Thư viện

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Mặt trận Việt Minh với Cách mạng tháng Tám

Vào những ngày này, toàn Đảng, toàn dân ta đang bằng những việc làm cụ thể để thiết thực kỷ niệm lần thứ 67 ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhân ngày lịch sử trọng đại này, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những trang sử đấu tranh oanh liệt và hào hùng của dân tộc ta dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương sáng lập.

Bác Hồ và Bác Tôn gặp gỡ một số đại biểu tại
Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt tháng 3-1951

Ảnh: TL

Như chúng ta đều biết, ngày 1-9-1939, Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Nó phát triển nhanh với mức độ ngày càng ác liệt, làm cho tình hình quốc tế cũng như trong nước có những chuyển biến hết sức mau lẹ.

Ở trong nước, Nhật, Pháp thi nhau đàn áp, vơ vét làm cho nhân dân, kể cả tư sản, địa chủ, trí thức cũng phẫn uất và đẩy họ ngả về phe cách mạng. Thấy rõ sự chuyển hướng của tình hình, đầu năm 1941, sau 30 năm đi tìm con đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về để trực tiếp cùng Trung ương lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Sau một thời gian chuẩn bị, Người thay mặt Quốc tế Cộng sản triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (khóa I) họp từ ngày 10 đến 19-5-1941 tại Pắc – bó (Cao Bằng). Hội nghị đã xem xét lại toàn bộ chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương và đề ra những chủ trương, quyết sách mang tính lịch sử.

Phân tích những diễn biến của cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Hội nghị nhất trí với những đánh giá của các Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (tháng 11-1939) và lần thứ 7 (tháng 11-1946), đồng thời dự báo: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô – một nước xã hội chủ nghĩa – thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”.

Về tình hình trong nước, Hội nghị nhận định: Mặc dù bị kẻ thù đàn áp dã man, song phong trào cách mạng xứ Đông Dương vẫn sôi nổi và phát triển mạnh mẽ. Cách mạng Việt Nam lúc này phải là cách mạng dân tộc giải phóng, chứ không phải là cách mạng tư sản dân quyền. Để cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, công việc cốt yếu của Đảng lúc này là phải liên minh tất cả các lực lượng của các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, các dân tộc để kháng Nhật. Trước mắt, tất cả các yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của dân tộc thì phải gác lại để giải quyết sau. Vì vậy, Hội nghị quyết định tạm gác khẩu hiệu cách mạng thổ địa để lôi kéo địa chủ tiến bộ, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp, Nhật. Hội nghị nhận định:

“Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không thực hiện được độc lập, tự do cho toàn dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp vạn năm cũng không đòi lại được”.

Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Khẩu hiệu chính của Việt Minh là: Phản Pháp, kháng Nhật, liên Hoa, độc lập. Không chỉ đề cập đến những vấn đề chủ trương, chính sách Mặt trận, Hội nghị Trung ương 8 còn đề ra một cách toàn diện những vấn đề về nội dung, nhiệm vụ, phương thức tổ chức và hoạt động của Mặt trận Việt Minh và các tổ chức, đoàn thể quần chúng.

Hội nghị nêu rõ: Khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm và quyết định lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Mặt trận Việt Minh và sẽ là cờ của Tổ quốc khi giành được chính quyền.

Ngày 25-10-1941 Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Chương trình của Việt Minh nêu rõ: Muốn cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, Việt Minh phải liên hiệp hết thẩy các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị, giai cấp. Tất cả đoàn kết lại để đánh đuổi Pháp – Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở, đồng thời phải hết sức giúp đỡ Ai Lao và Cao Miên để cùng thành lập Đông Dương độc lập đồng minh.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, Mặt trận trình bày rõ ràng đường lối, chính sách, phương pháp tiến hành và tổ chức lực lượng đấu tranh để thực hiện mục đích cứu nước của mình.

Nhờ có chính sách đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của các tầng lớp nhân dân mà tổ chức và phong trào Việt Minh phát triển nhanh chóng và lan rộng ra khắp nước.

Ngày 7-5-1944 Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10-1944 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có thư Kính cáo đồng bào, kêu gọi các bậc phú hào yêu nước, công, nông, binh, phụ nữ, công chức, tiểu thương cần nhận rõ trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại để đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi, lửa bỏng. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm.

Ngày 22-12-1944 thay mặt Tổng bộ Việt Minh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra Chỉ thị thành lập Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 9-3-1945 Nhật hất cẳng Pháp. Nhân sự kiện này, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã kịp thời ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thực hiện Chỉ thị trên, cao trào cách mạng xuất hiện ở nhiều nơi; Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập. Lợi dụng thời cơ phát xít Đức đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào hãy vùng lên dưới ngọn cờ của Việt Minh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội Quốc dân tại Tân Trào trong 2 ngày 16 và 17-8-1945. Đại hội đã nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa do Đảng Cộng sản Đông Dương kiến nghị, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh, quyết định Quốc kỳ, Quốc ca. Đại hội đã cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam – một hình thức của Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh – tức Nguyễn Ái Quốc – làm Chủ tịch.

Chỉ trong vòng hai tuần lễ, cuộc Tổng khởi nghĩa do Việt Minh phát động đã thành công trên phạm vi cả nước, đưa Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 25-8-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Theo đề nghị của Người, Ủy ban giải phóng dân tộc được đổi thành Chính phủ lâm thời nhằm thực hiện sự đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và các nhân sĩ tiến bộ.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội đã diễn ra cuộc mít tinh chào mừng Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đại diện Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng đọc diễn văn khái quát lại vai trò, sứ mệnh lịch sử vinh quang của Mặt trận Việt Minh trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và đọc Lời hiệu triệu đồng bào cả nước, trong đó nêu rõ: Quyền độc lập của chúng ta còn mong manh. Giành chính quyền là một việc khó, giữ vững chính quyền lại càng khó hơn. Việt Minh suốt mấy năm nay kiên quyết phấn đấu, chịu bao hy sinh, đau đớn mới có được độc lập. Ngày nay chính quyền đã được thành lập, Việt Minh không cho thế là đủ. Việt Minh biết rằng: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm. Bởi vậy, Tổng bộ Việt Minh quyết lãnh đạo đồng bào san phẳng mọi trở lực đặng giữ vững quyền độc lập. Tổng bộ Việt Minh kêu gọi quốc dân đồng bào quyết tâm giữ vững độc lập đã giành được, không trông chờ vào người khác, một lòng ủng hộ Chính phủ, sẵn sàng đập tan kế hoạch xâm lược của thực dân Pháp. Khẩu hiệu của toàn dân ta lúc này là: “Đoàn kết, phấn đấu, củng cố nền độc lập”. Lúc này, ai là người yêu nước đều có bổn phận phụng sự Tổ quốc. Người có tiền giúp tiền; kẻ có sức giúp sức, người có tài trí giúp tài trí. Tất cả phải góp sức để xây dựng lâu đài dân tộc Việt Nam phú cường.

Chuyển sang thời kỳ phát triển mới của cách mạng, chính quyền nhân dân được thành lập từ Trung ương đến địa phương trong cả nước. Mặt trận Việt Minh không còn làm chức năng chính quyền như trước. Hoạt động của Mặt trận lúc này là nhằm củng cố và phát triển tổ chức Mặt trận, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền và động viên nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước trước những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua nổi do thiên tai, địch họa gây ra như: nạn đói đe dọa sinh mạng hàng triệu đồng bào; âm mưu “tiêu diệt Đảng ta”, “phá tan Việt Minh” của 18 vạn quân Quốc dân Đảng Trung Hoa và bọn phản cách mạng Việt Nam ở phía Bắc; bọn quân Anh ở phía Nam giúp thực dân Pháp nổ súng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam từ ngày 23-9-1945.

Qua những việc làm cụ thể, đặc biệt sau sự kiện Đảng tuyên bố tự giải tán để tránh mũi nhọn tiến công của kẻ thù, vai trò Việt Minh trong đời sống chính trị của đất nước ngày càng được đề cao. Mặt trận Việt Minh – hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc – có thêm nhiều thành viên mới, cả thành viên tổ chức lẫn cá nhân. Đó là các đảng phái chính trị, các nhân sĩ yêu nước, những trí thức tiêu biểu thuộc các tầng lớp trên của xã hội.

Để phân hóa hàng ngũ các đảng phái chính trị phản động bám gót quân Tưởng, Việt Minh ký Tuyên ngôn đoàn kết với Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội; ký Thỏa hiệp với Việt Nam Quốc dân Đảng; ký thỏa thuận với Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội về việc thành lập Chính phủ liên hiệp v.v… Nhiều đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng trong Chính phủ là cán bộ Việt Minh đã được Quốc dân Đại hội Tân Trào bầu ra đã tự nguyện nhường lại 70 ghế trong Quốc hội cho các tổ chức, đảng phái không chỉ thể hiện đạo đức trong sáng mà còn chứng tỏ chính sách đại đoàn kết trước sau như một của Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã có tác dụng lôi kéo những người do dự, kể cả những người vốn có tư tưởng chống đối, về với nhân dân, với cách mạng. Bằng uy tín cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quy tụ được nhiều nhân vật tiêu biểu của chế độ cũ tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất.

Đánh giá vai trò của Mặt trận Việt Minh, Tuyên ngôn của Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt họp tháng 3-1951 nêu rõ: “Việt Minh có công lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chống quân cướp nước. Công đức ấy tất cả mọi người Việt Nam phải ghi nhớ. Lịch sử của Việt Minh 10 năm đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc cũng là những trang sử vẻ vang vào bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta”.

Nguyễn Túc
Ủy viên Đoàn Chủ tịch
UBTƯ MTTQ Việt Nam
daidoanket.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng: Ngày ấy, bây giờ

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách áp bức thực dân gần 100 năm và chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta, một chế độ mới ra đời – chế độ dân chủ nhân dân, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, nhưng chưa thể bắt tay vào lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải lãnh đạo cách mạng nước ta vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” giành thắng lợi trong xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thành quả tổng hợp của các phong trào cách mạng do Đảng phát động, lãnh đạo và duy trì trong suốt 15 năm sau ngày thành lập Đảng: Cao trào Xôviết Nghệ – Tĩnh, Cuộc vận động Dân chủ trong những năm 1936-1939 và Phong trào giải phóng dân tộc năm 1939- 1945. Đây là một trong những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thế kỷ XX. Với thắng lợi đó, “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 năm tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 6, tr. 159).

