ê-ke, bên trái hơi cong, với những nét uyển chuyển mềm mại. Mặt tiền và hai bên trái phải đều có hành lang rộng, hình dạng hành lang không giống nhau, trở thành những đường nối liền giữa trong và ngoài hành lang, tạo hiệu ứng liên thông hoàn chỉnh. Công năng thực dụng đã chiến thắng quy phạm, nghiêm cẩn. Cột hành lang gồm trụ đá cạnh vuông với  hòn đấu đá, vì kèo đá mài nhẵn bóng. Đoạn trên cột đá có mấy đường hoa văn cao thấp nhấp nhô xen kẽ nhau. Lan can phía dưới có nhiều hình vẽ đẹp, trên trần là những hình chữ nhật và hình thoi xen kẽ, trông rất đơn giản thanh khiết mà sinh động. Tường biệt thự xây bằng những phiến đá xếp thành hình một tấm “gương soi”, nóc nhà  có mấy máng thoát nước hình chữ nhân, rất sinh động.

Biệt thự tọa lạc trên một doi đất cao bên bờ đông sông Trường Xung, dựa vào núi Hầu Tử Lĩnh, hình giống con khỉ. Nghỉ ngơi ở thung lũng sông Trường Xung này có thể nói là cởi mở tấm lòng, thư thái tâm hồn.

Ngày 26-7-1959, đồng chí Dương Thượng Côn, khi ấy là Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng chí Uông Đông Hưng, khi ấy là Phó chủ tịch tỉnh Giang Tây đã đến sân bay Thập Lý Phố, tại Cửu Giang đón đồng chí Hồ Chí Minh sang thăm, sau đó cùng lên xe hơi chạy thẳng lên núi Lư Sơn.

Xe con dừng bánh trước ngôi biệt thự, đồng chí Hồ Chí Minh từ từ xuống xe, bắt tay thân mật những người đón tiếp phục vụ, chào hỏi nói chuyện với họ bằng tiếng Trung Quốc rất lưu loát và hết lời ca ngợi ngôi biệt thự hiện ra trước mắt.

Hôm Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị rời Lư Sơn, đồng chí Lâu Thiệu Minh, Bí thư Đảng ủy Cục Quản lý Lư Sơn đến đưa tiễn, đồng thời mời Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lưu niệm cho Biệt thự Lư Sơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vui vẻ đồng ý. Người đứng trước bàn, rồi cầm bút lông đã được chuẩn bị sẵn lên, xoay xoay trong tay một lát, có lẽ cảm thấy bút lông hơi bé một chút. Thế là, Người dùng ngón tay trỏ nhúng vào mực viết lên tờ giấy Tuyên Chỉ ba chữ lớn “Lư Sơn hảo”. Sau khi rửa tay, Người lại dùng bút lông viết thêm đề từ  và ký tên: Tháng 8 năm 1959, Hồ Chí Minh.

Tình cảm và bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Lư Sơn những kỷ niệm mãi mãi không thể nào quên! Và địa danh đặc biệt thân thiện và gần gũi “Biệt thự Hồ Chí Minh” đã ra đời!

VŨ PHONG TẠO
giới thiệu và dịch
qdnd.vn

Chuyện đặt tượng Bác ở thành Len

Làm rể Việt Nam, GSTS Vladimir Kolotov là người làm rất nhiều việc có ích cho quê vợ. Anh là một trong những người chủ chốt trong việc lập Viện Hồ Chí Minh đầu tiên ngoài lãnh thổ Việt Nam và đặt tượng Bác Hồ ở Đại học Quốc gia Saint Petersburg, Liên bang Nga.

len 1Khai trương tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện Hồ Chí Minh ở St. Petersburg.

Tôi gặp Vladimir Kolotov lần đầu ở Trung ương Hội Hữu nghị Việt – Nga cuối năm 2009. Khi ấy nhà khoa học người Nga trẻ trung, phong độ ấy để lại cho tôi ấn tượng là một người dễ xúc động: Tôi thấy anh rơi nước mắt khi nghe nhắc đến việc Việt Nam vừa khánh thành tượng đài tưởng niệm quân nhân Nga/Xô Viết hi sinh khi làm nhiệm vụ ở căn cứ hải quân Cam Ranh.

