Thư viện

Tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám 1945

Cuộc cách mạng nhân dân năng động và sáng tạo của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi vào tháng Tám năm 1945. Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo đầu tiên và duy nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa trong lịch sử nhân loại thế kỷ XX.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam đã đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp cấu kết với chế độ phong kiến gần một trăm năm, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Nó chẳng những khẳng định giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực, chiến đấu quả cảm đã “vung ra nghị lực phi thường” nhất tề đứng lên giành độc lập tự do mà còn khẳng định sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối chiến lược và sự thay đổi sách lược đúng đắn chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân, đưa Việt Nam gia nhập đại gia đình vô sản quốc tế sánh vai với các cường quốc văn minh trên thế giới.

Trong bối cảnh lịch sử thế giới thế kỷ XX, thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa thời đại to lớn.

1. Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trên toàn thế giới

Đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn thứ hai trong lịch sử phát triển. Đó là sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc mà V.I.Lênin khẳng định đó là “Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Là người đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phi mác xít của “phái hữu” và “phái giữa” trong Quốc tế Hai sau khi Ăngghen mất năm 1895, Lênin đã đấu tranh để vạch rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Theo Người, nó không phải là “Khai hoá văn minh” cho các dân tộc thuộc địa lạc hậu như một số lãnh tụ của Quốc tế Hai từng cổ suý mà nó là xâm lược, nô dịch, ăn bám, thối nát và với sự chống đối từ mọi phía. Lênin khẳng định nó tự làm suy yếu, tự nó đưa nó đến chỗ diệt vong.

Trước sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc trên tư bản. Vấn đề đấu tranh chống lại sự xâm lược và ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong đời sống chính trị quốc tế đầu thế kỷ XX. Vận dụng quan điểm “cách mạng không ngừng” của Mác – Ăngghen vào tình hình cụ thể. V.I.Lênin đã khẳng định vấn đề dân tộc – thuộc địa là vấn đề sinh tử và là trung tâm của thời đại mới. Chính Người đã chủ động chuẩn bị và lãnh đạo công nông binh Nga biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười mở đầu kỷ nguyên mới, thời đại mới. Chính Người đã chuẩn bị và thành lập Quốc tế cộng sản (QTCS) – Tổ chức quốc tế của các Đảng Cộng sản có sự tham gia lần đầu tiên của các dân tộc thuộc địa. Người đã đề ra Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa, coi vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức là trọng tâm của đời sống cộng sản quốc tế, là điều kiện được ghi trong Điều lệ để kết nạp các Đảng Cộng sản vào QTCS.

Giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhiệm vụ hàng đầu của các Đảng Cộng sản toàn thế giới lãnh đạo quần chúng nhân dân các thuộc địa. Giải phóng các dân tộc khỏi ách thống trị thực dân là nhiệm vụ trọng tâm của thời đại mới.

Là người tiếp thu học thuyết Mác – Lênin, là người có thực tiễn hoạt động phong phú trong QTCS, từng khảo sát tại các nước tư bản đế quốc nhiều thuộc địa, lớn mạnh nhất đến các nước thuộc địa lạc hậu nhất, Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận và thực tiễn vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Với những hoạt động không mệt mỏi trong 1/4 thế kỷ (từ năm 1920-1945) Hồ Chí Minh đã biến học thuyết Lênin trở thành hiện thực, điều mà trước đó Lênin vĩ đại đã bổ sung, sáng tạo biến học thuyết Mác – Ăngghen trở thành hiện thực thể hiện qua cách mạng Nga. Là người hiểu và trung thành trong đấu tranh bảo vệ và kiên trì tổ chức thực hiện tư tưởng của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, sau khi gia nhập gia đình cộng sản, Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản – bộ tham mưu của giai cấp và dân tộc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Người trực tiếp đề ra chiến lược, sách lược và phương thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, tổ chức, lãnh đạo chuẩn bị xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lãnh đạo chớp thời cơ một cách mau lẹ chính xác làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Đây là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, do đó, thành công của cách mạng là triệt để, là “đến nơi” như Hồ Chí Minh khẳng định. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Thắng lợi của cách mạng đã đập đổ ách thống trị thực dân hàng trăm năm, ách thống trị phong kiến hàng nghìn năm đưa dân tộc Việt Nam vào thời đại mới – thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, thời đại độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trở thành một hình mẫu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chiến thắng các thế lực xâm lược có thể có nhiều con đường giành thắng lợi, song cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cách mạng giải phóng triệt để nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia. Và do vậy thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự mở đầu của trào lưu phi thực dân hoá trên phạm vi quốc tế. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Mười mở đầu thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và Cách mạng Tháng Tám mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trong trào lưu cách mạng giải phóng dân tộc toàn thế giới.

Sau Cách mạng Tháng Tám và tiếp tục con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân Việt Nam tiếp tục đi đầu trong việc đánh thắng, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân cũ, đánh bại một bước nặng nề chủ nghĩa thực dân mới đã làm cho Việt Nam và Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Cách mạng Tháng Tám với ý nghĩa đó trở thành cuộc cách mạng mở đầu cho trào lưu phi thực dân hoá và biến lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc thế giới thế kỷ XX giành được toàn thắng. Đến nay không còn có nước nào không giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân hoàn toàn bị tiêu diệt trong thế kỷ XX mà Cách mạng Tháng Tám là sự mở đầu trào lưu phi thực dân hoá, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh.

2. Cách mạng Tháng Tám khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh trong dự báo cách mạng thuộc địa có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, bổ sung và phát triển Học thuyết Mác – Lênin

Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin tận gốc lại có thực tiễn khảo sát 28 nước ở 4 châu lục, điều mà các lãnh tụ kinh điển trước Người chưa có điều kiện, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đưa ra một dự báo mang tính lý luận từ rất sớm về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước cách mạng chính quốc.

Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ tự do cạnh tranh cũng như nghiên cứu chủ nghĩa tư bản thời kỳ chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, các nhà kinh điển chỉ đưa ra dự báo cách mạng các nước tư bản (chính quốc) giành thắng lợi trước mới tạo điều kiện, mới ảnh hưởng, mới giúp đỡ cho cách mạng giải phóng dân tộc. Những dự báo của Mác – Ăngghen về khả năng giành thắng lợi của cách mạng Aixơlen trước Anh mới là một dự báo chưa thành hiện thực. Thời đại Lênin tuy ông có dự báo cách mạng chính quốc phải thắng lợi trước mới giúp cho cách mạng thuộc địa dù Người đã dự báo cách mạng có thể giành thắng lợi ở một nước tư bản. Điều dự báo Lênin đã thực hiện thành công ở nước Nga thông qua Cách mạng Tháng Mười. Các lãnh tụ kinh điển chưa nói đến khả năng cách mạng thuộc địa có thể thắng lợi trước chính quốc.

Đến lượt mình luôn trung thành với học thuyết Mác – Lênin, coi đó là “chân chính nhất, cách mạng nhất” song Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn nghiên cứu sự vận động của thế giới trong thời đại mới. Nghiên cứu các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ đặc biệt là các thuộc địa của Pháp, tính chất đế quốc Pháp là chủ nghĩa đế quốc “cho vay nặng lãi” (khẳng định của Lênin) ngay từ những năm đầu mới tiếp thu Học thuyết Mác – Lênin Người đã đưa ra dự báo: cách mạng thuộc địa (thậm chí ở một nước riêng biệt) không những có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, còn có thể giúp cho những người anh em phương Tây trong sự nghiệp giải phóng khỏi mọi ách áp bức dân tộc, áp bức giai cấp của chủ nghĩa tư bản. Đây là một dự báo hết sức táo bạo, một sự khẳng định tưởng như không có cơ sở trong những năm 20 của thế kỷ XX.

Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập đã tiến hành một “núi” các công việc khổng lồ để làm cho dự báo thành hiện thực. Đó là xây dựng được một đảng cách mạng tiên phong có lý luận soi đường được vũ trang bằng chủ nghĩa “Mã Khắc Tư và Lênin”, có chiến lược và sách lược đúng đắn phù hợp tình hình đặc điểm của mỗi giai đoạn cụ thể, luôn chú trọng điều chỉnh chiến lược và thay đổi đối sách lược kịp thời. Chuẩn bị lực lượng mọi mặt, dự báo chính xác chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam trong cao trào kháng Nhật cứu nước, chớp thời cơ giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chứng minh dự báo của Nguyễn Ái Quốc về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng Pháp. chính QTCS đã thấy trước vấn đề này. Tại Hội nghị toàn thể lần thứ 11 của QTCS tháng 4 năm 1931, QTCS đã thấy về lĩnh vực dân tộc thuộc địa các đảng ở chính quốc phải “học tập các đồng chí Trung Quốc và Đông Dương”. Trưởng thành qua tổng kết thực tiễn các cao trào 1930-1931, cao trào dân chủ 1936-1939 và cao trào kháng Nhật 1939-1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã biến tư tưởng Hồ Chí Minh về thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước chính quốc thành hiện thực. Đây là sự phát triển sáng tạo và bổ sung quan trọng vào kho tàng lý luận Mác – Lênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa. Hồ Chí Minh không chỉ là trung thành vận dụng sáng tạo vào thực tiễn mà còn phát triển lý luận bổ sung cho chủ nghĩa Mác – Lênin lý luận vấn đề dân tộc và thuộc địa. Nó đã làm cho Cách mạng Tháng Tám không chỉ của Việt Nam mà là những vấn đề lý luận và thực tiễn mang tầm vóc quốc tế, có ý nghĩa thời đại.

3. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã bổ sung vào kho tàng lý luận Mác – Lênin, làm rõ nhiều vấn đề cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, khắc phục sai lầm tả khuynh của QTCS trong việc đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống phong kiến. Cách mạng Tháng Tám trong việc tập hợp lực lượng tham gia đã khẳng định đường lối sách lược trong tập hợp lực lượng đông đảo toàn dân tộc của Hồ Chí Minh là đúng đắn. Chỉ đến khi Cách mạng Tháng Tám trở lại đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược, sách lược cách mạng giải phóng dân tộc thì cách mạng mới thành công.

Cách mạng Tháng Tám còn làm rõ và bổ sung lý luận Mác – Lênin về vấn đề bạo lực cách mạng và vấn đề khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Với việc xác định đúng đắn bạo lực cách mạng là sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp chính trị với vũ trang, kết hợp khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa, đưa khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám lên tầm mẫu mực nghệ thuật trong đấu tranh giành chính quyền. Khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám trở thành một trong bốn điển hình trong đấu tranh giành chính quyền trong lịch sử thế giới thế kỷ XX.

Cách mạng Tháng Tám bổ sung lý luận của Lênin về thời cơ và nâng lên thành nghệ thuật chớp thời cơ trong bối cảnh diễn biến của tình hình thế giới hết sức phức tạp. Toan tính của các nước lớn, sự đầu hàng đồng minh của phát xít Nhật, sự yếu thế của Pháp khi chiến tranh kết thúc nếu không có sáng tạo, quyết đoán và mau lẹ chớp thời cơ thì không thể giành thắng lợi. Đây là lý do cùng ở Đông Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương nhưng chỉ có Việt Nam là giành được chính quyền trước khi quân Đồng Minh vào.

Trên ý nghĩa đó thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ngoài ý nghĩa cụ thể với dân tộc Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám còn để lại nhiều ý nghĩa mang tầm vóc thời đại. Nó chẳng những bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lênin mà còn nêu một mẫu mực đấu tranh giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Chính vì vậy các dân tộc thuộc địa coi Việt Nam là chiến sỹ tiên phong, anh hùng giải phóng dân tộc.
Thành quả của cuộc cách mạng mang lại vẫn đã và đang phát triển vững chắc 65 năm qua và sẽ tiếp tục phát triển trong thế kỷ XXI, đưa dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới./.

Theo baomoi.com
dostquangtri.gov.vn

Vĩnh Yên trong Cách mạng Tháng tám, kháng chiến chống thực dân Pháp

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, để lãnh đạo phong trào cách mạng ở Thị xã lên một bước cao hơn đòi hỏi phải có một tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo.

Trước yêu cầu đó, Ban cán sự Đảng Thị xã Vĩnh Yên được thành lập vào tháng 4/1941. Ban cán sự gồm có 3 đồng chí, do đồng chí Đỗ Đạc làm Bí thư.

Ban cán sự có nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng ở Thị xã, tập hợp những thanh niên, học sinh, dân nghèo và tổ chức phản đế tiến hành những cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và phát xít Nhật.

Từ năm 1940 trở đi phong trào cách mạng diễn ra liên tục rộng khắp. Đến tháng 6/1945 phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ ở Tích Sơn, Khai Quang, Định Trung… không khí chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền ở Thị xã đã sục sôi.

* Cách mạng tháng Tám và cuộc đấu tranh chống quân Tưởng, tay sai (8/1945 – 8/1946).

Ngày 31/8/1945 hàng vạn quần chúng trong đó có hàng ngàn tự vệ và du kích đã giương cao cờ đỏ sao vàng từ nhiều hướng tiến về Thị xã giành chính quyền nhưng khởi nghĩa không thành công do thời cơ khởi nghĩa không đúng, quân Tưởng đã kéo vào Thị xã. Do đó Vĩnh Yên phải kiên trì, anh dũng chiến đấu chống quân Tưởng và tay sai phản động, sau đó đã giành được chính quyền về tay nhân dân vào 31/8/1946.

Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng ngay chính quyền dân chủ nhân dân bằng cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ngày 23/12/1945 nhân dân Thị xã Vĩnh Yên đã nô nức tham gia bầu cử. Chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập thông qua bầu cử của nhân dân. Đó là cơ sở chính trị để chúng ta bước vào giai đoạn cách mạng mới, bảo vệ thành quả cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội, nhân dân đã tiến hành bầu cử HĐND và UB hành chính từ cấp tỉnh đến cấp xã. Tháng 4/1946 các đơn vị cơ sở đã bầu cử HĐND và UB hành chính.

Sau hơn 1 năm đấu tranh gian khổ, khó khăn, nhân dân Vĩnh Yên đã quét sạch quân Tưởng và tay sai, đập tan âm mưu của kẻ thù, thành lập chính quyền dân chủ nhân dân đầu tiên của Thị xã. Vĩnh Yên bước vào thời kỳ củng cố và xây dựng lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
* Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1947 – 1954).

Thực hiện Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch, nhân dân Vĩnh Yên đã tích cực tăng gia sản xuất, giải quyết nạn đói, quyên góp tiền vàng, ủng hộ kháng chiến, xoá nạn mù chữ. Đồng thời tiếp tục củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.
Tháng 4/1949 cử tri Vĩnh Yên đã hăng hái đi bầu cử HĐND cấp xã khoá II, nâng cao một bước hiệu lực của chính quyền dân chủ nhân dân.

Ngày 18/8/1949 thực dân Pháp đánh chiếm thị xã Vĩnh Yên, nhân dân Vĩnh Yên bước vào cuộc kháng chiến bảo vệ quê hương.

Quân và dân Vĩnh Yên đã tích cực chủ động kết hợp với bộ đội chủ lực đánh địch nhiều trận.

Từ ngày 26/12/1950 – 17/1/1951 Bộ đội chủ lực mở chiến dịch Trung du (Trần Hưng Đạo) địa bàn chủ yếu nằm trên đất Vĩnh Phúc. Quân và dân Vĩnh Yên đã tham gia cùng bộ đội chủ lực đánh một số trận nổi tiếng.

Ngày 15/1/1951 tiến hành phục kích đánh địch ở Mậu Thông (Khai Quang). Đặc biệt là trận đánh tiêu diệt địch ở núi Đinh đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như một chiến công vang dội.

Những trận đánh vang dội của quân và dân Vĩnh Yên đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng lớn của chiến dịch Trung du, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, giải phóng 9 xã, 3 thôn, mở rộng cơ sở kháng chiến ở 353 thôn khác trong tỉnh.

Từ cuối năm 1951 đến năm 1954, quân và dân Vĩnh Yên đã tổ chức nhiều đợt tấn công địch cả về chính trị, quân sự và binh vận.
Ngày 7/5/1954 tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp bị tiêu diệt, đây là thời cơ thuận lợi để toàn quân và dân ta trên khắp đất nước đứng lên đánh đuổi quân Pháp.

Đến giữa tháng 7, quân địch ở Vĩnh Yên hoang mang, dao động cao độ, chúng rút dần lực lượng về Hà Nội để tránh bị bộ đội ta tấn công tiêu diệt.
9h30 phút ngày 31/7/1954 tên lính Thực dân Pháp cuối cùng đã phải rút khỏi Thị xã. Thị xã đã tổ chức mít tinh rầm rộ chào mừng thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp.

5 năm trực tiếp kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Vĩnh Yên đã tổ chức đánh địch trên 30 trận lớn nhỏ, trong đó có những trận đánh nổi tiếng đi vào lịch sử quân đội như trận đánh ở núi Đinh, trận phục kích địch ở xã Hạnh Phúc (phường Khai Quang ngày nay).

Trong kháng chiến Vĩnh Yên đã tiễn đưa 480 thanh niên lên đường nhập ngũ, huy động 1400 người tham gia dân công hoả tuyến, trong đó có nhiều chiến sỹ đã lập công lớn. Tiêu biểu là chiến sỹ Hoàng Cầm ở xã Tam Đảo là người phát minh ra bếp Hoàng Cầm cho quân đội ta và được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc. Vĩnh Yên có 205 liệt sỹ, 78 thương binh, 8 gia đình có công với nước, 34 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đảng bộ và nhân dân thị xã đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba. Ngày 10/4/2001 Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Thị xã Vĩnh Yên vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Pháp xâm lược.

Theo vinhyen.vinhphuc.gov.vn
dostquangtri.gov.vn

Cách mạng Tháng tám mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc

Từ giữa thế kỷ XIX, Việt Nam bị đế quốc Pháp xâm lược và thống trị. Mất nước, nhân dân Việt Nam mất hết quyền tự do. Với ý chí độc lập và khát vọng tự do, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đứng lên đấu tranh, song do thiếu một hệ tư tưởng và đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn, nên con đường cứu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của dân tộc Việt Nam rơi vào bế tắc, “như trong đêm tối không có đường ra”. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc. Thực hiện trọng trách lịch sử của mình, ngày 3-2-1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng với tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam. Thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Người soạn thảo.

Dựa trên cơ sở tư tưởng vì độc lập, tự do sáng tạo của Hồ Chí Minh, những chính sách cụ thể, hợp lòng dân của Việt Minh đã quy tụ toàn dân dưới ngọn cờ của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đưa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một Đảng mới được 15 tuổi đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng thần thánh chưa từng có trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta từ một người nô lệ đã trở thành người chủ đất nước, người chủ bản thân. Đó là cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chấn động địa cầu.

