Thư viện

Đường dẫn đến Tuyên ngôn độc lập

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Hà Nội ngày 2-9-1945

TTCT – Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước VN dân chủ cộng hòa. 63 năm đã trôi qua, câu chuyện về bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ ấy vẫn còn nhiều điều mới mẻ.

Tháng 5-1941, hội nghị lần thứ 8 Trung ương Đảng khai mạc tại Pắc Bó, Cao Bằng dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vừa từ nước ngoài trở về chưa được bốn tháng. Nghị quyết của hội nghị xác định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Bốn năm sau, năm 1945, Nguyễn Ái Quốc trở thành Chủ tịch nước, đọc Tuyên ngôn độc lập ở vườn hoa Ba Đình. Chàng học sinh Trường Bưởi Vũ Long Chuẩn (Vũ Kỳ) trở thành thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt ba đêm liền trên căn gác hai của ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Hà Nội, anh thức canh cho Nguyễn Ái Quốc viết bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Còn Võ Nguyên Giáp trở thành bộ trưởng Bộ Nội vụ. Chiều 2-9-1945, Võ Nguyên Giáp cùng ngồi trong chiếc xe Ford – V8 tháp tùng Hồ Chí Minh từ Bắc bộ phủ đến vườn hoa, sau đó đứng bên cạnh Chủ tịch nước trong suốt ba giờ liền của một cuộc mittinh đông tới 50 vạn người.

Tuy nhiên, thời gian bốn năm trước đó cũng là thời gian Nguyễn Ái Quốc tiến hành một chuyến đi lịch sử vượt qua hàng nghìn cây số từ Pắc Bó đến Côn Minh bằng những đôi dép bện rơm với hai bàn chân sưng húp để trực tiếp giao thiệp với quân đồng minh, chủ yếu là Hoa Kỳ, bàn chuyện hợp tác đánh Nhật.

Kết quả là đội quân đầu tiên của Hoa Kỳ mang mật danh “Con Nai” đã nhảy dù xuống Tân Trào vào ngày 16-7-1945 cùng với nhiều vũ khí và đạn dược. Và một đại đội Việt – Mỹ đã được thành lập do đồng chí Đàm Quang Trung làm đại đội trưởng và thiếu tá Thomas (thiếu tá tình báo chỉ huy nhóm “Con Nai”) là tham mưu trưởng. Ngày 16-8-1945, chính đại đội Việt – Mỹ này, theo lệnh của Võ Nguyên Giáp, đã xuất phát từ cây đa Tân Trào về giải phóng Thái Nguyên.

Có một điều ít người biết, chính ở sân bay Lũng Cò (Tuyên Quang), một bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ đã được máy bay của không đoàn 14 thả xuống theo yêu cầu của Nguyễn Ái Quốc. Qua chi tiết này, chúng ta càng thấy rõ tầm nhìn xa của thiên tài Hồ Chí Minh. Ngay khi còn ở chiến khu với một đội quân nhỏ bé, Bác đã nghĩ đến buổi lễ lịch sử, công bố tuyên ngôn độc lập ở thủ đô Hà Nội.

Nếu đi ngược lại thời gian bốn năm đó, chúng ta thấy Hồ Chí Minh còn là một nhà tiên tri vĩ đại. Ngay từ năm 1941, trong hang Pắc Bó ẩm lạnh, bằng trí nhớ siêu việt của mình, Bác đã soạn thảo xong tập lịch sử diễn ca để làm tài liệu giáo dục truyền thống cho cán bộ đảng viên.

Trong mục những năm quan trọng, Bác đã hạ một câu kết thúc làm kinh ngạc mọi người: “1945: VN độc lập”. Khi chuẩn bị đưa in, nhiều người cứ phân vân câu khẳng định của Bác bởi lúc này lực lượng ta đã có gì đâu. Vỏn vẹn trong tay chỉ mới có một đội du kích Cao Bằng, thành lập được vài tháng với 11 tay súng, chủ yếu là súng kíp (rất thô sơ). Trong lúc đó, kẻ địch còn rất mạnh, cả bộ máy cai trị của thực dân Pháp còn nguyên vẹn, lại thêm hàng vạn quân phát xít Nhật vừa tràn vào, tàn phá đất nước. Hai tên đế quốc thực dân đang cấu kết với nhau kìm kẹp dân ta. Thế mà Bác dám khẳng định đến năm 1945 thì VN độc lập. Có ai ngờ, lịch sử đã diễn ra đúng như lời tiên tri của Người.

***

Ngày 22-8-1945, Bác rời Tân Trào về Hà Nội. Do vừa bị sốt, người còn yếu nên trên đường đi, có nhiều quãng Bác phải nằm võng. Lại thêm nhiều vùng đang lụt to, nước ngập băng đồng, Bác phải đi bằng thuyền. Ngày 25-8-1945, Bác mới về tới làng Gạ thuộc xã Phú Thượng, ngoại thành Hà Nội. Ngày 26-8-1945, đồng chí Trường Chinh lên đón Bác vào nội thành, ở nhà ông bà Trịnh Văn Bô, một thương gia lớn ở 48 Hàng Ngang, là cơ sở cách mạng của Thành ủy Hà Nội.

Tối 27-8-1945, đồng chí Trần Đăng Ninh dẫn Vũ Long Chuẩn (vừa cùng Đỗ Mười vượt ngục Hỏa Lò đêm 9-3-1945) đến nhận nhiệm vụ làm thư ký cho Bác Hồ. Đây là những ngày Thường vụ Trung ương Đảng khẩn trương chuẩn bị cho lễ độc lập và việc quan trọng nhất là chuẩn bị bản tuyên ngôn dự kiến sẽ đọc vào ngày 2-9-1945. Nhiệm vụ quan trọng này được Thường vụ nhất trí tin tưởng giao cho Hồ Chí Minh.

Chúng ta hãy đọc lại những dòng hồi ký xúc động của ông Vũ Kỳ trong những ngày này: “Kể từ ngày thứ ba, 28-8-1945, tức 21-7 năm Ất Dậu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào việc soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Trên gác hai nhà 48 Hàng Ngang, trong một căn phòng rộng mà chủ nhà làm phòng ăn, ở giữa kê một cái bàn gỗ dài, quanh bàn có tám ghế tựa, đệm mềm là nơi Bác thường làm việc với các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối phòng ở sát tường phía sau kê một chiếc bàn tròn mà Bác và chúng tôi thường ăn sáng và ăn cơm bữa tối (bữa trưa Bác ăn ở cơ quan như mọi người tại Bắc bộ phủ, 12 Ngô Quyền).

Suốt mấy ngày liền, Bác tập trung suy nghĩ rồi tự đánh máy bên chiếc bàn con kê sát tường góc phía trong. Mặt bàn hình vuông, bọc da xanh màu lá mạ vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ mang từ chiến khu về. Nửa đêm hôm ấy tôi chợt thức giấc thấy Bác vẫn ngồi chăm chú làm việc.

Hà Nội sau một ngày sôi động đang đi vào yên tĩnh. Đêm mùa thu, trên căn gác thoáng rộng, không khí mát lành. Tôi trở dậy, bước thật nhẹ ra phía hành lang, nhìn xuống đường. Ban ngày, phố Hàng Ngang náo nhiệt, chật chội, giờ đây rộng vắng giữa đêm khuya. Hai đường ray tàu điện chạy thành hai vệt thẳng, đen nhánh. Trước mỗi căn nhà dọc phố, cờ đỏ sao vàng sẫm lại trong đêm. Một tốp tự vệ mặc quần soóc đầu đội mũ calô đang đi tuần dọc phố, bóng dáng hiên ngang.

Chỉ mới cách đây hơn một tuần, Hà Nội còn là một thành phố bảo hộ, mật thám như rươi, chỉ thoáng thấy màu cờ đỏ là cả bộ máy cai trị của kẻ thù lồng lên như thú dữ. Thế mà giờ đây cờ đỏ phấp phới tung bay khắp phố phường. Và đêm nay, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – người từng bị bọn thực dân kết án tử hình – đang ngồi giữa lòng Hà Nội soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập để mai đây, tuyên bố trước quốc dân đồng bào, tuyên bố trước toàn thế giới nước VN đã trở thành một nước VN độc lập, tự do”.

***

Một điều có lẽ ít người được biết là có một người Mỹ, người đầu tiên đã được nghe toàn văn bản Tuyên ngôn độc lập của VN khi nó đang còn là bản dự thảo.

Năm 1945, đội Con Nai, gồm những người lính Mỹ lập tức được gọi về nước khi Truman lên làm tổng thống Mỹ. Mặc dù đội Con Nai được lệnh rút về nhưng chính người Mỹ vẫn là những người đầu tiên có mặt ở Hà Nội sau khi VN giành được chính quyền, trong đó có thiếu tá tình báo L. A. Patti – một người bạn cũ của Bác hồi ở Côn Minh.

Ngày 19-8-1945, Hà Nội giành được chính quyền thì ngày 22-8-1945 phái bộ Mỹ đã có mặt ở Hà Nội, trên chiếc máy bay quân sự của đồng minh. Nghe tin có phái đoàn Mỹ do một viên tướng dẫn đầu, trong đoàn lại có cả L. A. Patti, Bác Hồ vui lắm. Bác nói với mọi người xung quanh: “Đây là khách quý đặc biệt, hi vọng sẽ là một điều lành”. Ngày 26-8-1945, Bác cử Võ Nguyên Giáp dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ VN chính thức đến thăm phái đoàn Mỹ. Buổi chiều hôm đó Bác mời cơm Patti ở 48 Hàng Ngang. Đó là một cuộc gặp cảm động.

Ngày 30-8-1945, Bác hoàn thành bản dự thảo Tuyên ngôn độc lập. Châm một điếu thuốc, Bác sung sướng nói với những người xung quanh: “Trong đời, Bác đã viết rất nhiều tài liệu nhưng sung sướng nhất, sảng khoái nhất là những giờ phút soạn thảo bản tuyên ngôn này”. Sau khi được Thường vụ tham gia góp ý kiến, Bác đã bảo thư ký và Patti đến. Bác muốn chính người Mỹ được nghe bản tuyên ngôn trước khi nó chính thức được truyền đi trên toàn thế giới.

