Thư viện

Đỉnh cao của tư tưởng thời đại và ý thức dân tộc

Bản Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – trịnh trọng đọc tại Quảng trường Ba Đình trước hàng chục vạn nhân dân thủ đô, với toàn thể quốc dân đồng bào, cũng là trịnh trọng tuyên bố với nhân dân thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập, trước hết là tuyên ngôn chính trị khẳng định quyền độc lập của dân tộc Việt Nam, cũng là áng văn chương bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói lên niềm hân hoan về khát vọng độc lập, tự do của dân tộc đã trở thành hiện thực; cũng là khát vọng của hàng triệu triệu nhân dân thế giới bị áp bức đã và đang đấu tranh cho quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do của nhân dân. Nhưng do bản tuyên ngôn mở đầu bằng trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, nên không phải ai cũng thấu hiểu hết sự kết tinh đỉnh cao của tư tưởng thời đại và ý thức quật cường dân tộc của dân tộc Việt Nam.

Câu mở đầu trích dẫn “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng… có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Tuyên ngôn Độc lập Mỹ); “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp); đồng thời cũng chứa đựng tư tưởng cốt yếu nhất Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người, thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”… được Nguyễn Ái Quốc vận dụng đưa vào Chánh cương vắn tắt của Đảng 1930 là làm cách mạng dân tộc giải phóng tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, tính tư tưởng thời đại của bản tuyên ngôn đã vận dụng nhuần nhuyễn tư tưởng Cách mạng tư sản Pháp, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và Chánh cương vắn tắt khi thành lập Đảng, là sự kế thừa phát triển từ thấp tới cao tư tưởng tiến bộ và cách mạng của thời đại. Cùng với đó, Tuyên ngôn Độc lập cũng kế thừa tinh túy, nhuần nhuyễn ý thức của dân tộc được thể hiện trong các tuyên ngôn của các anh hùng dân tộc: “Đất nước Nam, người nước Nam ở” (Lý Thường Kiệt); “Nước Đại Việt ta xưng nền văn hiến đã lâu, Cõi bờ sông núi đã riêng… Trải Đinh, Lê, Lý, Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương” (Lê Lợi – Nguyễn Trãi); “Đánh cho biết nước Nam có chủ” (Quang Trung), đến “Dù phải đốt cả dãy Trường Sơn, cũng quyết giành cho được độc lập, tự do” được kết tinh thành chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (Hồ Chí Minh).

Sự gặp gỡ thần kỳ và hòa quyện nhuần nhuyễn tư tưởng thời đại với ý chí quật cường của dân tộc đã tạo nên bản Tuyên ngôn Độc lập thần kỳ, trở thành mục tiêu và sức mạnh bất diệt của dân tộc trong giải phóng dân tộc, đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đã và đang là sức mạnh tinh thần vô địch của nhân dân ta trong xây dựng “Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” và nghị lực phi thường bảo vệ vững chắc non sông gấm vóc, thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ cho các thế hệ người Việt Nam ta: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Đan Tâm
laodong.com.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Niềm tin và chân lý đưa chúng ta đến thành công (17/08/2012)

Tôi sinh ra vào những năm đầu của nền dân chủ cộng hoà nên tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 như ngấm vào trong máu, trong máu của cha mẹ mà truyền sang cho mình. Có lẽ không chỉ riêng tôi mà cả thế hệ những người sinh ra vào thời kỳ ấy đều như thế. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm! không chỉ là khẩu hiệu mà là xương thịt tạo nên cái hình hài của cả thế hệ chúng tôi, cái thế hệ đã tiếp bước cha ông, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo chân Bác, thế hệ ấy nhiều người đã vĩnh viễn ra đi, chỉ để lại một tinh thần bất diệt : Không có gì quý hơn độc lập tự do! cái tinh thần được khởi nguồn từ tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9!

Nhân dân Hà Nội chiếm phủ Khâm Sai ngày 19-8-1945

Ảnh: TL

Những người còn lại như chúng tôi, đa phần trở về với cuộc sống hoà bình với tư cách là một công dân nước Việt Nam độc lập, hoà bình và thống nhất; một phần tham gia vào hệ thống chính trị với cương vị là những cán bộ từ cơ sở đến trung ương, nhiều người giữ trọng trách trong bộ máy chính quyền của dân, do dân và vì dân. Dù ở cương vị nào thì tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 vẫn chảy trong huyết quản mà làm nên sức mạnh vượt qua mọi thử thách để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức cam go. Đất nước đã có Hoà bình, Độc lập, Thống nhất và Tự do; nhưng Dân chủ và Giàu mạnh trên con đường phát triển còn gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ bởi lực cản hữu hình và vô hình trong và ngoài nước. Những lực cản ấy từ bên ngoài không trực tiếp như thời kỳ chống đế quốc, thực dân xâm lược, nhưng cũng không kém phần nguy hiểm và tiềm ẩn những thử thách cam go dài lâu. Tuy nhiên, so sánh tương quan lực lượng giữa kẻ chống đối và người ủng hộ, thì lực lượng ủng hộ chúng ta, ủng hộ Hoà bình, Độc lập, Thống nhất, Tự do, Dân chủ và Giàu mạnh của Việt Nam trên trường quốc tế lớn hơn bao giờ hết. Dẫu còn muôn vàn khó khăn để đối phó với lực cản bên ngoài, nhưng xét về mọi phương diện chính trị, kinh tế, quân sự và hợp tác quốc tế trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta không thể có thuận lợi trong thế so sánh ta và địch như trong tình thế hiện nay. Khi ấy giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm cùng một lúc hoành hành như muốn nhấn chìm nền Cộng hoà Dân chủ vừa mới ra đời của chúng ta! Khi ấy cách mạng Trung Quốc còn chưa thành công, Liên Xô (cũ) mãi đến năm 1950 mới công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, vậy mà Nhà nước công nông của chúng ta vẫn đứng vững, kháng chiến trường kỳ vẫn thành công! Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 bất diệt trong mỗi trái tim người Việt Nam ta đã làm nên sức mạnh thần kỳ ấy!

Như vậy lực cản lớn nhất xét về tổng thể không còn nằm ở cái bên ngoài mà là ở cái bên trong, cái tồn tại trong mỗi con người chúng ta hôm nay. Sức ì của tư duy cũ, sức ì của quán tính cũ, thói quen cũ vẫn đang là lực cản không nhỏ của chính chúng ta mặc dù nó đã được hạn chế, tước bỏ đi nhiều trong quá trình đổi mới hơn hai mươi năm qua. Thêm vào đó, những căn bệnh mới mà mặt trái của kinh tế thị trường đem đến là thói tham lam, ích kỷ, hám tiền, trục lợi dẫn đến quốc nạn tham nhũng đang ngày đêm sói mòn niềm tin của nhân dân, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội tăng lên làm suy giảm nghiêm trọng sức mạnh đoàn kết của dân tộc. Cuộc đấu tranh ai thắng ai đang diễn ra hết sức quyết liệt trong mỗi con người chúng ta. Cái thiện, cái ác, cái tốt, cái xấu đan xen trong mỗi chúng ta, trong mỗi cơ quan, tổ chức, đoàn thể và xã hội ta! Cái nào sẽ thắng, bản thân chúng ta nhiều khi cũng mơ hồ chưa rõ, bởi kẻ địch không hiện nguyên hình trước ta mà lẩn trốn ngay trong ta. Chỉ lơ là thiếu tinh thần cách mạng một thoáng thôi, chúng ta có thể làm hỏng những người đồng chí vốn trung kiên, năng động và có thể đã có nhiều công trạng trong quá khứ. Chỉ buông thả trong khoảnh khắc, cái xấu đã lôi ta lút vào con đường tăm tối của danh lợi, quyền chức, bạc tiền đến nỗi muốn quay đầu cũng chẳng còn đơn giản nữa. Chúng ta đã được các nhà cách mạng tiền bối cảnh báo “viên đạn bọc đường” với sức tàn phá còn hơn cả bom đạn, vậy mà để tránh nó vẫn là vấn đề hết sức nan giải. Loại đạn này không từ bất kỳ ai, kể cả những người ở ngôi vị quyền cao, chức trọng, kể cả những người đã dạn dày kinh nghiệm trong chính trường hay trong thương trường. Cái độc hại của nó hơn cả bom đạn vì nó gặm nhấm tâm hồn và trái tim con người. Làm cho bản chất người suy giảm trong ta đến khi tỉnh ngộ thì thân đã tàn, lực đã kiệt, khó bề chống đỡ. Khi ấy liệu ta có dũng cảm tự nguyện hy sinh như khi xưa nơi chiến địa chống quân thù?! Thật vô cùng khó, bởi hình như trong lịch sử nó là chuyện cực kỳ hiếm gặp! Như vậy, chẳng phải bi kịch lắm sao khi cái thân ta tồn tại lại như mảnh đất màu mỡ để lây truyền căn bệnh vốn hiểm nguy cho cộng đồng, làm giảm đi sức sống mà chính cha anh ta và bản thân ta đã góp phần làm nên trong lịch sử, đó là Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm! Nhân dân ta, dân tộc ta, Đảng ta với kinh nghiệm xương máu của mình nhất định không để bất kỳ kẻ thù nào dù ngoại xâm hay ” nội xâm” khuất phục. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 đang thực sự sống động trong toàn Đảng, toàn dân ta trong đợt sinh hoạt chính trị đặc biệt này!

