Thư viện

Ngày 19/8/1945: Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Công hòa

Đoàn người biểu tình ngày 19 tháng 8 năm 1945 trước cửa Bắc Bộ phủ, Hà Nội

Cách mạng tháng Tám (ngày 19 tháng 8 năm 1945) là cuộc cách mạng thắng lợi của Việt Minh với quân Pháp, Nhật Bản và chính phủ Đế quốc Việt Nam do vua Bảo Đại phê chuẩn. Kết quả chính phủ cũ giải tán và sau đó đến ngày 2 tháng 9 năm 1945 Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phe trục gồm Đức Ý Nhật đánh lại phe đồng minh gồm Anh, Pháp, Liên Xô. Sau có Mỹ và nhiều nước nữa tham chiến.

Vào tháng 9 năm 1940, ngay giữa Thế chiến thứ hai, Chính phủ Vichy của Pháp, vì đã đầu hàng Đức Quốc Xã, đồng ý cho quân đội Nhật Bản đổ bộ vào Bắc kỳ. Ngay lập tức quân đội Nhật dùng đó làm bàn đạp ảnh hưởng đến các chiến trường Trung Quốc và Đông Nam Á. Trên thực tế, đây là một điểm quan trọng trong chiến lược quân sự của Nhật nhằm thống trị toàn bộ vùng Đông Nam Á. Trong khi chờ đợi cuộc đại thắng của Đức tại châu Âu, Nhật tạm thời duy trì hệ thống bảo hộ của Pháp tại Đông Dương. (Trong những trận đánh lớn hồi đó có thể kể đến việc Hải Quân và Không Quân Nhật xuất phát từ Cam Ranh và Sài Gòn tiêu diệt Hạm đội Viễn Đông của Anh).

Thời gian này, Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, như Khởi nghĩa Nam Kỳ, Khởi nghĩa Bắc Sơn nhưng đều thất bại. Những binh lính tham gia chiến tranh Thái Lan thực hiện cuộc Binh biến Đô Lương cũng thất bại.

Vào tháng 5 năm 1941 các lực lượng ái quốc, trong đó nòng cốt là Đảng Cộng Sản Đông Dương, dẫn đầu bởi Hồ Chí Minh, tập họp tại một địa điểm gần biên giới Việt-Trung, tham gia một tổ chức đứng về phía đồng minh giành độc lập cho Việt Nam gọi là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội. Tổ chức này thường được gọi vắn tắt là Việt Minh. Tổ chức này xây dựng một chiến khu do họ kiểm soát ở biên giới Việt Trung. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp thành lập một trung đội 34 người mang tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân (một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam), ngay sau khi thành lập đã tiến đánh quân Nhật, mở rộng chiến khu. Trước khi Nhật đầu hàng đồng minh, chiến khu đã bao gồm nhiều tỉnh vùng đông Bắc Bắc Bộ, gọi là chiến khu Việt Bắc.

Trong suốt Thế chiến thứ hai, Mỹ đã tích cực hỗ trợ lực lượng kháng chiến Việt Minh trong các hoạt động chống Nhật. Một đơn vị đặc nhiệm của tổ chức OSS (Office of Strategic Services) – tiền thân của Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA) – đã từng hợp tác cùng lực lượng Việt Minh thành lập một đại đội Việt-Mỹ (do Đàm Quang Trung làm đội trưởng và Thiếu tá A. K. Thomas làm cố vấn) nhằm vào mục tiêu chung chống Nhật. Lực lượng Việt Minh cũng bảo vệ các phi công Mỹ bị bắn rơi trong khu vực Đông Dương và đưa họ thoát sang Trung Quốc rồi trao lại cho quân đội Đồng Minh.

Đến năm 1945, thấy quân đội Đức bị đánh bại hoàn toàn tại mặt trận châu Âu và ưu thế của quân đội Mỹ càng ngày càng lên tại mặt trận Thái Bình Dương, Nhật quyết định hoàn toàn khống chế Đông Dương. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật trao tối hậu thư cho Toàn quyền Đông Dương (Gouveneur de l’Indochine), Đô đốc Jean Decoux, yêu cầu đặt toàn bộ quân đội Pháp tại Đông Dương dưới quyền chỉ huy và điều động của họ. Decoux từ chối và bị bắt giam ngay lập tức, không kịp báo lệnh cho lực lượng dưới quyền của mình. Quân đội Nhật, sau đó bất thần tấn công các doanh trại và cơ sở của chính quyền thuộc địa Pháp. Chỉ trong một đêm họ đã thanh toán xong toàn bộ cứ điểm và bắt giam tất cả các quan chức người Pháp.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp thành công và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại ra đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam và mời nhà trí thức Trần Trọng Kim ra thành lập chính phủ khác dưới sự bảo hộ của Nhật. Ngày 17 tháng 4, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 thì ra lệnh giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Trong khi đó, phản ứng trước sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” nhằm phát động cao trào kháng Nhật cứu nước (thay đổi hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với thời kì tiền khởi nghĩa, tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền).

Tại Âu châu, Đức thất trận và đầu hàng ngày 7 tháng 5 năm 1945. Ngày 6 tháng 8, Hoa Kỳ ném hai trái bom nguyên tử trên đảo Hiroshima và Nagasaki. Ngày 14 tháng 8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Do đó quân Nhật tại Việt Nam dao động và tan rã. Theo tối hậu thư Postdam của phe đồng minh gửi Nhật ngày 26 tháng 7, quân đội Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16, và do quân đội Anh từ nam vĩ tuyến 16.

Dưới sự cai trị của Nhật, từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945, nạn đói khủng khiếp diễn ra làm 2 triệu người chết. Đây là thời cơ để Việt Minh xây dựng lực lượng lớn khắp cả nước, họ tập hợp nhân dân cướp các kho thóc Nhật. Đồng thời, một đại hội đại biểu toàn quốc họp trên chiến khu, thành lập Quốc dân Đại hội, tức quốc hội lâm thời. Khi Nhật thất bại, khởi nghĩa nổ ra trên toàn quốc, đó là Cách mạng tháng Tám. Cách mạng diễn ra nhanh chóng với sự tham gia của hầu hết dân chúng, Việt Minh giành được chính quyền trên cả nước trong mười mấy ngày.

Trong khi đó diễn biến tại miền Bắc, khi nhậm chức, bộ trưởng tư pháp Trịnh Đình Thảo của chính phủ Trần Trọng Kim đã ra lệnh thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó và cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai. Tin đồn dân Nhật sắp sửa đầu hàng đã lan tỏa khắp nơi tại miền Bắc, lợi dụng cơ hội, dân chúng đã tụ tập biểu tình, bãi công nhiều nơi, như ở Thái Bình vào ngày 11 tháng 8. Từ ngày 12 tháng 8 năm 1945, các đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh lần lượt tiến công các đồn Nhật ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái… và hỗ trợ nhân dân các tỉnh này tiến lên giành chính quyền tại các tỉnh lỵ.

Hội nghị toàn quốc họp ở Tân Trào ngày 13 tháng 8 năm 1945 đã nhận định rằng những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín mùi và chuẩn bị lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa. Ngày 14-8 một số cán bộ Đảng và Việt Minh dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng căn cứ vào tình hình hiện tại và chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã quyết định cùng nhân dân khởi nghĩa, khởi nghĩa lan rộng ra xã thuộc các tỉnh ở đồng bằng Sông Hồng như Thanh Hóa, Thái Bình….

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, một đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh do Võ Nguyên Giáp chỉ huy từ Tân Trào kéo về bao vây, tấn công quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên.

Sáng ngày 18 tháng 8, Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội chuyển trụ sở làm việc về số nhà 101 Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo). Các uỷ viên tích cực chuẩn bị cho công việc sáng hôm sau.

Sáng sớm ngày 19 tháng 8, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Khoảng 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng được sự bảo vệ của Thanh niên tự vệ, của tổ chức Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra. Đại diện Việt Minh tuyên bố: Tổng khởi nghĩa! Sau đó một cánh tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ, và nhanh chóng làm chủ toàn bộ khu vực này. Lính bảo vệ Phủ đã hạ vũ khí mà không có bất kỳ hành động kháng cự nào trước sức mạnh của nhân dân Hà thành. Khâm sai Bắc kỳ Nguyễn Xuân Chữ (người mới đứng ra thay thế ông Phan Kế Toại) bị bắt giữ và đưa về An toàn khu tại Hà Đông.

Cùng thời gian đó, ông Nguyễn Quyết đã chỉ huy nhân dân chiếm Trại Bảo an binh. Nhưng quân đội Nhật đã can thiệp, đưa xe tăng cùng binh lính bao vây quanh trại, đòi tước vũ khí của lực lượng cách mạng. Ông Nguyễn Khang và ông Trần Tử Bình đã quyết định tiến hành đàm phán với quân đội Nhật vì theo phân tích thì quân Nhật đã rất rệu rã, không còn tinh thần chiến đấu cao và muốn bảo toàn lực lượng khi rút về nước. Hơn nữa nếu quân đội Nhật cố ngăn cản thì cũng không được lợi ích gì vì bản thân chính quyền do họ dựng lên quá yếu ớt, không thể đối trọng với sức mạnh của Việt Minh. Đúng như dự đoán, sau khi tiếp nhận đề nghị của Ủy ban Khởi nghĩa, Nhật đã đồng ý rút quân nhưng yêu cầu phải có một cuộc đàm phán chính thức với cấp chỉ huy tối cao của họ.