Ngày 2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và ngày 2-9-1945 trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới vô cùng rực rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám lật đổ chế độ phong kiến nhiều thế kỷ đã lỗi thời, đập tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, giành chính quyền về tay nhân dân. Từ đây, lịch sử dân tộc ta đã bước sang trang sử mới, chấm dứt thời kỳ đen tối trong đêm trường nô lệ; từ đây dân tộc ta đã có Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo; từ đây sự nghiệp cách mạng Việt Nam sẽ vững bước tiến lên trường tồn cùng dân tộc.

Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, một nhà nước kiểu mới – nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng. Sự kiện trọng đại này mở ra thời kỳ mới cho nhân dân Việt Nam và cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX, bắt đầu một quá trình sụp đổ không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần và quyết tâm của nhân dân các dân tộc bị áp bức đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ thắng lợi to lớn đó, đã cổ vũ nhân dân ta kiên cường đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 lịch sử. Đất nước hoàn toàn độc lập, người dân được hoàn toàn tự do.

Thắng lợi vĩ đại này là một minh chứng hùng hồn về ý chí độc lập và khát vọng tự do, tinh thần bất khuất, trí tuệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam, một dân tộc được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Những giá trị độc lập, tự do chỉ có thực sự khi được dưới sự lãnh đạo của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, con đường độc lập, tự do của dân tộc đã đi đến bờ thắng lợi. Ý nguyện cao cả của Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước rồi “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” đã thành hiện thực bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

 

Qua 67 năm cho thấy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam qua nhiều thập kỷ khảo nghiệm, tìm con đường cứu nước; là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau ngày thành lập Đảng và để lại nhiều bài học lịch sử vô cùng quý giá cho cách mạng Việt Nam.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đe dọa, khó khăn chồng chất, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Đảng, Nhà nước cùng toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu: Thực hiện thắng lợi Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương; mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân; xây dựng nền kinh tế mới, nền văn hóa mới…

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập. Quyết tâm đoàn kết dân tộc để xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đưa dân tộc ta sánh vai cùng với các nước trên thế giới. Một dân tộc đã làm nên những chiến công hiển hách, mang tầm vóc lịch sử; một dân tộc với tinh thần quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Theo baoanhdatmui.vn
dostquangtri.gov.vn

Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện tại

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc. Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Từ cuối thế kỷ 19, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo. Chúng chia cắt đất nước ta, xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược.Khi phát-xít Nhật xâm lăng Ðông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, dân ta chịu hai tầng áp bức: quân phiệt Nhật và thực dân Pháp. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào bị chết đói.

Tiếp nối truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao bậc trung nghĩa đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng đều thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin – lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại – đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng lập ra Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc, lấy sức mạnh của đội quân chủ lực công – nông làm nòng cốt; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cùng nhiều bài học khác.

65 năm qua, tiếp nối truyền thống và phát huy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Ðảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại những thắng lợi đã qua, chúng ta càng thấy tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi suốt 65 năm qua. Tiếp bước con đường của Cách mạng Tháng Tám, trước yêu cầu phát triển đất nước và trước những thời cơ và nguy cơ, Ðảng ta và nhân dân ta xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nhiệm vụ trước hết phải chăm lo xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, ngăn ngừa mọi sự chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, nhiệm vụ phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HÐH được Ðảng xác định là nhiệm vụ trung tâm.

Phát huy bản sắc truyền thống “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc, Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng sáng ngời của ý chí quật khởi của cả dân tộc. Thấm nhuần sâu sắc kinh nghiệm đại đoàn kết dân tộc của Cách mạng Tháng Tám, hơn lúc nào hết, ngày nay chúng ta phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài, hướng sức mạnh đó vào mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 820/QÐ-TTg ngày 7-6-2010 phê duyệt Ðề án Tổ chức kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám (19-8-1945 – 19-8-2010) và Quốc khánh (2-9-1945 – 2-9-2010).Lễ Kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 được tổ chức tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ðài Liệt sĩ và Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Ðình, Hà Nội vào ngày 1-9. Ðây là hoạt động nhằm khẳng định vị trí, tầm vóc vĩ đại, giá trị lịch sử to lớn của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc; khẳng định vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Ðảng. Thông qua các hoạt động tuyên truyền nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng hòa bình của dân tộc; đề cao tinh thần đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đã hy sinh xương máu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; cổ vũ toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Ðảng, thi đua lập thành tích chào mừng Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng. Ðồng thời, đây cũng là hoạt động nêu cao tinh thần tự hào dân tộc, khẳng định ý chí quyết tâm của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước trong thời kỳ mới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; giới thiệu đến mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước, bạn bè quốc tế, đồng bào Việt Nam sống xa Tổ quốc những thành quả của công cuộc xây dựng đất nước trong 65 năm qua dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Đình Khánh
congdoanbinhdinh.org.vn

Bức ảnh lịch sử ngày 19-8-1945

THỜI NAY-NDĐT- Bức ảnh “Chiếm Phủ Khâm sai” trong dịp Tổng khởi nghĩa 19-8-1945 tại Hà Nội cho thấy không khí cách mạng sôi sục của nhân dân Thủ đô. Lần giở lại lịch sử để hiểu thêm về những con người và sự kiện của 67 năm về trước.

Bức ảnh lịch sử “Chiếm Phủ Khâm sai”

Chớp thời cơ khởi nghĩa

Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội 19-8-1945 ở Hà Nội gồm năm người: Chủ tịch Nguyễn Khang (ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ phụ trách Hà Nội); ông Nguyễn Quyết, Bí thư Thành ủy, ủy viên quân sự; ông Lê Trọng Nghĩa, đại diện cho nhân sĩ, trí thức (Bí thư Đảng đoàn Dân chủ Đảng), ông Trần Quang Huy, phụ trách công vận và ông Nguyễn Duy Thân, phụ trách tư sản, tiểu thương. Cố vấn của Ủy ban là ông Trần Đình Long, từng học ở Đại học Phương Đông Moscow. Trực cơ quan Xứ ủy tại Vạn Phúc, Hà Đông là Thường vụ Xứ ủy Trần Tử Bình, phụ trách khởi nghĩa ở các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ.

Trong một cuộc gặp với đại tá Nguyễn Duy Thành, con thứ của ông Nguyễn Duy Thân vào năm 2009, tôi đã thăm bà Phan Thị Sáng, mẹ của ông Thành. Đã 90 tuổi nhưng bà cụ vẫn minh mẫn. Giở cho xem bức ảnh lịch sử “Chiếm Phủ Khâm sai” trong chồng ảnh tư liệu, bà chậm rãi nói: “Đây là báu vật của gia đình. Tác giả là ông Vũ Năng An. Ông ấy mất cách đây mấy năm. Còn ông Thân nhà tôi mất chỉ sau khi bức ảnh này được chụp có bảy năm”.

Quê ông Nguyễn Duy Thân ở làng Đình Bảng, Bắc Ninh, vùng quê Kinh Bắc giàu có với truyền thống sản xuất, thương mại. Năm 1934, nhờ nhà có điều kiện, ông được ra Thủ đô Hà Nội ăn học, thi đỗ vào trường Bưởi. Tại đây, ông được giác ngộ cách mạng và tham gia phong trào thanh niên, học sinh tại trường. Năm 1937, bị mật thám Pháp theo dõi, ông được tổ chức cho thoát ly về dạy học ở xã Trung Mầu, ven đê sông Đuống. Năm 1940, ông về quê tham gia thành lập “chi bộ ghép” thuộc huyện Từ Sơn. Về tới xã, ông tuyên truyền vận động giác ngộ quần chúng cùng anh em, họ hàng thành lập chi bộ đầu tiên ở xã Đình Bảng. Ông Lê Quang Đạo (sau này là Trung tướng, rồi Chủ tịch QH), cháu gọi ông Thân là cậu ruột, được ông giới thiệu kết nạp và là Bí thư đầu tiên của xã. Vừa tham gia sinh hoạt tại chi bộ xã, ông Thân vừa tham gia hoạt động tại Hà Nội.

Tới năm 1941, ông bị lộ, bị bắt và đày lên Sơn La. Những tháng năm giam cầm ở nhà tù Sơn La, vì giỏi tiếng Pháp, khi bị tra tấn, ông lý luận với quản giáo: “Nghe nói nước Pháp dân chủ, văn minh. Vậy cớ sao ở đây các ông lại hành hạ, đánh đập tù chính trị? Như vậy có dân chủ, văn minh hay không?”. Đuối lý, kẻ địch phải cho ông – một trong số ít tù chính trị – không phải mặc quần áo tù. Đầu năm 1945, ông cùng một số tù chính trị ở Sơn La – lợi dụng tình hình Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương – tổ chức vượt ngục thành công. Ngay sau đó, ông về Đan Thượng, Phú Thọ xây dựng “chi bộ ghép” đầu tiên, sau này phát triển sang cả Yên Bái. Ít lâu sau, ông được cử về tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng ở Hà Nội. Bà con buôn bán ở Hà Nội, nhất là Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bồ có nhiều doanh nhân tư sản gốc Đình Bảng, Bắc Ninh. Họ có quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Ông đã tranh thủ tình đồng hương và khơi dậy tinh thần yêu nước của bà con, vận động ủng hộ Việt Minh.