Trước tiên, phải nói đến các đồng chí trong Bộ Chính trị. Các đồng chí đã thể hiện một tinh thần tiên phong cách mạng, đi đầu trong khó khăn, gian khổ, gương mẫu thực hiện phê bình và tự phê bình, mở đầu cho việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chỉnh đốn, xây dựng Đảng. Đợt sinh hoạt chính trị đặc biệt này diễn ra đúng dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9, phải chăng là sự khẳng định quyết tâm cao độ vượt lên chính mình của tất cả các Uỷ viên Bộ Chính trị, những người hơn ai hết, trước tiên nhất đã, đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đạo đức cách mạng sáng ngời Hồ Chí Minh chính là niềm tin vào nhân dân vĩ đại. Niềm tin Hồ Chí Minh là niềm tin của bậc chí nhân, chí dũng, chí tín: Tin người để người tin mình. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám là minh chứng lịch sử sinh động cho niềm tin ấy! Chính niềm tin vào nhân dân mà với hơn năm ngàn đảng viên hoạt động công khai ở một số vùng nông thôn, còn trong các thành phố lớn là hoạt động bí mật, Đảng đã phất cờ cách mạng, lãnh đạo toàn dân ta làm nên thắng lợi thần kỳ, giành chính quyền trong cả nước, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chủ tịch đọc trước quốc dân đồng bào tại quảng trường Ba Đình đã đi vào lịch sử như một mốc son sáng ngời trong lịch sử dân tộc. Bộ máy trung ương của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không chỉ có những người cộng sản mà còn có nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, thậm chí có cả những phần tử chống đối cách mạng. Ngay sau đó, để phù hợp với yêu cầu của cách mạng, Đảng ta đã tự giải tán và hoạt động trên danh nghĩa chỉ là Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Vậy mà Nhà nước dân chủ cộng hoà non trẻ vẫn vững vàng trong điều kiện ” ngàn cân treo sợi tóc”. Nhà nước ấy chẳng những tồn tại vững vàng mà còn cùng dân tộc trường kỳ kháng chiến và lập nên nhiều chiến công vang dội. Cho đến năm 1951 Đảng mới chính thức công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam để lãnh đạo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, tiếng bom đầu tiên báo hiệu sự sụp đổ của chế độ thực dân kiểu cũ ở Đông Dương và trên toàn thế giới. Rõ ràng lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho ta bài học vô cùng quý giá là : dù công khai hay bí mật, thậm chí không còn trên danh nghĩa, nhưng Đảng còn sống trong lòng dân, thì Đảng còn lãnh đạo cách mạng. “Đảng không có quyền lợi nào khác là quyền lợi của nhân dân” thì nhân dân mãi mãi vẫn tin vào Đảng, mãi mãi vẫn đi theo Đảng bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh! Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định quyết tâm của Bộ Chính trị, của toàn Đảng triển khai tích cực và có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quyết tâm cao của toàn Đảng chính là sự tiếp nối sinh động tinh thần Cách mạng Tháng Tám và 2 – 9! Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh : ” Không làm tốt vấn đề này là có tội với nhân dân” là sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng tin vào sức mạnh vô địch của nhân dân ” khó trăm lần dân liệu cũng xong”!

Đúng là khó khăn đang chồng chất khó khăn. Chính phủ đang cố gắng hết sức để khắc phục hậu quả của suy thoái kinh tế và các tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, tham nhũng và các tệ nạn xã hội vẫn chưa giảm lại có phần tinh vi hơn, táo tợn và tàn bạo hơn! Lương và các khoản trợ cấp xã hội được điều chỉnh theo hướng nâng cao đời sống của nhân dân chưa đủ bù vào sự tăng giá đồng loạt của các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu cho đời sống con người. Biển Đông lại đang dậy sóng bởi những toan tính hẹp hòi, thủ cựu và nguy hiểm. Thế hệ chúng tôi nay cũng đã già rồi. Những người trẻ nhất cũng đã ngoài 60 tuổi. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay cũng đã 67 năm. Trách nhiệm xây dựng đất nước Hoà bình, Thống nhất, Độc lập, Dân chủ và Giàu mạnh chắc chắn phải trông vào thế hệ sau chúng tôi!

Nhìn vào những gương mặt trẻ trung, tươi vui mà quyết đoán, của những người lính Trường Sa; những gương mặt tự tin của các phi công trên các chiếc SU hiện đại; những gương mặt sạm nắng gió mà vẫn sáng vẻ thông minh, sáng tạo của những người thợ trên dàn khoan dầu nơi đầu sóng ngọn gió; nhìn những gương mặt xinh tươi, tinh nghịch, nhanh nhẹn, tự tin của các cô gái trên đồng ruộng, đồi nương…những người đã làm nên hàng triệu tấn gạo, hàng chục vạn tấn cà phê và các nông sản khác, đưa Việt Nam thành quốc gia có trách nhiệm quan trọng về an toàn lương thực trong cộng đồng thế giới! …Tất cả những gương mặt trẻ ấy là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần vững chắc của thế hệ chúng tôi và của toàn Đảng, toàn dân ta. Dòng chảy lịch sử, dòng chảy cuộc sống vẫn tiếp nối như mạch nguồn vô tận Việt Nam mỗi khi gặp gian nguy lại kết thành làn sóng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Lớp sau tiếp lớp trước thành hàng ngàn lớp sóng trùng trùng cuốn phăng mọi lực cản trên con đường Độc lập, Tự do của dân tộc, ấm no và hạnh phúc của nhân dân.

Niềm tin ấy là sự thật, là chân lý sáng ngời bởi Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm!

TS. Nguyễn Viết Chức
(Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục,
Thanh thiếu niên – nhi đồng của Quốc hội khoá XI)
daidoanket.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Suy ngẫm về đạo đức của người lãnh đạo với sự tồn vong của đất nước

Hiện nay chúng ta đang thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4, khoá XI cùng với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong không khí sôi động kỷ niệm 67 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9. Trước vận hội và cả vận mệnh của dân tộc hôm nay khiến chúng ta cần suy ngẫm về những bài học lịch sử mà dân tộc ta đã trải qua hơn 60 năm qua.

Đảng ta chỉ có non 5.000 đảng viên mà lãnh đạo được
nhân dân cả nước làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi

Ảnh: TL

Bài học lịch sử cũng là câu trả lời cho một vấn đề đặt ra: Vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam mới ra đời 15 năm đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công và sau đó trước vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, trước sự phá hoại của các nhóm người phản lại lợi ích dân tộc, chống phá Nhà nước dân chủ cộng hoà mà nền độc lập dân tộc và chế độ mới vẫn tồn tại, vẫn đứng vững và lớn mạnh. Điều này đã được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh lý giải sâu sắc. Trong Diễn văn tại Lễ mừng Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1946) tổ chức tại Paris (Pháp) Người nói: “Chính sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hoà của mình”. Sự đoàn kết đó được một đảng cách mạng chân chính lãnh đạo đã đem lại thành công. Trong Bài nói tại Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Từ ngày ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp (…). Trong 15 năm đấu tranh trước Cách mạng Tháng Tám và trong tám, chín năm kháng chiến, biết bao đảng viên ưu tú và quần chúng cách mạng đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh một cách cực kỳ oanh liệt (…). Hồi khởi nghĩa, Đảng ta chỉ có non 5.000 đảng viên mà lãnh đạo được nhân dân cả nước làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi”. “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác” – Người kết luận:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng núi cao
Ba mươi năm phấn đấu biết bao nhiêu tình
Đảng ta là đạo đức, là văn minh
Là thống nhất, độc lập, hoà bình ấm no”.

Nhìn từ góc độ đạo đức, chúng ta thấy rằng chính phẩm chất đạo đức cao cả của Đảng và của các đảng viên đã tạo nên sức hấp dẫn đối với nhân dân, tập hợp nhân dân đoàn kết toàn dân để tiến hành đấu tranh giành được thắng lợi và bảo vệ được thành quả cách mạng.

Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức của Đảng – người lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đồng thời là người “cầm quyền” nắm vận mệnh của đất nước. Từ năm 1968, khi chỉ đạo viết sách Người tốt việc tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu rơi vào chủ nghĩa cá nhân”.