Chiều tối 19 tháng 8, phái đoàn của đàm phán của Việt Minh do ông Lê Trọng Nghĩa và cố vấn Trần Đình Long dẫn đầu đã trực tiếp gặp gỡ và đàm phán với tướng Tsuchihashi – Tổng Tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật – ngay tại Tổng hành dinh quân đội Nhật (nay là 33 Phạm Ngũ Lão). Cuộc đàm phán diễn ra khá gay go nhưng cuối cùng phía Nhật, đúng như đã được dự đoán, đã chấp nhận án binh bất động, không can thiệp vào công việc của Việt Minh; đổi lại binh lính của họ sẽ được bảo đảm an toàn, không bị Việt Minh tấn công. Họ đã chấp nhận chính quyền cách mạng. Kết quả đàm phán với Nhật mang ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa Hà Nội bởi phe Việt Minh đã không chỉ tránh được cuộc đối đầu trực tiếp với lực lượng vũ trang của Nhật mà còn loại trừ mọi hy vọng của các lực lượng chính trị khác vào khả năng đảo ngược tình thế tại thủ đô vào thời điểm đó.

Cũng trong đêm 19 tháng 8, Xứ ủy quyết định thành lập Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Bắc bộ và Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Hà Nội, chính thức hoá vai trò của chính quyền cách mạng với nhân dân và cộng đồng quốc tế.

Ngày 20 tháng 8, khoảng 10 giờ 30 sáng, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ, đại diện cho chính quyền cách mạng lâm thời, đã chính thức ra mắt quốc dân đồng bào tại Vườn hoa Con Cóc trước Bắc Bộ phủ.

Ngày 21 tháng 8 tại Huế phong trào Việt Minh bừng nổi dậy. Tướng tư lệnh Nhật đã nhận được chỉ thị của Đông Kinh phải giữ ngôi cho Hoàng đế Bảo Đại, đã bàn với Thủ Tướng Trần Trọng Kim như sau: “Mặc dù nước Nhật đã đầu hàng nhưng quân đội Nhật tại đây vẫn có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự cho tới khi quân đội Đồng minh đến tiếp thu. Xin ngài hãy làm văn thư yêu cầu để chúng tôi tái lập trật tự.” nhưng Thủ Tướng đã từ chối sự giúp đỡ của họ.

Đại tướng Nhật cũng vào yết kiến vua Bảo Đại xin tái lập trật tự để bảo vệ ngai vàng nhưng cũng bị từ chối.

Thắng lợi ở Hà Nội lập tức kéo theo một sự rung động và làm tan vỡ hệ thống chính quyền thân Nhật ở toàn vùng. Các tỉnh trưởng, thị trưởng Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh, Thái Nguyên… đang ngóng trông tin từ Hà Nội, phải vội vàng chuyển sang tìm gặp và theo Việt Minh ở địa phương. Ngày 23 tháng 8, chính quyền cách mạng ở Hải Phòng được thành lập.

Tại Sài Gòn, Huỳnh Phú Sổ kết hợp các tổ chức chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Quốc dân đảng, Đại Việt Quốc dân đảng… thành Mặt trận Quốc qia Việt Nam Thống nhất, tổ chức một cuộc biểu tình lớn chống Pháp.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh tổ chức biểu tình và cướp chính quyền tại Sài Gòn. Đến ngày 28 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền toàn quốc. Hai tỉnh cướp được chính quyền cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng.

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của Pháp trong gần một thế kỉ tại Việt Nam, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế gần một nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai.

BKTTM
cuocsongviet.com.vn

Tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám 1945

(ĐCSVN) – Cuộc cách mạng nhân dân năng động và sáng tạo của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi vào tháng Tám năm 1945. Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo đầu tiên và duy nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa trong lịch sử nhân loại thế kỷ XX.

Ảnh tư liệu

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam đã đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp câu kết với chế độ phong kiến gần một trăm năm, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Nó chẳng những khẳng định giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực, chiến đấu quả cảm đã “vung ra nghị lực phi thường” nhất tề đứng lên giành độc lập tự do mà còn khẳng định sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối chiến lược và sự thay đổi sách lược đúng đắn chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân, đưa Việt Nam gia nhập đại gia đình vô sản quốc tế sánh vai với các cường quốc văn minh trên thế giới.

Trong bối cảnh lịch sử thế giới thế kỷ XX, thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa thời đại to lớn.

1. Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trên toàn thế giới

Đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn thứ hai trong lịch sử phát triển. Đó là sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc mà V.I.Lênin khẳng định đó là “Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Là người đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phi mác xít của “phái hữu” và “phái giữa” trong Quốc tế Hai sau khi Ăngghen mất năm 1895, Lênin đã đấu tranh để vạch rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Theo Người, nó không phải là “Khai hoá văn minh” cho các dân tộc thuộc địa lạc hậu như một số lãnh tụ của Quốc tế Hai từng cổ suý mà nó là xâm lược, nô dịch, ăn bám, thối nát và với sự chống đối từ mọi phía. Lênin khẳng định nó tự làm suy yếu, tự nó đưa nó đến chỗ diệt vong.

Trước sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc trên tư bản. Vấn đề đấu tranh chống lại sự xâm lược và ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong đời sống chính trị quốc tế đầu thế kỷ XX. Vận dụng quan điểm “cách mạng không ngừng” của Mác – Ăngghen vào tình hình cụ thể. V.I.Lênin đã khẳng định vấn đề dân tộc – thuộc địa là vấn đề sinh tử và là trung tâm của thời đại mới. Chính Người đã chủ động chuẩn bị và lãnh đạo công nông binh Nga biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười mở đầu kỷ nguyên mới, thời đại mới. Chính Người đã chuẩn bị và thành lập Quốc tế cộng sản (QTCS) – Tổ chức quốc tế của các Đảng Cộng sản có sự tham gia lần đầu tiên của các dân tộc thuộc địa. Người đã đề ra Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa, coi vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức là trọng tâm của đời sống cộng sản quốc tế, là điều kiện được ghi trong Điều lệ để kết nạp các Đảng Cộng sản vào QTCS.

Giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhiệm vụ hàng đầu của các Đảng Cộng sản toàn thế giới lãnh đạo quần chúng nhân dân các thuộc địa. Giải phóng các dân tộc khỏi ách thống trị thực dân là nhiệm vụ trọng tâm của thời đại mới.

Là người tiếp thu học thuyết Mác – Lênin, là người có thực tiễn hoạt động phong phú trong QTCS, từng khảo sát tại các nước tư bản đế quốc nhiều thuộc địa, lớn mạnh nhất đến các nước thuộc địa lạc hậu nhất, Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận và thực tiễn vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Với những hoạt động không mệt mỏi trong 1/4 thế kỷ (từ năm 1920-1945) Hồ Chí Minh đã biến học thuyết Lênin trở thành hiện thực, điều mà trước đó Lênin vĩ đại đã bổ sung, sáng tạo biến học thuyết Mác – Ăngghen trở thành hiện thực thể hiện qua cách mạng Nga. Là người hiểu và trung thành trong đấu tranh bảo vệ và kiên trì tổ chức thực hiện tư tưởng của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, sau khi gia nhập gia đình cộng sản, Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản – bộ tham mưu của giai cấp và dân tộc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Người trực tiếp đề ra chiến lược, sách lược và phương thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, tổ chức, lãnh đạo chuẩn bị xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lãnh đạo chớp thời cơ một cách mau lẹ chính xác làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Đây là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, do đó, thành công của cách mạng là triệt để, là “đến nơi” như Hồ Chí Minh khẳng định. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Thắng lợi của cách mạng đã đập đổ ách thống trị thực dân hàng trăm năm, ách thống trị phong kiến hàng nghìn năm đưa dân tộc Việt Nam vào thời đại mới – thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, thời đại độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trở thành một hình mẫu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chiến thắng các thế lực xâm lược có thể có nhiều con đường giành thắng lợi, song cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cách mạng giải phóng triệt để nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia. Và do vậy thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự mở đầu của trào lưu phi thực dân hoá trên phạm vi quốc tế. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Mười mở đầu thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và Cách mạng Tháng Tám mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trong trào lưu cách mạng giải phóng dân tộc toàn thế giới.

Sau Cách mạng Tháng Tám và tiếp tục con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân Việt Nam tiếp tục đi đầu trong việc đánh thắng, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân cũ, đánh bại một bước nặng nề chủ nghĩa thực dân mới đã làm cho Việt Nam và Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Cách mạng Tháng Tám với ý nghĩa đó trở thành cuộc cách mạng mở đầu cho trào lưu phi thực dân hoá và biến lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc thế giới thế kỷ XX giành được toàn thắng. Đến nay không còn có nước nào không giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân hoàn toàn bị tiêu diệt trong thế kỷ XX mà Cách mạng Tháng Tám là sự mở đầu trào lưu phi thực dân hoá, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh.

