Thư viện

Hà Nội 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Trong 12 ngày đêm từ 18-12-1972 đến 29-12-1972, quân dân Hà Nội đã lập một kỳ tích lịch sử: bắn rơi 23 máy bay B-52, bắt sống nhiều phi công Mỹ. Dư luận thế giới cho đây là một “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội. Sau sự kiện này, Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam từ 30-12-1972, đi đến việc ký kết Hội nghị bốn bên về “chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam” tại Pa-ri ngày 27-1-1973.

Hệ thống phòng không S-75 trong trận “Điện Biên Phủ trên không” (1972) đã bắn rơi nhiều máy bay B-52 của Mỹ, bảo vệ bầu trời miền Bắc. Ảnh: Tuấn Tú.

Trước những thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam, ngày 22-10-1972, Tổng thống Ních-xơn phải ra lệnh ngừng ném bom và bắn phá từ Bắc vĩ tuyến 20 trở ra.

Thời gian này, Hội nghị bốn bên ở Pa-ri đã họp đến gần 160 phiên nhưng phía Mỹ vẫn dây dưa, lật lọng. Bộ Tổng tư lệnh đã lệnh cho các lực lượng vũ trang:

“Có nhiều khả năng địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn kể cả việc dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó nhiệm vụ của Quân chủng Phòng không-Không quân là tập trung mọi khả năng, nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt”.

Đúng vậy, ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn ký phê chuẩn chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ 2, ra lệnh sẽ bắt đầu tập kích trên không vào Bắc Việt Nam bằng B-52 vào 7 giờ sáng ngày 18-12-1972 (giờ Hà Nội là 19 giờ ngày 18-12-1972).

B-52 là loại “siêu pháo đài bay chiến lược” do hãng Bô-inh sản xuất, chiếc đầu tiên được đưa bay thí nghiệm vào 16-4-1952 nên được gọi B-52. Sau 20 năm, năm 1972, B-52 đã được qua 8 lần cải tiến từ B-52A đến B-52G, B-52H. Mỗi chiếc B-52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12-1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ. Mỗi B-52 được trang bị 15 máy điện tử phát nhiễu chống các loại ra-đa của đối phương. Khi B-52 tấn công mục tiêu còn có máy bay EB66 gây nhiễu phía ngoài và nhiều tốp F4 thả nhiễu tiêu cực là những bó sợi hợp kim nhôm trong khu vực độ dài từ 40km đến 70km, dày khoảng 2km để gây nhiễu. Trung bình mỗi B-52 đi chiến đấu có 7 máy bay chiến thuật đi kèm.

Hoa Kỳ cho rằng “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không còn một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B-52 bất khả xâm phạm”.

Thượng tướng, Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài nhớ lại: “Từ mùa xuân năm 1968, Bác Hồ đã nói: sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ dùng B-52 ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Trước đây, trước khi ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đêm 18 rạng sáng ngày 19-12-1972, đế quốc Mỹ cho 87 lần chiếc B-52, 135 lần chiếc máy bay chiến thuật ném bom Hà Nội. Đêm 19-12, chúng tổ chức tiếp 3 đợt bắn phá dã man Hà Nội với 93 lần chiếc B-52 và 163 lần chiếc máy bay chiến thuật. Đêm 20 rạng sáng 21-12-1972, không quân Mỹ đánh phá Hà Nội với 8 tốp B-52 (24 chiếc), gần 170 chiếc máy bay chiến thuật. Đêm đầu, quân dân Hà Nội đã bắn rơi 3 B-52 Mỹ, 4 máy bay chiến thuật, bắt sống 6 giặc lái. Chiếc B-52G đầu tiên rơi tại chỗ ở Phù Lỗ, Đông Anh. Sau đó ta hạ tiếp 7 B-52, bắt sống nhiều giặc lái. Tuy nhiên, tổn thất của ta cũng khá lớn: riêng Hà Nội đêm 18 rạng sáng 19-12-1972 đã có 300 người chết, 156 người bị thương.

Trong phiên 171 của hội nghị bốn bên ở Hội nghị Pa-ri tại Klê-be ngày 21-12-1972, vừa vào họp, trưởng đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố:

“Để biểu thị sự phản đối những cuộc ném bom cực kỳ dã man và thái độ đàm phán lật lọng của phía Mỹ, đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa với sự đồng ý của đoàn đại biểu Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam quyết định bỏ phiên họp lần thứ 171”.

Cả 2 đoàn Việt Nam rời hội nghị bỏ ra về. Cuộc họp chỉ kéo dài 58 phút.

Đêm 28-12-1972, được thông báo có B-52, Thượng úy phi công Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích. Anh báo cáo với trung đoàn trưởng: “Bắn mà B-52 địch không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó”.

21 giờ 45 phút ngày 28-12-1972, Vũ Xuân Thiều bắn bị thương chiếc B-52D của Lơ-uýt rồi anh đã lao thẳng chiếc Mig của mình vào B-52 địch. Phía Hoa Kỳ công nhận đây là chiếc máy bay cuối cùng của Mỹ bị không quân Bắc Việt bắn hạ tại chỗ.

Sau này liệt sĩ Vũ Xuân Thiều đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Một đường phố ở Hà Nội đã mang tên anh: phố Vũ Xuân Thiều.

Tính ra, trong những đợt không kích năm 1972, đế quốc Mỹ đã huy động hơn 40.000 lần máy bay bắn phá miền Bắc Việt Nam trong đó có hơn 3.250 lần chiếc B-52.

Với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đến ngày 29-12, riêng Hà Nội đã bắn rơi 23 B-52, nhiều chiếc bị rơi ngay tại chỗ, bắt sống nhiều giặc lái.

Những chiến thắng này thuộc công lao của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Phòng không-Không quân, từ Tư lệnh đến anh em các đơn vị tên lửa, cao xạ, ra-đa; của toàn thể lực lượng vũ trang, công an, tự vệ…

Ngoài ra, không thể quên công lao của các chiến sĩ áo trắng ngành Y. Ngay khi có báo động B-52, mặc cho bom rơi đạn nổ trên đầu, anh chị em không ngại hy sinh, nhanh chóng từ nhà đến bệnh viện cấp cứu những người bị thương do bom đạn giặc Mỹ. Hàng chục bác sĩ, dược sĩ, công nhân viên các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức…, sinh viên Trường Đại học Y thực tập tại các bệnh viện đã trở thành liệt sĩ.

Trước những đống gạch đổ nát của Bệnh viện Bạch Mai, nữ bác sĩ Y-vo-nơ, chuyên gia huyết học người Pháp đã không cầm nổi nước mắt nói:

– Tôi chỉ là một bác sĩ, một người làm khoa học nhưng lúc này thấy cần phải làm chính trị để tố cáo tội ác man rợ của đế quốc Mỹ đã ném bom tàn phá một bệnh viện mà ở đó chỉ có tình thương.

Cũng tại đây, chị Giên Phôn-đa, một nghệ sĩ nổi tiếng người Mỹ bày tỏ:

– Tôi sẵn sàng từ bỏ những thu hoạch kinh tế lớn đến hàng trăm nghìn đô-la mỗi lần hợp đồng đóng phim của tôi để dành cho một việc làm chính trị: đấu tranh chấm dứt cuộc chiến tranh tàn bạo ở Việt Nam, chấm dứt những hành động bất nhân của những tên G.I. (có nghĩa là sen đầm quốc tế) khét tiếng.

Tổng thư ký Hội đồng hòa bình thế giới, ông Rô-mét Chan-đra nói:

– Cuộc chiến tranh của các bạn Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh mới trong lịch sử, trong từ điển của tất cả các thứ tiếng. Nó có nghĩa là lòng dũng cảm tuyệt vời, lòng quyết tâm và chủ nghĩa anh hùng, nó có nghĩa là tất cả những gì mà mọi người mong muốn tìm trên thế giới này.

Trước những thắng lợi to lớn của ta, ngày 30-12-1972, Hoa Kỳ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam.

Và đến 18-1-1973, Hội nghị bốn bên ở Pa-ri họp phiên công khai lần thứ 174, phiên họp cuối cùng tiến tới thắng lợi hoàn toàn của phía ta.

Ngày 27-1-1973, Bộ trưởng ngoại giao bốn bên dự Hội nghị Pa-ri ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Sau ngày thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tôi đã có một số lần được gặp một số nhân chứng trong những sự kiện vừa nói ở bài viết này. Đó là Trung tướng Hoàng Phương, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Trung tướng Anh hùng phi công Phạm Tuân, người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ, Đại tá Anh hùng phi công Nguyễn Tiến Sâm, nguyên Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Đại tá không quân Vũ Đình Rạng, các Đại tá Nguyễn Bắc, Nguyễn Thân, nguyên Phó tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Đại tá Trần Quốc Hanh, nguyên bí thư Đảng ủy Học viện Không quân… các Giáo sư Đỗ Doãn Đại, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai; Trần Đỗ Trinh, nguyên Viện trưởng Viện Tim mạch quốc gia Việt Nam; Tôn Thất Bách, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y; Đặng Hanh Đệ, nguyên Chủ nhiệm khoa ngoại Bệnh viện Hữu nghị… là những người đã luôn có mặt tại bệnh viện cấp cứu cho những người bị thương do B-52 Mỹ gây ra trong những ngày “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972.

Những liệt sĩ đã vĩnh viễn ra đi như Anh hùng Không quân Vũ Xuân Thiều thì được các bạn chiến đấu và gia đình kể chuyện lại.

Toàn là những câu chuyện đã trở thành những bài ca không bao giờ quên của mười hai ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” của miền đất Thăng Long-Hà Nội vừa tròn 1000 năm tuổi.

Đỗ Sâm
qdnd.vn

Bình Trị Thiên 90 ngày đêm đọ sức

QĐND – Giữa tháng 10-1946, Tổng chỉ huy Pháp ngạo mạn ra lệnh cho tướng sĩ: Đẩy nhanh quyền kiểm soát chặt trên toàn cõi Việt Nam, cả việc xuất nhập cảng.

Tại địa bàn Liên khu 4 lúc này địch có quân đóng ở Vinh và Thừa Thiên. Riêng tại Huế có 750 tên. Lực lượng vũ trang chấp hành chủ trương Liên khu ủy tích cực phòng ngự, bám chặt địch, hễ thấy chúng có động dạng phản bội cam kết thì tấn công ngay. Ngày 17-12, máy bay Pháp rà lượn khắp trời Hà Nội, rục rịch thủ đoạn đánh phá. Ngày 18-12, Bộ chỉ huy Pháp liên tiếp gửi thông điệp cho ta đòi phải đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị quân sự, đòi giữ quyền an ninh các thành phố.

Trưa 19-12, Liên khu 4 nhận nhiệm vụ của Ban Thường vụ Trung ương Đảng: “… Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ đã bác bức tối hậu thư ấy. Như vậy, chỉ trong vòng 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương: “Tất cả sẵn sàng”.

Nửa đêm 19-12-1946, Trung đoàn Cao Vân nổ súng phát lệnh đồng loạt tấn công các trại lính Pháp ở Huế. Ngày 20-12 trung đoàn cùng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ dựng chiến lũy dọc sông Hương và sông An Cựu vây hãm địch. Các đội cảm tử áp sát tấn công các lô cốt địch. Hai trái bom đánh sập khu vực phòng thủ của quân Pháp, diệt hơn 50 tên. Chúng chui xuống công sự, nhân dân giúp bộ đội lấy rơm trộn ớt bột hun ngạt hàng chục tên giặc. Những tốp lính chiếm giữ Nhà đèn, trường dòng bị bộ đội và dân quân tự vệ bao vây diệt gọn.

Thi đua với Trung đoàn Thủ Đô, bộ đội cùng nhân dân Huế vây hãm địch 50 ngày liền trong thành phố, diệt hơn 200 tên. Bộ chỉ huy Pháp vội điều 5000 quân từ Đà Nẵng ra giải vây cho Huế. Đám quân này cũng không sao tiến nhanh được, hơn 10 ngày đụng độ ở các điểm Hải Vân, Lăng Cô, Phước Tường, Mũi Né, Truồi… chúng phải bỏ mạng hơn 200 tên. Cùng thời gian, cánh quân địch từ Trung Lào theo Đường số 9 xuống Quảng Trị vấp phải những trận đánh dữ dội của Trung đoàn Thiện Thuật. Trung đoàn trưởng Hùng Việt đã tận dụng địa hình phức tạp, bố trí nhiều trận địa mìn, địa lôi đánh suốt dọc đường tiến quân của địch, kết hợp tác chiến tập trung có trọng điểm với đánh du kích gây thiệt hại nặng cho giặc.

Đoàn quân kiêu binh Pháp không ngờ được sự tình, chúng cứ dấn vào các “túi lửa” chờ sẵn ở Lao Bảo, Khe Sanh, Đầu Mầu, Cam Lộ để nhận lấy tổn thất nặng nề. Riêng trận địa lôi cầu Rào Quán đã xóa đi gần một đại đội Pháp. Chúng vội kêu máy bay đến ứng cứu. Lúc này thì đạo lính Tây hết kiêu ngạo, phải dò dẫm trên đoạn đường gần trăm cây số mất một tháng. Hơn 300 tên tử vong tại trận địa mới bám được ngoại vi Đông Hà. Khi chúng men tới thị xã Quảng Trị, lại đụng cảnh “vườn không nhà trống” ắng lặng đến rùng rợn, chúng phải chờ hội đủ quân mới dám vào sâu. Điều quân giặc nghi ngại bất chợt ập xuống, những trái bom treo trên các lùm cây, nóc cổng rớt xuống, mìn từ các hốc cây hè phố bung lên. Quan quân địch đang hốt hoảng nháo nhác, đột nhiên toàn thị xã bùng lên hàng trăm đống lửa ngùn ngụt… Trận đòn chí tử này làm quân giặc thất thần cả tháng. Cái giá cuộc hành binh quá đắt, hơn nửa số binh lính bị xóa sổ, 15 ô tô chở đầy binh lính bị thương hối hả chạy khỏi trận địa.

Giặc Pháp không dám thực hiện cuộc “Hành binh dạo mát” ra Quảng Bình. Mãi đến sáng 27-3-1947, hải quân Pháp mới tiến đến cửa Gianh và cửa Nhật Lệ. Lại một bất ngờ mới: Tàu chiến Pháp bị đánh ngay từ ngoài biển chỉ do một tiểu đội du kích đánh chặn bằng thủ pháo, bộc phá, mìn định hướng. 80 tên giặc bị giết, địch phải gọi máy bay đến yểm trợ mới tiến được vào bờ. Quân đông, vũ khí hiện đại nhưng địch cũng phải mất gần một tháng mới chiếm được Đồng Hới và hai bến cảng với cái giá 465 tên chết và hơn 10 xe quân sự bị tiêu hủy. Nhưng chúng chưa được yên, Chi đội Lê Trực đã phân nhỏ lực lượng làm nòng cốt cho dân quân du kích bám đánh suốt ngày đêm. Rất nhiều đồn bốt lẻ của địch đã bị tiêu diệt.

Sau cuộc mở màn đọ sức 90 ngày đêm với địch, quân dân Bình Trị Thiên từ thế mình, sức mình đã nhận rõ: Có thể đánh được Pháp. Tin tưởng hào hứng đón vần thơ chúc Tết của Bác Hồ:

“Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi

Thống nhất độc lập, nhất định thành công!”.