Bẵng đi gần hai năm, hôm bật ti vi xem lại cầu truyền hình trực tiếp Hà Nội – Mátxcơva “Bài ca chiến thắng” đầu tháng 11 năm 2011, tôi thấy Vladimir cầm mic dẫn chương trình ở đầu cầu Mátxcơva bằng tiếng Việt. Hôm gặp lại cũng ở Hội Việt-Nga cuối tháng 11 năm 2011, tôi hỏi về việc làm chương trình, anh bảo: “Tôi không dám xem lại nữa. Tiếng Việt của tôi hôm đó khủng khiếp”.

Té ra hôm đó người đảm nhiệm bản dịch tiếng Nga cứ đọc gần như đồng thời với Vladimir, mà anh thì không được trang bị tai nghe cách âm, thành ra mọi thứ cứ loạn cả lên, không giữ được sự điềm tĩnh cần thiết.

Tuy nhiên, việc một ông Tây dẫn cầu truyền hình của Đài quốc gia Việt Nam bằng tiếng Việt là một món quà bất ngờ thú vị với khán giả Việt và khó có ai nỡ trách anh về sự thiếu hoàn hảo. Câu chuyện Vladimir kể như một bằng chứng. Một tiếng đồng hồ sau chương trình, anh bỗng nhận được điện thoại của một nhân vật lớn Đảng cầm quyền Nước Nga Thống nhất: “Này, cậu làm cái gì trên truyền hình mà một lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam gọi điện cho tôi cảm ơn thế?”

len 2Vladimir Kolotov

Vladimir Kolotov là giáo sư, tiến sĩ, Chủ nhiệm bộ môn lịch sử các nước Viễn Đông tại khoa Phương Đông, Đại học Tổng hợp Quốc gia Saint Petersburg (Leningrad trước đây), Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh của Đại học này, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt tại cố đô Nga, thành viên Ủy ban  Quốc gia Nga của Hội đồng Hợp tác an ninh Châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP).

Tiếng Việt của Vladimir có thể dùng thoải mái ở mọi hoàn cảnh, kể cả các hội thảo khoa học, hội nghị chính thức. Hỏi về bí quyết học, anh cười: “Có người trong khách sạn nhìn cách chọn món và cách ăn của tôi đã đoán: Chắc anh có từ điển tiếng Việt tóc dài?” Đúng rắp! Vợ anh là cô gái Việt anh đã gặp ở Thành phố Hồ Chí Minh trong một chuyến công tác.

Hỏi vì sao chọn chuyên ngành liên quan Việt Nam và Phương Đông, Vladimir chỉ lên trời nói: “Trên đó còn chưa tiết lộ cho tôi lý do. Một tập hợp các hoàn cảnh ngẫu nhiên đã khiến tôi chọn lĩnh vực này, tôi cũng không thật hiểu vì sao. Có lẽ do định mệnh”. Có thể là định mệnh, nhưng một điều chắc chắn là tình cảm của anh với quê vợ tựa trên một cái nền vững chắc tri thức của một nhà Việt Nam học.

Xem danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của anh, thấy đụng chạm nhiều đến các vấn đề chính trị, xung đột và đặc điểm tôn giáo Việt Nam. Đặc biệt, anh phân tích rất kỹ việc các thế lực từ bên ngoài sử dụng các yếu tố tôn giáo trong mô hình “quản lý xung đột” để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam trong quá khứ và hiện tại.

Cuối thế kỷ 16 – đầu thế kỷ 17, các thế lực thực dân Phương Tây đã lợi dụng các giáo sĩ để thâm nhập vào Việt Nam. Trong thuyết quản lý xung đột có 3 giai đoạn: Một là cải đạo dân bản địa và xây dựng cộng đồng tôn giáo tại chỗ; hai là, gây mâu thuẫn giữa giáo dân và bên lương; ba là thực hiện sách lược gây mất ổn định cục bộ có tính quản lý và tiến tới xâm lược đối tượng.