Và Patti đã giật mình khi nghe câu đầu tiên của bản tuyên ngôn: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lúc đó, Patti tưởng như mình nghe nhầm vì giống tuyên ngôn của Mỹ. Sau hỏi lại thì được Bác khẳng định: “Đúng thế! Mục đích cao cả của cách mạng VN, của cách mạng Mỹ là vì hạnh phúc của con người. Chúng ta chiến đấu vì hạnh phúc của con người”.

Ngay tối hôm đó, Patti điện về Mỹ: “Ngày 2-9-1945 sắp tới, VN sẽ tổ chức lễ tuyên bố độc lập. Câu mở đầu của bản tuyên ngôn do Hồ Chí Minh đọc sẽ là câu mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ”.

Đại tá THẾ KỶ
(người giúp việc cho ông Vũ Kỳ – thư ký của Bác Hồ)

Khởi thảo bản “Tuyên ngôn Độc lập” lịch sử

– Ngày 28/8/1945, tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu giành nhiều thời gian để soạn thảo văn kiện lịch sử “Tuyên ngôn Độc lập”.

Trước đó ngày 25/8, từ ngoại thành Bác cùng Tổng bí thư Trường Chinh về ngôi nhà 35 Hàng Cân (cổng sau 48 Hàng Ngang của gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô) làm nơi trú đầu tiên trong nội thành.

Ngày 26/8, tại đây, bác triệu tập Thường vụ họp nêu vấn đề sớm công bố danh sách chính phủ và phải chuẩn bị một văn kiện “Tuyên ngôn Độc lập”. Cùng ngày đó, Bác tiếp Patti, sĩ quan tình báo Mỹ (OSS).

Ngày tiếp theo (27/8), Bác triệu tập Uỷ ban Giải phóng Dân tộc đề nghị mở rộng hơn nữa chính sách đại đoàn kết. Nhiều thành viên Việt Minh dự kiến trong chính phủ tự nguyện rút lui để đưa thêm nhiều nhân sĩ không đảng phái và có danh vọng tham gia và Bác được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Bác Hồ trên Lễ đài đọc Tuyên ngôn Độc lập

Sau tất cả những việc chuẩn bị chu đáo nhằm tạo cơ sở pháp lý, Bác chính thức bắt tay vào viết Tuyên ngôn Độc lập. Ngày hôm sau, Bác mời Patti đến và cho người dịch bản thảo đầu tiên của Tuyên ngôn để tham khảo ý kiến. Và đến ngày 30/8 thì văn bản đã hoàn thành, một lần nữa vị Chủ tịch lại đọc để mọi người trong nhà tham góp ý kiến. Viết xong, Bác bày tỏ rằng trong đời mình đã biết nhiều nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy.

Hồi ức của Võ Nguyên Giáp viết: “Trong căn nhà nhỏ, thiếu ánh sáng của ngôi nhà sâu thẳm nằm giữa một trong ba mươi sáu phố phường cổ kính của Hà Nội, Bác ngồi làm việc, khi thì viết, khi thì đánh máy.

Những người giúp việc trong gia đình không biết ông cụ có cặp mắt sáng, chiếc áo nâu bạc thường để hở khuy ngực, hay hút thuốc lá, ngồi cặm cụi đó làm gì. Mỗi lần họ tới hỏi cụ có cần gì, cụ quay lại mỉm cười, chuyện trò đôi câu. Lần nào cụ cũng nói không có gì cần phải giúp đỡ. Họ không biết mình đang chứng kiến những giờ phút lịch sử.

Một buổi sáng, Bác và anh Nhân (Trường Chinh) gọi anh em chúng tôi tới. Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thảo xong. Bác đang đọc để thông qua tập thể. Như lời Bác nói lại sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người.

Hai mươi sáu năm trước (1919), Bác tới Hội nghị hoà bình Versaille, nêu lên những yêu cầu cấp thiết về dân sinh, dân chủ cho những người dân thuộc địa. Cả những yêu cầu tối thiểu đó cũng không được bọn đế quốc mảy may chấp nhận.

Người đã thấy rõ một sự thật là không thể trông chờ ở lòng bác ái của các nhà tư bản. Người biết chỉ còn trông cậy vào cuộc đấu tranh, vào lực lượng của bản thân dân tộc mình.

Giờ phút này, Người đã thay mặt cho cả dân tộc, hái quả tám mươi năm đấu tranh. Bữa đó, chúng tôi đã nhìn thấy rõ niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng của Người…”

Và bản “Tuyên ngôn Độc lập” ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc dõng dạc trên Quảng trường Ba Đình vào chiều ngày 2/9/1945 trước đông đảo đồng bào khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

X&N

bee.net.vn

67 năm Cách mạng tháng 8 – Kỳ 5: Bữa tiệc ngoại giao đầu tiên

Ngày 25.8.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về tới Hà Nội. Trưa 26.8.1945, Người mời cơm vị thiếu tá trưởng phái đoàn Mỹ ở Đông Dương. Đây có thể coi là “bữa tiệc ngoại giao” đầu tiên của Chủ tịch nước Việt Nam mới.

Câu chuyện bắt đầu từ ngày 13.4.1945, Archimede Patti, khi đó còn mang hàm đại úy, Đội trưởng đội OSS (The Office of Strategist Services, tiền thân của CIA, Cục Tình báo trung ương Mỹ) được phái đến Côn Minh (Trung Quốc) để tìm cách giải cứu và bảo vệ những quân nhân Mỹ trong cuộc chiến với quân Nhật. Theo A.Patti, lần đầu tiên cái tên Hồ Chí Minh được nhắc đến trong một bức điện ngày 31.12.1942 của Đại sứ Mỹ (ở Trùng Khánh) thông báo việc bắt và giam Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Quảng Tây. Cái tên này dần trở nên quen thuộc và quan trọng hơn với người Mỹ trong trận chiến với Nhật ở nam Trung Hoa và Đông Dương khi đó. Người Mỹ đã “phát hiện ra Hồ Chí Minh” đại diện cho một phong trào chính trị đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam. Mặc dù đã xác nhận rằng “ông Hồ là cộng sản” song người Mỹ vẫn coi lực lượng dân tộc do Hồ Chí Minh lãnh đạo thuộc về “phe mình” và hai bên có thể hỗ trợ nhau để cùng đạt lợi ích. Phía Mỹ là cứu các phi công, thu thập tin tức quân Nhật và từng bước thiết lập ảnh hưởng tại Đông Dương. Phía Việt Minh là sự ủng hộ vật chất cụ thể cho cuộc chiến đấu, xa hơn là sự công nhận chính thức từ phía Mỹ và Đồng minh quyền và vị thế của dân tộc Việt Nam độc lập.

Tháng 8.1945, A.Patti gặp Đại tướng Võ Nguyên GiápTháng 8.1945, A.Patti gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Chiều 22.8.1945, A.Patti dẫn đầu nhóm OSS đáp xuống sân bay Gia Lâm. Ấn tượng đầu tiên của A.Patti là người Hà Nội “vẫn đi bộ, đi xe đạp nhộn nhịp với một dáng tự hào và tin tưởng nhưng vẫn trật tự”… và một biển cờ đỏ, biểu ngữ tràn ngập các đường phố.

Trong buổi sáng chủ nhật đầu tiên A.Patti ở Hà Nội, lễ đón phái bộ Mỹ đã được tổ chức trọng thể ở vườn hoa nhỏ trước khách sạn Metropole. Thiếu tá A.Patti đứng cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Dương Đức Hiền, Khuất Duy Tiến đang xúc động nhìn Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được kéo lên cùng Quốc kỳ của bốn cường quốc Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc. Cũng lần đầu tiên giai điệu hào hùng “Đoàn quân Việt Nam đi…” vang lên bên cạnh quốc thiều của bốn nước Đồng minh.

Sau buổi lễ, A.Patti được mời tới ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang. Gặp lại sau 4 tháng, ông đã thực sự ngạc nhiên trước “thân hình xương xẩu trái ngược với cái trán khá rộng với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt” của Hồ Chí Minh. Bữa tiệc diễn ra ở một căn phòng trên tầng hai với rượu Vermouth khai vị. Bà Hoàng Thị Minh Hồ – người lo toan việc bếp núc cho bữa tiệc – nhớ lại rằng bà đã đặt món ăn ở các hiệu lớn trên phố Hàng Buồm, Hàng Bông. Các nhà hàng tới nấu luôn đồ ăn trong sân, sau đó người nhà chuyển lên gác.

Theo trí nhớ của A.Patti, cùng tiếp khách với Chủ tịch nước Việt Nam mới còn có Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và có thể cả Nguyễn Khang. A.Patti và Hồ Chí Minh đã có một cuộc trò chuyện thân mật như những người bạn cũ. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ở Hà Nội, ông Patti còn nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 29.8, trong cuộc gặp, Hồ Chí Minh đã đọc cho A.Patti nghe dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.

Chiều 1.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mời A.Patti và Grelecki dự bữa cơm thân mật trước ngày lễ Độc lập của Việt Nam tại Bắc Bộ phủ. Cùng dự còn có Võ Nguyên Giáp và Hoàng Minh Giám. Qua những người bạn Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ sự hoan nghênh và coi trọng mọi sự ủng hộ vật chất và tinh thần mà phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam đã nhận được từ Mỹ và Đồng minh. Người cũng đánh giá cao và cảm ơn sự giúp đỡ của OSS. Người nhắc đến các ông Chennault, Helliwell, Glass, Thomas, Holland và mong tinh thần “hợp tác hữu ái” sẽ tiếp tục phát triển.

Chiều 2.9.1945, A.Patti không dự ngày lễ Độc lập trọng đại của nhân dân Việt Nam trên vị trí một quan khách. Ông đi lẫn trong đám đông hồ hởi cờ hoa và bạt ngàn biểu ngữ, áp phích: “Việt Nam của người Việt Nam”, “Thà chết không nô lệ”, “Hoan nghênh Đồng minh”, “Hoan nghênh phái đoàn Mỹ”…  Cả toán OSS cũng len lỏi trong đám đông, chụp ảnh, ghi chép các nhóm người, các sự kiện, các khẩu hiệu.