Nguyễn Việt Phương
qdnd.vn

Chuyện đời thường của Nguyên soái G.Giu-cốp

Trong cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược, Ghê-ô-ghi Giu-cốp là một trong số ít các vị nguyên soái tài ba lỗi lạc nhất, đóng góp công lao to lớn có tính quyết định vào chiến thắng quân thù. Tên ông đã trở nên nổi tiếng không những với các dân tộc của Liên bang Xô-viết mà còn vang khắp thế giới. Thế nhưng, trong một khoảng thời gian dài, đời sống riêng tư của ông thì không được “trơn tru” như ý sau danh hiệu được quân và dân Xô-viết phong tặng –“Nguyên soái chiến thắng”.

Mới đây, bà Ma-ga-ri-ta-con gái đầu lòng của ông đã cởi mở kể lại một số tình tiết trong cuộc sống gia đình vào “những năm tháng xa xưa ấy” với tuần báo Luận chứng và Sự kiện của Liên bang Nga.

Chuyện bắt đầu từ năm 1919

Năm 1919, Ghê-ô-ghi Côn-xtan-ti-nô-vích Giu-cốp lúc đó là Trung đoàn trưởng của Hồng quân Công nông Xô-viết, đã bị thương trong một trận kịch chiến với quân Bạch vệ phản cách mạng của tướng Côn-trắc, An-tô Ya-nin-người đồng đội của Giu-cốp đã cứu và đưa ông từ chiến trường rừng rực lửa đạn tới Xi-ri-xưn trên một chiếc xe ngựa kéo. Lúc đó người vợ chưa cưới của Ya-nin là Pô-li-na đã cùng với em gái mình là Ma-ri-a Vôn-khô-va (là mẹ của bà Ma-ga-ri-ta sau này) tới thăm ông. Thấy Giu-cốp nằm “cô đơn” trong quân y viện, họ đề nghị Ma-ri-a tới chăm sóc vị trung đoàn trưởng đang dưỡng thương này. Về sau, ông kể lại với con gái-bà Ma-ga-ri-ta: “Khi tỉnh giấc, bố thấy một cô gái có đôi mắt xanh như lá cây lưu ly”. Từ cái nhìn đầu tiên ấy, ông tuyên bố với Ya-nin: “Quả là tuyệt! Cậu hãy cưới Pô-li-na, còn tớ thì lấy Ma-ri-a”.

Tuy nhiên, Giu-cốp đã không kịp cưới Ma-ri-a. Ông được đi nghỉ dưỡng thương, còn Ma-ri-a thì trở về nhà bố mẹ. Mối tình đầu bị “tạm hoãn”. Năm 1921, Giu-cốp và Ya-nin trên đường công tác đã nghỉ đêm tại nhà của một vị mục sư ở tỉnh Vô-rô-ne-giơ. Khi họ đang ngồi uống trà thì Giu-cốp nghe thấy tiếng sột soạt. Ông nói nhỏ với Ya-nin: “Phía sau bếp này có ai đó đang cựa quậy”. Rồi đứng dậy và đi tới bếp lò, ông nói: “Nào, ai đó, hãy ra đây!”. Từ bếp lò, một cô gái vẻ luống cuống xuất hiện. Giu-cốp nhìn thẳng vào cô ta: “Cô là ai?”. Cô ta đáp: “Tôi là con gái của cha (linh mục-TG)”.Ghê-ô-ghi cười to với chiến hữu: “An-tôn, có lúc nào cậu nhìn thấy một cô con gái của cha không?”. Rồi ông mời cô ta ngồi vào bàn. “Khởi đầu” của câu chuyện đầu tiên của Giu-cốp và cô gái A-lếch-xan-đra Zui-cốp-va đã diễn ra như vậy. Rồi tự nhiên họ đã thành “đôi lứa”.

Mấy năm sau, Giu-cốp mới tìm gặp được bà Ma-ri-a Vôn-khô-va và lại thành “đôi lứa”, (có thể vì bà Zui-cốp-va không có con). Vậy là người trung đoàn trưởng mưu lược tài năng này phải “sống giữa hai mặt trận”(!). Năm 1929, bà Ma-ri-a sinh được cho ông người con gái đầu tiên-bà Ma-ga-ri-ta sau này-thì Giu-cốp muốn “thoát khỏi” bà Zui-cốp-va. Nhưng bà này đâu có chịu, bà yêu cầu để Ma-ga-ri-ta cho bà nuôi, nếu không thì bà sẽ bêu xấu ông khắp thế gian. Và sau đó bà Zui-cốp-va cũng đã viết đơn tố cáo Giu-cốp lên cấp trên khiến ông bị “cảnh cáo đảng” vì tội “lấy hai vợ”.

Trước việc này, do bà Zui-cốp-va vô sinh, nên họ đã nhận bé gái E-ra làm con nuôi năm 1928, và tới năm 1937 còn nhận thêm En-la. Hai cô gái này luôn luôn cho rằng mình là con ruột đích thực của Giu-cốp và Zui-cốp-va. Bà Ma-ga-ri-ta cũng như nhiều bà con họ hàng ruột thịt không trách điều đó, vì vào thời ấy việc “nhận con nuôi” thì sẽ bị “rắc rối to” theo pháp luật. Hơn nữa, vì bà Zui-cốp-va thực sự bị bệnh “vô sinh” nên việc nhận con nuôi cũng như “nhận thêm” con đẻ của bà Ma-ri-a là để tạo lập một gia đình đàng hoàng và chủ yếu là để giữ được Giu-cốp bên mình. Biệt hiệu “người đeo bám” được người thời đó tặng cho bà A-lếch-xan-đra Zui-cốp-va vì bà đã “có công” níu giữ Giu-cốp, quyết không cho ông “lòng thòng” với những phụ nữ khác, vì lúc đó có biết bao nhiêu người đẹp ngưỡng mộ ông.

Giu-cốp và người vợ cuối Ga-li-na Xê-mi-ô-nốp-na cùng con gái út Ma-sa. Ảnh tư liệu

Con đích thực-bố đích thực?

Bà Ma-ri-a Vôn-khô-va có được đứa con gái với Giu-cốp, rất tự hào điều này, nhưng cũng không chịu đựng nổi với tình thế lúc đó. Khi chị gái bà là Pô-li-na mất vì bệnh thương hàn, người chồng Ya-nin phải vừa chiến đấu vừa chịu cảnh “gà trống nuôi con”. Do vậy, bé Vô-lô-đi-a 3 tuổi được dì Ma-ri-a nuôi dưỡng. Và từ khi Ya-nin hy sinh trên chiến trường thì bà Ma-ri-a làm mẹ nuôi của các đứa con người chị gái… Ma-ga-ri-ta lại có thêm em nuôi nhưng vẫn chưa rõ được bố đẻ mình.

Sau một thời gian dài “nóng ruột tìm hiểu sự thật” thì Ma-ga-ri-ta được mẹ đẻ vừa cho tờ giấy chứng nhận khai sinh, ở mục bố đẻ ghi “Bố-Ghê-ô-ghi Côn-xtan-ti-nô-vích Giu-cốp”. Lập tức con gái Ma-ga-ri-ta viết thư cho bố ngoài chiến trường và được bố viết thư trả lời ngay. Từ đó bố và con luôn viết thư cho nhau trong suốt cuộc chiến tranh. Sự liên lạc qua lại giữa hai bố con được thông suốt là nhờ cô y tá Li-đa Gia-kha-rô-va. Sau mấy lần bị thương, sức khỏe ông “có vấn đề” nên cấp trên đã biệt phái một nữ y tá 19 tuổi-cô Li-đa-để trực tiếp chăm sóc ông. Và giữa họ đã xảy ra “chuyện tình cảm” khó tránh khỏi.

Trong những năm tháng lửa đạn chiến tranh khốc liệt đó, “bà đầu tiên” A-lếch-xan-đra Giui-cốp-va không để cho vị nguyên soái này yên. Bà luôn luôn “đánh thức” ông, thậm chí có lúc ra ngay chiến trường để “kiểm tra và kiềm chế” ông. Ông rất bực dọc, khổ tâm, có lần nói với cô y tá: “Li-đa, cái người luôn luôn “đeo bám” ấy lại tới quấy rầy đấy!”. Cũng may, Giu-cốp là vị danh tướng tài ba luôn luôn say sưa, đam mê suy nghĩ về chiến lược, chiến thuật để giành chiến thắng trước quân thù nên mọi cái “râu ria”, “nhỏ nhặt” đó ông đã bỏ qua.

Sau chiến tranh, người nữ y tá Li-đa gọi điện cho con gái Giu-cốp: “Ma-ga-ri-ta Ghê-ô-ghi-ép-na, tôi mời chị tới chỗ tôi dùng trà”. Ma-ga-ri-ta đến, đi vào nhà bếp thấy một người đàn ông rất giống mình bèn hỏi nhỏ Li-đa: “Ai đấy?”. Cô y tá cười: “Chính là bố chị đấy!”. Hai bố con gặp nhau hàn huyên tâm sự ở “nhà một người khác”. Nhưng rồi vị nguyên soái này cũng buộc phải rời cô y tá Li-đa. Bà Giui-cốp-va đã viết tới 10 bức thư tố cáo sự việc đó, khiến cấp trên phải thải hồi cô. Khi Li-đa bị đưa ra khỏi Quân y viện của Bộ Quốc phòng và trả về Mát-xcơ-va, ông đã giúp đỡ cô tìm được việc làm và một căn hộ ở khu chung cư. Về sau bà đã kết duyên với một vị trung tá về hưu.

Thực ra, Nguyên soái Giu-cốp đã rất nhiều năm phải sống với “người mình không yêu”. Còn bà Giui-cốp-va, ngoài chuyện vô sinh lại là người thích mua sắm các đồ dùng xa xỉ, khoe khoang của cải, hợm hĩnh… Ông rất khổ tâm nhưng vẫn không dứt ra được. Có lẽ cũng do vậy mà ông đã “ga lăng” với một vài phụ nữ thấy “ý hợp tâm đồng”. Ví như chuyện ông với một bác sĩ thạo nghề xoa bóp chữa trị bệnh viêm rễ thần kinh ở một bệnh viện cao cấp của quân đội. Nữ bác sĩ Ga-li-na Xê-mi-ô-nốp-na này tận tình xoa bóp chữa trị cho ông, kết quả nhiều lần hoàn toàn “như ý”. Do hằng ngày “lửa gần rơm” nên họ đã bén duyên. Kết quả của “cuộc tình lãng mạn” này là cô gái Ma-sa ra đời vào năm 1957, là con gái út của ông.

Lần này thì bà Giui-cốp-va “mạnh tay” hơn viết đơn lên Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô yêu cầu đày kẻ chia uyên rẽ thúy kia tới Xi-bia. Đáp lại, vị nguyên soái này đã thu gói đồ đạc của mình rời khỏi gia đình đó. Đây là một dịp để Khơ-ru-sốp (lúc đó là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) lợi dụng để đả kích Giu-cốp. Vốn hiềm khích với vị nguyên soái được quân và dân Xô-viết yêu kính, ông ta đã đưa “vụ án” về đạo đức và đứa con gái ngoài giá thú của Giu-cốp ra xem xét ở Đoàn Chủ tịch (sau này là Bộ Chính trị-TG).

Vậy là, trong cái gia đình “nhiều vợ” của vị nguyên soái lừng danh này có 4 cô con gái mà ai cũng cho mình là con đích thực của bố Giu-cốp. Nhưng thực ra chỉ có hai người, Ma-ga-ri-ta giống bố như đúc. Tuy về sau tất cả họ đều “ăn nên làm ra”, nhưng sự gắn bó ruột thịt thì “chưa được như ý”.

Để giữ mãi kỷ niệm đầy ý nghĩa về người cha nổi tiếng của mình, người con gái cả đích thực Ma-ga-ri-ta đã lập ra Quỹ “Ghê-ô-ghi Giu-cốp”. Bà nói: “Những gian kế mà Khơ-ru-sốp đã bày trò để mưu hại Giu-cốp chưa thấm vào đâu so với việc ngày nay một vài nhân vật có tiếng cố tình gièm pha tên tuổi của Ghê-ô-ghi Giu-cốp. Do vậy, tôi quyết định lập ra quỹ mang tên cha tôi để quảng bá cho di sản của ông”.

Quỹ này đã được nhiều cá nhân và tổ chức xã hội của nước Nga nhiệt tình tham gia. Và kết quả đầu tiên rất thành công là xây dựng được tượng Giu-cốp trên quảng trường Ma-nhét ở Mát-xcơ-va do nhà điêu khắc Via-trê-xláp Clư-cốp tạc tượng. Ông đã lấy hình mẫu của người con gái đích thực của vị Nguyên soái Chiến thắng-bà Ma-ga-ri-ta để tạo mẫu bức tượng bán thân đặc biệt này.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Con trai “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ nói về bài thơ “Nhớ Bắc”

QĐND – Bài thơ “Nhớ Bắc” của “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ đã trở thành một tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam. Sức sống của bài thơ, nhất là hai câu “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” được coi là “thần thi”, một lần nữa được thổi bùng lên như một hào khí nhân dịp thủ đô Hà Nội nghìn năm tuổi. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời của bài thơ cùng những dị bản của hai câu “thần thi” trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau. Chúng tôi đã gặp ông Huỳnh Văn Nam, Tổng giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, trưởng nam của gia đình “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. Ông Nam đã cung cấp cho chúng tôi nhiều tư liệu có giá trị to lớn về thân thế, sự nghiệp của cụ Huỳnh Văn Nghệ, trong đó có tài liệu về bài thơ “Nhớ Bắc”.

PV: Theo tìm hiểu của chúng tôi về xuất xứ của bài thơ, thì hiện nay đang có hai cách lý giải. Những tài liệu nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Tý, Huy Thông, Trần Xuân Tuyết… cùng nhiều tài liệu trích dẫn khác thì cho rằng, bài thơ được Huỳnh Văn Nghệ sáng tác tại Chiến khu Đ năm 1946 trong thời kỳ ông chỉ huy lực lượng kháng Pháp ở đó. Trong cuốn sách “Huỳnh Văn Nghệ-tác giả và tác phẩm” do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 2008, tác giả Bùi Quang Huy lại cho rằng, bài thơ này ra đời từ năm 1940 ở Sài Gòn. Vậy tài liệu nào là chính xác?

Ông Huỳnh Văn Nam: Tôi là trưởng nam nên hầu hết các tài liệu lịch sử của gia đình do ba tôi để lại, trong đó có bài thơ “Nhớ Bắc” tôi vẫn lưu giữ cẩn thận, trong đó có một bản chép tay do chính ba tôi viết. Ở bản chép tay này, bài thơ có tên là “Tiễn bạn về Bắc”, đề năm sáng tác là 1940, tại ga Sài Gòn. Như vậy bài thơ “Nhớ Bắc” ra đời từ năm 1940 tại Sài Gòn là hoàn toàn chính xác.

“Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ và con trai Huỳnh Văn Nam thời nhỏ. Ảnh chụp lại.