Bài học về sự thất bại của Đảng Cộng sản Liên Xô càng giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về lời cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảng Cộng sản Liên Xô (tiền thân là Đảng Bônsêvích Nga) khi mới có 2 vạn đảng viên đã lãnh đạo nhân dân Nga làm Cách mạng Tháng Mười thành công, một sự kiện vĩ đại làm “rung chuyển thế giới”, đến khi có 2 triệu đảng viên lãnh đạo cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, chiến thắng phát xít Đức, cứu nhân loại khỏi hoạ phát xít. Thế nhưng khi có 20 triệu đảng viên thì Đảng Cộng sản Liên Xô không giữ nổi Nhà nước Liên Xô, không giữ nổi chế độ xã hội chủ nghĩa và đi đến tan rã. Tổng kết bài học lịch sử của Đảng Cộng sản Liên Xô, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên bang Nga ngày nay đã viết: “Không giữ được Liên Xô, trước hết là vì Đảng Cộng sản Liên Xô đã bị huỷ hoại bởi độc quyền về quyền lực, tham vọng giành cho mình độc tôn chân lý và sự quá tin tưởng vào tính tất yếu của một hình thái sở hữu duy nhất”. Nguyên nhân đó không chỉ là vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội mà còn là vấn đề đạo đức. Độc quyền chân lý là kiêu ngạo; độc tôn quyền lực là áp đặt; độc tín hình thức công hữu là thiếu dân chủ đối với các thành phần kinh tế khác và lợi dụng chế độ công hữu để tham nhũng, lãng phí… Đây là bài học lịch sử đương đại.

Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn xây dựng đất nước độc lập, tự chủ và xây dựng chế độ phong kiến cũng để lại nhiều bài học tích cực, có ý nghĩa đạo đức đối với người lãnh đạo, người cầm quyền. Đó là người cầm quyền phải vì quyền lợi của nhân dân, của đất nước và phải tôn trọng nhân dân – cái gốc của đạo đức. Đó là cái nhân, cái nghĩa của người lãnh đạo: “Nhân nghĩa duy trì thế nước an”, “Có nhân nghĩa có anh hùng” (Nguyễn Trãi).

Chính vì vậy, Lý Thái Tổ trong Chiếu dời đô đã khẳng định: “Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì đổi dời”. Lý Thường Kiệt trong Lộ bố văn (đánh quân Tống) cho rằng: Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khẳng định: Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, là quốc sách giữ nước. Nguyễn Trãi ao ước người cầm quyền: Chăm nuôi dân chúng khiến cho thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng hờn giận oán hờn, hoà bình là gốc của nhạc (yên ổn, tốt đẹp). Vua Lê Thánh Tông – ông vua có công xây dựng đất nước và đưa chế độ phong kiến đến cực thịnh – cũng tâm niệm rằng: “Thương yêu dân chúng, kính trời xanh”. Vua Minh Mạng thời Nguyễn đã ý thức rằng: “Người làm chính trị không thể làm trái ý chí của nhân dân”, “Dân là gốc nước, bởi vậy phải yêu cái dân yêu và ghét cái dân ghét”. Không những thế ông còn dạy những quần thần phải tôn trọng dân và không được hà hiếp dân. Ông mắng Diên Khánh Công vì đã bắt người trái phép: “Dân là gốc nước, dân không yêu thì người có thể hưởng giầu sang được không?”. Đây là những bài học trong truyền thống lịch sử dân tộc.

Hiện nay, trong Đảng đang có sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, “kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp” và theo nhận định của Giáo sư Lưu Văn Đạt – Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – đăng báo Thanh Niên ngày 29-6-2012 bắt đầu có sự đối lập hoàn toàn “giữa nhân dân với chính quyền”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã cảnh báo về nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ và được đề cập trực diện trong Nghị quyết TƯ 4 khoá XI. Điều đó càng làm cho chúng ta phải suy ngẫm về vấn đề vai trò của đạo đức người lãnh đạo (người cầm quyền) có ý nghĩa to lớn liên quan tới sự tồn vong của đất nước và chế độ như thế nào? Và phải thực sự thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. (Di chúc). Giữ gìn sự liêm chính, giữ gìn đạo đức cách mạng ấy cũng là cách thiết thực giữ vững thành quả cách mạng mà cha ông chúng ta đã giành được từ 67 năm trước.

PGS,TS. Lê Quý Đức
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Mặt trận: Đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại

Cứ đến thời điểm này chúng ta lại bồi hồi nhớ về những ngày mùa thu tháng Tám lịch sử cách đây 67 năm khi nhân dân ta đồng loạt tiến lên giành chính quyền làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám. PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc (Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) đã dành cho Đại Đoàn Kết cuộc trao đổi xung quanh vai trò của Mặt trận Việt Minh (MTVM) trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như làm thế nào để tiếp nối truyền thống cha anh trong giai đoạn hiện nay.

Thưa ông, để làm nên chiến thắng hào hùng như vậy là nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc mà lực lượng tập hợp sức mạnh ấy là MTVM. Ông có thể nói rõ vai trò của MTVM trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước?

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc: Có thể nói Cách mạng tháng Tám là kết quả của 15 năm đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đó là sự tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong đó vai trò của MTVM là rất quan trọng. Tại sao tôi lại khẳng định vai trò lịch sử của MTVM? là bởi, trong 15 năm đấu tranh cho đến Cách mạng tháng Tám, Đảng của chúng ta có chưa đến 5 nghìn đảng viên. Vậy thì lực lượng chính làm nên chiến thắng này chính là quần chúng nhân dân chứ chỉ có mình Đảng thì không thể làm được. Và lực lượng tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc chính là MTVM.

Như vậy, MTVM đã nhận trọng trách quan trọng đó là tập hợp sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh giành chính quyền. MTVM có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ Tổng bộ Việt Minh trên Trung ương đến Ủy ban Việt Minh các tỉnh, các huyện, làng, xã cho đến các nhà máy hầm mỏ đều có tổ chức của MTVM. Thậm chí MTVM có lúc còn làm chức năng của chính quyền cách mạng ở vùng căn cứ địa. Đặc biệt, cương lĩnh hoạt động của MTVM rất rõ ràng, có chương trình 10 điểm cụ thể hóa đường lối của Đảng, cho nên sự gắn kết giữa MTVM và Đảng nhiều khi hòa quyện vào nhau. Ở giai đoạn lịch sử đó, Đảng lãnh đạo hoạt động nhưng lại hoạt động bí mật còn MTVM thì tập hợp rộng rãi quần chúng cho nên sự gắn kết Đảng và Mặt trận là thành công rất lớn của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc chặng này. Thậm chí quần chúng còn cho rằng MTVM như là Đảng vì vai trò Mặt trận cao cả và thiêng liêng như vậy.

Vậy thì ngày nay, ở một giai đoạn lịch sử mới MTVM thuở trước nay là MTTQ Việt Nam cần làm gì để phát huy hơn nữa vai trò của MTTQ trong việc tập hợp sức mạnh của nhân dân làm nên những thành công lớn trong công cuộc xây dựng đất nước?

Đánh giá một cách khái quát hệ thống MTTQ vẫn làm đúng vai trò tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là chiếc cầu nối giữa Đảng với nhân dân. Thật ra, mọi sự so sánh sẽ đều trở nên khập khiễng nếu ta đem 2 giai đoạn lịch sử ra để so bì. Dù vậy theo ý kiến chủ quan của tôi vai trò của MTTQ hiện nay không được mạnh mẽ như MTVM thưở trước. Tại sao lại như vậy, bởi trong điều kiện chúng ta giành được độc lập rồi mọi hoạt động sẽ rất khác thời đại chúng ta phải cố gắng hết sức để giành lại chính quyền. Giờ hòa bình rồi, chúng ta bước vào công cuộc dựng xây đất nước, vai trò tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc sẽ khác trước.

Hiện nay, Luật quy định vai trò của Mặt trận thế nào cứ thế thực hiện cho đúng. Ngoài tuân thủ đúng luật còn rất nhiều chính sách cụ thể cần tiếp tục hoàn thiện. Đặc biệt Mặt trận phải đổi mới phương thức hoạt động cho hợp với giai đoạn lịch sử mới. Theo tôi, dù thế nào Mặt trận cũng cần chấm dứt tình trạng trì trệ, hành chính hóa. Phải “xông” vào những vấn đề cụ thể để vận động nhân dân; để huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết dân tộc. Tôi nhấn mạnh lại dù bất kỳ thời đại nào hệ thống Mặt trận vẫn phải xác định mình là cơ quan gần dân nhất phải nói lên tiếng nói của nhân dân và tập hợp khối đoàn kết dân tộc. Muốn làm được điều này có lẽ bài học của MTVM trước đây trong việc tập hợp sức mạnh của nhân dân làm nên những chiến thắng vĩ đại trong lịch sử những người làm công tác Mặt trận hiện tại phải nghĩ một cách nghiêm túc những bài học lịch sử này để xây dựng phương thức hoạt động của MTTQ tốt hơn. Theo tôi, phải cải cách phương thức hoạt động của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể. Không thể hoạt động theo lối hành chính, biến Mặt trận, đoàn thể làm việc kiểu công chức được. Mặt trận phải là cơ quan đại diện quyền làm chủ của dân, tất nhiên phương thức hoạt động phải khác không giống cơ quan hành chính. Phải suy nghĩ phải xuống dân thế nào, gắn với dân thế nào để vận động đúng hướng. Vừa rồi tại Đại hội XI, Đảng đã nhấn mạnh vai trò Mặt trận, đoàn thể thông qua việc thực hiện 2 chức năng phản biện xã hội và giám sát thì Mặt trận phải làm cho được hai chức năng này.

Thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội và giám sát nói thì dễ nhưng làm thì chẳng dễ chút nào, thưa ông?

Thực tế có chuyện cấp dưới ngại tố cáo cấp trên vì sợ bị trù dập. Cũng có chuyện trong quá trình giám sát dù đã phát hiện ra sai phạm nhưng người ta cũng không nói ra vì những lý do rất “riêng”. Có lẽ vì lý do này đã cản đường một số cán bộ làm công tác Mặt trận làm họ không dám nói lên tiếng nói của nhân dân. Nhưng tôi nghĩ giai đoạn cán bộ “nể nang” nhau chuẩn bị chấm dứt. Bởi Đảng đã thừa nhận “có một bộ phận không nhỏ” cán bộ thoái hóa biến chất… và tiến hành phê bình, tự phê bình nghiêm túc trong Đảng. Đợt tự phê bình và phê bình này được tiến hành ở tất cả các cấp. Nếu kiểm điểm nghiêm túc sẽ bật ra anh nào có bản lĩnh, có trình độ, có phẩm chất, còn anh nào có sai phạm nghiêm trọng sẽ bị đào thải. Như vậy, đợt kiểm điểm này sẽ là thời cơ rất lớn để phát huy dân chủ trực tiếp và cán bộ Mặt trận yên tâm làm công tác phản biện nếu chính kiến của anh đúng. Tôi cho rằng, đây là thời điểm “vàng” để cán bộ Mặt trận làm tốt công tác phản biện và giám sát. Nếu làm tốt 2 công tác này thì tiếng nói, vai trò Mặt trận tự nhiên sẽ được nâng cao.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Khánh Ly (thực hiện)
daidoanket.vn

Cách mạng Tháng Tám 1945 và những bài học còn nguyên giá trị

67 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc… Diễn ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, nhưng Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chuẩn bị chớp thời cơ, tạo thế và lực

Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (3-9-1939), tình hình quốc tế và trong nước biến chuyển biến hết sức mau lẹ và từ tháng 11-1939, Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược cho phù hợp với tình hình. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trở về nước, kịp thời chuẩn bị, tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (họp từ ngày 10 đến 19-5-1941). Hội nghị đã dự báo một cách chính xác về cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 cùng hệ lụy của nó: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó cách mạng nhiều nước thành công”[1]. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị quyết định hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng và khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”, vì vậy “trong lúc này quyền lợi của bộ phận của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”.

Để phát huy tối đa sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần dân tộc, thì một trong những quyết định quan trọng nhất, trực tiếp liên quan đến việc củng cố khối đoàn kết dân tộc, chuẩn bị lực lượng cho cuộc vùng lên tự giải phóng, chính là quyết định thành lập mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh (Việt Minh). Tuyên ngôn của Việt Minh tuyên bố: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”[2]. Sự ra đời, phát triển của mặt trận Việt Minh không chỉ trở thành hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, mà còn đánh dấu một bước ngoặt trong đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, nhằm mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ nguồn sức mạnh nội lực của toàn dân tộc cho một cuộc vùng lên vĩ đại.

Không chỉ biến khối sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc trong Mặt trận Việt Minh thành một tổ chức có sức chiến đấu cao, Đảng ta, với sự phân tích chính xác, khoa học mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, đã dự báo sớm xảy ra cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, kịp thời vạch ra kế hoạch hành động khi dự báo về cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương: “Bóc trần mưu gian của đế quốc Nhật! Thống nhất hành động đánh đổ thù chung!” (bài viết của Tổng Bí thư Trường Chinh, đăng trên Báo Cờ Giải phóng, số 3, ngày 15-2-1944). Vì thế, ngay trong đêm Nhật – Pháp bắn nhau (9-3-1945), Hội nghị Thường vụ mở rộng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh, đã họp và ra ngay Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945. Bản Chỉ thị được cấp tốc in hàng nghìn bản và theo những đường dây bí mật chuyển đi các nơi. Trong Bản Chỉ thị đó, Ban Chấp hành Trung ương, ngoài việc xác định kẻ thù mới và đề ra khẩu hiệu đấu tranh mới, còn dự báo khả năng để nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước: Một là khi quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật và hai là khi Nhật đầu hàng Đồng minh.

Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, giành chính quyền

Từ năm 1945, quân đội Xô Viết ngày càng giành được nhiều thắng lợi, giải phóng hàng loạt nước ở Châu Âu và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức ở Béc-lin…và ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, đẩy quân đội Nhật vào tình thế thất bại. Ngày 13-8-1945, Nhật Hoàng đã chấp nhận đầu hàng Đồng Minh. Tin đó đến với lãnh tụ Hồ Chí Minh qua bản tin đài BBC mà Người nghe được ở lán Nà Lừa, Tân Trào (Tuyên Quang). Lúc này, thời cơ có một không hai đã đến, vì vậy, dù đang ốm rất nặng, Người vẫn nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp rằng: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập!”. Không chậm trễ, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp đã quyết định thông qua kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1 và khẳng định: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà… Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!… Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”.

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 16-8, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã nhất trí thông qua đề nghị Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, và thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc. Sáng ngày 17-8, các thành viên trong Uỷ ban giải phóng dân tộc vừa được Đại hội bầu đã ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ trước sân đình Tân Trào. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên Quốc kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đọc lời tuyên thệ.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ.

Cũng trong ngày 17-8, cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa. Sáng ngày 19-8, theo lời hiệu triệu của Việt Minh, với rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội xuống đường, tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mít tinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh, biến cuộc mít tinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn….Ngày 19-8 trở thành mốc son lịch sử thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội.

Từ Hà Nội, làn sóng cách mạng tiếp tục toả đi khắp nơi, nhân dân cả nước đã nhất tề vùng dậy đấu tranh giành chính quyền. Cùng ngày, ở các tỉnh lỵ Yên Bái, Phúc Yên, Thái Bình, Thanh Hóa, Khánh Hòa đã liên tiếp khởi nghĩa thành công. Từ ngày 20/8 – 28/8, trên khắp các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi (Huế đã khởi nghĩa ngày 23-8, Sài Gòn khởi nghĩa ngày 25-8). Ngày 30-8, Hoàng đế Bảo Đại – vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho cách mạng, kết thúc sự trị vì của triều đại phong kiến này.

Tổng khởi nghĩa đã thành công. Chuẩn bị tốt và chớp đúng thời cơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng do Hồ Chí Minh đứng đầu, trong vòng khoảng hai tuần lễ, làn sóng biểu tình chính trị mạnh mẽ của hàng triệu quần chúng, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã nhanh chóng lật đổ chính quyền tay sai thân Nhật, lập ra chính quyền cách mạng.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của nước Việt Nam mới bắt đầu! Ba ngày sau đó, ngày 5-9-1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Những bài học còn nguyên giá trị

66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Khát vọng độc lập, tự do, cùng với một đường lối chính trị đúng đắn và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ, góp phần làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kiến lập ra một Nhà nước Việt Nam mới. Diễn ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, nhưng Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn với CNXH, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cùng với thời gian, những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị thời sự:

Bài học về nắm bắt thời cơ

Trên cơ sở đường lối đúng đắn, luôn theo dõi, bám sát những biến đổi của tình hình thế giới, trong nước, chủ động, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, chuẩn bị đón thời cơ, lãnh đạo và chỉ đạo quần chúng nhân dân tận dụng thời cơ thuận lợi của tình hình trong nước và quốc tế để giành thắng lợi là bài học nổi bật nhất về sự lãnh đạo của Đảng ta trong Cách mạng tháng Tám. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, Đảng không những phải phát huy những kinh nghiệm và bài học quý báu đó, mà còn phải luôn xây dựng và chỉnh đốn, luôn trong sạch, vững mạnh, đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, để xứng đáng với vai trò tiền phong – lãnh đạo – quyết định – không thể thay thế của Đảng trong sự phát triển đi lên của dân tộc.
Bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 là một minh chứng hùng hồn trong thực tiễn, khẳng định vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cách mạng, của khối đại đoàn kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, với các hình thức vận động, tập hợp và quy tụ quần chúng phù hợp, hoạt động hiệu quả. Đặc biệt, các hình thức Mặt trận, trong đó Mặt trận Việt Minh “coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do độc lập”[3], với các tổ chức quần chúng nhưPhụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc,v.v.. đã không chỉ quy tụ, mà còn là nơi các tầng lớp nhân dân tham gia tham đóng góp sức mình vào công việc của nước nhà. Với ý nghĩa đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay phải tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phải đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tổ chức, để phát huy vai trò, nhất là giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, nắm vững thời và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới và hội nhập. Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết định đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị; vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ, tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đất nước chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,v.v..mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế./.