Trong những ngày mùa thu cách mạng 1945, thiếu tá tình báo Mỹ A.Patti đã chứng kiến niềm vui và ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Những ấn tượng tốt đẹp của ông với những người cách mạng Việt Nam, đặc biệt là với Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến A.Patti nhận ra một điều quan trọng. Đó là tình hữu nghị cần có giữa hai dân tộc Việt – Mỹ.

Archimedes Patti sinh năm 1914 tại New York, gia nhập quân đội năm 1941.

Từ cuối năm 1944, ông làm việc tại Cục Tình báo chiến lược (OSS – Office of Strategic Services, tiền thân của CIA sau này), là Trưởng ban Đông Dương thuộc Pháp của OSS, hàm đại úy.

Tháng 4.1945, A.Patti có những cuộc tiếp xúc đầu tiên với Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Côn Minh.

Tháng 8.1945, ông được thăng hàm thiếu tá, được cử làm trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Mỹ, thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc thu vũ khí của quân Nhật tại Bắc Đông Dương. A.Patti đến Hà Nội vào ngày 22.8 và thực thi nhiệm vụ của mình cho đến ngày 30.9.1945.

Năm 1980, A.Patti xuất bản cuốn hồi ký Why Vietnam: Prelude to America’s Albatross (Tại sao Việt Nam: Khúc dạo đầu chim hải âu của nước Mỹ). Cuốn sách này đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam. Ông qua đời ngày 23.4.1998.

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 4: 6 khẩu súng ngắn tướng Mỹ tặng Bác Hồ
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 3: Chủ động khởi nghĩa thành công
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 2: Người mang lệnh Tổng khởi nghĩa vào Nam
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945
>> Nga duyệt binh kỷ niệm 67 năm Ngày Chiến thắng phát xít Đức
>> Các nước trên thế giới kỷ niệm 67 năm ngày chiến thắng phát xít Đức

67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 3: Chủ động khởi nghĩa thành công

Các cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8.1945 của toàn dân Việt Nam đã lan nhanh trong cả nước “như một mồi thuốc súng”. Ở nhiều tỉnh, lệnh Tổng khởi nghĩa từ trung ương chưa kịp chuyển tới nhưng đã kịp thời, kiên quyết khởi nghĩa và giành thắng lợi… Hội An và Quảng Nam khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn từ ngày 18.8.1945.

Khi nhận được tin Nhật đã đầu hàng quân Đồng minh (15.8.1945), Tỉnh ủy Quảng Nam căn cứ vào những dự kiến tình hình trong bản chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12.3.1945) trước đó của trung ương, đã nhanh chóng quyết định: gấp rút huy động toàn dân, kịp thời nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Bộ phận hăng hái tích cực nhất trong các lực lượng cứu quốc được trang bị thêm vũ khí, chuyển thành lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho quần chúng khởi nghĩa. Các ủy ban Việt Minh, ủy ban Cứu quốc được chuyển thành các ủy ban bạo động… Tỉnh ủy lập tức viết các chỉ thị bổ sung về chủ trương và hướng dẫn cụ thể, gửi hỏa tốc cho các ủy ban bạo động các phủ, huyện và thị xã Hội An.

Chủ động khởi nghĩa thành côngĐồng chí Võ Chí Công (trái) người lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa ở Hội An trong ảnh chụp cùng thư ký riêng – Ảnh: tư liệu

Theo kế hoạch ban đầu, Quảng Nam sẽ khởi nghĩa ngày 21.8.1945. Cách thức khởi nghĩa là giành chính quyền ở các phủ, huyện trước, sau đó tập trung lực lượng về giành chính quyền ở tỉnh lỵ. Tuy nhiên, khi đi kiểm tra tình hình tại Hội An (là tỉnh lỵ của Quảng Nam khi đó) trong đêm 17.8.1945, đồng chí Võ Chí Công nhận thấy tình hình ở đây đã có những chuyển biến nhanh theo hướng thuận lợi cho cách mạng: trong đồn bảo an, cách mạng đã có cơ sở nội ứng; Tỉnh trưởng Tôn Thất Giáng thể hiện rõ thái độ lưng chừng, không quyết tâm chống lại cách mạng; phần lớn lực lượng vũ trang của Nhật đã rút ra Đà Nẵng, số còn lại ở Hội An chưa đến 10 tên. Thêm nữa, một số lực lượng chính trị khác ở đây cũng đang gấp rút chuẩn bị vũ khí, may sắm cờ quạt, chạy đua giành chính quyền với lực lượng Việt Minh. Ngay lập tức, đồng chí đề nghị Thường trực Ủy ban Bạo động tỉnh cho Hội An khởi nghĩa trước. Tại Hội An, đồng chí Võ Chí Công triển khai ngay lực lượng quần chúng, sẵn sàng hành động. Đồng thời phối hợp với cuộc khởi nghĩa ở Hội An, Ủy ban bạo động tỉnh huy động lực lượng ở Tam Kỳ chặt cây cản đường để chặn xe chở quân Nhật từ Quảng Ngãi ra. Lực lượng ở Hòa Vang cũng chặn đường quân Nhật có thể kéo vào từ Đà Nẵng.

“Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 12.3.1945 được khởi thảo khi tiếng súng Nhật đảo chính Pháp còn đang nổ. Sau khi nêu nhận xét tình hình; điều kiện mới do tình thế mới gây ra; chiến thuật của Đảng đã thay đổi; công việc cần kíp… Bản Chỉ thị nhấn mạnh:

– Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa…

– Sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện…

– Nếu cách mạng Nhật bùng nổ, và khi chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và đội quân viễn chinh của Nhật mất tinh thần, thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi (1).

Chỉ trong bốn giờ, đến rạng sáng ngày 18.8, cuộc khởi nghĩa ở Hội An đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lực lượng quần chúng khởi nghĩa đông đảo đã nhanh chóng chiếm được đồn bảo an, kho bạc, cơ quan mật thám, bưu điện… và giành chính quyền trong toàn thị xã. Liền ngay sau đó, đồng chí Võ Chí Công giao lại việc ổn định trật tự, tổ chức lực lượng bảo vệ chính quyền trong thành phố cho Thị ủy và Ủy ban Bạo động Hội An. Sau khi huy động một đoàn xe để chở tiền bạc và các tài liệu từ Hội An đưa vào huyện Duy Xuyên, sẵn sàng đưa lên căn cứ, đồng chí Võ Chí Công trực tiếp tổ chức một đoàn xe khác đưa lực lượng quần chúng vũ trang bằng vũ khí lấy được từ kho súng của lính bảo an, tiếp tục hỗ trợ cho các huyện khác giành chính quyền. Khi gặp quân Nhật chặn đường lực lượng khởi nghĩa ở Vĩnh Điện, đồng chí Võ Chí Công nói rõ chủ trương của quân khởi nghĩa không tấn công lực lượng Nhật đã đầu hàng và sẽ trở về quê hương sau đó nên toán quân Nhật để đoàn xe đi qua mà không xảy ra xung đột. Đây lại là một thắng lợi nữa của lực lượng cách mạng khởi nghĩa ở Quảng Nam. Chỉ trong ngày 18.8, cả tỉnh Quảng Nam đã giành được chính quyền. Quảng Nam là một trong những tỉnh (cùng với Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Mỹ Tho) giành được chính quyền sớm nhất cả nước trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8.1945.

Diễn biến khởi nghĩa ở Hội An và ở cả tỉnh Quảng Nam cho thấy sự tích cực chuẩn bị lực lượng khá đầy đủ từ những năm trước, đến cao trào kháng Nhật cứu quốc, tiến tới tổng khởi nghĩa. Sự chuẩn bị này “tích điện” cho sự bùng nổ ở thời điểm quyết định. Sự nhạy bén nắm bắt tình hình, nhanh chóng  quyết định phương án táo bạo, linh hoạt khởi nghĩa theo cách có lợi nhất của bộ phận chỉ huy khởi nghĩa là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi hoàn toàn của cuộc khởi nghĩa trong cả tỉnh chỉ trong một ngày.

Phương thức khởi nghĩa giành chính quyền thành công ở Hội An và Quảng Nam cũng gần giống như cách Hà Nội giành chính quyền thắng lợi chỉ một ngày sau đó. Việc tránh được xung đột với lực lượng Nhật ở Quảng Nam cũng tương tự như tình huống gặp phải của lực lượng khởi nghĩa ở Hà Nội. Cuộc khởi nghĩa thắng lợi trọn vẹn ở Quảng Nam còn in rõ nét dấu ấn chỉ đạo nhạy bén và sáng tạo, kiên quyết nhưng khôn khéo của một cán bộ lãnh đạo xuất sắc: Đồng chí Võ Chí Công – người con ưu tú của quê hương Quảng Nam.

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

>> 67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 2: Người mang lệnh Tổng khởi nghĩa vào Nam

67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 2: Người mang lệnh Tổng khởi nghĩa vào Nam

Tên thật của chị là Cái Thị Tám nhưng mọi người thường biết đến chị với tên Nguyễn Thị Kỳ – phu nhân của đại tướng Văn Tiến Dũng. Chị kể cho chúng tôi về một thời gian khổ và anh hùng trong nỗi nhớ người chồng thân yêu…

Chị là con gái Hà Nội, sinh ra và lớn lên ở làng Đồng Nhân (nay thuộc Q.Hai Bà Trưng), tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, làm công tác binh vận dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Văn Thụ rồi làm giao thông viên giữa Xứ ủy Bắc kỳ và T.Ư Đảng.