Kết hợp với nhiều nguồn tư liệu khác cùng lời kể của ba tôi thì hoàn cảnh ra đời bài thơ là thế này: Vào năm 1940, thực dân Pháp khánh thành tuyến xe lửa từ Nam ra Bắc đầu tiên. Nhân sự kiện quan trọng này, Sở Hỏa xa Sài Gòn có chủ trương ưu tiên vé cho nhân viên đang công tác tại sở được đi tham quan Hà Nội bằng xe lửa. Do lượng người đăng ký quá đông, trong lúc vé ưu tiên có hạn nên Sở Hỏa xa Sài Gòn phải tổ chức bốc thăm. Ba tôi (thời kỳ này đang công tác tại Sở Hỏa xa) may mắn bốc trúng thăm được đi. Tuy nhiên, đến phút chót thì ông quyết định nhường vé cho một người bạn cùng phòng vì thương bạn. Khi tiễn bạn ra ga lên tàu, từ tâm trạng bồi hồi, xúc động, ông đã sáng tác bài thơ này. Những chất liệu tạo nên cảm xúc cho bài thơ xuất phát từ những câu chuyện kể của người bạn về Hà Nội chứ thực ra trước khi bài thơ ra đời, ba tôi chưa một lần đặt chân đến Hà Nội.

PV: Trong bản chép tay này, không chỉ có đầu đề bài thơ mà một số câu, từ trong đó cũng khác so với một số dị bản đang phổ biến hiện nay. Đặc biệt, hai câu “thần thi” được chép là “Từ độ mang gươm đi giữ nước/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Như vậy là nguyên tác của bài thơ là “giữ nước” chứ không phải “mở cõi”?

Ông Huỳnh Văn Nam: Từ nguyên tác đến các văn bản phổ biến sau này đã có sự chỉnh sửa. Hai câu thơ này có rất nhiều dị bản, nhất là các từ đầu và cuối. Nguyên tác của nó là “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Nhưng bản in đầu tiên khi bài thơ đến với công chúng thì hai câu thơ này được sửa là: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Người sửa là nhà thơ Xuân Diệu. Bài thơ sau đó đã nhanh chóng khẳng định vị trí của nó, trở thành vật “gối đầu giường” của thanh niên, thôi thúc ý chí Nam tiến bảo vệ Tổ quốc. Sau này ba tôi có kể lại, nhiều chiến sĩ từ miền Bắc vào Nam đã mang cho ông xem bản in bài thơ đã được chỉnh sửa. Ông đã nói với mọi người về văn bản nguyên tác.

Cuối những năm 50 của thế kỷ hai mươi, ba tôi ra Bắc nhận công tác ở Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu. Gia đình tôi ở tại ngôi nhà số 10, phố Lý Nam Đế. Nhiều người hay quen gọi đây là “Phố nhà binh”. Tôi còn nhớ có lần một nhà văn ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội đến nhà gặp ba tôi xin được đăng bài thơ này trên tạp chí theo bản thảo nhà thơ Xuân Diệu đã sửa. Ba tôi đã đồng ý với đề nghị này. Cũng bởi thế nên bài thơ theo văn bản đã chỉnh sửa được lưu truyền sâu rộng trong các tầng lớp bạn đọc từ đó về sau.

Cũng cần nói thêm là trong từng giai đoạn, do hoàn cảnh xã hội, lịch sử, hai câu thơ được lưu truyền trong dân gian với nhiều dị bản khác nữa. Chẳng hạn trong giai đoạn kháng chiến, nhiều cán bộ, bạn bè, đồng đội đã đề nghị ông thay hai chữ “mở cõi” bằng “giữ nước” để phù hợp với tinh thần hiệu triệu toàn dân đánh giặc. Bản chép tay này (in kèm bài viết) được chép trong hoàn cảnh như vậy. Cũng có người thì đề nghị thay hai chữ “mang gươm” bằng “mang cày” cho phù hợp với lịch sử khai khẩn ở phương Nam. Đến nay, hai câu thơ đã được phổ biến theo đúng nguyên tác: “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” và đã được khắc bia.

PV: Bài thơ “Nhớ Bắc” đã trở thành thi phẩm kinh điển trong đời sống tinh thần hàng triệu người dân Việt. Là con trai của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, cảm nhận riêng của ông về bài thơ “Nhớ Bắc” như thế nào?

Ông Huỳnh Văn Nam: Cảm nhận  chung đó là chất hào khí của bài thơ, đặc biệt ở hai câu “thần thi”. Hào khí Nam Bộ xuất phát từ hào khí Thăng Long. Hào khí ấy được đúc kết từ tư tưởng, tâm hồn dân tộc từ ngàn đời nay. Dù có đi bốn phương trời, người dân Việt luôn luôn hướng về trái tim đất nước. Với riêng tôi, tôi tự hào khi được là người tiếp nối truyền thống ông cha. Tôi đã viết một bài thơ ngắn, họa lại bài thơ của ba tôi:

Ông tôi xưa mang gươm đi mở cõi

Cha tôi làm thơ thương nhớ đất Thăng Long

Còn tôi suốt hai mùa mưa nắng

Hát mãi về em Hà Nội trái tim hồng!

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Thanh Kim Tùng (thực hiện)
qdnd.vn

Có hay không nghĩa trang đầu tiên của Liên khu 5?

QĐND – Tháng 5-2010, Trung tướng Nguyễn Trung Thu, Tư lệnh Quân khu (nay là Phó tổng tham mưu trưởng QĐNDVN) nhận được thư của một cựu chiến binh thông báo về nghĩa trang QĐNDVN do Liên khu 5 xây dựng tại sân vận động Quy Nhơn năm 1955 đã bị trôi vào lãng quên. Cũng thời gian này, Đại tướng Nguyễn Quyết, Trung tướng Nguyễn Đôn, đã gửi thư đề nghị Chính phủ, Bộ Quốc phòng xây dựng tượng đài chiến thắng của quân dân Liên khu 5 tại Quy Nhơn. Trung tướng Nguyễn Trung Thu đã chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc.

Dấu ấn giữa lòng dân

Trò chuyện với chúng tôi tại nhà riêng số 6 Đội Cấn, thành phố Quy Nhơn, Đại tá CCB Hoàng Liên sôi nổi: “Ngày đó, mặc dù bận rộn trăm công nghìn việc trước khi thực hiện chuyển quân ra miền Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, cùng với làm các công trình dân sinh khác, Bộ tư lệnh Liên khu 5 đã chủ trương xây dựng một nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của Liên khu ở thị xã Quy Nhơn, còn gọi là Nghĩa địa QĐNDVN, tập trung một số hài cốt cán bộ, chiến sĩ hy sinh ở các chiến trường về nhằm mục đích ghi nhớ công lao của các liệt sĩ và để lại dấu ấn lịch sử trong lòng đồng bào”. Trải lên bàn 4 bức ảnh mà ông còn giữ được về nghĩa trang, ông Liên không dứt mạch ký ức: “Những ngày chuẩn bị tập kết sôi động lắm. Tôi cùng các anh trong Ban 300 thuộc Phòng Chính trị Liên khu rong ruổi đến các nơi tuyên truyền chủ trương của Đảng về Hiệp định Giơ-ne-vơ, khi trở về lại Quy Nhơn thì việc xây dựng nghĩa trang đã xong. Tôi may mắn được chọn kéo cờ trong buổi khánh thành. Sau lời diễn văn của đồng chí Nguyễn Đôn, Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Liên khu, tôi bước vào vị trí. Các anh trong tổ chụp ảnh của phòng đã kịp bấm máy và tặng cho tôi những tấm ảnh này. Tập kết ra Bắc, tôi gói những tấm ảnh vào giấy bóng, cất sâu trong rương. Khi quay vào Nam chiến đấu thì gửi đồ đạc ở nhà hàng xóm. Sau ngày giải phóng tất cả đều bị thất lạc và hư hỏng vậy mà những tấm ảnh vẫn còn nguyên”.

Lễ khánh thành Nghĩa địa QĐND Việt Nam (năm 1955).

Khi được hỏi, sao có trong tay nhân chứng rõ ràng thế mà không báo cho các cơ quan chức năng sớm hơn, nguyên Phó hiệu trưởng chính trị Trường Văn hóa Quân khu 5 trả lời rằng, mới đây gặp lại những người có mặt tại nghĩa địa năm xưa, các ông mới quyết định lên tiếng với nguyện vọng mong được xây dựng một tượng đài nơi đây để nhắc nhở, giáo dục con cháu mai sau.

Theo ông Hoàng Minh Tùng, nguyên chiến sĩ Đại đội 305, Tiểu đoàn 71 (công pháo) trực thuộc Phòng Tham mưu Liên khu, người trực tiếp xây dựng nghĩa trang hiện ở 94 Nguyễn Thái Học thì việc xây dựng công trình này kéo dài trong khoảng 100 ngày, tức là cuối năm 1954 đến tháng 4-1955 thì xong. Vị trí được chọn là khu đất rộng chừng 300m2 một phần sân vận động (nay là khu vực sân ten-nít), tiếp giáp chùa Long Khánh và các con đường lớn của thành phố, đặc biệt không xa chợ Quy Nhơn và trường Quốc học. Chính nhờ vị trí trung tâm này mà từ khi xây dựng đến sau khi khánh thành, nghĩa trang lúc nào cũng có người đến thăm viếng, thắp hương. Có chuyên môn về ngành công binh, ông Tùng trực tiếp chỉ đạo lực lượng lên thành Bình Định tháo gỡ đá ong về làm khoảng 120 mộ, rất kỹ lưỡng với những tấm đá được kê kích vuông vắn, sâu xuống mặt đất, đồng thời lại dựng những tấm khác kê nhô lên trên gần cả mét. Trước khi đưa ra nghĩa trang, hài cốt liệt sĩ từ các nơi chuyển về đựng trong các tiểu bằng sành hoặc gỗ có tên và không có tên, tập trung ở hội quán chùa Long Khánh, có lập bàn thờ, phủ cờ Tổ quốc, hương khói nghi ngút. Hội quán lúc đó chỉ là căn nhà nhỏ sơ sài (nay đã sửa sang xây dựng lại bề thế). Ngoài hơn 100 chiến sĩ của Đại đội 305 trực tiếp xây dựng, còn có các cháu học sinh đến khắc bia và sơn màu, các mẹ, các chị nấu nước. Nhà chùa do Hòa thượng Thích Tam Hoàng trụ trì đã tổ chức cầu siêu vong linh các liệt sĩ nhiều ngày liền.

Có còn hài cốt liệt sĩ ở sân vận động?

Theo lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Nguyên Phước, trụ trì chùa Long Khánh, chúng tôi tìm đến khuôn viên nhà chùa gặp Hòa thượng Thích Nguyên Trạch, hiệu Giác Lâm, người đã sống ở đây thời Pháp thuộc. Hòa thượng Thích Nguyên Trạch nói: “Thời điểm làm nghĩa địa tôi có biết, bởi tấp nập lắm. Vả lại ranh giới giữa nhà chùa và sân vận động chỉ là những bụi cây lúp xúp, thấy rõ mồn một. Qua năm 1956 thì chế độ Ngô Đình Diệm bắt đầu cho di dời. Họ mời tôi ra cầu siêu. Sau lễ là cất bốc, họ làm vội vàng nhưng trật tự, không thấy dùng xe xúc ủi. Mấy ngày sau thì đã trao sân cho bên sở thể thao. Đa số người vùng này là Phật tử, coi trọng tâm linh, việc vùi lấp hài cốt dù là bên nào cũng khó có thể xảy ra…”.

Khiêng bia vào nghĩa địa (năm 1955). Ảnh tư liệu

Chắc chắn không còn hài cốt nào ở sân vận động hiện nay cũng là ý kiến của ông Nguyễn Hậu, hiện ở thôn Vĩnh Hy, Phước Lộc, Tuy Phước (Bình Định). Ông Hậu là y tá của Thị đội Quy Nhơn, đáng lẽ đã tập kết ra Bắc chuyến cuối cùng nhưng do bị sốt cao nên ở lại. Ông nhớ chính xác rằng, ngày chế độ Ngô Đình Diệm dời hài cốt liệt sĩ đi nơi khác là đúng dịp thanh minh (tiết tháng Ba). Chúng dùng xe GMC, có lẽ đến 5, 6 chiếc cất bốc đưa vào các thùng đạn. Ban đầu chúng làm có vẻ thận trọng, mỗi hài cốt kể cả bia mộ bỏ vào một thùng đạn bằng gỗ, nhưng ngày hôm sau trước sự đấu tranh của quần chúng nhân dân không cho di dời, chúng làm hối hả, dùng đèn pha rọi làm luôn đêm của ngày hôm sau để đưa bằng hết các liệt sĩ ra khỏi nghĩa địa. Ông Hậu khẳng định, chắc chắn số hài cốt bị thất lạc, hoặc không có tên là do chúng bỏ lẫn lộn vào thùng đạn, hoặc bị thất lạc tại nghĩa địa Ghềnh Ráng bởi thời gian và cát bụi phủ lấp.

Tìm hiểu chúng tôi được biết, qua 3 lần di dời từ các nơi về nghĩa trang; chính quyền ngụy di chuyển ra khu vực Trại gà (nay là phường Ghềnh Ráng) và Ty thương binh xã hội đưa hài cốt liệt sĩ về Nghĩa trang Quy Nhơn nên số liệt sĩ có tên bị thất lạc nhiều. Hiện nay ở Nghĩa trang Quy Nhơn chỉ còn 41 mộ có tên (Trung đoàn 108: 32 mộ; Trung đoàn 803: 9 mộ) và 58 mộ không có tên. Các Trung đoàn 120, 95 từng có liệt sĩ quy tập thời chống Pháp nhưng không thấy tên. Tiếc là bản danh sách các liệt sĩ được chôn cất lần đầu hiện nay không còn ai lưu giữ nên việc xác minh danh tính là điều rất khó khăn.

Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Nguyễn Hữu Chỉnh, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5 cho biết: Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã có công văn gửi UBND tỉnh Bình Định nhằm kết luận cuối cùng có nghĩa địa QĐNDVN tại Quy Nhơn vào thời điểm 1954-1955 để UBND tỉnh chỉ đạo các ban ngành chức năng thực hiện theo Nghị định 16/CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 26-1-2007 về việc ” Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, quản lý mộ nghĩa trang, đài tưởng niệm…”. Việc xây dựng tượng đài quy mô cấp tỉnh hay cấp Nhà nước sẽ do các cấp có thẩm quyền quyết định.

Ở sân vận động Quy Nhơn, cuộc sống vẫn tiếp diễn và sôi động hằng ngày. Tôi thầm nghĩ vong linh các liệt sĩ từng nằm đây 55 năm trước ắt hẳn đã có thể mỉm cười nơi chín suối vì đồng đội và nhân dân đã luôn nhớ về họ như nhớ về một giai đoạn lịch sử bi tráng của quân và dân Liên khu 5 anh dũng.

Hồng Vân
qdnd.vn

Chuyện về tên tướng phản bội Vla-xốp

Trong cuộc Chiến tranh Ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941-1945), rất nhiều sĩ quan và binh sĩ Quân đội Xô Viết được phong danh hiệu cao quý Anh hùng Liên Xô vì những chiến công kiệt xuất và sự hy sinh dũng cảm của họ. Tuy nhiên, cũng đã có một số người bị quân thù bắt làm tù binh rồi trở thành tay sai đắc lực phục vụ kẻ thù, phản bội Tổ quốc và nhân dân mình. Trong số đó có Trung tướng An-đrây An-đrê-ê-vích Vla-xốp.

