Thư viện

Báo chí nước ngoài nói về thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh

KT (Theo NYT và các báo nước ngoài 2000/2002

Nhân dịp nhân loại bước vào thế kỷ XXI, tờ Thời báo Niu-Oóc, Mỹ đã giới thiệu tác phẩm mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, dày trên 800 trang kèm theo nhiều bức ảnh đen trắng minh hoạ của tác giả, Giáo sư Sử học Uy-li-am Giôn Đu-cơ do Nhà xuất bản Hai-pơ-ron ấn hành và được coi là một công trình vĩ đại nói về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo lời giới thiệu của Nhà xuất bản Hai-pư-rôn thì Hồ Chí Minh là một trong số những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử thế giới hiện đại, một nhà cách mạng lỗi lạc, một chiến sỹ đấu tranh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của thế giới thế kỷ XX. Nhân dịp xuân về, chúng tôi xin lược dịch và giới thiệu cùng bạn đọc bài viết này.

Với công trình đồ sộ nói trên, tác giả Giôn Đu-cơ đã khắc hoạ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, một vị lãnh tụ thiên tài nhưng vô cùng giản dị, rất gần gũi với cuộc sống của người lao động và đặc biệt hơn, Người còn là một chính khách lỗi lạc, biết kết hợp tài tình nghệ thuật lãnh đạo để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam mau chóng tới đích. Ví dụ, để tránh cuộc chiến tranh với người Pháp và người Mỹ, Hồ Chí Minh đã đưa ra những phương kế diệu kỳ, đúc rút những kinh nghiệm của các dân tộc đi trước, như của người Nga hay của người ấn Độ, vì vậy mà hạn chế được rủi ro thiệt hại. Cũng theo tác giả Giôn Đu-cơ thì Hồ Chí Minh còn mang trong mình một dòng máu dân tộc với tư tưởng nhất quán, trước sau như một, đó là mục tiêu hoá hoà bình, dân tộc, không ỷ lại vào bên ngoài, tất cả đều phải tự lực cánh sinh, biết kết hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, luôn luôn lựa chọn những giải pháp mềm dẻo, kiên trì… điều mà người Pháp và người Mỹ không làm được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, một chiến sỹ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt nam, người kiến tạo ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước CHXHCN Việt Nam, một quốc gia có chủ quyền và hiện nay đang trên đà phát triển, nơi được coi là chế độ chính trị, an ninh ổn định nhất khu vực, bởi vậy ngày nay tên tuổi của Người luôn luôn gắn bó với những chiến công hiển hách của Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức nghèo gốc nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nǎm 1911, Người đã bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam, một trong số những thành viên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp nǎm 1920 và từ đó Người xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với tư cách là một chiến sỹ cách mạng quốc tế.

Sau nhiều nǎm bôn ba ở nước ngoài, đầu thập niên 40, Chủ tịch Hồ Chí Minh quay trở về Việt nam để lãnh đạo cách mạng trong nước, đưa cuộc Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945 tới thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam á và sau đó 9 nǎm lại lập thêm một chiến công hiển hách nữa, chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (1954) chấn động địa cầu, lập lại hoà bình cho Việt Nam thông qua Hiệp định Giơ-ne-vơ. Và, những nǎm tiếp theo Người lại cùng Đảng CSVN lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”. Quyết tâm, mơ ước và sự tiên tri của Người đã trở thành hiện thực bằng Đại thắng Mùa xuân 1975 lịch sử, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội. Giôn Đu-cơ, tác giả cuốn Chủ tịch Hồ Chí Minh là một giáo sư lịch sử tiếng tǎm và uyên bác, ông đã bỏ ra rất nhiều thời gian nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như của đất nước Việt Nam. Ông sinh nǎm 1932 tại vùng Ê-van-xtôn, Bang I-li-noi, Hoa Kỳ, từng làm công tác ngoại giao, có mặt ở Sài gòn những nǎm 60 của thế kỷ trước, sau đó về làm giáo sư giảng dạy tại khoa lịch sử, Đại học Tổng hợp Pen-xi-lơ-va-nia. Để hoàn tất tác phẩm vĩ đại nói trên, Giôn Đu-cơ đã phải bỏ ra hàng chục nǎm trời sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, tiếp xúc với những nhân chứng, nhất là những người đã từng sống gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhờ vào những tài liệu bằng các ngôn ngữ khác nhau. Giôn Đu-cơ đã hoàn tất công trình, trong tác phẩm của mình, có lúc Giôn Đu-cơ đã trân trọng gọi Người bằng cái tên thời niên thiếu: Nguyễn Tất Thành và trích dẫn nhiều câu nói bất hủ của Người để minh hoạ. Chính vì vậy, tác phẩm rất sinh động, được đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu lịch sử đánh giá là một tác phẩm lớn nói về một con người vĩ đại.

Báo Nhà báo và công luận, ngày 24/1/2003
cpv.org.vn

Thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ kiên cường và lỗi lạc của phong trào cách mạng thế giới, phong trào giải phóng dân tộc ở châu á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh.

Chủ tịch Xu-pha-nu-vông (Lào)

Thức tỉnh châu á là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ chúng ta. Ai sẽ là người khởi sự và cái biển người đó sẽ đi đến đâu? Vấn đề này đã không giải quyết được trong những năm hoàng kim của các đế quốc thực dân châu Âu. Thậm chí có thể có người nào đó đã suy nghĩ chín chắn về vấn đề này, nhưng còn ai sẽ đưa hàng triệu quần chúng không có học thức từ chỗ quen sống yên phận, hoặc chỉ phản đối một cách mù quáng đến chỗ giác ngộ về sự nghiệp giải phóng và giành được cuộc sống thật sự của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người sáng tạo ra sự nghiệp phi thường đó.

V. Đơ-tê-rê-ca-rốp (Bun-ga-ri)

Người đã tổ chức nên Đảng, giáo dục Đảng và rèn luyện Đảng trong cuộc đấu tranh. Chính nhờ vậy mà nhân dân Việt Nam đã có được đội tiên phong của mình, một Đảng sáng suốt biết đoàn kết tất cả các lực lượng tiến bộ của nhân dân trong một mặt trận rộng rãi để đưa họ đến thắng lợi.

Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô (Cu-ba)

Đồng chí Hồ Chí Minh đã để lại những công trạng bất hủ trong lịch sử đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam cũng như của các dân tộc bị áp bức ở châu á và trên thế giới.

Nô-xa-ca Xan-dô (Nhật Bản)

Người là một nhà tổ chức cách mạng, một nhà lãnh đạo chính trị, một người đã từng bôn ba ở nước ngoài, một nhà tổ chức quân sự, một nhà văn, một nhà thơ. Rất hiếm có những người tập trung ở mình nhiều đức tính nổi bật đến thế. Nếu như muốn tìm một sự tiêu biểu cho tất cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó là đức tính vô cùng giản dị và sự khiêm tốn phi thường.

Tổng thống X. A-giên-đê (CH Chi-lê)

Đồng chí Hồ Chí Minh kết tinh trong con người mình những đức tính vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Có thể thấy được tầm to lớn của những đức tính ấy ở sự suy sụp của các đế quốc Pháp, Nhật và của đế quốc Mỹ hiện nay, những đế quốc bị tan tác trên con đường đấu tranh của nhân dân Việt Nam cho độc lập và chủ nghĩa xã hội.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ Gớt Hôn

Đồng chí Hồ Chí Minh là tượng trưng cho chủ nghĩa anh hùng vô hạn làm cho Việt Nam trở thành tấm gương đẹp nhất của loài người. Thanh niên, công nhân, trí thức, những anh hùng đã chiến thắng tra tấn và tù đầy, tất cả đều công nhận tấm gương sáng ngời đó: Việt Nam.

R.A-ri-xmen-đi (U-ru-goay)

Đối với thanh niên và sinh viên, cuộc sống và tinh thần phục vụ nhân dân của Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi là tấm gương, là nguồn cổ vũ mãnh liệt trong những cuộc thử thách về chính trị đang chờ họ trong tương lai.

Giôn Gô-lan (Anh)

Chúng ta tưởng nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh không những vì Người đã có những cống hiến vĩ đại như trên đã nói, mà còn vì đạo đức tuyệt vời của Người, và vì ánh sáng mà Người đã tỏa ra khắp nơi. Vị nguyên thủ ấy, nhà lãnh đạo được mọi người tôn kính ấy, người đã làm cho bọn đế quốc phải kinh hồn khiếp vía ấy, chính là một người có đức tính dịu khiêm tốn, chỉ nghĩ đến người khác. Những đức tính tốt đẹp đó của Người đã biến thành một sức mạnh mà ngày nay đang được triển khai trên thế giới.

Gioóc-giơ Mác-se (Pháp)

Hồ Chí Minh, người đem lại ánh sáng. Đó là ý nghĩa về cái tên của Người, đó là vai trò lịch sử của Người đối với nhân dân Việt Nam. Cứ mỗi giai đoạn trong cuộc đời của Người lại tương ứng với một giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam mà đồng chí Hồ Chí Minh là người khởi xướng và là người tổ chức. Đồng thời, trong khi làm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam tiến triển, đồng chí Hồ Chí Minh cũng góp phần vào việc xây dựng những mối quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước khác trên thế giới, để cùng nhau tiến bước trên con đường tương lai, nghĩa là trên con đường của chủ nghĩa xã hội.

Sác-lơ Phuốc-ni-ô (Pháp)

Đồng chí Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương của một lãnh tụ cộng sản, của một nhà cách mạng vĩ đại… Tên tuổi và hình ảnh anh hùng của đồng chí Hồ Chí Minh đã đi vào từng căn nhà, bao trùm lên các đường phố, quảng trường, nhà máy, cánh đồng trên khắp đất nước chúng tôi, lên tất cả những nơi đang đấu tranh chống bất công và bóc lột, vì hòa bình và tự do.

Lui-gi Lông-gô (I-ta-li-a)

Bảo tàng Hồ Chí Minh được xây dựng theo nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tỏ lòng biết ơn và đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu di tích Phủ Chủ tịch, đây là nơi hội tụ tình cảm thiêng liêng của toàn dân ta và bạn bè quốc tế với Người. Trong những ngày tháng 5 lịch sử này, nhân kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2005), Hànộimới xin trích đăng những tình cảm chân thành và xúc động mà bạn bè khắp năm châu khi đến thăm, nghiên cứu và hiểu thêm về cuộc đời của Bác Hồ đã lưu lại tại bảo tàng.