Đầu tháng 8-1945, cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Xứ ủy Bắc kỳ đều lên Tân Trào dự Quốc dân đại hội. Chiều 15-8, nghe tin trên đài biết Nhật đầu hàng Đồng minh, Thường vụ Xứ ủy quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội, giao cho ông Nguyễn Khang làm Chủ tịch, ông Trần Đình Long là cố vấn và ông Nguyễn Duy Thân là ủy viên phụ trách “giới công thương” cùng các ông Nguyễn Quyết, Lê Trọng Nghĩa, Trần Quang Huy. Ngày 17-8-1945, chứng kiến quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Việt Minh biến cuộc mít-tinh của công chức ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim được Nhật bảo hộ thành cuộc tuần hành thị uy cách mạng. Ngày 18-8, Ủy ban Quân sự cách mạng chuyển vào số nhà 101 Gambette (nay là 101 Trần Hưng Đạo, trụ sở Viện Khoa học Giáo dục) làm việc. Không khí tấp nập lạ thường.

Sáng 19-8, bà con từ khắp các cửa ô kéo về Bờ Hồ rồi tập trung ở Quảng trường Nhà hát Lớn. Sau mit-tinh, hàng vạn quần chúng cách mạng từ quảng trường chia làm hai cánh: Cánh thứ nhất do ông Khang, ông Bình dẫn đầu tiến công vào Phủ Khâm sai, cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn, sau đó đánh tiếp ra Sở Bưu điện, Nhà băng Đông Dương…; cánh thứ hai do ông Nguyễn Quyết chỉ huy tiến công vào Trại Bảo an binh (đối diện rạp chiếu phim Majestic – nay là rạp Tháng Tám). Ông Thân theo cánh thứ nhất. Ai cũng phấn khích khi thấy quần chúng cách mạng ào ào tiến tới Phủ. Ông Trần Tử Bình chỉ thị qua điện thoại, buộc chính quyền các tỉnh phải bàn giao ấn tín và trụ sở cho Việt Minh. Ông Thân được phân công tiếp nhận và quản lý công việc hành chính của Phủ Khâm sai.

Bức ảnh lịch sử

Bức ảnh mà cụ Phan Thị Sáng có được, người bấm máy là ông Vũ Năng An, vốn là tay chụp ảnh có hạng ở Hà Nội. Sinh năm 1916 tại Nam Định, năm 20 tuổi ông An rời Nam Định vào nam lập thân. Khởi đầu xin học nghề ảnh tại Studio Géo Thơm ở Sài Gòn, rồi ông là một trong những người vận động thành lập Hội điện ảnh An Nam vào năm 1937-38. Với sự nhạy cảm của người cầm máy, ông cố gắng chụp cho được càng nhiều “pô” ảnh ghi lại những sự kiện thời sự trọng đại càng tốt. Sáng 19-8-1945, ngay tại Quảng trường Nhà hát Lớn, ông đã chụp được bức ảnh toàn cảnh vô giá về khí thế hừng hực của quần chúng nhân dân.

Khi về nhà tráng phim, in ảnh xong, giơ bức ảnh lên xem thì thấy rõ hình ảnh của ông Nguyễn Duy Thân, mặc áo vét, đầu đội mũ phớt, đang chạy về phía cổng. Đứng ngay trước ông là người để đầu trần, theo sau ông là người đội mũ cối… Ông An xúc động, thầm nghĩ sẽ tìm cách tặng cho người ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội bức ảnh này…

Còn bà về Phan Thị Sáng, trước ngày 19-8 bà đã tham gia vận động quần chúng, chuẩn bị khởi nghĩa ở Bắc Ninh. Sau này trò chuyện về Tổng khởi nghĩa, ông Lê Trọng Nghĩa thường nhắc: “Tôi cứ nhớ mãi cái hình ảnh bà Sáng súng buộc ngang lưng, dõng dạc đứng lên trong hội nghị của Hà Nội chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, nói lại kinh nghiệm của Bắc Ninh: “Các đồng chí khi cướp được công sở nhớ cử người mang súng cảnh giới, nếu không chỉ cần có tiếng súng nổ đẹt của mấy tay lính khố xanh, khố đỏ cũng làm bà con hốt hoảng mà tan rã”. Đầu tháng 8, bà được cùng đoàn đại biểu Bắc Ninh và Hà Nội (có ông Nguyễn Văn Trân, Trần Quốc Hoàn) đi dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào. Trước ngày khai mạc Đại hội, bà là đại biểu phụ nữ đặc cách dự Hội nghị Trung ương mở rộng. Sau đó bà trở về Bắc Ninh xây dựng chính quyền nhân dân.

Bà kể: “Cuối năm 1945, đầu 1946, quân Tàu Tưởng vào giải giáp quân Nhật, đóng ở bốt Đáp Cầu và rất hay nhũng nhiễu nhân dân. Khi tỉnh ủy bàn phải đánh thì bà đề nghị phải tiêu diệt gọn. Sau trận đánh, không ngờ có tên thoát chết, chạy thoát thân về Hà Nội. Quân Tàu Tưởng hay tin đã kiện Chính phủ ta. Dân thị xã Bắc Ninh ngày đó còn thêu dệt: Bà Vũ Thị Khôi (bí danh của bà) chỉ huy trận đánh bốt Đáp Cầu, sau đó lấy ngựa hồng của chỉ huy Tàu chạy khắp thị xã. Vì có “kiện tụng”, ông Thân được cử lên Bắc Ninh thanh tra. Tới nơi ông yêu cầu gặp người bị kiện. Đứng trước ông không phải một nam nhi râu hùm hàm én mà lại là một cô gái trẻ đẹp, mặc áo dài the, đầu chít khăn mỏ quạ, có “súng sáu” giắt lưng. Ông lặng người thầm nghĩ: tại sao người con gái nhỏ bé, xinh xắn thế này lại có thể làm cái việc động trời như vậy? Ngay sau đó ông tìm hiểu rồi nhờ ông Xuân Thủy mai mối. Thấy ông tài giỏi, đẹp trai lại vào sinh ra tử, cùng chung lý tưởng nên bà nhanh chóng chấp nhận. Vậy là họ nên vợ nên chồng.

Hai ông bà cùng là đại biểu Khóa I của QH lập hiến 1946, tham gia xây dựng những bộ luật đầu tiên của nước Việt Nam mới. Ngày 14-4-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh số 175, cử ông Nguyễn Khang làm Chủ tịch và ông Nguyễn Duy Thân làm Phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính và Thường vụ Liên khu một (Việt Bắc). Đến cuối năm 1951, ông Thân được cử đi học tại Trường Đại học Mác – Lê-nin của Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với một số cán bộ. Sau đó, ông Thân lâm bệnh rồi qua đời ở Bắc Kinh, Trung Quốc.

Ngày 15-5-2010, bà Phan Thị Sáng ra đi ở tuổi 91 khi chưa kịp chứng kiến dịp kỷ niệm lần thứ 65 Cách mạng Tháng Tám 1945 – ngày mà cả dân tộc trong đó có gia đình bà vùng đứng lên Tổng khởi nghĩa đưa lịch sử của dân tộc lật sang trang mới.

TRẦN KIẾN QUỐC
nhandan.com.vn

Ba bài học lớn từ Cách mạng Tháng Tám

Đúng ngày này, cách đây tròn 67 năm – ngày 19-8-1945 – dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn thể nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Đánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, trong Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Cách mạng Tháng Tám là một sự kiện vĩ đại, mở ra một bước ngoặt lớn và ghi thêm vào lịch sử dân tộc những trang chói lọi.

Quân và dân Hà Nội chiếm Phủ Khâm sai ngày 19-8-1945. Ảnh: tư liệu

65 năm đã trôi qua, nhưng những bài học quý báu của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng, phát triển Thủ đô và đất nước hôm nay. Đó là bài học chớp thời cơ. Ngay trong đêm 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1. Bác Hồ đã khẳng định: “Lúc này, thời cơ thắng lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Lịch sử đã chứng minh rằng, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, không thể lấy thời điểm nào khác ngoài thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chọn.

Đó là bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong những ngày Tháng Tám sục sôi cách mạng, trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình trong nước và thế giới có lợi cho cách mạng Việt Nam, đứng trước thời cơ ngàn năm có một để giành chính quyền, Đảng ta đã có những quyết định quan trọng: Triệu tập Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng từ ngày 13 đến 15-8-1945 và Đại hội quốc dân ngày 16-8-1945 tại Tân Trào; phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa! Nghe theo tiếng gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng chục triệu đồng bào trong cả nước đã nhất tề đứng dậy tiến hành các cuộc biểu tình, mít tinh, vũ trang thị uy, chiếm công sở của địch, xóa bỏ hệ thống cai trị của chế độ cũ, khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng. Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng tuyệt vời của sức mạnh Việt Nam, của tinh thần, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.

Đó là bài học về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng niềm tin cho quần chúng vào sự thắng lợi tất yếu của cách mạng. Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Đảng ta chỉ có khoảng 5.000 đảng viên, thế nhưng mỗi chi, đảng bộ, mỗi cán bộ, đảng viên đã dũng cảm đi đầu làm gương để quần chúng noi theo. Bí quyết của thành công chính là ở chỗ Đảng tạo được niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, mọi đảng viên đều tạo được niềm tin về sự hy sinh, đạo đức trong sáng của mình đối với quần chúng – không có niềm tin đó thì cách mạng không thể thành công.