2. Cách mạng Tháng Tám khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh trong dự báo cách mạng thuộc địa có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, bổ sung và phát triển Học thuyết Mác – Lênin

Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin tận gốc lại có thực tiễn khảo sát 28 nước ở 4 châu lục, điều mà các lãnh tụ kinh điển trước Người chưa có điều kiện, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đưa ra một dự báo mang tính lý luận từ rất sớm về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước cách mạng chính quốc.

Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ tự do cạnh tranh cũng như nghiên cứu chủ nghĩa tư bản thời kỳ chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, các nhà kinh điển chỉ đưa ra dự báo cách mạng các nước tư bản (chính quốc) giành thắng lợi trước mới tạo điều kiện, mới ảnh hưởng, mới giúp đỡ cho cách mạng giải phóng dân tộc. Những dự báo của Mác – Ăngghen về khả năng giành thắng lợi của cách mạng Aixơlen trước Anh mới là một dự báo chưa thành hiện thực. Thời đại Lênin tuy ông có dự báo cách mạng chính quốc phải thắng lợi trước mới giúp cho cách mạng thuộc địa dù Người đã dự báo cách mạng có thể giành thắng lợi ở một nước tư bản. Điều dự báo Lênin đã thực hiện thành công ở nước Nga thông qua Cách mạng Tháng Mười. Các lãnh tụ kinh điển chưa nói đến khả năng cách mạng thuộc địa có thể thắng lợi trước chính quốc.

Đến lượt mình luôn trung thành với học thuyết Mác – Lênin, coi đó là “chân chính nhất, cách mạng nhất” song Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn nghiên cứu sự vận động của thế giới trong thời đại mới. Nghiên cứu các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ đặc biệt là các thuộc địa của Pháp, tính chất đế quốc Pháp là chủ nghĩa đế quốc “cho vay nặng lãi” (khẳng định của Lênin) ngay từ những năm đầu mới tiếp thu Học thuyết Mác – Lênin Người đã đưa ra dự báo: cách mạng thuộc địa (thậm chí ở một nước riêng biệt) không những có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, còn có thể giúp cho những người anh em phương Tây trong sự nghiệp giải phóng khỏi mọi ách áp bức dân tộc, áp bức giai cấp của chủ nghĩa tư bản. Đây là một dự báo hết sức táo bạo, một sự khẳng định tưởng như không có cơ sở trong những năm 20 của thế kỷ XX.

Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập đã tiến hành một “núi” các công việc khổng lồ để làm cho dự báo thành hiện thực. Đó là xây dựng được một đảng cách mạng tiên phong có lý luận soi đường được vũ trang bằng chủ nghĩa “Mã Khắc Tư và Lênin”, có chiến lược và sách lược đúng đắn phù hợp tình hình đặc điểm của mỗi giai đoạn cụ thể, luôn chú trọng điều chỉnh chiến lược và thay đổi đối sách lược kịp thời. Chuẩn bị lực lượng mọi mặt, dự báo chính xác chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam trong cao trào kháng Nhật cứu nước, chớp thời cơ giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chứng minh dự báo của Nguyễn Ái Quốc về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng Pháp. chính QTCS đã thấy trước vấn đề này. Tại Hội nghị toàn thể lần thứ 11 của QTCS tháng 4 năm 1931, QTCS đã thấy về lĩnh vực dân tộc thuộc địa các đảng ở chính quốc phải “học tập các đồng chí Trung Quốc và Đông Dương”. Trưởng thành qua tổng kết thực tiễn các cao trào 1930-1931, cao trào dân chủ 1936-1939 và cao trào kháng Nhật 1939-1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã biến tư tưởng Hồ Chí Minh về thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước chính quốc thành hiện thực. Đây là sự phát triển sáng tạo và bổ sung quan trọng vào kho tàng lý luận Mác – Lênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa. Hồ Chí Minh không chỉ là trung thành vận dụng sáng tạo vào thực tiễn mà còn phát triển lý luận bổ sung cho chủ nghĩa Mác – Lênin lý luận vấn đề dân tộc và thuộc địa. Nó đã làm cho Cách mạng Tháng Tám không chỉ của Việt Nam mà là những vấn đề lý luận và thực tiễn mang tầm vóc quốc tế, có ý nghĩa thời đại.

3. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã bổ sung vào kho tàng lý luận Mác – Lênin, làm rõ nhiều vấn đề cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, khắc phục sai lầm tả khuynh của QTCS trong việc đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống phong kiến. Cách mạng Tháng Tám trong việc tập hợp lực lượng tham gia đã khẳng định đường lối sách lược trong tập hợp lực lượng đông đảo toàn dân tộc của Hồ Chí Minh là đúng đắn. Chỉ đến  khi Cách mạng Tháng Tám trở lại đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược, sách lược cách mạng giải phóng dân tộc thì cách mạng mới thành công.

Cách mạng Tháng Tám còn làm rõ và bổ sung lý luận Mác – Lênin về vấn đề bạo lực cách mạng và vấn đề khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Với việc xác định đúng đắn bạo lực cách mạng là sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp chính trị với vũ trang, kết hợp khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa, đưa khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám lên tầm mẫu mực nghệ thuật trong đấu tranh giành chính quyền. Khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám trở thành một trong bốn điển hình trong đấu tranh giành chính quyền trong lịch sử thế giới thế kỷ XX.

Cách mạng Tháng Tám bổ sung lý luận của Lênin về thời cơ và nâng lên thành nghệ thuật chớp thời cơ trong bối cảnh diễn biến của tình hình thế giới hết sức phức tạp. Toan tính của các nước lớn, sự đầu hàng đồng minh của phát xít Nhật, sự yếu thế của Pháp khi chiến tranh kết thúc nếu không có sáng tạo, quyết đoán và mau lẹ chớp thời cơ thì không thể giành thắng lợi. Đây là lý do cùng ở Đông Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương nhưng chỉ có Việt Nam là giành được chính quyền trước khi quân Đồng Minh vào.

Trên ý nghĩa đó thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ngoài ý nghĩa cụ thể với dân tộc Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám còn để lại nhiều ý nghĩa mang tầm vóc thời đại. Nó chẳng những bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lênin mà còn nêu một mẫu mực đấu tranh giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Chính vì vậy các dân tộc thuộc địa coi Việt Nam là chiến sỹ tiên phong, anh hùng giải phóng dân tộc.

Thành quả của cuộc cách mạng mang lại vẫn đã và đang phát triển vững chắc 65 năm qua và sẽ tiếp tục phát triển trong thế kỷ XXI, đưa dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới./.

PGS.TS Trình Mưu
cpv.org.vn

Cách mạng tháng Tám ở nhà tù Côn Đảo

Vào một buổi trưa mùa đông cuối năm 1944, ở nhà tù Côn Đảo. Sau khi ăn cơm xong, đồng chí Tám không nằm nghỉ như thường lệ. Anh đi “khều” một số đồng chí đến hội ý nho nhỏ, trong đó có Huỳnh Thủ (sau này là Tư lệnh Bộ đội Biên phòng). Sau đó, mọi người chia nhau đi “khều” anh em ngồi dậy, dồn lại một chỗ để nghe báo tin quan trọng, tin mừng.

Thiếu tướng Huỳnh Thủ

Các đồng chí đau nặng cũng được dìu đến. Những đồng chí kiệt sức cũng ráng ngồi dậy tại chỗ. Sau khi liếc mắt nhìn ra ngoài khám để phòng bọn cai ngục rình mò, đồng chí Tám bắt đầu nói:- Hồng quân Liên Xô phản công khắp các mặt trận và giành thắng lợi lớn lắm. Quân Đức rút chạy tán loạn, đã chạy rất xa Stalingrát và Thủ đô Mạc Tư Khoa!

Đồng chí Tám chưa dứt lời, đã có tiếng vỗ tay nhè nhẹ, đều và kéo dài. Rồi tiếng bàn tán vui mừng mỗi lúc càng xôn xao. Chen vào đó có tiếng nói nho nhỏ của các đồng chí đã kiệt sức: “Hồng quân Liên Xô thắng, chúng ta nhất định thắng, tôi sẽ sống cho đến ngày chiến thắng!”.

Đồng chí Tám nói tiếp:

– Tin Hồng quân thắng lớn đến với chúng ta chậm, nhưng nó cổ vũ động viên rất lớn, củng cố lòng tin của chúng ta vào thắng lợi của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam. Chắc đến lúc này, nhiều diễn biến lớn đã và đang xảy ra. Những sự kiện kỳ diệu sẽ đến với chúng ta.

Lại vỗ tay, lại cười, gật đầu, bàn tán náo nhiệt. Khó có thể nói hết niềm hân hoan của những chiến sĩ bao năm bị tù đày, cầm cố trong “địa ngục trần gian”, đêm ngày canh cánh ngóng trông đến lúc tung cánh xổ lồng. Liên Xô thắng lợi, dấu hiệu của một giai đoạn lịch sử mới đã hiện ra.