“Chúng tôi có ấn tượng sâu sắc về chuyến tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã có được sự hiểu biết rõ ràng và sâu sắc về lịch sử và cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chúng tôi, lớp người của thế hệ sau chắc chắn có thể học được những bài học quý báu từ sự cống hiến, lòng quyết tâm và tình yêu của Người dành cho dân tộc, đất nước và những con người đang đấu tranh vì tự do và hòa bình trên thế giới”.

Suthichai Youn- Tổng biên tập Tập đoàn Xuất bản quốc gia, Băng Cốc – Thái Lan

“Bác Hồ, Người là tập trung của những phẩm chất cao đẹp, đấu tranh gian khổ, cần cù, tiết kiệm của người Việt Nam, là tập trung của ý chí kiên cường, đoàn kết một lòng; Người đã đoàn kết và lãnh đạo nhân dân Việt Nam, trải qua cuộc đấu tranh gian khổ, trường kỳ, cuối cùng đã chiến thắng kẻ thù xâm lược; Người đã có cống hiến to lớn cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”…

Tôn Hồng Tuyền (Trung Quốc)

“Lịch sử dân tộc không thể tách rời lịch sử của những người đại diện vĩ đại của dân tộc đó. Điều này càng được khẳng định khi tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Một dân tộc cần phải hiểu và trân trọng gìn giữ lịch sử của mình, tôn kính ký ức về những người đã cống hiến cả cuộc đời mình phụng sự Tổ quốc”.

Lô-xép (LB Nga)

“Nhân dân Bra-xin xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn nhân dân Việt Nam và người con vĩ đại của nhân dân Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang nêu gương cho nhân loại.

Chúng tôi tin tưởng rằng, trên cơ sở những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam sẽ giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong xây dựng hòa bình, chủ nghĩa xã hội như đã từng giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam chiến thắng những kẻ áp bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thức dậy trong trái tim các dân tộc toàn thế giới những tình cảm kỳ vọng vào tự do và bác ái giữa các dân tộc. Sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí chúng ta”.

An-đu Rơ-bê-lô – UVBCT BCHTƯ Đảng CS Bra-xin

“Tôi rất vui mừng được đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh và đây là cơ hội hiếm hoi để tôi học hỏi nhiều hơn nữa về Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của một dân tộc vĩ đại, một người có học thức và tầm nhìn rộng lớn. Chính điều này đã giúp Người lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Thời gian tham quan bảo tàng là vô cùng bổ ích và đã làm tăng thêm hiểu biết của tôi về lịch sử văn hóa và tư tưởng trên khắp thế giới thông qua lịch sử và cuộc đời của một lãnh tụ vĩ đại”.

Sahih Abdu Mashamoun – Cựu Đại sứ Xu-đăng tại Việt Nam

“Thật là một dịp tuyệt vời được tham quan và tìm hiểu về cuộc đời và thời đại của Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Tôi thật sự cảm nhận được không khí lịch sử và lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tôi vô cùng xúc động trước những cuộc đấu tranh và sự gian khổ mà nhân dân Việt Nam đã trải qua trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do”.

Graham Kierath -(Ô-xtrây-li-a)

“Bảo tàng Hồ Chí Minh là một biểu tượng quan trọng thể hiện sự tưởng nhớ của nhân dân Việt Nam đối với người anh hùng dân tộc bất tử của mình, đồng thời cũng là một khu triển lãm về cuộc đời mẫu mực của Người.

Đây là một đóng góp quan trọng để bảo tồn lịch sử phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc trên thế giới và của phong trào cộng sản quốc tế, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những biểu tượng cao cả nhất”.

Lu-ít An-đa-ny-a (Pê-ru)

“Tôi thấy Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước, một người giải phóng dân tộc Việt Nam, sau đó mới là một người cộng sản. Thấm nhuần tư tưởng của Lê-nin, Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam bị áp bức và sự bình đẳng của giai cấp”.

Một GS đại học Y khoa ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ

Theo Hà Nội mới, ngày 19/5/2001

Hồ Chí Minh, nhà Trung Quốc học uyên bác

Trong bài “Hồ Chí Minh, nhà Trung Quốc học đương đại vĩ đại nhất của Việt Nam”, nhà ngoại giao công tác nhiều nǎm ở Trung Quốc Dương Danh Dy đã nghiên cứu về Bác, lãnh tụ thiên tài còn là một nhà ngoại giao hiểu biết sâu sắc về Trung Quốc. Bài viết cho thấy tác giả đã thai nghén, ấp ủ đề tài này từ những nǎm tháng Bác còn sống. Nhiều suy tư và kinh nghiệm đọc, kinh nghiệm sống của tác giả đã dồn cho công việc nghiên cứu này.

Nhân kỷ niệm 111 nǎm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc Tế trân trọng giới thiệu một số đoạn trong bài viết rất có giá trị này của tác giả Dương Danh Dy*.

…Chúng ta đều biết, Bác Hồ xuất thân trong một gia đình khoa bảng, ngay từ nhỏ đã được học chữ Hán một cách cơ bản. Trình độ Hán ngữ của Bác chắc chắn đã được bổ sung và nâng cao khi Người quen biết một số nhà hoạt động cách mạng Trung Quốc ở Paris (1917-1923) như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân… (trong đó có cả nhà thơ Trung Quốc Tiêu Tam mà Bác là người giới thiệu vào Đảng Cộng sản Pháp) cũng như trong những lần Người hoạt động và bị bọn Quốc Dân đảng giam giữ ở Trung Quốc: lần thứ nhất từ nǎm 1924-1927 ở Quảng Châu (tôi dự đoán Bác đã nói được tiếng Trung Quốc trong thời gian ở Pháp – vì khi ở Quảng Châu danh nghĩa công khai của Bác là phiên dịch cho cố vấn người Liên Xô, Bôrôđin với Đảng Cộng sản Trung Quốc). Lần thứ hai từ nǎm 1938 đến đầu nǎm 1941, người từ Liên Xô qua Trung Quốc trở về nước. Lần thứ ba từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943, Bác bị bọn phản động Quốc Dân đảng giam giữ tại Quảng Tây.

Sự tinh thông Hán ngữ của Bác thể hiện ở những bài thơ Bác làm bằng chữ Hán mà chúng ta đều biết qua tập “Ngục trung nhật ký” và những bài khác. Những bài thơ làm theo thể Đường luật của Bác hay đến mức mà Quách Mạt Nhược – nhà vǎn hoá lớn của Trung Quốc phải thốt lên, nếu để lẫn với thơ Đường khó phân biệt được (đại ý). Đấy là trình độ viết. Còn trình độ nghe và nói của Bác ra sao. Ta hãy nghe người Trung Quốc đánh giá: “Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng lâu dài ở Trung Quốc, rất tinh thông Hán ngữ. Khi xem vở kịch Truy Ngư, không cần phiên dịch cũng hiểu được tám, chín phần nếu như không muốn nói là tất cả (xin mở ngoặc – đó là một trình độ rất cao). Hồ Chí Minh hiểu rõ vǎn hóa Trung Quốc, ngày 1/8/1959 đến thǎm Bảo tàng Lư Sơn. Khi vào phòng nghỉ thấy trên một chiếc bàn lớn đã để sẵn giấy Tuyên, nghiên mực và mấy chiếc bút lông to nhỏ khác nhau, vừa nhìn Hồ Chí Minh đã biết ngay dụng ý của chủ nhân là muốn mình đề chữ. Vì vậy sau khi Bí thư Đảng uỷ Cục quản lý Lư Sơn đề nghị, Người đã đi đến trước bàn hỏi các đồng chí Trung Quốc: dùng ngón tay viết có được không? Bí thư Đảng uỷ trả lời xin tuỳ Hồ Chủ tịch!

Thế là Hồ Chí Minh nghiêng người về phía trước, nhúng ngón tay vào nghiên mực viết ba chữ Hán rất có lực “Lư Sơn hảo” (Lư Sơn đẹp). Viết xong, Người rửa tay, dùng bút lông đề lạc khoản “tháng 8/1959, Hồ Chí Minh”. Bức đề chữ này được treo ở phòng trưng bày của Bảo tàng Lư Sơn.

*

…Tháng 8/1960, Hồ Chí Minh đến Trung Quốc, lúc này bất đồng Trung – Xô đã công khai bộc lộ, Mao Trạch Đông sau khi trình bày với Hồ Chí Minh những nguyên nhân gây nên bất đồng đã biểu thị sẽ dùng phương thức “đoàn kết – phê bình – đoàn kết” để đối xử với Liên Xô. Hồ Chí Minh đồng ý nguyên tắc đó nhưng cho rằng “phương pháp mà các đồng chí Trung Quốc sử dụng có lúc dường như không hiểu lắm tính cách cá nhân đồng chí phương Tây cho nên hiệu quả không tốt”.

– Nói rất đúng, chúng tôi cũng phải chú ý phương thức phê bình. Mao Trạch Đông nói.

Để trình bày rõ hơn nữa quan điểm của mình, Hồ Chí Minh đã thuận tay cầm lấy bao thuốc lá giơ lên trước mặt nói: “Lấy việc mời người hút thuốc lá làm ví dụ, cầm cả bao thuốc mời người ta, người ta sẽ vui lòng nhận ngay; còn nếu quǎng điếu thuốc lá lên bàn nói “hút thuốc đi”, sẽ có người không vừa ý”. Vừa nói Hồ Chí Minh vừa quǎng thuốc lá lên bàn, rồi nói tiếp: “Sự thực không hẳn như vậy, nhưng tập quán cá nhân có khác nhau. Người phương Tây nói chung không thích phương thức mời sau. Nguyên tắc phê bình là đã biết thì nói, đã nói thì nói hết. Thế nhưng phương thức nói làm người ta không thích thì hiệu quả không tốt”.

Mao Trạch Đông gật đầu, tán thành cách nói của Hồ Chí Minh: “Phải dùng ngôn ngữ khoa học, giống như Mác, Ǎnghen, Lênin đã phê bình. Không thô bạo, phê bình phải chuẩn xác, rõ ràng, sinh động!

– Phải thêm tình đồng chí. Hồ Chí Minh bổ sung.