Vợ chồng Vla-xốp trước chiến tranh.

“Tôi không có sự dao động nào”

Trong bản lý lịch tự thuật, vị Trung tướng này ghi: “Vla-xốp An-đrây An-đrê-ê-vích, sinh ngày 19-8-1901. Tự nguyện gia nhập Hồng quân Công nông Xô viết… Không tham gia các nhóm đối lập và chống Đảng. Không có sự dao động nào. Luôn luôn đứng vững trên đường lối chung của Đảng…”. Nhiều vị tướng và sĩ quan cao cấp của Hồng quân xuất thân từ quân đội Nga hoàng không thể có được những lời khai về mình như Vla-xốp đã viết. Đây là điều giúp Vla-xốp thăng tiến trên đường công danh của mình. Khi bắt đầu chiến dịch loại trừ toàn bộ “những kẻ thù của nhân dân” ra khỏi quân đội, thật khó tìm được một đề cử để bầu vào các ủy viên của tòa án quân sự ở các quân khu. Thế mà Vla-xốp đã làm được điều đó.

Trước khi đầu hàng Đức và sự phản bội Tổ quốc của Vla-xốp chưa hiện rõ thì ở y đã lộ rõ bản chất phiêu lưu tình ái và phản bội vợ và những người tình khác của y. Có nhiều người nói rằng trong thời gian Vla-xốp được phái đi làm cố vấn quân sự cho Tưởng Giới Thạch (1938-1939), y đã có ý định “chơi trò chăn gối” với vợ của vị thủ lĩnh này. Rồi sau đó để “giải quyết sự buồn tẻ” của chuyến công cán dài ngày này, Vla-xốp đã “mua dùng” trong ba tháng một cô gái vị thành niên người bản địa.

Sự việc trên cũng có thể chỉ là sự tung tin thất thiệt của một số cơ quan tình báo có chủ ý. Tuy nhiên chuyện phiêu lưu tình ái và phản bội người tình ở Liên Xô và Đức của Vla-xốp thì không ai chối cãi được: về vụ việc này đã được lưu giữ hàng tập tài liệu nhân chứng vật chứng trong các cục lưu trữ.

Những bức thư có câu kết mùi mẫn

Mùa hè 1936, vị trung đoàn trưởng 35 tuổi A.A.Vla-xốp say mê cô tình nhân U-li-a-na Ô-xa-tra. Sau khi cô này sinh một đứa con gái với y thì bị y bỏ rơi. Rồi y có người vợ chính thức là An-na. Khi chiến tranh xảy ra, An-na đi sơ tán thì Vla-xốp có ngay người tình trên chiến trường là nữ y tá A-gnê-xa Pốt-ma-den-cô 25 tuổi. Tới tháng 2-1942 A-gnê-xa buộc phải rời quân ngũ theo lệnh. Cô gái này chưa kịp chuyển đi thì vị tướng đó lại “vời” người tình mới để “sưởi ấm cho mình nơi trận mạc” là Ma-sa Vô-rô-mi-na. Khi cả hai đã bị quân Đức bắt thì “mối tình dã chiến” này cũng chấm dứt.

Khi vừa trở thành tù binh của Đức, Vla-xốp cũng đã kịp tìm cho mình mối tình mới nơi đây. Để mua chuộc, dụ dỗ vị tướng này, Bộ chỉ huy Đức đã đưa đến các cô gái “hấp dẫn”. Tuy nhiên, Vla-xốp sau đó đã xin được cưới làm vợ người quả phụ của một sĩ quan S.S là Hây-đi Bi-len-bớc (Heidy Bilenberg).

Trong quan hệ với người vợ và những người tình, Vla-xốp đã chứng tỏ mình là một “người tình đa diện”, “người lá mặt lá trái” trong quan hệ với phụ nữ. Sau đây là một số đoạn trong các bức thư gửi cho vợ – cô An-na và gửi cho người tình A-gnê-xa ông ta viết cùng ngày, cùng tháng, cùng năm.

Vla-xốp “hùng hồn kêu gọi” các tù binh Liên Xô tham gia “Quân đội giải phóng nước Nga” khi đã bị phát xít Đức bắt.

Một đoạn viết cho vợ là An-na Mi-khai-lốp-na: “…A-ni-a dễ thương và thân yêu! Ngoài thư em gửi cho anh thì anh không nhận một thư nào của ai cả, do vậy mà anh không viết cho ai… Trong thời gian gần đây, anh không giấu em là anh bắt đầu rất buồn nhớ em… Khi xa cách em, anh yêu em nhiều hơn trước… Anh An-đriu-xca2 mọi lúc và mọi nơi đều yêu quý em. Ngày 02-02-1942”.

“… Sao em lại không tin, A-ni-a yêu quý!… Anh đã được trò chuyện với Ông Chủ lớn nhất của chúng ta… Em không thể hình dung nổi rằng anh rất hồi hộp và đã ra khỏi phòng ông ta với niềm phấn chấn. Em, rõ là khó tin được rằng ở con người vĩ đại như thế lại có thì giờ ngay cả cho việc riêng tư của chúng ta. Em hãy tin là ông đã hỏi anh rằng vợ anh nay ở đâu và sống như thế nào… Anh An-đriu-xca mọi lúc và mọi nơi của em. Ngày 14-02-1942”.

“A-ních yêu quý! Đã 11 tháng chúng ta xa cách nhau, nhưng trong tâm thức anh vẫn luôn luôn bên em… Em biết không, A-ni-a thân thương và yêu quý của anh, rằng Đảng và Chính phủ có phái An-đriu-xca của em đi bất cứ đâu thì anh ta vẫn sẽ hoàn thành nhiệm vụ trong danh dự. An-đriu-xca rất yêu quý của em. Ngày 26-04-1942”.

Còn sau đây là những đoạn thư của Vla-xốp viết cho “người tình dã chiến” A-gnê-xa cũng vào đúng những thời điểm đó. “A-li-trơ-ca5 dễ thương và yêu quý!… Anh đã hiến cả đời mình cho em…, là người yêu em… – An-đriu-xca của em. Ngày 02-02-1942”

“A-li-trơ-ca yêu quý và dễ thương!… Anh được gọi tới Ông Chủ3 lớn nhất và quan trọng nhất của chúng ta. Em hãy tưởng tượng xem, ông đã trò chuyện với anh suốt tiếng rưỡi đồng hồ… Anh xin em, em bé yêu của anh, đừng buồn, đừng lo lắng vì nó có hại cho em. An-đriu-xca mọi lúc và mọi nơi của em. Ngày 14-02-1942”.

“A-li-a yêu quý và dễ thương của anh… Em biết rõ rằng Chính phủ và Đảng có phái anh đi bất cứ đâu thì anh vẫn sẽ hoàn thành nhiệm vụ trong danh dự (y như lời thư viết cho vợ An-na trong ngày đó!)… Anh chỉ nghĩ và nghĩ về em yêu quý (và cả con em nữa)-ngoài ra anh không có ai là người gần gũi với tâm hồn và trái tim anh… An-đriu-xca mọi lúc và mọi nơi của em… Ngày 26-04-1942).

“A-li-xíc yêu quý và dễ thương! Anh rất buồn là em đã viết cho anh những bức thư không tốt như thế. Những lời bóng gió về “sự phục vụ”, v.v… Điều đó hoàn toàn làm anh giận. Bởi có lẽ chính em biết rõ rằng, ngoài em ra thì trong đời anh không có ai khác… Ngày 10-05-1942”.

Có thể trích dẫn ra nhiều bức thư như thế cùng đồng thời gửi cho vợ An-na và cả “người tình dã chiến” A-gnê-xa – là những “người thân yêu nhất và duy nhất” của y.

Kết cục tất yếu

Phản bội Tổ quốc và nhân dân, phản bội vợ và những người tình là bản chất thật sự của Vla-xốp. Thế nhưng, có một số sử gia xu thời đã tìm mọi cách biện bạch cho sự phản bội Tổ quốc của Vla-xốp rằng hắn đầu hàng Đức là chỉ để kêu gọi “thành lập một nước Nga mới không có người Bôn-sê-vích trong cộng đồng hợp tác với nước Đức”. Tuy nhiên, bằng những lời phát biểu của mình, vị tướng này đã trơ tráo đánh lừa nhân dân Nga mà ai cũng thấy rõ. Ví như ngày 27-12-1942, hắn nói trên đài phát thanh của Đức có đoạn: “Nước Đức đang tiến hành chiến tranh không phải chống lại nhân dân Nga và Tổ quốc của họ, mà chỉ chống lại chủ nghĩa Bôn-sê-vích…”. Hắn đã nói dối vì hắn biết chính xác mục đích của Hít-le là muốn biến người Nga “hạ đẳng” thành “loài gia súc làm việc”, bởi vì trong lợi ích của nước Đại Đức không muốn có “sự sinh sôi giống người Xla-vơ”.

Bộ Chỉ huy phát xít Đức đã lập ra cái gọi là “Quân đội giải phóng nước Nga” và “đặt” Vla-xốp vào vị trí Tư lệnh. Tuy nhiên Bộ chỉ huy Đức vẫn chưa đưa cả đội quân này ra trận đánh trực diện với Hồng quân với nhiều lý do về chiến thuật – chiến lược và lòng tin, mà chỉ phân ra từng đội nhỏ lẻ tẻ dưới sự kiểm tra nghiêm ngặt của các sĩ quan phát xít trong việc phục vụ các chiến dịch, hoặc các cuộc hành quân nhỏ lẻ. Trong đội quân phản bội này còn có các tên tướng bạch vệ cũ Kra-xnốp và Scu-rô (cư trú tỵ nạn ở Nam Tư), Xê-mi-ô-nốp (cư trú tị nạn ở Mãn Châu Lý). Còn “binh sĩ” của chúng là một số kiều dân Nga mà chủ yếu là một số sĩ quan Bạch vệ đã chạy trốn sau Cách mạng Tháng Mười để chống đối Liên Xô, một số binh lính Nga bị Đức bắt làm tù binh đã bị mua chuộc, bị đánh lừa…

Tuy nhiên cái tổ chức phản bội này cuối cùng cũng chẳng làm nên trò trống gì đáng kể theo yêu cầu của bọn phát xít xâm lược. Và kết cục tất yếu cuối cùng đã đến với chúng. Vla-xốp cùng bọn chỉ huy đầu sỏ như Kra-xnốp, Scu-rô, Xê-mi-ô-nốp, v.v… đã bị Tòa án tối cao Liên Xô tuyên án treo cổ. Một số khác đã tẩu thoát được và chạy trốn tránh tới Mỹ, Anh, Ca-na-đa và một số quốc gia khác.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Ghi chú: Trong tiếng Nga, tên người được gọi (hay viết) biến đổi một ít ở đuôi từ cho nhẹ nhàng, thân mật và âu yếm.

1. A-ni-a gọi âu yếm từ An-na.

2. An-đriu-xca – từ tên An-đrây.

3. Ông Chủ (tức Xta-lin)

4. A-ních – từ tên An-na.

5. A-li-trơ-ca – từ tên A-gnê-xa

6. A-li-a – từ tên A-gnê-xa

7. A-li-xic – từ tên A-gnê-xa

Xây dựng “vốn quân sự” đầu tiên

QĐND – Tháng 3-1935, tại Ma Cao (Trung Quốc), Đại hội lần thứ I của Đảng Cộng sản Đông Dương phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước, phong trào cách mạng của nhân dân ta ở Lạng Sơn, Cao Bằng và rút ra một nhận định quan trọng: “Điều rất đặc sắc là cuộc đấu tranh của công nông người Thổ, người Nùng ở Cao Bằng, Lạng Sơn có tính chất tổ chức chu đáo và theo những khẩu hiệu cộng sản rõ rệt. Công nông các dân tộc thiểu số chẳng những đã vào hàng ngũ của Đảng và các đoàn thể do Đảng chỉ đạo mà họ giữ một địa vị rất quan trọng trong các cơ quan chỉ đạo từ hạ cấp tới thượng cấp” (Văn kiện Đảng 1929-1935, NXB ST, H.1977, Tr.480). Trên cơ sở nhận định ấy, Trung ương, Xứ ủy Bắc Kỳ lần lượt cử cán bộ vào châu Bắc Sơn gây dựng cơ sở, kết nạp quần chúng trung kiên vào Đảng. Trong lớp cán bộ đầu tiên ấy là đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trần Đăng Ninh. Nhờ đó, quần chúng cách mạng và các cơ sở của Đảng ngày càng tổ chức chặt chẽ, hoạt động sôi nổi và hiệu quả hơn. Với lòng yêu nước, căm thù giặc cháy bỏng, các chiến sĩ cách mạng kiên cường được tập hợp lại, và Đội du kích Bắc Sơn chính thức thành lập tại làng Đon Úy, xã Vũ Lăng. Đây là đội du kích đầu tiên của cách mạng Việt Nam do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo. Ông Lương Văn Tri, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ được cử làm Đội trưởng (trước đấy là ông Trần Đăng Ninh). Với nhận định: Phải duy trì và phát triển Đội du kích Bắc Sơn để làm vốn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, tiến tới xây dựng trung tâm căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai. Phương hướng hoạt động của đội là “vũ trang công tác”. Khi cần thiết thì chống địch khủng bố, bảo vệ nhân dân, phát triển cơ sở, mở rộng căn cứ.

Ống bương đựng gạo của Đội du kích Bắc Sơn. Ảnh tư liệu

Chiếc nồi dựng để nấu cơm cho Đội du kích Bắc Sơn thập niên 1940.

Được cử lãnh trách nhiệm nặng nề, ông Lương Văn Tri một mặt khẩn trương chấn chỉnh Đội du kích Bắc Sơn. Mặt khác, phát triển lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nguồn bổ sung nhanh chóng cho đội du kích. Chủ trương của ông và toàn đội là sống tập trung, thoát ly gia đình để có thể cơ động nhanh trên địa bàn rộng. Vừa đánh địch bảo vệ lực lượng, vừa tuyên truyền tổ chức quần chúng. Đội du kích Bắc Sơn sau khi được ông chấn chỉnh và củng cố lại đã có hơn 20 đội viên, được trang bị các loại súng trường cướp được của địch. Ban ngày toàn đội rút vào rừng sâu, các hang động kín đáo để học tập. Ban đêm chia thành các tổ, phân công len lỏi về các bản làng hướng dẫn quần chúng đấu tranh; tiếp tế cho du kích; tổ chức diệt ác trừ gian. Điển hình là trận ra quân phục kích ở Tam Hoa, xã Hưng Vũ (năm 1941) bắn chết tên phó Thưởng và bắn bị thương tên Lý Tốn đang đi dò la tin tức.

Trong gian lao, nguy hiểm, Đội du kích Bắc Sơn do ông Tri làm đội trưởng vẫn tăng cường huấn luyện chính trị, quân sự, học tập chủ trương đường lối cách mạng của Đảng. Đặc biệt, ông hướng dẫn mọi người đi sâu và khéo vận dụng nghệ thuật vận động quần chúng trong đấu tranh từ thấp lên cao, từ đấu tranh chính trị chuyển thành đấu tranh vũ trang. Trong đó ông rất chú ý tới việc xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa. Đồng thời với việc chấn chỉnh Đội du kích Bắc Sơn, ông đã cùng ban chỉ huy đội dành nhiều thời gian, công sức cho công tác phát triển lực lượng tự vệ địa phương, tạo nguồn bổ sung cho đội.