__________________

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.100
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.461
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.461
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.4, tr.56-57

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Sự vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và bài học lớn về nhân dân

(DVT.vn) – Cách mạng Tháng Tám là cuộc Cách mạng nhân dân, minh chứng hùng hồn về vai trò vĩ đại của nhân dân trong mọi thời kỳ lịch sử.

Nguyễn Sĩ Đại

Mít tinh trước Nhà Hát Lớn Hà Nội 19/8/1945. (Ảnh tư liệu)

Ngày nay, chúng ta thường hay nói về chính quyền “của dân, do dân, vì dân”. Là vì, chính quyền hiện nay là kết quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do nhân dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng đem lại.

Cụm từ ấy không chỉ nói lên bản chất mà còn nói lên yêu cầu đối với chính quyền; vì thật ra, có lúc, có nơi cái biểu đạt chưa phù hợp với cái được biểu đạt.

Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám năm nay, năm vừa tiến hành xong Đại hội Đảng lần thứ XI, bầu cử thành công Quốc hội khóa XIII, với chủ trương hội nhập một cách toàn diện, tích cực;­ mọi điều đều mới mẻ hơn, sáng rõ hơn. Trong không khí tự tin, phấn khởi ấy, một lần nữa cần nhìn nhận rõ hơn vai trò và sức mạnh vĩ đại của nhân dân – người sáng tạo lịch sử; phải quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của nhân dân.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc cho đến thời điểm ấy: không bằng quân đội, chủ yếu bằng sức mạnh của quần chúng nhân dân mà một lúc làm cho “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Tức là vừa đánh đổ ách ngoại xâm của thực dân Pháp, của đế quốc Nhật, đánh đổ ách áp bức nghìn đời của chế độ phong kiến.

Cách mạng Tháng Tám vĩ đại ở chỗ là cuộc cách mạng nhân văn nhất trong lịch sử nhân loại cho nhân loại cho đến thời điểm ấy: giải phóng dân tộc, đồng thời giải phóng giai cấp; tạo điều kiện cho tất cả mọi người dân được làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Lật đổ chính quyền cũ, xây dựng chính quyền mới trên cơ sở nhân văn và tiến bộ, không xảy ra những cuộc hành quyết hoàng tộc và tắm máu như ở các cuộc cách mạng châu Âu.

Không những thế, cựu hoàng làm cố vấn, các cựu thần trực tiếp tham gia Quốc hội và Chính phủ. Nó khẳng định chân lý “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” và tinh thần đại đoàn kết truyền thống quý của dân tộc ta.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, Việt Nam trở thành nước khởi xướng cho phong trào giải phóng thuộc địa và giành độc lập dân tộc; được cả thế giới tôn vinh.

Càng tự hào với lịch sử vẻ vang ấy, mỗi người Việt Nam hôm nay càng cần phải tự đặt cho mình những câu hỏi:

– Vì sao nước độc lập đã 66 năm (từ 1945), giải phóng và thống nhất đã 36 năm (1975) mà đất nước vẫn tiến chậm hơn một số nước trong khu vực và trên thế giới có cùng xuất phát điểm?

– Vì sao một đất nước dân chủ mà tồn đọng khiếu kiện còn quá lớn; vì sao người dân giao thiệp với chính quyền đều phải viết Đơn xin … chứ không phải Đơn đề nghị; người dân đến cấp chính quyền thấp nhất là xã, phường mà vẫn khó khăn, cách bức?

– Vì sao nhiều nơi, nhiều lúc chính quyền còn tỏ ra e ngại, lo lắng, chưa đặt hết lòng tin ở nhân dân – một nhân dân anh hùng và đầy sáng tạo?

– Vì sao “nước là của dân” mà có những quyết sách lớn, dân không được tham gia bàn bạc và quyết định một cách đầy đủ…

Trong Tuyên ngôn Độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc ngày 2/9/1945 có dẫnTuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”;

Và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791:

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Nhân dân quyết định sự phát triển của lịch sử. Đó là quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê – nin. Từ thời cổ đại, các nhà Khổng Nho, được coi là bảo thủ, cũng nhìn thấy vai trò to lớn, số một, gốc rễ của nhân dân: Dân vi bản, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là gốc, đất nước thứ hai, vua xem nhẹ)”.

Lịch sử cho thấy, chừng nào biết dựa vào dân, đất nước sẽ băng lướt qua mọi gian nan thách thức, lập nên những chiến công phi thường. Đó là đạp Tống, bình Nguyên, phá Thanh; là Điện Biên lừng lẫy… Chừng nào không biết dựa vào dân, không quan tâm đến đời sống nhân dân, chừng ấy đất nước rơi vào tối tăm, loạn lạc. Đúng như Nguyễn Trãi nói, việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; thái bình là gốc của nhạc…

Phải chăng ngày nay đất nước chậm phát triển là do nhân dân ta ngày nay yếu hèn?

Không! Nhân dân luôn tiềm ẩn sức mạnh đẩy thuyền!

Nhân dân được giác ngộ và phát động, đã làm nên thắng lợi kỳ diệu của Cách mạng Tháng Tám.

Toàn dân một ý chí, đã làm nên thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Nhân dân được phát động và có cơ chế thông thoáng của Khoán 100, Khoán 10, đã làm nên cuộc đổi thay kỳ diệu trên mặt trận nông nghiệp.

Cái khó ngày nay không thể so sánh với cái khó của thời đại nô lệ, của ngày đánh Pháp, đánh Mỹ.

Nếu bảo đảm được tốt nhất quyền tự do, bình đẳng về quyền lợi, những quyền hiển nhiên của con người; nhất là người dân của một nước độc lập, xã hội chủ nghĩa; nếu xây dựng được một khát vọng chung và đồng thuận một cách mạnh mẽ; nếu có cơ chế, chính sách đúng và phát động được sức mạnh của nhân dân; nhất định nước ta sẽ lập nên kỳ tích mới trong kỷ nguyên hội nhập, toàn cầu hóa.

Năm 1945 “ Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”; thì ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam cũng quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để phát huy quyền tự do, độc lập ấy.

dvt.vn

67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945

Tháng 8.1945, khi toàn dân Việt Nam nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, các lực lượng chính trị và cả các lực lượng quân sự tại đây vẫn còn nguyên và tiếp tục những cố gắng của mình.

Nhưng cuối cùng Hồ Chí Minh và Việt Minh đã thắng.

Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” tổ chức tại Hà Nội (ngày 12 và 13.5.2010), trong tham luận “Những bức ảnh biết nói” của mình, nhà nghiên cứu – nhà báo Mỹ Lady Borton viết: “Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Việt Minh đã nhanh chóng tận dụng khoảng chân không chính trị sau sự kiện Nhật Bản đầu hàng vào tháng 8.1945”. Tuy nhiên, khi trao đổi thêm với các nhà nghiên cứu Việt Nam, bà Lady Borton cũng thừa nhận rằng: Khi nhân dân Việt Nam nổi dậy giành chính quyền, các lực lượng chính trị và quân sự tại đây vẫn còn nguyên và tiếp tục những cố gắng của mình.

Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, lực lượng Nhật ở Đông Dương vẫn còn khoảng 100.000 quân với đầy đủ vũ khí, trang bị. Các đơn vị quân Nhật vẫn đóng nguyên tại các vị trí phòng thủ của mình. Cho dù đã không còn ý chí chiến đấu nhưng hai quân đoàn Nhật chỉ tuân lệnh từ cấp trên của họ và là một đối thủ mạnh với bất cứ lực lượng nào định tấn công bằng vũ lực. Trong thời điểm nhạy cảm đó, quân Nhật vẫn có thể nổ súng vào lực lượng khởi nghĩa với nhiều lý do: để tự vệ, để giữ gìn trật tự tại nơi đóng quân chờ quân Đồng minh tới giải giáp…

Ở Hà Nội, sáng ngày 19.8.1945 khi lực lượng khởi nghĩa tới chiếm trại Bảo an binh và thu vũ khí của quân đội chính quyền Trần Trọng Kim ở đây, Bộ Chỉ huy quân Nhật đã đưa xe tăng và binh lính tới uy hiếp, đòi thu vũ khí của quân khởi nghĩa. Những người chỉ huy cuộc khởi nghĩa đã tiếp xúc với Bộ Chỉ huy quân Nhật và thương lượng thành công để giải tỏa cuộc bao vây, tránh được cuộc xung đột vũ trang có thể xảy ra. Việc tránh được xung đột với quân đội Nhật được đánh giá là một thắng lợi quan trọng của cuộc khởi nghĩa tại Hà Nội.

