Thư viện

Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Công việc đầu tiên của chính phủ đầu tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp chính phủ đầu tiên 3-9-1945 (ông Vũ Đình Hòe đứng cạnh Bác Hồ bên trái) – Ảnh tư liệu

TT – Bất ngờ, chúng tôi được biết ông Vũ Đình Hòe – người từng giữ chức vụ bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục trong Chính phủ lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – vẫn còn sống và hiện ở một căn nhà nhỏ tại phường Hiệp Phú, quận 9, TP.HCM.

Đã bước vào tuổi 93 nhưng ông Hòe vẫn còn minh mẫn và rất xúc động khi kể về những ngày đầu lập quốc 60 năm trước mà ông được vinh dự tham gia trực tiếp với tư cách là một bộ trưởng.

Nhiệm vụ đè nặng trên vai bộ trưởng

Ngay sau ngày lịch sử 2-9-1945, ngày 3-9 Bác triệu tập cuộc họp phiên đầu tiên của Chính phủ.

Trong tình hình đất nước vừa thoát ra khỏi kiếp nô lệ, nạn đói lịch sử còn hoành hành khắp nông thôn miền Bắc, quân xâm lược vẫn còn uy hiếp, Bác đã đưa ra sáu vấn đề cấp bách mà Chính phủ cần thảo luận và thực thi khẩn cấp.

Nhiệm vụ đầu tiên là mở ngay những cuộc lạc quyên, tăng gia sản xuất để cứu đồng bào khỏi nạn đói và nhiệm vụ thứ hai ngay sau cứu đói là mở chiến dịch chống mù chữ trong toàn quốc…

“Tôi biết trách nhiệm đang đè nặng trên vai bộ trưởng giáo dục khi Bác nhắc tới vấn đề quan trọng thứ hai và nhìn về phía tôi…” – ông Vũ Đình Hòe nhớ lại. Trong suốt quá trình Pháp thuộc, hơn 90% dân Việt bị mù chữ, chính nạn thất học là một quốc nạn ngày ấy.

Ngày 8-9, Bác Hồ ký ngay sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ để phụ trách việc chống mù chữ trong cả nước – một trong những sắc lệnh đầu tiên của nhà nước non trẻ.

Ông Vũ Đình Hòe kể: “Ngay những ngày đầu Chính phủ hoạt động, Hồ Chủ tịch dành hẳn một giờ để tiếp đoàn cán bộ cao cấp của Bộ Giáo dục sang Phủ chủ tịch làm việc. Biết rõ tác phong ngắn gọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đi ngay vào vấn đề: “Thưa Cụ chủ tịch, chúng tôi xin phép trình bày ba việc để xin Cụ chỉ giáo”.

Ông Vũ Đình Hòe tại nhà riêng ở phường Hiệp Phú, Q.9, TP.HCM – Ảnh: Vũ Bình – “Ông Vũ Đình Hòe sinh năm 1912, tốt nghiệp Đại học Luật khoa Đông Dương của Pháp mở tại Hà Nội, phó chủ tịch Hội truyền bá quốc ngữ (do cụ Nguyễn Văn Tố làm chủ tịch). Ông gia nhập Đảng Xã hội Pháp (SFIO). Năm 1941, ông cùng những trí thức trẻ ra tờ báo Thanh Nghị trước ngày tổng khởi nghĩa. Ông hoạt động trong Đảng Dân chủ VN với tư cách ủy viên Trung ương Đảng Dân chủ, tham gia Mặt trận Việt Minh và được cử đi dự đại hội Tân Trào…”

Bác nói ngắn gọn và hỏi: “Tôi nghe. Việc thứ nhất?”. “Xin trình Cụ hai dự thảo sắc lệnh, một là thanh toán nạn mù chữ trong vòng một năm và hai là sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ”.

Hồ Chủ tịch sau khi hỏi thăm về cơ sở vật chất cho nha bình dân học vụ đã nhanh chóng tán thành. Chúng tôi đề nghị cho Bộ Giáo dục chỉ thị ngay trong niên học tới đây, tất cả các trường, kể cả đại học, chỉ được dùng tiếng Việt khi học, khi dạy và trong mọi kỳ thi… Hồ Chủ tịch bảo: “Hay đấy nhưng có vội quá không? Các ông đã chuẩn bị đủ chưa?”.

Theo sự phân công trong đoàn, hai anh Nguyễn Văn Huyên và Ngụy Như Kontum, tổng giám đốc các nha đại học vụ và trung học vụ, trả lời Cụ Hồ: “Thưa Cụ chủ tịch, ông Hoàng Xuân Hãn – bộ trưởng trong chính phủ cũ trước đây – đã bắt đầu làm thử ở Trung bộ, xem ra khá trơn tru…

Hồ Chủ tịch nghe xong thì nói ngay: “Ông Hoàng Xuân Hãn tôi có biết hồi còn ở bên Pháp, người này có tâm, thế thì bộ quyết định đi…”.

Sau đó, Bộ Quốc gia giáo dục đã tổ chức hội nghị toàn quốc bình dân học vụ để bàn kế hoạch triển khai sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xóa nạn mù chữ trong một năm.

Đi liền với hội nghị là khai mạc lớp đào tạo giáo viên bình dân học vụ đầu tiên cho toàn quốc, mang tên “Khóa Hồ Chí Minh” được vinh dự đón Hồ Chủ tịch đích thân đến dự”.

“Xã hội hóa giáo dục” từ ngày lập quốc

Ông Vũ Đình Hòe nhớ lại: Thật ra lúc đó không ai tin rằng chỉ một năm là có thể làm được việc xóa mù chữ, vì nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì phải ít nhất 30, 40 năm nữa mới kết thúc được phong trào.

Sao không biết dựa vào sức dân? Có sức dân thì mọi việc sẽ được hoàn thành. Ông Hòe lên diễn đàn và đưa ra bài toán của mình: “Cứ dạy cho một người biết đọc, biết viết trong ba tháng phải tốn ít ra là 6 đồng. Dạy cho 10 triệu người trong một năm phải tiêu hơn 60 triệu đồng tiền sách vở, giấy bút. Nếu trả lương giáo viên thì phải thêm 10 triệu đồng nữa vì phải cần đến 10 vạn giáo viên, mỗi giáo viên có thể dạy 100 học sinh trong một năm”.

Cả hội nghị cùng bàn bạc, góp ý và đi đến thống nhất: về khoản chi cho giáo viên thì không phải tốn vì phong trào sẽ không ai nhận tiền lương. Còn về con số 10 vạn giáo viên thì tính ra cả nước có 57 tỉnh, mỗi tỉnh phải tự tổ chức 2.000 giáo viên, mỗi tỉnh có khoảng 800 làng, mỗi làng phải tự túc lo bảy giáo viên…

Một lớp bình dân học vụ xóa mù chữ sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân – Ảnh tư liệu – “Chiến dịch diệt “giặc dốt”, chống nạn mù chữ từ ấy bừng lên. Khắp mọi nơi hừng hừng khí thế thi đua học văn hóa cùng với việc gia tăng sản xuất diệt “giặc đói”. Người chưa biết chữ thì cố gắng học nhanh cho đỡ phí tổn, người biết chữ thì chồng dạy vợ, con dạy cha, anh dạy em. Học mọi lúc, mọi nơi, trẻ chăn trâu thì ra đồng tranh thủ học trên lưng trâu, các chiến sĩ đi hành quân thì người đi sau kề lên lưng người đi trước mà học.”

Căng nhất vẫn là khoản chi 60 triệu đồng để mua sách vở, ông Hòe đề nghị: “Trong lúc ngân sách còn eo hẹp, các lớp bình dân học vụ có thể dùng phấn hay gạch để viết xuống đất, chi phí sẽ rút xuống còn 2 đồng chứ không phải 6 đồng như trước đây, vậy Chính phủ có thể trả 5 triệu đồng cho khoản đó không?”.

Bộ trưởng Tài chính Phạm Văn Đồng đang ngồi bên dưới trả lời ngay: “được!”. Cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Ông Hòe thừa thắng xông lên: “Còn 15 triệu nữa, chi phí này ta không nhờ Chính phủ mà sẽ trông vào nhân dân, mỗi làng tự lo 1.000 đồng một năm có được không?”.

Các đại biểu từ khắp nơi về dự đều hô to: được… được và vang rền tiếng vỗ tay. Cô huấn luyện viên lớp đào tạo giáo viên Trương Thị Giáo mang sổ vàng lên xin chữ ký Bác Hồ và các bộ trưởng.

Bác Hồ nói: “Tôi khen sáng kiến của ông bộ trưởng. Ông khéo thu xếp để ta làm được việc lớn mà không phải tiêu pha lớn…”.

Tính đến cuối năm 1945, sau hơn ba tháng phát động, theo báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh Bắc bộ gửi về Bộ Quốc gia giáo dục thì đã mở được 22.156 lớp học với 29.960 giáo viên và đã dạy biết chữ cho 519.250 học viên mà tổng chi phí xuất từ ngân sách trung ương là 815,68 đồng, còn lại đều do các địa phương và tư nhân chi trả.

Trung bộ, Nam bộ cũng có những con số tương tự. Không chỉ xóa nạn mù chữ, Bộ Quốc gia giáo dục bấy giờ cũng đã xây dựng được 14 trường trung học, trường kỹ nghệ cao cấp và sơ cấp với tổng số gần 6.000 học sinh trung học.