Năm nay, kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám thành công cũng là dịp Hà Nội cùng các địa phương khác trong cả nước đang nỗ lực thi đua hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của giai đoạn 2005 – 2010. Nhìn lại chặng đường 5 năm qua, vượt lên bao khó khăn, thử thách, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, thống nhất, hăng hái trong lao động, sản xuất và đã đạt được các thành tựu rất quan trọng. Các cấp, ngành của thành phố đã tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khóa X), Nghị quyết số 15 của Quốc hội (khóa XII) và 9 chương trình công tác lớn của Thành ủy; 5 nhiệm vụ trọng tâm và 2 khâu đột phá của thành phố, đạt và vượt chỉ tiêu Đại hội XIV của Đảng bộ đề ra. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá (trên 10,4%/năm); đời sống của cán bộ công chức và người dân được cải thiện; văn hóa – xã hội có chuyển biến tiến bộ; công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị được tăng cường, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quan hệ hợp tác, đối ngoại của Thủ đô được mở rộng…

Từ nay đến Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội thời gian không còn nhiều, công việc trước mắt còn bộn bề, thế nhưng nếu biết phát huy và vận dụng có hiệu quả giá trị vô cùng to lớn từ những bài học của Cách mạng Tháng Tám: Bài học về chớp thời cơ; bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; bài học về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, chắc chắn Hà Nội sẽ đẩy nhanh được tiến độ thi công các công trình, dự án trọng điểm, bảo đảm hoàn thành đúng kế hoạch và có chất lượng, thiết thực phục vụ phát triển KT-XH và đời sống nhân dân Thủ đô; tổ chức thành công Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, để lại ấn tượng sâu sắc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín Thủ đô Hà Nội trong lòng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.

Hànộimới
hanoimoi.com.vn

Cách mạng Tháng Tám mở ra thời đại Hồ Chí Minh

(HNM) – Cách mạng tháng Tám năm 1945 – Một mốc son trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thành quả Cách mạng tháng Tám năm 1945 tạo ra những biến đổi lớn về chính trị, xã hội, mang tầm bao quát rộng lớn về chiều hướng phát triển đất nước và chứa đựng những yếu tố cơ bản sự vận động phù hợp với sự phát triển nội tại của đất nước trong xu thế phát triển chung của nhân loại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là nhà cách mạng tài ba Hồ Chí Minh, Cách mạng tháng Tám đặt nền móng cho một thời đại mới ở Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám chấm dứt vĩnh viễn chế độ quân chủ phong kiến hàng ngàn năm, xóa bỏ chế độ thực dân, mở ra một thời đại mới. Chế độ phong kiến kéo dài hơn ngàn năm ở nước ta mang bản chất quân chủ phong kiến. Quyền lực của vua là tối thượng, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều ở nơi vua. Giang sơn đất nước là của vua, dân là phương tiện bảo vệ, hy sinh cho quyền lực và lợi ích ấy. Vua là đấng minh quân, quan là bậc trung quân, ái quốc, biết nhìn ra sức dân, biết dựa vào hiền tài để chấn hưng đất nước thì dân được nhờ, đất nước vững mạnh. Vua và quan lại mà sa đọa, tham lam, bè cánh trục lợi về quyền lực và vật chất thì dân khổ, nước suy, họa mất ngai vàng và mất nước là nguy cơ khôn lường.

Trong cảnh lầm than của nhân dân một nước phong kiến – thuộc địa, đầu thế kỷ XX, người thanh niên yêu nước Văn Ba ra nước ngoài và mang tên Nguyễn Ái Quốc, rồi trở về với tên gọi Hồ Chí Minh, đã khởi xướng cuộc biến đổi to lớn cho đất nước, cho nhân dân. Cách mạng tháng Tám thắng lợi vừa đánh dấu chấm hết vĩnh viễn chế độ quân chủ phong kiến từng tồn tại hàng ngàn năm và phá tan xiềng xích thực dân gần trăm năm trên đất nước ta, làm thay đổi căn bản chế độ chính trị trong xã hội Việt Nam, vừa là khởi đầu cho một thời đại mới, thời đại mà người dân từ vị thế bị áp bức, bóc lột, trở thành người làm chủ bản thân, làm chủ đất nước thông qua chế độ dân chủ.

Thời đại dân là chủ, dân làm chủ bắt đầu. Sau khi đã trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”(1), ngay ngày hôm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rằng, chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Người đề nghị sớm tổ chức cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Ngày 6-1-1946, sau vài tháng chuẩn bị, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc đã diễn ra. Tất cả công dân trai gái từ 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống… Đó “là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”(2), điều mà ngàn năm trước đó không có. Hiến pháp dân chủ khẳng định vị thế chủ nhân đất nước là nhân dân. Mọi quyền lực, quyền lợi đều thuộc nơi dân. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và khu vực Đông – Nam Châu Á xuất hiện một hình thái nhà nước mới – nhà nước dân chủ, nhân dân.

Nếu như tính dân tộc là đặc trưng truyền thống, xuyên suốt lịch sử dân tộc thì tính dân chủ là đặc trưng mới bắt đầu từ Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Hơn một phần tư thế kỷ đổi mới, thực hành dân chủ từng bước được chú trọng. Hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức trong nhiều lĩnh vực hoạt động của hệ thống chính trị đang dần được khắc phục, điều rõ nhất là Quốc hội mấy khóa gần đây đã, đang từng bước phát huy dân chủ trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân. Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh thực hành dân chủ trên thực tế. Dân chủ là một đặc trưng rất cơ bản, một tất yếu lịch sử trong thời đại Hồ Chí Minh.

Triết lý độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH) là đặc trưng xuyên suốt thời đại Hồ Chí Minh ở nước ta. Trong hoàn cảnh mất nước thì quyền lợi dân tộc được đặt lên trên hết, vì có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi được độc lập cho dân tộc thì chẳng những quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Người từng tuyên bố “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do, độc lập”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Vừa giành chính quyền, nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kế tiếp là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Giang sơn đất nước vừa mới thu về một mối thì phải đương đầu với chiến tranh xâm lược trên tuyến biên giới phía Bắc và biên giới Tây – Nam. Gần nửa thế kỷ, đất nước ta phải chịu đựng biết bao hy sinh, mất mát để bảo toàn độc lập. Thế mới biết giá trị độc lập trên đất nước này thiêng liêng như thế nào, thế mới thấu lòng Dân, ý Đảng khi ấy hòa quyện sâu đậm như thế nào.

Trước khi đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(3). Đây vừa là tư tưởng, ý chí, tình cảm, vừa là ngọn cờ cách mạng của nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng CNXH.

Mục tiêu độc lập, hòa bình, thống nhất đã đạt được. Nhưng mục tiêu giàu mạnh, dân chủ vẫn còn là khát vọng cháy bỏng của Đảng ta và nhân dân ta. Hơn 25 năm kể từ Đại hội VI, 20 năm kể từ Đại hội VII đến nay mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh đã được xác định trong Cương lĩnh sửa đổi và phát triển 2011. Mục tiêu đó cũng là nội hàm xây dựng CNXH.

Như chỉ đạo của Bộ Chính trị, vũ khí chỉnh đốn Đảng thiết thực, hiệu quả nhất lúc này là tự phê chân thành, phê bình thẳng thắn và xây dựng. Cả hai mặt đều quan trọng, có mối quan hệ biện chứng, nhưng tự phê chân thành là tiền đề thúc đẩy phê bình thẳng thắn và tạo môi trường giúp đỡ lẫn nhau trong tình đồng chí. Sự chuẩn bị của Bộ Chính trị rất nghiêm túc, chu đáo để bộ phận đầu não này thực thi và hướng dẫn toàn Đảng thực hiện. Bộ Chính trị là người đề xướng và tổ chức thực hiện, hơn nữa lại thực hiện trước, vì thế, có cơ sở để tin tưởng rằng, sự khởi đầu từ “nóc nhà” sẽ có kết quả mang tính nêu gương và có sức lan tỏa. Chỉ có thế Đảng ta mới kiên định được độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Đạo đức Hồ Chí Minh có giá trị xuyên thời đại mang tên Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Người để lại một di sản quý giá cho Đảng, cho dân, đó là Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đạo đức là nền tảng tư chất của người cách mạng, nó giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Theo Bác, việc tu dưỡng đạo đức suốt đời giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Đạo đức Hồ Chí Minh gắn chặt với tình yêu thương con người, thấu hiểu giá trị làm người. Khát vọng của Người: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người lại nói: “ Nước độc lập, mà dân không có tự do, thì độc lập ấy chẳng có ý nghĩa gì”. Người đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Không phải ngẫu nhiên, khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước của dân ra đời, người đặt Quốc hiệu là “Việt Nam dân chủ, công hòa; Độc lập, tự do, hạnh phúc”. Độc lập, tự do, hạnh phúc là khát vọng của Người, cũng là tuyên ngôn phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam từ 67 năm trước.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức mỗi người không tách rời đức tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên, đặc biệt là “một bộ phận không nhỏ” phải siêng năng, không lười biếng; phải biết tiết kiệm tiền của, công sức của dân, của nước, của bản thân mình; phải có đôi bàn tay sạch, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không tham lam quyền lực và vật chất; phải thẳng thắn, đứng đắn, nói đi đôi với làm, khiêm tốn, đoàn kết thật thà; phải để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không phai nhạt lý tưởng, không lợi dụng chức quyền để tùy tiện, vô nguyên tắc.