Sau Cách mạng Tháng Tám, Chính phủ lâm thời chính thức ra mắt quốc dân đồng bào, chính quyền cách mạng từng bước được thiết lập ở tỉnh, huyện, xã. Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, cùng Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể chính trị – xã hội đã tạo nên chỗ dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng non trẻ. Nhân dân Việt Nam ngày càng tin tưởng vào Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tích cực tham gia các phong trào cách mạng do Đảng phát động và lãnh đạo. Tuy nhiên, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta lại phải đương đầu với những khó khăn, thách thức chưa từng có. Song, với sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng nước ta vượt qua tình thế hiểm nghèo, giữ vững chính quyền cách mạng, chủ động chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc giành thắng lợi.

Thắng lợi về giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám là nhờ đường lối đúng đắn của một Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin; luôn coi việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa ấy là nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Một Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, biết phát huy mạnh mẽ sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh; một Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo tài tình… Trong lãnh đạo tổ chức thực tiễn Đảng ấy, đã dự báo đúng đắn sự phát triển của tình hình cách mạng; thấy rõ thuận lợi và những khó khăn, thách thức; linh hoạt, sáng tạo, biết lợi dụng mâu thuẫn trong kẻ thù, cô lập kẻ thù, thêm bạn bớt thù, tập trung vào kẻ thù chính; biết nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thách thức… Điều này, chủ yếu do Đảng luôn coi trọng xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Mỗi tổ chức đảng là một pháo đài chiến đấu, cán bộ lãnh đạo các cấp thực sự là những tấm gương sáng ngời vì nước, vì dân, đội ngũ đảng viên tuy không nhiều, nhưng mỗi đảng viên thực sự là một chiến sĩ tiên phong không ngại gian khổ, hy sinh kể cả tính mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đó là những người có tính đảng cao và tình đồng chí sâu sắc; có đạo đức cách mạng trong sáng; có năng lực tư duy sáng tạo; gắn bó mật thiết với nhân dân, hoà vào dân, ăn sâu, bám chắc trong nhân dân; cùng nhân dân vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, hy sinh giành và giữ vững chính quyền trong điều kiện gặp nhiều khó khăn, thách thức quyết liệt và trong tình thế hiểm nghèo. Những cán bộ, đảng viên ấy, đã được dân tin, dân phục, dân yêu. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám, là bài học lớn về xây dựng Đảng ta.

Trong điều kiện hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo vệ toàn vẹn biên giới, biển đảo; sự diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế; sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và quan hệ quốc tế; sự phá hoại của các thế lực thù địch; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cấp cao suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đội ngũ cán bộ cấp Trung ương là cấp chiến lược rất quan trọng nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản; nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức…Tình hình đó, đặt Đảng và công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH trên đất nước ta trước những khó khăn, thách thức quyết liệt mới. Bài học “xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám” vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa lớn để Đảng xây dựng bản thân mình vững mạnh, đưa công cuộc đổi mới vượt qua khó khăn thách thức đến thắng lợi.

Đảng đã ra Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay”, nhằm xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Ðể thực hiện thắng lợi Nghị quyết này, Ðảng đã đề ra bốn nhóm giải pháp. Trong đó, Nghị quyết đặt lên hàng đầu nhóm giải pháp tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp Trung ương đã tiến hành tốt công việc này, đạt kết quả quan trọng, tạo tiền đề, động lực và điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng thực hiện tự phê bình và phê bình đúng đắn, nghiêm túc, đạt kết quả. Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng để xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, để Đảng tiếp tục xứng đáng là người lãnh đạo, người tổ chức mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc, toàn vẹn Tổ quốc trong điều kiện hiện nay.

PGS,TS Đỗ Ngọc Ninh
daidoanket.vn

Bức ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số thành viên Chính phủ ”

Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 90, tháng 4 năm 2001 có đăng bức ảnh với chú thích: “Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ngày 3/11/1946)”. Đến tháng 8 năm 2002, số 121, Tạp chí này đăng lại bức ảnh này với những dòng chú thích dài và cụ thể hơn: “Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ Lâm thời (ngày 2/9/1945) – Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh chụp tại cửa chính Bắc Bộ Phủ. Trong ảnh gồm có các vị (từ trái qua phải) Hàng thứ nhất: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hòe, Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Tố; Hàng thứ 2: Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng Tích Trí, Vũ Trọng Khánh, Dương Đức Hiền; Hàng thứ 3: Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám, Cù Huy Cận.

Chúng tôi xin được bàn thêm về bức ảnh này như sau:

Theo sử sách, chiều 2/9/1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa mà đầy đủ là Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra mắt với 15 thành viên. 12 nhân vật có mặt trong bức ảnh được đặt tên là “Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ngày 3/11/1946)” hay “Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời (ngày 2/9/1945) – Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” có hai vị chưa phải là Bộ trưởng thời điểm bấy giờ: Hoàng Tích Trí (ngày 3/11/1946 mới được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Y tế) và Hoàng Minh Giám (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ năm 1947 đến tháng 4 năm 1954); nhưng lại vắng mặt tới 5 Bộ trưởng trong Chính phủ Lâm thời lúc bấy giờ: Đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chu Văn Tấn; Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Đào Trọng Kim; Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch; Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến và Bộ trưởng Không bộ Nguyễn Văn Xuân. Như vậy, nếu chú thích đúng phải là “Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số thành viên Chính phủ…”.

lịch trinhẢnh tư liệu gia đình cố luật gia Vũ Đình Hòe cung cấp.

Cụ Vũ Đình Hòe, cố Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đầu tiên của Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn kể rằng:

“Vào những năm đầu thập niên 1960 của thế kỷ trước, có một người học trò cũ của tôi làm việc ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự ghé thăm tôi ở nhà riêng 27, Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Anh ấy đem cho tôi bức ảnh này và dặn:

– Thầy cất đi! Em thấy cái ảnh này nằm trong trong đống tài liệu. Thấy có thầy, em giữ lại để thầy làm kỷ niệm.

Do anh Vũ Thế Khôi (Trưởng nam của cụ Vũ Đình Hòe – SK&NC) công khai, sau đó ít lâu bức ảnh này được một vài tờ báo và tạp chí trong nước đăng tải với những chú thích khác nhau. Rồi Thông tấn xã Việt Nam có giấy giới thiệu cử người đến gặp tôi xin chụp lại để làm tài liệu lưu trữ. Sau ngày thống nhất nước nhà, bức ảnh cũng đã được đăng ở vài tờ báo khác nữa, mỗi tờ chú thích khác nhau”.

– Thưa cụ, cụ còn nhớ ai chụp bức ảnh này không ạ? – Tôi hỏi.

– Tôi không nhớ ai chụp đâu. Vì tới gần 20 năm sau tôi mới có được bức ảnh quý giá này. Có thể là của anh Nguyễn Bá Khoản.

Cùng ngồi “hầu chuyện” cụ hôm đó còn có người thầy dạy tiếng Nga cho tôi thời sinh viên là Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi. Thầy Khôi nửa đùa nửa thật hỏi:

– Sao cụ nhanh chân thế! Đứng ngay bên phải Cụ Hồ?

Cụ Hòe nghiêm sắc mặt lại rồi nói tiếp:

– Từng vị trí trong ảnh này là do Bác Hồ sắp xếp. Người đầu tiên là anh Trần Huy Liệu, bên trái. Rồi đến tôi – bên phải. Bác xếp theo kiểu tả tướng quân, hữu tướng quốc.

Tôi hỏi tiếp:

– Thưa cụ, cụ nhớ bức ảnh này được chụp ở đâu không ạ?

Cụ đáp:

– Bức ảnh được chụp ở bậc tam cấp chánh tòa Đông Dương đối diện với nhà Thủy Tạ bên Hồ Gươm. (Tòa này sau đó bị phá đi, thay bằng nhà vệ sinh công cộng và sân tập bóng rổ, đến những năm đầu thập niên 1990, dự án khách sạn Hà Nội Vàng cao 15 tầng không thành và được thay bằng tòa nhà của Bảo Việt hiện nay)

Có nghĩa là những dòng chú thích về bức ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời (ngày 2/9/1945), Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” hay “Chính Phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 3/11/1946)” chụp tại Bắc Bộ Phủ đều chưa chính xác.

Cố luật gia, cố Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đầu tiên sau đó là Bộ trưởng Bộ Tư pháp (1946-1961) của chế độ Dân chủ cộng hòa Vũ Đình Hòe hiện đã qua đời nhưng câu chuyện cụ kể cho chúng tôi về bức ảnh như là một lời nhắc nhở rằng, trong bất kỳ sự kiện nào người chụp ảnh báo chí, biên tập ảnh báo chí cần bảo đảm tính thông tin chính xác về bức ảnh được đăng tải.

Theo NSNA Trần Định/ Báo Quân đội nhân dân
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về những ngày Hồ Chủ tịch viết Tuyên ngôn độc lập

Gia đình bà Hoàng Thị Minh Hồ ở 48 Hàng Ngang (Hà Nội) không chỉ là cơ sở bí mật của các cán bộ cao cấp mà còn là nơi che giấu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Tám, bà đã kể lại những kỷ niệm đó.

“Một hôm, cuối Tháng Tám năm 1945, anh Thận (tên gọi thân mật của đồng chí Trường Chinh) đến nói với tôi: “Chị lo một chỗ cho mấy Cụ về”. Thấy vẻ mặt anh Thận khác mọi lần, tôi linh cảm có điều gì quan trọng, nhưng không dám hỏi thêm. Tối hôm đó, có ba người lạ đến, trong đó có một ông Cụ dáng cao, người gầy, nhưng đôi mắt rất sáng và vầng trán rộng. Tôi băn khoăn không hiểu ông Cụ là ai mà mọi người kính trọng yêu thương như tình cha con trong gia đình lễ giáo vậy! Tôi thầm nghĩ, ông Cụ là một người có cương vị tối cao.