Ngày 15-11-1945, mặc dù tình thế rất khó khăn nhưng Trường đại học Việt Nam cũng đã khai giảng. Trong tờ trình Quốc dân đại hội (Quốc hội) của Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng sau do ông Vũ Đình Hòe đọc: “Thành công lớn nhất của chính quyền lâm thời trong việc xây dựng nền giáo dục cho đất nước chính là đặt nền tảng cho một nền giáo dục có tính cách duy nhất, chung cho tất cả các giai cấp xã hội, lấy tôn chỉ bình đẳng làm căn bản, là nền giáo dục cách mạng, khác với nền giáo dục Pháp thuộc trước đây”.

Ông Vũ Đình Hòe nói: “Tôi chỉ làm việc ở Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng, sau đó thì chuyển sang làm bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nhưng đó là sáu tháng đầy kỷ niệm và ấn tượng không thể nào quên được trong cả cuộc đời”.

VŨ BÌNH

tuoitre.vn

Tinh thần Quốc khánh 2/9 bất diệt

(ĐCSVN) – Cách đây vừa tròn 67 năm, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội
(Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Năm 1945, tình hình thế giới và trong nước biến chuyển rất nhanh. Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Quân Đồng minh sắp kéo vào nước ta để giải giáp vũ khí của Nhật. Thực dân Pháp cũng ráo riết chuẩn bị quay trở lại xâm lược nước ta lần nữa. Tình thế lúc này là vô cùng nguy nan, tuy nhiên, lại là thời cơ ngàn năm có một để tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Với nhãn quan cách mạng nhạy bén và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng quyết giành cho bằng được độc lập cho Tổ quốc.
Với quyết tâm đó, trong các ngày 16 và 17/8/1945, Tổng bộ Việt Minh đã tổ chức Quốc dân Đại hội Tân Trào, thông qua chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc; đồng thời, thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngày 19/8/1945, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường đã kéo về chật kín Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Lúc gần 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có trong lịch sử của nhân dân cách mạng, với sự bảo vệ của Tổ chức Thanh niên tự vệ và Thành đoàn Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra. Trên diễn đàn, Đại diện Việt Minh dõng dạc phát lệnh Tổng khởi nghĩa. Ngay sau đó, lực lượng nhân dân cách mạng đã tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ bù nhìn. Trước khí thế cách mạng cao ngất của nhân dân, tất cả binh lính bảo vệ Phủ Khâm sai đã hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện, để cho nhân dân làm chủ toàn bộ khu vực. Cũng trong thời gian này, một cánh biểu tình tới chiếm Trại Bảo an binh, đã vấp phải sự can thiệp của quân đội Nhật. Tuy nhiên, trước sức mạnh của cách mạng, quân Nhật đã phải rút lui, nhường Trại Bảo an Binh cho nhân dân làm chủ. Ngay trong đêm 19 tháng 8, Uỷ ban Nhân dân cách mạng Bắc bộ và Uỷ ban Nhân dân cách mạng Hà Nội đã được thành lập. Ngày 20 tháng 8, Ủy ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ, đại diện cho chính quyền cách mạng lâm thời đã chính thức ra mắt toàn thể quốc dân đồng bào tại Bắc Bộ phủ.

Thắng lợi của cách mạng tại Hà Nội như tiếng súng lệnh báo hiệu cho cuộc cách mạng của cả nước. Nhân dân ở tất cả các địa phương đã lần lượt nổi dậy, nhanh chóng phá tan cả hệ thống chính quyền bù nhìn trong cả nước.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chủ tịch đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới, một thời đại mới của dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn lịch sử nhấn mạnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Đặc biệt, Tuyên ngôn đã khẳng định: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Hơn sáu thập kỷ đã trôi qua, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước giành được nhiều thắng lợi quan trọng trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Hiện nay, cục diện trên thế giới đang có nhiều thay đổi, có thuận lợi và có cả khó khăn, phức tạp, nhưng đất nước ta đã lớn mạnh hơn rất nhiều và trở thành một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế, là thành viên của nhiều tổ chức trên thế giới như: Liên hiệp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)… và có quan hệ với hầu hết các nước và khu vực trên thế giới. Vừa qua, Đại hội XI của Đảng đã đưa ra những quyết sách chiến lược, nhằm phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Toàn Đảng, toàn dân đang đoàn kết phấn đấu, quyết tâm xây dựng thành công nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Kỷ niệm 66 năm ngày Quốc khánh 2-9 năm nay, chúng ta – những người con nước Việt, dù đang ở trong nước hoặc ở xa Tổ quốc, chắc chắn không khỏi xúc động bồi hồi khi nhớ về những năm tháng hào hùng và sôi sục khí thế của những ngày đầu cách mạng. Chúng ta sẽ không thể nào quên những giây phút lịch sử của ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Dù cho năm tháng qua đi, nhưng tinh thần của Tuyên ngôn độc lập 2/9 vẫn đời đời bất diệt trong tâm hồn mỗi người dân nước Việt Nam hôm nay và mai sau.

Đào Nguyên Lan
cpv.org.vn

Bài 2: Cách mạng Tháng Tám – Bài học lớn về nắm bắt thời cơ

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo thành công cuộc Tổng khởi nghĩa “long trời, lở đất” ngày 19.8.1945 một cách nhanh gọn, ít tổn thất nhất, nhưng thành quả đạt được vô cùng to lớn. Cho đến nay, sau 65 năm nhìn lại, bài học về lựa chọn thời cơ của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị…

Ngày 19.8.1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh: T.L

Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi nhất cho việc chủ động phát huy mọi sức mạnh để giành thắng lợi. Ngày Tổng khởi nghĩa 19.8.1945 làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám kỳ diệu, chính là do chúng ta đã kịp thời chớp lấy thời cơ và giành thắng lợi trọn vẹn…

Tháng 10.1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ Trung Quốc về Cao Bằng. Người quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa của các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn vì thời cơ chưa đến, kẻ thù vẫn còn mạnh. Đến ngày 12.3.1945, Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” là một văn kiện lịch sử có ý nghĩa chỉ đạo hành động, chuẩn bị mọi lực lượng để đón thời cơ khởi nghĩa một cách chủ động đã được Đảng ta sớm đề ra, phù hợp với tình hình lúc đó. Ngày 14.8.1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) nhận định thời cơ đã đến, quyết định Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Trước đó, trong đêm 13.8.1945, khi Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này, thời cơ thắng lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.

Ngày 16 và 17.8.1945, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong thư kêu gọi đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Người cũng khẳng định: “Chúng ta không thể chậm trễ”.

Ngày 19.8.1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Chỉ trong vòng 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trong cả nước.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp duyệt các đơn vị vũ trang vừa ở chiến khu về tham gia giành chính quyền ở thủ đô. Ảnh: T.L

Những dấu mốc lịch sử của cuộc cách mạng vĩ đại Tháng 8.1945 đã chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo tài tình của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chọn đúng thời cơ, ra quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc. Thể hiện cụ thể việc này là trong chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng tháng 3 năm 1945 “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc phát đi lúc 23h30 ngày 13.8.1945 hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Chọn thời điểm 13 tháng 8 để phát động Tổng khởi nghĩa là vô cùng sáng suốt, bởi vào thời điểm đó, cách mạng đã lên tới cao trào, lực lượng cách mạng đã lôi kéo được những tầng lớp trung gian, lừng chừng. Có thể thấy, bằng tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tận dụng triệt để những thuận lợi cơ bản: Phát xít Nhật hoang mang; Chính phủ Trần Trọng Kim yếu thế; quân Đồng minh chưa vào nước ta; quân Pháp có tham vọng quay trở lại Việt Nam song chưa có lực lượng… Thời cơ khởi nghĩa ngàn năm có một đã được chọn một cách chính xác trong khoảng 15 ngày trước khi quân Tưởng và quân Anh đổ bộ vào Đông Dương. Nếu phát động Tổng khởi nghĩa sớm hơn, nhân dân ta sẽ tổn hại nhiều xương máu. Nếu phát động Tổng khởi nghĩa muộn hơn, khi quân Đồng minh đã vào Đông Dương thì Cách mạng Việt Nam sẽ mất đi thế chủ động của mình và sẽ gặp nhiều khó khăn khác. Cũng nhờ chọn đúng thời cơ mà sức mạnh của nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám đã được nhân lên gấp bội, đã tiến hành Tổng khởi nghĩa thành công trong phạm vi cả nước trong thời gian ngắn…

Những bài học lịch sử về Cách mạng Tháng Tám còn rất nhiều nhưng 3 bài học về nắm bắt thời cơ, tập hợp lực lượng và xây dựng niềm tin vừa nêu vẫn là những bài học nóng hổi, mang tính thời sự trong công cuộc phát triển đất nước hôm nay. Chúng ta đã ra khỏi chiến tranh, ra khỏi sự kiệt quệ kinh tế và đang trở thành một trong những quốc gia phát triển nhanh trên thế giới. Một nước có diện tích và dân số thuộc vào những nước nhóm đầu, tiềm năng rất lớn chưa được khai thác như nước ta là một thực thể không thể bỏ qua, không thể không xây dựng mối quan hệ hai bên cùng có lợi. Một đất nước ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố… tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối ngoại. Đó là cơ sở xuất hiện những thời cơ để vươn lên dân giàu nước mạnh.