Thực hiện di huấn của Người làm nên thời đại ở Việt Nam và để xứng đáng với sứ mệnh là người tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, toàn Đảng đang triển khai thực hiện Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng”. Nếu những biểu hiện suy thoái (chính là chủ nghĩa cá nhân) của “một bộ phận không nhỏ” từng bước được quét sạch, thì đạo đức cách mạng mới được nâng cao. Lúc đó, lòng Dân, ý Đảng sẽ sắt son như những tháng năm hy sinh trước bom đạn vì độc lập dân tộc.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức của Người luôn là nguồn sáng để mỗi đảng viên, mỗi người dân tự soi mình để vươn tới tầm tư tưởng nhân văn ấy. Đồng thời, tấm gương đạo đức của Người đang là, phải là chuẩn mực để loại bỏ những con người cố tình làm băng hoại nền tảng đạo đức xã hội, làm giảm uy tín của Đảng trước nhân dân.

Thời đại Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc đến với nhân loại. Hồ Chí Minh đặt nền móng xây dựng tinh thần quốc tế trong sáng. Đó là, tình đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước. Theo Người, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Tinh thần quốc tế trong sáng của Người thể hiện ở lòng chân thành, giản dị, suốt đời hy sinh vì nhân quần, nhân ái. Người không đứng ngoài hay ở trên nhân dân, mà sống cùng nhân dân. Người không phân biệt màu da, sắc tộc, mà gần gũi với tất cả nhân dân lao động bốn phương. Người đã đưa dân tộc ta đến với nhân loại và sống cùng thời đại.

Cách mạng tháng Tám đã đưa dân tộc ta đứng ngang hàng và bình đẳng cùng phát triển với các dân tộc khác trên thế giới. Ngoại giao Hồ Chí Minh đã mở rộng quy mô cuộc đấu tranh giành và giữ vững nền độc lập dân tộc trên phạm vi thế giới. Phương châm này đã được Đảng ta khái quát thành chủ trương Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Tư tưởng ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh đã và đang đưa nhân dân ta đến với thế giới và đưa nhân dân thế giới đến với Việt Nam. Bác nói: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đang chung đúc cái chiêng Việt Nam bền đẹp đủ sức cất tiếng ngang tầm thời đại trong thế giới hôm nay.
*             *
Tầm vóc và vị thế của Việt Nam hôm nay có nguồn gốc bắt đầu từ sự biến đổi vĩ đại là Cách mạng tháng Tám năm 1945. Dấu ấn Hồ Chí Minh đậm nét trên chặng đường sinh ra những biến đổi mang tính cách mạng sâu sắc ấy và là nền tảng tạo ra những bước phát triển mới trên đất nước ta. Thời đại sau Cách mạng tháng Tám gắn liền với tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và mang tên thời đại Hồ Chí Minh. Gọi thế, vừa là để khẳng định tư tưởng của Người thực sự đã và đang là ngọn đuốc soi đường cho đất nước phát triển, vừa là để ghi ơn người con của dân tộc vì “chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”(4).

Thời đại Hồ Chí Minh còn rất dài và mãi mãi đồng hành cùng dân tộc.

(1) Tuyên ngôn Độc lập.
(2) Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu của Hồ Chủ tịch (công bố ngày 5-1-1946).
(3) Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
(4) Điếu văn Hồ Chủ tịch của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc tại tang lễ được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 tại Quảng trường Ba Đình.

PGS.TS Phạm Xuân Hằng
hanoimoi.com.vn

Tin liên quan:

Cách mạng Tháng Tám là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc

(HNM) – Hôm qua 31-8, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2010). Hơn 40 nhà khoa học đến từ các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học trên cả nước đã tham dự.

Trong 63 bài tham luận, các nhà khoa học đã tập trung làm rõ thêm nguyên nhân, ý nghĩa và những bài học quý báu từ Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng như một số giai đoạn lịch sử sau này. Nhiều tham luận có tính phát hiện về chủ trương, chính sách của Đảng ta ngay từ thời kỳ đầu thành lập nước mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị như về chính sách dân tộc, dân chủ hay các chính sách về tôn giáo… qua đó khẳng định Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chất chứa rất nhiều bài học thực tiễn quý báu về độc lập, tự chủ, đoàn kết, đối nội, đối ngoại, về thời cơ và chớp thời cơ.

* Sáng 31-8, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Đến dự có đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên BCT, Bí thư Thành ủy; Chủ tịch HĐND TP Phạm Phương Thảo; Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân cùng các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, đại diện các ban, ngành, đoàn thể, các nhân sĩ, trí thức, lực lượng vũ trang…

Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân đã ôn lại quá trình đấu tranh hào hùng của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng loạt khởi nghĩa giành chính quyền. Tự hào và phát huy thành quả ấy, Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định – TP Hồ Chí Minh trong 65 năm qua luôn nêu cao truyền thống đấu tranh kiên cường, cùng quân dân cả nước đoàn kết làm nên những thắng lợi quan trọng. Trong hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, TP đã đạt được những thành tựu to lớn, xứng đáng kế tục sự nghiệp cách mạng của các thế hệ đi trước, tạo nền tảng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trong dịp này, TP đã tổ chức trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho 18 tập thể và cá nhân đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

* Nhân kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, 80 năm Ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam, sáng 31-8, Hội LHPN TP Hà Nội phối hợp với Ban Liên lạc phụ nữ kháng chiến và tiếp quản Thủ đô tổ chức buổi giao lưu với 85 cán bộ nữ lão thành. Tại buổi giao lưu, lãnh đạo Hội LHPN TP đã thăm hỏi, động viên, nữ cán bộ lão thành tiếp tục phát huy truyền thống, là tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo, tích cực tham gia giáo dục thế hệ trẻ.

* Cùng ngày, các quận Ba Đình, Hoàng Mai đã tổ chức trao tặng Huy hiệu Đảng cho các đảng viên có tuổi Đảng từ 30 năm trở lên. 483 đảng viên của quận Ba Đình đã vinh dự được nhận Huy hiệu Đảng đợt này. Trong đó, có một đảng viên nhận Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng; 81 đảng viên nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, 171 đảng viên nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; 230 đảng viên nhận Huy hiệu 40 năm và 30 năm tuổi Đảng. Quận ủy Hoàng Mai tổ chức lễ trao tặng huy hiệu 60, 50, 40 và 30 năm tuổi Đảng đợt 2-9 cho 365 đảng viên thuộc đảng bộ các phường trên địa bàn.

* Ngày 31-8, Hội Cựu chiến binh (CCB) Thủ đô công bố Quyết định số 1223 ngày 19-8-2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc thành lập Báo CCB Thủ đô.

Báo CCB Thủ đô ra đời thay thế Bản tin CCB Thủ đô (trực thuộc Hội CCB Thủ đô). Báo gồm 8 trang, xuất bản một kỳ vào thứ năm hằng tuần.

Nhóm PV Nội Chính và Bình Minh
hanoimoi.com.vn

Cách mạng tháng Tám: Khởi nguồn của các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử (ảnh tư liệu)

(VOV) – Sau 67 năm, Cách mạng tháng Tám và sự kiện Quốc khánh ngày 2/9/1945 của Việt Nam vẫn là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà sử học, học giả, chính giới trên thế giới.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam: đất nước độc lập, nhân dân được tự do sau gần 100 năm thống khổ dưới ách thống trị của thực dân Pháp.

Cuộc cách mạng ấy vượt tầm ảnh hưởng ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành động lực, niềm tin, cổ vũ cho nhân dân các nước thuộc địa đứng lên giành độc lập. 65 năm sau sự kiện lịch sử ấy, Cách mạng tháng Tám và sự kiện Quốc khánh ngày 2/9/1945 của Việt Nam vẫn là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà sử học, học giả, chính giới trên thế giới. Theo họ, Cách mạng tháng 8/1945 của Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Đó là, tự do và công lý luôn là khát vọng của mỗi quốc gia.

Nhìn lại bối cảnh lịch sử 65 năm trước, thế giới đang ở giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ hai. Sau khi phát xít Đức sụp đổ và phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, các cường quốc thực dân châu Âu tập trung củng cố sự thống trị của mình tại các khu vực thuộc địa bị suy yếu trong chiến tranh và tiếp tục vơ vét của cải qua quá trình bóc lột các dân tộc bị áp bức. Hoàn cảnh đó khiến các dân tộc thuộc địa thấy cần phải vùng lên làm chủ vận mệnh của mình.

Trong bối cảnh chung đó, Cách mạng Việt Nam đã xác định đúng kẻ thù, tranh thủ mọi khả năng để tập hợp lực lượng, chớp thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa, tuyên bố độc lập và thành lập Nhà nước Cộng hòa dân chủ. Rất nhiều nhà sử học nước ngoài khi nghiên cứu về Việt Nam đều cho rằng, cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 có một ý nghĩa lịch sử sâu sắc, không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam mà còn khởi nguồn các cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách thống trị thực dân của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới.

Giáo sư, Nhà Sử học L.Esmonson, thuộc Trường Đại học Cornell (Mỹ) nhận định: “Đó là một sự kiện lớn của thế giới. Cuộc cách mạng cách đây 65 năm của Việt Nam có một ý nghĩa lịch sử rất to lớn, nó giải phóng con người, giải phóng cho một dân tộc bị áp bức. Trên bình diện quốc tế, nó còn là hình mẫu và là động lực cho nhiều nước khác đứng lên đấu tranh, đánh đuổi thực dân, giành lại chính quyền. Những quốc gia thuộc địa của Pháp, đặc biệt là các nước ở khu vực Đông Dương, Châu Phi đã tiến hành công cuộc cách mạng theo đúng tiến trình cách mạng ở Việt Nam”.