Bà Nguyễn Thị Kỳ bây giờ Bà Nguyễn Thị Kỳ bây giờ – Ảnh: Ngô Vương Anh

Từ cuối năm 1943, chị thoát ly gia đình, tạm xa đàn em còn chưa kịp trưởng thành. Với gánh chè trên vai như người bán chè rong qua các làng dọc tuyến ATK của T.Ư và Xứ ủy từ Hưng Yên, Bắc Ninh qua Phúc Yên, Đông Anh về Từ Liêm, Thượng Cát, chị giữ mối liên lạc thường xuyên giữa đồng chí Trường Chinh – Tổng bí thư của Đảng và đồng chí Văn Tiến Dũng – Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ. Trong gánh chè trên vai cô gái trẻ xinh đẹp đó là báo Cờ giải phóng, báo Cứu quốc, truyền đơn – những “hàng nặng”, có lần đến cả chục cân. Chỉ thị, thư từ liên lạc giữa các đồng chí lãnh đạo thì được cuộn chặt lại như con sâu kèn rồi cuốn kỹ trong khăn vấn đầu. Bước chân cô gái len lỏi khắp vùng ATK: bến đò Tiếu, chợ Keo, chợ Bỏi, Cổ Loa, Dâu, Xù, Gạ, Đặng, vực Dê, ao Cả…  Có những ngày gánh bộ dọc đường đê gần 50 km từ Bần (Hưng Yên) về đến làng Gạ (Phú Thượng, Hà Nội)… Không ít phen thoát hiểm trong gang tấc ở chợ Cổ Loa, ở vườn hoa Cửa Nam… nhưng khó khăn, gian khổ, nguy hiểm không làm cho chị nhụt chí.

Vợ chồng đại tướng Văn Tiến Dũng - Nguyễn Thị Kỳ thời trẻ Vợ chồng đại tướng Văn Tiến Dũng – Nguyễn Thị Kỳ thời trẻ – Ảnh tư liệu do gia đình cung cấp

Con gái Hà Nội vừa xinh vừa trắng dù ở chùa cố làm ra vẻ thôn dã nâu sồng vẫn chẳng tránh khỏi mấy gã trai lẵng vnhẵng vơ ẩn: “Lại cắc cớ sao mới phải đi tu đây”. Thậm chí, gã lý trưởng nhất định đòi lấy về làm lẽ. Lúc ở làng Bỏi (Đông Anh) lại gặp một tên háo sắc là em trai của lý trưởng. Gã này luôn mò đến tán tỉnh, săm soi, mò cả vào buồng lục lọi đôi quang gánh của chị. Lần đó chị vừa chuyển đôi ru lô (con lăn dùng để in truyền đơn trên bàn in đá) về. Tên em trai lý trưởng thần hồn nát thần tính dù chẳng biết quả bom hình thù ra sao, thấy đôi ru lô đen sì vội chạy bán sống bán chết và hét tướng lên: “Bom… bom…”. Chị phải lập tức cất giấu tài liệu đồ dùng và chuyển đi.

Cuối tháng 3.1945, đồng chí Trường Chinh giao nhiệm vụ cho chị mang tài liệu và chỉ thị của T.Ư vào Nam. Ngày 5.4, một ngày trước khi lên đường, chị Kỳ được đồng chí Tổng bí thư bố trí gặp “anh Hoài” – Văn Tiến Dũng tại một điếm canh đê ở làng Dâu. Từ giữa năm 1944, anh Hoài đã trở thành người chồng thân yêu của chị Kỳ nhưng hai vợ chồng chỉ có ba tháng cùng công tác với nhau thì anh Hoài bị bắt. Hai vợ chồng gặp nhau được ít phút, mừng mừng tủi tủi, chẳng kịp nói hết chuyện, rồi hôm sau lại chồng Bắc vợ Nam…

Đây là chuyến vào Nam công tác đầu tiên của người giao thông viên T.Ư. Hành lý chỉ gồm hai vali, một chiếc có hai đáy để giấu tài liệu. Đến Touran (Đà Nẵng), một tên Nhật sinh sự bắt chị Kỳ xuống tàu giao cho bọn hiến binh. Anh Lý Chính Thắng giữ chiếc vali hai đáy nhưng cũng kịp dặn chị Kỳ “Thuyền 103 sông Hương là cơ sở tốt”. Ở Touran, tên thông ngôn người Việt nhận chị Kỳ là người nhà và bảo lãnh cho chị Kỳ với điều kiện chị nhận lấy hắn. Chị Kỳ nhờ tên thông ngôn đưa ra khỏi Sở hiến binh để đến chiều trốn khỏi nhà hắn, thuê xe trở ra Huế. Gặp lại anh Lý Chính Thắng ở nhà thuyền 103, hai người tiếp tục cuộc hành trình quan trọng. Đến Phan Rí, đường lại tắc. Một viên sĩ quan Nhật gặp tại khách sạn nói với anh Thắng: “Chưa bao giờ tôi gặp một cô gái Việt Nam đẹp như thế. Nếu ông bằng lòng gả cô em cho tôi, tôi sẽ đưa về Nhật để ăn học…”. Tên Nhật cũng về Sài Gòn và nhận chở hai người về cùng bằng chiếc xe mô tô thùng nhà binh của hắn. Đoạn đường còn lại của hai người ít nguy hiểm hơn từ phía lính Nhật nhưng lại canh cánh nỗi lo bị các đồng chí mình trong rừng cao su tưởng nhầm là Việt gian mà quẳng cho vài trái lựu đạn. Đến Sài Gòn, vali tài liệu được chị Kỳ chuyển đến tận tay các đồng chí Hà Huy Giáp và Ung Văn Khiêm.

Sau chuyến “giao liên xuyên Việt” đó, chị Kỳ còn được T.Ư cử đi hai chuyến nữa đưa cán bộ và tài liệu từ T.Ư vào, khi trở ra lại đưa đại biểu Nam kỳ ra họp Hội nghị Tân Trào rồi lại trở vào mang chỉ thị Tổng khởi nghĩa của T.Ư đến miền Nam. Dọc đường đi chuyến này chị Kỳ đã chứng kiến làn sóng giành chính quyền cuồn cuộn từ Bắc chí Nam. Rất nhiều tỉnh dù chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa  từ T.Ư nhưng căn cứ vào bản chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã nhạy bén sáng tạo phát động nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thành công. Vai trò, ý nghĩa của bản chỉ thị lịch sử đó được đánh giá cao không chỉ ở thời điểm nó ra đời mà cho tới cả những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng 8. Dù mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa trên đường từ Bắc vào Nam chỉ đi cùng, thậm chí đi sau các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh nhưng tinh thần nhanh chóng nắm thời cơ để khởi nghĩa kịp thời đã được chuyển vào từ trước đó bởi cùng một người.

Trong không khí sục sôi tiến tới tổng khởi nghĩa, chị Kỳ đi Nam mấy chuyến liên tiếp, hai vợ chồng chẳng gặp được nhau. “Anh Hoài” về chỉ huy giành chính quyền ở chiến khu Hà – Ninh – Thanh. Sau ngày Độc lập, đồng chí Hoàng Quốc Việt dẫn đầu đoàn cán bộ của T.Ư tăng cường cho Nam bộ kháng chiến gặp chị Kỳ ở Nam bộ, đồng chí giục: “Anh Văn Tiến Dũng đang đợi cô ở trụ sở Ủy ban Ninh Bình đấy”. Chuyến ra Bắc lần này của chị rợp cờ đỏ sao vàng và ngập tràn không khí hân hoan mừng nền độc lập…

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

>> 67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945

“Rủ nhau đi làm cách mạng…”

TT – Đã 83 tuổi nhưng bác Sáu Chí (Nguyễn Văn Chí) hồ hởi ra mặt khi nghe nhắc chuyện Cách mạng Tháng Tám. “Ui chao, không khí những ngày ấy tuyệt vời lắm. Ngày ấy chúng tôi gọi là: rủ nhau đi làm cách mạng”. Câu chuyện về những ngày tổng khởi nghĩa cứ thế cuốn theo cái đà “rủ nhau” ấy…

Tham gia cách mạng và vào Đảng từ phong trào Nam kỳ khởi nghĩa 1940, đến thời kỳ tổng khởi nghĩa tôi làm bí thư quận Trung, tỉnh Chợ Lớn (một phần Long An bây giờ). Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, phong trào bị đàn áp nhưng cái mầm để khôi phục rất lớn, rất khỏe.

Tại Sài Gòn, hàng triệu đoàn viên và thanh niên trong cả nước đã hăng hái đi đầu trong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945 (ảnh tư liệu)

Nhà nào cũng cất giấu cờ đỏ sao vàng, bà con nào cũng say mê tấm ảnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Dân tản cư từ Sài Gòn ra để tránh bom đạn của liên quân cũng rất đông. Chính sách tàn bạo của Nhật thì ai cũng biết và khiếp sợ. Chúng tôi cứ dựa vào đó để dấy lên phong trào.

Các tổ chức đoàn hội bán công khai dưới danh nghĩa cứu tế được thành lập, thanh niên được vận động trốn lính, giúp dân từ việc làm ruộng đến việc tang ma. Chúng tôi giúp dân không lấy công, không ăn cơm nên họ rất tin tưởng. Những buổi tối, buổi trưa vãn việc, thanh niên trí thức lại tập họp dân chúng lại đọc báo, phổ biến tình hình cho bà con.

Từ những buổi nói chuyện này, chủ trương cách mạng đã được tuyên truyền tới nông dân, và tổ chức cũng nhận ra được những người nòng cốt, sẵn sàng sống chết với cách mạng. Tôi nhớ mãi hôm chúng tôi tổ chức đọc thư của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào cả nước. Trước đó, hết Pháp rồi Nhật loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết khiến mọi người hoang mang, thất vọng.

Rồi thư của Người đến: “Cơ hội giải phóng đã đến rồi. Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết. Ai là người Việt Nam đều phải gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, có của góp của, có sức góp sức, có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành độc lập, dù phải hi sinh tính mệnh cũng không nề”.

Người đọc cao giọng ở trên, người nghe sụt sùi ở dưới, nhưng sau đó là một không khí bừng bừng phấn khích. Mấy bà má tìm tôi: “Vậy là Nguyễn Ái Quốc còn sống, thế là yên tâm rồi”.

Thời bây giờ mà nhớ lại những ngày hoạt động ấy thì thấy buồn cười. Chúng tôi đi làm cách mạng mà cứ rủ nhau như là rủ ra ruộng làm đồng, hẹn giờ bằng đồng hồ mặt trời. Tình hình toàn cục thì cứ mua BáoDân Chúng để theo dõi, vì tài liệu của tổ chức đưa theo đường dây rất chậm, giao liên toàn đi bộ mà. Việc đảm bảo bí mật hoàn toàn dựa vào lòng tin và sự lan truyền của những người cùng dòng họ.