Tên gác giam người Pháp đứng trước cửa khám từ lúc nào, hắn hỏi:

– Tụi bay họp bàn chính trị phải không? Nó nhìn lại tên mã tà người Việt đứng cạnh, hỏi nhỏ: – Chắc tụi nó biết tin Nga Xô thắng trận, quân Đức đang rút chạy?

Tên mã tà gật gật cái đầu rồi cả hai bỏ đi.

Chiều đó, chúng tôi ngồi lại bàn việc thực hiện lời dặn của trên: Chuẩn bị mọi mặt đón nhận những sự kiện lớn, sẵn sàng đối phó với bọn Nhật và lũ tay sai, đề phòng bọn phản động phá hoại. Sau đó, chúng tôi chia nhau đi giải thích, hướng dẫn, động viên anh em tù, đồng thời thăm dò thái độ số tù nhân đảng phái thân Nhật, Trốtskít; kiên trì giải thích, động viên số anh em bị bọn phản động lừa phỉnh, bị địch lợi dụng…

Vào lúc nửa đêm 8-3-1945, chúng tôi đều nằm trần, bởi nóng nực của cái khám chật hẹp nhốt quá đông người. Chẳng ai ngủ được, trừ một số anh em đang bị cơn sốt mê man. Chúng tôi bỗng nghe từng loạt súng nổ kéo dài, sau đó thỉnh thoảng nổ một hai tiếng ở hướng bọn chúa đảo người Pháp và bọn lính Pháp đang ở. Chúng tôi ngồi dậy nhìn và hỏi nhau nho nhỏ trong đêm tối việc gì đã xảy ra.

– Bọn Nhật lại bắn chết bọn Pháp như những lần trước đây!

– Không phải!

– Chỉ có bọn Nhật bắn bọn Pháp thôi!

Lại súng nổ nhiều và kéo dài. Một số chúng tôi ngồi dậy, “khều” nhau trao đổi, rồi chia nhau đi từng người nhắc họ nhớ lại lời căn dặn của trên, động viên nhau bình tĩnh, vững vàng.

Sáng ngày 9-3-1945. Khác những buổi sáng trước, bọn mã tà mở hết các cửa khám trong banh, bắt tù nhân tập trung theo từng khám trước sân: Tên thư ký Tòng của Pháp, lưng đeo hai khẩu súng ngắn, tay chống nạnh đứng với tên bộ hạ. Tên gác giam người Pháp cũng có mặt đeo dùi cui thay súng ngắn. Mấy tên mã tà, tay cầm một khúc gỗ, mặt buồn xo. Tên Tòng đứng lên một chỗ cao nói:

– Từ hôm nay, chủ Côn Đảo là người Việt Nam, là chúng tôi. Tôi là sếp banh này, các anh ai muốn qua banh 4 sẽ được đi. (Banh 4 giành cho tù thân Nhật).

Tất cả chúng tôi đều im lặng. Tên Tòng nói tiếp:

– Các anh vẫn phải đi lao động. Người gác giam Pháp và người mã tà thường ngày dẫn giải các anh, nay vẫn tiếp tục.

Sau đó, chúng tôi được biết, Nhật đã đảo chính Pháp, nắm quyền cai trị trên ba nước Đông Dương. Từ đó, chúng tôi tranh thủ thời cơ củng cố đội ngũ, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với sự khủng bố của bọn thân Nhật và tay sai, đồng thời cũng chuẩn bị chào đón những sự kiện lớn. Trước thái độ, hành động bình tĩnh thống nhất của các đồng chí ta và quần chúng khắp đảo, bọn Nhật và tay sai có phần chùn tay…

Chiều ngày 28-5-1945, cơn giông bỗng nổi lên, mây đen kéo đến âm u cả một vùng. Bọn Nhật bày trò giao chủ quyền đảo cho người Việt Nam. Theo lệnh của tên quan ba Nhật Xe-tô, lễ phải làm nhanh gọn, đề phòng “bất trắc”. Một số công chức, công nhân viên mã tà, gia đình họ và một số tù thân Nhật kẻ trước người sau lai rai đến tập hợp tại sân banh (bãi đá bóng). Một lũ lính Nhật chia nhau canh gác lễ đài và cuộc lễ.

Chúng kéo cờ quẻ ly (cờ của Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim được quân Nhật giao). Tên quan ba Nhật Xe-tô đọc diễn văn, ba hoa về “công lao quân Nhật theo lệnh Nhật hoàng giúp Việt Nam giành độc lập” và theo lệnh trên, nó “giao” quyền làm chủ Côn Đảo cho tên Lê Văn Trà kể từ ngày 28-5-1945. Tên Lê Văn Trà lắm lời ca tụng công đức của quân Nhật và quay người về hướng Đông tỏ lòng tôn kính Nhật hoàng.

Tối đó, anh em chúng tôi trao đổi, nhận thấy: Bọn làm lễ qua loa, không huy động đông người đến dự, nhất là những người tù Cộng sản. Vì không chỉ chúng ngại hàng ngũ chúng tôi chặt chẽ, thái độ bình tĩnh, mà cái chính là vì chúng đang thua to khắp nơi. Chúng làm cho có cớ dọn đường để rút chạy sau này của chúng. Qua cuộc lễ, anh em chúng tôi hiểu thêm sự lúng túng của quân Nhật, thấy được sự chỉ đạo của các đồng chí cấp trên là đúng. Chúng tôi hứa với nhau thực hiện tốt việc đoàn kết nội bộ giữ nghiêm quy định đẩy mạnh việc vận động giải thích rộng rãi trong anh em tù, trong công chức và gia đình họ, thẳng thắn đấu tranh với những người tù thân Nhật và bọn phản động làm tay sai cho địch.

Tối hôm trước anh em chúng tôi ăn mừng Hồng quân Liên Xô thắng trận buộc phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, quân phát xít Nhật thua to ở Thái Binh Dương. Sáng hôm qua, được tin quân Nhật hoảng hốt đập điện đài, bình ắc quy, ném súng, đạn xuống biển. Sĩ quan, binh sĩ, kẻ trước đứa sau kéo nhau xuống tàu chạy, bỏ lại bọn chúa đảo và cả những tên tay sai đắc lực như tên Phan Khắc Sửu, Đào Duy Phiện… Sáng nay lại nhận được tin Lê Văn Trà long trọng mời mấy anh em mình đến văn phòng nó họp bàn chuyện sinh sống, trật tự, trị an. Bắt đầu họp, tên Trà quen thói xấc xược, nói:

– Dù sao các vị còn là tội phạm, chưa thể bàn chuyện quốc gia!

Lập tức một tiếng đập mạnh xuống bàn, kèm theo tiếng thét của một đồng chí ta:

– Chủ nhân đất nước chính là chúng tôi!

Tên Trà mặt tái, run run nói:

– Xin mời các vị muốn gì cứ nói!

– Trước hết, cửa banh, cửa khám không phải khóa, bỏ việc khám xét, kiểm tra. Ăn uống, trật tự, chúng tôi tự lo!

Tên Trà riu ríu xuôi theo và nói:

– Xin mời các vị về nghỉ!

Từ đó trở đi, các khám lớn nhỏ, các banh đều mở cửa cả ngày đêm. Việc nấu ăn, anh em mình tự lo liệu. Các khám đi lại thăm hỏi lẫn nhau. Anh em tổ chức tuyên truyền giải thích tình hình cho công nhân viên chức và tù thường phạm, tổ chức biểu diễn văn nghệ kiên trì thuyết phục số tù nhân các đảng phái phản động. Anh em đau yếu được săn sóc chu đáo. Chúng tôi còn đi thăm mồ mả các đồng chí đã hy sinh.

Tuy tinh thần, khí thế của anh em ngày càng lên, bọn chủ đảo và tay sai hoang mang, nhưng các đồng chí cấp trên dặn: Phải tuân thủ các qui định, nhắc nhau giữ thái độ bình tĩnh, không khiêu khích, cảnh giác, sẵn sàng ứng phó mọi bất trắc.

Một số đồng chí được giao nhiệm vụ chữa điện đài và bình ắc quy. Đó là phương tiện duy nhất, để nghe tình hình từ đất liền. Các đồng chí miệt mài sửa chữa và cuối cùng điện đài và bình ắc quy đã sửa xong.

Sáng 2-9-1945, vẫn như những buổi sáng mọi ngày, anh em chúng tôi đang ngồi bàn luận tình hình chiến sự. Một đồng chí bước vào, nói to:

– Tin mừng, tin mừng lắm, vĩ đại lắm! Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa!

Mọi người đứng lên, ngồi dậy ôm lấy nhau, nhảy lên, thét to:

– Tổ quốc Việt Nam độc lập, độc lập rồi!

– Bọn phát xít đã diệt vong!

Khắp các khám trong banh mọi người chạy đến ôm lấy nhau, cùng nhảy lên, cùng hô vang. Những đồng chí đang đau nặng cũng gắng ngồi dậy:

– Tổ quốc Việt Nam đã được giải phóng, tôi nhất định sống về với đồng bào, với Đảng, với gia đình!

