Thư viện

Đoàn cán bộ Ủy ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào vào Lăng viếng Bác

Trong chuyến thăm và làm việc với Uỷ ban Kiểm tra Quân uỷ Trung ương, sáng ngày 13/6/2013, Đoàn cán bộ Uỷ ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào do đồng chí Thiếu tướng Sụ-băn Hun-nạ-chăm-pa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Lào, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào làm Trưởng đoàn đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham quan Khu Di tích Phủ Chủ tịch.

Lao
Đại tá Phạm Văn Lập, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
giới thiệu với Đoàn về nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trước khi vào Lăng viếng Bác, Đoàn đã được đồng chí Đại tá Phạm Văn Lập, Bí thư Đảng uỷ Đoàn 969, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đón và giới thiệu về nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thành viên trong Đoàn đều vui mừng, phấn khởi khi được biết trong suốt gần 44 năm qua, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phát huy truyền thống: “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo” hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, thi hài Bác luôn được giữ gìn ở trạng thái tốt nhất; nhiệm vụ đón tiếp tuyên truyền được quan tâm thực hiện với tinh thần tận tình, chu đáo. Mỗi ngày có hàng vạn lượt đồng bào trong nước và khách nước ngoài đến viếng Bác và tham quan khu vực Lăng.

Lao 1Đoàn cán bộ Uỷ ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào chụp ảnh lưu niệm bên Lăng Bác

Trân trọng tình cảm của các bạn Lào đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tá Phạm Văn Lập đã trao tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đồng chí cùng đi, đây là phần thưởng cao quý mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng cho các cá nhân có nhiều thành tích.

Cảm động trước sự đón tiếp tận tình, chu đáo của đơn vị, đồng chí Thiếu tướng Sụ-băn Hun-nạ-chăm-pa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Lào, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào xúc động cho biết, lần sang thăm Việt Nam lần này vô cùng ý nghĩa, được hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đã đặt nền móng cho tinh thần đoàn kết hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

Lã Hồng Hảo

Theo bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Nga

Cách đây 90 năm, ngày 30/6/1923, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đặt chân đến nước Nga, trực tiếp nghiên cứu lý luận và thực tiễn chủ nghĩa xã hội hiện thực theo hình mẫu nước Nga Xô-viết và “Chính Người đã đặt nền tảng cho mối quan hệ lịch sử đặc biệt giữa hai dân tộc Việt – Nga” – Đó là khẳng định của các đại biểu tại buổi Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Nga” được tổ chức ngày 04/6/2013 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

hoi-thao-kh-b
Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Nga”

Theo Tiến sĩ Evgeny Kobelev, Trưởng ban Việt Nam, Viện Các vấn đề Viễn Đông – Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội Hữu nghị Nga – Việt kể lại: Năm 1975, tôi bắt đầu viết sách về Hồ Chí Minh, khi đó tôi làm ở Vụ Quốc tế của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô nên được phép tiếp cận các tài liệu về Việt Nam trong số tài liệu lưu trữ của Quốc tế cộng sản. Và một trong những tài liệu đầu tiên tôi nhìn thấy là “Giấy chứng nhận đi đường” do Đại diện của nước Nga Xô-viết ở Đức cấp cho “Nhà nhiếp ảnh Trần Vang, sinh ra ở Đông Dương”. Nhà nhiếp ảnh Trần Vang đi trên tàu thủy “Hamburg” của Đức vào Petrograd (tức S.Peterburg hiện nay) ngày 30-06-1923. Tấm ảnh của Hồ Chí Minh thời trẻ dán trên tấm giấy chứng nhận và dấu của đồn biên phòng cảng Petrograd ghi rõ ngày nhập cảnh của vị hành khách nước ngoài này là minh chứng cho điều đó.

Nguyễn Ái Quốc bỏ qua các học thuyết và hình mẫu cách mạng khác để đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, với bài học Cách mạng Tháng Mười và nước Nga vô sản, bởi Người đã đặt trọn niềm tin ngay từ khi đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó, lập trường của Người đứng hẳn về chủ nghĩa Mác-Lênin: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, kách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin”. Và Người còn khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(1).

Trong những năm 1923-1924, Nguyễn Ái Quốc theo học tại Đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va; từ tháng 4/1924 làm việc tại Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản; tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản thanh niên lần thứ IV (tháng 6/1924) và Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (tháng 7/1924). Trên đất nước Cách mạng tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực hoạt động tuyên truyền chính trị dưới nhiều hình thức, tham gia nói chuyện tại các cuộc mít tinh, biểu tình, tham dự các đại hội, hội nghị quan trọng của Quốc tế Cộng sản. Nguyễn Ái Quốc cũng đã dành nhiều thời gian tìm hiểu về chính quyền cách mạng Xô-viết, về đời sống giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Người đã tìm thấy ở nước Nga những kinh nghiệm quý báu để giành độc lập tự do cho dân tộc và trở thành người bạn thân thiết của nhân dân Nga.

Nhà thơ nổi tiếng Nga Osip Mandelstam sau khi gặp Nguyễn Ái Quốc từ năm 1923 đã viết: “Trọn vẹn hình ảnh Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp, sự tinh tế bẩm sinh… toát lên hơi thở văn hóa, không phải hơi thở văn hóa Châu Âu, có lẽ là hơi thở văn hóa tương lai”(2). Năm 1926, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong Liên Xô đề nghị đưa tám thiếu niên Việt Nam sang đây học tập để trở thành những chiến sĩ cộng sản Lênin-nit.

Trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ 2, Nguyễn Ái Quốc luôn đặt niềm tin vào thắng lợi của phe Đồng minh chống phát xít. Tháng 5/1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám tại Pắc Bó, Cao Bằng dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và quyền Tổng Bí thư Trường Chinh đã nhận định: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó cách mạng nhiều nước thành công…” .

Đến ngày 13/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh, thời cơ cách mạng đã chín muồi, Nguyễn Ái Quốc đã nêu quyết tâm: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập!”, phát động Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công.

Trong Lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.

hoi-thao-kh-a
Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội thảo

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945- 1954, sau tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc lập quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, Liên Xô là một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 30/01/1950. Sau Liên Xô, hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Sự kiện vô cùng quan trọng này đã tạo điều kiện để nước Việt Nam nhận được sự giúp đỡ to lớn về tinh thần và vật chất từ bầu bạn quốc tế, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào Liên Xô, “Thành trì của phe xã hội chủ nghĩa”. Tháng 10/1957, trong bài “Liên Xô vĩ đại”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”(3).

Sau khi Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ có người lái, Người coi đó là thành tựu vĩ đại của phe xã hội chủ nghĩa. Năm 1961, Anh hùng vũ trụ Liên Xô Ghecman Titov được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời sang Việt Nam. Người trực tiếp đưa nhà du hành vũ trụ Ghecman Titov lên thăm Khu căn cứ K9, tại Đá Chông, Ba Vì, Sơn Tây (nay là Ba Vì, Hà Nội) và sau đó đi tham quan vịnh Hạ Long.

Thể hiện tình cảm của nhân dân ta, Người nói: “Bác nghĩ đồng chí Ghecman Titov không thể ở Việt Nam với chúng ta mãi được. Chúng ta sẽ giữ đồng chí ấy theo cách khác. Chúng ta tặng đồng chí hòn đảo này… Từ nay hòn đảo này mang tên Titov”. Từ đó trên vịnh Hạ Long của Việt Nam có một hòn đảo mang tên Titov. Tình cảm chân thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Nhà nước và nhân dân Liên Xô trong sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ghi nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình vun đắp tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô, Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã có ý định trao tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh Huân chương Lênin – Huân chương cao quý nhất của Liên Xô, nhưng Người đã khéo léo từ chối. Sau này, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (2/9/1969), Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã giúp Việt Nam giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Công trình Lăng của Người.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: Ngay từ năm 1967, Liên Xô đã giúp đỡ đào tạo chuyên ngành giữ gìn thi hài cho 3 bác sỹ của Việt Nam. Trong những ngày Bác lâm bệnh nặng, Bạn đã cử 5 chuyên gia y tế sang để chuẩn bị giữ gìn thi hài khi Người đi xa. Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương nhấn mạnh: “Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhiều thế hệ chuyên gia y tế, kỹ thuật của Liên Xô và Liên bang Nga đã dành nhiều tình cảm tốt đẹp, dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, truyền thụ kinh nghiệm, cũng như trực tiếp tham gia nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Công trình Lăng của Người”.

Ngày nay, quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga ngày càng phát triển, trở thành đối tác chiến lược toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, đối ngoại, văn hóa khoa học, góp phần thúc đẩy sự phát triển của mỗi nước. Song chúng ta mãi biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đặt nền móng và vun đắp cho tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay.

Đúng như ngài Andrei Grigorievich Kovtun, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam đã phát biểu: Ở Việt Nam có câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”; “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Nga cũng có câu thành ngữ có ‎ nghĩa gần giống như thế:“Gieo gì gặt nấy”. Khi được hưởng thành quả hợp tác nhiều mặt Nga – Việt Nam, chúng ta tự hào nhớ lại rằng: Người đứng ở ngọn nguồn hợp tác, người cách đây nhiều năm trồng cây hữu nghị Việt – Nga chính là Hồ Chí Minh. Tôi tin tưởng rằng, ngày nay, chúng ta trân trọng giữ gìn di sản quí‎ báu đó, phát huy những truyền thống tốt đẹp đã được tích lũy bao năm qua, để thừa kế lại cho con cháu chúng ta một cây hữu nghị lớn mạnh, sâu rễ bền gốc, xứng đáng với tên tuổi lẫy lừng Hồ Chí Minh./.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9,  tr. 314; (2) Sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh”, Hà Nội, 2010, tr.16; (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.8,  tr. 556-557.

Hữu Mạnh, Ngọc Hà

Đóng góp của các chuyên gia y tế Nga đối với Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đã 44 năm trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại qua đời, thi hài của Người luôn được giữ gìn, bảo vệ an toàn tuyệt đối. Thành công đó là nhờ sự quan tâm đặc biệt, sự lãnh đạo chỉ đạo sâu sát, thường xuyên, liên tục của Đảng, Nhà nước và Quân đội; sự phấn đấu, nỗ lực không ngừng của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng. Và hơn thế là nhờ sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, vô tư trong sáng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô (nay là Cộng hòa Liên bang Nga), trực tiếp là các chuyên gia y tế Nga.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đặt nền móng và không ngừng xây đắp mối quan hệ hữu nghị Việt – Xô, một mối tình “anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản quốc tế”. Bác luôn coi Liên Xô là người bạn lớn và người bạn chiến đấu gần gũi nhất của nước Việt Nam, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do. Cho đến cuối đời, Người vẫn trước sau như một nhấn mạnh: Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên rằng những thắng lợi của mình không thể tách rời sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô.