*

…Còn có thể nêu nhiều dẫn chứng, cho thấy sự am hiểu sâu sắc vǎn hóa Trung Quốc của Hồ Chí Minh, ở đây xin phép nêu một nhận định: Bác không những hiểu biết sâu sắc mà còn vận dụng một cách sáng tạo, dân tộc hoá những câu nói – ý nghĩ hay của Trung Quốc cổ đại vào hoàn cảnh Việt Nam đương đại:

Phải thẳng thắn nói rằng một số câu nói của Bác, mà hiện nay chúng ta thường nhắc, như:

– “Vì lợi ích mười nǎm trồng cây; vì lợi ích trǎm nǎm trồng người” bắt nguồn từ câu: “Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc; bách niên chi kế, mạc như thụ nhân” trong “Quản tử – Quyền tu”.

– “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”, bắt nguồn từ câu: “Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân” trong “Luận Ngữ” hoặc dịch câu thơ của Lỗ Tấn: “Hoàn mi lãnh đối thiên phu chỉ, phủ thủ cam vi nhụ tử ngưu” thành: “Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ, cúi đầu làm ngựa đứa nhi đồng” trong dịp Đảng Lao động Việt Nam công khai ra mắt. v.v…

Tôi cảm thấy: không những Bác am hiểu sâu sắc vǎn hóa Trung Quốc mà trong tâm hồn Người dường như có một chỗ rất sâu kín, rất trân trọng, rất tình cảm dành cho nền vǎn hóa đó, đến nỗi nó đi vào Di chúc của Bác một cách hết sức tự nhiên. “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” (người bảy mươi tuổi xưa nay hiếm) Bác trích và dịch thơ Đỗ Phủ và tự hào rằng mình đã vượt xa cái ngưỡng tuổi đó (nhưng có lẽ chính là để an ủi con cháu trước khi Người đi xa).

*

…Để kết thúc bài viết này, tôi muốn kể lại hai mẩu chuyện nữa về nhà Trung Quốc học – Hồ Chí Minh của chúng ta:

– Nǎm 1956, Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô – Vôrôxilôp sang thǎm nước ta, cùng đi trong đoàn có Fêđôtôp, Thứ trưởng Ngoại giao – nhà Trung Quốc học, nhà vǎn của Liên Xô. Trong dịp đó, Bác đã đến thǎm nơi ở của Chủ tịch Vôrôxilôp. Để đáp lễ, Chủ tịch Vôrôxilôp đề nghị tới thǎm nơi ở của Bác, nhưng Bác từ chối (lúc đó Bác đang ở trong cǎn phòng của người thợ sửa chữa điện của Phủ Toàn quyền cũ). Chủ tịch Vôrôxilôp giao nhiệm vụ phải đến thǎm nơi ở của đồng chí Hồ Chí Minh cho ông Fêđôtôp. Biết Bác là người tinh thông Hán học, ông này khi đề cập đến chuyện đó đã dùng câu trong kinh Lễ viết mấy dòng: “Lễ thượng vãng lai, hữu vãng vô lai, phi lễ dã” (lễ là có đi có lại, có đi không có lại, không phải là lễ). Đọc xong, Bác đồng ý để Chủ tịch Vôrôxilôp đến nơi ở của mình.

Giữa nǎm 1964, đồng chí Bành Chân – Uỷ viên Bộ Chính trị kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc thǎm Việt Nam. Lúc này quan hệ Xô – Trung rất cǎng thẳng, do thái độ đúng đắn của Đảng ta, đó đây có dư luận cho rằng Việt Nam ngả theo xét lại. Biết được điều đó, khi tiễn đồng chí Bành Chân, Bác đã đọc hai câu thơ Đường của Vương Xương Linh:

Bắc Kinh thân hữu như tương vấn,

Nhất phiến bǎng tâm tại ngọc hồ.

(Nghĩa là: Bạn thân Bắc Kinh nếu có lời hỏi thǎm, (thì thưa hộ rằng tôi) vẫn giữ một tấm lòng trong trắng như bǎng trong bình ngọc) để nói lên sự trung thành tuyệt đối của Đảng ta – của Bác – đối với chủ nghĩa Mác Lênin.

Cái hay cái tài của Bác ở đây là, Bác chỉ đổi hai chữ Lạc Dương trong nguyên vǎn thành hai chữ Bắc Kinh, là đã nói được đầy đủ cái ý định nói. Nên nhớ, hai câu thơ, hoặc cả bài thơ tứ tuyệt đó rất được phổ biến ở Trung Quốc, câu thơ đó của Bác có tác động rất lớn lúc bấy giờ.

Bắc Kinh – Hà Nội 3/9/1969-19/5/2001

Nguồn: Báo Quốc tế, ngày 16/5/2001
cpv.org.vn

Hồ Chí Minh, một cuộc đời

Tại Mỹ vừa xuất bản cuốn sách nhan đề Hồ Chí Minh, một cuốn tiểu sử dày 704 trang, được giới Việt Nam học và người đọc khen ngợi, đánh giá cao. Tác giả là William J. Duiker, một học giả hàng đầu về cuộc đời Hồ Chí Minh. Ông đã dành gần 30 nǎm để nghiên cứu viết nên cuốn sách này, với lời đề tặng: Kính tặng nhân dân Việt Nam.

>> Ho Chi Minh: A Life

Tôi bắt đầu say mê Hồ Chí Minh từ giữa những nǎm 1960 khi đang là một sĩ quan trẻ làm việc tại đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, tôi lấy làm khó hiểu trước việc các du kích Việt cộng chiến đấu trong rừng rậm tỏ ra có kỷ luật và động cơ cao hơn đội quân đồng minh. Khi thử tìm hiểu vấn đề, tôi được giải thích rằng đó là do vai trò của nhà khởi xướng và nhà chiến lược bậc thầy cách mạng Việt Nam – ông Hồ Chí Minh. Sau khi thôi phục vụ chính quyền Mỹ để theo đuổi sự nghiệp khoa học, tôi có ý định viết một cuốn tiểu sử về nhân vật hết sức phong phú này.

Hiện nay, hơn ba thập niên sau khi ông qua đời, Hồ Chí Minh vẫn được tôn kính ở Việt Nam. Đối với nhân dân Việt Nam, hình ảnh ông vẫn là thiêng liêng. Sự nghiệp mà ông khởi xướng và lãnh đạo đã tạo thành một thời điểm quyết định của thế kỷ 20, thể hiện đỉnh cao của kỷ nguyên giải phóng dân tộc trong Thế giới thứ ba và sự ghi nhận đầu tiên về những giới hạn trong chính sách ngǎn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ.

Là thành viên của phong trào cộng sản quốc tế, kiến trúc sư của thắng lợi cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh hẳn nhiên là một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20. Ông có một tính cách lãnh đạo riêng bằng thuyết phục và đồng tâm hơn là áp đặt ý chí quyền lực của mình cho người khác. Khác với những nhân vật cách mạng nổi tiếng khác, Hồ Chí Minh ít quan tâm tới hệ tư tưởng và các cuộc tranh luận ý thức mà tập trung toàn bộ suy nghĩ và hoạt động của mình vào các công việc thực tế nhằm giải phóng đất nước mình và các dân tộc thuộc địa khác thoát khỏi chủ nghĩa đế quốc phương Tây.

Thật khó hình dung cuộc cách mạng Việt Nam mà thiếu sự tham gia tích cực của Hồ Chí Minh. Ông Hồ không chỉ là người sáng lập Đảng và về sau là Chủ tịch nước, ông còn là nhà chiến lược chính và là biểu tượng có sức cổ vũ nhất của đất nước ông. Là nhà tổ chức tài ba, nhà chiến lược sắc sảo và nhà lãnh đạo có sức thuyết phục, con người Hồ Chí Minh một nửa là Lênin, một nửa là Gandhi. Đó là một sự kết hợp nǎng động. Trong khi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là một thực tế không tránh khỏi, vượt qua số phận của những cá nhân con người riêng lẻ nhưng nếu thiếu đi sự hiện diện của ông chắc nó đã diễn ra khác với những hậu quả khác.

Hồ Chí Minh, như vậy, là người tạo sự kiện (theo cách nói của nhà triết học Mỹ Sidney Hook), là đứa con của bước ngoặt, người kết hợp được trong cá nhân mình hai sức mạnh trung tâm của lịch sử Việt Nam hiện đại: khát vọng độc lập dân tộc và đòi hỏi công bằng xã hội và kinh tế. Do các sức mạnh này vượt ra ngoài biên giới nước mình, ông Hồ đã có thể truyền thông điệp của ông đến các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới và nói lên yêu cầu chung của họ về nhân phẩm và tự do thoát khỏi ách áp bức đế quốc. Ông đã có một vị trí trong ngôi đền các danh nhân cách mạng, những người đấu tranh kiên cường để đưa lại cho những người cùng khổ trên toàn thế giới tiếng nói trung thực của họ.

Báo Tuổi trẻ
cpv.org.vn

Lần đầu gặp gỡ Hồ Chủ Tịch

Nguyễn Yên
(Sưu tầm và dịch)

Theo hồi ký của Raymond Aubrac (NXB Odile Jacob 1996)

Raymond Aubrac, một nhân vật lớn của cuộc kháng chiến chống Đức 1940. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, ông giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng lại nước Pháp và tham gia điều hành công việc của LHQ. Đặc biệt, ông trở thành bạn của Bác Hồ từ 1946, từng làm trung gian giữa Pháp và Việt Nam trong những cuộc thương lượng bí mật thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam.

Không hiểu tại sao, ngày 27/7/1946, tôi lại chấp thuận lời mời của người Việt Nam. Cuộc chiêu đãi người ta mời tôi là để đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Paris theo lời mời của Chính phủ Pháp trong khi đang diễn ra cuộc đàm phán khó khăn ở Fontainebleau.

Nói về Việt Nam, tôi quả thật không biết gì hơn đồng bào chúng tôi. Chúng tôi so sánh cuộc chiếm đóng thuộc địa như thời kỳ chúng tôi bị người Đức chiếm lĩnh.