Lịch sử cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã diễn ra theo kịch bản như vậy. Vladimir chỉ rõ: Chiến thuật đó, cơ chế đó, “mô hình quản lý xung đột” đó cũng đang được các thế lực thù địch với Việt Nam áp dụng ngày hôm nay với việc truyền đạo trái phép ở các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc…

Vladimir cũng nghiên cứu sâu về các chuyển động chính trị của vùng Đông Nam Á. Phân tích chiến lược của các cường quốc đối với khu vực cực kỳ quan trọng đối với thế giới hiện đại này, anh đánh giá cao vai trò, vị trí của Việt Nam. Trong bài “Yếu tố Việt Nam trong hệ thống an ninh khu vực” mà anh viết riêng cho Đài BBC tháng 12 năm 2008, anh nhận định các cường quốc “đều hiểu là họ không thực hiện được chính sách của mình nếu họ coi thường yếu tố Việt Nam. Điều đó khiến chúng ta phải coi yếu tố Việt Nam là hết sức quan trọng trong hệ thống an ninh khu vực đang trong giai đoạn biến đổi”.

Trong các phát biểu khác trên Thanh niên và BBC, anh nhận xét ý đồ chiến lược của Trung Quốc là “rất rõ ràng đó là kiểm soát tài nguyên ở Biển Đông và kiểm soát tuyến đường giao thông hàng hải quan trọng bậc nhất của thế giới này”, là “độc chiếm Biển Đông”. Anh khẳng định: “Theo luật pháp quốc tế, Trung Quốc hoàn toàn không có quyền kiểm soát đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…”.

Vladimir là một trong những người chủ chốt tham gia thành lập Viện Hồ Chí Minh ở Khoa Phương Đông thuộc Đại học Quốc gia Saint Petersburg, đặt tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện, tổ chức nhiều hoạt động phong phú của Hội hữu nghị Nga – Việt thành Petersburg mà anh là Chủ tịch…

Viện Hồ Chí Minh được khai trương ngày 19-5-2010, đúng vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Bác. Ngoài các vấn đề liên quan đến Việt Nam, Viện Hồ Chí Minh nghiên cứu các vấn đề quốc tế rộng. Chẳng hạn vừa qua, Viện tổ chức 3 semina khoa học về hiện tượng “Mùa xuân Arập”, phân tích rõ các thủ đoạn, thủ thuật kích động, gây xung đột để can thiệp của một số thế lực. Như việc một clip “biểu tình giải phóng” (cảnh bạo loạn) ở thủ đô Tripoli của Lybia lại được dàn dựng và quay ở Qatar, tại địa điểm có bối cảnh na ná Tripoli…

len 3V. Kolotov thuyết trình về việc dùng mô hình
“Quản lý xung đột” để can thiệp vào Việt Nam .

Vladimir kể rằng ý tưởng thành lập Viện Hồ Chí Minh và đặt tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện trở thành hiện thực là nhờ công lao và sự phối hợp ăn ý của rất nhiều người, trong đó vai trò cực kỳ quan trọng thuộc về GS.TS E.I. Zelenev – Trưởng khoa Phương Đông, GS.TS N.M.Kropachev – Hiệu trưởng trường ĐHQG St. Petersburg, hai Hiệu phó; hai vị Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga là các ông Bùi Đình Dĩnh và Phạm Xuân Sơn.

Khoa Phương Đông báo cáo ý tưởng thành lập Viện lên Hiệu trưởng và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình. Đại sứ Bùi Đình Dĩnh là người thảo văn bản đầu tiên báo việc này với nguyên thủ Việt Nam lúc đó là Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Tháng 4 năm 2010, Đoàn đại biểu ĐHQG St. Petersburg đã sang làm việc với Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh về vấn đề này.