Theo kế hoạch của Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 23/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội chuẩn bị cho Lễ Tuyên ngôn độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào. Trong những ngày đầu cách mạng, Hồ Chủ tịch và các cán bộ trong Thường vụ Trung ương gặp muôn vàn khó khăn nguy hiểm bởi hàng ngày, hàng giờ kẻ thù luôn rình rập ám hại Chủ tịch hòng dập tắt phong trào cách mạng. Trong điều kiện “ngàn cân treo sợi tóc” đó, có những gia đình không quản hy sinh tính mạng và của cải, hết lòng vì cách mạng, cùng với lực lượng Cảnh vệ che giấu, bảo vệ Bác Hồ và Thường vụ Trung ương. Một trong những gia đình đó là gia đình bà Hoàng Thị Minh Hồ.

Gia đình bà Hồ đã ủng hộ cách mạng và hiến cho Nhà nước hàng nghìn cây vàng (chỉ tính riêng quỹ Độc lập, gia đình bà đã ủng hộ số tiền tương đương 500 cây vàng). Gia đình bà còn là cơ sở bí mật của nhiều cán bộ cấp cao như Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…

Hàng ngày bị cuốn hút bởi bao công việc, tôi vẫn canh cánh lo toan phần việc trên gác 2 nhà mình, cắt cử người nhà cơm nước và làm mọi việc trong nhà, không ai được lên tầng 2. Đêm nào tôi cũng nghe tiếng máy chữ của ông Cụ rất khuya. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn trên phòng của Cụ mới tắt, nhưng đồng hồ điểm 5 tiếng, đã thấy ông Cụ dậy tập thể dục ngoài ban công.

Tối 1/9/1945, ông Nguyễn Lương Bằng đưa cho tôi một tấm thiếp mời của Ban Tổ chức Chính phủ lâm thời do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch ra mắt Quốc dân tại vườn hoa Ba Đình. Gần 10h sáng hôm sau, tôi mới vào được khu vực khách mời dự, sát lễ đài. Hai giờ chiều, buổi lễ bắt đầu, tiếng hô to, kéo dài vang vọng: “Chào cờ…”. Cả biển người im phăng phắc. Đoàn quân nhạc cử Quốc ca. Người tôi sởn gai ốc, nước mắt lăn dài trên hai gò má. Dứt tiếng Quốc thiều, mắt đang nhòa lệ, tôi nhìn lên kỳ đài thấy ông Cụ – người đã từng ở gác 2 nhà tôi. Đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh đang dõng dạc hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Lời Người nghe như lời non nước vọng lại làm cả biển người đồng thanh hô vang: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Nước mắt tôi lại trào dâng, cảm giác ngây ngất, nhưng vẫn nghe rõ lời ông Cụ đọc. Tôi lại bâng khuâng liên tưởng đến những đêm với tiếng máy chữ của ông Cụ gõ trong khuya, tạc lên áng văn rửa nỗi nhục mất nước ngót trăm năm và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Một tuần sau ngày Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, Cụ cho gọi vợ chồng tôi lên gặp. Chưa hiểu có chuyện gì, trong lòng thấy lo. Tôi nghĩ, hay mình làm việc gì không phải để Cụ không hài lòng. Khi vợ chồng tôi lên, thấy ông Cụ cầm một chiếc ngà voi, trên có khắc một đàn voi, vòi con nọ quấn lấy con kia. Trao món quà cho tôi, Cụ mỉm cười nói rất thân mật:

– Bác và Thường vụ tặng gia đình cô món quà, chúc gia đình và cách mạng đoàn kết như đàn voi này.

Nhận món quà từ tay Cụ Hồ trao, tôi xúc động quá, tự nhiên thấy cay cay nơi sống mũi, rồi nước mắt cứ ứa ra, muốn nói mà ấp úng mãi mới thành lời:

– Thưa Cụ, gia đình cháu xin cảm ơn Cụ, cảm ơn cách mạng, nguyện suốt đời đi theo cách mạng.

Thời gian thấm thoắt trôi đi, nhưng những kỷ niệm về Bác Hồ trong những ngày đầu cách mạng vẫn in sâu trong ký ức tôi. Giờ đây, đến thăm lại nơi Bác làm việc trong những ngày đầu cách mạng ở tầng hai ngôi nhà 48 Hàng Ngang mà gia đình tôi đã hiến cho Nhà nước, tôi như thấy Bác đang ngồi kia vạch đường chỉ lối, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến bến bờ vinh quang, hạnh phúc”.

Theo Quân Đội Nhân Dân
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Lịch trình Bác Hồ về Hà Nội dự Lễ Quốc khánh đầu tiên – Ngày 2/9/1945

Trong những ngày cuối tháng 8 năm 1945, sau Tổng khởi nghĩa –  Cách mạng Tháng Tám thành công, Biên niên sử Hồ Chí Minh (tới năm 1945) ghi các sự kiện lớn như sau:

– Ngày 22 tháng 8: Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Tân Trào về Hà Nội. Người chưa khỏi bệnh, còn mệt nhiều, có lúc phải nằm cáng.

– Ngày 26 tháng 8: Buổi sáng, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn bị ra Tuyên ngôn độc lập.

Lich trinh Bac Ho ve HNChủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 (Ảnh tư liệu)

– Ngày 27 tháng 8: Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập cuộc họp của Ủy ban Dân tộc giải phóng. Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

– Ngày 28 và ngày 29 tháng 8: Từ nơi ở là ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng ngày tới làm việc tại ngôi nhà số 12 phố Ngô Quyền – trụ sở của Chính phủ lâm thời. Người dành phần lớn thì giờ soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập. (Báo cáo viên năm 2005, Ban TT- VH, trang 230).

Ngày 2/9/1945 diễn ra cuộc mít tinh vô cùng trọng thể tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội): Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc Bản Tuyên ngôn độc lập và ra mắt Chính phủ lâm thời…

Ông Nguyễn Thu Cờ, một cán bộ ngành Công an Hà Nội đã chứng kiến và ghi chép thêm những sự kiện lớn về Bác Hồ trong những ngày từ Tân Trào tới Hà Nội với một lịch trình chi tiết như sau:

– Buổi tối ngày 24/8/1945, Bác Hồ đến nghỉ tại nhà ông Công Ngọc Kha (tức Trần Lộc) ở làng Gạ (nay là làng Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm) ngoại thành Hà Nội, là một cơ sở cách mạng tin cậy.

– Sáng ngày 25 tháng 8: Tại làng Ga, Bác Hồ nghe ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh báo cáo tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội. Đến buổi chiều, Người đi ô tô vào Hà Nội. Ông Trường Chinh đón Bác cùng đi đến số nhà 48 Hàng Ngang (nhà của vợ chồng ông Trịnh Văn Bô là một thương gia đã tham gia phong trào Việt Minh ở Hà Nội).

– Ngày 27 tháng 8: Ngay tại số nhà 48 Hàng Ngang, sau khi soạn thảo văn kiện lịch sử “Tuyên ngôn độc lập” Bác Hồ có tâm sự với ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục là Người cảm thấy xúc động và phấn khởi. Trong những giờ phút ấy, Người đã trải qua ốm nặng nhưng hơn bao giờ hết Người thấy sảng khoái, minh mẫn, khỏe mạnh khi Người nghĩ rằng Người sẽ được tuyên bố với đồng bào mình và trên thế giới rằng “sau bao nhiêu năm gian khổ hy sinh, nhân dân Việt Nam cuối cùng cũng đã đạt được mục đích thiêng liêng”.

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các vị Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Ủy ban Dân tộc giải phóng để quyết định cải tổ mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó cho. Ngày 28 tháng 8, khi đưa ra Bản Tuyên ngôn độc lập để góp ý, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra hiệu cho ông Hoàng Minh Giám, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đọc lên Bản Tuyên ngôn đồng thời phát cho mỗi Bộ trưởng một bản sao đánh máy để các vị ghi ý kiến đóng góp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa đổi vài ba ý kiến nhỏ, xong mọi người tán thành, rồi ký tên. Sau đó có chụp ảnh lại.

– Chiều ngày 28 tháng 8, Ban Tổ chức Thành bộ Hà Nội mở cuộc họp đưa ra việc cần kíp xây dựng một Lễ đài Độc lập uy nghi xứng đáng một Lễ đài Độc Lập.

– Ngày 29 tháng 8 bản thông báo được đăng trên các báo với nội dung: “Ngày 02/9/1945 Chính phủ lâm thời cách mạng sẽ làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào, tuyên bố độc lập tại vườn hoa Ba Đình, đồng bào nào có nhiệt tâm góp sức, góp của vào việc tổ chức ngày lễ hết sức trọng đại này. Vậy đồng bào nào có thể đảm nhiệm được trọng trách này. Ngay sau đó có họa sĩ Lê Văn Đệ xin dựng Lễ đài, tiếp theo sau đó có kiến trúc sư Ngô Đình Quỳnh vẽ bản thiết kế lễ dài, vị trí dựng lễ đài, chiều cao, chiều rộng. Ban tổ chức giao cho hai anh Ngô Đình Quỳnh và Lê Văn Đệ thiết kế, thi công và trang trí.”

– Đúng 5 giờ sáng ngày 02/9/1945, Ban Tổ chức nghiệm thu công trình. Sau 48 giờ, Lễ đài Độc lập hoàn thành tại Quảng trường Ba Đình, đã được ghi vào lịch sử của dân tộc.

– Từ 10 giờ sáng ngày 02/9/1945, các đoàn thể các giới bao gồm công nhân, viên chức ở các công sở, các nhà máy đóng tại Hà Nội, các đoàn thể Thanh niên, Phụ nữ cứu quốc ở các khu phố, nữ tiểu thương ở các chợ, anh chị em nông dân ở ngoại ô tỉnh Hà Nội, học sinh Trường Bưởi, Trường nữ sinh Đồng Khánh, Trường tư thục Gia Long, Trường Thăng Long, các đoàn thể hướng đạo sinh, anh em Cảnh sát cứu quốc. Ngoài ra, còn có hai chi đội quân giải phóng từ chiến khu Việt Bắc trở về phối hợp với anh em Công an cách mạng đầu tiên ở Bắc Bộ và Hà Nội làm nhiệm vụ trật tự và bảo vệ.