Ngày 6/3/1946, nước Pháp ký hiệp ước công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Jean Sainteny, đại diện Chính phủ Pháp lúc ấy biết rõ rằng: đó là để đạt được sự quay lại Bắc kỳ của quân đội Pháp thay thế quân Trung Hoa rút đi. Cuộc đàm phán ở Fontainebleau phải xem xét nhiều vấn đề đang còn bỏ lửng. Cùng lúc đó, đô đốc D’ Argenlieu tiến hành ở Đà Lạt một cuộc thương thuyết khác nhằm giải quyết vận mệnh Đông Dương.

Được mới đến Pháp, Hồ Chủ tịch không tham gia phái đoàn ở Fontainebleau do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Đó là tất cả những gì tôi được biết về quan hệ Pháp- Việt khi một người trong ban tổ chức giới thiệu tôi với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đi qua đám đông, người ta dẫn tôi về phía con người nhỏ nhắn tươi cười với chòm râu và đôi mắt tinh anh. Ông cụ cầm tay tôi tách khỏi đám đông bao quanh và nói:

– Ông Aubrac, tôi đã biết những việc ông làm cách đây 2 năm ở Marseille đối với đồng bào tôi. Tôi xin cảm ơn ông!

Khi chiến tranh bùng nổ năm 1939, người ta đưa đến đây hàng ngàn lao động Đông Dương để thay thế công nhân Pháp bị động viên. Sau thất trận 1940, những ngươi đó bị tập trung trong các trại để sống qua những năm tháng bị người Đức chiếm đóng. Với tư cách ủy viên Chính phủ, tôi biết họ đang ở trong tình trạng hết sức tồi tệ. Khi công việc còn được giải quyết nhanh chóng, quyết định của tôi đã được áp dụng ngay. Ban chỉ huy cũ bị gạt ra và thay vào bằng những người trung thực. Tôi để người lao động bầu đại diện của mình vào một ủy ban thay mặt họ bên cạnh ban chỉ huy trại. Nói tóm lại, tôi gắng làm những gì có thể làm được.

Từ đấy, những người lao động Đông Dương- mà nhóm có tổ chức nhất là những người Việt Nam đã tỏ thái độ biết ơn tôi. Chúng tôi nhận được một hộp kẹo sôcôla vào ngày đầu năm, được mới đến dự Tết và ăn bữa ăn Việt Nam. Lần này, việc mời tôi đến Bagatelle không hẳn là điều bất ngờ.

Khoác tay nhau trên con đường nhỏ ở Bagatelle cùng với con người mà trang đầu của báo chí đang đưa lên thành nhân vật chính của thời sự, tôi không biết nói gì với ông.

– Thưa Chủ tịch, ngài có thích Paris không?

– Tất nhiên và tôi biết từ nhiều năm trươc, nhất là khu phố Latinh.

– Chỗ Ngài ở có tốt không?

– Chính phủ ông đã thuê cho tôi một tầng của tòa dinh thự trong khu phố Khải Hoàn Môn nhưng tôi thấy không hợp. Tôi thấy thiếu một mảnh vườn.

– Tôi rất vui lòng chỉ cho Ngài xem ngôi nhà của tôi. Nhưng, tôi ở khá xa, tận ngoại ô, ở Soisy-sous Montmonrency phía Bắc Paris.

– Vậy thì ông Aubrac, tôi rất vui lòng đến thăm vườn của ông. Nếu không phiền thì tôi sẽ đến vào thứ ba tới để uống trà, cùng đi còn 2 người bạn tôi.

Chiều hôm đó, tôi báo cho Lucie, vợ tôi, biết cuộc viếng thăm của người khách nổi tiếng này.

Vào đúng ngày giờ đã hẹn, vị Chủ tịch đã đến cùng đoàn mô tô hộ tống của Sở Cảnh sát đô thành.

Bàn ăn được dọn trước trong nhà, sân nối tiếp với khu vườn không lấy gì làm rộng rãi cho lắm. Bà mẹ của Lucie cũng có mặt, bà giúp chúng tôi vì vợ tôi sắp sinh cháu. Cháu Jean Pierre 5 tuổi đã đi học về. Cháu bé Catherine đang ngủ hay chơi đâu đó ngoài vườn.

– Đúng là một khung cảnh gia đình êm ấm, nhà ông ở lớn thật. Những ai sống ở đây?

– Những người mà Ngài thấy ở đây và một cô trông trẻ.

Tôi dẫn khách đi thăm nhà cửa.

Ngôi nhà gồm 3 tầng. Sau khi thăm khắp nhà một lượt, cụ Hồ Chí Minh kết thúc cuộc viếng thăm bằng một nhận xét ngắn như là nhân dịp nói qua:

– Tầng hai của ông không có ai ở. Tôi rất thích khu vườn. Nếu tôi được ở đây thì hơn là sống trong dinh thự chính phủ ông dành cho tôi.

Tính lịch thiệp, sự quan tâm và cả tình cảm mà con người đó biểu lộ đã khiến tôi lập tức đề nghị ông đến ở cùng gia đình. Thế là đã mở ra- có thể nói là một chương mới trong cuộc đời tôi. Hay nói đúng hơn là khởi đầu cho một loạt sự kiện trải dài trong hơn 40 năm sau và đến nay, vẫn tiếp tục khi tôi viết lại hồi ức này.

Việc ông Hồ Chí Minh đến nhà tôi không phải là chuyện ngẫu nhiên. Chắc chắn là có những quan hệ đã được những người Việt phác họa.

Không phải là đảng viên cộng sản, Lucie và tôi, vẫn được coi là những người cảm tình- cái mà người ta kêu là những người bạn đường- ở đây có sự tiếp nối thái độ dấn thân liên tục của chúng tôi.

Cuộc sống chung của chúng tôi với Bác Hồ được tổ chức không mấy khó khăn. Con người có tính cách đặc biệt đó, ngoài những đức tính thiên phú còn có ngay những mối quan hệ đơn giản nhất với tất cả những người đối thoại cho dù là bộ trưởng hay nông dân. Chỉ trong chốc lát, ai cũng thấy thoải mái. Không bao giờ Người giữ khoảng cách mà thường Người tự biết làm ra vẻ là nhà lãnh đạo sống ẩn mình.

Người bạn thân nhất của ông trong 6 tuần lễ ở nhà tôi có lẽ là bà mẹ vợ tôi. Một bà nông dân vùng Bourgogne, một người có lối diễn tả bộc trực và óc thông minh sâu sắc. Bác Hồ thường gợi chuyện cho bà kể về công việc, những thói quen, những định kiến của người trồng nho chúng tôi. Ông cũng trao đổi về những người nông dân nước mình.

Mỗi buổi sáng, người ta đem đến tất cả các báo Pháp, Anh, Mỹ, Nga và Bác Hồ không có gì thích hơn là được đọc báo. Bác đọc lướt qua tất cả ngồi xổm trên bãi cỏ giữa vườn.

Nhiều lần trong tuần, Người đi thăm người hàng xóm trong làng và trở về với nhiều hoa ôm ở trên tay.

Trong ngày, nếu không đi gặp những người đối thoại ở Paris thì Người tiếp khách tại nhà. Những nhà đàm phán Fontainebleau hầu như đến gặp ông hàng ngày. Buổi chiều, Người đề nghị chúng tôi mời ăn tối những nhân vật khác nhau: các chính khách cánh hữu, cánh tả, các nhà văn, nhà báo.

Việc chợ búa và nấu ăn là một gánh nặng đối với Lucie, bà mẹ vợ và chị giúp việc. Sau mấy ngày đắn đo- với sự ngần ngại mà tôi được hưởng của nền giáo dục tư sản- Bác Hồ đề nghị đưa một ngươi bạn cũ đến giúp việc cả ngày. Đó là một đầu bếp số một đang có quán ăn ở khu phố Latinh. Vậy là bố già Ti đã chiếm lĩnh hoàn toàn nhà bếp, hầm rượu và một nhà phụ. Nhà tôi biến thành một bếp ăn Việt Nam. Là người thành thạo, luôn tươi cười đon đả, ông Ti quả là một chuyên gia lớn.

Cuối tháng 7, nhân dịp sinh nhật tôi, Bác Hồ tặng tôi một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm vẽ. Bức tranh một bà mẹ trong sáng với bàn tay và những ngón tay nhỏ thon ve vuốt đứa con của mình.

Hai ba ngày sau khi cháu Elisabeth chào đời, các cô y tá ở nhà hộ sinh Port Royal thấy một vị khách khác thường đến thăm cháu. Họ nhận ra ngay ông cụ vì hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đưa tin hàng ngày khắp các báo. Bác Hồ bế cháu trên tay và trước khi đặt xuống nôi đã quyết định nhận làm cha đỡ đầu cho bé. Từ ngày đó đã xảy ra một nghi thức đặc biệt cứ mỗi lần sinh nhật cháu, “người cha đỡ đầu” đều tìm cách gửi quà cho cháu cho dù xa xôi cách trở nghìn trùng và Người đang bận với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Khi cuộc đàm phán Fontainebleau kết thúc, Bác Hồ để phái đoàn về nước, Người ở lại một thời gian để ký với Marins Moutet một văn bản không mấy rõ ràng gọi là Tạm ước, đặt cơ sở để tiến tới một hiệp nghị hòng cứu vãn hòa bình.

Hồi năm 1952, tôi thường đến Praha (Tiệp Khắc). Những buổi gặp gỡ các bạn Việt Nam và nói về cuộc chiến tranh vô tận mà hai nước phải chịu đựng.

Trong những năm chiến tranh đó hai lần người ta yêu cầu tôi đi Việt Nam để gặp người bạn Hồ Chí Minh của tôi (Những yêu cầu đó xuất phát từ Vicent Auriol – Tổng thống – René Mayer- Chủ tịch Quốc hội). Tôi đã từ chối vì biết rằng họ không có gì đưa ra, chẳng qua chỉ là cái cớ cho các chính khách dựa vào đó tiếp tục chiến tranh.

Báo Công luận, ngày 18-24/5/2001
cpv.org.vn

Một lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sevgei Somov
Nguyễn Huy Hoàng dịch

Những năm 1960, khi tôi công tác ở Việt Nam, tôi có nhiều dịp gặp gỡ các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam và đặc biệt là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tôi có một Album ảnh về họ.