Ngày 1-5-1941, là thời điểm có ý nghĩa lịch sử đối với Đội du kích Bắc Sơn, tại khu rừng Khuổi Nọi, được Trung ương nâng cấp phát triển Đội du kích Bắc Sơn thành Đội Việt Nam Cứu quốc quân, làm vốn xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng, làm nòng cốt xây dựng căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai. Hướng về lá cờ đỏ sao vàng (do Hội phụ nữ phản đế Hà Nội thêu tặng, đồng chí Hoàng Văn Thụ trao cho đội tháng 2-1941), ông Lương Văn Tri đã thay mặt toàn đội hứa với Trung ương sẽ chăm lo phát triển tốt các tổ chức quần chúng, mở rộng phong trào, nối với các cơ sở cách mạng ở Võ Nhai tạo thành khu căn cứ liên hoàn, làm tròn mọi nhiệm vụ Đảng giao. Trước mắt, bảo vệ tuyệt đối an toàn đoàn cán bộ đi dự Hội nghị Trung ương 8. Và dõng dạc đọc lời thề danh dự của đội: “Không phản Đảng. Không hại dân. Không hàng giặc. Tuyệt đối trung thành với Đảng. Kiên quyết phấn đấu để trả thù cho những đồng chí, đồng bào đã hy sinh”. Sau đó ông Lương Văn Tri chỉ huy toàn đội vượt qua muôn trùng nguy hiểm, đưa đường và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đoàn cán bộ của Đảng đi họp Hội nghị Trung ương lần thứ 8 ở Pác Bó (Cao Bằng). Sau khi hội nghị kết thúc, lại tiếp tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đưa đoàn trở về xuôi. Cái vốn quân sự đầu tiên quý giá ấy, đã trở thành một bộ phận cấu thành Quân đội nhân dân Việt Nam bách chiến, bách thắng.

Phạm Xưởng

Khám phá căn cứ bí mật của tình báo Mỹ

QĐND – LTS: Cuối năm 2008, đạo diễn người Đức Mác E-bớc-lơ (Marc Eberle) từng theo đuổi đề tài các chiến dịch ngầm của CIA từ những năm 1960 – đầu 1970, đã khởi chiếu thành công bộ phim tài liệu của mình về cuộc chiến tranh bí mật của Mỹ ở Lào. Báo In-nơ Pơ-rét Sơ-vít-xơ (Inner Press Service) đã đăng bài phỏng vấn đạo diễn E-bớc-lơ về bộ phim này(1).

Căn cứ bí mật nhất của những người lính kín của CIA là sân bay Long Chẹng thời chiến tranh. Long Chẹng là một địa phương ở Trung Lào cho tới nay vẫn hạn chế người ngoài lui tới. Một bộ phim mới, gọi là “Căn cứ bí mật nhất quả đất: Cuộc chiến tranh bí mật của CIA ở Lào” đã được trình chiếu trên các rạp khắp châu Âu năm 2008, khảo sát cuộc xung đột ít được biết đến này. Bộ phim này được công chiếu lần đầu ở Phnôm Pênh tháng 8-2008, bao gồm những thước phim được quay ở Long Chẹng bởi đoàn làm phim phương Tây đầu tiên đến căn cứ này kể từ khi Đảng nhân dân cách mạng Lào lên nắm quyền ở Lào năm 1975.

Áp phích phim “Căn cứ bí mật nhất quả đất: Cuộc chiến tranh bí mật của CIA ở Lào”.

“Tôi có ý tưởng làm bộ phim khi tới thăm cánh đồng Chum năm 2002”, đạo diễn phim người Đức, Mác E-bớc-lơ, cho hay. “Sau đó tôi được nghe về Long Chẹng, và sự kiện chưa ai từng tới đó kể từ sau chiến tranh làm tôi nghĩ là làm sao làm được một bộ phim về nó”.

Rất ít điều được biết về cuộc xung đột ở Lào, bất chấp thực tế đây là chiến dịch bán quân sự lớn nhất, đắt giá nhất từng được Mỹ tiến hành. Chiến dịch này hoàn toàn do CIA đảm trách, sử dụng các phi công dân sự của một Hãng hàng không riêng của cơ quan tình báo này, tên gọi là Hàng không Hoa Kỳ (Air America), cùng các lính đánh thuê người Mông (Mẹo) và người thuộc một số bộ tộc thiểu số khác, sống trên vùng núi cao ở Thượng Lào và Trung Lào. Bất chấp thực tế rằng nó là trung tâm của cuộc chiến tranh ngầm, rằng từng là sân bay có tần suất cất hạ cánh của máy bay cao nhất thế giới, và từng chứa 40 nghìn dân, Long Chẹng cũng là địa danh chưa từng xuất hiện trên bất kỳ bản đồ nào của phương Tây. “Tôi thấy thật quái lạ là Long Chẹng từng là điểm dân cư đông thứ nhì nước Lào (trong chiến tranh), đồng thời lại hoàn toàn bí mật”, E-bớc-lơ nói. Long Chẹng là nơi hiện không chỉ người nước ngoài mà cả dân thường Lào không được lui tới, vì còn lẩn quất tàn quân người Mông của CIA. Gần đây thôi, nó vẫn thuộc về một đặc khu do quân đội CHDCND Lào trực tiếp kiểm soát. Sự quan tâm về cuộc chiến tranh bí mật ở Lào đã sôi động trở lại vào năm 2003, khi hai phóng viên phương Tây tiếp xúc được với các nhóm phiến quân người Mông. Đây là những người da trắng đầu tiên mà những người Mông này nhìn thấy kể từ khi CIA bỏ rơi họ 27 năm về trước. Cho dù các bức ảnh của cuộc gặp mặt này được in trên Thời báo châu Á, và được giải thưởng quốc tế, truyền thông Mỹ đã không bắt kịp với sự kiện này và nó bị lu mờ đi. Cuộc xung đột Lào cách đây mấy thập kỷ lại trở thành tiêu điểm, khi nhà chức trách Hoa Kỳ bắt Vàng Pao, người cầm đầu các lực lượng CIA người Mông của những năm 1960. Vàng Pao bị buộc tội khủng bố, do sự dính líu của ông ta vào một mưu đồ lật đổ chính phủ Lào hiện nay. E-bớc-lơ nghĩ rằng những gì xảy ra ở Lào thập kỷ 60 của thế kỷ 20 đang có những ánh xạ mạnh, chẳng hạn như cuộc xung đột hiện nay ở I-rắc. “Lào thời ấy chính là nơi thử nghiệm cho cách Mỹ làm chiến tranh trong thế kỷ 21”, E-bớc-lơ khẳng định. “Dùng các công ty tư nhân vào các hoạt động chiến tranh, giành sự ủng hộ của xã hội bằng cách ngụy tạo các tin tức và tài liệu, thao túng truyền thông và sử dụng chiến tranh tự động hóa, bao gồm cả các vũ khí “thông thái” – tất cả các phương thức này từng được thử nghiệm ở Lào”.

Cuộc xung đột bắt đầu vào cuối những năm 1950, khi Oa-sinh-tơn (Washington) tìm cách đánh chặn các lực lượng Pa-thét Lào và đồng minh Bắc Việt của họ, đang xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh qua các rừng rậm dọc theo biên giới phía đông của Lào. Chiến dịch này được giao cho CIA điều hành, nhằm đưa Lào ra ngoài quỹ đạo của khái niệm trung lập về chính trị, ra ngoài khuôn khổ quy định bởi Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào.

Vàng Pao, một sĩ quan người Mông của quân đội Hoàng gia Lào lúc đó đã được CIA tuyển mộ để chỉ huy lính người Mông đánh quân cộng sản. Ở đỉnh cao cuộc xung đột, đội quân của Vàng Pao lên tới 30 nghìn người.

Sân bay dã chiến Long Chẹng được xây dựng ngay sau đó, trở thành lớn nhất trong số hàng trăm đường băng được CIA xây dựng trên khắp đất Lào. Bộ phim “Căn cứ bí mật nhất” khảo sát cuộc xung đột qua hồi ức của các nhân chứng, từng thủ các vai chính của “cuộc chơi” này, dưới các vỏ bọc, hay đảm nhiệm các chức trách về ngoại giao hay quân sự của Mỹ ở Lào. Họ gồm các nhà ngoại giao về hưu, cựu các sĩ quan CIA và các cựu phi công của Hàng không Hoa Kỳ Air America nói trên.

Phim cũng phỏng vấn các bình luận viên quốc tế, như An-phrét Mắc-coi (Alfred McCoy) – tác giả cuốn “Nền chính trị hê-rô-in: Sự đồng lõa của CIA trong buôn bán thuốc phiện toàn cầu”; Phrét Bran-man (Fred Branfman), cựu nhân viên một chương trình cứu trợ quốc tế, đã trở thành thành viên phong trào phản chiến, tích cực phanh phui các góc khuất của cuộc xung đột. Những thường dân Lào, từng là nạn nhân của guồng máy chiến tranh tinh vi nhất về công nghệ, cũng có cơ hội chia sẻ ký ức của mình trong phim. Có một đoạn phim ngắn phỏng vấn Vàng Pao, trong một khung cảnh ở Hoa Kỳ, không hề tương xứng với sự cùng khốn của những người Mông (ở Lào), từng phải chịu gánh nặng của một cuộc chiến khốc liệt. Khác với số phận của gia đình Vàng Pao và những kẻ cầm đầu, các phiến quân người Mông đã bị bỏ rơi khi người Mỹ rút khỏi Lào.

Các sĩ quan CIA, Vàng Pao và quân lính giữa những năm 1960. Nguồn: http://americal4ofthe3.com/declassifiedlbjtapes.html

Một trong những cảnh đạt nhất trong phim “Căn cứ bí mật nhất” là những đoạn phim tư liệu mà E-bớc-lơ thu thập được nhưng chưa từng trình chiếu, gồm các thước phim về hoạt động tác chiến và cuộc sống hằng ngày tại căn cứ của Mỹ ở Long Chẹng. Chúng được cóp nhặt từ vô số nguồn, từ Lưu trữ phim quốc gia Hoa Kỳ đến các tư liệu phim được bảo quản tại các hãng truyền hình trên khắp châu Âu. “Vừa hay, CIA cũng giải mật nhiều tài liệu, thật hữu ích cho quá trình làm phim – Đạo diễn chia sẻ – Nguồn quan trọng nhất là các cá nhân (người phương Tây), những người đã quay trộm là chính, bằng các máy quay mini như Super 8”.

Các lời bình trong phim đã đặt phim này sang một phía khác trái hẳn với nhiều sách và phim tài liệu ở phương Tây trước đây chuyên bào chữa cho cuộc xung đột và tôn vinh các trùm mật vụ của CIA và các phi công hãng Air America (của CIA) như các anh hùng. Thực tại, được cựu phóng viên thời chiến tranh An-phrét Mắc-coi, nay là sử gia nổi tiếng của Mỹ, khái quát ở phần cuối bộ phim, là khác hẳn với các sản phẩm truyền thông trước đó: “Chúng ta đã hủy hoại cả một nền văn minh, đã xóa bỏ nó khỏi bản đồ. Chúng ta đã đốt ra tro, đã thiêu hủy cả những tàn tích của con người trong cuộc chiến tranh đường không này. Và điều gì đã xảy ra sau cùng? Chúng ta đã thua!”.

Cuộc xung đột chỉ ra rằng trong thời kỳ chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, quân Mỹ đã có khả năng không đếm xỉa đến các luật quốc tế trong hoạt động quân sự. Mỗi căn nhà đều có thể là một mục tiêu để phá hủy và tổn thất của dân thường là vô cùng to lớn.

Năm 1970, tình hình trở nên nghiêm trọng hơn khi tổng thống Mỹ Ních-xơn ra lệnh dùng B52 ném bom hủy diệt ở Lào, điều đã không được giải mật trong rất nhiều năm về sau này. Trong suốt các ngày đêm của 9 năm chiến tranh, cứ 8 phút một, một lượng bom đạn mà mỗi máy bay ném bom của Mỹ có thể chở được đã được ném xuống các mục tiêu ở Lào, làm cho Lào trở thành đất nước với số lượng bom ném xuống trên đầu người cao nhất trong lịch sử mọi cuộc chiến tranh. Hiện ở Long Chẹng, các công trình do Mỹ xây, gồm cả các nhà gỗ một tầng kiểu Ca-li-phoóc-ni-a và theo nhiều phong cách kiến trúc khác của những năm 60, đang nằm đó, trống huếch, vô chủ. “Thời “hoàng kim” của Long Chẹng đã qua đi. Nó từng là ốc đảo công nghệ cao dành cho quỷ quái (spooks – ý nói những lính kín thuộc các nghiệp vụ khác nhau của Mỹ). Ở đây từng có nhiều ăng-ten hơn cả cây rừng”, đạo diễn E-bớc-lơ cho hay. E-bớc-lơ chia sẻ ý kiến của nhiều nhà quan sát khác, rằng các phiến quân trong rừng ở Lào đã kiệt quệ. “Hiện vẫn còn một số nhóm như thế nhưng họ không được tổ chức gì về chính trị hay quân sự. Đó là tàn quân, là con cháu của những người đã tham chiến (cùng quân Mỹ), nay họ sợ ra khỏi rừng vì họ không biết gì hơn ngoài lẩn lút trong rừng”.

“Bất luận tội trạng của Vàng Pao đến mức nào trong vụ án chống chính phủ CHDCND Lào vừa qua, có một sự thật là ông ta và những người Mông ở nước ngoài từng sử dụng những phiến quân ở Lào hôm nay như những con tốt”, E-bớc-lơ nói.

Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn

[1] http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/JH26Ae01.html

Hai sai lầm tình báo chiến lược của Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên

QĐND – Báo điện tử Trung Quốc “Hoàn Cầu” (www.huanqiu.com), ngày 15-10-2010 đăng bài “Hai sai lầm tình báo chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên” của Nhà báo Diễm Duy, phóng viên Tạp chí Hoàn Cầu thường trú tại Oa-sinh-tơn, Mỹ, tổng hợp qua hồ sơ của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) công bố công khai năm 2010, sau 60 năm phát động cuộc chiến tranh Triều Tiên.

Năm 1950, khi cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ ra, những nhà lãnh đạo quân đội Mỹ và nước Mỹ đã trở tay không kịp. Chỉ có lực lượng cảnh vệ Mỹ được điều động từ Nhật Bản đến, huấn luyện không đầy đủ mà trang bị thô sơ, phải trả giá thương vong cao mới ngăn chặn được cuộc tiến công của quân đội Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên).

Sau 4 tháng, những nhà lãnh đạo nước Mỹ lại một lần nữa không dự liệu được quân đội Trung Quốc thâm nhập vào Triều Tiên tham gia chiến đấu.

Những thông tin trên được tiết lộ xuất xứ từ văn kiện “Hai sai lầm tình báo chiến lược trên bán đảo Triều Tiên năm 1950” của CIA.