Nhà nghiên cứu, nhà báo Lady Borton phát biểu tại hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay – Ảnh: Ngô Vương Anh

Nhân dân Hà Nội giành chính quyền trong ngày 19.8.1945 – Ảnh Tư liệu

Cho đến ngày 19.8.1945, chính phủ thân Nhật của người Việt Nam do ông Trần Trọng Kim đứng đầu (thành lập từ ngày 17.4.1945) vẫn tồn tại và hoạt động. Nhiều đảng phái và tổ chức chính trị khác cũng nhận thức được cơ hội đang đến và gấp rút chạy đua trong nỗ lực xúc tiến những hoạt động giành địa vị chính trị cho mình. Nhưng cuối cùng Hồ Chí Minh và Việt Minh đã thắng.

Việt Minh được thành lập theo sáng kiến của Hồ Chí Minh (5.1941) – từ khi Nhật còn chưa tham chiến – và liên tục phát triển trên địa bàn ngày càng rộng. Đây là tổ chức tập hợp được đông đảo quần chúng nhất, hơn bất cứ tổ chức nào khác ở Việt Nam khi đó, và đã tuyên bố (từ rất sớm) đứng về phía Đồng minh trong cuộc chiến đấu chống phát xít. Khi viết về thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, nhà sử học Pháp Philippe Devillers, trong cuốn sách Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952 nhận định: “Nó còn là kết quả logic của Việt Minh trong mọi khu vực của đời sống đất nước”.

Để có được một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền trọn vẹn, nhanh gọn và tổn thất ở mức tối thiểu về xương máu trong nửa cuối tháng 8.1945 tại Việt Nam, không thể không nhắc đến và nhấn mạnh vai trò của người lãnh đạo cao nhất và xuất sắc nhất: Hồ Chí Minh.

Một học giả nước ngoài đã bình luận về vai trò Hồ Chí Minh trong cuộc cách mạng này: “…những đánh giá như vậy (với xu hướng hạ thấp ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 – N.V.A) không thể che giấu sự thật rằng cuộc Cách mạng Tháng Tám là một thành tựu phi thường… trong khi những nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa khác bằng lòng ở lại nam Trung Quốc và đợi đến khi quân Nhật bị quân Đồng minh đánh bại, ông Hồ và các đồng sự của ông mới chứng tỏ khả năng có thể đối phó với thách thức và đặt cả thế giới trước sự đã rồi” (1). Trao đổi thêm với các nhà nghiên cứu Việt Nam tại hội thảo, bà Lady Borton cũng cho rằng: Hồ Chí Minh là người cách mạng Việt Nam nhận được thông tin sớm nhất về việc quân Nhật đầu hàng Đồng minh. Hồ Chí Minh nhận tin này qua radio và ông đã hành động rất kịp thời.

Những lời bình luận này cũng phần nào nói lên được những nỗ lực của nhân dân Việt Nam dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Việt Minh, của Hồ Chí Minh trên con đường đấu tranh giành lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Với lực lượng đông đảo được tập hợp và rèn luyện đấu tranh trong tổ chức Việt Minh, với một lãnh tụ dẫn đường xuất sắc, nhân dân Việt Nam đã đứng lên tự giải phóng mình chứ không hề ngồi yên trông mong, chờ đợi một “khoảng trống quyền lực” hay một khoảng “chân không chính trị” nào. Họ đã đón đúng và tận dụng triệt để thời cơ lịch sử ngàn năm có một để giành thắng lợi trọn vẹn.

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

(1) W.Duiker – Hồ Chí Minh – Hyperion, Newyork, 2000 – Bản dịch của Phòng Phiên dịch Bộ Ngoại giao, tr.332

>> Tổng khởi nghĩa tháng tám ở Sài Gòn – Nhớ Thanh niên Tiền phong
>> Nhiều hoạt động kỷ niệm ngày báo chí cách mạng
>> Khắp nơi mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam
>> Báo cáo hoạt động di tích cách mạng kháng chiến tại Hà Nội

Tân Trào (Tuyên Quang) – Địa chỉ đỏ của cách mạng Việt Nam

Khu di tích lịch sử Tân Trào – Sơn Dương – Tuyên Quang nơi ghi dấu ấn lịch sử cách mạng Việt Nam: Có đình Hồng Thái, lán Là Nừa, đình Tân Trào, An toàn khu kháng chiến (ATK)….. một địa chỉ đỏ của cách mạng Việt Nam mới được nhận Bằng xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt.

Sau đây Báo Tin Tức xin giới thiệu đến độc giả hình ảnh những dấu tích lịch sử nơi đây:

Đình Hồng Thái nơi dừng chân đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Tân Trào (ngày 21/5/1945).

Đình Tân Trào – nơi trước Quốc dân đại hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời thề quyết tâm giành độc lập dân tộc.

Cây đa Tân Trào, ngày 16/8/1945 đơn vị giải phóng quân Việt Nam làm lễ xuất quân tiến về Hà Nội.

Có dòng suối Lê dẫn nguồn nước với sông Phó Đáy đang được tu sửa bờ kè.

Sân bay Lũng Cò – sân bay Quốc tế đầu tiên của Việt Nam.

Du khách tham quan đình Hồng Thái.

Trẻ em Tân Trào ngày nay tới trường.

Người dân Tân Trào hăng say lao động trên các đồi nương.

Tượng đài Vì an ninh Tổ Quốc tại xã Minh Thanh

Chùm ảnh: Duy Tường
baotintuc.vn

Bác Hồ một thiên tài dự báo

Bác Hồ là một vĩ nhân có tầm nhìn xa, trông rộng, có sự mẫn cảm chính trị hiếm có trong lịch sử đất nước ta, dân tộc ta. Với tầm nhìn chiến lược và khả năng tiên tri tuyệt vời, Bác đã đưa ra những dự báo lịch sử tiên đoán về cách mạng, chứng tỏ Bác là một thiên tài dự báo.

Đầu thế kỷ XX, dân tộc ta đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Lớp lớp sĩ phu, văn thân, hào kiệt đứng lên chống giặc ngoại xâm nhưng đều thất bại. Cách mạng Việt Nam chưa có đường ra. Xã hội Việt Nam lâm vào khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc. Vượt lên hạn chế của các nhà yêu nước tiền bối, Bác Hồ đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Bác cho rằng “cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đó thực sự là tiên tri lịch sử của Bác và tiên tri đó đã được lịch sử cách mạng nước ta và nước khác trên thế giới trong thế kỷ XX chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Năm 1942, khi đang hoạt động cách mạng ở Cao Bằng, viết cuốn sách “Lịch sử nước ta”, Bác Hồ đã tiên đoán: “1945 Việt Nam độc lập”. Ba năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta giành được độc lập, lịch sử cách mạng Việt Nam một lần nữa chứng minh tiên tri cách mạng của Bác Hồ là hoàn toàn chính xác.

Bh la thien taiHồ Chủ tịch trong phòng làm việc của Người ở căn cứ Việt Bắc – Ảnh: Tư liệu

Trước Cách mạng Tháng Tám, những năm chiến tranh thế giới lần thứ hai đã nổ ra, lan rộng nhiều nước, ở Việt Nam, dân tộc ta trong tình cảm “Một cổ đôi tròng”, Bác Hồ đã nhận định: “Nay cơ hội giải phóng đã đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta. Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương gay go với Anh, Mỹ” và “nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc chiến tranh đế quốc lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”. Đó là tiên tri lịch sử của Bác và tiên tri đó thành hiện thực lịch sử những năm giữa thế kỷ XX. Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, những ngày đầu, tháng đầu lập nước, nước ta trong tình thế gieo neo “nghìn cân treo sợi tóc”. Với tầm trí tuệ và sự mẫn cảm chính trị của vị lãnh tụ vĩ đại, Bác Hồ nhìn thấu những khó khăn phức tạp đe dọa vận mệnh đất nước và Bác dự báo dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhờ dự báo của Bác, nước ta chủ động kéo dài thời gian hòa hoãn, chuẩn bị nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi đã kéo dài 9 năm ròng rã.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta, mùa xuân năm 1947, Bác Hồ đã chỉ thị cho bộ đội phải anh dũng, kiên trì chiến đấu và gây cơ sở trong đồng bào các dân tộc Tây Bắc, phải “đem được lá cờ đỏ sao vàng cắm trên đất Điện Biên Phủ”. Tháng 6 năm 1949, viết tác phẩm “Giấc ngủ 10 năm”, lấy bút danh Trần Lực, Bác Hồ đã dự đoán chiến thắng Điện Biên Phủ” trận cuối cùng kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp” và trận ấy “hơn một vạn giặc chết và bị thương”. 5 năm sau, ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, quân dân ta chiến thắng, dự báo của Bác, thêm một lần nữa, lại đúng.

Trong thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam nước ta, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền, trong “Bản thảo diễn văn nhân kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 15 nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1960”, Bác Hồ đã viết: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”. Mười lăm năm sau, với đại thắng mùa xuân năm 1975 của quân dân ta, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, tiên tri của Bác trở thành một hiện thực lịch sử.