Giữa nhiều những bức ảnh, có một bức đã trở thành kỷ vật quý giá của tôi, đó là bức ảnh các phi công Liên Xô chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có lần, những đứa cháu tôi rón rén đến ngắm bức ảnh, chúng hỏi tại sao tôi lại được đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại sao chung quanh Người không có đội bảo vệ? Tôi nói với bọn trẻ rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, là lãnh tụ, là người thầy của dân tộc Việt Nam, Người không cần có vệ sĩ riêng, bởi ai cũng yêu quý, kính trọng Người, tất cả mọi người dân Việt Nam đều bảo vệ Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thông thái, nhìn xa trông rộng, mà còn là một con người nhân hậu và khiêm tốn, là Con Người viết hoa. Có thể đưa ra hai thí dụ. Chủ tịch hoàn toàn có điều kiện sống và làm việc trong một tòa nhà lớn, nhưng Người lại thích sống và làm việc trong một ngôi nhà sàn nhỏ, có hoa bao quanh và tự tay Người chăm sóc. Một lẵng hoa hồng luôn luôn được đặt trong phòng làm việc và bất cứ ai được Người tiếp, sau khi chia tay đều được Người tặng một bông hồng như biểu tượng của cái đẹp và lòng hiếu khách.

Một thí dụ khác. Năm 1963, Quốc hội Việt Nam quyết định trao tặng Người huân chương “Sao vàng” cao quý, nhưng Người từ chối phần thưởng, nói rằng vì lúc đó đất nước vẫn còn chưa thống nhất, tạm thời chia làm hai miền.

Tôi là người rất đỗi hạnh phúc, bởi số phận đã ban cho tôi một cơ hội không chỉ được nghe lời Người chúc Tết qua đài nhân dịp Tết âm lịch năm 1961, mà còn được gặp gỡ, nói chuyện với Người. Sau đây là câu chuyện ấy.

Vào mồng một Tết hằng năm, ở miền bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đến thăm các bạn chiến đấu trong Đảng, những đồng chí đã cùng Người trải qua con đường gian khổ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vì độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Tết năm ấy, khi mọi người tiến hành công việc chuẩn bị cho chuyến công tác của Người lên phía bắc thì một chỉ thị được ban ra: chiếc máy bay trực thăng từng chở Người đã đến lúc sửa chữa định kỳ và phải hoàn thành trước ngày bay. Lãnh đạo không quân Việt Nam yêu cầu phải hoàn tất công việc để chuyến bay được thực hiện theo kế hoạch đã định.

Sáng sớm ngày Chủ tịch lên đường đi công tác, tổ lái đã có mặt ở sân bay Gia Lâm. Chúng tôi cùng vị Tư lệnh Không quân Việt Nam nóng lòng chờ Người đến. Bất chợt, tôi thấy phía trước đường băng một chiếc xe con Liên Xô “Pôbêđa” lao tới. Tôi ngoảnh về đồng chí Tư lệnh nói: “Anh cho tập hợp lại kẻo anh em phân tán, để đón Chủ tịch”. Đồng chí tư lệnh quan sát phía trước và nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tới”.

Cả nhóm kỹ sư và đội bay đứng chờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra khỏi xe hơi. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa lần nào được gặp Người, nhưng tôi biết khá rõ về cuộc đời hoạt động đầy gian truân của Người. Vì vậy, trong hình dung của tôi, tôi sẽ được gặp một người khỏe mạnh, phong trần, cao lớn như một chiến binh. Đại loại, vóc dáng của Hồ Chí Minh phải là như vậy. Nhưng thật ngạc nhiên khi từ trong xe bước ra là một người tầm thước với mái tóc gọn gàng đốm bạc, khuôn mặt điểm bộ ria cắt ngắn và một chòm râu bạc. Chủ tịch mặc bộ ka-ki trắng giản dị, đi đôi dép bình thường.

Người mỉm cười như đã quen biết chúng tôi từ lâu, đôi mắt hơi nheo ngời lên tia sáng ấm áp và nhân hậu rất đặc trưng ở Người Việt Nam. Hồ Chí Minh chính là con người tôi vẫn gặp hằng ngày trên đường phố Hà Nội và trên những cánh đồng lúa Việt Nam. Tôi báo cáo với Người: Chuyến bay đã sẵn sàng, còn Người ngoái về phía tôi hỏi bằng tiếng Nga rành rọt: “Chú là quân nhân à?”. Tôi trả lời: “Vâng ạ”. Tôi biết Người nói được nhiều ngoại ngữ, nhưng quả thật tôi khó hình dung ra Người nói tiếng Nga trong sáng đến như vậy. Về sau này tôi biết được rằng, lần đầu tiên Người đến Liên Xô vào mùa hè năm 1923 để học trường Đại học Quốc tế Phương Đông. Ngày 27-1-1924, trong bộ quần áo mỏng, giữa mùa đông nước Nga giá buốt, Người đã xếp hàng suốt ngày ở lối đi vào phòng khánh tiết Nhà Công đoàn để được vĩnh biệt Lê-nin…

Ngày hôm đó, chúng tôi không rời khỏi sân bay mà ở lại chờ Người quay trở về. Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi máy bay, chúng tôi lập tức đến đứng quanh Người. Tôi bước đến gần Người và đề nghị chụp ảnh kỷ niệm với các phi công Liên Xô. Và thế là chúng tôi có một bức ảnh trở thành báu vật của gia đình như thế.

Để kết thúc câu chuyện xúc động, khó quên này tôi không thể không kể thêm một chi tiết về vẻ đẹp của tâm hồn một con người thực sự vĩ đại. Khi hoa tiêu A.Xuốcnốp, bạn tôi, vừa chụp xong thì chúng tôi vội tản ra, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngăn lại. Người nói: Các chú đứng lại đã, chú chụp ảnh không có mặt trong ảnh. Một chú khác ra chụp lần nữa. Và khi đó Xuốcnốp được đứng bên cạnh Người, còn các phi công khác được chụp lần thứ hai. Trong ảnh tôi đứng bên phải Người, trong bộ áo mầu sáng.

Văn nghệ quân đội
cpv.org.vn

Một lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sevgei Somov
Nguyễn Huy Hoàng dịch

Những năm 1960, khi tôi công tác ở Việt Nam, tôi có nhiều dịp gặp gỡ các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam và đặc biệt là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tôi có một Album ảnh về họ.

Giữa nhiều những bức ảnh, có một bức đã trở thành kỷ vật quý giá của tôi, đó là bức ảnh các phi công Liên Xô chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có lần, những đứa cháu tôi rón rén đến ngắm bức ảnh, chúng hỏi tại sao tôi lại được đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại sao chung quanh Người không có đội bảo vệ? Tôi nói với bọn trẻ rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, là lãnh tụ, là người thầy của dân tộc Việt Nam, Người không cần có vệ sĩ riêng, bởi ai cũng yêu quý, kính trọng Người, tất cả mọi người dân Việt Nam đều bảo vệ Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thông thái, nhìn xa trông rộng, mà còn là một con người nhân hậu và khiêm tốn, là Con Người viết hoa. Có thể đưa ra hai thí dụ. Chủ tịch hoàn toàn có điều kiện sống và làm việc trong một tòa nhà lớn, nhưng Người lại thích sống và làm việc trong một ngôi nhà sàn nhỏ, có hoa bao quanh và tự tay Người chăm sóc. Một lẵng hoa hồng luôn luôn được đặt trong phòng làm việc và bất cứ ai được Người tiếp, sau khi chia tay đều được Người tặng một bông hồng như biểu tượng của cái đẹp và lòng hiếu khách.

Một thí dụ khác. Năm 1963, Quốc hội Việt Nam quyết định trao tặng Người huân chương “Sao vàng” cao quý, nhưng Người từ chối phần thưởng, nói rằng vì lúc đó đất nước vẫn còn chưa thống nhất, tạm thời chia làm hai miền.

Tôi là người rất đỗi hạnh phúc, bởi số phận đã ban cho tôi một cơ hội không chỉ được nghe lời Người chúc Tết qua đài nhân dịp Tết âm lịch năm 1961, mà còn được gặp gỡ, nói chuyện với Người. Sau đây là câu chuyện ấy.

Vào mồng một Tết hằng năm, ở miền bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đến thăm các bạn chiến đấu trong Đảng, những đồng chí đã cùng Người trải qua con đường gian khổ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vì độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Tết năm ấy, khi mọi người tiến hành công việc chuẩn bị cho chuyến công tác của Người lên phía bắc thì một chỉ thị được ban ra: chiếc máy bay trực thăng từng chở Người đã đến lúc sửa chữa định kỳ và phải hoàn thành trước ngày bay. Lãnh đạo không quân Việt Nam yêu cầu phải hoàn tất công việc để chuyến bay được thực hiện theo kế hoạch đã định.

Sáng sớm ngày Chủ tịch lên đường đi công tác, tổ lái đã có mặt ở sân bay Gia Lâm. Chúng tôi cùng vị Tư lệnh Không quân Việt Nam nóng lòng chờ Người đến. Bất chợt, tôi thấy phía trước đường băng một chiếc xe con Liên Xô “Pôbêđa” lao tới. Tôi ngoảnh về đồng chí Tư lệnh nói: “Anh cho tập hợp lại kẻo anh em phân tán, để đón Chủ tịch”. Đồng chí tư lệnh quan sát phía trước và nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tới”.

Cả nhóm kỹ sư và đội bay đứng chờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra khỏi xe hơi. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa lần nào được gặp Người, nhưng tôi biết khá rõ về cuộc đời hoạt động đầy gian truân của Người. Vì vậy, trong hình dung của tôi, tôi sẽ được gặp một người khỏe mạnh, phong trần, cao lớn như một chiến binh. Đại loại, vóc dáng của Hồ Chí Minh phải là như vậy. Nhưng thật ngạc nhiên khi từ trong xe bước ra là một người tầm thước với mái tóc gọn gàng đốm bạc, khuôn mặt điểm bộ ria cắt ngắn và một chòm râu bạc. Chủ tịch mặc bộ ka-ki trắng giản dị, đi đôi dép bình thường.