– Đúng 14 giờ chiều ngày 02/9/1945, Thành bộ Hà Nội tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Ba Đình trước hàng chục vạn đồng bào Hà Nội. Trên lễ đài cao và trang nghiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam Châu Á.

Tiếp đó, toàn thể các Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời làm Lễ Tuyên thệ trước quốc kỳ “cờ đỏ sao vàng” cùng với toàn thể đồng bào đứng nghiêm chỉnh ở Quảng trường Ba Đình giơ tay hô lớn “Xin thề”. Sau Lễ Tuyên thệ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày về tình hình đánh thắng Pháp ở hai trận Phay Khắt và Nà Ngần ở tỉnh Cao Bằng và phá tan 500 quân Nhật đánh vào Tân Trào, Hồng Thái. Tiếp theo, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo với đồng bào về việc đoàn đại biều của Chính phủ lâm thời đi Huế nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại và chiếc “quốc ấn”, “quốc kiếm”. Như vậy, ách đô hộ của thực dân Pháp bị lật đổ (1858- 1945) và chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã cáo chung (1802- 1945).

Cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra Lễ đài lần nữa, hô hào nhân dân cả nước quyết hy sinh giữ vững nền độc lập mới giành được và ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà mới thành lập.

Theo Vương Liêm/Ủy ban MTTQ Thành phố Hồ Chí Minh
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Người chụp bức ảnh lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập

Sáng tháng 8 trải nắng vàng, tôi đến thăm ông Nguyễn Dung ở 18 Nam Ngư để hưởng cái thú ngắm lại bức ảnh lịch sử “Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên Lễ đài Ba Đình” được phóng thành khổ lớn, lồng khung kính, treo trên tường.

Bac Ho trong nhung ngay thang 8 lịch su

Đây là tấm ảnh kỷ niệm không thể quên của đời ông và bạn bè, những thanh niên Hà Nội trẻ măng trước Tổng khởi nghĩa là đội viên Đội Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu (tên Hà Nội thời ấy) và ngày 19 tháng 8 là lực lượng xung kích cùng làn sóng nhân dân đánh chiếm Phủ Khâm Sai, Trại Bảo an binh, Sở Liêm phóng, nhà tù Hỏa Lò, Nhà Tiền… từ tay phát xít Nhật và chính quyền bù nhìn, sau đó tham gia lực lượng Công an nhân dân.

Ngày Độc lập 2-9-1945, theo lệnh của trên, ông dẫn chừng hai chục trinh sát đi bảo vệ Lễ đài Ba Đình. Già nửa thế kỷ trôi qua, thấm thoắt, ông Dung đã ở tuổi 82, mái tóc bạc trắng, đi lại khó khăn, phải chống batoong. Không ngờ, ba năm sau ông đã vội ra đi.

Nhìn bức ảnh đẹp, rõ đến từng chi tiết của ông bạn thân tặng, tôi càng thấy cái tài của GS, KTS Ngô Huy Quỳnh với thời gian cho phép chỉ có 15 giờ đồng hồ đã nghĩ cách thiết kế và thi công lễ đài bằng gỗ, trang trí bằng vải để tạo dáng kiến trúc và màu sắc cho nhanh. Lễ đài mang hình bệ cột cờ thành Thăng Long xưa, bốn mặt hình thang, phần lớn diện tích từ dưới lên phủ vải đỏ xếp thành từng nếp, giữa có ngôi sao vàng lớn, phần trên phủ vải vàng, nổi lên những đường võng bằng lụa đỏ. Hai bên lễ đài thiết kế hai bệ lớn bằng gỗ phủ vải đỏ, giữa có sao vàng, trên đặt lư hương lớn bằng gỗ hình chữ nhật, trong có đỉnh đồng đốt trầm hương do phụ lão ngoại thành phụ trách. Nhìn toàn cảnh, lễ đài nổi bật lên, giản dị mà trang nghiêm, giữa một vườn hoa rộng mênh mông, đằng sau có hàng cây cổ thụ làm nền.

Trên Lễ đài có cột cờ ở chính giữa, các vị trong Chính phủ lâm thời đứng xung quanh. Ở giữa hàng đầu, dưới nắng thu vàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tuổi 55, đầu trần, mặc lễ phục kaki, đang đọc Tuyên ngôn độc lập trước máy phóng thanh, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Nhớ lại trước đó vài năm, ông Dung còn cho tôi xem bức ảnh thứ hai có thêm một số chi tiết mà bức ảnh trên không có. Bức ảnh đặc tả đội danh dự bảo vệ Lễ đài gồm khoảng một đại đội dàn thành ba lớp theo hai bậc thềm hình tròn, đứng nghiêm trang, nhìn ra phía trước, tay áp vào khẩu súng lục đeo bên người ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đây Nguyễn Dung, đội mũ phớt nâu, sơ mi trắng cộc tay, quần soóc trắng, bít tất trắng dài, giày hai màu là học sinh trường Thăng Long. Đứng đằng sau là Nguyễn Xuân Nho mặc soóc, sơ mi ngắn tay, đội mũ cát, học sinh Trường Bưởi, Lê Văn Thủy mặc quần dài xuất thân làm thợ nhà in. Cả ba đều là người Hà Nội. Đây nữa, Nguyễn Lung, Nguyễn Cao mặc đồ sơ mi cổ cồn, quần dài trắng, tóc chải sáp bóng mượt. Nhiều người khác mặc quân phục lấy ở khu quân nhu của Bảo an binh. Người nào cũng đeo bên sườn một khẩu súng ngắn đều là chiến lợi phẩm.

Ông Dung nhắc lại phút lịch sử. Đoàn xe ô tô chở Bác Hồ và các vị trong Chính phủ lâm thời rời Bắc bộ phủ, có các chiến sỹ bảo vệ mặc soóc, áo cộc tay, đội mũ cát, đi xe đạp hộ tống hai bên. Đoàn xe qua Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi, Cửa Nam, Điện Biên Phủ, lên vườn hoa Ba Đình. Quá 14h, đoàn xe tiến vào phía sau Lễ đài. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời bước theo cầu thang lên Lễ đài, trong tiếng reo mừng như sấm dậy. Cuộc mít tinh bắt đầu. Đội quân nhạc cử hành trọng thể hành khúc “Tiến quân ca” của Văn Cao. Trước máy phóng thanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, cả biển người im lặng nghe giọng đọc thấy sự xúc động của Người. Giữa chừng, Bác ngừng lại hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Cả biển người đồng thanh đáp: “Có…ó…ó”. Sau buổi lễ, đồng bào đi diễu hành ở các đường phố, tắm mình trong không khí độc lập, tự do, từ đây thực sự đổi đời.

Nhìn hai tấm ảnh của ông Dung, tôi nhớ tới phóng viên, nghệ sỹ nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản, người Thường Tín, Hà Nội, mất cách đây 19 năm ở tuổi 76 (1917-1993). Xưa kia, ông là phóng viên nhiếp ảnh các báo Tin tức, Lao động, Cứu quốc… Ông được đi nhiều, có lần đi du lịch vòng quanh Đông Dương bằng xe đạp. Cuốn nhật ký bằng ảnh đã ghi lại chuyến đi đó. Nhớ năm 1990, tôi đến thăm nhà ông ở Hai Bà Trưng. Tới nhà mới thấy nhà ông nghèo nhưng giàu sản phẩm tinh thần. Trên mặt bàn bừa bộn những ảnh, sổ ghi cảm tưởng ở các triển lãm ảnh, những số báo, những bản chụp bài viết về ông. Mấy thập kỷ nay, người ta viết về ông đã nhiều, sử dụng ảnh của ông cũng không ít. Nguyễn Bá Khoản là nghệ sỹ nhiếp ảnh nổi tiếng.

Hôm ấy, tôi hỏi ông về chụp bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, ông vẫn nhớ như in. Chiều 2/9/1945, nghe Tổng biên tập Báo Cứu quốc là đồng chí Xuân Thủy dặn dò xong, ông xách chiếc máy ảnh cũ lên vườn hoa Ba Đình vào trước giờ khai mạc. Sau Lễ chào cờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập trước một biển người, một rừng cờ đỏ sao vàng. Ông Khoản chọn chỗ đứng, xoay các góc độ, lựa ánh sáng – hồi ấy chưa có ống kính tê-lê và ghi được hình ảnh vị Chủ tịch nước đầu tiên giữa khung cảnh hùng tráng một ngày lịch sử trọng đại của dân tộc. Bình tĩnh, tự tin, ông bấm liền mấy kiểu với những tốc độ khác nhau. Ngoài bức ảnh lịch sử ấy, ông còn bấm được nhiều kiểu khác như đội danh dự bảo vệ lễ đài, các đoàn thể… Chiều hôm ấy, phim được tráng ngay, ảnh được in thành nhiều bức. Bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập là bức đẹp nhất, đánh dấu nửa đời người cầm máy ảnh của ông. Năm sau, đúng ngày 19-8-1946, bức ảnh lịch sử được phóng to và trưng bày lần đầu tại Nhà triển lãm Tràng Tiền, trước sự ngưỡng mộ của đồng bào Thủ đô và cả nước.

Ít ai biết trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông Khoản đã giữ gìn, bảo quản những phim ảnh chụp được từ già nửa thế kỷ trước rất cẩn thận bằng lối thủ công. Trở về Hà Nội sau ngày giải phóng, năm 1990 ông gửi tặng Trung tâm lưu trữ Quốc gia toàn bộ 2.000 tác phẩm, một tài sản quý của một đời phóng viên nhiếp ảnh.

Từ năm 1991, được sự giúp đỡ của Hội Nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam và Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam, ông đã ba lần triển lãm ảnh của mình – trong đó có triển lãm ảnh lịch sử – được nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và đông đảo nhân dân tới xem. Tháng 7 năm 1996, tin vui lớn ập đến. Nguyễn Bá Khoản được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về những bức ảnh chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng, kháng chiến. Tuy đã đi xa nhưng những tác phẩm của ông còn mãi với thời gian.