Đảng, Nhà nước, nhân dân Liên Xô cũng luôn dành cho Hồ Chủ tịch những tình cảm trân trọng nhất. Trong thư chia buồn sau ngày Bác mất, Đảng Cộng sản Liên Xô khẳng định: “Những người cộng sản Liên Xô, cũng như toàn thể nhân dân Liên Xô đánh giá cao sự cống hiến không biết mệt mỏi của đồng chí Chủ tịch Hồ Chí Minh cho sự phát triển tình hữu nghị anh em giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Liên Xô, giữa nhân dân Liên Xô và nhân dân Việt Nam. Nhân dân Liên Xô sẽ đời đời gìn giữ kỷ niệm trong sáng về Người, như là một nhà Mácxít Lêninnít kiên định, một người bạn thủy chung của Đảng và đất nước Liên Xô”(1). Những tình cảm quý báu ấy là nền tảng cơ bản để Bạn nhiệt tình giúp đỡ ta thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác.

Cuối tháng 5 năm 1967, sau Lễ mừng thọ nhân Ngày sinh lần thứ 77 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã có phiên họp bất thường bàn về việc bảo vệ sức khỏe của Bác. Tại phiên họp này, Bộ Chính trị quyết định sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần sẽ giữ gìn thi hài và xây dựng Lăng của Người để bày tỏ lòng kính yêu vô hạn với Người và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta mãi mãi đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn.

Nội dung và yêu cầu chung của khoa học giữ gìn lâu dài thi hài là:

– Phải giữ được những nét đặc trưng của thi hài Bác như khi Người còn sống.

– Phải giữ thi hài được lâu dài.

– Phải bảo đảm được yêu cầu có thể để đông đảo người tới viếng thăm trong điều kiện môi trường bình thường.

Cho đến thời điểm này, khoa học giữ gìn thi hài với nội dung và yêu cầu như trên thì trên thế giới chỉ mới có Liên Xô làm được. Vì vậy, Đảng và Chính phủ ta đã đề nghị Liên Xô giúp đỡ từ công tác đào tạo cán bộ đến việc giữ gìn thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Với lòng kính trọng sâu sắc, đánh giá cao vị trí, vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, Đảng và Chính phủ Liên Xô hoàn toàn nhất trí giúp đỡ không điều kiện việc giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người. Liên Xô đồng ý nhận đào tạo và cử các chuyên gia y tế hàng đầu, giỏi nhất trực tiếp hướng dẫn, giảng dạy cho ba bác sĩ của Việt Nam sang học tập, nghiên cứu về khoa học giữ gìn thi hài.

Cuối tháng 8/1969, khi sức khỏe của Bác có dấu hiệu giảm sút nhanh chóng, một mặt chúng ta tích cực tìm mọi biện pháp để chữa bệnh cho Bác, mặt khác cũng khẩn trương làm công tác chuẩn bị đề phòng khi có việc lớn xảy ra. Nhận được điện thông báo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã cử ngay Đoàn chuyên gia y tế sang Việt Nam.

Và cái ngày không ai mong đợi ấy đã đến. Lịch sử mãi mãi ghi nhớ sáng ngày 2/9/1969, ngày mà Chủ tịch Hồ Chí Minh – người con anh hùng và vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ giã Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta và bầu bạn ta trên khắp thế giới. Thi hài Bác được nhanh chóng đưa về 75A an toàn. Sau gần 3 giờ liên tục, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã hoàn thành công việc giữ gìn bước đầu thi hài Bác phục vụ tang lễ.

Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, đế quốc Mỹ leo thang ném bom tàn phá miền Bắc và thiên tai lũ lụt, thi hài Bác phải 6 lần di chuyển vượt đường xa, vượt sông suối, ở rừng núi, gặp muôn vàn khó khăn, nhưng bên Bác luôn có những chuyên gia y tế Liên Xô tâm huyết, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi cùng cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ của ta chăm sóc giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Người.

Kết quả sau 20 năm (1969-1989) giữ gìn thi hài Bác được Hội đồng Khoa học y tế giữa Việt Nam và Liên Xô kiểm tra vào tháng 9/1989 kết luận: “Trạng thái thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tốt. Không thấy thay đổi nào so với những số liệu của biên bản Hội đồng kiểm tra năm 1975. Những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời được giữ gìn nguyên vẹn. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thường xuyên tiến hành kiểm tra chế độ nhiệt, ẩm, bảo đảm giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như thường xuyên kiểm tra trạng thái vệ sinh y tế quan tài kính và các phòng làm thuốc. Các số liệu mà Hội đồng nhận được chứng tỏ chế độ nhiệt, ẩm và trạng thái vệ sinh y tế phù hợp với yêu cầu quy định”(2).

Tháng 8/1991, Liên Xô tan rã, trong một thời gian ngắn có sự gián đoạn tưởng chừng như mất hẳn sự giúp đỡ từ phía Bạn. Ngày 28/12/1992, bản thỏa thuận làm việc trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va được ký kết, quan hệ hợp tác giữa ta và Bạn đã có bước ngoặt quan trọng, bắt đầu bước sang một thời kỳ mới.

Trong vòng 30 năm (từ 1969-2009), tổng số chuyên gia y tế Liên Xô đã sang giúp Việt Nam có 82 người, trong đó có 13 Viện sĩ, 7 Giáo sư, 11 tiến sĩ khoa học, 20 tiến sĩ, số còn lại là bác sĩ chuyên ngành.(3) Người sang nhiều nhất là 24 lần.

Trong thời gian ở Việt Nam, dù hoàn cảnh, điều kiện công tác có nhiều khó khăn, song các chuyên gia y tế Liên Xô đã làm việc bằng tất cả tấm lòng kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần trách nhiệm cao nhất, luôn coi đây là nhiệm vụ quốc tế cao cả và thiêng liêng. Làm việc bằng sự vô tư, chí tình, chí nghĩa, không một chút đòi hỏi, sống giản dị, có phần đạm bạc. Một trong những minh chứng cho sự giúp đỡ vô tư, trong sáng của Liên Xô là không tính toán thiệt hơn trong vấn đề phụ cấp. Ngay từ những ngày đầu sang Việt Nam, ngoài việc chúng ta bố trí ăn và nhà nghỉ, thì mỗi tháng được hưởng phụ cấp 100 đồng (một trăm đồng), tương đương với lương của đồng chí Đại úy không có thâm niên. Và điểm đặc biệt là mức phụ cấp ấy do Liên Xô tự đề xuất, chứ không phải do thỏa thuận của hai bên. Kể cả đến năm 1994, khi chuyển sang cơ chế hợp tác trực tiếp, lúc đó phía Liên Xô rất khó khăn nhưng với tinh thần trọng tình nghĩa, các chuyên gia y tế đã đề nghị mức lương rất hữu nghị. Tấm lòng của các nhà khoa học Nga đối với Bác Hồ, với đất nước và con người Việt Nam khiến cho chúng ta rất cảm phục và biết ơn.

Khó khăn bộn bề khi sống và làm việc ở đất khách quê người đã không làm giảm được sự nhiệt huyết, tận tâm của các chuyên gia y tế. Các chuyên gia không những không phàn nàn gì mà trong ký ức của họ luôn lưu giữ những hình ảnh đẹp về đất nước và con người Việt Nam. Đồng chí I. A Khô-rô-sốp, một trong những người đã tham gia vào nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những đầu tiên nhớ lại: “Chúng tôi luôn biết ơn các đồng chí Việt Nam đã quan tâm đến đời sống hàng ngày của chúng tôi trong suốt thời gian làm việc bên nhau. Các bạn Việt Nam rất hiểu là chúng tôi sống xa quê hương, gia đình, người thân khá lâu, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt đối với chúng tôi và trong điều kiện thời chiến, nên các bạn đã hết sức cố gắng, để cuộc sống hàng ngày của chúng tôi có được tiện nghi hơn. … Tất nhiên những người đã tạo điều kiện cho chúng tôi làm việc và chăm lo cuộc sống thường ngày còn rất nhiều, tôi không thể nào kể hết. Đó là những đồng chí lái xe, nấu ăn và nhiều người nữa mà mỗi lần nhắc tới đều với tình cảm ấm nồng… Chúng tôi đã có được mối quan hệ công tác gắn bó anh em với các đồng chí bác sĩ Việt Nam.” (4)

chuyen-gia-nga-bLễ ký văn bản hợp tác phối hợp pha chế dung dịch đặc biệt giữa Ban Quản lý Lăng và Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va (Mát-xcơ-va ngày 04/6/2003)

Trong hơn 20 năm hợp tác trực tiếp với Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va, hai bên đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp: Bảo đảm quá trình làm thuốc trong giữ gìn thi hài Bác Hồ; biên soạn quy trình làm thuốc lớn trong tu bổ định kỳ hằng năm; thường xuyên bảo đảm môi trường trong các phòng làm thuốc đạt tiêu chuẩn quy định. Từ năm 2003, Nga bàn giao công nghệ pha chế dung dịch đặc biệt và năm 2004, dung dịch đặc biệt được pha chế thành công tại Việt Nam giúp ta không còn gặp khó khăn trong quá trình vận chuyển. Phía Nga tiếp tục giúp ta trong việc thành lập các Tổ tư vấn chuyên môn sâu, cử chuyên gia sang trực tiếp giảng dạy tại Việt Nam và nhận chuyên gia Việt Nam sang Nga học tập khoa học công nghệ và kỹ thuật bảo quản thi hài.

Trong nghiên cứu khoa học, hai bên cùng tiến hành hàng chục đề tài khoa học, sáng kiến kỹ thuật phục vụ công tác giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhiều đề tài đi sâu vào tối ưu hóa các điều kiện giữ gìn thi hài Bác Hồ. Phía Nga cũng đã bàn giao cho ta hơn 500 trang tài liệu khoa học được tiến hành trong quá trình tham gia giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh tận tụy của GS, TS. Kô-zen-sép, người đã 14 lần sang Việt Nam; TS. Gô-lu-bép, 13 lần sang Việt Nam; GS, TS. Đốc-tơ-rốp, 10 lần sang Việt Nam; TS. Va-xi-lép-ski, 14 lần sang Việt Nam… đã để lại những tình cảm hết sức tốt đẹp trong lòng các đồng chí, đồng nghiệp Việt Nam.