Giáo sư người Jamaica Horet Compel, người từng nghiên cứu nhiều về lịch sử của Việt Nam. Đặc biệt, ông đã nhìn nhận cuộc cách mạng Việt Nam năm 1945 có một tác động to lớn đối với lịch sử đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa Pháp lúc đó, trong đó có nhiều nước Châu Phi. Theo ý kiến của ông, thành công của cuộc cách mạng tháng Tám ở Việt Nam không thể không nhắc tới vai trò lãnh đạo to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông cho biết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người anh hùng dân tộc của Việt Nam và một nhà lãnh đạo kiệt xuất của thế giới. Ông đã đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam. Tôi nhớ vào thời kỳ đó, các dân tộc ở Châu Phi cũng đang trong quá trình đấu tranh chống lại sự áp bức của thực dân và Người đã nhìn nhận thấy sự liên hệ giữa cuộc đấu tranh của các dân tộc ở Châu Phi với cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Khi cuộc cách mạng ở Việt Nam thành công, cũng là lúc các nước Châu Phi như: Cameroon, Algeria, Tanzania… đang chuẩn bị những cuộc cách mạng lớn. Nhờ có bài học từ Việt Nam, họ đã có những bài học kinh nghiệm quý báu, làm nên thành công của các cuộc cách mạng ở những nước thuộc địa Pháp ở Châu Phi.

Cũng chung quan điểm với Giáo sư Horet, liên hệ với thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc tại Châu Phi thời điểm đó, ông Abdelkhader Messahel, Bộ trưởng Ngoại giao Algeria cho rằng: nguyên nhân quan trọng khiến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam là vì Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp thu và vận dụng học thuyết Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách triệt để và sáng tạo.

Là người đã có thực tiễn hoạt động phong phú trong phong trào quốc tế cộng sản, từng bôn ba khắp nơi trên thế giới, từ các nước tư bản đế quốc nhiều thuộc địa, lớn mạnh nhất đến các nước thuộc địa lạc hậu nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản – Bộ Tham mưu của giai cấp và dân tộc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.

Theo ông Messahel, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào cách mạng tại các nước thuộc địa ở Châu Phi, Châu Mỹ Latin. Ông nói: “Giữa Việt Nam và Algeria có một mối quan hệ truyền thống lâu đời. Ngay từ thời điểm đó, thời điểm cách đây 65 năm, cuộc Cách mạng Việt Nam đã truyền đi những thông điệp về độc lập tự do cho cách mạng Algeria. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người dẫn dắt cuộc cách mạng vĩ đại ấy, mang lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự do, độc lập sau hàng ngàn năm Bắc thuộc và gần 100 năm Pháp thuộc. Tư tưởng và tầm nhìn vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến cách mạng của đất nước chúng tôi. Hơn thế, tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam đã giác ngộ tinh thần của nhiều binh lính Algeria trong chính hàng ngũ quân đội Pháp và họ trở thành người ủng hộ cách mạng Việt Nam, cùng Việt Nam chống chủ nghĩa thực dân.

65 năm đã trôi qua, nhưng khi đánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám, nhiều bạn bè quốc tế đều có chung nhận định: Không chỉ giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác trên thế giới cũng có thể tự hào rằng: Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng non trẻ đã lãnh đạo cách mạng thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945.

Cách mạng tháng Tám của Việt Nam ghi đậm dấu ấn vào phong trào cách mạng chung trong thế kỷ 20. Vì vậy, có thể nói rằng, cuộc cách mạng Tháng Tám của Việt Nam mãi được coi là ngọn đèn chiếu sáng phong trào giải phóng dân tộc thế giới./.

Thu Hiền
vov.vn

Bài học thời cơ từ Cách mạng Tháng Tám

(VOV) – Bài học về vận dụng thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám hoàn toàn có thể áp dụng vào công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta hôm nay. Chúng ta phải lấy gốc rễ từ việc bồi dưỡng thực lực của chính mình, biết sáng tạo ra thời cơ và tận dụng thời cơ.

Tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại cho Đảng và dân tộc ta nhiều bài học quý báu, trong đó có bài học về dự đoán chính xác thời cơ và nắm đúng thời cơ trong những bước ngoặt lịch sử của cách mạng. Bài học đó vẫn giữ nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, trước bối cảnh thế giới và đất nước hiện nay có nhiều biến đổi lớn lao.

Trong câu chuyện với PGS-TS Phạm Xanh thuộc khoa Sử, trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn về thời cơ của Cách mạng Tháng Tám, ông cứ nhắc đi nhắc lại 2 câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong tù “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí. Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Ông cho rằng, đó là sự khái quát suy nghĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc nắm bắt thời cơ. Chọn đúng thời cơ là một khoa học và một nghệ thuật. Điều này đã được thể hiện rất rõ trong cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945.

PGS-TS Phạm Xanh nói: “Khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, đêm hôm đó, TW Đảng ta họp phiên mở rộng và ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Đảng ta đã dự báo 2 thời cơ có thể tạo ra một cơ hội vàng để nhân dân ta đứng dậy giành chính quyền. Cơ hội thứ nhất là: quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương để đánh Nhật và cơ hội thứ hai là phát xít Nhật đầu hàng đồng minh. Cuối cùng, khả năng thứ hai đã xảy ra, phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh”.

Trên thực tế, thời cơ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn – từ sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh đến trước lúc quân Đồng minh tiến vào nước ta giải giáp quân Nhật, tức là từ ngày 15/8 đến ngày 5/9/1945.

PGS-TS Phạm Xanh khẳng định, lịch sử đã chứng minh rằng, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, không thể lấy thời điểm nào khác ngoài thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chọn. Chính vì phát hiện được thời cơ, nắm bắt được thời cơ, biến thời cơ thành sức mạnh vật chất, Đảng đã phát động cuộc khởi nghĩa trong toàn quốc và giành thắng lợi chỉ trong 10 ngày. Đây là cuộc khởi nghĩa vũ trang nhanh gọn nhất, ít tổn thất nhất, nhưng thành quả thật vô cùng to lớn.

Cơ hội đó không phải quốc gia nào cũng tận dụng được: “Đó là yếu tố khách quan, nó tác động đến tất cả các nước ở khu vực có bị phát xít Nhật chiếm đóng như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia… Thế nhưng, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng được cơ hội đó, lợi dụng được cơ hội đó để giành chính quyền thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám. Vấn đề đặt ra là, cơ hội kết hợp với cái gì để tạo ra thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. Đó chính là nội lực mà Đảng ta đã chuẩn bị từ năm 1941 đến năm 1945”.

Bài học thời cơ của Cách mạng Tháng Tám đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo, đưa cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 đến toàn thắng, giành độc lập trọn vẹn cho cả nước, đưa nước ta vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong công cuộc phát triển đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay, bài học về nắm bắt thời cơ vẫn mang tính thời sự nóng hổi. GS-TS Vũ Văn Hiền, Uỷ viên TW Đảng, Tổng Giám đốc Đài TNVN cho rằng: “Chúng ta đã ra khỏi chiến tranh, ra khỏi sự kiệt quệ kinh tế và đang trở thành một trong những quốc gia phát triển nhanh trên thế giới. Chúng ta có dân số đông, có nền chính trị ổn định, có quan hệ đối ngoại với nhiều quốc gia trên thế giới. Trong khi đó, xu thế của thế giới là toàn cầu hoá kinh tế, phát triển kinh tế tri thức. Nhiều chế độ xã hội cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Vậy, bài học về thời cơ của Cách mạng tháng Tám sẽ được sử dụng như thế nào?

GS-TS Vũ Văn Hiền nhấn mạnh: “Trong Cách mạng tháng Tám, có một khẩu hiệu “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã rất nổi tiếng. Do dự đoán được tình huống có thể xảy ra, Đảng ta đã chỉ đạo rất chính xác, tiến hành khởi nghĩa tháng Tám. Trong điều kiện hiện nay, không có những tình huống cách mạng như xưa. Vì vậy trong thời kỳ mới, chúng ta phải nhìn trước trông sau, đoán định các tình huống phát triển của thế giới, biết được các lực lượng thế giới, biết được các mâu thuẫn trong thế giới, biết được mặt thuận, mặt nghịch trong thế giới hiện nay, từ đó đưa ra những bài toán để phát triển tốt và giải được những vấn đề đang đặt ra”.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một kỳ tích trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Theo Trung tướng, GS Trần Xuân Trường,  nguyên Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự – Bộ Quốc phòng, bài học về vận dụng thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám hoàn toàn có thể áp dụng vào công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta hôm nay.

Tuy nhiên, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền và xây dựng một xã hội là những mặt trận khác nhau, có những quy luật không giống nhau. Nhưng xét đến cùng, cả hai sự nghiệp đó đều phải lấy gốc rễ từ việc bồi dưỡng thực lực của chính mình, biết sáng tạo ra thời cơ và tận dụng thời cơ. Trên mặt trận xây dựng, thời cơ có thể không chỉ đến một lần mà có thể đến nhiều lần, “thực không nên bỏ lỡ”!./.