Tướng Mỹ Mác Ác-tơ.

Tháng 6 năm nay (2010), nhân kỷ niệm lần thứ 60 mở đầu chiến tranh Triều Tiên, CIA đã công bố 1.300 văn kiện, trong đó có 900 trang trước đây chưa từng công khai. Những văn kiện này bao gồm báo cáo, tin tức tình báo và ấn phẩm định kỳ “Đánh giá tình báo quốc gia”, cùng những tin bài của báo chí nước ngoài phản ánh tình thế của khu vực này.

Những văn kiện tình báo này khẳng định: 60 năm trước, CIA vừa mới thành lập, tổ chức còn hỗn loạn, quân Mỹ chuẩn bị chưa đầy đủ khi đối diện với thế tiến công của quân đội Bắc Triều Tiên trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Mỹ cũng không dự liệu được quân đội Bắc Triều Tiên vượt qua vĩ tuyến 38 và cũng không dự liệu được quân đội Trung Quốc vượt qua sông Áp Lục, tác chiến với quân Mỹ. Đây là hai sai lầm tình báo chiến lược mà Mỹ phạm phải trong thời gian chiến tranh Triều Tiên.

Pi-tơ Cli-men (Peter Clemens), Phó giám đốc CIA phụ trách phân tích tình báo, nói: “Những văn kiện này chứng minh CIA khi ấy “tổ chức không tốt”. Họ không dự liệu được Bắc Triều Tiên sẽ mở cuộc tiến công. Điều này chứng minh rõ ràng chúng ta (Mỹ) chưa kết hợp tất cả những hiện tượng lại. Những văn kiện này chứng tỏ, CIA khi ấy chỉ dựa vào một số ít người để xử lý tin tức tình báo thế giới, hoàn toàn khác với hiện tại”.

Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, có phải là khúc nhạc dạo đầu của chiến tranh thế giới?

Văn kiện này còn cho biết: Trong báo cáo tóm tắt hằng tuần ngày 20-2-1948, CIA cho rằng, Liên Xô là người thao túng phía sau tất cả kế hoạch chính trị và quân sự, khống chế mọi quyết sách của Bắc Triều Tiên.

Báo cáo của CIA ngày 19-6-1950 về năng lực quân sự của Triều Tiên nói rõ điểm này. Báo cáo này viết: “Bắc Triều Tiên là nước vệ tinh của Liên Xô, bị khống chế cẩn mật. Nước này không có chính sách độc lập, sự tồn tại của nó hoàn toàn dựa vào sự ủng hộ của Liên Xô”. Báo cáo này chỉ ra, tuy Triều Tiên có thể tiến công một số khu vực ở miền Nam, nhưng nếu như không có sự ủng hộ của Liên Xô hoặc Trung Quốc, rất có khả năng sẽ không tiêu diệt được Chính phủ ở miền Nam.

Chiến đấu trên đồi Thượng Cam Lĩnh.

Đến mùa xuân năm 1950, sự chuẩn bị tiến công của Bắc Triều Tiên vào Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) đã vô cùng rõ ràng. Báo cáo hằng tháng của CIA đều đề cập đến sự chuẩn bị của quân đội Bắc Triều Tiên, nhưng không nhấn mạnh đến khả năng quân đội Bắc Triều Tiên mở cuộc tiến công. Giới chóp bu ở Oa-sinh-tơn ngoan cố cho rằng, chỉ có Liên Xô mới có thể ra quyết định tiến công, mà nếu vậy thì sẽ trở thành khúc nhạc dạo đầu của đại chiến thế giới. Nhà Trắng khẳng định, Mát-xcơ-va không dám đi nước cờ này, vì thế Bắc Triều Tiên không thể đánh vào miền Nam!

Kỳ thực, có một nguồn tin tình báo của CIA cho biết, Triều Tiên đang tích cực chuẩn bị khai chiến. Ngày 20-6-1950, một bản tin tình báo của CIA, căn cứ vào tình báo do nội tuyến cài cắm vào nội bộ Bắc Triều Tiên cung cấp, khẳng định Bắc Triều Tiên có khả năng mở cuộc tiến công miền Nam bất cứ lúc nào. Tru-man, Tổng thống Mỹ khi ấy, các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Quốc phòng đều nhận được tin tình báo này nhưng đã bỏ qua. Năm ngày sau, Triều Tiên mở cuộc tiến công miền Nam. Từ Tru-man đến Mác Ác-tơ (Mac Arthur), Tư lệnh quân Đồng minh ở Viễn Đông đều bị bất ngờ do không hề chuẩn bị.

Trung Quốc can thiệp, Mỹ “phát điên”

Tháng 8-1950, các nhà lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc và Triều Tiên ý thức rằng, quân Mỹ nhảy vào tất sẽ đánh bại quân đội Bắc Triều Tiên.

Ngày 4-8, trong một cuộc hội nghị Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông nói: Nếu như nước Mỹ giành được thắng lợi trên bán đảo Triều Tiên, điều này sẽ uy hiếp đến Trung Quốc.

Cuối tháng 8, về các phương diện, Trung Quốc đều tỏ ra lo lắng trước việc quân đội Bắc Triều Tiên bị đánh bại và quân Mỹ chiếm lĩnh toàn bộ Triều Tiên. Cùng thời kỳ, tình báo của Bộ tư lệnh Viễn Đông của nước Mỹ đánh giá, có khoảng trên 20 vạn quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc và trên 30 vạn dân binh bố trí gần sát biên giới Trung – Triều.

Cuối tháng 9, Trung Quốc đã thông qua con đường ngoại giao biểu thị lo lắng trước việc nước Mỹ tiến công Bắc Triều Tiên và chiếm lĩnh Triều Tiên.

Tại Bắc Kinh, Thủ trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc khi ấy đã thông báo với Đại sứ Ấn Độ: Trung Quốc không thể cho phép quân Mỹ tiếp cận lãnh thổ Trung Quốc. Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ sẽ chuyển đạt thông tin này cho Đại sứ Mỹ tại Ấn Độ.

Cũng như vậy, tại Oa-sinh-tơn, Đại sứ Anh cũng chuyển đạt cảnh báo như vậy tới Chính phủ Mỹ.

Đại sứ Mỹ tại Liên Xô báo cáo: Các cơ quan hữu quan của Liên Xô và Trung Quốc đã thông báo cho Đại sứ Anh và Hà Lan rằng: Nếu như quân đội nước ngoài vượt qua vĩ tuyến 38, Trung Quốc sẽ xuất binh!

Mặc dầu Trung Quốc đã phát những lời cảnh cáo như vậy, nhưng Mác Ác-tơ vẫn tiếp tục tiến công Bắc Triều Tiên, nhắm ý đồ tiêu diệt quân đội của Kim Nhật Thành.

Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ cũng coi thường cảnh cáo của người Trung Quốc. Ông ta tuyên bố với báo chí: Trung Quốc can thiệp vào là “hoàn toàn phát điên”!

Ngày 12-10, trong báo cáo đánh giá của CIA có nhan đề “Tình thế nghiêm trọng ở Viễn Đông – Trung Quốc tiến hành can thiệp toàn diện tại bán đảo Triều Tiên”, viết: “Mặc dầu Trung Quốc có khả năng can thiệp toàn diện tại bán đảo Triều Tiên, nhưng suy xét đến nguyên nhân mà mọi người đều biết, khiến chúng ta rút ra được kết luận: Trừ phi Liên Xô quyết định phát động đại chiến toàn cầu, thì khả năng Trung Quốc can thiệp vào Triều Tiên vào năm 1950 này là không lớn”.

Trung tuần tháng 10, nhiều tin tức tình báo cho biết, Trung Quốc chuẩn bị tiến hành can thiệp vũ trang. CIA báo cáo: Trung Quốc bắt đầu mua từ nước ngoài khối lượng lớn vật tư y tế. Đặc vụ của Quốc Dân đảng tại Đông Bắc Trung Quốc cung cấp tình báo cho CIA rằng: Quân Giải phóng nhân dân có 30 vạn quân tại khu vực biên giới. Ngày 20-10, CIA giải thích về hàng loạt tin tình báo này: Quân đội Trung Quốc tiến vào Triều Tiên là nhằm bảo vệ Nhà máy Thủy điện trên sông Áp Lục! Ngày 25-10, Trung Quốc phát động đợt tiến công thứ nhất. Nhưng, người Mỹ nghi ngờ các báo cáo của quân đội Nam Triều Tiên trên chiến trường truyền đến. Họ kiên trì cho rằng quân đội Trung Quốc không có năng lực!

Đầu tháng 11, báo cáo trên chiến trường không làm cho Oa-sinh-tơn yên tâm. Một trung đoàn của Sư đoàn kỵ binh số 1 quân Mỹ lần đầu gặp quân đội Trung Quốc, quân Mỹ thương vong thảm hại. Ngày 4-11, Sư đoàn Kỵ binh số 1 phát hiện họ đang đối diện với 5 sư đoàn quân đội Trung Quốc, đồng thời Sư đoàn 1 Hải quân lục chiến phát hiện đang tác chiến với 3 sư đoàn quân đội Trung Quốc. Lúc này, Mác Ác-tơ vẫn không muốn tin rằng quân đội Trung Quốc tiến vào Triều Tiên tham chiến với quy mô lớn.

Trung tuần tháng 11, Bộ tư lệnh Viễn Đông quân Mỹ báo cáo rằng: Tại Triều Tiên đã phát hiện 12 sư đoàn quân Trung Quốc. Ngày 24-11, “Đánh giá tình báo quốc gia” cho biết: Trung Quốc có năng lực tiến hành hành động quân sự với quy mô lớn, nhưng chưa có hiện tượng chứng tỏ cuộc tiến công quy mô lớn đang tiến hành!

Nhưng, chính vào ngày hôm ấy, quân đội Trung Quốc phát động đợt tiến công thứ hai, buộc Quân đoàn 8 của Lục quân Mỹ phải hoảng loạn tháo chạy. Sư đoàn 1 Hải quân lục chiến Mỹ bị bao vây và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn.

Mấy ngày sau, Mác Ác-tơ đối diện với hiện thực: Thế tiến công “kết thúc chiến tranh” tại hướng sông Áp Lục của quân Mỹ đã hoàn toàn chấm hết, thắng lợi là quá ư xa vời.

Ngày 28-11, Mác Ác-tơ báo cáo rằng: Y đối mặt với 20 vạn quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc và đây là một cuộc chiến tranh hoàn toàn mới. Một lần nữa, viên Tư lệnh quân Đồng minh ở Viễn Đông đánh giá sai về số lượng của quân đội Trung Quốc tham chiến, nhưng đây đích xác là một cuộc “chiến tranh hoàn toàn mới”.

Diễm Duy

(Phóng viên Tạp chí Hoàn Cầu thường trú tại Oa-sinh-tơn)

Vũ Phong Tạo dịch
qdnd.vn

Khúc bi tráng của nhà báo Lê Viết Vượng

1. Vai không sờn, chân không mỏi

Chiến tranh phá hoại miền Bắc xảy ra. Từ trận thắng đầu 5-8-1964, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam Lê Viết Vượng đã có mặt tại trận địa phòng không Quảng Ninh. Trong đội hình phóng viên quân sự, Lê Viết Vượng xông xáo tại các trọng điểm đảm bảo giao thông ác liệt Hàm Rồng, Phà Ghép, Bến Thủy, Vĩnh Linh, Đường 20 Quảng Bình…

Cuối năm 1967 Lê Viết Vượng được tăng cường cho đội ngũ báo chí chiến trường Khu 5. Vừa chân ướt, chân ráo đến cơ quan Thông tấn xã Giải phóng Trung Trung bộ, anh được gọi lên gặp đồng chí Hồ Dưỡng, Phó ban Tuyên huấn Khu 5. Nhìn vóc dáng cao to, săn chắc của Lê Viết Vượng, Phó ban tuyên huấn thả giọng đặc sệt Quảng Nam: “Trong này đang đói lắm mày ơi. Khoan đi viết. Mày với thằng Hồ Ca giúp cơ quan đi gùi hàng ít lâu. Chúng nó đói ăn ốm o ráo trọi cả. Chịu khó nghe em”.

Đến nước này làm sao chối bỏ. Anh tự an ủi việc nào cũng là việc Cách mạng, rồi thanh thản khoác ba lô tìm về hậu cứ ở tây nam Trà My.

Chân dung Nhà báo – Liệt sĩ Lê Viết Vượng. (Ảnh do gia đình cung cấp).

Chuyến đầu tiên tưởng gần, nào ngờ phải cắt rừng vượt dốc, mất 3 ngày bở hơi tai mới tới Binh trạm 35. Đây là trạm đón hàng chuyển từ đường 128 Tây Trường Sơn vào trạm Tam Noong, Bến Giàng, Tây Nam (Quảng Nam). Những chuyến hàng vượt qua chi chít trọng điểm khốc liệt Mường Noòng, La Hạp, Sông Bạc, Chà Vằn (thuộc tỉnh Xê Ca Mát của nước Lào). Mỗi cân gạo, viên đạn, cơ thuốc chữa bệnh vào đến bến Giàng, cửa ngõ Khu 5 đã thấm biết bao máu xương đồng đội. Thế nhưng gùi được ba, bốn mươi cân gạo, nhu yếu phẩm về tới hậu cứ trót lọt cũng không kể hết gian nan. Dọc tuyến giao liên, gặp vô vàn hiểm nguy, nào rắn độc, sên vắt, mưa rừng ào ạt, lũ dâng trắng khe và vũ khí giết người từ máy bay Mỹ thả xuống.

Còn mối họa chết người nữa, đó là bọn thám báo, biệt kích rằn ri mai phục khắp nẻo đường giao liên. Cách đối phó tốt nhất mà Lê Viết Vượng nhắc nhở đồng đội là không để lại dấu vết, thường xuyên thay đổi tuyến hành quân, chủ động tránh đối đầu với chúng. Nhiều lần với linh cảm người lính chiến trường, ngửi thấy mùi thuốc lá, biết gặp tụi phục kích, các anh lặng lẽ vòng sang hướng khác.

Suốt từ đầu năm 1968 đến cuối năm 1969 hàng hóa cả chục tấn: nào gạo, nào thực phẩm, thuốc chữa bệnh, giấy viết, phim chụp ảnh, hóa chất in tráng phim, thư từ, sách báo hậu phương gửi vào mặt trận lần lượt vào hậu cứ trên tấm lưng chai sạn, đầm đìa mồ hôi của các anh. Đây là hàng chiều về, còn chiều đi có khi còn cáng cả thương binh, người mắc bệnh, ốm yếu không thể chữa trị tại hậu cứ. Sau này nhà báo Vũ Đảo kể lại: Năm 1969 từ phân xã Phú Yên ra Quảng Nam dự hội nghị thi đua, anh bắt gặp một Lê Viết Vượng da đen cháy, tóc tai cứng đơ, tiếng cười rổn rảng. Lê Viết Vượng san sẻ cho Vũ Đảo chừng hai chục lon gạo nếp rồi cùng Hồ Ca, Minh Châu tất bật chuyển thương binh về tuyến sau. Biết đồng nghiệp chưa được đi viết, chưa được chuyển Đảng viên chính thức vẫn vui cười chấp nhận làm tròn công việc chẳng dính dáng gì đến nghề nghiệp, Vũ Đảo thầm khâm phục nhân cách chàng trai xứ Nghệ bộc trực, kiên gan.