Là một thiên tài dự báo, một lãnh tụ vũ đại của dân tộc ta, người chiến sỹ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế, Bác Hồ được vinh danh trên đất nước ta và trên thế giới. Tại Hội thảo quốc tế “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn” tổ chức tại Hà Nội năm 1990, tiến sĩ M.Át-Mét, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO đã phát biểu: “Trong lịch sử thế giới chỉ có ít nhân vật trở thành huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người luôn được thế giới ghi nhớ không phải chỉ là người có công giải pháp cho đất nước mình và các dân tộc bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết thông thái, một tấm gương trong sáng thanh cao về cuộc sống, để lại một tư tưởng với viễn cảnh hy vọng mới cho những người đấu tranh loại bỏ bất công, bất bình đẳng khởi mặt đất này”.

Theo Trung Thành/ Báo Lạng Sơn online
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Cách mạng Tháng Tám và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945

Một trong những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc: kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của dân tộc ta trong suốt 15 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, với cao trào Xô viết Nghệ – Tĩnh, cuộc vận động dân chủ 1936-1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, theo Hồ Chủ tịch, là “vì chính sách của Đảng đúng và thi hành chính sách ấy kịp thời và linh động”, “do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh”(1).

Viết về ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: “Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(2). Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây dựng nền tảng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử nước ta”(3).

Thành quả lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám là xây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, với đặc trưng nổi bật: Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong bài “Chính phủ là công bộc của dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(4).

Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn dân xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân. Về chính quyền nhân dân ở các địa phương, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui lọt vào các Ủy ban đó”(5).

Những ngày tháng sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh giành nhiều thời gian viết về xây dựng các Ủy ban nhân dân. Bài “Cách thức tổ chức các Ủy ban nhân dân, ngày 11-9-1945”. Người nhấn mạnh: “Ủy ban nhân dân làng trái với các hội đồng kỳ mục cũ thối nát, sẽ làm những việc có lợi cho dân, không phạm vào công lý, vào tự do của dân chúng. Nó hết sức tránh những cuộc bắt bớ đánh đập độc đoán, những cuộc tịch thu tài sản không đúng lý. Ủy ban nhân dân thận trọng hết sức trong chỗ chi dùng công quỹ, không dám tùy ý tiêu tiền vào những việc xa phí như ăn uống”(6). “Những nhân viên Ủy ban sẽ không lợi dụng danh nghĩa Ủy ban để gây bè tìm cánh, đưa người “trong nhà trong họ” vào làm việc với mình”(7). “Ủy ban nhân dân là Ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do, dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do, dân chủ đó”(8).

Chính quyền ở địa phương ở cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi dân chủ trực tiếp với nhân dân. Trong bài “Sao cho được lòng dân?, ngày 12-10-1945”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu cũng mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý” “muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”(9).

Trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, ngày 17-10-1945”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(10). Điều này cho thấy, bản chất cách mạng và dân chủ của chính quyền nhân dân, nguồn gốc sức mạnh của chính quyền là ở sự gắn bó với nhân dân, hết lòng, hết sức mưu cầu tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Hồ Chí Minh rất coi trọng việc phát huy dân chủ của người dân để lựa chọn ra người đại biểu vào cơ quan chính quyền nhà nước. Do đó, ngày 3-9-1945, phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Theo Người, “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”(11). Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, giàu nghèo, dòng giống, v.v. “Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”(12).

Để bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân được thực thi, Hồ Chí Minh yêu cầu phải quản lý đất nước, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”(13). Người nhấn mạnh “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Do đó, ngày 9-11-1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được thông qua tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I. Trong hoàn cảnh cách mạng nước nhà ngàn cân treo sợi tóc, “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, việc thông qua Hiến pháp càng có ý nghĩa quan trọng về thực tiễn và pháp lý. Đây còn là thành quả to lớn của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiến pháp là thành quả vẻ vang của cách mạng và được xây dựng trên các nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo; Bảo đảm các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Bản chất cách mạng và nhân dân, tính chất dân chủ và pháp quyền hòa quyện thống nhất với nhau thể hiện trong bản Hiến pháp 1946 “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Có tới 11 điều của Hiến Pháp quy định về quyền lợi của công dân (từ điều 6 đến điều 16). Hiến pháp xác định mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa. Công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (…). Người tàn tật, già cả được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng. Thực hiện chế độ phổ cập giáo dục bắt buộc v.v. Đó là những nội dung dân chủ mang tính cách mạng sâu sắc. Từ đó đến nay, những nội dung đó vẫn được tiếp tục được bổ sung, phát triển trong các bản Hiến pháp tiếp theo, đã và đang được thực hiện một cách sinh động trên đất nước ta.

Những quy định trong Hiến pháp thể hiện sâu sắc bản chất của Nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước của dân và do dân nghĩa là nhân dân xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền nhà nước. Nhà nước vì dân nghĩa là nhà nước mưu cầu quyền lợi, hạnh phúc cho nhân dân. “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”; “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(14). Như vậy, vì dân không chỉ là mục tiêu hoạt động và tồn tại của chính quyền mà còn là phương thức, phong cách và phương pháp hành động của chính quyền.

Trong xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Hồ Chí Minh rất chú trọng rèn luyện đội ngũ cán bộ chính quyền. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện như: “ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”, đời sống nhân dân khốn khổ mà cán bộ “Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra? Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức”(15). Thái độ đó làm mất lòng tin của nhân dân và uy tín của Chính phủ. Do đó, Người mong muốn mọi người sửa chữa để chính quyền ngày càng hoàn thiện và làm việc tốt hơn “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”(16).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặt ra yêu cầu mọi cán bộ phải thường xuyên tự phê bình, tự giáo dục, tự chỉ trích để khắc phục khuyết điểm và cái hư hỏng trong mỗi người và trong bộ máy. Những khuyết điểm nhỏ của cán bộ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì ảnh hưởng đến khối đoàn kết toàn dân. Vì vậy, chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm mà chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta mong muốn và đã làm hết sức mình để xây dựng, củng cố vững chắc Nhà nước kiểu mới – Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về phương diện xây dựng nhà nước kiểu mới mãi mãi là bài học lớn, là định hướng để xây dựng và không ngừng hoàn thiện Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra những quan điểm và biện pháp cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân” (17). Đó là sự tiếp tục phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong thời kỳ mới.

ThS. Nguyễn Khánh Ly
Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Nghệ An
xaydungdang.org.vn

……………………………………

(1), (2) và (3). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.6, tr.160 và 159. (4) và (5), (6), (7), (8). Sđd. t.4, tr.22 và 23. (9), (10) và (11), (12). Sđd., t.4, tr.48, 56 và 133. (13) và (14), (15), (16). Sđd., t.4, tr.8 và 56-58. (17) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.52.

Cách mạng Tháng Tám và bài học xây dựng nhà nước pháp quyền

(VOV) – Những kinh nghiệm trong buổi đầu đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ rũ bùn đứng dậy làm chủ nhân đất nước. Dẫu buổi đầu đầy cam go thách thức nhưng người dân Việt Nam đã tự tay thực hiện quyền làm chủ, cầm lá phiếu bầu nên Quốc hội, chọn những người ưu tú nhất vào bộ máy nhà nước để lãnh đạo nhân dân chống thù trong giặc ngoài giữ vững nền độc lập.

Những kinh nghiệm trong buổi đầu đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng.

Năm nay đã vào tuổi 93, Giáo sư Lưu Văn Đạt, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam dường như gắn trọn đời mình với sự nghiệp cách mạng mà ông đã nhiệt tình tham gia từ những năm đầu của cuộc kháng chiến kiến quốc. Mấy mươi năm công tác, dù ở cương vị nào, Giáo sư Lưu Văn Đạt cũng thể hiện sự uyên bác của một chuyên gia về pháp luật. Việc ra đời một nhà nước dân chủ ngay sau khi lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến là một thành công vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị người cầm lái con thuyền cách mạng. Chính Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền khi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Bằng mục tiêu trong sáng, bằng uy tín, tài năng, đạo đức và tinh thần quyết tâm “dù có đốt cháy cả dải Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản quí giá về tình thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc trong quá trình xây dựng nhà nước cách mạng.

Giáo sư Lưu Văn Đạt chia sẻ: “Điều mà tôi tâm đắc nhất là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trọng nhân tài của Hồ Chủ tịch. Bác nói là ai có tâm huyết thì Bác sẵn sàng tiếp nhận để làm việc cho đất nước. Lúc bấy giờ Đảng viên có bao nhiêu đâu, những người ngoài Đảng thì rất đông. Nhưng những người ngoài Đảng đều là những người ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Đảng và Hồ Chủ tịch. Hầu hết trí thức lúc bấy giờ đều đứng dưới lá cờ của Hồ Chủ tịch, sẵn sàng làm mọi việc giúp ích cho đất nước”.

Nhờ vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được một chính phủ đủ sức lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc thành công. Những trí thức phong kiến như Phạm Khắc Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn… rồi những trí thức mới như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài cũng trở về góp sức xây dựng đất nước.

Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc – nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng – Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phân tích: Thắng lợi lớn nhất, triệt để nhất của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là đánh đổ chế độ nô lệ, xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước do dân và vì dân. Cuộc bầu cử Quốc hội tháng 1/1946 và sau đó là thành lập chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu là một bước đi có tính chiến lược, thể hiện sự tài ba của Bác. Bài học lớn trong xây dựng nhà nước của cuộc Cách mạng tháng Tám là sự thay đổi bản chất nhà nước. Nói như Bác Hồ là: “Nhà nước ấy không phải để đè đầu cưỡi cổ dân như chế độ thực dân phong kiến, mà bộ máy chính phủ từ trung ương đến địa phương phải là công bộc của dân, phục vụ nhân dân”.

Theo Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến khi Người gửi bảng yêu sách 8 điều đến Hội nghị Versaill xây năm 1919. “Tám điểm yêu sách, đầu tiên Cụ chú ý vấn đề pháp luật, trong đó có một câu là “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh thì Cụ lại nói là cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Đấy chính là quyền làm chủ, quyền lợi, quyền lực. Cuộc bầu cử tháng Giêng năm 46 để khẳng định cơ sở pháp lý của nhà nước. Nhà nước này là Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, do dân cử, xác định không những cơ sở thực tế mà còn là cơ sở pháp lý của Nhà nước trong đối nội và đối ngoại” – Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc nói.

Phó Giáo sư Sử học Lê Mậu Hãn cho rằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tư thế của một dân tộc khát khao tự do, một quốc gia khát khao độc lập. Cả đời bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh đạo cách mạng thành công đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ là để thực hiện cho được hoài bão xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng ấy là bài học rất quí. Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn cho rằng: “Thắng lợi đó là thắng lợi của tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh mà Đảng tổ chức lãnh đạo. Và trong cuộc bầu cử đó toàn dân có quyền ứng cử và bầu cử. Cho nên đó là thắng lợi của tư tưởng dân tộc bình đẳng, dân chủ và đại đoàn kết. Đó là một bài học kinh nghiệm có giá trị đặc biệt khi hiện nay đặt vấn đề phải tích cực phát huy quyền dân chủ tự do cho nhân dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đang tiến lên trong điều kiện khó khăn”.

Theo Giáo sư Lưu Văn Đạt, để xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh, không phải ở luật pháp – tức pháp trị, mà cái chính là đạo đức của người cán bộ cách mạng – tức đức trị. Tính vì dân của nhà nước phải được thể hiện bằng những việc hết sức cụ thể: “Có một phương châm Hồ Chủ tịch đề ra là cái gì có lợi cho dân thì hết sức làm, cái gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Điều này Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ nhậm chức cũng đã nhắc lại. Tôi nghĩ rằng nếu như tất cả công chức viên chức của nhà nước, các nhà lãnh đạo luôn suy nghĩ đến phương châm đó chắc chắn là nhà nước pháp quyền của chúng ta sẽ thực sự là của dân, do dân và vì dân. Bởi vì cuối cùng là vì dân, vì dân là vì lợi ích của nhân dân, cái gì có lợi cho nhân dân thì làm”.

Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ XI xác định: Không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Việc nhanh chóng tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XIII và hoàn thiện bộ máy nhà nước vừa qua đã thể hiện quyết tâm ấy của toàn Đảng toàn dân ta.

Đất nước đang kỳ vọng ở đường lối đổi mới của Đảng, vào quyết tâm của Chính phủ nói không với nạn quan liêu tham nhũng, quyết tâm xây dựng bộ máy công quyền hết lòng phục vụ dân, để nhà nước ta thực sự là nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ./.

Vân Thiêng
vov.vn

Những ngày Cách mạng tháng Tám ở Hải Phòng

(VOV) – Nhân dân thành phố cảng nhất tề đứng lên khởi nghĩa, đánh đuổi cường hào ác bá, xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến.

67 năm trước, cùng với cả nước, nhân dân Hải Phòng đã nhất tề đứng lên khởi nghĩa, đánh đổ cường hào ác bá, xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, lập ra nhà nước công nông. Thành công của Hải Phòng đã góp phần làm tan rã nhanh chóng hệ chống chính quyền thực dân phong kiến ở vùng đông bắc Tổ quốc, cùng cả nước vui trọn niềm vui trong ngày độc lập.

Sau khi cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 19/8 tại thủ đô Hà Nội thành công, không khí cách mạng lan xuống Hải Phòng.

Phong trào cách mạng ủng hộ Đệ tứ chiến khu Đông Triều của tướng Nguyễn Bình ở Thủy Nguyên, phong trào Việt Minh ở An Lão, phong trào đánh Nhật ở Kiến Thuỵ… đều phát triển mạnh, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia. Riêng ở Đồ Sơn, nhân dân tràn lên phá kho thóc nhà Cửu Yên, quản lý đồn điền ấp An Cố của Hoàng Trọng Thu (con trai của tên Việt gian Hoàng Cao Khải), tịch thu lương thực chia cho dân nghèo. Tại khu vực nội thị Đồ Sơn vẫn bị Nhật cai quản, trong làng còn rất đông đội ngũ Chánh tổng, Lý trưởng nhưng khí thế cách mạng rất sôi sục.

Phát lệnh Tổng khởi nghĩa năm 1945 (Ảnh: TL)

 

Từng chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền ở Kiến An, Trung tướng Đặng Kinh – nguyên Tư lệnh Quân khu 3 nhớ lại: “Tôi chỉ huy một đại đội giành chính quyền ở Kiến An. Phát động biểu tình toàn huyện, có tất cả chính quyền, thu triện của lý trưởng, chánh tổng và không đóng thuế cho Pháp. Sau đó đưa đại đội thứ 2 sang phối hợp giải phóng Hải Phòng. Lúc đầu tôi định đưa 100 người đi, nhưng rồi thanh niên theo đông lắm, cả ngàn thanh niên, mỗi người cầm một cây mã tấu đi theo. Rồi phụ nữ, thiếu niên… sục sôi như thế…”.

Dù đã bước sang tuổi 86, nhưng đại tá Hoàng Xuân Lâm – Chủ nhiệm Câu lạc bộ hưu trí Công an Hải Phòng vẫn nhớ như in những ngày còn là anh thanh niên 19 tuổi đi theo Cách mạng, được giao làm chính trị viên lực lượng tự vệ cứu quốc tại Đồ Sơn tháng 8/1945.

Ông kể: “Hồi đó Việt Minh vũ khí rất thô sơ nhưng ai cũng hăng hái đứng lên làm Cách mạng. Đến ngày 23/8 thì Đệ tứ chiến khu ở Thủy Nguyên mới kéo quân vào, ở Kiến An sang, các huyện ngoại thành mới tiến vào. Cứ đi đến đâu thì dân đổ ra chào mừng đến đó. 23/8 thì giành được chính quyền ở Hải Phòng, ra mắt chính quyền Cách mạng. Nghe tin Việt Minh đánh đổ Pháp, Nhật, đem lại quyền lợi, đem lại no ấm cho dân là theo thôi. Cách mạng sôi sục đến mức là toàn dân người ta cứ đổ ra đường, hoan nghênh”.

Sau khi Cách mạng thành công, chính quyền non trẻ phải đối đầu với các thế lực phản động thân Nhật và Quốc dân đảng. Thành phố thành lập Ty Cảnh sát để bảo vệ cách mạng, đồng thời lo xây dựng chính quyền, khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống nhân dân, diệt giặc đói giặc dốt. Cùng với đó là phong trào “hũ gạo kháng chiến”, “tuần lễ vàng”, được mọi tầng lớp nhân dân ủng hộ tích cực.

Ở Hải Phòng khi đó xuất hiện những tấm gương nhà tư sản yêu nước như ông Nguyễn Sơn Hà, không chỉ đóng góp hàng trăm cây vàng mà còn đứng ra lập trường Dục Anh tại số nhà 46 Lạch Tray để nuôi dạy trẻ mồ côi. Từ ngôi trường này, nhiều người đã trưởng thành, tham gia cách mạng và trở thành những sĩ quan quân đội, cán bộ các ngành nghề, đóng góp vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước sau này.

Cách mạng tháng Tám thành công, người dân từ thân phận nô lệ đã rũ bùn đứng dậy làm chủ nhân đất nước. Khí thế ấy đã thu hút được sự đồng lòng của toàn thể nhân dân, tạo sức mạnh đoàn kết vô cùng to lớn để chính quyền cách mạng non trẻ từng bước phá vỡ thế “ngàn cân treo sợi tóc”, giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân ta vừa giành được.

Thời gian đã đi qua, đối với những người từng tham gia khởi nghĩa giành chính quyền 67 mùa thu trước, ký ức hào hùng của cuộc cách mạng tháng Tám vĩ đại vẫn không hề phai. Ngọn lửa Cách mạng tháng Tám vẫn mãi mãi là niềm tự hào để thế hệ hôm nay vươn về phía trước, xây dựng thành phố cảng giàu đẹp, anh hùng./.

Vân Thiêng/VOV-Trung tâm tin
vov.vn