  • L.C.N.T

baobinhdinh.com.vn

Bài 1: Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện thực

Ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh: Tư liệu

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc.

Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Đảng ta từ khi ra đời bị khủng bố dã man, đã trở thành đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo xã hội.

Từ cuối thế kỷ 19, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo. Chúng chia cắt đất nước ta, xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược.

Khi phát-xít Nhật xâm lăng Đông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, dân ta chịu hai tầng áp bức: quân phiệt Nhật và thực dân Pháp. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói thảm thương.

Tiếp nối truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao bậc trung nghĩa đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng đều thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin – lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại – đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc, lấy sức mạnh của đội quân chủ lực công – nông làm nòng cốt; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cùng nhiều bài học khác.

65 năm qua, tiếp nối truyền thống và phát huy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Ðảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại những thắng lợi đã qua, chúng ta càng thấy tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám.

Ngày 19.8.1945, tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, các lực lượng quần chúng cách mạng đánh chiếm Bắc Bộ Phủ. Ảnh: T.L

 

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi suốt 60 năm qua. Tiếp bước con đường của Cách mạng Tháng Tám, trước yêu cầu phát triển đất nước và trước những thời cơ và nguy cơ, Đảng ta và nhân dân ta xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nhiệm vụ trước hết phải chăm lo xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, ngăn ngừa mọi sự chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, nhiệm vụ phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH được Đảng xác định là nhiệm vụ trung tâm.

65 năm trước đây, Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng các tầng lớp nhân dân khỏi ách thống trị, bóc lột của chế độ thực dân phong kiến, đem lại cho mọi người dân Việt Nam quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Độc lập, tự do, hạnh phúc luôn là mục tiêu nhất quán của chế độ mới. Ngày nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cũng đang tiếp tục phấn đấu theo mục tiêu nhân văn cao cả đó.

Phát huy bản sắc truyền thống “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc, Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng sáng ngời của ý chí quật khởi của cả dân tộc. Thấm nhuần sâu sắc kinh nghiệm đại đoàn kết dân tộc của Cách mạng Tháng Tám, hơn lúc nào hết, ngày nay chúng ta phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài, hướng sức mạnh đó vào mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Vào thời điểm Cách mạng Tháng Tám 1945, vị thế nước ta trên trường quốc tế còn thấp, nhưng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc và dự đoán đúng tình hình thế giới, tận dụng thời cơ, phối hợp hành động, làm chuyển hóa so sánh thế và lực giữa ta và địch, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù. Ngày nay, chúng ta có thời cơ hơn để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, lấy tự lập tự cường, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ tối đa những điều kiện quốc tế thuận lợi để bồi bổ sức mạnh dân tộc và kết hợp với sức mạnh quốc tế thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lãnh đạo toàn dân làm Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Đảng ta lúc đó chỉ có 5.000 đảng viên và phải hoạt động bí mật, điều kiện thông tin liên lạc để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào toàn quốc hết sức khó khăn. Nhưng nhờ có đường lối đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, sự chủ động, sáng tạo của tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và nhân dân ở các địa phương nên khởi nghĩa đã nổ ra đồng loạt và có sự phối hợp từng vùng, từng miền và trên phạm vi cả nước. Ðó là một bài học hết sức quý báu về sự lãnh đạo của Ðảng và xây dựng Ðảng trong bất cứ thời kỳ cách mạng nào.

Nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện có kết quả hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là vấn đề có ý nghĩa sống còn của nước ta hiện nay. Chúng ta vững tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng một dân tộc đã rửa được nỗi nhục mất nước, một dân tộc đi tiên phong chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, thì dân tộc ấy nhất định có đủ nghị lực và sức mạnh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới.

  • L.C.N.T

baobinhdinh.com.vn

Việt Nam vững bước tiến cùng thời đại

(VOV) – Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực, sáng tạo để vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tối 31/8 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế 11 Lê Hồng Phong, Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng phu nhân chủ trì Tiệc chiêu đãi Đoàn Ngoại giao nhân dịp kỷ niệm 67 năm Quốc khánh 2/9.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Tiệc chiêu đãi

Tham dự có các Phó Thủ tướng: Nguyễn Xuân Phúc và Vũ Văn Ninh; lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và Hà Nội. Về phía Đoàn Ngoại giao có Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao cùng đông đảo các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng Đại diện các Tổ chức quốc tế tại Hà Nội….

Thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng Đại diện các Tổ chức quốc tế đến dự cuộc gặp thân mật kỷ niệm 67 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên của độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.

Thủ tướng nhấn mạnh: Trong 67 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, nhân dân Việt Nam đã anh dũng, kiên cường vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ để giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, hội nhập quốc tế thành công và đoàn kết, chung sức, vững tin, vững bước tiến cùng thời đại, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao phát biểu

Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực, sáng tạo để vượt qua những khó khăn, thách thức, tiếp tục xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đó ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì mức tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, chủ quyền quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Thủ tướng bày tỏ vui mừng trước quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế có bước phát triển mới, tiếp tục được củng cố, phát triển và đi vào chiều sâu.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: Với phương châm “là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của Cộng đồng quốc tế”, Việt Nam đang chủ động, tích cực hội nhập toàn diện với thế giới và khu vực, có nhiều đóng góp tại các diễn đàn quốc tế như: ASEAN, Diễn đàn Cấp cao Đông Á (EAS), Phong trào không liên kết, các diễn đàn trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc. Việt Nam tiếp tục thực hiện những cam kết gia nhập WTO, thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực, tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)…

Thủ tướng gửi lời cảm ơn chân thành tới Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, các vị Đại sứ, Đại biện và Trưởng đại diện các Tổ chức Quốc tế về những tình cảm tốt đẹp, sự ủng hộ quý báu, sự hợp tác có hiệu quả đã dành cho nhân dân và đất nước Việt Nam trong thời gian qua. Trên con đường phát triển và hội nhập, cùng với những nỗ lực phát huy tối đa nguồn lực trong nước, Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ và hợp tác nhiều hơn nữa của bạn bè quốc tế.

Thủ tướng khẳng định: “Chúng tôi tin tưởng chắc rằng hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau, coi trọng lợi ích của nhau là nền tảng, là phương cách căn bản, quan trọng và hiệu quả nhất để chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn vì mục tiêu hòa bình và phát triển”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và phu nhân chúc tiệc các vị khách

Thay mặt Đoàn Ngoại giao, Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao đã gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất tới Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; bày tỏ chia sẻ niềm tự hào dân tộc với nhân dân và Chính phủ Việt Nam về khoảnh khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam…

Ngài Jorge Rondon Uzcategui tin tưởng Việt Nam tiếp tục giành chiến thắng trong công cuộc đưa đất nước ngày càng thịnh vượng, trở thành một nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khẳng định rất nhiều các quốc gia khác cùng hợp tác với Việt Nam để cùng phát triển.

Ngài Jorge Rondon Uzcategui bày tỏ: “Chúng tôi nhận thấy quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước đang phát triển từng ngày. Nhiều Đại sứ quán mới được mở ra tại Hà Nội và Việt Nam cũng đã thiết lập các cơ quan ngoại giao mới trên toàn thế giới. Đồng thời Việt Nam đã xây dựng những nhịp cầu hữu nghị bền chặt, đoàn kết và hợp tác với nhiều khu vực. Có được chính sách ngoại giao chủ động như vậy là nhờ vị thế của Việt nam với tư cách là một đối tác đáng tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, với những cam kết hội nhập quốc tế, hòa bình, hợp tác, phát triển và đa phương hóa.

Chúng tôi sẽ làm hết sức mình vì sự thịnh vượng và phát triển của nhân dân Việt Nam. Đây chính là sự tiếp nối cần thiết để thực hiện Tuyên ngôn trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là mong muốn của tất cả chúng ta: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, có quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc và tự do…/.

Thành Chung/VOVTV
vov.vn

Hồn Việt, bản sắc Việt trong “Tuyên ngôn Độc lập”

Một sự kiện cách đây 67 năm, không những đi vào lịch sử nước ta mà còn hiện diện vinh danh trong lịch sử thế giới. Đó là ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập(TNĐL), khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là áng văn bất hủ, sánh vai cùng nhiều áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, sau “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”: Nam quốc sơn hà Nam đế cư… gắn với cuộc kháng chiến chống giắc Tống xâm lược của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi “Tuyên cáo” về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân ta, từ địa vị nô lệ đứng lên giành độc lập, tự tổ chức ra nhà nước của mình. Áng hùng văn bất hủ này thực sự là một Di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc. Đọc TNĐL của Bác Hồ, chúng ta nhận ra qua từng lời văn với ngôn ngữ rất chắt lọc của Bác, không những mang tính pháp lý hiện đại, có tầm quốc tế về nội dung, mà còn mang đậm hồn Việt, bản sắc văn hóa dân tộc Việt.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thô-mat Giê-phe-son soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Thô-mat Giê-phe-son. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngắn gọn, dễ hiểu hơn:“Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt theo văn phong Việt, phong cách Việt, tính quần chúng hóa rất cao.