Phát biểu tại Hội nghị tổng kết 20 năm hợp tác trực tiếp giữa Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va và Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1992-2012), GS, Viện sĩ Mát-vê-chúc I-go Va-si-li-ê-vích, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ Y sinh Mát-xcơ-va khẳng định: “Điều tự hào nhất trong kết quả hợp tác giữa hai bên là sau 43 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, người dân Việt Nam và du khách quốc tế vẫn được chiêm ngưỡng thi hài của Người trong trạng thái tốt nhất. Đó cũng là điều khiến chúng tôi hài lòng nhất.”

chuyen-gia-nga-cChuyên gia y tế Liên bang Nga cùng cán bộ, bác sĩ Việt Nam tiến hành pha chế dung dịch đặc biệt lần đầu tiên tại Việt Nam tháng 3/2004

Để hiểu rõ hơn vai trò, trách nhiệm và công lao của các chuyên gia y tế Nga, tôi xin giới thiệu một số gương tiêu biểu. Trước hết phải nhắc tới GS, Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Mát-xcơ-va. Ông là một trong 5 chuyên gia sang Hà Nội vào ngày 28/8/1969 và có tất cả 6 lần sang Việt Nam. Để có được kết quả “những nét đặc trưng lúc sinh thời của Bác vẫn được giữ gìn nguyên vẹn” phải kể đến những đóng góp to lớn về trí tuệ với đôi bàn tay vàng của nhà phẫu thuật tạo hình nổi tiếng Lô-pu-khin. Chính ông đã trực tiếp chỉnh hình thi hài Bác tại khu căn cứ K9.

Năm 2009, khi nghe tin mình được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hữu nghị, ông rất xúc động. Nói về việc gìn giữ thi hài Bác, Viện sĩ Lô-pu-khin khẳng định: “… thi hài Bác được giữ gìn rất tốt. Không một thi hài nào đã bảo quản trước đây, trong đó cả V.I. Lê-nin, G.M. Đi-mi-tơ-rốp… được giữ gìn trong trạng thái lý tưởng như vậy”.(5)Ông từng tâm sự rất chân tình: “Từ khi được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh và trực tiếp chăm sóc thi hài của Người, tôi nhận thấy ở Người có điều gì đó rất đặc biệt. Năm 1969, từ Việt Nam về, tôi lập bàn thờ Bác trong nhà. Với tôi, Hồ Chí Minh là một tấm gương để tôi tôn thờ suốt đời”.

Người thứ hai là GS. I-u-ri A-lếch-xây-ê-vích Rô-ma-cốp, nguyên Phó Giám đốc Viện nghiên cứu khoa học Lăng Lê-nin, một chuyên gia hàng đầu của Liên Xô cũng như trên thế giới về lĩnh vực ướp bảo quản lâu dài thi thể phục vụ thăm viếng. Ông là chuyên gia y tế sang Việt Nam nhiều lần nhất (24 lần).

Ngày 18/12/1968, Iu.A. Rô-ma-cốp là nhà khoa học đầu tiên của Liên Xô đến Việt Nam để kiểm tra, đánh giá công tác chuẩn bị giữ gìn thi hài Bác Hồ. Trong thời gian này, ông đã tham gia Lễ kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam để trực tiếp quan sát dung nhan Bác Hồ. Nhờ vậy, sau này ông và Tổ chỉnh hình đã giúp ta giữ gìn nguyên vẹn những nét đặc trưng lúc sinh thời của Bác. Ông trực tiếp tham gia giữ gìn thi hài Bác với ý thức trách nhiệm cao và với kiến thức chuyên ngành uyên bác. Sau khi Liên Xô tan rã, ông đã cùng với lãnh đạo của Trung tâm và phía Việt Nam tích cực tìm ra phương thức hợp tác mới. Theo các chuyên gia Liên Xô, ông là người đã chủ động đề xuất việc tăng cường đào tạo cán bộ y tế Việt Nam về lĩnh vực ướp bảo quản thi thể và tiến hành các đề tài hợp tác nghiên cứu theo từng giai đoạn một cách rất bài bản. Thông qua những hình thức hợp tác đó để tiến tới những mục tiêu cơ bản và năm 2003 hai bên đã chính thức ký Biên bản bàn giao tỉ lệ hóa chất dung dịch và nhất trí pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam vào quý I năm 2004. Đây là một trong những thành tựu quan trọng có sự đóng góp to lớn của GS. Rô-ma-cốp.

Những người đã từng tiếp xúc, làm việc với GS. Rô-ma-cốp đều nhận thấy ở ông “một nhân cách lớn, một nhà khoa học trầm tính, ít nói, nhưng đã nói là làm, làm đến nơi đến chốn, không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà phải chứng minh bằng các thực nghiệm có số liệu cụ thể. Ông thường nhắc các đồng nghiệp Liên Xô cũng như các bác sĩ Việt Nam cần phải rất thận trọng, tỷ mỷ, các kết luận chỉ được phép dựa vào những số liệu, thực nghiệm chính xác.”(6)

Với những cống hiến cho sự nghiệp giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam đã tặng ông 2 Huân chương Lao động hạng Nhất và hạng Nhì.

Người thứ ba là GS, Viện sĩ Xéc-gây Xéc-gây-ê-vích Đê-bốp, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lăng Lê-nin, một trong những chuyên gia y tế đầu tiên của Liên Xô giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã 23 lần sang Việt Nam. Ngay từ năm 1967, dưới sự chỉ đạo của Viện sĩ Đê-bốp lúc này đang giữ chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lăng Lê-nin, Đoàn cán bộ của ta sang học tập về khoa học giữ gìn thi hài đã được đón tiếp chu đáo, thân tình, được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoàn thành khóa học đặc biệt này. Đây là sự ưu ái đặc biệt của Đảng và Chính phủ Liên Xô, bởi Viện chưa từng đào tạo bất cứ người nước ngoài nào. Ngày 28/8/1969, Viện sĩ Đê-bốp làm Trưởng đoàn của Đoàn cán bộ y tế Liên Xô đến Việt Nam để chuẩn bị cho công tác đặc biệt sau khi Hồ Chủ tịch qua đời.

Thiếu tướng Trần Kinh Chi, nguyên Tư lệnh, kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng xúc động nhớ lại thời điểm sau khi Bác mất: “Các đồng chí trong Tổ y tế đặc biệt của Việt Nam đã từng là những nhà chuyên môn giỏi, đã học tập, thực hành công tác gìn giữ thi hài trong hai năm, có thể đảm đương nhiệm vụ. Nhưng xuất phát từ tinh thần trách nhiệm cao, với tấm lòng yêu kính Bác nên G.S Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, Viện sĩ X.X. Đê-bốp và G.S Mi-khai-lốp đã trực tiếp làm công tác y tế giữ gìn thi hài Bác cùng với sự phụ giúp của hai bác sĩ là Nguyễn Gia Quyền và Lê Điều – thành viên của Tổ y tế đặc biệt Việt Nam…Các chuyên gia y tế Liên Xô đã làm công việc đó với một tấm lòng yêu thương, trân trọng lãnh tụ, với tinh thần khoa học rất cao và một tài năng tuyệt vời”(7).

Nhớ lại khoảnh khắc lúc 3h sáng ngày mồng 6/9, Ban Tổ chức Lễ tang cùng với các chuyên gia tiến hành tổng kiểm tra các mặt chuẩn bị cho ngày viếng đầu tiên. Khi nâng chiếc nắp hòm kính lên, đặt máy đo kiểm nhiệt độ, độ ẩm, thấy kết quả hiện trên mặt máy báo hiệu mọi sự đều hết sức ổn định. Viện sĩ Đê-bốp không kìm được xúc động đã quay lại ôm chầm lấy đồng chí Trần Bá Đặng và đồng chí Nguyễn Gia Quyền, lặp đi lặp lại mãi một câu nói: “Khơ-ra-sô, khơ-ra-sô” (tốt, tốt), “Ô-trin Khơ-ra-sô (rất tốt) (8). Giữa không khí trang nghiêm ấy, bỗng một tiếng khóc nức nở, òa lên vang khắp Hội trường. Đó là tiếng khóc không thể kìm nén được của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Vừa khóc, Thủ tướng vừa bắt tay cảm ơn các đồng chí chuyên gia Liên Xô. Lời cảm ơn chân thành và những giọt nước mắt liên tiếp lăn trên má của đồng chí Phạm Văn Đồng khiến các đồng chí chuyên gia cũng không cầm được nước mắt.

Năm 1975, Viện sĩ Đê-bốp là một trong ba chuyên gia Liên Xô tiêu biểu nhất đã được Chính phủ ta tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam để tỏ lòng biết ơn Ðảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô đã góp sức giữ gìn thi hài Bác và xây dựng Công trình Lăng.

Ngày 28/12/1992, trên cương vị là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va, GS, Viện sĩ X.X. Đê-bốp đã ký vào Bản thỏa thuận làm việc trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va. Đây là một sự kiện quan trọng có tính chất bước ngoặt, đánh dấu sự mở đầu của một thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác giữa ta và Nga.

Trên đây chỉ là ba trong số rất nhiều chuyên gia y tế Liên Xô đã kề vai sát cánh, không quản ngại gian khổ giúp Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác. Tất thảy họ đều là những người đồng nghiệp, đồng chí, những người bạn, người anh em thân tình đặc biệt của chúng ta. Trong số các chuyên gia y tế Liên xô, nay người còn, người đã mất, nhiều người đã tuổi cao, sức khỏe giảm sút, nhưng tiếp nối truyền thống, các bạn Nga vẫn đang sát cánh cùng chúng ta trong nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Nhằm động viên các nhà khoa học, cũng là thể hiện sự biết ơn, tình nghĩa thủy chung gắn bó của Việt Nam với nhân dân và đất nước Nga, ngày 22/4/2009, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tặng thưởng huân, huy chương các loại cho 34 chuyên gia Liên bang Nga đã có công lao trong việc giữ gìn lâu dài và tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sự giúp đỡ của nước Bạn là vô giá, trường tồn mãi với thời gian, được các thế hệ Việt Nam đời đời ghi nhớ, trân trọng. Và tấm chân tình của chúng ta cũng đã được các Bạn Nga ghi nhận. Viện sĩ I.M. Lô-pu-khin từng khẳng định: “Khi đề cập đến đất nước chúng ta (Liên bang Nga), đến sự giúp đỡ của các nhà bác học, các kỹ sư, các chuyên gia quân sự… trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, người Việt Nam luôn nhớ đến câu nói mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường hay nhắc nhở: “Uống nước nhớ nguồn”.(9)

Qua hơn 40 giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 năm chính thức thiết lập quan hệ trực tiếp, Ban Quản lý Lăng và Trung tâm nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va mà trực tiếp là các chuyên gia làm việc tại Việt Nam đã không ngừng củng cố tinh thần hữu nghị, đoàn kết hợp tác, cùng thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, biết ơn sự giúp đỡ quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô trước đây và Liên bang Nga sau này, đặc biệt là những đóng góp của các chuyên gia y tế. Với lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh và bằng tài năng của những chuyên gia y tế hàng đầu, tầm cỡ quốc tế đã giúp đỡ chúng ta chí tình, chí nghĩa phục vụ nhiệm vụ giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử, văn hoá của Công trình Lăng – nơi hội tụ niềm tin, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam cũng như tình hữu nghị đặc biệt hai nước Việt Nam – Liên bang Nga./.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

(1). E. Cô-bê-lép, Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985, tr.379.
(5, 7, 9). Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bên Lăng Bác Hồ, tập 1, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.34, 28, 35.
(2, 8). Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lịch sử bộ đội bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1975-2003), Nxb. Quân đội nhân dân, 2003, tr.176, 41.
(3, 4, 6). Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bên Lăng Bác Hồ, tập 2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr.49, 32, 61.