Người mỉm cười như đã quen biết chúng tôi từ lâu, đôi mắt hơi nheo ngời lên tia sáng ấm áp và nhân hậu rất đặc trưng ở Người Việt Nam. Hồ Chí Minh chính là con người tôi vẫn gặp hằng ngày trên đường phố Hà Nội và trên những cánh đồng lúa Việt Nam. Tôi báo cáo với Người: Chuyến bay đã sẵn sàng, còn Người ngoái về phía tôi hỏi bằng tiếng Nga rành rọt: “Chú là quân nhân à?”. Tôi trả lời: “Vâng ạ”. Tôi biết Người nói được nhiều ngoại ngữ, nhưng quả thật tôi khó hình dung ra Người nói tiếng Nga trong sáng đến như vậy. Về sau này tôi biết được rằng, lần đầu tiên Người đến Liên Xô vào mùa hè năm 1923 để học trường Đại học Quốc tế Phương Đông. Ngày 27-1-1924, trong bộ quần áo mỏng, giữa mùa đông nước Nga giá buốt, Người đã xếp hàng suốt ngày ở lối đi vào phòng khánh tiết Nhà Công đoàn để được vĩnh biệt Lê-nin…

Ngày hôm đó, chúng tôi không rời khỏi sân bay mà ở lại chờ Người quay trở về. Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi máy bay, chúng tôi lập tức đến đứng quanh Người. Tôi bước đến gần Người và đề nghị chụp ảnh kỷ niệm với các phi công Liên Xô. Và thế là chúng tôi có một bức ảnh trở thành báu vật của gia đình như thế.

Để kết thúc câu chuyện xúc động, khó quên này tôi không thể không kể thêm một chi tiết về vẻ đẹp của tâm hồn một con người thực sự vĩ đại. Khi hoa tiêu A.Xuốcnốp, bạn tôi, vừa chụp xong thì chúng tôi vội tản ra, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngăn lại. Người nói: Các chú đứng lại đã, chú chụp ảnh không có mặt trong ảnh. Một chú khác ra chụp lần nữa. Và khi đó Xuốcnốp được đứng bên cạnh Người, còn các phi công khác được chụp lần thứ hai. Trong ảnh tôi đứng bên phải Người, trong bộ áo mầu sáng.

Văn nghệ quân đội
cpv.org.vn

Người châu Phi rước chân dung Bác Hồ

Thủ đô Bradavin của nước Cộng hoà Nhân dân Công Gô (nay là Cộng – hoà Công Gô) tuy nhỏ, nhưng đẹp và rất trật tự. Vào những năm 1988 đến năm 1992, nơi đây thường diễn ra các cuộc Hội nghị, Hội thảo, các cuộc gặp gỡ quốc tế của các nước á, Phi và Mỹ La tinh. Khi chúng tôi, những người Việt Nam làm việc ở Bradavin có dịp tiếp xúc với các bạn ấy, họ thường hỏi thăm về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về anh Nguyễn Văn Trỗi…

Năm 1988, bạn tổ chức ngày Lễ Quốc tế Lao động (1-5) rất long trọng, có diễu hành lớn qua Quảng trường Marien N’gouabi (tên vị Tống thống đầu tiên của CHND Công Gô) và các đường phố lớn ở Thủ đô Bradavin. Công việc chuẩn bị tiến hành từ giữa tháng 4-1988 khi ấy tôi làm việc tại Bộ Giáo dục Công Gô với tư cách chuyên gia Hội hoạ; Bộ này tham gia diễu hành ngày Quốc tế Lao động bằng đội ngũ các thấy, cô giáo dạy giỏi và đội ngũ các học sinh xuất sắc mang các biểu ngữ, panô trình bày thành tích giáo dục. Tôi được mời đến gặp Bà Bernadette Bayol, Bộ trưởng Bộ Giáo dục.

Bà Bayol yêu cầu tôi vẽ 2 bức chân dung cỡ lớn để đi diễu hành ngày 1 tháng 5: một là vẽ cố Tổng thống Marien N’gouABI, phía dưới kẻ dòng chữ “Trường học thoải mái” tiếng Pháp: “Ecole àgréablel” đó là phương châm của Cố Tổng thống đề ra cho ngành Giáo dục, ý nói: “Học hành phải vui vẻ thoải mái mới đạt kết quả cao”, hai là vẽ chân dung đương kim Tổng thống: Đại tá Denis Sassou N’guesso, phía dưới kẻ dòng chữ “Môi trường học là một cánh đồng” – “Chaque Ecole, un Champ” ý Tổng thống nói: “Dạy và học đều phải tích cực, cần mẫn như công việc đồng áng”. Chân dung 2 vị Tổng thống đều có kẻ khẩu hiệu ở phía dưới bằng tiếng Pháp vì nước Công Gô nói tiếng Pháp.

Tôi vui vẻ nhận vẽ hai bức chân dung nói trên và nói với Bà Bộ trưởng và các vị trợ lý rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh có lời dạy bảo rất hay. Các bạn Công Gô hỏi: “Lời dạy bảo của Bác Hồ thế nào?”. Tôi có dụng ý dùng từ Chủ tịch Hồ Chí Minh. (président Hồ Chí Minh) sau đó tôi chú ý thấy bà Bộ trưởng dùng từ bác Hồ”. (Uncle Hồ) khiến tôi cảm động và thấy tình cảm càng thân thiết với Công Gô. Tôi giới thiệu câu nói của văn học “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người” tiếng Pháp: “Pour leo inte’zêtrắng de dix ans, on plante larbre, pour ceux de cent ans, on cultive l’homme”. Nghe xong câu ấy, từ bà Bộ trưởng Bernadette Bayol, ông Đổng lý Văn phòng D’Nimina – Gilbert đến các vị trợ lý Bộ Giáo dục đều đứng cả dậy vỗ tay reo: – “Thật là lời dạy của một vị đại triết gia”. Ông Touloulon ghi vào văn bản.

Vậy là bà Bộ trưởng chỉ thị cho tôi vẽ 3 bức chân dung. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tổng thống Marien N’gouabi – Tổng thống Denis Sassou N’guesso với các phương châm như đã nói ở trên. Ông Đổng lý văn phòng điều ngay thợ mộc đen đóng khung panô, căng vải để vẽ bằng sơn dầu và mang đến cơ man nào là bia, rượu vang đường, sữa, bơ, pho mát, xúc xích… để bồi dưỡng cho hoạ sĩ. Các chuyên gia Việt Nam đang làm việc ở Công Gô thời gian ấy cũng được nghỉ 10 ngày để phục vụ cho việc thể hiện 3 tranh chân dung cỡ lớn (3mx2m), đó là kỹ sư Đặng Vũ Tường và 2 bác sĩ khoa Nhi: Trịnh Thị Mai Anh và Nguyễn Văn Lai. Họ đem sữa, pha chè, nấu ăn rửa bát… phục vụ chu đáo cho anh em thể hiện các bức chân dung.

Và thế là trong Ngày hội Quốc tế Lao động năm ấy, đoàn người diễu hành trùng điệp trong tiếng nhạc Quốc tế ca hùng tráng – Những hàng người đi đầu giương cao các bức chân dung các nhà lãnh đạo cách mạng trong đó có chân dung Bác Hồ với dòng chữ ” Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Ông Matoundp Albert, một trung sĩ trong Quân đội viễn chinh Pháp Cefeo (Corps expédi tionnaire franctas en Extrême-Orint) đã chạy sang hàng ngũ Việt Minh năm 1953 rồi ở lại Việt Nam đến năm 1973 mới hồi hương, nắm lấy tay tôi, vẻ hồ hởi cảm động. Ông nói tiếng Việt rất thạo:

– Trông thấy chân dung Bác Hồ trong đoàn diễu hành, tôi nhớ da diết Thủ đô Hà nội.

Báo Văn Nghệ 18/5/2002
cpv.org.vn

UNESCO khẳng định sự tôn vinh với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đồng UNESCO coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của người Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng của các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…

Bà C.Ma-rin (Katherine Muller-Marin), Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, đã dành những lời tốt đẹp này để nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Hội thảo khoa học quốc tế về Người, được tổ chức hôm qua tại Hà Nội.

Khẳng định sự tôn vinh của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà C.Ma-rin nói: “Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn… Đại hội đồng UNESCO cho rằng, việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Để tôn vinh những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục của Việt Nam và thế giới… bà C.Ma-rin nhấn mạnh: “Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người, nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt những sự kiện diễn ra tại Việt Nam”.

Bà C.Ma-rin (bên phải) trao đổi với các đại biểu dự Hội thảo

Để nhấn mạnh thêm công lao, sự đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trao đổi với phóng viên bên lề Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà C.Ma-rin xúc động nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều điều làm tôi ấn tượng, bản thân tôi đã nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh xem tại sao người dân Việt Nam lại ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến như thế, và tôi đã hiểu được tình cảm và lý tưởng của Người. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh được tôn vinh là biểu tượng của dân tộc thì chắc hẳn phải có điều gì đó và  điều quan trọng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là khả năng đoàn kết và tập hợp mọi người. Làm thế nào Người làm được điều đó? Người đã đoàn kết và tập hợp được nhiều người vì Người làm cho mọi người tự tin vào bản thân mình, tự hiểu mình nhiều hơn và làm cho mọi người có thể hợp tác và sống hòa thuận với nhau, đoàn kết với nhau… Một trong những điều tôi ấn tượng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là người luôn quan tâm, giáo dục cho người dân biết đọc, viết… và đấy cũng là ý tưởng của UNESCO. Để người dân biết đọc biết viết, Người còn quan tâm xem làm thế nào để người dân có sách để đọc, có bút để viết… Ngoài ra, tôi rất thích những nỗ lực của Người trong bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, điều thú vị là tất cả các lĩnh vực Người làm đều thuộc những thẩm quyền UNESCO quan tâm”.

Bà C.Ma-rin tâm sự: “Điều quan trọng nhất tôi thấy từ di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người đã chỉ cho dân tộc Việt Nam biết cách sống hòa thuận và xây dựng mối quan hệ bang giao hòa hiếu với các dân tộc khác như thế nào, biết đóng góp vào sự nghiệp chung cho nhân loại… Những gì tôi cảm nhận được từ Người thực sự mang những phẩm chất của một con người anh hùng”.

Bài và ảnh: HOA VINH
qdnd.vn

Tấm lòng của Bác Hồ thật là mênh mông vĩ đại

Đã 25 năm kể từ khi bài thơ dài Việt Nam – tình yêu của tôi của Vili Xanbao ra đời, được dịch và trân trọng giới thiêu trên báo Nhân dân số ra ngày 6-2-1977. Cho đến bây giờ, nhiều câu trong đó vẫn cứ ngân lên trong lòng tôi:

Chào bạn Việt Nam! Có nghe tôi hát
Có nghe xôn xao nhịp đập tim tôi
Giữa sớm mai nay, tiếng hát bồi hồi
Đưa tôi đến những vùng quê xa tít

Năm 1988, ở tuổi 74, ông lại hoàn thành bài thơ Nhật ký Việt Nam dài đúng 200 câu, thể hiện những tình cảm nồng nàn đối với Bác Hồ và nhân dân ta.