Tên sếp banh và mấy tên mã tà chẳng rõ đầu đuôi thế nào. Khi được anh em báo tin, tên sếp banh mặt xịu xuống, còn mấy người mã tà vỗ tay chúc mừng chúng tôi. Lại vỗ tay, lại chạy, lại hô. Vui mừng biết bao, sung sướng biết bao! Đồng chí báo tin nói tiếp:

– Đài trục trặc, không nghe được liên tục, mới nghe được bấy nhiêu.

Đồng chí ấy định đi ra, anh em giữ lại hỏi:

– Nhờ các anh trên cho biết Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai, nhé!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai?

– Có phải là đồng chí Nguyễn Ái Quốc không?

– Chắc phải rồi, phải rồi! Chỉ có đồng chí Nguyễn Ái Quốc mới được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không ai khác được!

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai?” chỗ nào, ở đâu cũng hỏi nhau. Nhiều đồng chí tự trả lời: “Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc là một”. Nhiều đồng chí quên cả ăn. Mừng mà khóc. Nhớ các đồng chí đã mất mà khóc. Khó diễn tả hết tâm trạng vui mừng của chúng tôi. Đêm không ngủ. Mừng quá, phấn khởi quá. Tổ quốc Việt Nam độc lập! Những gì tủi nhục sẽ mất, những gì ước mơ sẽ đến!

Cái mơ ước đầu tiên chúng tôi đã gặp là nhìn thấy lá cờ Tổ quốc trên Đoàn tàu từ đất liền ra Côn Đảo đón tù chính trị trở về. Nửa buổi sáng hôm ấy, anh em rủ nhau ra ngồi dọc bãi biển, mặc trời nắng, người trông ra biển về hướng tàu sẽ vào.

– Tàu đến rồi! Cờ đỏ sao vàng năm cánh tung bay trên cột tàu kia rồi! Sướng quá trời đất ơi! Sướng quá! Lá cờ Tổ quốc đấy rồi.

Chúng tôi reo lên, tranh nhau nhìn, nhảy lên ôm chầm lấy nhau. Rồi nước mắt lại chảy và chúng tôi cứ để chảy, không ai muốn lau, tay cứ chỉ, mắt cứ nhìn theo lá quốc kỳ khi con tàu chuyển hướng dần dần vào bến.

Chúng tôi nhớ lại lời của đồng chí Đại – người đã tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ – nói với đồng chí Nguyễn Hữu Tiến bị án tử hình ở cùng chung một khám về lá cờ đỏ sao vàng năm cánh trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23-11-1940. Hôm ấy, nghe xong, đồng chí Tiến thủ thỉ nói với đồng chí Đại: “Mình đã khóc Đại à! Mình khóc vì mừng đất nước đã có cờ đỏ sao vàng bay lên, dù chỉ mới bay trên bầu trời Tổ quốc trong thời gian rất ngắn. Ước chi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ hải ngoại cũng biết được trong cuộc khởi nghĩa của dân chúng Nam Kỳ đã có cờ đỏ sao vàng bay lên với cờ Đảng”. Cái ước mơ từ nhỏ về một bóng cờ thiêng liêng của Tổ quốc này đã trở thành hiện thực.

Anh em chúng tôi vẫn theo dõi lá cờ Tổ quốc phấp phới bay trên đỉnh cột tàu, nói với nhau:

– Cờ đỏ sao vàng, cờ Tổ quốc đã bay lên và mãi mãi bay trên bầu trời Tổ quốc Việt Nam thân yêu!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh là đồng chí Nguyễn Ái Quốc thì không phải ở hải ngoại nghe nói về lá cờ Tổ quốc cùng bay với cờ Đảng nữa mà đã đứng trước quốc kỳ đọc bản Tuyên ngôn độc lập.

Sung sướng quá, phấn khởi quá, nhiều anh em đồng thanh hô vang:

– Tổ quốc Việt Nam độc lập muôn năm! Muôn năm!

Lê Vũ (Theo hồi ký của Thiếu tướng Huỳnh Thủ)
bienphong.com.vn

Tự hào về quyền và nghĩa vụ công dân

Vào những ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2- 9 này, hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam chúng ta càng tự hào về lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, càng ý thức về quyền, nghĩa vụ công dân để cùng chung tay bảo vệ, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh.

Chỉ trong mấy năm, từ một dân tộc đa số mù chữ,
đến đa số đã biết đọc, biết viết – Ảnh: TL

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây cũng là Tuyên ngôn khai sinh ra những công dân, con người của một thời đại mới, chấm dứt “đêm trường nô lệ”. Những lời của Tuyên ngôn đã khắc ghi, thấm đẫm vào tâm khảm mỗi công dân: “Tất cả mọi người sinh ra đều, có quyền bình đẳng”; có “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ngày 6-1-1946 các công dân của nước Việt Nam độc lập đã hết sức tự hào cầm lá phiếu đi bầu cử, chọn lựa người đại diện cho mình.

Quốc hội Việt Nam ra đời và ngay sau đó, ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp, khẳng định địa vị pháp lý của nước Việt Nam, của chính quyền Nhà nước Việt Nam, đặc biệt khẳng định, chế định rõ quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam vừa giành được độc lập ra đời chỉ có 3.385 từ, nhưng đã có tới 541 từ nói về Quyền và nghĩa vụ công dân. Những năm đầu của một nước Việt Nam độc lập, dựa trên Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành một số sắc lệnh, điều chỉnh các hoạt động quản lý trong các lĩnh vực từ giáo dục cho đến kinh tế, văn hoá, an ninh…Và mặc dù chỉ với những sắc lệnh ngắn gọn, nhưng đã thực sự đi vào lòng dân, hoà vào máu thịt của mỗi công dân, để rồi mọi người dân đồng cam cộng khổ, kháng chiến, kiến quốc.

Chưa bao giờ tinh thần xoá đói, giảm nghèo mạnh như hồi ấy. Chưa bao giờ tinh thần học tập, giáo dục mạnh như lúc bấy giờ. Từ chỗ hàng chục triệu người đói khổ, kho tàng rỗng không, chỉ trong hơn một năm, cả dân tộc đã có thể khẳng định vượt qua nạn đói. Cũng chỉ trong mấy năm, từ một dân tộc đa số mù chữ, đến đa số đã biết đọc, biết viết. Cũng chưa bao giờ, tinh thần yêu thương đùm bọc lẫn nhau thể hiện cao như hồi ấy. Nhường cơm xẻ áo, nuôi giấu cán bộ, bộ đội, dân quân…Xóm thôn dù nghèo cũng không xảy ra trộm cắp, mất trật tự an ninh. Con người biết trân trọng nhau. Đặc biệt, quan hệ, tình thân cán bộ với dân như người trong một nhà. Người làm cán bộ thực sự nể dân, thương dân, trân trọng dân. Cán bộ, bộ đội với dân, như cá với nước, thực sự là công bộc của dân, được dân chở che, cưu mang, cùng đồng tâm hiệp lực, vượt qua khó khăn, thử thách. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, công cuộc xây dựng đất nước đạt được thành tựu như ngày nay đã thể hiện sự kết tinh từ những tinh thần ấy. Trong đó, cũng là sự thể hiện trách nhiệm cụ thể của mỗi công dân đối với Tổ quốc.

Ngay từ khi ra đời, Nhà nước ta đã thể hiện là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Tất cả mọi công dân, mọi người dân đều bình đẳng. Mọi người đều có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm như nhau, ưu tiên những người yếu thế. Nhân dân là người quyết định tất cả. Điều 1 Hiến pháp 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Nghĩa vụ của “Mỗi công dân Việt Nam phải: Bảo vệ Tổ quốc; Tôn trọng Hiến pháp; Tuân theo pháp luật” (Điều 4). Hiến pháp đã có đến 16 điều quy định về quyền lợi của công dân. Ví như “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá” (Điều 6); “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”(Điều 7)…

Trải qua hơn nửa thế kỷ, cùng với công cuộc bảo vệ, xây dựng, đổi mới, hiện đại hoá, đất nước ta đã lớn mạnh vượt trội, có vị thế vững vàng trên trường quốc tế. Sau Hiến pháp đầu tiên, chúng ta đã có 3 Hiến pháp và có cả một hệ thống luật, các văn bản dưới luật. Nhưng những nguyên tắc cốt lõi vẫn thế, vẫn như ngày Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, cho đến nay, đã có bao thói hư, tật xấu như quan liêu, tham nhũng, tha hoá đạo đức, lối sống, tha hoá quyền lực…phát sinh, phát triển. Nhiều người lãnh đạo đang nắm quyền, quản lý, nhiều cán bộ được giao nhiệm vụ bỗng quên mình chỉ là người được nhân dân trao quyền, được nhân dân tín nhiệm đảm trách nhiệm vụ chung. Họ nhầm tưởng họ mới là người “ăn trên, ngồi trốc”, được quyền ban phát, ơn huệ cho cấp dưới, cho người dân, nhìn người dân như người đến để “cầu cạnh”, để ” xin xỏ”. Có cán bộ chỉ làm nhiệm vụ tiếp nhận công văn, giấy tờ cũng có thể lên mặt hạch sách, thậm chí sách nhiễu, cố tình gây khó khăn. Tệ tham nhũng vặt nảy sinh với nạn phong bì, hầu bao bôi trơn. Tham nhũng lớn với những liên minh ma quỷ chia chác, phần trăm, độc quyền, lợi ích nhóm, thu vén cho cá nhân. Những người lãnh đạo, cán bộ nói trên đã thiếu trách nhiệm công dân, chưa làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, thiếu hiểu biết pháp luật, vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