Diễn viên đóng Tôn Ngộ Không luôn lưu giữ di ảnh Bác Hồ

Lục Tiểu Linh Đồng vẫn giữ những hình ảnh của Bác Hồ như một “bảo bối”.

Nghệ sỹ nổi tiếng với vai Tôn Ngộ Không – Lục Tiểu Linh Đồng cho biết ông luôn lưu giữ những hình ảnh của vị lãnh tụ Việt Nam – Hồ Chí Minh. Những hình ảnh của Bác Hồ khi còn sinh thời được ông đóng khung và ghi chú cẩn thận. Có những tấm ảnh chỉ được cắt từ báo chí, bị ố màu nhưng ông vẫn luôn trân trọng.

Nói về Bác Hồ, Lục Tiểu Linh Đồng nói: “Đó là vị lãnh tụ đáng tôn vinh. Sau trăm năm hậu chiến, thời gian thay đổi và cuộc sống con người thay đổi, nhưng người sáng lập, vị lãnh tụ của Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong lòng dân chúng. Tôi từng có bài viết trên trang cá nhân với tên Mãi mãi Bác Hồ. Tôi luôn cảm phục và thần tượng con người vĩ đại đó”.

dien-vien-dong-ton-ngo-khong-luon-luu-giu-di-anh-bac-ho a1
Lục Tiểu Linh Đồng từng sang Việt Nam và đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

dien-vien-dong-ton-ngo-khong-luon-luu-giu-di-anh-bac-ho a3
Bài viết trên trang cá nhân của Lục Tiểu Linh Đồng
vào năm 2011 có tên Mãi mãi Bác Hồ

dien-vien-dong-ton-ngo-khong-luon-luu-giu-di-anh-bac-ho a4

Những hình ảnh của Bác Hồ được Lục Tiểu Linh Đồng lưu giữ

Theo tintuc.trongngay.net
Kim Yến (st)

Hình ảnh Bác Hồ trong tim nhà quay phim dân tộc Thái

Hình ảnh Bác Hồ mãi khắc ghi trong tim của nhà quay phim Điêu Chính Dụng.

Ông Dụng sinh ra trong một gia đình dân tộc Thái có truyền thống cách mạng ở huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Hai người anh của ông đều là liệt sỹ, hy sinh thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Năm 1953, ông tham gia cách mạng, công tác tại Ty Tuyên truyền tỉnh Lai Châu, phục vụ trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ, sau đó được chuyển về công tác tại Sở Văn hóa khu Tây Băc.

Năm 1961, người thanh niên dân tộc Thái (27 tuổi) Điêu Chính Dụng được  cấp trên cử đi học quay phim tại Xưởng phim Thời sự tài liệu trung ương. Ông Dụng được đào tạo vừa học, vừa làm trực tiếp tại Xưởng phim.

hinh anh Bac Ho trong tim nha quay phim dan toc Thai
Bác Hồ tham gia Tết trồng cây tại Bất Bạt (Sơn Đà, Ba Vì, Hà Tây) năm 1969

Năm 1964 học xong, ông được kết nạp Ðảng và giữ lại Xưởng phim làm việc. Từ đó ông thường xuyên được phân công quay phim tư liệu về các hoạt động tại Phủ Chủ tịch và Bác Hồ.

Những hình ảnh, thước phim ông quay đã góp phần vào kho tư liệu quý giá về Đảng, Nhà nước và Bác Hồ. Bao nhiêu kỷ niệm của những năm tháng được phục vụ Bác Hồ vẫn còn in đậm trong trái tim ông.

Năm 1968, giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra ác liệt, Đoàn đại biểu Thanh niên dũng sĩ miền Nam ra miền Bắc được vào thăm Bác.

Ông Điêu Chính Dụng cùng ông Ma Cường phóng viên người dân tộc Tày được cử quay tư liệu. Đây là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời quay phim của ông.

Ông Dụng bồi hồi nhớ lại: Ngày 1/12/1968, Đoàn đại biểu Thanh niên dũng sĩ miền Nam ra báo cáo thành tích với Bác và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Bác ôm hôn các cháu, tôi thì đứng đấy quay lấy những hình ảnh thật là xúc động.

Khi đang quay, Bác quay sang tôi hỏi: Chú ở Xưởng phim nào?

Tôi trả lời: Dạ cháu ở Xưởng phim Tài liệu ạ.

Bác lại bảo: Bác có mấy ý thế này nhé: Thứ nhất, nghệ thuật quay phim, chụp ảnh của các cháu không đơn thuần là để giải trí mà còn làm công tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân ở trong nước. Thứ hai, đất nước ta đang chiến tranh, phải ghi lấy những hình ảnh tội ác của đế quốc Mỹ để tố cáo trước nhân dân thế giới…

Tết Kỷ Dậu năm 1969, sau khi quay cảnh đón giao thừa tại Phủ Chủ tịch, sáng mùng 1 Tết, ông Dụng được lệnh quay phim tư liệu Bác trồng cây tại xã Bất Bạt, tỉnh Hà Tây.

Hôm đó Bác đã ân cần hỏi thăm mọi người, hỏi thăm sức khỏe và công việc của các phóng viên. Chính khoảnh khắc ấy, ông và đồng nghiệp thấy gần gũi bên Bác như cha với con, thân mật ấm áp vô cùng.

Tình cảm và lời căn dặn của Bác luôn dẫn đường cho ông, trở thành tâm niệm nghề nghiệp và cuộc sống của ông trong bước đường công tác sau này. Với lòng nhiệt tình, khát khao cống hiến, trong những năm 70 của thế kỷ XX, ông được cấp trên cử sang Lào làm chuyên gia hướng dẫn quay phim.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn đến mấy, nhớ lời Bác dạy, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của người chiến sỹ quay phim cách mạng. Với những thành tích đạt được trong công tác, năm 1970 ông và một đồng nghiệp được Xưởng phim cử làm đại diện Đoàn Việt Nam tham dự Liên hoan phim thế giới lần thứ 13 tại Berlin (Đức).

Giờ đây đã gần 80 tuổi, nhưng khát vọng cống hiến và tình yêu lao động nghệ thuật trong ông vẫn còn cháy bỏng.

45 năm đã trôi qua nhưng hình ảnh Bác Hồ kính yêu giản dị, hiền hậu với nụ cười trìu mến, luôn quan tâm thăm hỏi mọi người vẫn còn mãi khắc sâu trong trái tim ông. Chính từ tấm gương đạo đức của Bác đã giúp ông từ một thanh niên dân tộc Thái trở thành người cán bộ tốt và quyết tâm theo Đảng đến cùng.

Phát huy truyền thống cha ông, các con của ông nay đều đã trưởng thành và có gia đình riêng. Người làm công tác tài chính, người làm công an, làm công tác văn hóa, cán bộ di dân tái định cư huyện, với ông như thế là đã mãn nguyện.

Trở về với cuộc sống thường nhật, trong ngôi nhà sàn tái định cư thủy điện Sơn La khang trang đầy ắp những kỷ niệm về Bác và cuộc đời quay phim của mình, ông càng tự hào hơn và sẽ vẫn luôn học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để có cuộc sống mẫu mực, cho con cái noi theo./.

Theo http://vov.vn
Huyền Trang (st)

Một lá thơ bằng tiếng Pháp của Bác Hồ

la-thu-tieng-phap-bTiễn Bác Hồ đi Pháp, hè 1946

Cuộc chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, sau khi Chính phủ Hồ Chí Minh đã làm tất cả những gì có thể làm nhằm cứu vãn hòa bình. Nhưng người Pháp không muốn dễ dàng từ bỏ Đông Dương.

-*-

Ta gặp lại tướng Raul Salan, Tổng Chỉ huy các lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam – người đã nói chuyện rất nhiều lần với Chủ tịch Hồ Chí Minh, từng tháp tùng Bác Hồ đi Pháp năm 1946. Cuộc chiến Việt – Pháp bùng nổ và số mệnh buộc họ lại là đối thủ của nhau.

Một bức thư bằng tiếng Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ngày 10.6.1947 viết cho tướng Salan:

“Tướng quân thân mến!

Tôi vừa nhận được tin ông trở lại đất nước tôi. Năm ngoái (đối với tôi, tưởng chừng như mới chỉ hôm qua mà cũng như là đã nhiều thế kỷ), chúng ta đã cùng đi với nhau trên chặng đường dài. Chúng ta đã nói chuyện nhiều với nhau. Về rất nhiều vấn đề, về các nhân vật, các sự kiện, chúng ta đều thống nhất ý kiến. Nói tóm lại một câu, chúng ta là những người bạn rất thân.

Những tình huống ngoài sự mong muốn của chúng ta đã làm chúng ta trở thành những địch thủ của nhau. Thật rất đáng tiếc!

Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, nếu ông đã có mặt ở đây và có những quyền hành cần thiết, những sự việc đau lòng đã có thể tránh được.

Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, trong thâm tâm ông không đồng tình với cuộc chiến tranh huynh đệ này, chẳng giải quyết được cái gì cả mà chỉ tổn hại đến tình thân thiện và chậm lại sự hợp tác có tính chất xây dựng giữa hai nước chúng ta.

Nhưng thôi! Đối với tôi, bổn phận thiêng liêng của người yêu nước ra lệnh cho tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và vì đồng bào của mình. Đối với ông, chức trách quân nhân ra lệnh cho ông làm điều mà trái tim ông phản đối.

Vì chúng ta đã bắt buộc phải đánh nhau, vậy thì hãy là những hiệp sỹ cao thượng và những địch thủ đứng đắn, trong khi chờ đợi lại trở thành bạn của nhau. Chúng ta đã từng là bạn. Về mặt cá nhân, chúng ta vẫn còn là bạn. Ông có muốn thế không?