2. Tay súng, tay bút, bám dân đánh giặc

Sau Tết Canh Tuất (1970), chiến trường Khu 5 nóng bỏng bởi Mỹ, ngụy thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chọn đồng bằng làm trọng điểm “Bình định cấp tốc”. Âm mưu và thủ đoạn chiến tranh “Thay màu da trên xác chết” của Mỹ là bình định nông thôn, tăng lực lượng quân ngụy, triệt phá kinh tế, cơ sở Cách mạng vùng giải phóng, ráo riết gom dân lập ấp chiến lược.

Năm 1970-1971, Mỹ, ngụy cắm chốt ở Khu 5 tới 3 vạn 7000 binh lính, chưa kể bọn bảo an, dân vệ, cảnh sát dã chiến. Ta mở rộng vùng giải phóng giành được 19 vạn dân nhưng bị chúng chiếm lại 4 vạn dân. Năm nghìn dân, hơn 4 nghìn cán bộ, đảng viên hy sinh, trong đó Quảng Ngãi, Quảng Nam tổn thất nặng nề nhất.

Không thể để địch lấn đất, dồn dân, Khu ủy Khu 5 chủ trương rút cán bộ, đảng viên từ tỉnh, huyện lập các đội công tác vũ trang bám địa bàn xây dựng cơ sở đấu tranh chính trị, vũ trang, đẩy mạnh tiến công nổi dậy, giành thế làm chủ nông thôn, đồng bằng. Cùng với đồng nghiệp các báo “Cờ giải phóng Trung Trung bộ”, “Quân giải phóng Khu 5” tỏa đi các mặt trận, Lê Viết Vượng xin được xuống chiến trường Quảng Ngãi. Ngược rừng tới Đỗ Xá, căn cứ Khu ủy Khu 5 nhận quyết định, không kịp quay về hậu cứ chia tay đồng đội. Đêm ấy (15-2-1970) Lê Viết Vượng theo giao liên tìm tới xã miền núi Trà Trung, huyện Trà Bồng, căn cứ của Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Chỉ ít ngày sau, anh có mặt tại Huyện ủy Đức Phổ với chức danh phóng viên kiêm cán bộ đội công tác chính trị, vũ trang.

Đội du kích “Lê Thị Hồng Gấm” huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi. (Ảnh do Lê Viết Vượng chụp)

Bề dày truyền thống Cách mạng và nguồn cội văn hóa cổ Sa Huỳnh ở huyện cuối tỉnh Quảng Ngãi đã gợi mở cho Lê Viết Vượng dự định viết nhiều bài cổ vũ quân dân Đức Phổ kiên trung suốt hai mươi năm bám đất, đánh giặc, giải phóng quê hương.

Nhiều đêm dưới căn hầm tránh pháo, sau lúc căng thẳng bàn cách diệt ác, trừ gian, phá thế kìm kẹp, Bí thư Huyện ủy Đinh Trọng Tân trở thành “Nhân vật trả lời phỏng vấn” nhà báo Lê Viết Vượng về trầm tích địa chí, văn hóa, lịch sử, con người Đức Phổ.

Những địa danh núi Xương Rồng năm 1927 ra đời “Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội” nam Trung bộ; sông Trà Cau năm 1935 thành lập phân bộ xứ ủy Trung kỳ, cửa biển Sa Huỳnh phát lộ dấu tích người Việt cổ sinh sống hàng vạn năm… như mạch nguồn tạo nên khí chất kiên cường người dân Quảng Ngãi, mà Đức Phổ là hiện thân mạnh mẽ, quyết liệt nhất. Lê Viết Vượng chợt nhận ra mối quan hệ máu thịt, sống chết cùng mảnh đất Đức Phổ như với Hương Sơn, Hà Tĩnh nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

Từ bấy giờ, được gia đình ông Trần Giỏi ở xã Phổ Vinh nuôi giấu dưới căn hầm, Lê Viết Vượng mê mải trả nghĩa người dân Đức Phổ bằng những bài báo có sức cuốn hút hậu phương lớn miền Bắc chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Đêm đêm với khẩu súng AK báng gấp, anh cùng tổ công tác vượt tọa độ vành đai “pháo bầy, pháo chụp” len lỏi trong khu dồn dân, ấp chiến lược, thầm thào bày cách đấu tranh hợp pháp, đòi trở về làng cũ làm ăn sinh sống. Vùng đất Phổ Cường, Phổ Văn, Phổ Minh, Phổ Khánh, chi khu quân sự Đức Phổ, căn cứ của Mỹ ở Hoài Đức dày đặc lính Mỹ và Sư đoàn 2 ngụy cũng không làm chùn bước Lê Viết Vượng.

Sổ tay của anh ghi nhiều tư liệu người dân Đức Phổ tìm cách giấu lúa ngoài đồng, dưới hầm tiếp lương thực cho cách mạng. Những du kích gan góc, sáng tạo vũ khí đánh giặc bằng quả bom câm, pháo lép. Những nông dân tự nguyện dỡ nhà chặt cây trái trong vườn rào làng chiến đấu, tiếp sức cùng Đại đội 219 đánh cháy trụi kho hậu cần Thành Hiệu. Hàng nghìn tấn đạn kho hậu cần Mỹ nổ dậy đất vùng hạ lưu sông Trà Cau suốt hai ngày đêm. Rồi hình ảnh cô du kích 16 tuổi Trần Thị Trung ngoan cường khi hết đạn, bị giặc bao vây gọi hàng, cô đập gãy khẩu súng trước khi ngã xuống.

Bấy nhiêu sự kiện, nhân chứng sống ấy được Lê Viết Vượng tái hiện, khắc họa sống động bức tranh “Giữ đất, giành dân, đánh giặc tới cùng” của Đức Phổ trong loạt bài gửi ra miền Bắc năm 1970 và đầu năm 1971.

3. Tiếng thơm để lại

Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước liền một dải, mỗi lần gặp nhau ôn lại truyền thống đánh giặc, lớp cán bộ chủ chốt, trung kiên của Đức Phổ thuở ấy đều bùi ngùi, thương tiếc nhà báo Lê Viết Vượng. Họ nhắc nhau tìm về nghĩa trang Phổ Vinh, dâng hoa trái, đốt nén tâm hương nhắc một thời kề vai, sát cánh, nằm hầm, đói ăn đánh giặc. Trong những ngày thiêng liêng, đẫm tình tri ân ấy, không bao giờ vắng mặt ông Trần Giỏi, gia đình anh Nguyễn Văn Phi và cháu Nguyễn Thị Hải con gái anh Phi. Họ là nhân chứng khoảnh khắc hy sinh bi tráng của nhà báo Lê Viết Vượng sáng 3-7-1971.

Rạng sáng hôm ấy, Sư đoàn 2 ngụy mở trận càn lớn vào Phổ Vinh. Pháo 150mm của chúng từ căn cứ Gò Quánh, Hoài Đức bắn như vãi đạn, dọn đường cho hai tiểu đoàn lính dù đổ quân vây hãm. Lê Viết Vượng xách khẩu AK cùng ba du kích thôn Đồng Thuận chia nhau chặn địch. Chợt phát hiện vợ anh Phi bế đứa con mới 5 tháng tuổi quýnh quáng trong vườn, anh vọt lên công sự bế cháu bé, đẩy người mẹ xuống căn hầm của mình. Trao cháu cho người mẹ, vừa lên khỏi miệng hầm, chưa kịp tới vị trí chiến đấu, bất thần một loạt đạn pháo chùm nổ váng óc trùm kín Lê Viết Vượng, mảnh gang sắc nhọn găm nát thân thể anh.

Tính đến thời khắc hy sinh, Lê Viết Vượng mới ngoài 30 tuổi, độ tuổi chín chắn sung sức nhất của đời người. Anh sinh ngày 20-1-1938, quê Sơn Trà, Hương Sơn, Hà Tĩnh.

Ông Trần Giỏi xót xa, lau nước mắt cùng anh Nguyễn Văn Phi, Nguyễn Hoàng lau rửa, mặc cho Lê Viết Vượng bộ quần áo mới. Giặc vây kín, không thể mang anh đi xa, ông Trần Giỏi mai táng anh trong khu vườn nhà mình. Từ năm 1971 cho đến năm 1994, gia đình ông Trần Giỏi, bà con cô bác thôn Đông Thuận quanh năm hương khói cho hương hồn nhà báo Lê Viết Vượng, nhận anh như đứa con thân thuộc của mình. Với cháu Nguyễn Thị Hải, đứa bé được “tái sinh” từ vòng tay Lê Viết Vượng, khi lớn lên qua lời mẹ kể, cô bé hằng ngày lặng lẽ thắp hương lên phần mộ ân nhân.

Năm 1994, cơ quan Thông tấn xã Việt Nam và gia đình vào Phổ Vinh đưa anh về Hương Sơn. Mong muốn lưu giữ mãi hình ảnh nhà báo Lê Viết Vượng, Đảng bộ và nhân dân Đức Phổ khắc tên anh lên tấm bia đá tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ, cho muôn đời các thế hệ con cháu ghi công.

Văn Hiền
qdnd.vn

Thiêng liêng tình đồng đội

QĐND – Có những quãng thời gian tưởng như quên bẵng đi, bỗng một ngày tất cả bật sáng trong sâu thẳm ký ức. Đồng đội gọi đồng đội trở về nơi chiến trường xưa một thời sống chết bên nhau…

Ba năm nay, CCB Nguyễn Xuân Hưng, người đồng đội của cha tôi, hiện đang sống tại quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, trở nên thân thiết với gia đình tôi.

Gặp nhau tại cầu Hội, Phước Lâm trong hành trình đi tìm đồng đội (ông Nguyễn Xuân Hưng bên trái, ngoài cùng).

Tết Kỷ Sửu 2009, mẹ tôi bất ngờ nghe ông thông báo qua điện thoại, rằng ông là người chứng kiến cha tôi hy sinh và muốn gặp mẹ. Vậy là tin bay đến, thư bay ra kèm với tấm hình của người cựu chiến binh. Mẹ bảo: “Lạ thật, sao mấy chục năm, ra Quảng Ninh sinh sống, mãi đến năm 2001 mới vào Thành phố Hồ Chí Minh mà đến năm 2007 ông ấy mới nhớ ra để gửi thư báo tin?”. Tôi đưa ảnh và bài báo viết về ông trong mục Người tốt việc tốt, ông gửi ra cho tôi xem để làm tin: “Thôi mà mẹ, sau chiến tranh, người nhớ thì báo, người quên thì do mưu sinh, do vô tình… một lúc nào đó, ông chợt tỉnh ra, báo tin để khỏi áy náy trong tâm, mẹ cứ nghĩ thế cho nhẹ lòng”. Rồi từ đó, vài tháng ông lại gọi ra hỏi thăm mẹ. Có lần tôi băn khoăn hỏi ông: “Người ta bảo cha cháu lên cả Châu Thành (Long An) nữa”. “Nhất định cha cháu không hy sinh ở vùng giáp với Châu Thành đâu. Chú là người hành quân cùng cha cháu đêm đó trên cánh đồng Phước Lâm (Cần Giuộc, Long An), cầu Hội, cháu cố gắng thu xếp vào đi, sẽ rõ thôi”. Ông giục tôi hệt như chuyện của gia đình ông vậy… Ông xa quê ở tuổi lá rụng về cội, cũng buồn thấu tim gan mỗi độ lễ Tết nên ông trò chuyện qua điện thoại cho dịu đi, cho nghe được tiếng ngoài mình đó chứ.

Hè 2011 này, tôi mới thu xếp được để vào Thành phố Hồ Chí Minh gặp ông. Bà vợ ông ra đón tôi, đon đả, xởi lởi như đã quen thân từ lâu rồi: “Mong cháu hoài, lúc nào ổng nhà tôi cũng nhắc tới ba cháu, cứ như ba cháu ở cạnh ổng vậy”. Tôi nhìn ông, không khác trong ảnh ông gửi ra và trẻ hơn so với trí tưởng tượng của tôi, nhanh nhẹn và chân phương. “Hồi đó chú mới 17-18 tuổi, còn cha cháu đã ngoài 30 rồi. Chốn tử địa, ở với nhau một đêm mà nhớ nhau cả đời”. Tôi giật mình, tưởng nghe nhầm: “Tất cả mọi thông tin chú nói, hóa ra chỉ biết cha cháu trong đêm bị địch phục kích thôi ạ”. “Chiến tranh mà. Đêm đó, nghe cha cháu kể, hóa ra ở cùng D294 từ hồi huấn luyện ở Chi Nê – Hòa Bình năm 1967, nhưng mỗi người một đại đội, chú ở đại đội của than Quảng Ninh nhập ngũ, còn cha cháu ở đại đội của Nhà máy dệt 8-3, rồi cùng xuất quân vào Nam ngày 15-1-1968”.

Ba tháng trèo đèo vượt dốc ở Trường Sơn, “đá mòn mà đôi gót không mòn”, men theo Tây Trường Sơn đến ngã ba biên giới tháng 4-1968 rồi về bổ sung cho tỉnh đội Long An, biên chế vào Tiểu đoàn 2 của ông Út Thôi, quần nhau với địch hết vùng hạ lên vùng thượng của Cần Đước, Cần Giuộc. Thời điểm khốc liệt ấy còn đọng lại trong ký ức của bà má Long Sơn – Cần Đước kể lại cho tôi nghe từ 13 năm trước, trong căn nhà thưng bằng lá dừa nhìn ra con đường đất đỏ quạch: “Đây là vùng ven Sài Gòn nên nó chà xát rất dữ, quyết tìm diệt bằng được cơ quan đầu não của Sài Gòn – Gia Định đang ém ở đây. Anh em ở Bắc vô, má nuôi hết đợt này đến đợt khác, không sao nhớ hết tên các ảnh; nhưng khổ nhất là các ảnh không thuộc địa hình, đánh trận nào cũng phải du kích dẫn đường, sau mỗi trận, vẫn du kích đi chôn cất anh em, tải thương về tuyến sau”. Ông nghe tôi nhắc lại lần đi tìm cha năm 1998, chợt nhớ lại: “Khi tập kết ở ngã ba Thu, quân số của D294 đã vơi đi nhiều so với khi xuất quân ở Chi Nê, nhưng vẫn không thấm tháp gì so với quãng thời gian ở Long An. Chú bị thương trước khi gặp cha cháu ở cầu Hội. Sức khỏe hồi phục, lại di chuyển từ Cần Đước lên Cần Giuộc. Tuổi trẻ đang hăng say, nói không sợ bom đạn thì không đúng, nhưng mình xác định lý tưởng thanh niên theo tiếng gọi của Bác, giải phóng miền Nam rồi thì cứ thế mà chiến đấu. Đêm ấy đi tải trái bị nó phục kích, chú nằm ép xuống bờ ruộng may mà thoát; còn cha cháu vọt lên gò cao có lùm cây che thì bị bọn nó xối đạn dữ quá. Nghe nó chạy qua lưng mình tìm diệt Việt Cộng mà đứng tim. Khi nó rút rồi, chú chạy lên tìm cha cháu, vẫn thấy người ông còn ấm, giở ba lô ra, đắp cho ông chiếc màn, rồi ngậm ngùi đi, làm sao chôn cha cháu ngay được”. Ông ngừng lời, tôi nghe buốt lòng, mãi rồi ông mới kể tiếp: “Vào ấp, gõ cửa nhà dân, họ cho mượn bộ quần áo là quý; lại ra đồng, mò mẫm tìm đường trong đêm tối hun hút. Sau trận đó, chú bị lạc đơn vị, phải lên vùng thượng Cần Giuộc hoạt động miết, khi xuống vùng hạ mới gặp cô ấy cùng công tác ở huyện”.