Thực tế, cho đến nay, nhiều người dân cũng chưa thực sự hiểu hết quyền, nghĩa vụ của mình. Nhiều người cầm lá phiếu, đi bầu cũng là để “cho xong”. Chủ trương, chính sách, thông tin, pháp luật, nhiều khi ít được quan tâm. Nhiều cuộc họp quan trọng quyết định vấn đề của địa phương, đất nước vẫn có không ít người đứng ngoài cuộc, không có ý kiến, chính kiến. Khi vào các công việc liên quan đến lợi ích cá nhân nhiều khi họ lại tiếp tay cho tham nhũng với việc đưa phong bao, chạy chọt. Tình trạng người dân vô tình vi phạm pháp luật, thậm chí cố tình vi phạm pháp luật cũng khá nhiều. Chỉ đơn cử như trong lĩnh vực tham gia giao thông, có người ngày nào cũng vi phạm luật: đi xe máy không mang giấy tờ, không đội mũ bảo hiểm, đi không đúng làn đường, vượt đèn đỏ… Chưa nói đến hiện tượng công dân không làm chủ được bản thân, thực hiện những hành vi mất tính người.

Xã hội chỉ thực sự phát triển vững bền, trở nên văn minh khi mọi người dân từ cán bộ cao cấp cho đến dân thường ý thức sâu sắc về quyền, trách nhiệm công dân của mình, thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của mình.

Những ngày kỷ niệm, hướng về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 này cũng là những ngày Đảng ta cùng toàn dân đang quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là những cán bộ cấp cao, những người có trách nhiệm đang tiến hành kiểm điểm, soi lại mình từ ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân cho đến những hoạt động, hành vi mà mình đã làm được cho Tổ quốc, cho nhân dân…để tự làm trong sạch mình, làm trong sạch đội ngũ Đảng, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo. Mỗi người dân cũng cần ý thức, tự kiểm điểm lại mình, những việc gì mình đã làm đúng, làm sai, những việc gì cần làm để làm tròn trách nhiệm công dân của mình.

Nhận thức sâu sắc về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, Kết luận về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 mới đây của Đảng cũng đã chỉ rõ một trong những nội dung quan trọng cơ bản được định hướng, sửa đổi, nâng cao hơn nữa Hiến pháp mới là phát huy nhân tố con người, thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, đảm bảo thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Kiên Long
daidoanket.vn

Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện thực

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc.

Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Ðảng ta từ khi ra đời bị khủng bố dã man, đã trở thành đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo xã hội.

Từ cuối thế kỷ 19, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo. Chúng chia cắt đất nước ta, xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược.

Khi phát-xít Nhật xâm lăng Ðông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, dân ta chịu hai tầng áp bức: quân phiệt Nhật và thực dân Pháp. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói thảm thương.

Tiếp nối truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao bậc trung nghĩa đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng đều thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin – lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại – đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng lập ra Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc.

BH_doc_tuyen_ngondl.jpgHình ảnh Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập – Đỉnh cao thắng lợi cách mạng tháng Tám 1945
(Ảnh: Tuấn Anh)

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc, lấy sức mạnh của đội quân chủ lực công – nông làm nòng cốt; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cùng nhiều bài học khác.

60 năm qua, tiếp nối truyền thống và phát huy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Ðảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại những thắng lợi đã qua, chúng ta càng thấy tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1).

Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi suốt 60 năm qua. Tiếp bước con đường của Cách mạng Tháng Tám, trước yêu cầu phát triển đất nước và trước những thời cơ và nguy cơ, Ðảng ta và nhân dân ta xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nhiệm vụ trước hết phải chăm lo xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, ngăn ngừa mọi sự chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, nhiệm vụ phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HÐH được Ðảng xác định là nhiệm vụ trung tâm.

60 năm trước đây, Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng các tầng lớp nhân dân khỏi ách thống trị, bóc lột của chế độ thực dân phong kiến, đem lại cho mọi người dân Việt Nam quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Ðộc lập, tự do, hạnh phúc luôn là mục tiêu nhất quán của chế độ mới. Ngày nay, Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta cũng đang tiếp tục phấn đấu theo mục tiêu nhân văn cao cả đó.

Phát huy bản sắc truyền thống “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc, Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng sáng ngời của ý chí quật khởi của cả dân tộc. Thấm nhuần sâu sắc kinh nghiệm đại đoàn kết dân tộc của Cách mạng Tháng Tám, hơn lúc nào hết, ngày nay chúng ta phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài, hướng sức mạnh đó vào mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Vào thời điểm Cách mạng Tháng Tám 1945, vị thế nước ta trên trường quốc tế còn thấp, nhưng Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc và dự đoán đúng tình hình thế giới, tận dụng thời cơ, phối hợp hành động, làm chuyển hóa so sánh thế và lực giữa ta và địch, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù. Ngày nay, chúng ta có thời cơ hơn để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, lấy tự lập tự cường, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ tối đa những điều kiện quốc tế thuận lợi để bồi bổ sức mạnh dân tộc và kết hợp với sức mạnh quốc tế thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lãnh đạo toàn dân làm Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Ðảng ta lúc đó chỉ có 5.000 đảng viên và phải hoạt động bí mật, điều kiện thông tin liên lạc để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào toàn quốc hết sức khó khăn. Nhưng nhờ có đường lối đúng đắn của Ðảng và Bác Hồ, sự chủ động, sáng tạo của tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và nhân dân ở các địa phương nên khởi nghĩa đã nổ ra đồng loạt và có sự phối hợp từng vùng, từng miền và trên phạm vi cả nước. Ðó là một bài học hết sức quý báu về sự lãnh đạo của Ðảng và xây dựng Ðảng trong bất cứ thời kỳ cách mạng nào.

Nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện có kết quả hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là vấn đề có ý nghĩa sống còn của nước ta hiện nay. Chúng ta vững tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng một dân tộc đã rửa được nỗi nhục mất nước, một dân tộc đi tiên phong chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, thì dân tộc ấy nhất định có đủ nghị lực và sức mạnh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới.

Nguồn hochiminhhoc.com (BT)
thanhnienxungphongbd.com.vn

Chính phủ đoàn kết, vì lợi ích dân tộc

Ngày 27-8-1945, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Ủy ban Dân tộc giải phóng.

Trong bối cảnh Cách mạng Tháng Tám thành công, để củng cố và xây dựng chính quyền cách mạng, ngày 27-8-1945, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Ủy ban Dân tộc giải phóng. Người đưa ra đề nghị cụ thể về chính sách đại đoàn kết dân tộc để thành lập Chính phủ thống nhất quốc gia, bao gồm cả những đại diện các đảng phái yêu nước và những nhân sĩ không đảng phái, những nhân vật có danh vọng trong xã hội.

Tuân theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ mà quốc dân giao phó. Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt trận Độc lập Đồng minh… Nó là một chính phủ thống nhất quốc gia giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ cộng hòa chính thức. Hồ Chí Minh đã được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đánh giá toàn bộ sự kiện trọng đại này, Bác Hồ viết: “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân”.

Có thể nói, trong nhiều cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, không có nhiều nước trên thế giới làm được việc thành lập Chính phủ trước khi giành được chính quyền. Nước ta, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ đã làm được điều đó. Đình Tân Trào là nơi Đại hội đại biểu Quốc dân tán thành chủ trương của Đảng và Tổng bộ Việt Minh về Tổng khởi nghĩa và quyết định lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ít ai có thể hình dung, chỉ mấy ngày sau đó, ngày 19-8-1945, Chính phủ non trẻ ấy đã lãnh đạo thành công cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ hơn một tuần sau đó, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Chính phủ được kiện toàn sau Cách mạng Tháng Tám là một Chính phủ gọn nhẹ và hiệu quả, một Chính phủ mang bản chất giai cấp công nhân, có tính dân tộc và nhân dân. Cùng với những người cộng sản, Bác Hồ đã chú ý mời các nhân sĩ, trí thức, những người yêu nước, thực sự có tài, có đức tiêu biểu cho nhân dân vào tham gia Chính phủ. Cái tài của Bác là tập hợp được tất cả những người dù không thích nhau về tình cảm, về tư tưởng, về chính kiến… nhưng thống nhất ở chỗ đặt lợi ích của nhân dân, của độc lập dân tộc lên trên hết, cùng đoàn kết xây dựng một chính quyền mạnh.

Sự ra đời và từng bước cải tổ cho phù hợp với điều kiện thực tế của Chính phủ Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng và đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời khẳng định sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc và khát vọng tự do của một dân tộc anh hùng.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới

LTS: Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, đồng chí TRƯƠNG TẤN SANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có bài viết với tựa đề Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới. Bài viết khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ, quật cường của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, thách thức, khuyết điểm trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước từ những ngày đầu đến nay; qua đó khẳng định, bằng những bài học kinh nghiệm trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến và vượt qua thử thách. Bài viết cũng nêu bật, vấn đề đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy, tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp đất nước vượt qua khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau… Báo SGGP xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri quận 4, TPHCM tháng 6-2012. Ảnh: Việt Dũng

Ngày Quốc khánh bao giờ cũng đem lại cho mỗi người chúng ta những cảm xúc thật đặc biệt.