Nhân danh tình yêu nhân loại và nhân danh tình bạn giữa cá nhân chúng ta, tôi đề nghị ông hãy nghiêm cấm quân đội Pháp, không được giết hại thường dân, cưỡng hiếp phụ nữ, thiêu cháy những xóm làng không có gì tự vệ, hủy diệt các nhà thờ, đền chùa như đã làm cho mãi tới nay.

Tôi đảm bảo với ông, các quân nhân và dân sự người Pháp trong tay chúng tôi đều được đối xử rất tử tế. Tôi mong, người của chúng tôi cũng được các ông đối xử tương tự.

Ông Đại úy Các-chi-ê tốt bụng còn đi theo ông không?

Nhờ ông chuyển lời chào của tôi tới bà Xa- lăng và những cái hôn âu yếm của tôi tới hai cháu trai lớn và cháu bé mới sinh của ông bà.

Mong tướng quân hãy tin vào những tình cảm đặc biệt nhất của tôi”.

Một bức thư “địch vận” cực kỳ khéo léo, được viết bằng lời văn Pháp rất uyên bác, thể hiện phong cách và tình cảm của Hồ Chí Minh. Tướng Xa-lăng cho biết: “Sau khi đọc xong, một hoài niệm tràn ngập trong tôi”…

Theo trươngtansang.net
Kim Yến (st)

Cựu Phó Đô đốc Hải quân Ấn Độ với kỷ niệm về Bác

Được sự giới thiệu của ông Tống Đức Huấn, Tham tán Chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ, chiều 30/4, chúng tôi tới thăm cựu Phó Đô đốc Hải quân Ấn Độ Sukhmal Jain, người đã từng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1958.

Khi nghe giới thiệu các nhà báo Thông tấn xã Việt Nam tới thăm và muốn tìm hiểu những kỷ vật, kỷ niệm của ông với Bác Hồ và trong những chuyến thăm Việt Nam, ông Jain bắt tay chúng tôi thật chặt như những người bạn thân thiết lâu ngày gặp lại và niềm nở mời chúng tôi vào nhà.

cuu pho do docÔng Sukhmal Jain (giữa) nâng bức ảnh Đoàn Hải quân Ấn Độ chụp chung với Bác Hồ tại Hà Nội năm 1958. (Ảnh: Minh Lý-Tiến Hiến/Vietnam+)

Tòa nhà của ông Jain tọa lạc tại khu Ananand Lok, ngay mặt đường August Kvanti, ở trung tâm Thủ đô New Delhi. Ngôi nhà được bày biện đơn sơ nhưng sang trọng và ấm cúng. Trong phòng khách, bên cạnh những đồ nội thất, đồ trang trí của Ấn Độ, ông kê hai bộ salông và một chiếc tủ khảm trai mua từ Việt Nam cách đây hai năm.

Ông Jain sống một mình, vì vợ ông qua đời cách đây 3 năm và hai người con gái đều đã yên bề gia thất, ra ở riêng. Dù đã ở tuổi 82, ông Jain vẫn rất nhanh nhẹn và minh mẫn. Ông dẫn chúng tôi tham quan ngôi nhà, giới thiệu những kỷ vật mà ông được tặng trong những chuyến thăm Việt Nam.

Qua câu chuyện chân tình, ông Jain cho biết, năm 1958, ông là thành phần trong Phái đoàn Hải quân Ấn Độ tới thăm Việt Nam, vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội. Ông thật sự xúc động và khâm phục trước hình ảnh giản dị, rất gần gũi của Bác Hồ. Ông còn nhớ như in đôi dép cao su Bác đi và bộ quần áo kaki màu bàng bạc mà Bác mặc hôm tiếp Đoàn Hải quân Ấn Độ.

Ông Jain cùng các sỹ quan trong đoàn đại biểu Ấn Độ được lên thăm nhà sàn, chụp ảnh cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Bác tặng hoa. Cho đến nay, đã hơn 50 năm trôi qua, bức ảnh đen trắng mà đoàn hải quân Ấn Độ chụp cùng Bác Hồ vẫn được ông đóng khung cất giữ như một báu vật.

Tháng 5/1982, ông Sukhmal Jain trở lại Việt Nam lần thứ hai với cương vị Phó Đô đốc Hải quân, Chỉ huy trưởng con tàu Dunagiri của Hải quân Ấn Độ tới thăm chính thức Việt Nam. Ông đã thăm Bến Nhà Rồng, được ông Mai Chí Thọ, lúc đó là Phó Bí thư thứ nhất Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tiếp và tặng bức tranh sơn mài phong cảnh Việt Nam mà cho đến nay ông vẫn treo trên tường nhà.

Cũng trong chuyến thăm này, ông vinh dự được Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Quốc phòng Văn Tiến Dũng tiếp và được gặp gỡ nhiều tướng lĩnh quân đội Việt Nam. Ông Jain cho chúng tôi xem một kỷ vật đặc biệt mà ông được tặng trong chuyến thăm, là một vỏ đạn pháo, trên có khắc dòng chữ “Một trong những viên đạn đầu tiên bắn vào Bộ Tổng Tham mưu Mỹ-Ngụy trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.”

Thận trọng lật từng trang quyển album lưu giữ những tấm ảnh kỷ niệm trong chuyến thăm Việt Nam năm 1982, ông Jain giới thiệu với chúng tôi về từng cuộc gặp và ông vẫn còn nhớ tên các nhân vật trong ảnh, trong đó có ảnh chụp với Thứ trưởng Quốc phòng Trần Văn Quang ngày 6/5/1982 và Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu, Tư lệnh Quân khu VII ngày 7/5/1982.

Ông Jian cho biết lần gần đây nhất ông tới thăm Việt Nam là năm 2011. Sau gần 30 năm quay trở lại, Việt Nam đã thay đổi nhiều, song ông vẫn cảm thấy rất đỗi thân quen và gần gũi.

Nói về quan hệ Ấn-Việt, cựu Phó Đô đốc Sukhmal Jain cho rằng hai nước cần đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có kinh tế, thương mại, giáo dục, khoa học-công nghệ và quốc phòng.

Tiễn chúng tôi, cựu Đô đốc Jian nói ông rất cảm mến Việt Nam; kỷ niệm về những cuộc gặp trong các chuyến thăm, đặc biệt là cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khắc sâu trong tâm trí ông. Trước khi chia tay chúng tôi, ông Jain nói ông muốn học một câu tiếng Việt “Chào tạm biệt” và “Hẹn gặp lại”./

Theo http://www.vietnamplus.vn/
Huyền Trang (st)

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân Algeria

Cụ Matoub Abderrahmane, 84 tuổi, ở số nhà 122 đại lộ Hồ Chí Minh. (Ảnh: Hoàng Chiến/Algeria (Vietnamplus+)

Tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thế giới quan và nhân sinh quan của Người về sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức đã chiếm được tình cảm trọn vẹn của người dân Algeria. Tên Bác luôn được người dân nơi đây nhắc đến với sự ngưỡng mộ chân thành.

Dù bất cứ ở đâu, hay gặp bất kỳ ai, hễ nói đến Việt Nam, những phóng viên Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) rất tự hào khi nghe họ reo lên: “Việt Nam-Hồ Chí Minh” thay cho câu: “Bây giờ tôi đã biết bạn từ đâu đến.” “Việt Nam-Hồ Chí Minh” đã trở thành câu nói quen thuộc của nhiều người Algeria.

Từ những người có tuổi …

Trong những ngày đầu tháng Năm này, phóng viên TTXVN đã tới thăm cụ Matoub Abderrahmane, 84 tuổi, ở số nhà 122 đại lộ Hồ Chí Minh, mà cách đây một năm đã có cơ hội làm quen với cụ một cách tình cờ khi đi tìm lại nơi đặt tấm biển mang tên Đại lộ Hồ Chí Minh.

Cụ kể rằng tấm gương về lòng yêu nước của Bác đã động viên nhiều thanh niên Algeria, trong đó có cụ, tham gia đội quân của những người kháng chiến chống thực dân Pháp đòi độc lập cho Algeria.

Cụ bày tỏ niềm tự hào là một trong số hàng trăm cư dân của đại lộ mang tên Bác, rất vinh dự được chào đón Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đến thăm đại lộ Hồ Chí Minh trong tháng Tư vừa qua.

Nói về tấm gương và đạo đức của Bác Hồ, ông Abdelkrim Hassani, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Algeria-Viêt Nam khẳng định thanh niên Việt Nam và Algeria học tập được ở Người “sự sáng suốt, lòng yêu nước sâu sắc và tinh thần dân tộc.”

Ông thường gọi Bác là nhà tiên tri biết trước được thắng lợi của cách mạng ở Việt Nam cũng như ở Algeria trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của mỗi nước.

Theo ông Hassani, Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ xuất sắc nhất của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Không dưới một lần, ông Bouzid Khelili, 55 tuổi, cán bộ của Thư viện quốc gia Algeria, tâm sự: “Với tôi, cho dù thời cuộc có thay đổi, Hồ Chí Minh vẫn sẽ là tấm gương sáng sáng đối với nhiều thế hệ thanh niên Algeria.”

Ông còn cho biết riêng cá nhân ông lúc nào cũng thiết tha học tập những phẩm chất cao quí của Người. Khi nhắc đến chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Khelili khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là người lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

…đến thế hệ trẻ hôm nay

Anh Hani Aissou Dja Yahia, 27 tuổi, Chủ tịch Hội Văn hóa và Hy vọng của thanh niên tỉnh Boumerdes nằm cách thủ đô Alger 50km về phía Đông Bắc, cho biết Câu lạc bộ thanh niên Hồ Chí Minh, trực thuộc Hội, thu hút hàng trăm bạn trẻ tham gia. Câu lạc bộ vinh dự mang tên Bác vì sự ngưỡng mộ của thanh niên Boumerdes trước một vĩ nhân như Bác.

Sofien, một sinh viên của Trường Đaị học tổng hợp thành phố Oran cách thủ đô Alger gần 500km về phía Tây Nam, không giấu điều mong ước của anh được trở thành người Việt Nam.

Được hỏi về lý do, anh nói một cách hồn nhiên vì đó là đất nước của Hồ Chí Minh. Anh còn nói thêm rằng không chỉ riêng anh mà nhiều thanh niên khác ở Oran rất khâm phục tấm gương của Bác.

Sẽ còn phải kể đến nhiều người Algeria khác mà tôi đã gặp tại thành phố Constantine ở phía Đông, hay thị trấn Miliana ở phía Tây Algeria, họ đều nói tới Chủ tịch Hồ Chí Minh với những tình cảm vừa trân trọng vừa biết ơn, đơn giản vì Bác là người “đưa đường chỉ lối” cho cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Algeria./.