Ngày đưa vợ về quê ở Thái Bình (năm 1977), mẹ ông đã thắp hương cho ông mấy năm. Cạn nước mắt, mẹ ông ra ở với con gái ở Quảng Ninh. Vợ chồng ông dắt díu nhau ra Quảng Ninh với mẹ, phụng dưỡng bà cho trọn đạo làm con. Tưởng yên ổn ở đất mỏ lầm lụi, bụi than đen nhẻm mặt người, vậy mà hơn chục năm sau, khi mẹ đã mất, ông lại trở vào Nam theo nguyện vọng của vợ. Tôi nhìn khuôn mặt ông trong ảnh, đôi mắt to sáng trên khuôn mặt gầy guộc, không có vẻ thư nhàn. Ông mang ảnh cha tôi ra: “Cháu giống cha cái miệng cười quá. Ông ấy cao cao, trắng trẻo, vui chuyện khoe với chú có vợ và hai con ở Nhà máy dệt 8-3, Hà Nội. Thư nào gửi cho vợ cũng có thơ, rồi ông còn cao hứng đọc thơ cho chú nghe nữa. Ngày mai ta đi Cần Giuộc, tìm mấy ông du kích địa phương, cần thì ăn ở dưới đó luôn”. Ông nhất định không chịu đi ô tô, vừa tốn kém vừa không cơ động.

Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Hưng.

30 ki-lô-mét từ quận 12 xuống Cần Giuộc không phải là quá xa, nhưng cứ nhìn lưng ông còng còng sau xe anh tôi, lại thấy áy náy. Từ huyện xuống Phước Lâm, theo chân cán bộ xã, len lỏi tìm cầu Hội, nơi cha tôi và ông vượt cầu. Trên chiến trường xưa, hăng hái quên cả tuổi ngoài lục tuần, ông cùng cán bộ xã Phước Lâm là ông Võ Văn Bảy, đi vào các ngõ chữ chi tìm các nhân chứng, chắp nối mảnh hồi ức để tìm ra đáp số cha tôi đang nằm đâu trên những trảng ruộng mênh mông xưa, nay đã bị biến dạng, hàng quán hai bên đường mọc san sát. Chỉ có con sông nhỏ như dải lụa mềm tưới mát đồng ruộng xóm ấp Phước Lâm là vẫn thế. Sau một ngày đo đạc, kiếm tìm nhân chứng, dưới ánh đèn khuya ở nhà ông Bảy, sơ đồ địa hình trận địa hiện lên. Trong mỗi nếp nhà, mỗi xóm ấp, tình đồng đội nặng nghĩa, keo sơn vẫn mộc mạc, đằm sâu như thế. Tôi rưng rưng trong lòng khi nhìn hai mái đầu bạc vừa kẻ vẽ, vừa tranh cãi những điểm lấn cấn, để rồi ông Hưng dứt khoát: Trận đụng giặc phục kích nhất định phải là ở cầu Hội, Phước Lâm, Cần Giuộc năm 1968. Các điểm trên sơ đồ phải tính từ cầu Hội – ấp Phước Kế, xã Phước Lâm, xã Trường Bình – đường đất đỏ chạy dọc Mỹ Lộc – Phước Lâm – gò Mả, ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc… Chiều hôm sau, ông cùng anh em tôi đi tìm mộ cha tôi ở nghĩa trang liệt sĩ Cần Giuộc, mênh mông trắng và trắng hàng mộ liệt sĩ có danh và vô danh.

Tôi ôm cả xếp sơ đồ đó ra thuyết minh lại với gia đình để mẹ tôi an lòng. Mẹ thắp hương khấn cha tôi và tin như một điều xác tín: “Lần này, chắc cha con phù hộ, hôm nào mẹ cũng thấy cha con hiện về”.

Mẹ cảm ơn ông nhưng cũng không ngờ ông thu xếp ra Bắc, về quê hương Quỳnh Phụ rồi đến thăm mẹ tôi sớm thế. Trong khói hương trầm trước ban thờ gia đình tôi, ông trò chuyện với cha tôi như ngày xưa hai ông kề bên nhau nghe cha tôi đọc thơ viết tặng mẹ. Ông xúc động: “Thôi, thế là chú cũng thỏa tâm nguyện rồi”. Mẹ con tôi đáp lễ ông… Những điều ông ấp ủ bao năm, hôm nay ông mới thực hiện được trước di ảnh cha tôi và ông run run đọc những vần thơ tự tâm “Bao năm trải mấy mùa thu/ Tin đi thư lại mịt mù xa xôi/Ba lăm năm đã vèo trôi/ Chưa tìm anh được về nơi quê nhà/ Người còn người mất anh ơi…”.

Hôm nay, cha đã trở về với mẹ con tôi, với ông, người đồng đội năm xưa trên đường hành quân…

Bài và ảnh: Kim Thanh
qdnd.vn

Đại tướng Chu Huy Mân, người bạn thủy chung của nhân dân Lào

QĐND – Chúng tôi thường gọi Đại tướng Chu Huy Mân với cái tên thân mật “anh Hai Mạnh”. Nhiều người cho rằng, anh “mạnh cả về quân sự lẫn chính trị”, có người lại nói rằng, anh “mạnh cả về tài năng và đức độ”.

Đại tướng Chu Huy Mân sinh năm 1913, xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tỉnh Nghệ An. Trong cao trào Xô-viết Nghệ-Tĩnh, anh tham gia đội Tự vệ đỏ, là đội phó đội Tự vệ kiêm bí thư chi bộ xã, sau đó là bí thư phân huyện ủy Hưng Nguyên. Bị giặc Pháp bắt giam ở trại giam Kon Tum, vượt ngục năm 1943, trở về Quảng Nam, anh được phân công làm phó bí thư tỉnh ủy Quảng Nam. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, anh tham gia quân đội, làm Chính trị viên tỉnh đội Quảng Nam rồi được điều ra Huế, làm Chủ tịch Ủy ban quân chính Khu C gồm 4 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam. Cuối năm 1945, anh được điều sang làm Chính trị viên mặt trận Đường 9 – Sa-van-na-khẹt. Trong mặt trận này, Liên quân Lào-Việt cùng phối hợp tác chiến suốt từ Đông Hà qua Nam Lào đến Sa-van-na-khẹt.

Trong các năm 1946, 1947, 1948, anh đảm nhận nhiệm vụ làm Trưởng ban kiểm tra Đảng, Đảng ủy viên Quân khu Việt Bắc, Trung đoàn trưởng kiêm bí thư Đảng ủy các Trung đoàn 72 (Cao Bằng), 74 (Bắc Kạn) rồi Chính ủy Trung đoàn 174 (Cao-Bắc-Lạng).

Ngày 1-5-1951, Đại đoàn 316 thành lập, anh được điều về làm Bí thư Đảng ủy kiêm phó Chính ủy rồi Chính ủy Đại đoàn, tham gia các chiến dịch Trung du, Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào rồi chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, anh Chu Huy Mân với bí danh “Thao Chăn” được bổ nhiệm làm Trưởng đoàn kiêm bí thư Đảng ủy Đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào. Trước lúc lên đường, anh được đến gặp Hồ Chủ tịch. Suốt thời gian bên Lào, anh luôn nhớ, làm đúng theo lời Bác căn dặn: “Giúp bạn là tự giúp mình nhưng phải bồi dưỡng bạn làm chủ từng việc cho đến làm chủ toàn diện, không bao biện làm thay”.

Năm 1956 Tổng bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản và vợ, con đến thăm Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam Chu Huy Mân (trái).

Từ tháng 8-1950, Chính phủ kháng chiến Lào được thành lập do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Chủ tịch, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản làm Phó chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngoài những buổi làm việc, đồng chí Cay-xỏn thường hay đến thăm người bạn Việt Nam chung thủy Chu Huy Mân, tâm sự về những tình cảm của mình với Việt Nam từ khi học ở trường Bưởi, Trường Đại học Luật ở Hà Nội, đến nhiều chuyện đời tư khác của đồng chí sau này. Những mối quan hệ đó đã tạo điều kiện để đồng chí Chu Huy Mân làm việc tốt ở Lào. Ngày 8-8-1960, Đại úy Koong Le, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù 2 quân đội Vương quốc Lào làm đảo chính lật đổ chính phủ phản động Phủi Xa-na-ni-con. Từ ngày 26 đến ngày 30-9-1960, quân tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng Pa-thét Lào giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa. Thời gian này, Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Lào đã thành lập, nhiều lần cử các đoàn cấp cao sang thăm Việt Nam, trong đó có đoàn của Hoàng thân Thủ tướng Su-va-na Phu-ma. Cuối năm 1960, lực lượng phản động Lào tập trung quân nhằm chiếm lại Thủ đô. Chính phủ Vương quốc Lào đã cử đặc phái viên sang Hà Nội xin viện trợ để chiến đấu bảo vệ Viêng Chăn. Một lực lượng pháo binh gồm một đại đội lựu pháo 105mm, một đại đội súng cối 120mm và các đồng chí chuyên gia Nguyễn Duy Trác, Đỗ Bá Bút, Nguyễn Trí Năng cùng một số chiến sĩ pháo binh đi máy bay cấp tốc sang giúp bạn Lào. Ngày 14-12-1960, lực lượng pháo binh Việt Nam này đã lập chiến công xuất sắc trong trận đầu tiên chống quân phản động Phu-mi Nô-xa-vẳn.

Sau này, anh Chu Huy Mân đã kể lại một số chuyện ở Lào thời gian ấy: Pháo và đạn của Việt Nam vừa chuyển bằng máy bay sang sân bay Vát-tày ngày 12-12-1960, Chuyên gia pháo binh Việt Nam mới bay sang Viêng Chăn ngày 13-12-1960 thì ngày 14-12-1960 đã chiến đấu. Nếu chỉ dùng pháo binh tiêu diệt các mục tiêu địch trên đất Lào, tấn công vào Viêng Chăn thì không có gì phải đắn đo suy nghĩ. Nhưng trong các mục tiêu định bắn của bạn Lào, có một trận địa trọng pháo đặt tại Noọng Khai nằm trên đất Thái Lan thường bắn chi viện cho quân phản động Phu-mi Nô-xa-vẳn. Khi các đồng chí chuyên gia pháo binh Việt Nam báo cáo ý định này của Đại úy Koong Le, anh Chu Huy Mân cân nhắc, suy nghĩ kỹ rồi cuối cùng đã quyết định: Để gây uy thế cho Chính phủ Liên hợp Vương quốc Lào, có thể bắn trong một thời gian rất ngắn vào trận địa pháo Noọng Khai. Phải bắn thật chính xác. Không được để đạn lạc vào dân lành. Và rồi trận chiến đấu đầu tiên của pháo binh ta hôm đó đã thắng lợi tốt đẹp.

Cũng năm 1960, Liên quân Lào-Việt đã chiến đấu bảo đảm cuộc vượt ngục của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông thoát khỏi trại giam Phôn Khênh về căn cứ địa an toàn.

Một kỷ niệm khó quên trong thời gian Chu Huy Mân công tác bên Lào được Bác Hồ tặng chiếc đồng hồ Wyler, mặt sau có khắc chữ “Hồ Chí Minh”. Khi trao tặng, Bác nói: “Bác tặng chiếc đồng hồ này cho chú vì chú có thành tích giúp Đảng Nhân dân cách mạng Lào xây dựng lực lượng vũ trang. Các chú cần luôn luôn thấy rằng giúp bạn là tự giúp mình”.

Chính những lời căn dặn và những kỷ niệm đặc biệt của Bác Hồ đó đã giúp Chu Huy Mân hoàn thành tốt các nhiệm vụ khi làm cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào.

Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây nguyên, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5

Sau thời gian làm Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào, anh Chu Huy Mân nhận quyết định làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu 4. Với những tình cảm đặc biệt Việt-Lào vốn có, anh đã cử nhiều đoàn quân tình nguyện Việt Nam ở Quân khu 4 sang Lào tham gia chiến đấu thắng lợi ở Lào.

Tháng 8-1965, anh Hai Mạnh nhận nhiệm vụ làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận B3 – Tây Nguyên. Từ năm 1967 đến năm 1975 là Tư lệnh, Phó bí thư Đảng ủy Quân khu 5, Chính ủy chiến dịch Huế – Đà Nẵng. Từ năm 1975 đến năm 1976, anh là Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 5.

Sau này mỗi lần gặp nhau, các chiến sĩ pháo binh Quân giải phóng Mặt trận Tây Nguyên và Trung Trung Bộ thường nhắc lại những kỷ niệm với anh Hai Mạnh những năm tháng ở chiến trường thời gian ấy.

Trên Tây Nguyên, Tư lệnh kiêm Chính ủy Chu Huy Mân đã trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch Plây-me, hạ lệnh nổ súng từ 19 giờ ngày 19-10-1965, chỉ huy chiến dịch cho đến ngày toàn thắng vào ngày 26-11-1965. Tại Trung Trung Bộ, trong chiến dịch Nông Sơn-Thượng Đức, khi Trưởng phòng pháo Tô Thuận báo cáo số đạn bắn còn ít, Tư lệnh Hai Mạnh quyết định: “Bổ sung ngay đạn, nhưng pháo binh phải cố gắng diệt mỗi hoả điểm chỉ cần 2 phát đạn”. Tư lệnh Chu Huy Mân đã trực tiếp chỉ đạo chiến dịch từ ngày 17-7 bắt đầu nổ súng đến ngày kết thúc ngày 25-8-1974, giải phóng hoàn toàn một địa bàn rộng lớn ở Nông Sơn-Thượng Đức.

Sau mỗi chiến dịch, về căn cứ, Tư lệnh Hai Mạnh lại thân mật như anh em trong nhà, đánh bóng chuyền, học hát, tham gia đồng ca với anh chị em quân khu.

Sau này, khi Đại tướng Chu Huy Mân đã là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Ủy viên Bộ Chính trị; Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương; đại biểu Quốc hội; Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước cho đến khi nghỉ hưu (tháng 12-1986) và ít ngày trước khi anh vĩnh biệt bạn bè và người thân về với cõi Vĩnh hằng (ngày 1-7-2006), anh vẫn có những buổi tiếp xúc thân mật với những anh chị em cùng chiến đấu trên chiến trường năm xưa.

Đại tướng Chu Huy Mân, anh Hai Mạnh là người như thế. Về mặt “nghiệp vụ”, anh mạnh cả về chính trị và quân sự, về mặt “con người”, anh mạnh cả về tài năng lẫn đức độ. Ai đã cùng sát cánh chiến đấu với anh đều thấy rõ ở anh những điều đó.

Đại tá Đỗ Sâm
qdnd.vn