Theo Thọ Cao/Báo An ninh Thủ đô
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm thiêng liêng ngày Độc lập

Lễ đài nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945

(VOV) – 66 năm qua với biết bao “vật đổi sao rời”, nhưng những kỷ niệm sâu sắc về ngày 2/9/1945 mãi mãi ghi đậm trong khối óc và trái tim của những người lính… Thời khắc lịch sử ngày 2/9/1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cách nay đã 66 năm. Những người chiến sỹ trẻ nhiệt huyết, hăng hái xung phong, tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng ở Hà Nội năm xưa, nay đã trở thành những người lính già đầu bạc, mắt mờ và đi lại cũng khó khăn. Những người còn lại còn rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay.

Trong câu chuyện với chúng tôi về ngày độc lập đầu tiên ấy, mỗi người lính già đều không giấu nổi niềm tự hào. Có thể thấy ở họ vẫn toát lên tinh thần sục sôi cách mạng, ý chí chiến đấu để thoát khỏi ách áp bức nô lệ mà khi đó, họ đã là những nhân chứng sống, nhân chứng lịch sử của ngày tháng hào hùng không thể nào quên…

Tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim…

Tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng hơn 20m2 nằm sâu trong ngõ Vĩnh Tuy, Hà Nội, ông Phạm Thế Cường (tức Phạm Đình Cảnh – tên gọi lúc tham gia hoạt động cách mạng) năm nay đã ngoài 80 tuổi. Tuổi cao khiến việc đi lại của ông Cường trở nên khó khăn, nhưng trí nhớ thì vẫn còn minh mẫn.

Ông bảo, những đồng đội cũ cùng lứa tuổi với ông giờ đã ra đi gần hết, những người còn sống sức khỏe đã yếu, vài người có bệnh tai biến, phải sống cuộc sống thực vật. Rồi cũng có người vừa mới hôm qua còn gọi điện cho ông hẹn hò tham dự buổi hòa nhạc “Còn mãi với thời gian” vào ngày 2/9 tới, giấy mời còn chưa đến tay thì đã ra đi mất rồi…

Đột nhiên ông hạ giọng nói: “Thời gian đối với tôi vô cùng quý giá, nó có thể tính bằng giây, bằng phút. Hôm nay tôi còn có thể nói chuyện được với anh chị, nhưng không biết ngày mai có còn không?”… Ngừng một lát, ông bồi hồi kể lại hồi ức về quãng đời hoạt động của mình cách đây 66 năm…

“Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, bố mẹ mất sớm phải ở với chị họ. Năm 16 tuổi, tôi tham gia hoạt động trong Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Đây là một đơn vị bộ đội địa phương do Xứ ủy và Thành ủy trực tiếp chỉ đạo, mang danh nghĩa như một đoàn thể quần chúng có vũ trang. Thành viên của đội đều là những đoàn viên đã được rèn luyện và thử thách của đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh.

Lúc đầu, đội được sử dụng để bảo vệ các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Mặt trận Việt Minh ở cấp Trung ương, Xứ ủ­­­­­y Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao khác. Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu được giao cử 2 đơn vị (Đơn vị Tô Hiệu và Trần Quốc Toản) đến Quảng trường Ba Đình dự lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.

Đơn vị Tô Hiệu của ông Cường có vinh dự đặc biệt là đứng ngay ở hàng đầu sát lễ đài, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, như một hàng rào danh dự, trực tiếp bảo vệ lễ đài. Tất cả anh em đều rất xúc động một phần vị sự tin cậy của Đảng, một phần vì lòng náo nức được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ kính yêu, người lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam. Mọi người rất phấn khởi. Anh em số đông là thanh niên trẻ, sôi nổi”.

Ông Cường nhớ lại, ngày 2/9 cách đây 66 năm: “Hôm ấy, tham dự mít tinh gồm đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội: công nhân, dân quân, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, các cụ phụ lão, các nhà sư…

Ánh mắt ông Cường rực sáng lên khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: “Ngày hôm đó trời nắng, oi bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong trang phục giản dị, áo ka ki cao cổ, chân đi dép cao su trắng. Cả biển người im phăng phắc lắng nghe Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lời Người điềm đạm, nhưng cương quyết, từng lời nói đi vào tâm khảm người nghe, tràn đầy tình cảm sâu sắc và ý chí kiên quyết”.

Có lẽ với ông Cường, tiếng hô “Xin thề!” của hàng vạn chiến sỹ đồng bào và câu hỏi chân tình “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” của Bác Hồ trong giờ phút thiêng liêng ấy là điều mãi mãi không thể nào quên. Ông Cường chia sẻ: “Có nhiều người dân vừa khóc vừa hô “Xin thề!” và tôi hiểu rằng, những người như chúng tôi, từ thân phận đói nghèo, nô lệ, nay trở thành người dân của nước Việt Nam độc lập. Đấy là niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao mà chỉ những ai đã trải qua mới thấu hiểu”.

“Đó là những ngày tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hạnh phúc nhất cuộc đời tôi. Những tư tưởng mới trong bản Tuyên ngôn độc lập đã thấm sâu trong tâm trí chúng tôi. Chúng tôi đã thấy giá trị của độc lập, thấy trách nhiệm thiêng liêng phải bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập mới giành được…” – Ông Cường nói trong xúc động.

Dòng ký ức hùng tráng làm ông Cường như quên đi thực tại, một hồi lâu ông mới kể tiếp, sau ngày 2/9/1945, ông Cường tiếp tục tham gia tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Năm 1986, ông về nghỉ hưu và được phong hàm Đại tá.

Trải qua 41 năm trong quân ngũ, dù có nhiều khó khăn, nhưng niềm tự hào nhất của ông là được chiến đấu cho đến ngày giành độc lập 30/4/1975. Ông Cường có 4 người con, trong đó có người trai đầu đã hy sinh vì Tổ quốc. Và cha ông cũng là liệt sỹ.

Tất cả như vừa mới hôm qua…

Rời nhà ông Cường, chúng tôi tìm gặp bà Lê Thị Thanh, nguyên là Hiệu phó trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương. Trong những ngày mùa thu cách mạng năm 1945, bà Thanh tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc, rồi trở thành nữ chiến sỹ của Trung đoàn Thủ đô có mặt trong 60 ngày đêm chiến đấu quyết tử bảo vệ Hà Nội.

Cũng giống như ông Cường, bà Thanh hồ hởi khi kể về kỷ niệm của một thời oanh liệt: “Là học sinh yêu nước trường Trung học Nguyễn Huệ – Hà Nội, tôi sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, tôi được phân công làm tình báo, liên lạc viên và đi rải truyền đơn ở nhiều nơi. Có lần, trong khi làm nhiệm vụ, tôi phải đi qua những ngôi mộ của các đồng đội đã hy sinh, tôi sợ lắm! Nhưng, tôi tự trấn an tinh thần bằng cách nghĩ về họ lúc còn sống và khe khẽ cất tiếng hát. Sau đó một thời gian, trong một đợt địch càn quét, tôi đã dũng cảm bắn chết 1 tên giặc Pháp và được tham gia các buổi mít tinh ở Làng Cót, Hà Nội”.

Trong cuộc đời mình, có lẽ giây phút được tham gia và chứng kiến không khí của ngày chiến thắng, ngày độc lập 2/9 cách đây 66 năm là điều hạnh phúc và cảm giác khó tả đối với không chỉ riêng bà Thanh mà với nhiều người. Cảm xúc đó còn lưu lại mãi cho đến tận bây giờ.

Bà Thanh hồi tưởng: “Tôi nhớ ngày 2/9/1945, lúc đó quần chúng đi lại rất đông ở các khu phố của Hà Nội, các cửa hàng cửa hiệu phần lớn là đóng cửa và treo cờ hoa mừng ngày độc lập. Những đoàn người rầm rập kéo về Quảng trường Ba Đình: Phụ nữ nội thành mặc áo dài trắng, phụ nữ ngoại thành áo nâu quần đen, chít khăn mỏ quạ. Thanh niên áo sơ mi cộc tay, quần soóc, công nhân quần áo xanh, các đoàn tu sĩ thiên chúa giáo áo đen, các em thiếu nhi áo trắng, quần soóc xanh”.

“Buổi sáng 2/9, tôi cùng các chị em trong đoàn phụ nữ cứu quốc đến từng gia đình vận động họ tham gia cuộc mít tinh vào buổi chiều cùng ngày. Đến 14h, đoàn phụ nữ cứu quốc tiến về Quảng trường Ba Đình rực rỡ cờ hoa với những tiếng hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh!”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!”. Đoàn phụ nữ cứu quốc của chúng tôi được đứng vị trí đầu tiên. Khoảng 14h30, bà Dương Thị Thoa (tức Lê Thi) trong đoàn được Ban Tổ chức cử lên kéo cờ độc lập cùng với bà Đàm Thị Loan”.

Cả biển người bỗng im phăng phắc để lắng nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lần đầu tiên được nhìn thấy Người, tôi đã nhận thấy ở Người sự giản dị và gần gũi” – Bà Thanh hào hứng kể.

Câu chuyện của bà Thanh kể về ngày độc lập như vừa mới đây thôi. 66 năm trôi qua, nay bà Thanh đã bước sang tuổi 81 nhưng tinh thần vẫn vô cùng minh mẫn. Bà phục vụ trong quân ngũ đến khi 53 tuổi mới chuyển sang ngành giáo dục và làm Hiệu phó của trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương cho tới khi nghỉ hưu. Giờ đây, cứ mỗi dịp tháng 8 hàng năm, bà và các đồng đội cũ lại gặp nhau, ôn lại kỷ niệm xưa. Thi thoảng, ngày độc lập đầu tiên ấy, bà và đồng đội ôn lại như để tiếp thêm ý chí, nghị lực cho thế hệ con cháu…

Câu chuyện của những người lính đã đi qua ngày tháng hào hùng như ông Phạm Thế Cường, bà Lê Thị Thanh cùng biết bao người chiến sỹ khác về ngày 2/9/1945 sẽ không chỉ là dòng sự kiện trong trang sử vàng vẻ vang của dân tộc. Ký ức Cách mạng mùa thu tháng Tám cùng hình ảnh Bác Hồ trong ngày độc lập đầu tiên ấy, chắc hẳn sẽ còn đọng mãi trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Đó như một bài học truyền thống, soi rọi cho các thế hệ sau tiếp nối truyền thống của cha anh trên con đường cách mạng, sống, chiến đấu, lao động, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Theo vov.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mùa thu Cách mạng và sự ra đời của một bài hát

Năm 1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Trong khi người Việt Nam hân hoan với thắng lợi vừa giành được, thì ở bên kia bờ đại dương có những người Mỹ đang cố gắng trả lời câu hỏi là tại sao Mỹ thua Việt Nam. Năm 1980, Archimesdes L.A. Patti đã xuất bản cuốn sách “Why Việt Nam” (Tại sao Việt Nam) để góp phần trả lời câu hỏi đó. Tiến sĩ Trần Viết Nghĩa (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) tóm lược cảm nghĩ của sĩ quan tình báo Mỹ về ngày lễ độc lập trong cuốn sách này.