Hoàng Chiến/Algeria (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Hình ảnh Bác Hồ và các chính khách quốc tế

Hồ Chí Minh không chỉ khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập mà còn mở ra một khái niệm mới về tinh thần hữu nghị giữa Việt Nam và quốc tế.

Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cộng hòa Dân chủ Đức Wilhelm Pieck, 1957 (Ảnh Tư liệu của German Federal Archive)

Tổng thống Rajendra Prasad và Thủ tướng J.Nehru đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ, năm 1958, tại sân bay New Delhi. (Ảnh Tư liệu QĐND)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kim Nhật Thành đã đặt nền tảng cho quan hệ phát triển Việt Nam và CHDCND Triều Tiên. (Ảnh Tư liệu từ VOV)

Tổng thống Soekarno che dù cho Hồ Chủ tịch tại Bandung, nhân chuyến thăm Indonesia của Bác Hồ năm 1959. (Ảnh Tư liệu)

Bác Hồ gặp gỡ các đại biểu Châu Mỹ Latine. (Ảnh Tư liệu)

Ảnh tư liệu Hồ Chí Minh và Đặng Tiểu Bình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông. (Ảnh TTXVN)

Bác Hồ được các nguyên thủ quốc gia Ấn Độ tiếp đón long trọng năm 1958. (Ảnh Tư liệu Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ)

Thủ tướng Pháp Georges Bidault đón tiếp trọng thể Bác Hồ hồi tháng 7/1946. (Ảnh Tư liệu từ tennguoidepnhat.net)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc năm 1951. (Ảnh tư liệu tại Triển lãm)

Đại hội liên minh Việt – Miên – Lào tại chiến khu Việt Bắc tháng 3-1951. (Ảnh Tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch Lào Kaysone Phomvihane tại Hà Nội năm 1966. (Ảnh tư liệu tại Triển lãm)

vtc.vn

“Bác Hồ sống mãi”

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm hợp tác trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva trong thực hiện nhiệm vụ y tế giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS) đã trao tặng Ban Quản lý Lăng bộ phim tài liệu “Bác Hồ sống mãi”.

Bac ho song mai 2Tổng Giám đốc Đài Truyền hình T.P Hồ Chí Minh Nguyễn Quý Hòa
trao tặng phim “Bác Hồ sống mãi” cho đơn vị.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là công trình của “lòng dân, ý Đảng”. Lăng Bác đã trở thành nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào trong nước và bầu bạn quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hướng tới kỷ niệm 20 năm hợp tác trực tiếp trong thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1992 – 2012) giữa Ban Quản lý Lăng với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva, đơn vị đã đề nghị Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất phim tài liệu để phục vụ công tác tuyên truyền, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá sâu sắc của Công trình Lăng trong giai đoạn mới.

Trân trọng đề nghị của Ban Quản lý Lăng, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã giao cho TFS cử Đoàn làm phim thực hiện kế hoạch này. Các thành viên trong Đoàn đều là những đồng chí có nhiều kinh nghiệm như: Giám đốc sản xuất – Nguyễn Ngọc Bình, Phó Giám đốc TFS; Biên kịch và viết lời bình – Trần Đức Tuấn; Đạo diễn – Nguyễn Hoàng; Quay phim – Huỳnh Lâm…. Khi đón Đoàn làm phim ra thăm Lăng Bác và trao đổi những công việc cụ thể, chúng tôi cảm nhận được sự xúc động và xen lẫn lo âu trên mỗi gương mặt. Bởi như Phó Giám đốc Nguyễn Ngọc Bình cho biết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh rất vĩ đại. Được làm phim về Bác là điều tuyệt vời. Song đã có nhiều phim về Bác, phim nào cũng rất hay. Vậy phim này phải khai thác góc độ riêng để thấy được tầm vĩ đại của Bác và tình cảm của mọi người dành cho Bác, đặc biệt là khi Người đã đi xa”. Sau buổi vào Lăng viếng Bác và tham quan Khu Di tích K9 (Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội, nơi Bác Hồ đã nhiều lần lên làm việc, tiếp khách quốc tế và cũng là nơi Trung ương Đảng chọn làm địa điểm chủ yếu để giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh 1969 – 1975), Đạo diễn Nguyễn Hoàng suy nghĩ: “Hình ảnh về Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình và Khu Di tích K9 trong phim này phải có nét mới, ghi từ trên cao để mọi người thấy được toàn cảnh, từ đó cẩm nhận đầy đủ hơn tầm nhìn của Trung ương trong việc lựa chọn địa điểm xây dựng Lăng Bác và quyết định giữ gìn di tích về Người để giáo dục truyền thống cách mạng”.

Doan phim 5 de bop
Đoàn làm phim đặt hoa và viếng Viện sỹ Đê-bốp (là một trong những chuyên gia y tế đầu tiên của Liên Xô giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh) ở Matxcơva

Quá trình thực hiện bộ phim tài liệu này, Đoàn làm phim luôn phối hợp chặt chẽ, thống nhất cao với đơn vị trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất, nội dung phim, trao đổi về kịch bản, lời bình và duyệt phim. Trực tiếp phục vụ Đoàn làm phim ghi hình, gặp gỡ, phỏng vấn nhiều nhân chứng là những cán bộ, bác sỹ, lái xe đã nhiều năm gắn bó với nhiệm vụ chính trị đặc biệt “Giữ yên giấc ngủ của Người” và sưu tầm tư liệu của đồng nghiệp ở Hà Nội trong những ngày hè nóng bức, chúng tôi cảm phục tinh thần hết lòng vì công việc của từng thành viên trong Đoàn. Ngoài việc ghi hình trong nước, Đoàn làm phim đã trực tiếp sang Liên bang Nga và Ucraina để tìm hiểu, thu thập thông tin và tiếp xúc phỏng vấn các chuyên gia, các nhà khoa học đã và đang có quá trình cống hiến lâu dài, trực tiếp làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Gần trọn một năm miệt mài lao động nghệ thuật, đầy sáng tạo, tâm huyết, trách nhiệm cao của những nhà làm phim, bộ phim “Bác Hồ sống mãi” được hoàn thành với nội dung sâu sắc, hình ảnh đẹp, lời bình và âm nhạc cảm động. Hai tập của bộ phim phát sóng trên Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đúng dịp kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khán giả màn ảnh nhỏ đón nhận với những tình cảm đặc biệt. Điều này đã đáp ứng mong muốn của biên kịch Trần Đức Tuấn: “Phim  tài liệu “Bác Hồ sống mãi” này, xin được bày tỏ để khán giả truyền hình có thể thấu hiểu được những khó khăn, vất vả và niềm vinh dự của đội ngũ những người thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông qua lời kể của những nhân chứng, những nhà khoa học, chuyên gia, y bác sĩ Việt Nam và Nga, những người đã và đang trực tiếp làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mới thấy việc chúng ta tạo dựng nên công trình thiêng liêng này, không chỉ là để tri ân, để hợp lòng người. Điều lớn lao hơn nhiều là để bày tỏ ước nguyện xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, góp phần kiến tạo một thế giới văn minh, không còn lòng tham ích kỷ, không có xâm lược và chiến tranh như Người hằng mong đợi”.

Ngoài phim tài liệu “Bác Hồ sống mãi” Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh còn trao tặng Ban Quản lý Lăng 11 bộ phim ký sự “Hành trình theo chân Bác” ở nước ngoài và các phim tài liệu “Đại tướng Võ Nguyên Giáp”, “Bác Hồ ở Thái Lan”, “Còn in bóng Người”…

Đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng đã thay mặt cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Ban Quản lý Lăng gửi thư trân trọng cảm ơn Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ đơn vị hoàn thành phim tài liệu “Bác Hồ sống mãi” để phục vụ công tác đón tiếp tuyên truyền, phục vụ đồng bào, khách quốc tế đến viếng Bác và mong muốn Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục phối hợp, giúp đỡ sản xuất phim tài liệu về Khu Di tích K9, phục vụ đồng bào đến dâng hương, tưởng niệm Bác và tham quan Khu Di tích”.

Hữu Mạnh, Nguyễn Hoàng
bqllang.gov.vn

Công trình của tình hữu nghị VIỆT – NGA

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kỳ đài lịch sử của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX; một công trình kiến trúc có ý nghĩa chính trị và tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm sâu sắc của nhân dân Việt Nam đối với Bác Hồ kính yêu; là công trình của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô và Liên bang Nga ngày nay.

Sau dịp kỷ niệm lần thứ 77, Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cảm nhận sức khoẻ của Bác có dấu hiệu giảm sút, ngày 15/7/1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp bất thường, do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trì, bàn vấn đề cực kỳ quan trọng và tuyệt đối bí mật là bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chuẩn bị giữ gìn lâu dài thi hài Bác sau khi Người qua đời, để sau này đồng bào, chiến sĩ cả nước, nhất là đồng bào miền Nam được đến viếng và nhìn thấy Bác. Nhiệm vụ đặc biệt này, Bộ Chính trị xác định nhờ Liên Xô giúp đỡ, bởi Liên Xô cùng là nước XHCN, người bạn chí tình, chí nghĩa của nhân dân Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời Liên Xô cũng có kinh nghiệm trong việc giữ gìn thi hài Lênin. Trong cuộc họp đó, Quân uỷ Trung ương được giao nhiệm vụ lưu giữ thi hài sau khi Người “nằm xuống” và Bộ Kiến trúc được giao vai trò chủ yếu xây dựng Lăng Bác, tương xứng với công lao trời biển của Người.

Sau cuộc họp tối quan trọng ấy ít ngày, đồng chí Lê Thanh Nghị, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ đã sang Liên Xô, đề nghị Bạn giúp đỡ ta đào tạo đội ngũ cán bộ y tế, trực tiếp giữ gìn lâu dài thi hài Bác khi Người đi xa và xây dựng Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bạn đã nhận lời và nhiệt tình giúp đỡ. Từ tháng 9/1967 đến tháng 4/1968, Bạn đã đón nhận các đồng chí Nguyễn Gia Quyền, Lê Ngọc Mẫn và Lê Điều của ta sang học tập về khoa học giữ gìn thi hài. Đây là ba bác sĩ nước ngoài đầu tiên được Liên Xô đào tạo về chuyên ngành đặc biệt này. Kết thúc khóa học, Bạn còn cung cấp cho ta ba bộ dụng cụ y tế chuyên dụng để phục vụ công tác giữ gìn thi hài. Tình cảm của Bạn được đồng chí Nguyễn Thọ Trân, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hoà XHCN Việt Nam tại Liên Xô giai đoạn 1967-1971 kể lại: “Vào năm 1968, nhận được mật lệnh của Bộ Chính trị giao cho tôi thương lượng với Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, là phía Việt Nam mong muốn khi Bác lâm trung thì bảo quản lâu dài thi hài của Bác. Là vì Việt Nam còn đương chống Mỹ, tình cảm của Bác đối với miền Nam rất mật thiết và miền Nam rất mong nhớ được gặp Bác. Khi tôi trao đổi, các đồng chí Liên Xô rất nhiệt tình, bởi Bạn biết Bác Hồ là bạn thân của Liên Xô, và là một chiến sĩ cộng sản trong sáng như pha lê”.