Thế mà việc cướp chính quyền lại thành công mỹ mãn. Đa số nhân dân không biết đọc, nhưng chỉ sau một đêm họp phổ biến bản Hiệu triệu của Xứ bộ Đảng Cộng sản Đông Dương, đi đến đâu cũng nghe bà con râm ran đọc thuộc lòng “Họ quyết tâm đưa chúng ta làm bia đỡ đạn cho họ. Quân đội họ nắm, kinh tế họ chiếm, ngoại giao họ lo, chính trị họ cầm cả. Cứu ta chỉ có ta thôi, trông cậy vào người là chết”.

Rằm tháng bảy năm ấy (tức khoảng 22, 23-8), nửa đêm Ủy ban Khởi nghĩa đánh trống quân tập hợp dân đi cướp chính quyền. Khắp các làng mọi người đổ ra, rầm rập tay đuốc, tay vũ khí, mà chỉ là dao, mác, roi tre, gậy tầm vông. Đội Thiếu niên tiền phong đã được tập từ trước nên hàng ngũ rất tề chỉnh. Không khí ấy khiến đám hương ước, hội tề trong làng rất kinh hoảng không dám chống cự.

Chúng tôi chiếm đóng nhà làm việc, và đến sáng thì chính quyền mới đã thành lập xong, đầy đủ các chức vị chủ tịch, ủy viên hành chính, quân sự, an ninh…, các chính sách lớn như bỏ thuế thân, tự do hội họp được công bố khiến bà con rất phấn khởi.

Ông Nguyễn Văn Chí (Sáu Chí), sinh năm 1921, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Hiện ông là ủy viên thường trực Ban chỉ đạo hội đồng biên soạn “Lịch sử Nam bộ kháng chiến”

Nhưng tất cả việc đó vẫn chỉ là hình thức của cách mạng. Cái lớn nhất mà công cuộc tập hợp nhân dân cướp chính quyền đã đạt được chính là điều được nhấn mạnh trong thư của Nguyễn Ái Quốc: Toàn dân đoàn kết.

Sự đoàn kết, thương yêu lẫn nhau trong những ngày ấy đạt đến mức gần như tuyệt đối. Đi đến đâu chúng tôi cũng gặp những gương mặt tươi cười, hào hứng, sẵn sàng đem tất cả những gì mình có để giúp người khác.

Những xích mích về bờ giậu, khoảnh ruộng, bờ ao mới hôm trước còn là những việc tày đình thì hôm nay mọi người vui cười bỏ qua trước sự chứng kiến của mặt trận Việt Minh. Các gia đình chia nhau nấu cơm cho anh em tự vệ, trước cửa nhà làm việc lúc nào cũng có mấy bà má xởi lởi mang sang rổ khoai, mớ bánh ú. Chuyện cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút mới cách đó ít lâu còn đầy rẫy thì nay bỗng vắng bóng.

Trong quy định của Việt Minh còn có khoản cấm rượu chè, nhưng ở tỉnh Chợ Lớn có làng Gò Đen nổi tiếng, dân địa phương quan niện “vô tửu bất thành lễ”. Biết không thể cấm được, chúng tôi đưa ra khuyến cáo “không được say xỉn”. Thế là cảnh thanh niên, đàn ông mặt mày đỏ gay, đi lại ngật ngưỡng không thấy xuất hiện nữa.

Tối tối, các lớp học bình dân rộn ràng tiếng đánh vần, ai cũng đi học, từ con nít đến ông bà già. Họ bảo nhau: “Không đi học làm sao đọc được thư của lãnh tụ”. Sáng 2-9, chúng tôi cũng tổ chức lễ độc lập, chủ tịch tỉnh đứng lên đọc các văn bản được tổ chức gửi xuống, đọc các tin tức trên báo chí.

Nghe tên Hồ Chí Minh, mọi người rất xôn xao, nhao nhao hỏi: “Hồ Chí Minh là ai?”. Chúng tôi giải thích đó là tên mới của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, rồi phải mang ảnh ra so sánh làm bằng chứng mọi người mới tin. Và từ đó lại càng nô nức đi học.

Những ngày tuyệt vời ấy tiếc thay lại chỉ có 29 ngày ngắn ngủi. Pháp quay trở lại. Đã biết kinh nghiệm của những ngày phong trào Nam kỳ khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu, một số người có tư tưởng hoang mang, dao động, chúng tôi lại tập họp, giải thích rằng lần này chúng ta đã có Nhà nước, có Chính phủ, thủ đô vẫn còn, Bác Hồ vẫn đó, chiến khu Việt Bắc đã được chuẩn bị sẵn…

Nghe đến tên Bác Hồ, mọi người lại yên tâm, lại bừng bừng khí thế và cứ thế nô nức đi thẳng đến những ngày Nam bộ kháng chiến…

PHẠM VŨ ghi
qdnd.vn

Ký ức những ngày tháng 8 lịch sử của vị đại tá già

(Dân trí) – Cách mạng về làng, từ “cậu ấm”, Nguyễn Đồng trở thành chiến sỹ cách mạng và gắn bó trọn đời mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những ngày tháng 8 lịch sử, ký ức về ngày đầu tham gia cách mạng lại sôi sục trong ông.

Đại tá Nguyễn Đồng tái hiện không khí của những ngày Cách mạng tháng TámĐại tá Nguyễn Đồng tái hiện không khí của những ngày Cách mạng tháng Tám

Trong những ngày cả nước cùng kỷ niệm ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8 (19/8/1945), ở căn nhà nhỏ tại xã Nghi Phú (Tp Vinh, Nghệ An), đại tá Nguyễn Đồng cũng sống dậy với ký ức hào hùng của bước đầu tham gia hoạt động cách mạng. Sinh năm 1927 tại làng Dương Liễu, tổng Nam Kim, huyện Nam Đàn (nay là xã Nam Trung, Nam Đàn, Nghệ An), với gia đình khá bề thế của mình, Nguyễn Đồng đi ra đường được người dân cung kính gọi bằng “cậu”. Với một ít vốn liếng chữ Quốc ngữ cộng với gia thế của mình, chàng thanh niên trẻ này cũng được định hướng làm Hương lý của làng.Lấy vợ khi cách mạng trong nước đang có những chuyển biến rõ rệt, Nguyễn Đồng cũng “bâng khuâng đứng giữa 2 dòng nước”. Ông nhớ lại: “Hồi đó phong trào thanh niên Phan Anh của Chính phủ Trần Trọng Kim cũng hoạt động hết sức sôi sổi, nó khác hoàn toàn với chế độ phong kiến đang tồn tại nên tôi có ý định tham gia. Tuy nhiên ý định của tôi đã bị bố và bác can ngăn. Đúng lúc đó, ông Nguyễn Trọng Trường (con địa chủ, tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm – PV) về làng tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Nhận thấy phong trào yêu nước của Việt Minh có nhiều tiến bộ ưu việt, tôi quyết định tham gia”.

Thời kỳ tiền khởi nghĩa, tổ chức của 30 thanh niên trong xã dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Trọng Trường hoạt động dưới mô hình như đội tự vệ đỏ của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930. Do yêu cầu của tổ chức nên đội hoạt động hết sức bí mật, chủ yếu sinh hoạt vào ban đêm, mặc dù vậy vẫn hết sức nghiêm túc. “Chúng tôi được hướng dẫn cách hoạt động du kích, cách đánh giặc, được tập hát các ca khúc cách mạng. Ai cũng say sưa hát những bài như Diệt phát xít, Quốc tế ca… Chúng tôi hoạt động ở đình làng, bí mật lắm, đến nỗi vợ tôi cũng không hề biết tại sao cứ đến tối là chồng lại biến mất”, ông Đồng kể.

Đại tá Nguyễn Đồng tái hiện không khí của những ngày Cách mạng tháng Tám“Nếu không có cách mạng, có khi tôi sẽ trở thành Hương lý, đứng ở chiến tuyến đối chọi với người dân”

“Đầu tháng 8/1945, ông Trương cho biết, thời cơ cách mạng đã chín muồi, sẽ có một cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, anh em ai cũng phấn chấn lắm. Chúng tôi tự trang bị vũ khí, chủ yếu là dao găm, giáo mác. Hết thời hoạt động bí mật, chúng tôi chuyển sang hoạt động công khai. Anh em vác vũ khí trên vai, rùng rùng kéo đi cướp chính quyền ở xóm, xã. Lúc này chính quyền phong kiến đã hết sức rệu rã nên việc cướp chính quyền hết sức thuận lợi. Quân khởi nghĩa đi đến đâu, Hương lý run rẩy nộp hết con dấu, giấy tờ sổ sách tới đó. Lực lượng cách mạng đứng hai bên đình, chứng kiến cuộc trao con dấu, báo cáo quỹ của lý trưởng cho chính quyền mới quản lý. Giây phút đó chúng tôi hiểu rằng cuộc đời của người dân cùng khổ đã bước sang trang mới, được làm chủ cuộc sống của mình, thoát khỏi ách kìm kẹp của chế độ phong kiến và tay sai”.

Kết thúc cướp chính quyền ở xóm, xã, chuẩn bị cho cuộc cướp chính quyền ở huyện, ông hồi hộp thức trắng đêm. Cả làng không ngủ, đàn ông chuẩn bị vũ khí, phụ nữ chuẩn bị cơm nắm, nước chè xanh để ngày mai kéo lên huyện. “Hồi đó, phụ nữ trong làng đều mặc váy đụp. Nghe bảo thời đại mới mặc váy người ta cười cho, phải mặc quần, phụ nữ trong làng thức trắng đêm để… may quần. Vợ tôi tháo cái áo cưới may được 2 cái quần dài, một cho mẹ, một cho mình để sáng mai đi cướp huyện lỵ”, ông hóm hỉnh kể lại câu chuyện chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa ở làng mình.

Sáng ngày hôm sau, đoàn biểu tình làng Dương Liễu, tổng Nam Kim kéo nhau theo đê sông Lam tiến lên huyện lỵ. Các bà, các cô gánh thêm những gánh cơm nắm muối vừng để phục đoàn biểu tình. Đi qua đò, cơm bị nhúng nước, nát vụn. Đoàn quân mang theo cờ đỏ búa liềm rợp đỏ cả dòng Lam rồi nhập vào đoàn biểu tình của các xã khác kéo dài đến hàng km. “Chúng tôi vừa đi vừa hô khẩu hiệu, hát các bài hát cách mạng, quên cả mệt. Lên đến nơi đúng lúc chính quyền lâm thời công bố Phạm Nghiêm – làng Đông Sơn làm chủ tịch huyện, trong làng tôi có ông Nguyễn Hoài Sâm – làm ủy viên quân sự huyện.