Patti nguyên là một sĩ quan tình báo OSS ở Trung Quốc trong Thế chiến hai. Trong năm 1945, Patti từng gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà lãnh đạo cao cấp khác của Việt Nam, và là một trong số rất ít người Mỹ đã tham dự buổi lễ độc lập của Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình.

Ngày 22.8.1945, Patti đáp máy bay từ Côn Minh đi Hà Nội để giải quyết vấn đề tù binh ngoại quốc ở Đông Dương. Trên đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội, Patti thấy có nhiều biểu ngữ và lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh tràn ngập phố xá. Hà Nội thanh bình sau ngày Việt Minh giành được chính quyền.

Trưa 29.8.1945, Hồ Chủ tịch cho xe đón Patti đến phố Hàng Ngang gặp Người. Người thông báo cho Patti về phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới ở Bắc Bộ phủ, quyết định lấy ngày mùng 2 tháng 9 là ngày độc lập. Người sẽ công bố nền độc lập dân tộc, ra mắt các thành viên Chính phủ với nhân dân và chương trình hành động của Chính phủ cho mọi người đều biết.

Điều đặc biệt là Patti được Hồ Chủ tịch cho xem bản thảo Tuyên ngôn độc lập. Patti rất ngạc nhiên khi trong mấy câu đầu nhắc đến một số danh từ rất quen thuộc và giống với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776. Patti hỏi Người có ý định sử dụng câu đó không. Người cười nhã nhặn và hỏi lại Patti một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Patti cảm thấy ngượng ngập và lúng túng khi trả lời: “Tất nhiên, tại sao không”.

Sau khi yêu cầu người phiên dịch đọc lại đoạn đầu một lần nữa, Patti nhớ lại thì thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Người liền nói: “Đúng, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”.

Sáng ngày thứ bảy – mùng 1 tháng 9, Patti đi một vòng quanh Hà Nội và nhận thấy: “Ai cũng bận rộn, hớn hở và vội vàng, nhưng không ai tỏ ra hấp tấp. Trước cửa nhà, trên ban công, ngoài cổng ra vào đầy các loại cờ đỏ, hoa, đèn. Nhiều toán người hăm hở giăng lên ngang trên đường phố, những khẩu hiệu hô hào “Độc lập và tự do cho Việt Nam”, và hoan nghênh Đồng Minh”. Chiều cùng ngày, Patti được Hồ Chủ tịch mời đến ăn cơm. Hồ Chủ tịch mở đầu câu chuyện bằng việc Patti đi thăm phố phường Hà Nội có thỏa mãn về những điều được nghe và thấy không. Patti trả lời rằng ông ấn tượng mạnh mẽ đối với công tác chuẩn bị buổi lễ và sự cởi mở của những người dân mà ông đã bắt chuyện.

Ông Hoàng Minh Giám phấn khởi thông báo cho Patti biết dân chúng đã tự bỏ tiền ra để sửa sang, làm sạch và trang trí thành phố phục vụ ngày lễ. Patti hỏi trong ngày lễ độc lập có diễu binh không. Ông Võ Nguyên Giáp trả lời cũng muốn có một số đội diễu binh, nhưng bộ đội vừa mới ở rừng về nên không có đủ thời gian diễn tập, vì vậy những đơn vị chỉ sắp hàng đứng tại chỗ. Sau bữa cơm thân mật, Hồ Chủ tịch mời Patti uống cà phê. Người ôn lại những sự cộng tác của Người với người Mỹ tại Trung Quốc và rừng núi Bắc Kỳ, bày tỏ mong muốn người Mỹ ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam.

Đến buổi trưa, nhóm của Patti đi đến Quảng trường Ba Đình. Nhóm chọn một địa điểm thuận lợi ngay trước lễ đài. Đội danh dự trong trang phục mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao và vũ khí mới. Đây là lực lượng được huấn luyện, trang bị và có kỷ luật nhất. Ngoài ra, còn có các đội dân quân, tự vệ với nhiều loại vũ khí khác nhau.

Patti cảm thấy không khí oi bức, nhưng đôi lúc có vài cơn gió nhẹ làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Bất chợt, có tiếng còi và hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng. Mấy phút sau nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cavát và đầu để trần, trừ Hồ Chủ tịch mặc đồ kaki màu sẫm.

Sau khi nghe Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, Patti khó nắm bắt được nội dung của Tuyên ngôn, dù đã có người phiên dịch, nhưng cảm nhận được “cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới tận quần chúng”.

Sau ngày độc lập, Patti còn ở lại Việt Nam thêm một thời gian nữa, chứng kiến thêm nhiều khó khăn mới của nước Việt Nam, được tiếp kiến thêm với Hồ Chủ tịch và một số nhà lãnh đạo khác của Việt Nam. Trước khi về Mỹ, Patti được Hồ Chủ tịch mời dự tiệc chia tay.

Trong buổi chia tay, ông Võ Nguyên Giáp đã đánh giá cao sự giúp đỡ của “Người Mỹ ở Côn Minh” – trong đó có Patti – đối với Việt Nam trước khởi nghĩa. Ông chúc Patti lên đường may mắn và tỏ ý mong rằng Việt Nam sẽ sớm có một người bạn ở Washington. Điều này làm cho Patti ngạc nhiên và xúc động, vì trước đó ông Giáp không bao giờ để lộ ra bất cứ một tình cảm nào đối với Mỹ và cá nhân Patti. Hồ Chủ tịch chia sẻ với Patti sự thất vọng khi Mỹ từ chống thực dân lại đang trang bị và tiếp tế cho quân Pháp tái xâm lược Đông Dương. Người nói với Patti: “Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt”./.

Theo TS Trần Viết Nghĩa
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cảm nhận của một người Mỹ về ngày lễ độc lập của Việt Nam

Năm 1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Trong khi người Việt Nam hân hoan với thắng lợi vừa giành được, thì ở bên kia bờ đại dương có những người Mỹ đang cố gắng trả lời câu hỏi là tại sao Mỹ thua Việt Nam. Năm 1980, Archimesdes L.A. Patti đã xuất bản cuốn sách “Why Việt Nam” (Tại sao Việt Nam) để góp phần trả lời câu hỏi đó. Tiến sĩ Trần Viết Nghĩa (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) tóm lược cảm nghĩ của sĩ quan tình báo Mỹ về ngày lễ độc lập trong cuốn sách này.

Patti nguyên là một sĩ quan tình báo OSS ở Trung Quốc trong Thế chiến hai. Trong năm 1945, Patti từng gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà lãnh đạo cao cấp khác của Việt Nam, và là một trong số rất ít người Mỹ đã tham dự buổi lễ độc lập của Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình.

Ngày 22.8.1945, Patti đáp máy bay từ Côn Minh đi Hà Nội để giải quyết vấn đề tù binh ngoại quốc ở Đông Dương. Trên đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội, Patti thấy có nhiều biểu ngữ và lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh tràn ngập phố xá. Hà Nội thanh bình sau ngày Việt Minh giành được chính quyền.

Trưa 29.8.1945, Hồ Chủ tịch cho xe đón Patti đến phố Hàng Ngang gặp Người. Người thông báo cho Patti về phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới ở Bắc Bộ phủ, quyết định lấy ngày mùng 2 tháng 9 là ngày độc lập. Người sẽ công bố nền độc lập dân tộc, ra mắt các thành viên Chính phủ với nhân dân và chương trình hành động của Chính phủ cho mọi người đều biết.

Điều đặc biệt là Patti được Hồ Chủ tịch cho xem bản thảo Tuyên ngôn độc lập. Patti rất ngạc nhiên khi trong mấy câu đầu nhắc đến một số danh từ rất quen thuộc và giống với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776. Patti hỏi Người có ý định sử dụng câu đó không. Người cười nhã nhặn và hỏi lại Patti một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Patti cảm thấy ngượng ngập và lúng túng khi trả lời: “Tất nhiên, tại sao không”.

Sau khi yêu cầu người phiên dịch đọc lại đoạn đầu một lần nữa, Patti nhớ lại thì thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Người liền nói: “Đúng, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”.

Sáng ngày thứ bảy – mùng 1 tháng 9, Patti đi một vòng quanh Hà Nội và nhận thấy: “Ai cũng bận rộn, hớn hở và vội vàng, nhưng không ai tỏ ra hấp tấp. Trước cửa nhà, trên ban công, ngoài cổng ra vào đầy các loại cờ đỏ, hoa, đèn. Nhiều toán người hăm hở giăng lên ngang trên đường phố, những khẩu hiệu hô hào “Độc lập và tự do cho Việt Nam”, và hoan nghênh Đồng Minh”. Chiều cùng ngày, Patti được Hồ Chủ tịch mời đến ăn cơm. Hồ Chủ tịch mở đầu câu chuyện bằng việc Patti đi thăm phố phường Hà Nội có thỏa mãn về những điều được nghe và thấy không. Patti trả lời rằng ông ấn tượng mạnh mẽ đối với công tác chuẩn bị buổi lễ và sự cởi mở của những người dân mà ông đã bắt chuyện.

Ông Hoàng Minh Giám phấn khởi thông báo cho Patti biết dân chúng đã tự bỏ tiền ra để sửa sang, làm sạch và trang trí thành phố phục vụ ngày lễ. Patti hỏi trong ngày lễ độc lập có diễu binh không. Ông Võ Nguyên Giáp trả lời cũng muốn có một số đội diễu binh, nhưng bộ đội vừa mới ở rừng về nên không có đủ thời gian diễn tập, vì vậy những đơn vị chỉ sắp hàng đứng tại chỗ. Sau bữa cơm thân mật, Hồ Chủ tịch mời Patti uống cà phê. Người ôn lại những sự cộng tác của Người với người Mỹ tại Trung Quốc và rừng núi Bắc Kỳ, bày tỏ mong muốn người Mỹ ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam.