Tôi nhớ lại cảm xúc của mình vào những ngày kỷ niệm này trong nhiều năm đã qua, cho dù lúc đó tôi đang ở thành phố hay nông thôn, vào buổi trưa hay vào lúc nửa đêm khi vạn vật đã chìm vào giấc ngủ. Tràn ngập trong tâm khảm tôi lúc đó là cảm xúc thiêng liêng và lắng đọng về ý nghĩa vĩ đại của Ngày Độc lập với non sông và dân tộc Việt Nam ta. Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảnh khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng, hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm, sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu như không có Ngày Độc lập ấy?

Đã có rất nhiều cuốn sách, những bài diễn văn của các học giả, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước, trong suốt 67 năm qua, đề cập từng khía cạnh, thậm chí nhỏ nhất về ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, không chỉ với đất nước và nhân dân Việt Nam, mà với sự tiến bộ của nhân loại nói chung. Trong thời đại thông tin ngày nay, việc kiếm tìm những thông tin như vậy trở nên thật dễ dàng…

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta với hình ảnh biểu tượng cách đây 67 năm, ngày 2-9 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Ngày 2-9 đã trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một Nhà nước kiểu mới – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng. Việt Nam từ một nước nô lệ bị sự thống trị hà khắc của chính quyền thực dân – phong kiến, đã xuất hiện trên bản đồ thế giới với tư cách là một nước tự do và độc lập. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình… Hơn ai hết, mỗi một người dân Việt Nam – những hậu duệ của rất nhiều thế hệ trước đó từng trải qua biết bao thiên tai, binh lửa, bao biến cố thăng trầm, những tiếp biến “vật đổi sao dời” ngàn năm, hết đời này sang đời khác – bằng máu huyết, thanh danh, vận mệnh của dân tộc và của chính mình, đều ý thức rõ ràng giá trị sâu sắc thiêng liêng và ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Ngày Độc lập này. Không ai có thể phủ nhận điều đó!

Cũng không ai có thể phủ nhận một sự thực lịch sử: thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Với những giá trị lịch sử to lớn và những bài học thực tiễn phong phú, suốt 67 năm qua kể từ ngày thành lập nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ, đến thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối; đến những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN…

Đến bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam hôm nay, ta cũng bắt gặp những đổi thay theo hướng tiến bộ, khắp nơi đều là những công trường xây dựng, diện mạo thành thị, nông thôn bao trùm một sức sống mới… Những vật dụng quen thuộc xưa kia trong đời sống lam lũ của người dân như cái khố rách, cái cối xay, đôi guốc mộc, hay là chiếc xe đạp Thống Nhất mới chỉ vài chục năm trước còn là một phương tiện “sang trọng” thời bao cấp… thì nay chỉ còn là ký ức hay vật trưng bày trong các viện bảo tàng.

Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước đã bao giờ đẹp như hôm nay?

*

Nhưng phải chăng không còn điều gì bất cập, không có vấn nạn gì mà mỗi khi nghĩ đến ta thấy nhức nhối trong lòng?

Hàng ngày lật giở các trang báo, gặp gỡ các cán bộ, đảng viên và nhân dân, ai cũng có một điều gì đó, một bức xúc hoặc không đồng tình nào đó động chạm đến bản thân hoặc do chính sách, do tổ chức thực hiện. Thậm chí, nhiều khi ta bắt gặp sự phản ứng đến mức phẫn nộ. Đã có những chính sách được về mặt chính trị, an ninh thì lại chưa ổn về mặt xã hội, dẫn đến những tranh luận nhiều khi gay gắt, thậm chí xung đột. Giá cả các mặt hàng leo thang kéo theo nhiều hệ lụy; chuẩn mực giá trị bị đảo lộn và xem thường dẫn đến pháp luật kỷ cương, đạo đức xã hội bị xói mòn nghiêm trọng. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mặt trái tiêu cực của nó càng có môi trường nảy sinh. Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”… Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…

Nhìn nhận những khó khăn, thách thức này phải bằng con mắt biện chứng lịch sử. Trên thực tế, cách mạng Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới, chưa bao giờ hết khó khăn, thử thách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam lúc đó lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đe dọa, hậu quả của chế độ phong kiến – thuộc địa để lại rất nặng nề. Khó khăn chồng chất, nhưng Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu, tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để Nhà nước Việt Nam vượt qua vô vàn gian khổ, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Cũng như vậy, giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, khó khăn nào bằng? Nhưng cả nước đều ra trận, quyết chiến, quyết thắng, và đã chiến thắng vang dội, Việt Nam trở thành “lương tâm của thời đại” như nhiều người trên thế giới đã tôn vinh. Sau khi đất nước thống nhất, khó khăn chồng chất, hậu quả nặng nề của chiến tranh chưa được khắc phục thì lại vừa phải tiến hành cuộc chiến đấu mới để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vừa phải chống lại sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, phải tìm tòi khảo nghiệm con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Cũng có không ít những sai lầm, khuyết điểm, phải sửa sai như trong cải cách ruộng đất, sửa sai những khuyết điểm chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo, quản lý và cơ chế chính sách khiến cho kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng thời điểm trước Đại hội VI (1986).

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm công trình xử lý nước thải thuộc dự án cải thiện vệ sinh môi trường nước lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Ảnh: GIẢN THANH SƠN

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn hai thập kỷ qua, giống như một cỗ xe còn chưa hoàn thiện nhưng đang chạy với tốc độ nhanh, thành công nhiều mà khó khăn cũng lắm. Hiện nay, những khó khăn mà chúng ta phải đối mặt là việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN còn nhiều hạn chế, có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Nền kinh tế đất nước phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu còn dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm đi vào chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường bị ô nhiễm. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện, những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng là những nhân tố cản trở sự phát triển. Vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia…

Ngoài xã hội và trong bộ máy Nhà nước, cái tích cực với cái tiêu cực xen lẫn, nhiều vấn đề giải quyết chậm, để lỡ mất cơ hội. Phải làm sao đây để phát triển đất nước giữa một thế giới cạnh tranh không chấp nhận sự trì trệ? Nếu chỉ cố gắng như những năm vừa qua không còn đủ nữa, mà phải đổi mới quyết liệt để theo kịp bước tiến thời đại, phải tiến hành những giải pháp đồng bộ trong mọi lĩnh vực. Trước những bất cập về quản trị kinh tế, chúng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng đó đâu phải việc ngày một ngày hai. Thậm chí có những việc như chống lạm phát đã hé lộ khả năng giải quyết được cơ bản, nhưng nếu không cẩn thận thì có nguy cơ chuyển sang căn bệnh mới tác hại không kém đó là giảm phát. Sốt ruột thật, nhưng công việc đòi hỏi chúng ta phải điềm tĩnh, tỉnh táo, kiên trì tìm giải pháp giải quyết căn cơ, không chỉ nhất thời. Trong khi tìm tòi, tháo gỡ, xã hội chúng ta vẫn phải đối mặt với những áp lực mới, gay gắt…

Mới đây thôi, những vấn đề đặt ra từ Tiên Lãng – Hải Phòng, Văn Giang – Hưng Yên, Vụ Bản – Nam Định… đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại các cơ sở pháp lý về đất đai. Hoặc, những đổ vỡ, kém hiệu quả của DNNN; những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và cả trong nhân dân, đòi hỏi phải chỉnh đốn, phải tăng cường thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những khoảng cách giữa mong muốn và hiện thực đòi hỏi phải rút ngắn; những mục tiêu đòi hỏi phải đạt được nếu không muốn dẫn đến tụt hậu và bất ổn; ngân sách Nhà nước thì còn rất eo hẹp, nợ công tăng lên, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hàng hóa tồn đọng nhiều, lạm phát đang ăn vào thu nhập của phần đông người lao động… Đó thực sự là những áp lực không nhỏ, không chỉ với bộ máy Đảng, Nhà nước mà với toàn xã hội. Khó có thể nói những khó khăn thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và những khó khăn hiện nay thì cái nào lớn hơn, khốc liệt hơn?

*

Nhưng, Việt Nam là một đất nước, một dân tộc luôn vượt qua được mọi khó khăn và thực hiện được những mục tiêu tưởng như là không thể.

Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, cần nhắc lại những bài học kinh nghiệm đã giúp Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Đó là bài học về nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bài học về sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử, cội nguồn sức mạnh của Đảng chính là từ sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Đó là bài học về tăng cường củng cố đoàn kết – đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết là truyền thống quý báu và nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đó là bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam… Những bài học này, nếu được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, ai cũng quán triệt thực hiện trên thực tế, không phải chỉ là những khẩu hiệu suông, thì bất cứ khó khăn nào chúng ta đều có thể vượt qua!

Niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi” trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm xưa, phải được thể hiện bằng niềm tin mới “sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nhất định thành công” trong giai đoạn hiện nay!