Từ chỗ mọi người, Bác đã đưa ra khái niệm lớn hơn, bao quát hơn: Mọi dân tộc, mang đầy đủ ý nghĩa quốc tế vô sản. Đó là một sự suy rộng mang đậm nét Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nguyên văn trong TNĐL, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng sự suy rộng ra thành chân lý mang tầm thời đại. Cũng theo quan điểm, tư tưởng quốc tế vô sản, từ cách nhìn “toàn cầu hóa”, tháng 5-1969, trong Di chúc để lại cho muôn đời con cháu mai sau, Người đã viết: “… Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc đã dẫn biện: Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà La-dy Bo-rơ-ton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Thô-mat Giê-phe-son vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho TNĐL năm 1776 của nuớc Mỹ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Giá trị rất quan trọng của TNĐL là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với sự phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của tất cả các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch trên thế giới. Nó khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thế giới, nhất là cộng đồng các quốc gia, các dân tộc đang vươn tới giành tự do, độc lập. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản TNĐL, một sĩ quan tình báo Hoa Kỳ, ông A-Pat-ti, phụ trách đơn vị OSS cộng tác với Việt Minh trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cho rằng: Ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Để nâng cao giá trị của bản TNĐL vừa mang tính hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng, sau khi soạn thảo, Bác đã đem bản thảo trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc.“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”… Riêng câu nói đó trước khi chính thức đọc bản TNĐL tại Quảng trường Ba Đình đã toát lên tính dân tộc, tính đại chúng trong cách nói và viết của Người. Nó thực sự gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo mục tiêu của một thể chế ưu việt: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Trích dẫn những câu chữ rất chọn lọc trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, Bác Hồ muốn mọi công dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới hiểu rằng: Hai nước thực dân, đế quốc to trên thế giới “tuyên bố” như thế, nhưng lại đi xâm lược, tước đoạt quyền tự do, độc lập của các dân tộc khác. Từ đó, lên án thực dân Pháp, đứng sau là quan thầy Mỹ, đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta trong 80 năm, trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp trên con đường phát triển tất yếu của nhân loại. Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã minh chứng một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các nước nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn.

Để chứng minh cái quyền tất yếu của dân tộc ta: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây là một Tuyên bố Nhà nước, một văn bản Quốc gia chính thức. Vì thế, theo thông lệ của các chuẩn mực, người viết đã chọn dùng ngôn ngữ luật pháp chứ không phải ngôn ngữ hành chính để thể hiện. Theo đó, tác giả đã không xuất phát từ cái ý chủ quan của riêng mình mà bắt đầu văn bản bằng việc nêu lên một chân lý khách quan, vốn đã thấy trên chính trường quốc tế.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập. Nước Việt Nam độc lập thì tiếng Việt cũng được độc lập. Độc lập là tiếng nói và chữ viết trở thành chính danh. Mệnh đề ấy rất đơn giản nhưng lại hoàn toàn không đơn giản chút nào trong sự nghiệp đấu tranh cho văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Tiếng Việt “là thứ của cải vô cùng lâu đời, vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh, 1962), là công cụ hữu hiệu trong phát triển và giữ gìn văn hoá Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Nhưng tiếng Việt, cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám, mới thật sự là thứ ngôn ngữ chính danh. Bản Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc ngày 2 -9-1945 là một minh chứng cho điều tiếng ta đã thật sự trở thành một tiếng độc lập.

Theo GS.TS. Đinh Văn Đức: Các văn kiện nổi tiếng về nền độc lập dân tộc như bài thơ “Nam quốc sơn hà”, hay “Bình Ngô Đại cáo”… đều được viết bằng chữ Hán. Phải đến “Tuyên ngôn Độc lập” (1945) của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới có một văn kiện chính thức đầu tiên về nền Độc lập dân tộc được viết bằng tiếng Việt, chữ Việt một cách chính danh. Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là một tuyệt phẩm của tiếng Việt chuẩn mực và hiện đại – Một hòn ngọc văn hoá có giá trị rất quý báu và trường tồn lâu dài, như chính hồn Việt, dân tộc Việt, con người Việt.

Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là ngôn ngữ chính luận của một áng hùng văn đầy cảm xúc và của một ý chí sắt đá. Thành công của ngôn ngữ trong văn bản này có thể nhận thấy trên nhiều phương diện. Bản TNĐL có ba nội dung quan trọng, vừa mang tính khẳng định, vừa là lời hiệu triệu hùng hồn, với những tu từ học và ngắt câu, chốt câu rất độc đáo:

“… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.

Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

… Nhật tước khí giới của quân đội Pháp.

Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.

Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

Đã là tuyên ngôn thì phải nói ngay được cái chân lý, cái cốt lõi. Các phân tích ngôn từ triển khai tiếp theo sẽ bám vào đó mà thể hiện các lập luận. Ngôn ngữ văn bản này được viết rất giản dị nhưng tổ chức cực kỳ chặt chẽ. Các liên kết lô gích và liên kết mạch lạc làm nòng cốt cho việc triển khai các lập luận cơ bản. Đó liên tục là một chuỗi của các lập luận: Lập luận về quyền dân tộc, lập luận về việc thực dân Pháp vi phạm các quyền đó, lập luận về thời cơ của vận nước, lập luận về quyền và trách nhiệm của dân tộc Việt Nam, lập luận về quyết tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc giữ gìn quyền độc lập và tự do. Một đặc trưng khác là cùng với lập luận chặt chẽ, lời văn của Tuyên ngôn hết sức trang trọng.

Ngôn ngữ của Tuyên ngôn Độc lập là ngôn ngữ của một văn kiện chính trị lớn, hướng đến một công chúng lớn mà đối tượng đích là “Quốc dân và Thế giới”. Nội dung truyền thông trong bản bố cáo rất lớn lao, có ý nghĩa vận mệnh của Quốc gia và Dân tộc. Dễ dàng nhận ra là tác giả đã viết văn bản trong một sự hào sảng cao độ, các cảm xúc như trào lên ngọn bút quanh hai từ Độc lập và Tự do. Ngôn ngữ luật pháp được vận dụng triệt để, các phát ngôn đầy tính nhân văn và lịch lãm, nhưng không màu mè và giả tạo, không lên gân mà rất tự nhiên, trung thực. Quan điểm của người nói khi phát ngôn rất chân thành và tha thiết nhưng cũng rất kiên định và cương quyết.

Sự súc tích của câu văn và từ ngữ cũng là một nét nổi trội. Có những nội dung rất lớn nhưng tác giả chỉ cần gói gọn trong một dòng với những ngắt đoạn cực ngắn, như khi nói về tình thế của cách mạng ta lúc đó, Tuyên ngôn đã viết: “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị… Chúng ta lấy lại đất nước ta từ trong tay Nhật chứ không phải trong tay Pháp”. Thế là rõ: Đối ngoại thì Pháp không có lý do gì để trở lại Việt Nam, đối nội thì chính quyền cũ đã hạ cờ. Lịch sử đã sang trang. Mấy ngày sau, khi Quân đồng minh vào nước Việt thì họ chỉ là khách đến làm nhiệm vụ trong một đất nước có chủ quyền.

Chúng ta thấy lời văn ở đây là kết tinh một thứ tiếng Việt rất mới mẻ và hiện đại. Tính dân tộc và tính đại chúng trong TNĐL thể hiện rõ nét ở những câu, từ vừa mang tính chính luận sắc bén, vừa dễ hiểu để mọi tầng lớp trí-công-nông-binh đều hiểu rõ. Các từ như “thẳng tay”, “tắm”, “nòi giống ta”, “tận xương tủy”, “giết nốt”, “gan góc” hoàn toàn là Việt ngữ, không hề vay mượn, pha tạp chút nào. Ví dụ như: “Chúng đã thẳng tay chém giết”… “tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu… Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược… Chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ… Chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng…”

Đã 66 năm, từ Bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Bác Hồ kính yêu của chúng ta soạn thảo và đã đọc tại Quảng trường Ba Đình, dân tộc ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với biết bao hy sinh mất mát, nhưng đã “đánh thắng hai để quốc to là Pháp và Mỹ”, mọi người dân Việt Nam đều thấm nhuần sâu sắc và luôn luôn mang bên mình như một thứ hành trang không thể thiếu được. Đó là lời hiệu triệu của Bác: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Giá trị của Tuyên ngôn Độc lập cùng lời hiệu triệu đanh thép và trường tồn ấy vẫn luôn luôn tươi rói trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bùi Văn Bồng

xaydungdang.org.vn

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”.

Lời tuyên bố trịnh trọng vang lên giữa Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời, thay mặt toàn bộ dân nước, không chỉ là lời tuyên bố trước toàn thể thế giới về sự có mặt của một dân tộc anh hùng, về sự khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Châu Á mà còn thể hiện một sự tự nhận thức về những giá trị nhân văn, giá trị tiến bộ của một dân tộc hàng nghìn năm chìm đắm trong nô lệ và nghèo nàn, lạc hậu; là tuyên ngôn của lòng quyết tâm thực thi các giá trị tiến bộ đó trên đất nước mình.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được coi là áng thiên cổ hùng văn của Việt Nam, bên cạnh bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi.

Với 1.009 chữ, Tuyên ngôn Độc lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn được thế giới coi là tác phẩm tuyên ngôn mẫu mực, chặt chẽ về luật pháp, giàu hình ảnh văn học, thể hiện rõ được ý chí nguyện vọng của dân tộc, của thời đại ; mang tính lịch sử và nhân văn, tính đặc thù và phổ quát.

Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Mc Govern năm 2005 đã đánh giá: Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn Thomas Jefferson và suy luận một cách sáng suốt.

Mở đầu bản tuyên ngôn là một chân lý hiển nhiên: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Tạo hóa, Đấng Tối cao trong quan niệm Phương Tây, cũng như Trời, Đạo Trời trong cách nghĩ của người Phương Đông đều thể hiện một quyền lực, một chân lý tuyệt đối, không ai chống lại được, không phải bàn cãi.

Đoạn trích đầu từ Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ , bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới được soạn thảo bởi Luật sư danh tiếng bang Virginia, ông Thomas Jefferson(1743-1826), sau này là Tổng thống Hoa Kỳ (1801-1809), được tuyên đọc ngày 4-7-1776, chấm dứt sự phụ thuộc của Mỹ đối với Anh. “Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và Thượng đế đã ban cho họ thì sự tôn trọng đầy đủ với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự độc lập đó”.

Đoạn trích thứ hai từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789.

Mở đầu Tuyên ngôn của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không chỉ thể hiện tính hợp pháp, hợp lý của nó ở tầm quốc tế; không chỉ là một “đòn đánh chặn” đối với thực dân Pháp và đế quốc can thiệp Mỹ lúc đó, mà còn thể hiện tính hội nhập vào tiến trình dân chủ thế giới trong những khái niệm tự do, bình đẳng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc mà nền tảng là độc lập dân tộc.

Tội to nhất mà Tuyên ngôn khẳng định là tội cướp nước, áp bức; trái nhân đạo, chính nghĩa; bóp nghẹt tự do, dân chủ. Những điều đó đến nay và muôn sau vẫn còn mang ý nghĩa thời sự, vẫn khích lệ con người đấu tranh để xóa bỏ.

Tổng kết phong trào đấu tranh cứu nước suốt nửa cuối thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20, mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn viết: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Đoạn văn chính luận mẫu mực ấy không chỉ cho ta thấy kết quả to lớn, vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, còn cho thấy tính nhân văn của dân tộc, của cách mạng vô sản nước ta. Đành rằng trong lịch sử, trong bão táp cách mạng, có nhiều hy sinh, nhiều oan khuất nhưng trong so sánh chung, không ít những cuộc chiến tranh, cách mạng trên thế giới đẫm máu hơn nhiều.

Truyền thống hiếu sinh từ Nguyễn Trãi, đến tư tưởng nhân nghĩa Hồ Chí Minh là nguồn gốc của sức mạnh văn hóa, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Bác Hồ từng nói:

“Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”. Ngày nay, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập và bình tĩnh suy xét lịch sử, thì cái kết quả mà cách mạng tạo ra nước độc lập, dân tự do cũng là khát vọng nghìn đời, mong mỏi của mọi người dân yêu nước, dù ở hoàn cảnh nào, phương trời nào.

Như trên đã nói, điều cốt lõi nhất mà chúng ta, mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều hướng tới là độc lập dân tộc. Nhưng độc lập sẽ không có ý nghĩa gì nếu người dân không đủ cơm ăn , áo mặc, không được thực hiện quyền làm chủ của mình một cách đầy đủ. Ba quyền của mỗi con người, mỗi dân tộc mà Tuyên ngôn nhấn mạnh, đó là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do.

Ba quyền ấy, dưới chế độ thực dân, phong kiến; dưới sự lệ thuộc kinh tế, chính trị vào nước khác, đã bị tước đoạt.

Dưới chế độ ta, ba quyền ấy cần phải được đảm bảo ngày một tốt hơn. Đó là ý nghĩa thời sự, là mục tiêu không thể xa rời của sự nghiệp cách mạng.

Và không chỉ vào năm 1945, không chỉ vào những ngày đất nước bị giày xéo dưới gót giày xâm lược; ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập phải là tuyên ngôn hùng hồn của mỗi chúng ta, của mọi thời đại.

Nguyễn Sĩ Đại
dvt.vn

Cuộc cách mạng mang thông điệp của dân tộc và thời đại

Cách mạng tháng Tám 1945 là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất trong thế kỷ XX của nhân dân Việt Nam. Cuộc cách mạng đã làm nên sự khác biệt căn bản về chất của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX so với tất cả các thế kỷ trước đó của lịch sử dân tộc: Thiết lập một nền dân chủ, khẳng định quyền con người, khẳng định những khát vọng của dân tộc.

Khẳng định những giá trị dân tộc và dân chủ

Trước khi khẳng định một sự thật thiêng liêng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã trở thành một nước tự do và độc lập” (1), bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy “những lẽ phải không ai chối cãi được” của hai bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cuộc cách mạng Pháp (1789) để khẳng định những quyền chân chính của dân tộc Việt Nam. Không dừng lại ở nội dung của hai văn kiện lịch sử đó mà Chủ tịch Hồ Chí Minh “suy rộng ra” về quyền dân tộc: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (2).

Nhân dân Hà Nội chiếm Bắc bộ phủ (tháng 8/1945).

Với Việt Nam, bản Tuyên ngôn độc lập đánh dấu kỷ nguyên mới của dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập – chấm dứt ách nô lệ thực dân và Tự do – chấm dứt chế độ phong kiến. Với nhân loại, bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam là tiếng chuông báo sự khởi đầu tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ gắn liền với xâm lược và nô dịch.

Đó là sự xác lập lần đầu tiên ở Việt Nam một nền dân chủ bằng sự lựa chọn thể chế nhà nước sau cuộc cách mạng – thể chế Dân chủ cộng hòa.

Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 là cuộc cách mạng khẳng định quyền con người. Trích “những lẽ phải không ai chối cãi được” trong hai bản Tuyên ngôn bất hủ của cách mạng Hoa kỳ và cách mạng Pháp, bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945 đã khẳng định quyền của con người – cũng chính là nền tảng quyền của dân tộc.

Nhân dân Việt Nam đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đi đầu trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu thuộc địa, bị áp bức. Cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam thắng lợi cũng mở ra một tiền đồ, một tương lai tươi sáng, gây niềm tin và hy vọng, động viên tiếp sức cho các dân tộc còn đang bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập cho mình.

Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 mở ra một cuộc trung hưng mới cho dân tộc Việt Nam. Thành tựu và những thử thách suốt chặng đuờng sáu mươi bảy năm qua đã minh chứng những giá trị của một cuộc cách mạng Dân tộc và Dân chủ.

Thông điệp hòa bình và ý chí độc lập của dân tộc

Đánh giá về một ưu điểm lớn của Cách mạng tháng Tám so với cách mạng ở một số nước khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều. Có nước phải chặt đầu vua. Có nước đồng bào chia đảng phái chém giết nhau liên tiếp trong bao nhiêu năm. Nước ta vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước đến hoàn toàn độc lập và chống được giặc xâm lăng, đuổi thực dân tham ác ngoài bờ cõi” (3).

Từ đầu tháng 7/1946, khi các cuộc hội đàm chính thức Việt – Pháp đang diễn ra trong lâu đài Fontainebleau, tại Pari cũng diễn ra những hoạt động không mệt mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh để bạn bè thế giới, trước hết là Chính phủ và các tầng lớp nhân dân Pháp, hiểu rõ thiện chí hòa bình và nguyện vọng nóng bỏng của nhân dân Việt Nam là Độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Trong thời gian hơn ba tháng, với tư cách là thượng khách của nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều cuộc tiếp xúc với các đại biểu của Chính phủ Pháp, nhiều tổ chức đoàn thể và cả các cá nhân. Trong tất cả những cuộc tiếp xúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nêu rõ nguyện vọng chân thật của nhân dân Việt Nam là mong muốn giữ mối quan hệ Việt – Pháp “không có tiếng súng”. Khi đến thăm khu di tích lịch sử ở Nooc-man-đi, Người đã lấy bàn tay bịt miệng khẩu đại bác như một biểu tượng của tinh thần: “Giữ gìn hòa bình! Ngăn chặn chiến tranh!”. Đó chính là thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt nhân dân Việt Nam gửi tới nhân dân Pháp và những người cầm quyền Pháp khi đó (4).

Hợp lòng dân và được nhân dân bảo vệ

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam đã bùng nổ và thành công đúng thời cơ lịch sử. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời nằm ngoài mọi dự tính và dàn xếp của các nước lớn sau Hội nghị Pôts-đam, cũng nằm ngoài mọi tính toán của những kẻ theo chủ nghĩa thực dân Pháp.

Chính quyền cách mạng ra đời “không đồng minh, không tiền, hầu như không vũ khí” – như nhận xét của Pig-non – cố vấn chính trị của Cao ủy Pháp Đác Giăng-li-ơ tại Đông Dương. Ngay từ khi mới ra đời, nạn đói, nạn dốt, nạn tài chính kiệt quệ cùng với nạn ngoại xâm đã đặt vận mệnh của độc lập dân tộc trước nguy cơ “Còn – Mất”.

Nhiệm vụ cách mạng sau khi giành được chính quyền đặt ra đòi hỏi nóng bỏng phải tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân làm hậu thuẫn vững chắc cho Chính quyền cách mạng. Bảo vệ được Chính quyền cách mạng mới có thể thực hiện được những mục tiêu cấp bách cũng như lâu dài: Giữ vững nền độc lập, đem lại đời sống no ấm cho nhân dân.