Phấn khởi quá, giờ mình đã làm chủ cuộc sống của mình rồi. Sau khi cướp chính quyền, chúng tôi được tập trung nghe phổ biến chủ trương của chính quyền non trẻ. Khỏi phải nói, lần đầu tiên người dân thấy được quyền làm chủ của mình, được thông báo, được tham gia ý kiến vào các hoạt động của chính quyền non trẻ, nên ai cũng hăng hái tham gia ủng hộ tuần lễ Vàng, bình dân học vụ, các hoạt động bài trừ mê tín dị đoan và tham gia vào các đoàn thể xã hội. Nếu không có cách mạng thì biết đâu tôi sẽ làm hương lý, đứng vào hàng ngũ đối chọi với người dân. Cách mạng đã cho tôi nhiều rất nhiều thứ…”, đôi mắt của người chiến sỹ cách mạng bước sang tuổi 85 như có lửa khi nhớ về những ngày đầu tham gia cách mạng.

Giới thiệu cuốn hồi ký những ngày hoạt động cách mạng với phóng viênGiới thiệu cuốn hồi ký những ngày hoạt động cách mạng với phóng viên

Cướp chính quyền thành công, ông được giao làm Bí thư đoàn thanh niêm kiêm đội trưởng đội tự vệ xã. Vốn có ít chữ nghĩa, ông được phân công tham gia giảng dạy lớp bình dân học vụ. Năm 1947 ông vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng và được phân công đi học quân sự của huyện. Năm 1948, kết thúc lớp học chi ủy viên ở huyện, ông được cử làm Phó Bí thư Đảng ủy xã Khánh Tân (được hợp nhất từ 2 xã Tân Hợp và Khánh Tân). Đầu năm 1949, ông được cử làm Trợ lý dân vận huyện nhưng chỉ được 1 tháng sau lại được điều lên Văn phòng Tỉnh ủy phụ trách công tác văn thư.

Chuẩn bị cho cuộc tổng phản công đánh đuổi giặc Pháp, năm 1950, ông được cử đi học lớp chính trị viên đại đội rồi gia nhập quân đội, tham gia chiến dịch Hòa Bình (1951), chiến dịch Thượng Lào, Điện Biên Phủ. Kết thúc kháng chiến chống Pháp, ông có 10 năm làm việc ở Tổng cục chính trị trước khi tham gia chiến trường B. Kết thúc chiến tranh, ông về địa phương đảm nhận nhiều chức vụ trong quân đội. Trước khi về hưu, ông Nguyễn Đồng với hàm đại tá, là phó Sư đoàn trưởng về chính trị của Sư đoàn 348 Quân khu 4. Về hưu năm 1986, ông tiếp tục tham gia công tác địa phương từ xóm trường, bí thư chi bộ, hội cựu chiến binh…

Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi ông dành nhiều tình cảm tốt đẹp cho người vợ của mình, bà Phạm Thị Sáu (SN 1927). Công việc của tổ chức phân công, ông đi suốt nên mọi công viêc đồng án, kinh tế trong nhà, dạy dỗ 4 đứa con khôn lớn đều một tay bà lo toan để ông yên tâm hoạt động cách mạng. 45 lấy nhau nhưng thời gian bà sống gần chồng rất ít. “Chiến tranh mà, bao nhiêu người phụ nữ đều phải chấp nhận như thế chứ có phải một mình tôi đâu”, bà cười đáp lại những lời nói tốt đẹp chồng dành cho mình.

Những ngày cuối đời, ông bà có thể mỉm cười hài lòng với những gì mình đang có. 4 người con của ông bà đều thành đạt, có vị trí trong xã hội. Với ông, được quây quần với các cháu chắt trong ngôi nhà nhỏ ở xóm “gia binh” là hạnh phúc tuổi già.

Hoàng Lam
dantri.com.vn

Cách mạng Tháng 8: thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân

Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc. Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã lật nhào chính quyền tay sai của phát-xít, thực dân, phong kiến, giành chính quyền cách mạng trên cả nước, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 là thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa lịch sử của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðó là thắng lợi rực rỡ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới cho Việt Nam: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh, mở đường cho hàng loạt thắng lợi vẻ vang của dân tộc hơn 60 năm qua.

Thời cơ lớn để Tổng khởi nghĩa là lúc phát-xít Nhật thua trận. Thời cơ đó đã được Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp tại Khuổi Nậm (Cao Bằng) năm 1941, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ và đã xác định những công việc lớn cần xúc tiến như phát triển lực lượng chính trị, lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, các căn cứ địa. Không có chuẩn bị, không có lực lượng thì không nắm được thời cơ thuận lợi. Nhiều nước ở châu Á năm 1945 cùng đứng trước thời cơ lịch sử này nhưng không nổi dậy được. Rõ ràng nội lực là yếu tố quyết định thắng lợi. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 8 (1941), Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp ở Ðình Bảng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường-Chinh ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, đã ra chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta!”. Chỉ thị ngày 12-3-1945 đã nói rõ: “Dù sao ta không thể đem việc quân Ðồng Minh đổ bộ vào Ðông Dương làm điều kiện tất yếu cho Tổng khởi nghĩa của ta, vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu giặc Nhật mất nước, như Pháp năm 1940 và quân viễn chinh Nhật mất tinh thần, thì khi ấy, dù quân Ðồng Minh chưa đổ bộ, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”.

Ngày 20-7-1945, tỉnh Quảng Yên; ngày 15-8-1945, tỉnh Quảng Ngãi đã khởi nghĩa thắng lợi.

Ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa do Tổng bộ Việt Minh thành lập ra “Quân lệnh số 1”, hạ lệnh cho quốc dân đồng bào cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa. Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào gồm 60 đại biểu bắc, trung, nam và đại biểu kiều bào ở nước ngoài, đại diện các đảng phái, đoàn thể nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, đoàn thể nhân dân, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Tổng bộ Việt Minh. Ngày 19-8-1945, Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi; đến ngày 25-8-1945, Sài Gòn khởi nghĩa thắng lợi. Như vậy là, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước ta từ bắc chí nam, hầu như đã đồng loạt vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi vẻ vang, tái sinh ra sức mạnh thống nhất của cả nước, của các dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo thống nhất của một Ðảng duy nhất. Việt Nam là một nước trên một dải đất dài, có 54 dân tộc anh em, lại bị thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị, những thủ đoạn lừa bịp về độc lập giả hiệu, khối đại đoàn kết Ðông Á của phát-xít Nhật mê hoặc, đi đôi với sự đàn áp tàn bạo những người yêu nước, cho nên phải có một Ðảng thống nhất lãnh đạo, vừa kiên cường vượt qua mọi thử thách, vừa thể hiện tập trung ý chí và tầm cao trí tuệ của dân tộc, mới giành được thắng lợi nhanh gọn khi có thời cơ thuận lợi. Ðảng có cơ sở tổ chức trên toàn quốc làm nòng cốt lãnh đạo các địa phương vùng lên kịp thời, chớp được thời cơ “ngàn năm có một” đã giành được chính quyền cách mạng trên cả nước.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám-1945 là sự vùng lên của hàng chục triệu nhân dân cả nước, cả ở rừng núi, nông thôn và thành thị, đập tan chính quyền phản động, mà đòn quyết định cuối cùng là ở các thành thị lớn. Lực lượng cách mạng của quần chúng đã áp đảo lực lượng phản động, làm nổi bật sức mạnh “xoay trời chuyển đất” chưa từng có của khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ bắc đến nam. Lực lượng vũ trang cách mạng tuy còn nhỏ nhưng đã là những đội quân xung kích, đã từng đánh Pháp, đánh Nhật với những trận nổi tiếng như Phai Khắt – Nà Ngần, Tam Ðảo, Sơn Dương, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Quảng Yên… Các đội vũ trang cách mạng đã hỗ trợ, bảo vệ quần chúng biểu tình, tuần hành thị uy, tiến công các đồn bốt, các trại bảo an, trấn áp bọn Việt gian, bọn phản động, chiếm các công sở, phá các nhà tù, kho súng. Không có lực lượng vũ trang cách mạng, chính quyền tay sai Nhật không tan rã nhanh chóng, không hạn chế được sự chống đối của kẻ thù cầm súng. Không có lực lượng vũ trang cách mạng không thể làm tăng thêm sức mạnh tiến công của lực lượng chính trị của quần chúng, đưa cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh gọn. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là cuộc khởi nghĩa vũ trang, song lực lượng chính trị của quần chúng có sức mạnh quyết định.

Cách mạng Tháng Tám đã thể hiện nổi bật sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc mới xuất hiện, sau một thời gian dài hàng trăm năm bị phân tán, chia rẽ, xói mòn. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đã mở ra bước ngoặt trong việc tập hợp lực lượng toàn dân tộc ở nước ta. Ngày 20-11-1941, Mặt trận Việt Minh đã nêu rõ mục tiêu là làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do. Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với tiến bộ xã hội. Ðánh đuổi được Nhật, Pháp, nước ta xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa, thực hiện phổ thông đầu phiếu, ban bố các quyền tự do dân chủ, nam nữ bình đẳng, các dân tộc thiểu số có quyền tự quyết, thực hiện giảm tô, chia lại công điền, thực hiện ngày làm 8 giờ, phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, khuyến khích trí thức phát triển y tế, giáo dục, văn hóa văn nghệ, thể dục – thể thao… Mặt trận Việt Minh tập họp mọi lực lượng yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, trên nền tảng liên minh công nông và lao động trí óc, đoàn kết với mọi tầng lớp, không phân biệt ngành nghề, sắc tộc, tôn giáo, mọi nhân sĩ, không thành kiến với quá khứ, cùng hợp tác vì mục tiêu cao nhất là độc lập, thống nhất cho đất nước. Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào là một hình ảnh tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc. Trong cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, tại Bắc Bộ Phủ, ta bắt được Ngô Ðình Diệm, muốn ông ta cùng phấn đấu cho nước nhà độc lập, nhưng Diệm từ chối và ta đã trả tự do cho ông ta. Chính phủ lâm thời nước ta lập nên sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, gồm những nhà cách mạng từng trải và các nhân sĩ, trí thức, cả những người từng tham gia chính phủ Trần Trọng Kim theo Nhật. Thực hiện được đại đoàn kết dân tộc là do Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh có chính sách đúng, vừa coi trọng củng cố nền tảng vững chắc là công nông liên minh, vừa ra sức mở rộng Mặt trận, xác định đúng quyền lợi và nghĩa vụ với mọi tầng lớp, phát huy mọi khả năng phục vụ Tổ quốc, không thành kiến, hẹp hòi, lắng nghe các ý kiến khác nhau – coi đó là lẽ thường tình, chỉ trừ những kẻ chống đối, có ý kiến và hành động chống lại nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc.Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc, của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của dân tộc Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám.

Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công! Khẩu hiệu đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra và thực hiện một cách tuyệt vời trong lãnh đạo cách mạng.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã mở đường cho những thắng lợi vẻ vang của nước ta trong sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, trong sự nghiệp đổi mới ngày nay.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo của Ðảng, đồng thời xây dựng các nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ðó là:

– Sự lãnh đạo của một Ðảng duy nhất – lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

– Một Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

– Một Mặt trận đại đoàn kết dân tộc.

– Một quân đội cách mạng kiên cường chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Mối quan hệ quốc tế gắn liền Việt Nam với thời đại, tiến kịp với thời đại. Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đồng thời ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các nước.

Ngày 21/08/2009
Ban biên tập Website
(Theo báo Nhân dân)

impe-qn.org.vn

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)

(BGĐT)- Những năm 1943, 1944 cơ sở Đảng và quần chúng cách mạng ở Bắc Giang được phát triển rộng. Các đoàn thể cứu quốc được tổ chức chặt chẽ hơn. Thời gian này, bộ máy thống trị của địch bắt đầu bị lung lay. Nhiều địa phương, chính quyền địch đã bị tê liệt.

Bến đò năm xưa qua sông Cầu thuộc địa phận huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) đã từng đưa đón cán bộ cách mạng của ta trước Cách mạng tháng Tám- 1945. Ảnh tư liệu.

Các cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng cách mạng ở vùng Hiệp Hoà, Yên Thế đã hoạt động nửa công khai, nửa bí mật. Bọn hào lý hầu như không đàn áp như trước. Có nơi bọn chúng gặp Việt Minh để xin giao lại quyền giải quyết mọi công việc của địa phương. Trong khi đó, một số địa phương các đảng phái phản động, thổ phỉ nổi lên tranh giành quyền lực với Việt Minh như ở Phủ Lạng Thương, Việt Yên, Yên Dũng, Lục Ngạn, làm ảnh hưởng đến việc mở rộng phong trào cách mạng của ta.

Những năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 sắp kết thúc, Liên Xô và phe đồng minh tiến công vào xào huyệt của phát xít Đức. Ở nước ta mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp tiến lên gay gắt, ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp chiếm Đông Dương.

Ở tỉnh Bắc Giang, bộ máy thống trị của thực dân Pháp đã nhanh chóng hạ vũ khí đầu hàng phát xít Nhật. Chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12-3-1945 của Ban thường vụ Trung ương Đảng đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang trong suốt cao trào chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Thấy điều kiện vận dụng được chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương vào hoàn cảnh cụ thể ở Hiệp Hoà, đồng chí Lê Thanh Nghị, Nguyễn Trọng Tỉnh đã quyết định phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã, phá các kho thóc của Nhật- Pháp để giải quyết nạn đói cho nhân dân, động viên tinh thần cách mạng của đông đảo quần chúng ở Bắc Giang.

Một địa điểm hoạt động của cán bộ ta trước Cách mạng tháng Tám 1945 ở huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Ảnh tư liệu.

Tối 12-3-1945, tại xã Xuân Biều (huyện Hiệp Hòa) một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại đình có 30 tự vệ và hơn 300 quần chúng tham gia. Tại cuộc mít tinh, ta công bố thủ tiêu chính quyền bù nhìn, lập uỷ ban dân tộc giải phóng. Đây là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi cấp xã đầu tiên của tỉnh Bắc Giang, thực hiện chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương Đảng về khởi nghĩa từng phần, tạo điều kiện tiến tới tổng khởi nghĩa. Ngay đêm 12-3-1945, kế hoạch phá kho thóc, đồn điền Vát của TáctaRanh được đặt ra. Tiếp theo cuộc phá kho thóc đồn điền Vát, hàng chục các kho thóc của Nhật- Pháp phá ở Chàng (Việt Yên), Gió (Hiệp Hoà), Bến Bò (Lục Ngạn), Nhã Nam (Yên Thế)…Chính quyền cách mạng được thành lập ở Vân Xuyên, Lạc Yên, Trung Định (Hiệp Hoà). Chính quyền cách mạng đã lãnh đạo nhân dân diệt trừ trộm cướp và nhiều tên phản cách mạng, an ninh trật tự xóm làng được ổn định.

Khí thế cách mạng của quần chúng ở Hiệp Hoà hừng hực, binh lính ở đồn Trị Cụ rút lui hoàn toàn. Ngày 16,17-3-1945, ban cán sự tỉnh Bắc Giang đã họp hội nghị tại Đồng Điều (Yên Thế) rút kinh nghiệm diễn biến vừa qua ở Hiệp Hoà và phổ biến chỉ thị ngày 12-3-1945 của thường vụ Trung ương Đảng, hội nghị đã quyết định phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trong toàn tỉnh và đề ra một số công tác lớn: Phá kho thóc Nhật, Pháp để cứu đói, chống thu thuế, phá việc trồng đay của Nhật; diệt trừ lưu manh trộm cắp, phản động, bảo vệ an ninh trật tự; mở rộng cơ sở cách mạng; tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển các đội tự vệ địa phương; đẩy mạnh việc huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ; đẩy mạnh tuyên truyền cách mạng. Ngay sau đó, đội du kích thoát ly được thành lập gồm các tự vệ chiến đấu trung kiên và một số thanh niên lao tù cứu quốc. Đó là đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh gồm 13 người với 12 khẩu sung do đồng chí Lương Văn Đài uỷ viên ban cán sự Tỉnh trực tiếp phụ trách.

Để đẩy mạnh phong trào cách mạng lên cao hơn nữa, từ sáng 9-3-1945, Trung ương và xứ uỷ Bắc Kỳ tăng cường cho Bắc Giang các đồng chí Hồ Công Dự, Phạm Yên, Hồ Công Lạng, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Đức Quỳ… Từ cuối tháng 3-1945, cơ sở cách mạng tỉnh đã được mở rộng ở huyện Hiệp Hoà phát triển xuống Lương Phong, Đoan Bái, Đông Lỗ… Ở huyện Việt Yên cơ sở được xây dựng tại tổng Tự Lạn, Hoàng Mai, Dĩnh Sơn, Mật Ninh, Thiết Sơn, Tiên Lát…Tự vệ Hùng Lãm, My Điền chặn các đoàn xe trở thóc của Nhật để lấy thóc chia cho dân. Tại Bích Động, Việt Minh cũng tổ chức phát thóc gạo cứ đói cho dân. Ở đây, cao trào cách mạng của quần chúng đã làm tê liệt bộ máy chính quyền của địch.

(Còn nữa)

Nam- Thanh
baobacgiang.com.vn

Đại đoàn kết – Bài học tuyệt vời từ Cách mạng Tháng Tám

Đến thời điểm này, những bài học quý báu mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Trong đó, bài học tuyệt vời nhất chính là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tính đến thời điểm này, sau 66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Khát vọng độc lập, tự do, cùng với một đường lối chính trị đúng đắn và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ, góp phần làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kiến lập ra một Nhà nước Việt Nam mới.

Sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là tiền đề tốt cho ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định một chân lý: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.

Ảnh minh họaCách mạng Tháng Tám năm 1945 một dấu son chói lọi trong lịch sử Việt Nam- Ảnh: Tư liệu

Theo GS Lê Mậu Hãn, việc tuyên bố chủ quyền trong “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2/9/1945 đã thể hiện rõ ràng một chân lý: Khi một dân tộc kiên quyết đứng lên chiến đấu cho độc lập tự do thì không một kẻ thù nào có thể chiến thắng. “Việc chọn ngày 19/8 để mở đầu cho thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám 1945 cũng là một dịp để khẳng định với thế giới về tư tưởng mỗi dân tộc có quyền chọn con đường để giành độc lập tự do riêng và các dân tộc có quyền tự quyết của mình. Riêng dân tộc Việt Nam trong tình thế này chủ trương là thay đổi chiến lược cách mạng, đó là giải phóng dân tộc, đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập tự do”, GS Lê Mậu Hãn nói.

Cũng theo GS Lê Mậu Hãn, một điểm đặc biệt khác của Cách mạng tháng Tám 1945 mà chúng ta ít nhắc đến đó là một cuộc cách mạng không đổ máu. Thể hiện ở việc ngày 30/8/1945, Hoàng đế Bảo Đại – vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho cách mạng, kết thúc sự trị vì của triều đại phong kiến này. Việc thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại đã khiến cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc của Việt Nam càng rõ ràng và khác hẳn các cuộc cách mạng khác trên thế giới.

Đến thời điểm này, những bài học mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự như bài học về nắm bắt thời cơ, bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong đó, theo GS Lê Mậu Hãn, bài học tuyệt vời nhất là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. “Thắng lợi lớn lao của cách mạng Việt Nam là không tạo ra giai cấp, khi mọi người đều bình đẳng thì tất cả sẽ dấn thân để giành thắng lợi cuối cùng”, GS Hãn nói.

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 16/8, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã nhất trí thông qua đề nghị Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, và thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc. Sáng ngày 17/8, các thành viên trong Uỷ ban giải phóng dân tộc vừa được Đại hội bầu đã ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ trước sân đình Tân Trào. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên Quốc kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đọc lời tuyên thệ.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ.