Sau khi được sự chuẩn y của Chủ tịch nước Việt Nam, một đoàn đại biểu lãnh đạo Việt Nam do ông Tô Huy Rứa dẫn đầu đã sang ký hiệp định hợp tác và khai trương Viện Hồ Chí Minh đầu tiên ở nước ngoài tại St. Petersburg vào ngày 19-5-2010. Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga đã tặng Viện bức tượng Bác Hồ bằng đồng.

Trường và Viện quyết định đặt tượng Bác trong khuôn viên Viện. Cán bộ của sứ quán Việt Nam ở Nga đã chọn ngày giờ rất cẩn thận, lại đặt la bàn tỉ mỉ để tượng Bác quay hướng nhìn đúng về Tổ quốc Việt Nam. Khuôn viên ngoài tượng Bác còn có tượng Khổng Tử và được hưởng quy chế của bảo tàng ngoài trời.

Lê Xuân Sơn
Theo tienphong.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Chuyến viếng thăm Lăng Bác của vị khách đặc biệt từ Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

Sáng 25/11/2012, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đón một vị khách đặc biệt tới viếng Bác. Đó là Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt, Chủ tịch Liên minh Phật giáo Lào. Năm nay, Hòa thượng đã trên trăm tuổi. Theo lời mời của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng sang dự Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII. Nhân dịp này, Hòa thượng bày tỏ tâm nguyện được vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng đi với Hòa thượng có Đoàn đại biểu của Liên minh Phật giáo Lào. Thay mặt đơn vị, Đại tá Nguyễn Văn Thanh, Phó Chánh Văn phòng đã tiếp Đoàn.

hoa thuong lao a3Đại tá Nguyễn Văn Thanh đón tiếp Đoàn

hao thuong Lao a2Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt, Chủ tịch Liên minh Phật giáo Lào vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ CHí Minh

Do tuổi cao, phải ngồi xe lăn, song với gương mặt phúc hậu, ánh mắt nhìn ấm áp và nụ cười hiền từ, Hòa thượng mang đến cho tất cả chúng tôi cảm giác gần gũi, thân thiết khi được tiếp xúc trò chuyện. Giọng nói trầm ấm, Hòa thượng kể đã nhiều lần được gặp Bác Hồ trong thời gian Bác hoạt động cách mạng tại Lào và Thái Lan. Tận đáy lòng, Hòa thượng luôn giữ mãi kỷ niệm sâu sắc về lần đầu tiên được gặp Bác tại tỉnh Udon, Thái Lan cùng với các đồng chí lãnh đạo Lào và được nghe Bác tuyên truyền vận động về đường lối đấu tranh giành độc lập cho ba nước Đông Dương. Hòa thượng khắc sâu lời Bác dạy: Lào, Việt Nam, Campuchia phải luôn sát cánh bên nhau trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, giữ trọn lãnh thổ. Ghi nhớ lời Bác, Hòa thượng đã rất tích cực tham gia vào phong trào cách mạng tại Lào và có nhiều đóng góp to lớn xây dựng Liên minh Phật giáo Lào.

Ánh mắt nhìn xa xăm đầy hoài niệm, dáng điệu trầm tư trong hồi tưởng, Hòa thượng chậm rãi nói, sang Việt Nam lần này, Hòa thượng mong được vào viếng Bác như người con lâu ngày mong được về thăm cha.

Đồng chí Nguyễn Văn Thanh đã bày tỏ sự xúc động và vinh dự được đón tiếp Hòa thượng tại Ban Quản lý Lăng. Đồng chí đã giới thiệu với Hòa thượng về nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và hơn 40 năm qua thi hài Bác vẫn luôn được giữ gìn ở trạng thái tốt nhất để nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế được đến với Người. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đang tỏa sáng và được đời đời con cháu học tập và làm theo, trong đó có sự kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị thủy chung lâu đời giữa hai nước Việt Nam, Lào, như Bác Hồ đã từng nói:

Việt – Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.