Cách đây gần một năm, trong dịp công tác ở Đức tôi đã đến thăm ông tại nhà riêng ở phố Rathaodơ, trung tâm thủ đô Beclin. Ông đang ốm nặng, nhưng được bà Ria, người bạn đời yêu quý của ông báo tin có khách Việt Nam đến, gương mặt ông tươi tắn hẳn lên. Ông vẫn nằm ở giường, lâu nay ông vẫn nằm như thế – nhưng cổ nghển lên, đưa cả hai tay ôm lấy tôi: “Việt Nam! Việt Nam!”. Tôi để ý: hai khoé mắt ông ngấn lệ. Ông xúc động nói: “Việt Nam và Bác Hồ lúc nào cũng hiển hiện trong tâm hồn tôi”.

Là người quen biết ông từ lâu, lại đã từng hợp tác với nhau trong một số công việc báo chí và văn học, tôi rất hiểu tấm lòng ông. Từng mấy thập kỷ làm Tổng thư ký Uỷ ban Việt Nam, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Đoàn kết của Cộng hoà Dân chủ Đức, ông thực hiện trách nhiệm của mình một cách tuyệt vời, không chỉ với cương vị một cán bộ Nhà nước, một “quan chức” mà trước hết, trên hết, tự xác định là một người bạn thực sư của Việt Nam. Con người hiền lành, giàu tình cảm và rất đỗi khiêm nhường ấy đã có sau lưng mình gần tám chục năm hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú – kể từ lúc đứng trong hàng ngũ Đội thiếu niên Chim ưng đỏ ở tuổi lên 9, miệt mài nghiên cứu, viết sách, viết báo. Tập hồi ức Thẳng lưng mà bước của ông vừa xuất bản mà tôi hân hạnh được ông tặng riêng một cuốn, là sản phẩm chủ yếu của quá trình lao động miệt mài ấy. Ngay trong tập hồi ức này, ông dành hẳn một chương viết về Việt Nam và đặc biệt về những dịp ông được tiếp xúc với Bác Hồ. Tình cảm ấy, ở ông, như một sợi chỉ đỏ, xuyên suốt bao nhiêu năm qua. Gần 30 năm trước, trong bài Nghĩ đến Việt Nam, nghĩ đến Bác Hồ, ông đã viết:

“Là một người từng công tác ở Uỷ ban Việt Nam, bao nhiêu năm qua, tôi đã lắng nghe với tất cả tâm hồn mình những bước đi của sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nạm dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ. Đối với chúng tôi, Việt Nam có nghĩa là Bác Hồ. Trên làn môi cửa trẻ con nước chúng tôi, hai tiếng “Bác Hồ” được gọi với niềm yêu thương, tin cậy, trìu mến. Riêng đối với tôi, bởi vì Việt Nam đã trở thành quê hương thứ hai của mình, tôi xin được phép gọi Bác Hồ là người cha thân thiết của tôi. Tôi bỗng nhớ đến một câu ca dao Việt Nam rat dễ thương:

Tháp Mười đẹp nhất hoa sen
Nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Từng đọc những vần thơ thiết tha về Bác Hồ, về Việt Nam của Vili Xanbao, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã có những cảm nghĩ hết sức tốt đẹp và đầy lòng biết ơn đối với người đồng nghiệp ở phía trời Tây.

Trong các tác phẩm của V.Xanbao, theo nhận xét của tôi – người được đọc và dịch gần hết ra tiếng Việt – tình cảm của ông đối với Bác được thể hiện đầy đủ nhất ở hồi ức Tháng giêng năm ấy. Tháng Giêng năm ấy là năm 1969, năm cuối cùng trong đời Bác Hồ vĩ đại, vào ngày 23, tính ra chỉ 7 tháng 9 ngày trước khi Người vĩnh biệt cuộc đời này, ông và các đồng chí của mình đã được đến thăm Bác Hồ tại nhà riêng. Ông cho biết: Hồi này – so với những lần gặp trước – trông Bác đã yếu nhiều. Mọi người trong đoàn đều lo ngại về sức khoẻ của Người. Nhưng Người chỉ mỉm cười đôn hậu: “Các đồng chí đừng lo. Tôi vẫn ăn, ngủ và làm việc bình thường”. Rồi Người âu yếm hỏi: “Các chú thấy co lạnh không?”. Mọi người trả lời: “Thưa Bác, không ạ!” Bác là người già yếu, đáng lo nhất về sức khoẻ thì Người lại quan tâm, hỏi thăm sức khoẻ từng người một. Lúc ấy, trong đoàn, chỉ có Chủ tịch Uỷ ban Việt Nam Mác Dêphrin bi cúm, phải nằm Bệnh viện Hữu Nghị mất mấy ngày. Theo phép lịch sự, Mác Dêphrin cởi áo khoác ngoài và định cởi cả khăn quàng ra thì Bác xua tay: “Không nên cởi khăn quàng, chú ạ!”. Nói xong, Người cởi khăn quàng của Người ra và quàng thêm cho Dêphrin. Thấy Người cũng mệt, Chủ tịch Uỷ ban chúng tôi vội quàng chiếc khăn của ông cho Người.

Trong cuộc gặp này, Bác Hồ đã được báo cáo rất tỉ mỉ về phong trào ủng hộ Việt Nam ở Cộng hoà Dân chủ Đức, từ các hoạt đông: “Điện cho Việt Nam”, “Xe đạp cho Việt Nam”, “Máu cho Việt Nam”… cho đến những buổi hoà nhạc quyên tiền theo yêu cầu thính giả của đài phát thanh, những “quầy hàng đoàn kết do thanh niên và thiếu niên, nhi đồng tổ chức… Đoàn đại biểu Uỷ ban Việt Nam trao tặng Bác những món quà mà nhân dân ở các nơi của Cộng hoà Dân chủ Đức gửi biếu Người. Bác tỏ ý rất vui và xúc động trước tình cảm chân thành của mọi người trên quê hương Các Mác.

Trong món quà kính dâng Bác Hồ, Người rất thích tác phẩm Việt Nam trong giờ phút này – một cuốn sách dày dặn, giấy tốt, khổ to, mới được xuất bản trước đó ít lâu. Đây là công trình của nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi ở Đức và trên thế giới như Anna Dêgớc, Phởítxơ Brêmơ, Pao Đếtxao, Xtê Phan Hêmơlin, Gêoóc Maorơ, Ôttô Nagen, Vili Xítê, Cuốc Stécnơ, Bổít Pôlêvôi, Sôlôkhốp, Iven, Êptusenkô, Pêtơ Vaisơ… từ khắp các lục địa cũng gửi bản thảo tới, hưởng ứng hành động chung giàu ý nghĩa. Tiền bán sách được gửi vào quỹ đoàn kết ủng hộ Việt Nam. Đăc bịệt, hơn 30 tác giả ở Mỹ, trong đó có Philíp Bônỗki, Pêthơ Dêgơ… cũng viết bài cho tập sách…

Là người biết tiếng Đức, Bác Hồ lật từng trang sách một tấm lòng trân trọng. Người chú ý từng tên tác giả và cũng dừng lại khá lâu ở bản thống kê phong phú, độc đáo về sự phát triển của Việt Nam trong các thế kỷ qua. Người được giao báo cáo với Bác về mọi việc cụ thể là Vili Xanbao. Riêng về cuốn sách này, Bác Hồ nói với ông: “Đây là hành động chung bao trùm khắp thế giới. ý tưởng của các nhà văn Đức thật đáng ca ngợi. Nhân dân Việt Nam, qua tác phẩm này, thêm một lần đón nhận những tiếng nói đoàn kết chiến đấu cất lên từa nhiều phương trời…”. Bác còn hỏi thăm về từng tác giả, như Brunô Apítxơ, người viết cuốn Trần trụi giữa bầy sói; Cuốc và Gien Stécnơ, những người Bác Hồ từng có lần tiếp tại nhà sàn này, hoặc Erích Noisơ, nhà văn đã viết vở kịch Cuộc chiến tranh bẩn thỉu nói về một làng quê Việt Nam bên sông MêKông và về Hoàng cung của Bảo Đại…

Vili Xanbao vui mừng được giới thiệu với Bác Hồ những bức tranh do thiếu nhi Đức vẽ, những vần thơ do các em viết hoặc những “sản phẩm” do các em làm để bán tại các quầy “đoàn kết” lấy tiền ủng hộ Việt Nam. Nhà thơ kính biếu Bác một quyển anbum Tem về Việt Nam, trong đó có nhiều tem mang hình ảnh Bác Hồ.

Trong bầu không khí hết sức cởi mở ấm áp, Bác sĩ Mác Dephrin nêu một vấn đề khá quan trọng để xin ý kiến Người. Số là, trong thời giàn đó, nhiều thanh niên ở Cộng hoà dân chủ Đức tình nguyện xin được sang Việt Nam trực tiếp cầm súng chống Mỹ. Nghe báo cáo xong, Bác nở một nụ cười trìu mến và chậm rãi nói:

– Tôi rất vui, khi được biết ý định đó của các cháu. Đó là một ý định tốt, rất đáng hoan nghênh. Xin nhờ các đồng chí chuyển lời cảm ơn của tôi tới các cháu. ý định đó, quyết tâm đó của các cháu nói lên rằng, tình đoàn kết quốc tế của thế hệ trẻ nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã phát triển ở mức độ cao nhưng vấn đề là cần làm cho các cháu hiểu rằng: chúng ta đừng để nổ ra một cuộc chiến tranh thế giới. Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình nên mới tiến hành cuộc đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh này. Chúng tôi không những chiến đấu vì bản thân mình mà chính là vì lợi ích của toàn nhân loại. Tôi nghĩ rằng, ở Đức cũng như ở các nước khác trước hết cần tiến hành phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam ngay trong nước mình, đó là một phong trao ủng hộ rộng khắp về chính trị, tinh thần và vật chất…

Nghe Bác nói, các bạn Đức càng thấm thía về sự quan tâm của Người đối với lợi ích chung của hoà bình thế giới. Vili Xanbao viết: “Tấm lòng của Bác thật là mênh mông, vĩ đại! Trong tầm nhìn của Bác, không những cho thấy Người là nhà quốc tế đáng kính phục mà còn là nhà văn hoá lớn, giàu tình thương yêu nhân loại. Nào ai ngờ rằng chỉ sau đó ít tháng, Bác Hồ đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của mọi con người lương tri trên trái đất này…”

Báo Văn nghệ, số 20, ngày 18/5/2002
cpv.org.vn

Chỉ có một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của Bác Hồ

QĐND Online- Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút” giành thắng lợi quyết định. Bước tiếp theo là “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đó là quá trình đấu tranh quyết liệt và phức tạp trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong đấu tranh ngoại giao và các hoạt động quốc tế để buộc Nguyễn Văn Thiệu phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris của các lực lượng, diễn ra mạnh mẽ, phong phú và đa dạng. Tiêu biểu là Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp đã có các hoạt động vận động các nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh thống nhất đất nước. Quá trình đó, có một câu chuyện thú vị tại Pháp đã nói lên một chân lý sáng ngời.