Đến buổi trưa, nhóm của Patti đi đến Quảng trường Ba Đình. Nhóm chọn một địa điểm thuận lợi ngay trước lễ đài. Đội danh dự trong trang phục mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao và vũ khí mới. Đây là lực lượng được huấn luyện, trang bị và có kỷ luật nhất. Ngoài ra, còn có các đội dân quân, tự vệ với nhiều loại vũ khí khác nhau.

Patti cảm thấy không khí oi bức, nhưng đôi lúc có vài cơn gió nhẹ làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Bất chợt, có tiếng còi và hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng. Mấy phút sau nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cavát và đầu để trần, trừ Hồ Chủ tịch mặc đồ kaki màu sẫm.

Sau khi nghe Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, Patti khó nắm bắt được nội dung của Tuyên ngôn, dù đã có người phiên dịch, nhưng cảm nhận được “cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới tận quần chúng”.

Sau ngày độc lập, Patti còn ở lại Việt Nam thêm một thời gian nữa, chứng kiến thêm nhiều khó khăn mới của nước Việt Nam, được tiếp kiến thêm với Hồ Chủ tịch và một số nhà lãnh đạo khác của Việt Nam. Trước khi về Mỹ, Patti được Hồ Chủ tịch mời dự tiệc chia tay.

Trong buổi chia tay, ông Võ Nguyên Giáp đã đánh giá cao sự giúp đỡ của “Người Mỹ ở Côn Minh” – trong đó có Patti – đối với Việt Nam trước khởi nghĩa. Ông chúc Patti lên đường may mắn và tỏ ý mong rằng Việt Nam sẽ sớm có một người bạn ở Washington. Điều này làm cho Patti ngạc nhiên và xúc động, vì trước đó ông Giáp không bao giờ để lộ ra bất cứ một tình cảm nào đối với Mỹ và cá nhân Patti. Hồ Chủ tịch chia sẻ với Patti sự thất vọng khi Mỹ từ chống thực dân lại đang trang bị và tiếp tế cho quân Pháp tái xâm lược Đông Dương. Người nói với Patti: “Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt”./.

Theo TS Trần Viết Nghĩa
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn (*)

Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy.

>> Nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập

……………………………………………

Ngày 27 tháng 8 năm 1945, Thường vụ Trung ương họp. Rồi Hội đồng Chính phủ họp. Bàn nhiều công việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bảnTuyên ngôn Độc lập.

Mọi việc chuẩn bị ngày lễ Độc lập đều gấp rút, đều quan trọng. Nhưng gấp rút nhất, quan trọng nhất là dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Từ Nam quốc sơn hà thế kỷ 11 đời Lý, Bình Ngô đại cáo thế kỷ thứ 15 đời Lê, đến Tuyên ngôn Độc lập thời đại Hồ Chí Minh thế kỷ thứ 20, khoảng cách dài gần 10 thế kỷ, ngót nghìn năm.

Kể từ ngày thứ ba, 28 tháng 8 năm 1945 ấy, tức là ngày 21 tháng 7 Ất Dậu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào việc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Trên gác hai nhà 48 Hàng Ngang, trong một căn phòng rộng mà chủ nhà làm phòng ăn, ở giữa kê một cái bàn dài to, quanh bàn có tám ghế tựa đệm mềm là nơi Bác Hồ thường làm việc với các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối phòng, sát tường phía sau, kê một chiếc bàn tròn mà Bác cùng chúng tôi thường ăn sáng. Bác hay ngồi suy nghĩ và đánh máy bên chiếc bàn con kê sát tường góc phía trong. Mặt bàn hình vuông, bọc da xanh màu lá mạ, vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ mang từ chiến khu về. Bác trầm ngâm suy nghĩ phác thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Nửa đêm hôm ấy, tôi chợt thức giấc, thấy Bác vẫn ngồi chăm chú làm việc. Hà Nội sau một ngày sôi động đang đi vào yên tĩnh. Đêm mùa thu, trên căn gác thoáng rộng, không khí mát lành. Tôi trở dậy, bước thật nhẹ ra phía hành lang, nhìn xuống đường. Ban ngày, phố Hàng Ngang náo nhiệt, chật chội. Giờ đây rộng vắng giữa đêm khuya. Hai đường ray tàu điện chạy thành hai vệt thẳng, đen nhánh. Trước mõi căn nhà dọc phố, cờ đỏ sao vàng sẫm lại trong đêm. Một tốp tự vệ mặc quần soóc, đầu đội mũ calô, đang đi tuần dọc phố, bóng dáng hiên ngang.

Chỉ mới cách đó hơn một tuần, Hà Nội còn là một thành phố bảo hộ, mật thám như rươi, thoáng thấy mầu cờ đỏ là cả bộ máy cai trị của kẻ thù lồng len như thú dữ. Thế mà giờ đây cờ đỏ phấp phới bay khắp phố phường. Đêm ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang ngồi giữa lòng Hà Nội soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, mở đầu một kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập, Tự do. Thật là kỳ diệu. Cách mạng là một sự kỳ diệu. Và chính Người, từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, đã cùng với toàn dân làm nên điều kỳ diệu đó. Từ buổi nhen nhóm phong trào cách mạng, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ra đời vào năm 1925, do chính Người sáng lập, để năm năm sau, chính đảng đầu tiên của giai cấp Công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị.

***

Chiều ngày 31 tháng 8 năm 1945, Bác bảo đưa cho Bác xem sơ đồ địa điểm tổ chức mít tinh và nhắc Ban tổ chức chú ý cả nơi vệ sinh cho đồng bào, và dặn nếu trời mưa thì kết thúc sớm hơn, tránh cho đồng bào bị mưa ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ.

Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên quảng trường Ba Đình, một quang cảnh vừa náo nhiệt, vừa xúc động. Khi Cụ Hồ vừa xuất hiện trước máy phóng thanh, thì cả quảng trường âm vang tiếng hô:

– Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang sảng cất tiếng đọc Tuyên ngôn Độc lập thì cả biển người im phăng phắc lắng nghe:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”

Đọc được một đoạn, Cụ Hồ bỗng dừng lại, đưa cặp mắt âu yếm nhìn toàn thể đồng bào, cất tiếng hỏi:

– Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?

Tiếng đáp lại liền ngay như sấm:

– Có!

Người dân và Chủ tịch nước bỗng trở nên gần gũi và vô cùng thân thiết.

Càng về cuối bản Tuyên ngôn Độc lập, giọng Cụ Hồ càng âm vang, như cuốn hút mọi người.

“Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-ran và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhân quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi – Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng Tự do, Độc lập và sự thật đã trở thành một nước Tự do, Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền Tự do, Độc lập ấy!”

Cùng với ngày 2 tháng 9 năm 1945, bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào, là một mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam cũng là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Đó thực sự là lời tuyên bố đanh thép về sự cáo chung của chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức. Đồng thời nó cũng báo hiệu sự mở đầu của một thời đại mới, thời đại trỗi dậy của các dân tộc nhược tiểu đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy. Và như chúng ta đã biết, bản án đã được thực hiện bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu chín năm sau đó.

VŨ KỲ
Thư ký giúp việc Bác Hồ từ năm 1945 đến 1969
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

(trích Nhớ mãi những phút giây đầu tiên)

………………………………….

(*): tựa đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

Từ Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đến Nhà nước pháp quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(TCTG) – Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước dân chủ mới. Theo Người, Nhà nước phải phát huy dân chủ đến cao độ nhưng không thể có dân chủ ngoài pháp luật, pháp luật là bà đỡ của dân chủ.

Đích đến của bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng là lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị, thiết lập chính quyền mới tiến bộ hơn của giai cấp bị trị. Với cách mạng Việt Nam, Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản năm 1930 đưa ra mô hình “Dựng ra Chính phủ công nông binh”(1). Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ Tám BCHTW chủ trương: “không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập Chính phủ Dân chủ cộng hòa”(2). Tháng 8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đi đến quyết định lịch sử: Phát động tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Ủy ban này làm chức năng của Chính phủ lâm thời ngay sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Đây là quyết định rất sáng suốt và kịp thời trong tình hình đất nước và thế giới có nhiều sự kiện đang diễn ra hết sức mau lẹ.

Và như lịch sử từng trân trọng ghi lại, chiều ngày 2/9/1945, tại Vườn hoa Ba Đình – Hà Nội (Quảng trường Ba Đình – Hà Nội), các thành viên của Chính phủ lâm thời có mặt trên lễ đài. Thành phần Chính phủ bao gồm đại biểu các tầng lớp nhân dân, gần một nửa số bộ trưởng là nhân sĩ, trí thức không đảng phái; một số cán bộ Đảng và Việt minh đã tự nguyện rút khỏi danh sách Chính phủ. Chủ tịch Hồ chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa”. Người trịnh trọng tuyên bố với thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Đất nước đứng trước vô vàn khó khăn, có những khó khăn hết sức nghiêm trọng, ta phải cùng lúc đối phó với cả thù trong lẫn giặc ngoài. Ngày 3/9/1945, phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày sáu vấn đề cấp bách nhất cần tập trung giải quyết để đưa nước nhà ra khỏi hiểm nguy: Một là, giải quyết nạn đói; hai là, thanh toán nạn dốt; ba là, tổ chức tổng tuyển cử; bốn là, giáo dục lại nhân dân theo tinh thần cần, kiệm, liêm chính; năm là bỏ ngay các thứ thuế bóc lột vô nhân đạo; sáu là, thực hiện tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết.