Những ngày cuối tháng 8 năm 1969, khi ta thông báo tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh có dấu hiệu trầm trọng, Bạn đã cử đoàn chuyên gia y tế gồm 5 người, do Viện sĩ X.X. Đê-bốp làm Trưởng đoàn sang ngay Hà Nội để kiểm tra công tác chuẩn bị và sẵn sàng triển khai nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác.

Chỉ sau khi Bác mất hơn 3 tiếng đồng hồ, tại Công trình 75A, thuộc Viện Quân y 108, các chuyên gia y tế Liên Xô cùng với các bác sỹ Việt Nam đã khẩn trương tiến hành công tác giữ gìn thi hài Bác giai đoạn đầu để phục vụ lễ viếng và lễ tang Bác. Suốt trong những ngày lễ viếng và lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh, những chuyên gia y tế Liên Xô và các bác sỹ Việt Nam luôn túc trực ở Hội trường Ba Đình để bảo đảm tốt nhất các thông số môi trường phục vụ nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác sau này.

Bày tỏ lòng kính trọng và yêu quý‎ Chủ tịch Hồ Chí Minh, xét thấy Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới, nóng ẩm, việc giữ gìn thi hài sẽ cực kỳ khó khăn, đất nước lại đang chiến tranh ác liệt, nên Đoàn chuyên gia y tế Liên Xô đề nghị sau lễ truy điệu cần đưa thi hài Bác sang Liên Xô để giữ gìn. Chỉ có ở Matxcơva mới có đủ điều kiện về môi trường, trang thiết bị và Bạn hứa sẽ hết lòng chăm sóc Bác Hồ như chăm sóc Lênin cho tới khi nào có điều kiện sẽ rước Bác trở về Việt Nam. Đảng, Nhà nước ta xét thấy ý kiến của bạn đúng đắn, chân thành, nhưng không phù hợp với đạo lý‎, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Nên đồng chí Lê Duẩn đã trực tiếp trao đổi với đồng chí A.N.Kô-xư-ghin, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô sang dự Lễ viếng, Lễ truy điệu Bác, đề nghị Bạn giúp ta giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay tại Việt Nam, ở chính quê hương của Người. Thay mặt Đảng, Nhà nước Liên Xô, đồng chí A.N.Kô-xư-ghin đã xúc động trước nguyện vọng thiết tha của chúng ta và cam kết sẽ hết lòng hỗ trợ, giúp đỡ việc giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam và xây dựng Lăng của Người.

‎Ngay sau Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí A.N.Kô-xư-ghin yêu cầu đồng chí X.X. Đê-bốp cùng theo chuyên cơ bay về Matxcơva khẩn trương vận chuyển sang Việt Nam các trang thiết bị, hóa chất thiết yếu để phục vụ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác.

Nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác để phục vụ mọi người tới viếng bao gồm nhiều chuyên ngành khoa học, trong đó có việc chỉnh hình, bảo tồn nguyên vẹn những nét đặc trưng lúc sinh thời của Bác, để mọi người đến chiêm ngưỡng đều có thể nhận rõ những nét thân quen của Người. Đoàn chuyên gia y tế Liên Xô đã yêu cầu mời một số đồng chí nhiều năm sống và làm việc gần Bác tới xin ý‎‎ kiến. Bằng cách làm khoa học tỷ mỷ, thận trọng và tinh thần trách nhiệm cao, những nét đặc trưng trên khuôn mặt, đôi tay, làn da, râu tóc vẫn giữ được như khi Người còn sống.

Trong điều kiện đất nước có chiến tranh ác liệt, đề phòng đế quốc Mỹ ném bom trở lại đối với miền Bắc và thiên tai, lũ lụt đe doạ, Trung ương Đảng quyết định nhiều lần di chuyển thi hài bác từ Công trình 75A lên K84 (Đá Chông, Ba Vì, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội) và khu căn cứ. Trong tất cả các lần di chuyển xa, các chuyên gia y tế Liên Xô đều cùng ta thảo luận, bàn bạc phương án bảo đảm an toàn nhất. Đặc biệt trong lần di chuyển đầu tiên, gần suốt đêm ngày 23/12/1969, đồng chí I-go Nhi-cô lai-ê-vích Mi-khai-lốp và Bác sỹ Nguyễn Gia Quyền đã túc trực trên xe Zin 157, nơi đặt hòm giữ thi hài Bác và xung quanh chất đầy những cây đá lạnh, để kiểm tra, theo dõi, điều chỉnh độ rung xóc và nhiệt độ khu vực hòm giữ thi hài Bác. Trong suốt gần 6 năm (1969-1975), thi hài Bác phải di chuyển nhiều lần, vượt sông, vượt lũ, vượt qua nhiều khó khăn, nhưng bên Bác luôn có những người con Xô-viết tâm huyết, thủy chung son sắt, đồng cam cộng khổ cùng những cán bộ, chiến sỹ Việt Nam trung hiếu, vẹn toàn.

Cùng với nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác, ta tiếp tục đề nghị Liên Xô giúp đỡ xây dựng Công trình Lăng của Người. Năm 1970, đoàn cán bộ của ta sang Liên Xô đề nghị giúp đỡ. Đồng chí Brê-giơ-nhép, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã gửi thư cho Đảng ta với những lời lẽ chí tình “… Chính phủ Liên Xô đã có chỉ thị giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong việc thực hiện những công việc cần thiết. Thực hiện sứ mạng đó, Đảng Cộng sản Liên Xô và toàn thể nhân dân Liên Xô đồng thời tỏ lòng kính trọng sâu sắc của mình đối với hương hồn đồng chí Hồ Chí Minh, người con trung thành và người lãnh đạo lớn của nhân dân Việt Nam, người Mác-xít- Lênin-nít kiên cường, người chiến sĩ theo chủ nghĩa quốc tế vô sản bất khuất và người bạn lớn của nhân dân Liên Xô…”. Ngày 9/2/1971, tại Matxcơva, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Nô-vi-cốp đã ký‎ kết Hiệp định “Liên Xô giúp đỡ kỹ thuật cho Việt Nam trong việc giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người”.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị trong phiên họp ngày 29/11/1969 về yêu cầu xây dựng Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình, thể hiện tính hiện đại mà vẫn giữ nét dân tộc, trang nghiêm nhưng giản dị.  Tháng 4/1971, ta đã quyết định chọn phương án thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kết hợp hài hòa giữa trí tuệ của các nhà kiến trúc Liên Xô, trực tiếp là thiết kế của Kiến trúc sư nổi tiếng Mét-vê-đê-ép với phương án thiết kế của ta và sự tham gia góp ý đông đảo của các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Sau đó, công tác chuẩn bị rất khẩn trương, để sớm khởi công xây dựng Công trình Lăng. Sang năm 1972, ta đề nghị Bạn tạm hoãn “một thời gian” do hoàn cảnh chiến tranh. Sau Hiệp định Pa-ri được ký kết, ta lại đặt vấn đề khởi công xây dựng Công trình Lăng trong năm 1973. Tuy không có kế hoạch, nhưng Bạn đã điều chỉnh để kịp thời giúp đỡ chúng ta khởi công xây dựng Công trình Lăng đúng ngày 02/9/1973.

Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh tình cảm, trí tuệ và sự đóng góp sức người, sức của to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô. Một số nguyên vật liệu chủ yếu như sắt thép, đá hoa cương ốp lát… và hầu hết các trang thiết bị, máy móc của Công trình Lăng, Quảng trường Ba Đình đều do Liên Xô viện trợ, giúp đỡ. Nhiều máy móc, thiết bị Bạn chỉ sản xuất đơn chiếc, hoặc không sản xuất được trong nước mà Bạn đã phải đặt mua ở các nước châu Âu. Với mong muốn gửi sang Việt Nam những trang thiết bị tốt nhất, tiên tiến, hiện đại, phục vụ Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời, Bạn còn cử nhiều chuyên gia giỏi sang trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng, lắp đặt, vận hành máy móc trong suốt quá trình xây dựng Lăng Bác. Với những cố gắng của ta và sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Bạn, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được hoàn thành sau gần 2 năm xây dựng (2/9/1973 – 29/8/1975). Trong buổi Lễ khánh thành, đồng chí Trường Chinh đã khẳng định: “… Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là công trình kiến trúc có ý nghĩa chính trị và tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm của đồng bào ta đối với Bác Hồ kính yêu. Đây là nơi nhân dân ta từ thế hệ này sang thế hệ khác đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng biết ơn Hồ Chủ tịch, quyết tâm đi theo con đường cách mạng của Người.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một công trình thể hiện nổi bật tình hữu nghị anh em thắm thiết của nhân dân Liên Xô đối với nhân dân Việt Nam. Ngay sau khi Hồ Chủ tịch qua đời, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô đã cử nhìêu chuyên gia có kinh nghiệm sang giúp chúng ta giữ gìn thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng”.

Ngày khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày 29/8/1975 cũng là ngày đầu tiên Lăng Bác mở cửa đón đồng bào và bầu bạn quốc tế đến viếng  Người. Trước đây, thi hài Bác được giữ gìn và bảo vệ trong một không gian hẹp, có điều kiện bảo đảm môi trường trong sạch, tinh khiết. Về Lăng, thi hài Bác được giữ gìn trong một không gian rộng, mỗi ngày có tới hàng chục ngàn lượt người đến viếng; trong giờ viếng, thi hài còn được chiếu sáng, nên việc bảo đảm thông số, môi trường khó khăn hơn nhiều. Giúp đỡ ta giải quyết những khó khăn đó, hàng năm Liên Xô đều ký hiệp định viện trợ các trang thiết bị kỹ thuật, hóa chất và tiếp tục cử những chuyên gia giỏi sang phục vụ nhiệm vụ y tế và kỹ thuật tại Công trình Lăng.