Bộ máy chính quyền mới đã trực tiếp mang lại những quyền lợi dân sinh, dân chủ, dân quyền mà nhân dân Việt Nam chưa từng được hưởng: bãi bỏ thuế thân (ngày 7/9/1945); bắt buộc học chữ quốc ngữ và không phải trả tiền (ngày 8/9/1945); qui định thể lệ Tổng tuyển cử (ngày 17/10/1945); giảm tô 25% (ngày 20/11/1945); giảm 20% thuế điền (ngày 20/11/1945) v.v…

Sau cuộc tổng tuyển cử tự do và dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc, Chính phủ cách mạng lâm thời đã trở thành Chính phủ hợp hiến, do dân bầu, bao gồm nhiều thành phần, đại diện cho các tầng lớp xã hội, đấu tranh cho quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam. Chính phủ cách mạng thu hút được sự ủng hộ của toàn dân, được toàn dân bảo vệ vì nó hợp với lòng dân. Ông Ca-put (Bí thư Đảng Xã hội Pháp ở Bắc Kỳ) trong thư gửi Cao ủy Đác Giăng-li-ơ ngày 8/12/1945 đã thừa nhận rằng: Chỉ có Chính phủ Hồ Chí Minh và Việt Minh là có đủ tư cách đại diện cho dân tộc Việt Nam, “họ vẫn là những người có khả năng hơn cả để lôi cuốn được mọi người” (5).

Buổi tối ngày 2/9/1946, tại Pari, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự lễ kỷ niệm Quốc khánh lần đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hội liên hiệp Việt kiều và Hội hữu nghị Pháp – Việt tổ chức. Trong buổi lễ đặc biệt đó, Người xúc động nói: “Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hòa của mình” (6).

Trong những năm tháng nước sôi lửa bỏng, vận mệnh dân tộc trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, “Dân tộc trên hết – Tổ quốc trên hết” – đã trở thành khẩu hiệu đoàn kết, tập hợp khối lực lượng quần chúng to lớn ủng hộ Chính phủ cách mạng. Khối đại đoàn kết toàn dân được xây dựng rộng rãi, không bỏ sót một nguồn lực nào đã phát huy sức mạnh to lớn. Kể cả những người không cộng sản, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài, những người đã từng làm việc dưới chế độ cũ, những người thuộc giới quan lại, hoàng tộc phong kiến, cả những người tưởng như đã nằm dưới đáy của xã hội xưa v.v… tất cả đều hướng về cuộc đấu tranh của dân tộc và bằng cách này hay cách khác đóng góp cho cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng thành công Chính quyền cách mạng.

Bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự cường để xây dựng và bảo vệ Chính quyền cách mạng từ những năm tháng hào hùng đó vẫn là những giá trị to lớn.

Ngô Vương Anh
baotintuc.vn

(1) Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 4, tr 4
(2) Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh – Toàn tập – Sđd, tr 1
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập – Sđd, tập 4, tr 47 – 48.
(4) Ngọai giao Việt Nam 1945 – 2000 – Nxb CTQG, H, 2002, tr 80; 81
(5) Philippe Devillers – “Pari – Sài Gòn – Hà Nội – Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944 – 1947” – NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 1993 – tr 162.
(6) Diễn văn tại Lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1946) tổ chức tại Pari – Hồ Chí Minh – Toàn tập – Sđd, Tập 4, tr 283

Tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn Độc lập

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc đã tạo dựng nên dấu mốc lịch sử vĩ đại nhất cho dân tộc. Đó chính là bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, long trọng tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Khởi thảo Tuyên ngôn từ Hào Khí Thăng Long

Căn nhà lịch sử số 48 phố Hàng Ngang, là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập. Nơi đây là đất phường Diên Hưng, tổng Hữu Túc (sau đổi là tổng Đông Thọ) huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức xưa. Nay di tích này thuộc phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Căn nhà là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc sau khi Người rời Tân Trào (Tuyên Quang) về Hà Nội. Cũng chính tại nơi đây, sáng 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng bàn về chủ trương đối nội và đối ngoại trong tình hình mới, về việc sớm công bố danh sách thành viên Chính phủ lâm thời. Người còn đề nghị mở rộng hơn nữa thành phần Chính phủ lâm thời, chuẩn bị Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ảnh: Tư liệu -TTXVN

Thời gian ở số nhà 48, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành phần lớn thời gian soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập. Trong hoàn cảnh lịch sử vô cùng đặc biệt: Thời gian ngắn, yêu cầu gấp rút, địa điểm chật hẹp, thân phận bí mật. Song bằng sức mạnh, tâm lực, trí tuệ và bản lĩnh của một vị lãnh tụ cách mạng kiệt xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành bản thảo Tuyên ngôn Độc lập chỉ trong vòng 3 ngày (từ 28 đến 30/8/1945). Trong quá trình viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 30/8/1945, Người tiếp tục mời một số đồng chí đến trao đổi, góp ý kiến. Ngày 31/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung, chỉnh sửa một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Khi viết xong, Người nói: “Trong đời tôi, tôi đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”.

Viết bản Tuyên ngôn Độc lập, Người đã viện dẫn lời từ chính bản Tuyên ngôn Độc lập (năm 1776) của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (năm 1791), khi nói về quyền bình đẳng, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Vậy mà, thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của thực dân Pháp trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Chính vì vậy, nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người viết: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập lên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.

Thời gian sống, làm việc và đặc biệt là viết bản Tuyên ngôn Độc lập ở ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh sống rất giản dị, đạm bạc. Lúc bấy giờ Người gầy và ho nhiều. Người thường mặc bộ quần áo chàm cũ, đi đôi giày vải và đội chiếc mũ cát đã sờn mà Người đã cầm để vẫy chào đồng bào ở Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại chiếc bàn tròn trong phòng khách nhỏ, nơi Người viết bản Tuyên ngôn Độc lập, và ngay cả ấn kiếm của Bảo Đại sau khi đưa từ Huế về lúc đầu cũng để trên mặt chiếc tủ ở căn phòng này. Trong suốt thời gian làm việc ở đây, ngôi nhà 48 Hàng Ngang vẫn có người ra vào bình thường, vì tầng 1 lúc đó vẫn là cửa hàng bán vải vóc, tơ lụa của gia đình. Điều đó, chứng tỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tin tưởng vào dân, tin tưởng vào lực lượng cách mạng quần chúng. Sống ở 48 Hàng Ngang có lẽ là những giây phút sảng khoái, hạnh phúc nhất của Người, bởi thành quả độc lập, tự do của dân tộc do chính Người gieo trồng đang ngời lên từng chữ, từng câu trong bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Lấp lánh giá trị thời đại

Đúng 14 giờ ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị trong Chính phủ lâm thời làm lễ ra mắt ở Kỳ đài Độc lập, tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn nhân dân Thủ đô và các vùng lân cận. Bản nhạc Tiến quân ca hùng tráng vang lên, mọi ánh mắt đều hướng về lá cờ đỏ sao vàng đang từ từ kéo lên. Vị cha già dân tộc xuất hiện giản dị trong bộ quần áo ka ki và đôi dép cao su. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể nhân dân, với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, tự do ra đời, hình thành Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Nhà nước độc lập đầu tiên trong hệ thống thuộc địa thế giới. Đây là văn kiện lịch sử có ý nghĩa vô cùng trọng đại đối với vận mệnh dân tộc, là mốc son chói lọi trong lịch sử vẻ vang của đất nước ta. Tuyên ngôn là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền tự do, độc lập của nhân dân ta trước toàn thế giới. Bản Tuyên ngôn khẳng định ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi của nhân dân Việt Nam quyết giữ vững quyền thiêng liêng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đồng thời là một tác phẩm “Thiên cổ hùng văn”, tiếp sau bài thơ “Thần” – “Nam quốc sơn hà” và bài “Bình Ngô đại cáo”, kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta; là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập tự do và góp phần làm phong phú về Quyền tự quyết của các dân tộc trên thế giới – Quyền độc lập tự do. Sau khi Chính phủ lâm thời làm lễ tuyên thệ và nhân dân thề một lòng ủng hộ Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, Người nói: “Độc lập tự do là quý báu, quý giá vô ngần, ta đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới giành được, cần phải cố gắng giữ gìn, bảo vệ”.

Cách mạng tháng Tám với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã xóa tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp (kéo dài hơn 80 năm) và của phát xít Nhật, đồng thời lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ngót gần 1.000 năm. Nước ta từ một nước thuộc địa, phong kiến đã trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà. Đây là một bước phát triển nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển của lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới, đặc biệt là nhân dân châu Á và châu Phi.