Dưới sự điều hành của Chính phủ lâm thời, cả nước hăng hái hưởng ứng phong trào diệt “giặc đói” và “giặc dốt”, thu được kết quả tốt đẹp. Nhân dân cả nước, nhất là ở các thành phố, còn hăng hái đóng góp vào Quỹ độc lập, Quỹ đảm phụ quốc phòng để xây dựng nền tài chính quốc gia và ngân sách quốc phòng.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta được tổ chức trên cả nước ngày 6/1/1946, bất chấp bom đạn của thực dân Pháp ở miền Nam và những hành động phá hoại của bọn phản động ở miền Bắc, có 333 đại biểu được bầu. Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội ngày 2/3/1946 chấp nhận thêm 70 đại biểu không qua bầu cử, nhất trí đề nghị Người thành lập Chính phủ mới và Người đã đệ trình Quốc hội chuẩn y danh sách thành viên Chính phủ liên hiệp kháng chiến.
Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngay từ khi còn non trẻ đã thể hiện là một Nhà nước kiểu mới trong lịch sử dân tộc, có thành phần tham gia rộng rãi nhất của các giai tầng xã hội và khác hẳn với nền cộng hòa dân chủ của các nước tư bản.

Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai. Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”, có nghĩa Nhà nước là của dân. Nhà nước do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để Nhà nước hoạt động, lại do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ, đó là Nhà nước do dân. Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm, liêm chính, đó là Nhà nước vì dân(3).

Với tính chất ưu việt như vậy, xuyên suốt ba mươi năm chiến tranh ác liệt, gian khổ, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã huy động được sức mạnh tổng hợp to lớn của toàn dân để tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), vừa kháng chiến vừa kiến quốc, từ năm 1954 đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có uy tín với nhân dân trong nước và nhân dân thế giới, giành nhiều thắng lợi trên mặt trận ngoại giao.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chung của toàn thể nhân dân và dân tộc. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng. Nhưng do tính chất của một thời kỳ lịch sử, đặc biệt trước năm 1975 và một số năm sau đó, Đảng phải áp dụng những phương thức lãnh đạo đặc biệt, với các biện pháp chính trị cứng rắn, quyết đoán. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các nguyên tắc lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện, nhằm thống nhất cao độ sự lãnh đạo chính trị và thực hành chính trị. Đặc biệt lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở sự hòa quyện, không phân biệt rõ chức năng Đảng lãnh đạo Nhà nước và chức năng quản lý của Nhà nước đối với xã hội, Đảng với Nhà nước dường như là một. Đảng đóng vai trò tổng chỉ huy và tổ chức toàn bộ công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng không dừng lại ở các nguyên tắc chung mà thường rất cụ thể, bao quát cả các chức năng của Nhà nước (4).

Đến Hiến pháp năm 1992, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước có những thay đổi quan trọng. Hiến pháp quy định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Quy định này hoàn toàn phù hợp với nội dung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng và thực tế Việt Nam. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ được đặt ra trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không quyết định trực tiếp mọi công việc của Nhà nước và Đảng không phải là cấp trên của Nhà nước. Quyền lực Nhà nước được tập trung. Tình trạng Đảng bao biện làm thay cơ quan Nhà nước, can thiệp vào chức năng của cơ quan Nhà nước, dùng phương pháp mệnh lệnh, áp đặt đối với cơ quan Nhà nước được khắc phục. Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” được Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 nhắc lại là: “Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của Đảng đã khẳng định đó là một tất yếu lịch sử và là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ của loài người, của nền văn minh nhân loại.

Chỉ nói từ đầu thế kỷ XXI đến nay, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không ngừng được củng cố, phát huy hiệu lực quản lý, điều hành, tuy còn một số mặt cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, nhân dân ta “đạt được những thành tựu to lớn, rất quan trọng, nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến lược đã được thực hiện. Mười năm qua là giai đoạn đất nước ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực và toàn cầu, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế… Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh”(5).

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu dân chủ hóa xã hội và sự tham gia tích cực của đất nước vào quá trình toàn cầu hóa đặt ra yêu cầu phải nâng cao hơn nữa năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, cải cách mạnh mẽ nền hành chính quốc gia, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong văn kiện Đại hội lần thứ XI, Đảng ta đã xác định đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN với 4 nội dung: Nâng cao nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí.

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước dân chủ mới. Theo Người, Nhà nước phải phát huy dân chủ đến cao độ. Nhưng không thể có dân chủ ngoài pháp luật, pháp luật là bà đỡ của dân chủ. Mọi quyền dân chủ của người dân phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật, ngược lại hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng. Để xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, Người nhấn mạnh cần tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức và kiên quyết chống ba thứ giặc nội xâm “là tham ô, lãng phí, quan liêu”(6). Đó là những lời dạy vô cùng quý giá để cán bộ quản lý Nhà nước và cán bộ nói chung học tập, làm theo, xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là công bộc của nhân dân và đó cũng chính là thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.
__________________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2002, tr.1.
(2) – ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2000, t.7, tr.27.
(3), (6) – Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb.CTQG, H, 2009, tr.263, 281.
(4) – Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay (Nguyễn Hữu Đổng chủ biên), Nxb.CTQG, H, 2009, tr.118, 119.
(5) – Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, 1-2011.

Theo Tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tuyên ngôn độc lập và những tư tưởng mang tính thời đại

Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và tuyên đọc trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945 thực sự là một áng văn bất hủ trong di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc.

>> Nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập

Nó có thể sánh với những áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của cả ngàn năm tồn tại trong mối quan hệ với phương Bắc như “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”gắn với cuộc kháng chiến chống Tống của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ văn thời Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi tuyên cáo về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Một văn bản pháp lý rất hiện đại

Nhưng với Tuyên ngôn Độc lập ra đời vào một thời điểm có ý nghĩa lịch sử đối với toàn thế giới khi cuộc đại chiến lần thứ hai kết thúc lại mang một giá trị đặc biệt. Nó không còn trong giới hạn của khẳng định về quyền tự chủ của dân tộc ta đối với nước láng giềng phương Bắc của “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” mà còn khẳng định được với toàn thế giới về sự ra đời một nước Việt Nam hiện đại, không chỉ thoát ly chế độ thuộc địa của thực dân Pháp đã đầu hàng, từ tay chủ nghĩa phát xít Nhật đã bại trận, mà còn chấm dứt luôn cả chế độ quân chủ từng tồn tại cả ngàn năm bằng sự thoái vị của ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Hơn thế nữa, nhà nước này lại là thành quả của “một dân tộc gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay” do vậy mà “dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập”.

Chúng ta đều biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay vào việc soạn thảo văn kiện này vào đêm 28-8-1945, ngay sau khi Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên cáo “là một chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức”. Và ai cũng biết rằng chính phủ lâm thời này được thành lập trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc Giải phóng được thành lập tại Quốc dân Đại hội Tân Trào trước đó hơn mười ngày (17-8). Việc cải tổ này lại được thực hiện bởi một hành vi rất cao cả là nhiều ủy viên Việt Minh tự rút lui nhường chỗ cho các nhân sĩ ngoài Việt Minh vào tham chính. “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân” (Hồ Chí Minh).

Bản Tuyên ngôn Độc lập cũng được khởi thảo khi những đại diện của Việt Minh đã lên đường vào Huế để 2 hôm sau (30-8) nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Tại buổi lễ đó, vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam đã có lời tuyên cáo mang ý nghĩa thật sâu sắc: “Sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc, ngậm đắng nuốt cay, từ nay trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập”…

Tất cả những diễn tiến sự kiện ấy đã làm nên một nét đặc sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”.

Do vậy, cũng có thể thấy được một giá trị rất quan trọng của Tuyên ngôn Độc lập là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với tập quán chính trị của nhiều quốc gia nhằm khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thể cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập, A.Patti, viên sĩ quan tình báo Hoa Kỳ phụ trách đơn vị OSS đang cộng tác với Việt Minh, cho rằng ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Tiếp nối sự tiến hóa của nhân loại

Bản Tuyên ngôn Độc lập đã được vị Chủ tịch nhà nước lâm thời soạn thảo ngay giữa lòng TP Hà Nội, ngôi nhà phố 48 Hàng Ngang của một nhà tư sản dân tộc. Văn bản này đã được tác giả trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc nhưng cũng gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo thể chế Dân chủ, Cộng hòa…

Hơn thế nữa, người đứng đầu cuộc cách mạng cũng là đứng đầu của Nhà nước Việt Nam còn tham khảo cả những người đồng minh khi mời Patti tới ngôi nhà 48 Hàng Ngang để trao đổi về bản thảo Tuyên ngôn Đôc lập Việt Nam. Hai người tranh luận về nguyên văn một đoạn trích từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ mà cuối cùng người công dân Hoa Kỳ phải nhận rằng mình đã sai khi biết rằng từ 20 năm trước đó (1925) trên Báo Thanh Niên xuất bản ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dịch và trước đó không lâu Hồ Chí Minh đã yêu cầu các phi công Mỹ thả dù xuống chiến khu Việt Bắc một nguyên bản của văn kiện lịch sử này.

Có người khi đọc văn bản lịch sử này đặt ra câu hỏi vì sao tác giả lại trích hai bản tuyên ngôn của hai quốc gia Âu Tây, trong đó lại có cả nước Pháp mới đây đô hộ nước mình? Hoàn toàn không phải là sách lược để ứng phó với hai cường quốc lớn tiềm tàng những mưu đồ thực dân cũ và mới. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp của con đường tiến hóa mà nhân loại đã và sẽ đi. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1892 là những mốc son của sự nghiệp giải phóng con người thì chính cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 của Việt Nam cũng là bước đi tiếp theo của quá trình ấy.

Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 đã chứng thực một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các dân tộc nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn, sản phẩm của chế độ thực dân, đã lần lượt tan rã sau năm cuộc cách mạng của Việt Nam khởi đầu cho các phong trào giải phóng các thuộc địa.

Sự sáng tạo tầm vóc 

Trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải (2005), tại cuộc tiếp xúc ở thành phố Boston, mọi người đã được nghe một bài phát biểu nồng nhiệt của một chính khách lão thành của Hoa Kỳ. Đó là nguyên thượng nghị sĩ McGovern, người luôn có tiếng nói chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và năm 1972 đã từng tranh cử chức tổng thống với R.Nixon. Ông đã đưa ra nhận xét rằng: “Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thomas Jefferson soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Th. Jefferson. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói rằng: “Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt”…

Nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà Lady Borton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Th. Jefferson vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành: “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam không chỉ là tấm giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ – Cộng hòa theo đuổi mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng một sự “suy rộng ra” thành một chân lý mang tầm thời đại.

Theo Dương Trung Quốc – Người Lao Động

Tuổi trẻ Online