Quảng Trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Từ năm 1973 đến đầu năm 1975, Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tổ chức nhiều cuộc vận động một số nước ở châu Phi có quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại sứ ta tại Pháp có nhiều cuộc gỡ với đại sứ các nước ở Paris và đi đến các nước để chuẩn bị cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước đó. Quá trình đó, Đại sứ ta luôn tranh thủ vận động họ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Những hoạt động đó đã đạt kết quả tốt đối với một số nước như Bê Nanh, Công Gô, Angola,… ở châu Phi và Bồ Đào Nha ở Tây Âu. Đối với một số nước khác mặc dù chưa có kết quả ngay do điều kiện của họ, nhưng hầu hết đều đã bày tỏ tình cảm với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với nước Mađagatca có câu chuyện khá thú vị như sau: Nhân dịp ông Ratsiraca Ngoại trưởng nước Mađagatca (sau này trở thành Tổng thống Mađagatca) có chuyến công tác qua Paris, đồng chí Võ Văn Sung, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp xin gặp và đặt vấn đề Mađagatca công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cách nói thân thiết của một người bạn, ông cho biết không bao giờ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng chí Võ Văn Sung hỏi lý do vì sao? Ông Ratsiraca trả lời “vì Mađagatca đã có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và không có quan hệ với chính quyền Sài Gòn”1. Ông Ngoại trưởng còn khẳng định: “Đối với chúng tôi thì nước Việt Nam là một, chỉ có nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của “Bác Hồ”2. Vì vậy, “nếu công nhận bất kỳ một chính phủ nào khác là trái với nguyên tắc mà chúng tôi tôn trọng: nước Việt Nam là một! Chúng tôi đã từ chối việc công nhận bọn bù nhìn ở Sài Gòn”3. Đồng chí Võ Văn Sung giải thích lại tình hình miền Nam và chính sách của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam; những điều khoản của Hiệp định Paris và những vấn đề thuộc về quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam, ở đó có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát,… Thấy ông Ratsiraca còn phân vân, đồng chí Võ Văn Sung đã phải nói rằng: “Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng là anh em chúng tôi cả” và “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Cách mạng lâm thời tuy hai cũng như một, nhưng tuy một mà cho đến khi Việt Nam tái thống nhất thì vẫn phải là hai”4. Khi hiểu ra vấn đề, ông Ratsiraca hứa sẽ báo cáo về Chính phủ. Hơn một tuần sau đó, Đại sứ quán Mađagatca ở Paris báo cho Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pháp biết là Mađagatca đồng ý công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.

———————-

1,2. Võ Văn Sung (2005), Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris, Nxb QĐND, tr.88.
3, 4. SĐD, tr.88-89.

TS Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

Trở lại đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Vũ Mai Hoàng
Đình Song Linh

Dải đất nhỏ hình chữ S nằm bên bờ Thái Bình Dương trở nên gần gũi, thân thương đối với Bờ-ra tự khi nào, ông không còn nhớ nữa, nhưng những kỷ niệm đẹp tại đất nước này đã và sẽ mãi theo ông suốt cuộc đời.

Năm 1955, Bờ-ra, cậu bé chín tuổi người ấn Độ lần đầu theo cha là Chủ tịch ủy ban giám sát quốc tế về việc thực hiện Hiệp đinh Giơ-ne-vơ sang Việt Nam. Đất nước Việt Nam bấy giờ tạm thời bị chia cắt nhưng vì theo cha cho nên cậu bé có điều kiện đến những thành phố như: Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Sài Gòn (TP Hồ Chí Minh ngày nay)… Phong cảnh và con người Việt Nam dần cuốn hút cậu. Từ đấy, mỗi dịp nghỉ học dài ngày tại ấn Độ, cậu lại thu xếp thời gian sang thăm cha, đất nước Việt Nam mến yêu. ấn tượng lớn với Bờ-ra là Hà Nội, một thành phố đẹp mang dáng vẻ thâm trầm và cổ kính. Cha con Bờ-ra ở trong một khách sạn lớn kiến trúc kiểu Pháp, nằm bên một con phố yên bình. Ngày đó, trên đường phố chỉ có những người đạp xe qua lại, những người bán hàng rong với những món hàng trĩu nặng trên vai hoặc trên đầu. Mỗi khi cha đi làm, cậu bé thường thơ thẩn đi dạo dưới những tán cây xanh của phố phường Hà Nội, tìm bắt những chú bướm đủ sắc mầu cất vào bộ sưu tập, hoặc tìm cách trò chuyện với những người Việt Nam. Bờ-ra từ lâu ấp ủ một ước mơ thầm kín là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ được nhân dân Việt Nam gọi là Bác Hồ, dù cậu biết đó là điều rất khó. Thật bất ngờ, mơ ước ấy trở thành hiện thực vào ngày 1-1-1957, năm cậu 11 tuổi. Nhân Tết dương lịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới các đại sứ, đại diện các phái đoàn ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Việt Nam dự buổi gặp thân mật tại Phủ Chủ tịch. Cha Bờ-ra đưa cậu theo. Bờ-ra còn nhớ mãi hình ảnh một cụ già tóc bạc, đôi mắt sáng ngời, ăn mặc giản dị ở ghế chủ tọa. Thật may mắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn thấy cậu trong số các quan khách và trìu mến gọi cậu bé đến ngồi cạnh Người. Bằng giọng nói hiền từ, Người ân cần thăm hỏi Bờ-ra về chuyện học hành, về gia đình, về những ấn tượng đối với Hà Nội, Việt Nam và cả những ước mơ… Đó là những phút giây hồi hộp nhất trong cuộc đời Bờ-ra. Cậu không nhớ đã trả lời những gì, chỉ nhớ không khí lúc đó thật ấm áp, gần gũi và xúc động. Bác Hồ tặng Bờ-ra con chim bồ câu bằng đá, biểu tượng cho hòa bình cùng một quả quýt và căn dặn mang về làm quà cho mẹ. Bờ-ra theo cha trở về ấn Độ và mang theo món quà quý giá của Chủ tich Hồ Chí Minh. Còn bức ảnh chụp cậu ngồi bên Bác Hồ được Bờ-ra và cả gia đình trân trọng giữ gìn trong an-bum như một bảo vật. Nhiều năm sau đó, mỗi lần khách đến chơi nhà, đặc biệt là khách từ Việt Nam sang, Bờ-ra đều tự hào kể lại kỷ niệm ấy và cho mọi người xem ảnh.

Sau gần nửa thế kỷ, Bờ-ra mới có dịp trở lại Việt Nam theo lời mới của Ban Bí thư T.ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với danh nghĩa là Thiếu tướng, Phó Tổng giám đốc Hiệp hội giáo dục quốc phòng cho học sinh ấn Độ (NCC) – một tổ chức thanh niên quy mô-lớn nhất ấn Độ với khoảng 1,4 triệu thành viên là học sinh, sinh viên tuổi từ 13 đến 22, được tuyển chọn từ các trường phổ thông, cao đẳng và đại học cả nước. Việc trở thành một thành viên hay còn gọi là thiếu sinh quân của NCC là niềm tự hào đối với thanh, thiếu niên ấn Độ. Chuyến thăm Việt Nam của Thiếu tướng nhằm giao lưu, học hỏi và tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa thanh niên và nhân dân hai nước. Chúng tôi gặp ông tại Hà Nội vào thời điểm cả nước kỷ niệm lần thứ 112 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiếu tướng Bờ-ra cho biết những chuyến thăm và giao lưu giữa Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và NCC mang lại kết quả thiết thực và bổ ích. Trong thời gian tới, tổ chức đoàn hai nước sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác thông qua các chuyến thăm và giao lưu.

Có lẽ nhờ những hoạt động hữu nghị ấy, các cán bộ Đoàn Việt Nam mới được biết câu chuyện cảm động về lần đầu và là lần duy nhất cậu bé Bờ-ra được gặp Báo Hồ. Anh Trần Đắc Lợi, Trưởng ban Quốc tế T.ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, cho biết, trong dịp công tác tại ấn Độ, đã tận mắt nhìn thấy bức ảnh gốc chụp từ năm 1957, được gia đình Thiếu tướng bảo quản rất cẩn thận. Thiếu tướng Bờ-ra tâm sự, suốt 45 năm qua, mỗi lần nhìn bức ảnh Bác, trong ông lại rộn lên ao ước được trở lại Việt Nam, nơi ông gửi gắm bao kỷ niệm, không chỉ để tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó giữa thanh niên và nhân dân Việt nam – ấn Độ mà còn thực hiện tâm nguyện đến thăm vị lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh- người bạn lớn của nhân dân ấn Độ. Vì thế, khi đặt chân tới Việt Nam sau nhiều năm xa cách, điểm đến đầu tiên của ông là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu di tích Phủ Chủ tịch. Với ông, Hà Nội giờ đây dù hiện đại, nhộn nhịp hơn xưa nhưng không làm giảm nét đẹp tự nghìn xưa còn lắng đọng. Người Việt Nam năng động hơn nhưng tình cảm của người Việt Nam vẫn như thuở nào, chân tình và nồng ấm.

Báo Nhân dân, ngày 20/5/2002
cpv.org.vn