Đồng chí Nguyễn Văn Thanh đã tặng Hòa thượng và các thành viên trong Đoàn huy hiệu Bác Hồ và tấm ảnh Bác, chúc Hòa thượng sức khỏe và tuổi thọ, tiếp tục có những đóng góp quý báu cho tình hữu nghị Việt – Lào. Nâng niu tấm hình Bác trên tay, Hòa thượng nghẹn ngào nói: Không chỉ riêng tôi mà Đảng và nhân dân Lào đều tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người là vị cha chung của dân tộc Việt Nam và Lào.

hoa thuong lao a1Đại lão Hòa thượng viết cảm tưởng về chuyến viếng thăm Lăng Bác

Kết thúc buổi gặp mặt, Hòa thượng đã rất xúc động tự tay viết lên những dòng cảm tưởng trong chuyến viếng thăm Lăng Bác lần này. “Thay mặt Đoàn Liên minh Phật giáo Lào tới đất nước Việt Nam dự Đại hội Đại biểu Phật giáo và được đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất xúc động. Trong đời, tôi đã từng được gặp Bác Hồ và nay lại được đến viếng thăm Người, tôi luôn cầu nguyện cho Người được yên nghỉ trong an lạc”.

Chuyến viếng thăm đặc biệt của Đại lão Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt càng khẳng định tầm vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất, không chỉ đối với nhân dân Việt Nam, mà còn đối với nhân dân toàn thế giới./.

Bùi Thu Nga
bqllang.gov.vn

Thủ tướng nước Cộng hòa Ukraina đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nước Cộng hòa Ukraine Nikolai Yanovich Azarov sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 15-16/11/2012.

Viengtuongdai-LamKhanhThủ tướng Nikolai Yanovich Azarov cùng Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Ukraina đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ 

Nhân dịp này, sáng 16/11/2012, Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Ukraina do Thủ tướng Nikolai Yanovich Azarov dẫn đầu đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam và đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Chính phủ Ukraina N.Y.Azarov kính viếng”.

Vienglang-TrongDucThủ tướng Nikolai Yanovich Azarov cùng Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Ukraina vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Việt Nam và Ukraine chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23/1/1992. Việt Nam và Ukraine có quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt. Hai bên phối hợp chặt chẽ và thường xuyên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn và tổ chức quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc. Chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Ukraine Nikolai Azarov diễn ra trong bối cảnh quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt Nam – Ukraine tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, hai bên sẽ thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước, cùng trao đổi các biện pháp nhằm tăng cường và phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư cũng như trao đổi những vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hội đồng Liên bang (Thượng viện) Quốc hội Liên bang Nga đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

CT hội đồngBà Valentina Ivanovna Matviyenko và Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đoàn đại biểu cấp cao Hội đồng Liên bang (Thượng viện) Quốc hội Liên bang Nga do Bà Valentina Ivanovna Matviyenko, Chủ tịch Hội đồng Liên bang dẫn đầu sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 13 đến ngày 14/11/2012. Chuyến thăm được tiến hành theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Đây là dịp Quốc hội hai nước Việt Nam và Liên bang Nga sẽ tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác, như trao đổi Đoàn ở các kênh, các cấp khác nhau, tiếp tục hợp tác trên trường quốc tế, phối hợp với nhau trong việc bảo đảm hiệu lực và tính thực thi cao của các điều ước quốc tế mà hai bên cùng tham gia. Việt Nam và Liên bang Nga đã thành lập các nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga, coi đây là cầu nối quan hệ giữa Quốc hội hai nước.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 14/11/2012, Bà Valentina Ivanovna Matviyenko và Đoàn đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đoàn đại biểu Hội đồng Liên bang Quốc hội Liên bang Nga Kính viếng”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Tổng thống nước Cộng hòa Hồi giáo Iran đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ngài Mahmoud Ahmadinejad, Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 9/11 đến 10/11/2012. Đây là chuyến thăm cấp cao nhất của lãnh đạo Iran tới Việt Nam kể từ năm 1995 nhằm tăng cường quan hệ hợp tác với Việt Nam, hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngoài ra, chuyến thăm của Tổng thống Ahmadinejad cũng nhằm thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, nông nghiệp, thủy sản, văn hóa, thể thao và du lịch.