Có thể khẳng định rằng chính thời điểm lịch sử cực kỳ quan trọng và thử thách ngặt nghèo từ sau cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, việc thành lập chính quyền nhân dân, tuyên bố độc lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời… đã bộc lộ đầy đủ và sinh động nhất thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đây với tư cách là người chủ thực sự của đất nước, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên cường đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. 30 năm sau ngày “Tuyên ngôn Độc lập”, Đảng và nhân dân đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang: Giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi sự nghiệp cách mạng dân tộc – dân chủ, thống nhất đất nước. Tổ quốc vĩnh viễn được độc lập, nhân dân ta đời đời được tự do, tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn Độc lập mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi người Việt Nam. Với ý nghĩa và tầm vóc lớn lao đó, ngày 2/9/1945 đã trở thành ngày hội lớn của dân tộc, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trần Tiến Duẩn
baotintuc.vn

Quảng trường Ba Đình lịch sử và ngày lễ Độc lập 2/9/1945

Vườn hoa Rond Point Puginier nhìn từ phía Đông Nam, sau là Vườn hoa Ba Đình rồi trở thành Quảng trường Ba Đình lịch sử. Ảnh Internet

Quảng trường Ba Đình được xem là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính nơi đây đã lưu giữ dấu ấn nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc ta. Đặc biệt, cách đây tròn 66 năm, vào ngày 2/9/1945, ngay tại Quảng trường này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Quảng trường Ba Đình xưa là cửa phía Tây của Thành cổ Hà Nội. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội đã phá thành vào năm 1894 và tại cổng phía Tây này, Pháp cho xây một vườn hoa nhỏ đặt tên là Rond Point Puginier, còn gọi là Quảng trường tròn (rond point: điểm tròn) hay Vườn hoa Puginier (Puginier là tên một vị cha cố). Xung quanh Vườn hoa Puginier này một số công trình công sở, biệt thự được xây dựng. Một trong những công trình được xây dựng sớm là Phủ Toàn quyền (1902), sau này là Phủ Chủ tịch. Về sau thêm các công trình quan trọng khác là trường Albert Sarraut (1919), nay là Cơ quan Trung ương Đảng và Sở Tài chính (1925), nay là Trụ sở Bộ Ngoại giao.

Cái tên Quảng trường Ba Đình do bác sỹ Trần Văn Lai, người giữ chức Thị trưởng thành phố từ ngày 20/7 đến 19/8/1945 đặt tên. Sở dĩ, Thị trưởng Trần Văn Lai đặt tên là Ba Đình vì ông cảm phục nghĩa quân Đinh Công Tráng đã chống Pháp rất anh dũng ở căn cứ Ba Đình huyện Nga Sơn, Thanh Hoá vào những năm cuối thế kỷ XIX.

Tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân của quân và dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng tháng Tám thành công đã đập tan xiềng xích nô lệ kéo dài hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân ta từ địa vị nô lệ đã vươn lên trở thành những người chủ của đất nước, tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 22/8/1945, Bác Hồ rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Sáng ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9; Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bản Tuyên ngôn độc lập.

Có nhiều địa điểm được đưa ra lựa chọn để làm nơi diễn ra sự kiện trọng đại: Lễ Độc lập. Lúc đầu khu Quần ngựa hoặc Đông Dương học xá (Đại học Bách Khoa bây giờ) được đưa vào danh sách lựa chọn nhưng song không phù hợp vì thấy quá xa trung tâm Hà Nội lúc đó. Nếu chọn Quảng trường Nhà hát Lớn thành phố thì lại sợ quá chật chội. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Quảng trường Ba Đình (Vườn hoa Ba Đình lúc đó) đã được chọn là nơi diễn ra lễ Độc lập, cho dù lúc bấy giờ xung quanh địa điểm này còn có những cơ quan như Phủ Toàn quyền, Thành Hà Nội… là những nơi vẫn còn khá nhiều lực lượng thù địch với cách mạng đang chiếm đóng.

Ngày 28/8/1945, Ban Tổ chức ngày lễ Độc lập được thành lập. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) làm Trưởng ban, chịu trách nhiệm lo liệu công tác tổ chức ngày lễ Độc lập với một mệnh lệnh: “Đây là sự kiện lịch sử lớn kết thúc Cách mạng tháng Tám và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” kèm theo một lời khích lệ đầy tin tưởng: “Việc khó mới giao cho chú!”. Công tác chuẩn bị tổ chức ngày lễ Độc lập được tiến hành gấp rút, tất cả những người tham gia thực hiện nhiệm vụ cao cả ấy đều nỗ lực hết mình, làm việc suốt ngày đêm không mệt mỏi với tinh thần trách nhiệm cao.

Công việc dựng lễ đài bắt đầu từ ngày 28/8 và phải hoàn tất trong ngày 1/9. Theo dự tính, lễ đài phải đủ cao, đủ rộng để 2/3 số dân nội và ngoại thành Hà Nội tham dự có thể nhìn thấy. Là người có kinh nghiệm tổ chức nên ngay lập tức, ông Nguyễn Hữu Đang cho mời các kiến trúc sư để thiết kế lễ đài, đồng thời cho gọi thợ mộc thi công. Lễ đài mừng ngày Độc lập, công trình kiến trúc vĩ đại được làm bằng gỗ, ván, đinh và vải. Thời gian thiết kế và thi công vẻn vẹn trong vòng 48 giờ, yêu cầu chặt chẽ không được chậm trễ, nếu chậm 1 giờ là lỡ thời cơ công bố văn kiện “Tuyên ngôn Độc lập”. Và cuối cùng thì công việc cũng đã hoàn thành theo đúng dự kiến.

Và ngày mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mong đợi đã đến. Ngày 2/9/1945, khắp mọi nẻo đường, con phố trên Thủ đô Hà Nội đều tung bay cờ, hoa và khẩu hiệu chào đón sự kiện trọng đại có một không hai của dân tộc. Những ai có dịp chứng kiến giờ phút thiêng liêng của lịch sử sẽ không thể quên không khí, bối cảnh Quảng trường Ba Đình ngày lễ Độc lập năm ấy. Một biển người đứng chật Quảng trường rạng rỡ, hân hoan, náo nức, hồi hộp chờ đợi giây phút vị lãnh tụ kính yêu đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Họ giương cao cờ, hoa và biểu ngữ, môi nở nụ cười, miệng hát vang bài ca cách mạng. Rừng cờ tung bay phấp phới trước gió mùa thu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh Internet

Đúng 2 giờ chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ kaki giản dị bước lên lễ đài với tư cách là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời. Bằng giọng nói ấm áp, truyền cảm, Người đã đọc bản Tuyên ngôn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Cả biển người im lặng phăng phắc lắng nghe từng câu, từng chữ của Người. Trước toàn thể quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới, Hồ Chủ tịch đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Sau khi Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, toàn thể thành viên trong Chính phủ làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã trình bày tình hình trong nước và chính sách của Chính phủ. Tiếp đến là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo về việc Đoàn đại biểu Chính phủ đi tước ấn kiếm của Bảo Đại. Đại biểu Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Minh và hô hào quần chúng nhân dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ, thi hành triệt để chương trình kiến quốc của Việt Minh. Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh lên lễ đài một lần nữa, Người kêu gọi nhân dân kiên quyết hy sinh để giữ vững nền độc lập mới giành được. Lễ mít tinh đã chuyển thành một cuộc tuần hành rầm rộ trong thành phố.

Kể từ đây, một kỷ nguyên mới bắt đầu mở ra cho dân tộc ta: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân lao động sau những năm tháng nô lệ đã rũ bùn đứng lên trở thành con người tự do, người chủ của đất nước. Ba ngày sau đó, ngày 5/9/1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Sau lễ Tuyên bố độc lập, Quảng trường Ba Đình có tên mới là Quảng trường Độc lập. Những năm sau đó, cùng với bao thăng trầm, đổi thay của đất nước, Quảng trường Ba Đình cũng đã mấy lần đổi tên. Sau năm 1954, có ý kiến lấy tên là Quảng trường Độc lập nhưng Bác Hồ đề nghị giữ cái tên Ba Đình. Ngày Bác mất, Quảng trường Ba Đình lịch sử là nơi diễn ra lễ truy điệu Người. Sau này, Đảng và Nhà nước đã quyết định khởi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính tại lễ đài, nơi được dựng lên để Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình.

Quảng trường Ba Đình ngày nay. Ảnh Internet

Đã 66 năm trôi qua kể từ lễ Độc lập 2/9/1945, Quảng trường Ba Đình vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử, văn hóa cho đến tận ngày nay. Nơi đây đã chứng kiến bao sự kiện lớn, đánh dấu những bước trưởng thành của cách mạng nước nhà trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong suốt những năm qua, Quảng trường Ba Đình lịch sử thường xuyên được chọn là nơi để tổ chức các cuộc mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện trọng đại hoặc đón tiếp các đoàn khách quốc tế đến thăm Việt Nam. Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động chính trị – văn hóa lớn có ý nghĩa giáo dục truyền thống, đạo đức cho các thế hệ con cháu Lạc Hồng./.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Tầm vóc lịch sử và hiệu ứng xã hội của Cách mạng tháng Tám năm 1945

(TCTG) – Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc. Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã vùng dậy, lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ Dân chủ cộng hòa của Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, từ đây, Tổ quốc được độc lập, dân tộc và nhân dân ta được hưởng quyền tự do, hạnh phúc.

Ngót một thế kỷ với ách thống trị tàn bạo của đế quốc thực dân, nhân dân ta sống trong cảnh bị đọa đầy, đau khổ, bị chìm đắm trong những đêm dài tăm tối… đã chấm dứt. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vĩ đại làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ. Giải phóng để phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, mở ra những tiền đề và điều kiện để dân tộc ta chẳng những hồi sinh mà còn vững bước đi tới tương lai, trên con đường lớn của lịch sử Độc lập – Tự do và Hạnh phúc.