Trong ngày 17/8, cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa. Sáng ngày 19/8, theo lời hiệu triệu của Việt Minh, với rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội xuống đường, tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh, biến cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn,v.v.. Ngày 19/8 trở thành mốc son lịch sử thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội.

Ảnh minh họaThắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng là thắng lợi của việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Ảnh: Tư liệu

Từ bài học Cách mạng tháng Tám 1945 để lại, trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, nắm vững thời và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới và hội nhập. Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết định đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị; vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ, tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đất nước chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,v.v..mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế

Nguồn : vnmedia.vn
tinmoi.vn

Viết về lịch sử: Cẩn trọng không thừa

Chúng ta đang sống trong những ngày lễ trọng đại: Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Nhân dịp này, tôi tìm đọc một số tư liệu về những ngày mùa thu lập quốc trên trang điện tử của một số báo. Có những bài viết do nhà báo ghi lại và cả những bài do nhà nghiên cứu viết, tôi thấy có nhiều chi tiết chưa được chính xác, cần trao đổi lại…

Có những sự kiện, có những nhân vật chưa được nhắc đến, nhà báo viết về họ mang tính khai phá. Nhưng sự kiện và nhân vật ấy đều thuộc về lịch sử. Vì vậy, đôi lúc người viết đừng ngần ngại kiểm tra lại các thông tin ở sách vở. Thêm một thao tác để tránh những sai sót không đáng có không bao giờ là việc thừa.

Hai bài viết “Những giây phút không thể nào quên” trên trang điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam (19/8/2009) của tác giả Việt Đức và bài viết “Ký ức ngày tổng khởi nghĩa ở Thủ đô” trên trang điện tử Vnexpress (19/8/2011) của tác giả Hoàng Thùy, tuy cách nhau hai năm, đề tên hai tác giả khác nhau, song có cùng chung một nội dung hỏi chuyện ông Lê Đức Vân – thành viên của Ban liên lạc Việt Minh cứu quốc Hoàng Diệu. Nội dung bài viết cùng có đoạn: “Buổi chiều 17/8/1945, tại Nhà hát lớn, Chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh với sự tham gia của hàng chục nghìn người. Khi chúng mới chỉ kịp tuyên bố khai mạc thì người của Việt Minh xông lên cướp micro”.

Trong một tài liệu mang tên “Trước giờ Tổng khởi nghĩa” của Trần Quảng Vận, tức nhà báo Trần Lâm – nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, được in năm 1946, có đoạn viết: “Mọi người đang chăm chú nghe tuyên bố khai mạc. Ba giờ đúng” (trang 23, “Vẫn chưa hết bài diễn văn. Ba giờ hai mươi nhăm, Lâm nhìn đồng hồ bắt đầu sốt ruột” (trang 25), “Lời diễn giả báo cho chàng biết giờ khởi sự sắp đến. Chàng lùi lại, đưa mắt nhìn hai tự vệ. Nhanh như cắt hai bạn đứng thế thủ. Lâm biến vào phòng sau, rồi lại ra, cầm theo gói cờ không bọc giấy. Diễn giả vẫn chưa dứt. Lâm lại phải giấu tạm vào một góc tường, phía trong. Rồi tiếng vỗ tay hoan hô vang dậy. Diễn giả vừa ngừng” (trang 26).

Bạn đọc có thể thấy, ngoài lời tuyên bố khai mạc, Chính phủ Trần Trọng Kim còn có một bài diễn văn dài đến nửa giờ đồng hồ, chứ không phải mới chỉ kịp tuyên bố khai mạc thì người của Việt Minh xông lên cướp micro.

Không riêng các nhà báo trẻ, không riêng các nhân chứng cao tuổi, ngay nhà nghiên cứu có khi cũng lẫn lộn. Trên Báo điện tử Chính phủ (18/8/2010) kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám có bài viết “Chớp thời cơ, đem sức ta mà giải phóng cho ta” của nhà nghiên cứu lịch sử Trần Thái Bình có một số nhầm lẫn.

Bộ “Tổng tập hồi ký” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chứa đựng những tư liệu chân xác, rất đáng để các nhà nghiên cứu và bạn viết trẻ tham khảo khi tìm hiểu về nhiều sự kiện lịch sử.

Về những ngày khởi nghĩa Tháng Tám 1945, nhà nghiên cứu Trần Thái Bình viết: “Đêm 19/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Tổng Bộ Việt Minh thành lập đã hạ lệnh Tổng khởi nghĩa. Thay mặt Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, đồng chí Võ Nguyên Giáp, với bí danh Văn, đã ký Quân lệnh số 1 gửi cho toàn quốc, rồi ngay sau đó trực tiếp chỉ huy một đơn vị giải phóng quân Nam tiến, đánh quân Nhật đang chiếm đóng Thái Nguyên, để mở đường tiến về Hà Nội”.

Trong vòng nửa tháng, chỉ với 5.000 đảng viên, mà làm nên Cách mạng Tháng Tám với khí thế thần tốc, chớp thời cơ quân Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngay từ ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã được triệu tập tại Tân Trào. Ngay sau đó, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào từ ngày 14 đến 16/8/1945, nhiều đại biểu lên đến chiến khu không kịp dự đại hội đã phải về ngay địa phương để chỉ đạo khởi nghĩa. Vậy mà đêm 19/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Tổng Bộ Việt Minh thành lập mới hạ lệnh Tổng khởi nghĩa thì thời cơ nghìn năm có một đâu còn?

Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết rất rõ về sự kiện này như sau: “Ngày 11, 12, tin vô tuyến điện cho biết có hiện tượng nguy ngập tan rã trong quân đội Nhật. Ngày 13 tháng 8, có tin Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội Nhật ở các nơi đã ngừng chiến đấu. 11 giờ đêm ngày 13, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng hạ mệnh lệnh khởi nghĩa cho nhân dân và bộ đội”.

Về Quân lệnh số 1 gửi cho toàn quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại như sau:

“Chiều 16 tháng 8, một đơn vị Giải phóng quân tập hợp dưới cờ làm lễ xuất phát tiến về phía Nam. Các đại biểu về dự Quốc dân đại hội đều có mặt dưới cây đa cổ thụ, cạnh ngôi nhà Hội đồng cứu quốc xã Tân Trào để tiễn đưa bộ đội lên đường chiến đấu (…). Những chiến sĩ Giải phóng quân, quần áo đủ kiểu, mang trên người dấu vết của những cuộc vật lộn ác liệt với quân thù trên các nẻo đường rừng, trên các triền núi đá Việt Bắc, tề tựu nghiêm trang dưới cờ nghe đọc bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp chú thích cẩn thận: “Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa do anh Trần Huy Liệu khởi thảo”.

Cả hai đoạn tư liệu được dẫn ở trên, tôi đều sử dụng trong hồi ký “Từ nhân dân mà ra” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, do nhà văn Hữu Mai thể hiện, được in lại trong bộ “Võ Nguyên Giáp – Tổng tập hồi ký” (NXB Quân đội Nhân dân, 2006)

Mai Kiều
vnca.cand.com.vn

Chỉ có một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của Bác Hồ

QĐND Online-  Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút” giành thắng lợi quyết định. Bước tiếp theo là “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đó là quá trình đấu tranh quyết liệt và phức tạp trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong đấu tranh ngoại giao và các hoạt động quốc tế để buộc Nguyễn Văn Thiệu phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris của các lực lượng, diễn ra mạnh mẽ, phong phú và đa dạng. Tiêu biểu là Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp đã có các hoạt động vận động các nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh thống nhất đất nước. Quá trình đó, có một câu chuyện thú vị tại Pháp đã nói lên một chân lý sáng ngời.

Quảng Trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Từ năm 1973 đến đầu năm 1975, Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tổ chức nhiều cuộc vận động một số nước ở châu Phi có quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại sứ ta tại Pháp có nhiều cuộc gỡ với đại sứ các nước ở Paris và đi đến các nước để chuẩn bị cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước đó. Quá trình đó, Đại sứ ta luôn tranh thủ vận động họ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Những hoạt động đó đã đạt kết quả tốt đối với một số nước như Bê Nanh, Công Gô, Angola,… ở châu Phi và Bồ Đào Nha ở Tây Âu. Đối với một số nước khác mặc dù chưa có kết quả ngay do điều kiện của họ, nhưng hầu hết đều đã bày tỏ tình cảm với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với nước Mađagatca có câu chuyện khá thú vị như sau: Nhân dịp ông Ratsiraca Ngoại trưởng nước Mađagatca (sau này trở thành Tổng thống Mađagatca) có chuyến công tác qua Paris, đồng chí Võ Văn Sung, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp xin gặp và đặt vấn đề Mađagatca công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cách nói thân thiết của một người bạn, ông cho biết không bao giờ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng chí Võ Văn Sung hỏi lý do vì sao? Ông Ratsiraca trả lời “vì Mađagatca đã có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và không có quan hệ với chính quyền Sài Gòn”1. Ông Ngoại trưởng còn khẳng định: “Đối với chúng tôi thì nước Việt Nam là một, chỉ có nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của “Bác Hồ”2. Vì vậy, “nếu công nhận bất kỳ một chính phủ nào khác là trái với nguyên tắc mà chúng tôi tôn trọng: nước Việt Nam là một! Chúng tôi đã từ chối việc công nhận bọn bù nhìn ở Sài Gòn”3. Đồng chí Võ Văn Sung giải thích lại tình hình miền Nam và chính sách của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam; những điều khoản của Hiệp định Paris và những vấn đề thuộc về quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam, ở đó có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát,… Thấy ông Ratsiraca còn phân vân, đồng chí Võ Văn Sung đã phải nói rằng: “Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng là anh em chúng tôi cả” và “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Cách mạng lâm thời tuy hai cũng như một, nhưng tuy một mà cho đến khi Việt Nam tái thống nhất thì vẫn phải là hai”4. Khi hiểu ra vấn đề, ông Ratsiraca hứa sẽ báo cáo về Chính phủ. Hơn một tuần sau đó, Đại sứ quán Mađagatca ở Paris báo cho Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pháp biết là Mađagatca đồng ý công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.

TS Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

——————————

1,2. Võ Văn Sung (2005), Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris, Nxb QĐND, tr.88.
3, 4. SĐD, tr.88-89.