IranTổng thống Iran và các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việt Nam và Iran có quan hệ tốt đẹp. Hai bên đã thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 4/8/1973. Iran mở Đại sứ quán tại Hà Nội vào ngày 22/1/1991. Việt Nam mở Đại sứ quán tại Tehran tháng 12/1997. Tháng 9/2009, hai nước thành lập Hội hữu nghị Việt Nam – Iran. Hai bên cũng đã có các cuộc tiếp xúc và trao đổi nhiều đoàn cấp cao sang thăm lẫn nhau. Tháng 1/2012, hai nước đã tiến hành kỳ họp lần thứ VII Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam-Iran.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 10/11/2012, Ngài Tổng thống và các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam, đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Mahmoud Ahmadinejad, Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran kính viếng”./.

Lan Hương
cpv.org.vn

Thủ tướng Vương quốc Đan Mạch đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Vương quốc Đan Mạch, Bà Helle Thorning Schmidt sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 7 đến ngày 8 tháng 11 năm 2012.

Đan Mạch và Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1971. Ở Bắc Âu nhưng Đan Mạch là nơi có phong trào nhân dân ủng hộ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Quan hệ hai nước thời gian qua ngày càng phát triển tốt đẹp. Hai bên thường xuyên trao đổi Đoàn cấp cao. Bà Helle Thorning Schmidt là Thủ tướng Đan Mạch đầu tiên tới thăm Việt Nam, khẳng định mối quan hệ song phương giữa Đan Mạch và Việt Nam ngày càng được củng cố vững chắc.

thu tuong dan machThủ tướng Helle Thorning Schmidt
cùng các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong chuyến thăm Việt Nam lần này của Thủ tướng Helle Thorning Schmidt, hai bên sẽ trao đổi các biện pháp tăng cường hợp tác song phương trong các lĩnh vực chính trị – ngoại giao, kinh tế – thương mại – đầu tư, giáo dục đào tạo và văn hóa; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Đan Mạch tìm hiểu thị trường Việt Nam; thúc đẩy các dự án hợp tác đầu tư, kinh doanh với Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực mà Đan Mạch có thế mạnh như: Cảng biển, vận tải biển, công nghệ xanh, năng lượng tái tạo, công nghiệp ximăng…

Với tình cảm hữu nghị và thân thiết, sáng 8/11/2012, Thủ tướng Helle Thorning Schmidt cùng các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Thủ tướng Liên bang Nga đặt vong hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Liên bang NgaDmitry Antolyevich Medvedev thăm chính thức Việt Nam ngày 7/11/2012. Tháng 10/2010, ông Medvedev từng có chuyến thăm chính thức Việt Nam trong vai trò Tổng thống Liên bang Nga. Cũng trong chuyến đi này, Ngài Thủ tướng cũng tham dự Hội nghị thượng đỉnh Nga – ASEAN tại Hà Nội.

Thu tuong nga.liet syThủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam

Chuyến thăm chính thức lần này của Thủ tướng Dmitry Antolyevich Medvedev diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước có những bước phát triển mới. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới thăm chính thức Nga hồi tháng 7 và hội đàm với Tổng thống Nga Vladmir Putin cũng như Thủ tướng D. Medvedev. Trong chuyến thăm của Chủ tịch nước, hai bên nhất trí nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện. Đây là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện tính phát triển liên tục của mối quan hệ song phương, khẳng định quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân hai nước trong việc phát huy hiệu quả mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên bang Nga. Trong chuyến thăm của Thủ tướng Medvedev, Việt Nam – Nga sẽ cùng thảo luận các biện pháp nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực và trao đổi những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

Thu tuong nga.langThủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp này, sáng 7/11/2012, Thủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Bắc Sơn, Hà Nội. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Liên bang Nga D.A.Medvedev Kính viếng” và đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người bạn và là người đồng chí thân thiết của nhân dân Liên xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Liên bang Nga D.A.Medvedev Kính viếng.”

Lan Hương
bqllang.gov.vn