Là một cuộc cách mạng kiểu mới và điển hình trong một xã hội thuộc địa thực dân nửa phong kiến, Cách mạng tháng Tám, năm 1945 của Việt Nam được cổ vũ và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cách mạng tháng Mười Nga, năm 1917 và thời đại mới do chính cuộc cách mạng đó sinh thành. Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng chống đế quốc thực dân và phong kiến, đập tan mọi xích xiềng nô lệ, khẳng định những quyền cơ bản thiêng liêng của con người – quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Cách mạng đã thực hiện những quyền đó trên nền tảng của quyền tự quyết dân tộc, độc lập chủ quyền của dân tộc là cơ sở để thực hiện các quyền tự do, dân sinh và dân chủ của con người.

Tuyên ngôn Độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới đề cao dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng xã hội. Với con người – đó là quyền được tồn tại thực sự xứng đáng với những con người tự do, quyền được phát triển như một chủ thể nhân cách sáng tạo, ở đó, phẩm giá làm người được tôn trọng và những đè nén, áp bức, bất công làm nhục con người, thống trị dân tộc trong tình cảnh nô lệ bị xóa bỏ. Đi vào lịch sử và sống mãi với thời gian, Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, với ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Bản Tuyên ngôn ấy thực sự là Tuyên ngôn Lập quốc, Tuyên ngôn Dựng nước của dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại. Nó kế thừa truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta qua mọi triều đại, nó tiếp nối và phát triển sức sống mãnh liệt, giá trị và bản sắc văn hóa cũng như bản lĩnh chính trị của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để làm thăng hoa trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, chân lý và đạo lý Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự do, trong thời đại mới mang tên Thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuyên ngôn Độc lập mang tinh thần cách mạng triệt để, thấm đượm một triết lý phát triển đồng thời là thông điệp phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Đó là một áng thiên cổ hùng văn tiếp nối liền mạch với các áng thiên cổ hùng văn trước đó của ông cha ta với những âm hưởng hào sảng của Lý Thường Kiệt, dũng khí mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, trí tuệ và nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, trù tính định liệu việc lớn để an dân trị quốc của Nguyễn Huệ – Quang Trung.

Cách mạng tháng Tám đã dẫn tới Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Độc lập đã tổng kết và nâng cao tầm vóc của cuộc Cách mạng vĩ đại này, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn có vị trí và ý nghĩa xứng đáng trong lịch sử chính trị thế giới hiện đại. Lịch sử càng lùi xa, những tư tưởng, giá trị và những bài học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng chân chính do sức mạnh đoàn kết và sáng tạo của nhân dân làm nên càng trở nên sâu sắc và sống động.

Nhớ lại hơn 80 năm về trước, khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang ấp ủ những mầm mống sinh thành, trong tác phẩm nổi tiếng “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: Cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người còn nói rõ, muốn làm cách mệnh xã hội, trước hết phải cách mệnh chính bản thân mình đã.

Bởi thế, muốn cho cách mệnh thắng lợi và đến nơi (tức là triệt để) thì Đảng cách mệnh, người cách mệnh phải có chủ nghĩa làm cốt, phải giữ chủ nghĩa cho vững và phải ít lòng tham muốn (ham muốn) về vật chất.

Trong hình thức dung dị của ngôn từ, đây thực sự là những quan niệm, những định nghĩa kinh điển về cách mạng và nhân cách của người cách mạng.

Với tư cách là tư tưởng, đây thực sự là những tư tưởng lớn, những dự cảm sâu sắc, ở tầm chiến lược, được vạch ra bởi một thiên tài – kết tinh sâu sắc và tốt đẹp nhất những tinh hoa của dân tộc và thời đại. Thiên tài ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Thế kỷ XX – một thế kỷ anh hùng và bi tráng, thế kỷ đã sản sinh ra những cuộc cách mạng điển hình, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, tiếp nối bởi Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, Cách mạng 1949 của Trung Quốc cũng như Cách mạng Cuba những năm 60 và những cuộc cách mạng khác…

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo
Hội đồng Lý luận Trung ương
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Sức mạnh của lòng dân

Cách đây tròn 67 năm, dân tộc Việt Nam bắt đầu bước vào kỷ nguyên tự do, độc lập. Chính quyền non trẻ và nền độc lập của dân tộc Việt Nam được xác lập bởi sức mạnh vô song của lòng dân muôn người như một. “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết hợp thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn; nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.

Sự đúc kết bất hủ ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh những điển hình lịch sử trọng đại của đất nước như Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mà vẫn luôn mang ý nghĩa thời sự nóng hổi theo dòng chảy thời gian với biết bao thách thức thời cuộc trước khát vọng đưa quốc gia dân tộc tiến lên với thời đại.

Qua hàng ngàn năm lịch sử, nền độc lập và chủ quyền đất nước Việt Nam đã được gìn giữ bởi tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc. Ở những thời điểm ngặt nghèo của lịch sử, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn là mạch nguồn năng lượng to lớn hợp thành sức mạnh đưa dân tộc ta vượt qua bao thác ghềnh làm nên những trang sử vẻ vang. Thời điểm bước vào năm 1945, xét về mặt quân sự, lực lượng ngoại bang ở Việt Nam có đến con số hàng vạn quân cùng sự hậu thuẫn bộ máy cai trị của thực dân, phong kiến, trong khi chỉ có khỏang 5.000 đảng viên Cộng sản mà một số khá đông vẫn đang bị giam cầm trong tù ngục. Thế nhưng, lòng yêu nước đã quy tụ mọi tầng lớp trong xã hội dưới ngọn cờ độc lập dân tộc, trở thành sức mạnh chính trị to lớn, đập tan ách thống trị thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Bước ngoặt vĩ đại trong trang sử hào hùng của dân tộc được khắc ghi vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trang sử mới của dân tộc ta được minh thị bằng một Nhà nước hoàn toàn mới, được thiết lập, hòan thiện cơ chế vận hành cùng mục đích vận hành gắn liền với nguyên tắc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Đất nước Việt Nam hôm nay xứng đáng trở nên cường thịnh khi nguồn lực của hơn 86 triệu công dân được khơi dậy thỏa đáng để quốc gia vượt qua thách thức vươn lên kịp thời đại. Khát vọng ấy của dân tộc chỉ có thể hiện thực hóa khi nó gắn kết với lòng người hướng về một mối. Ấy là cơ sở hàng đầu kết nối năng lượng cả dân tộc thành một khối, trong một xã hội mà mỗi một người dân đều góp phần mình bằng những công việc thích hợp, hành động cụ thể vào công cuộc xây dựng quốc gia hưng thịnh. Sự đồng lòng của hơn 86 triệu người dân trong nước cùng hàng triệu kiều bào ta ở hải ngoại sẽ là nền tảng tạo nên sức mạnh để đất nước giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tận dụng thời cơ phát triển kinh tế, đồng thời là bức tường thành vững chắc nhất bảo đảm việc gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở những bằng chứng lịch sử, pháp lý, phù hợp với luật pháp quốc tế. Sự đồng lòng của cả dân tộc trước hết cần phải kiến tạo bởi những niềm tin xác đáng qua sự trải nghiệm thấu đáo bởi tiến trình phát triển của đất nước theo con đường do nhân dân lựa chọn ở thời đại mới. Cũng như sức mạnh của lòng dân trong tháng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám vẫn đang tích cực hậu thuẫn quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc ngăn chặn mặt trái của cơ chế thị trường cùng những thách thức cam go của quá trình hội nhập. Bên cạnh những thành tựu của sự nghiệp đổi mới trong mấy mươi năm qua, tuy đất nước đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp, nhưng tiềm ẩn sự phát triển thiếu bền vững dần bộc lộ vẫn đang tác động tiêu cực đến đời sống xã hội và tương lai của đất nước. Trong những năm qua, bên cạnh sự giàu có một cách hợp pháp của nhiều người do quy luật thị trường mang lại, không ít kẻ giàu lên nhờ những hành vi tham nhũng, chụp giật do lợi dụng sơ hở của cơ chế, khiến nhiều giá trị xã hội bị đảo lộn, tạo trở lực đối với yêu cầu của sự phát triển của quốc gia dân tộc. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang mới đây đã chỉ ra không ít thách thức đối với hiện tình đất nước: “Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”… Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”. Sự thẳng thắn của người đứng đầu Nhà nước đã và đang đồng cảm với nhiều tầng lớp nhân dân trong nỗi ưu tư trăn trở về một nền quản trị quốc gia hữu hiệu nhằm bảo vệ hiệu quả lợi ích của xã hội, bảo đảm lợi ích tối thượng của dân tộc phù hợp với xu thế của thời đại.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cùng thắng lợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta là những dấu ấn trọng đại của lịch sử, minh chứng về sức mạnh cộng hưởng lòng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vì mục tiêu độc lập dân tộc. Sức mạnh của lòng dân là chân lý chắc chắn sẽ tiếp tục được soi sáng bằng năng lượng tinh hoa của thời đại để cả dân tộc viết tiếp những trang sử hào hùng mới trên con đường cách mạng đưa đất nước tiến về phía trước. Để hôm nay và mai sau, nền độc lập dân tộc tiếp tục bừng nở những ý nghĩa nhân văn mà tất cả người dân đất Việt đều xứng đáng được thụ hưởng thành quả của các giá trị tốt đẹp “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Chu Ninh
daidoanket.vn