Hàng ngày, các chuyên gia kỹ thuật của Bạn đến hướng dẫn, giúp đỡ cán bộ, nhân viên của ta quản lý, vận hành thiết bị kỹ thuật bảo đảm thông số nhiệt, ẩm, môi trường; vào Thứ Hai, Thứ Sáu hàng tuần, các chuyên gia y tế của Bạn đều trực tiếp làm nhiệm vụ y tế chăm sóc thi hài Bác. Hàng năm, vào dịp tu bổ định kỳ, Liên Xô đều cử sang Việt Nam Đoàn chuyên gia y tế để tiến hành làm thuốc lớn thi hài Bác, đánh giá trạng thái thi hài Bác và Đoàn chuyên gia kỹ thuật giúp ta khảo sát, lắp đặt, chữa chữa, thay thế, bảo dưỡng hệ thống thiết bị kỹ thuật. Để phục vụ việc di chuyển thi hài Bác khi có tình huống, năm 1985, Bạn còn trang bị cho ta 02 chiếc xe Traika chuyên dụng và thiết bị hòm K để di chuyển.

Kết quả giúp đỡ của Bạn và sự nỗ lực phấn đấu của ta đã giữ gìn thi hài Bác luôn ở trạng thái tốt nhất. Đúng như Kết luận của Hội đồng Khoa học y tế Việt Nam – Liên Xô đánh giá thi hài Bác sau 20 năm giữ gìn (1969 – 1989): “Trạng thái thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tốt. Không thấy thay đổi nào so với những số liệu của biên bản Hội đồng kiểm tra năm 1975. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thường xuyên tiến hành kiểm tra chế độ nhiệt, ẩm, bảo đảm giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như thường xuyên kiểm tra trạng thái vệ sinh y tế quan tài kính và các phòng làm  thuốc. Các số liệu mà Hội đồng nhận được chứng tỏ chế độ nhiệt, ẩm và trạng thái vệ sinh y tế phù hợp với yêu cầu quy định”.

Có được sự giúp đỡ của Liên Xô, nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đang diễn ra rất thuận lợi. Nhưng sau tháng 8/1991, thể chế chính trị của Liên Xô thay đổi, nguồn viện trợ và sự giúp đỡ to lớn của Bạn cho các hoạt động của Lăng Bác không còn, nhiều vấn đề lớn được đặt ra: Không có chuyên gia Nga sang giúp đỡ và không còn nguồn viện trợ máy móc, trang thiết bị, liệu thi hài Bác còn giữ được lâu dài không ? Và hoạt động của Công trình Lăng sẽ như thế nào ? Đứng trước thời điểm rất khó khăn đó, Ban Quản lý Lăng đã chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những nội dung, hình thức hợp tác phù hợp: Hợp tác trực tiếp với Viện Cấu trúc sinh học Liên bang Nga (trước đây là Viện thi hài Lênin), để mời Bạn tiếp tục cử chuyên gia y tế sang giúp đỡ ta trong việc làm thuốc giữ gìn thi hài Bác; bàn giao cho ta dung dịch đặc biệt còn lại ở trong Lăng và giúp ta mua dung dịch mới. Bởi Liên bang Nga vẫn nắm giữ toàn bộ công nghệ giữ gìn thi hài Bác và những chuyên gia y tế ở Viện Cấu trúc sinh học vẫn là những người thầy của chúng ta.

Khi đoàn cán bộ của Ban Quản lý Lăng sang Matxcơva đặt vấn đề hợp tác trực tiếp với Viện Cấu trúc sinh học Liên bang Nga, lúc đầu cũng gặp nhiều khó khăn, bởi Viện mới thành lập và luật pháp của Nga có những quy định rất chặt chẽ. Nhưng bằng phương pháp trao đổi phù hợp và nhất là khơi dậy tình cảm sâu nặng với Bác Hồ, với nhân dân Việt Nam, nên ngày 28/12/1992, lãnh đạo Viện Cấu trúc sinh học Liên bang Nga (nay là Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva) đã đồng ý ký văn bản hợp tác trực tiếp với Ban Quản lý Lăng trong thực hiện nhiệm vụ y tế giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực hiện văn bản hợp tác, hàng năm Bạn đều cung cấp cho ta đủ thiết bị vật tư, hoá chất y tế; phối hợp cùng ta nghiên cứu các đề tài khoa học; tiếp nhận cán bộ y tế Việt Nam sang Matxcơva đào tạo và Bạn cử chuyên gia sang Việt Nam truyền thụ kinh nghiệm cho cán bộ, nhân viên y tế của ta.

Trên cơ sở kết quả phối hợp nghiên cứu khoa học, cùng với sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế và sự đầu tư trang bị của ta, ngày 04/6/2003, Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva đã ký Biên bản với Ban Quản lý Lăng về: “Bàn giao tỉ lệ dung dịch hoá chất và nhất trí phối hợp với cán bộ, bác sĩ của ta pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam vào quý I năm 2004”. Từ đó đến nay (năm 2013), Viện 69 và các chuyên gia Liên bang Nga đã 10 lần pha chế thành công dung dịch tại Việt Nam, để đưa vào làm thuốc thi hài Bác đạt kết quả tốt.

Cuối năm 2012 vừa qua, tổng kết 20 năm hợp tác trực tiếp giữa ta và Bạn đều thống nhất đánh giá: “Hợp tác trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva trong thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đảm bảo đúng hướng, đạt kết quả tốt, trực tiếp góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời giúp ta xây dựng Viện 69 trở thành Viện chuyên ngành, trang thiết bị hiện đại, đội ngũ cán bộ y bác sỹ có trình độ chuyên sâu, từng bước vươn lên làm chủ khoa học giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, các thế hệ chuyên gia y tế, kỹ thuật của Liên Xô và Liên bang Nga đã đã dành nhiều tình cảm tốt đẹp, dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, truyền thụ kinh nghiệm, cũng như trực tiếp tham gia nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Công trình Lăng của Người. Để ghi nhớ sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của Bạn, nhân dịp kỷ niệm 40 năm giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969-2009), Ban Quản lý Lăng đã tổ chức gặp mặt, tỏ lòng tri ân và trao tặng những phần thưởng cao quý của Nhà nước ta cho những chuyên gia y tế, kỹ thuật có nhiều đóng góp trong thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Matxcơva.

Hiện nay, nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của ta và tăng cường hợp tác với Bạn. Thực hiện Thông báo số 328-TB/TW, ngày 19/4/2010 của Bộ Chính trị; Quyết định số 2341/QĐ-TTg, ngày 22/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 122 – NQ/QU, ngày 08/3/2012 của Thường vụ Quân ủy Trung ương và ý kiến chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ về “Lãnh đạo giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới”, Ban Quản lý Lăng tiếp tục giữ vững và phát huy mối quan hệ truyền thống tốt đẹp với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva, nhằm tiếp thu kiến thức và học tập kinh nghiệm của Bạn để phục vụ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ. Đơn vị đã kí kết với Bạn chương trình hợp tác từ nay đến năm 2020. Trong những năm tới, Bạn sẽ cùng với ta đẩy mạnh việc hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, trao đổi kinh nghiệm đào tạo cán bộ y tế chuyên sâu và cung cấp cho ta một số tài liệu liên quan đến quá trình giữ gìn lâu dài thi hài Bác… Đó là cơ sở giúp Ban Quản lý Lăng từng bước vươn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hơn 43 năm kể từ ngày Bác đi xa và hơn 37 năm mở cửa đón nhân dân trong nước và khách quốc tế đến viếng Bác, Công trình Lăng Bác đã là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân Việt Nam và khách quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi khi về viếng Bác, mọi người đều nghẹn ngào xúc động, thấy Bác hồng hào, thanh thản, nằm nghỉ ở trong Lăng. Điều đó nhắc nhở mỗi chúng ta hôm nay phải phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc và tình cảm quốc tế trong sáng, mãi mãi biết ơn và ghi nhớ sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay, trực tiếp là công lao của những người con quê hương Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã không quản khó khăn, gian khổ giúp đỡ Việt Nam giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Công trình Lăng của Người./.

         Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương
Trưởng Ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh
Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Một thị trấn của Anh vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hội đồng thị trấn Newhaven ở vùng Sussex, miền Nam nước Anh, mới đây đã quyết định vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định sự có mặt của người thanh niên Nguyễn Tất Thành trong hành trình tìm đường cứu nước tại địa phương này.

Với những tấm biển “Những điều bạn chưa biết về Newhaven”, chính quyền thị trấn này muốn cho người dân trong vùng và nhiều nơi trên nước Anh biết đến người thanh niên Nguyễn Tất Thành, vị lãnh tụ, người anh hùng của dân tộc Việt Nam sau này, từng đến đây khi Người làm việc trên tuyến phà quốc tế nối giữa Newhaven với thị trấn Dieppe của Pháp qua Eo biển Anh vào khoảng thời gian sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Đây cũng sẽ là một trong những điểm nhấn quan trọng góp phần làm giàu hơn nữa kho tư liệu lịch sử về hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông Graham Amy, Thị trưởng Newhaven cho biết, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh – một nhà lãnh đạo vĩ đại của thế giới từng đến thị trấn này là niềm vinh dự, tự hào lớn lao đối với người dân nơi đây. Đó cũng là một phần lịch sử không thể thiếu được của Newhaven mà chính quyền thị trấn muốn nhắc nhở cho con cháu mình. Ông Graham Amy và giới chức thị trấn vui mừng biết được Việt Nam đang tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt chân đến Anh trong hành trình tìm đường cứu nước. Trong bối cảnh đó, quyết định vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các danh nhân khác từng sống và làm việc ở Newhaven càng có ý nghĩa hơn.

Theo ông Graham Amy, trong quá khứ, Newhaven – Dieppe và Việt Nam từng có mối liên hệ với nhau và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người giúp tạo ra mối gắn kết đó. Ông Graham Amy mong muốn nhiều người Việt Nam tới thăm hải cảng và bến phà ở Newhaven để nhớ về một phần lịch sử của thị trấn này rằng, “chúng tôi từng đón một vị lãnh đạo vĩ đại đến đây”.

Bến phà quốc tế Newhaven nằm trong hải cảng sầm uất bên cửa sông Ouse đổ ra Eo biển Anh. Năm 1863, hãng đường sắt LB&SCR phối hợp với công ty Chemin de Fer de l‘Ouest (Pháp) đã đưa tuyến phà Newhaven – Dieppe vào hoạt động. Đến nay, dù các phương tiện hiện đại khác đã trở nên phổ biến, nhưng tuyến phà quốc tế này vẫn được duy trì với tần suất 2 chuyến/ngày. Chính quyền Newhaven dự kiến sẽ treo những tấm biển vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các danh nhân khác từng đến thị trấn này dọc con đường đẹp nhất bên bờ sông Ouse, nơi thường diễn ra lễ hội, những sự kiện trọng đại của thị trấn.

Theo TTXVN
qdnd.vn