Hương Giang
vov.vn

Không có Cách mạng tháng Tám, không có ngày nay

(ĐCSVN) – Nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, sẽ không có nước Việt Nam như ngày nay, đó là điều không thể phủ nhận.

Nước ta sẽ trong mô hình xã hội nào nếu như không có cuộc cách mạng dẫn tới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đó? Một số tình huống một số quốc gia tương tự như Việt Nam đã trải qua trong hơn 60 năm đó là:

Tiến hành cuộc cách mạng lật đổ chế độ thực dân, giành độc lập nhưng thất bại, sau này được trao trả độc lập cùng với những quốc gia thuộc địa khác khi chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới.

Tiếp tục là thuộc địa sau đại chiến thế giới lần thứ 2, được trao trả độc lập cùng các quốc gia thuộc địa khác khi chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ.

Cách mạng không nổ ra năm 1945 nhưng cuộc đấu tranh vũ trang khởi nguồn từ Đại chiến thế giới 2 kéo dài tới những năm 50 của thế kỷ XX kết thúc bằng giành được độc lập dân tộc, xây dựng chế độ chính trị mới.

Như vậy là dù tình huống nào, độc lập chỉ có thể có được khi phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ, đánh đổ chế độ thực dân cũ. Thực dân và đế quốc không bao giờ tự nguyện từ bỏ quyền lợi của mình, họ chỉ chịu buông thuộc địa khi đã thất bại trong cuộc chiến chống lại sự nổi dậy của nhân dân hoặc khi chủ nghĩa thực dân cũ tan rã trên phạm vi toàn thế giới buộc họ phải buông, ít ra là trên danh nghĩa. Rõ ràng là vào thời điểm lịch sử cuối những năm 40 của thế kỷ trước, không có con đường nào khác để có độc lập nếu không tranh thủ thời cơ, phát động nhân dân khởi nghĩa, dùng áp lực chính trị và vũ trang lật đổ chính quyền thực dân phong kiến như cuộc Cách mạng tháng Tám. Cũng không có con đường nào khác để ít tổn thất nhất, ít đổ máu nhất nhưng đạt được mục tiêu cao nhất là giành độc lập cho toàn dân dân tộc, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á như Cách mạng tháng Tám đã đạt được. Ngày nay, vẫn còn những người cố tình hạ thấp ý nghĩa lịch sử thậm chí xuyên tạc, đưa ra những luận điểm không có căn cứ về Cách mạng tháng Tám. Đó không phải là những “nhà nghiên cứu lịch sử” ngây thơ hoặc sai lầm không cố ý. Họ là những người cố tình để các thế hệ không trải qua cách mạng, không trải qua chiến tranh hiểu sai lệch lịch sử, hiểu sai về Chủ tịch Hồ Chí Minh để từ đó xa rời lý tưởng, xa rời truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.

Một vấn đề khác đó là Việt Nam liệu có bớt nghèo hơn, có phát triển hơn nếu chọn một cách đi khác, không phải là đánh đuổi Pháp, Nhật, giành độc lập cho dân tộc năm 1945 không? Đúng là đất nước ta phải trải qua hơn 30 năm hao người tốn của để bảo vệ nền độc lập non trẻ. Những cuộc chiến tranh ấy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ. Nhưng cần hiểu rằng, chúng ta đã cố gắng hết sức để mong không có các cuộc chiến tranh đó nhưng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta nhân nhượng. Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới”. Phải chấp nhận các cuộc chiến tranh là nằm ngoài ý muốn của chúng ta. Nhưng tuy trải qua vô vàn hi sinh gian khổ, chiến thắng trong các cuộc chiến tranh đó lại là tiền đề cho công cuộc thoát đói nghèo, đổi mới, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn. Những tiền đề thuận lợi đó, nhiều nước khác đã không có. Tuy họ đi trước ta về trình độ phát triển nhưng họ không thể giải quyết được nhiều mâu thuẫn từ bản chất của chế độ chính trị. Do vậy, có thể tin tưởng rằng trong một tương lai không xa, đất nước ta hoàn toàn có điều kiện thoát nghèo, vươn lên “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Bác Hồ từng mong đợi.

Chưa phải là tất cả nhưng chỉ sau 20 năm, nhiều điều cách đây ít năm còn là ước mơ, nay đã thành hiện thực: từ một nước thiếu gạo nay đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đồng thời đứng trong tốp đầu những nước xuất khẩu cà phê, hạt tiêu, hạt điều, mủ cao su, cá và tôm nước ngọt… của thế giới. Từ một quốc gia phải nhập khẩu 100% dầu mỏ, nay ta đã có dầu thô xuất khẩu và xăng sản xuất trong nước. Từ một quốc gia hầu như trắng về điện nay đã có mặt trong những nước có sản lượng điện lớn. Việt Nam cũng đang trên đường để tự túc được xi măng, phân bón, thép, vải, quần áo may sẵn và nhiều hàng hóa khác. Đời sống của người dân tuy còn khó khăn nhưng đã được cải thiện đáng kể. Việt Nam được Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế có uy tín đánh giá cao về xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, bình đẳng xã hội.

Mỗi năm, kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 là dịp để mỗi người nhìn lại chặng đường đã qua, vững tin đi tới. Năm nay, năm bản lề hoàn thành các chỉ tiêu Đại hội X đề ra, hướng tới Đại hội XI và cũng là năm kỷ niệm 80 năm thành lập Công đoàn Việt Nam, kỷ niệm trọng thể Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 sẽ tiếp thêm sức mạnh để giai cấp công nhân ngành điện vững tin và phấn khởi cùng cả nước hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ còn lại của 3 tháng cuối năm với truyền thống vẻ vang của Cách mạng tháng Tám quang vinh ./.

Vũ Duy Thông
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám – mốc son lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam

Trải qua bao thăng trầm của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân oanh liệt đánh bại những kẻ thù xâm lược hùng mạnh nhất thế kỷ 20, viết nên một chương mới trong lịch sử dân tộc ta. Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam đã cho phép chúng ta thực hiện một cuộc cách mạng vĩ đại chưa từng có trong lịch sử, mà hiện thân là Cách mạng Tháng Tám đã làm sáng ngời chân lý của bao thế hệ “con rồng cháu lạc” Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu hiện mẫu mực của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật chủ động chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán, hiệu quả. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn để tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa long trời, lở đất, có ý nghĩa lịch sử. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là biểu tượng rực rỡ của tinh thần yêu nước nồng nàn, của ý chí quật cường không chịu mất nước, không cam làm nô lệ và khát vọng tự do, hòa bình ấm no, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm; đồng thời, là thắng lợi của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Ðảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức và rèn luyện với tầm nhìn xa, trông rộng đã dự báo chính xác thời cơ cách mạng; tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang; sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng; dựa vào lực lượng toàn dân; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đi từ khởi nghĩa toàn phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, Ðảng ta kịp thời phát động toàn dân, triệu người như một, vùng lên lật đổ chế độ thực dân phong kiến, áp bức, bóc lột, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ dân chủ cộng hòa của Việt Nam. Thành quả vĩ đại và những bài học lịch sử vô cùng quý báu của Cách mạng Tháng Tám là hành trang, động lực tinh thần mạnh mẽ, thôi thúc toàn dân và toàn quân ta, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành các cuộc kháng chiến trường kỳ anh dũng suốt 30 năm, đánh thắng các thế lực ngoại xâm hung bạo của thời đại; lập nên những chiến công hiển hách mà đỉnh cao là Chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954 và Ðại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá, đó là: bài học về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; bài học về vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ để đưa đất nước tiến lên… Song, có lẽ trong thời điểm hiện nay, bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân vẫn là bài học thiết thực nhất. Thực tiễn cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 80 năm qua đã minh chứng rõ điều đó. Chèo thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, các bậc tiền bối đã dạy và cảnh báo cháu con như thế.

Ngày nay, người Việt Nam ai cũng thuộc lòng lời răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Có dịp mở những trang Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ đều thấy Đảng ta rất coi trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng ta đã dựa vào sức dân, huy động sức mạnh toàn dân tộc lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn trùng khó khăn, thách thức, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Như vậy, vai trò của nhân dân mang tính quyết định cho mọi cuộc cách mạng, là chìa khóa mở đường cho mọi cuộc cách mạng mà tưởng chừng khó vượt qua được. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bài học xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc lại càng thiết thực.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã thể hiện rõ: trước hết phải khơi dậy được tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội để thực hiện công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Những người nông dân hôm nay lại tiếp tục bám ruộng, bám rừng, bám biển… để làm giàu cho đất nước. Hạt gạo của đồng bằng sông Cửu Long, châu thổ sông Hồng đã vừa làm ấm lòng hơn 87 triệu dân cả nước, giúp đất nước vượt qua những tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực trong những lần suy thoái; có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới.

Ðất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn; đồng bào ta có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc như hằng mong ước của Bác Hồ. Uy tín và vị thế nước ta được nâng cao trên trường quốc tế, nhân dân ta đang viết tiếp những trang sử vàng của thời kỳ mới. Cách mạng Tháng Tám – mốc son lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam đã và đang tỏa sáng, thôi thúc chúng ta tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nỗ lực hướng tới phát triển bền vững, vượt qua những điểm nghẽn của phát triển bằng những đột phá, đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiện đại, xây dựng xã hội dân chủ với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hoàng Anh
xaydungdang.org.vn