Suốt 67 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã cố kết chặt chẽ, như cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến, cùng vượt qua thử thách hay nguy cơ chìm thuyền. Đảng, Nhà nước thì cũng từ nhân dân mà ra. Trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, trong muôn mặt của đời sống, dân tộc và cách mạng có hòa nhập với nhau, chính trị và xã hội có ổn định thì mới tồn tại và phát triển. Đó là đặc trưng của Việt Nam. Đối lập và chia rẽ, định kiến và bất ổn là con đường ngắn nhất phá hoại mọi thành tựu, đưa đất nước đến bờ vực thẳm hoặc sẽ bị các thế lực không muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển lôi kéo và lợi dụng.

Làm sao để chính trị xã hội ổn định? Mỗi người chúng ta đang sống trong cơ chế kinh tế thị trường, sử dụng có hiệu quả những mặt tích cực và hạn chế những mặt trái của nó không hề dễ dàng, nhất là với nước ta, vốn xuất phát từ một trình độ thấp, thu nhập quốc dân trên đầu người mới chỉ bắt đầu bước vào mức thấp của ngưỡng trung bình, với biết bao những khó khăn, thách thức và mâu thuẫn nhiều khi không lường hết được. Tôi xin nhấn mạnh: Đứng trước chúng ta là những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mới phức tạp hơn trước kia rất nhiều.

Đoàn kết, hòa hợp, thống nhất từng là bài học và nguyên nhân thắng lợi trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam trong quá khứ, tiếp tục phải là một trong những giải pháp quan trọng nhất của đất nước để vượt lên những khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau. Trong giai đoạn mới, đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy và bổ sung thêm những giá trị mới nhằm thu hẹp những khác biệt, tất cả phải nhằm vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”…

Kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, tất cả những ai nỗ lực học tập, làm việc, cố gắng làm việc trong khả năng của mình phải có được cơ hội, cuộc sống và thu nhập tốt hơn, chỉ như thế mới khuyến khích và tạo môi trường, khát vọng cho mọi người nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn. Chúng ta không khuyến khích bình quân chủ nghĩa. Chúng ta chấp nhận sự cạnh tranh, lên án lòng ganh ghét đố kỵ bởi nó kìm hãm phát triển. Không có đất nước nào có thể lớn lên được từ lòng đố kỵ. Đồng thời, chúng ta tôn vinh lòng nhân ái, chia sẻ, yêu thương và cùng đấu tranh để chấm dứt nghèo đói, dốt nát và bệnh tật… Tôi tin, bất cứ ai, nếu có một nhu cầu tự thân như vậy và với tinh thần xây dựng, sẽ đều có trách nhiệm với đất nước và phải có thái độ như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Đối diện với những khó khăn trong kháng chiến, mọi cán bộ, đảng viên đều biết phải làm tốt công tác dân vận và phải làm gương ra sao, và mỗi người dân từng đem cả nhà mình lót đường cho xe ra trận, kể cả tính mạng của mình khi cần, sẽ biết phải thể hiện lòng yêu nước thế nào khi đối chiếu vào hoàn cảnh mới hiện nay… Những kinh nghiệm ấy vẫn còn nguyên giá trị và phải được phát huy trong lúc này. Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải hình thành các điều kiện để làm xuất hiện những hành vi tích cực của toàn Đảng, toàn dân cho đất nước, cho việc củng cố và xây dựng Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.

Việt Nam đã chứng tỏ không chỉ một lần về khả năng có thể vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể, chúng ta sẽ tiếp tục vượt qua mọi thử thách để thực hiện những mục tiêu lớn lao. Để làm được như vậy, đoàn kết, đồng thuận là một yêu cầu không thể thiếu.

Những gì đi ngược lại yêu cầu ấy phải dần bị triệt tiêu!

Chúng ta phấn đấu để trong một tương lai gần, năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có trình độ phát triển trung bình; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn, nhanh hơn, vững chắc hơn trong các giai đoạn sau.

Tiếp tục con đường của Cách mạng Tháng Tám trong giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải thực hiện bằng được mục tiêu đó! Nếu đất nước, dân tộc đã từng hun đúc ngọn lửa để chúng ta hy sinh xương máu, vượt qua biết bao “bão giông”, “nắng lửa” trong thiên tai và địch họa của “một thời đạn bom”, chúng ta phải làm mọi cách để giữ gìn những giá trị đó và làm cho đất nước trở nên tươi đẹp trong “một thời hòa bình”. Chúng ta hãy chứng tỏ niềm tin và tình yêu đất nước của mình bằng cách làm việc để xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong ước. Không có gì chưa hoàn thiện mà chúng ta lại không có thể làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn bằng lòng yêu nước chân chính…

Đoàn viên thanh niên TPHCM tham gia chiến dịch tình nguyện Hoa phượng đỏ. Ảnh: Việt Dũng

*

Dù còn những khiếm khuyết, chưa hoàn thiện trên cơ thể đất nước, nhưng phải khẳng định rằng: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tất cả những điều đó đã được chúng ta cùng nhau thực hiện và là bằng chứng về khát khao vươn lên của chúng ta. Đất nước chưa có bao giờ đẹp như hôm nay. Nhiều vùng của đất nước còn chậm phát triển, nhưng cũng đã có rất nhiều nơi công trình mới mọc lên to lớn, tráng lệ; còn đó những bộ phận dân cư đời sống rất khó khăn, cực nhọc, nhưng đại bộ phận đã vượt qua sự đói khổ, bần cùng, rất nhiều gia đình đã trở nên khá giả, giàu có, và chúng ta đang phấn đấu rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; đất nước đang ngày càng được thế giới chú ý, trân trọng, đang tiếp tục vươn lên với sức mạnh Phù Đổng…

Hôm nay, chúng ta không thể quên rằng chúng ta là những thế hệ đang kế thừa thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Vào thời điểm này, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại và nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã dẫn dắt chúng ta đi theo con đường cách mạng đúng đắn, làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam – một dân tộc Anh hùng, thông minh, hòa hiếu, đầy lòng nhân ái, cần cù, sáng tạo, yêu nước nồng nàn, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ, luôn đoàn kết nhất trí một lòng đi theo Đảng, xây dựng quốc gia độc lập, tự do, phồn vinh, tiến bộ. Chúng ta đời đời khắc ghi công ơn to lớn của hàng triệu người con ưu tú đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, biết ơn các bậc lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân các liệt sĩ và những người đã hiến dâng tất cả tuổi xuân, xương máu, tài năng và của cải cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Biết ơn những thế hệ đi trước, chúng ta phải làm mọi điều có thể để đất nước phát triển. Tự hào với những gì đã làm được, nhưng chúng ta cũng cần phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc. Hổ thẹn không phải để bạc nhược, mất ý chí, mà để vươn lên gấp hai, gấp ba, để tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi.

Tương lai đang vẫy gọi và thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới!

Trương Tấn Sang (Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam)
sggp.org.vn

Nhiều bài học của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có giá trị vĩnh hằng

Trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã viết nên nhiều trang sử vẻ vang với những chiến công chói lọi chống giặc ngoại xâm, trong đó có thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là chiến công chói lọi trong lịch sử dân tộc.

Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” (1).

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa nhân dân ta giành lại được độc lập dân tộc trong tay phát xít Nhật và thực dân Pháp, đưa đất nước thoát khỏi cảnh mất nước, lầm than, chìm đắm trong vòng nô lệ hơn 80 năm; đồng thời đây cũng là phát súng lệnh mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc trên toàn thế giới, tạo điều kiện cho hàng loạt nước Á – Phi giành được độc lập dân tộc dưới các mức độ khác nhau, chấm dứt về cơ bản chủ nghĩa thực dân cũ thống trị hơn 300 năm ở nhiều dân tộc trên thế giới.

Bác Hồ thăm lớp Bình dân học vụ. Ảnh: T.LBác Hồ thăm lớp Bình dân học vụ. Ảnh: T.L

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học lớn mang tính nguyên lý có giá trị vĩnh hằng cho nhân dân ta và nhiều dân tộc khác cùng cảnh ngộ tương đồng trên thế giới:

Đó là bài học “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (Nguyễn Ái Quốc). Nhờ vậy mà một dân tộc không đông, diện tích không rộng, nhưng dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ với trên 6.000 đảng viên cộng sản đã động viên, tổ chức được sức mạnh phi thường của hơn 20 triệu nhân dân giác ngộ, cả nước nhất tề đứng lên, chỉ sau một tuần lễ đã đập tan bộ máy cai trị của bọn thực dân, phong kiến từ làng, xã đến triều đình phong kiến, giành được chính quyền về tay nhân dân.

Đó là bài học giành độc lập dân tộc phải đi đôi với đem lại tự do và ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ngay sau khi chính quyền cách mạng mới được thành lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phát động đồng thời thực hiện 3 cuộc vận động lớn “diệt giặc đói”, “diệt giặc dốt”, “diệt giặc ngoại xâm” và chủ trương “tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” (2).

Đó là bài học giành chính quyền phải đi đôi với bảo vệ chính quyền. Bài học này không chỉ khi chính quyền cách mạng còn non trẻ như “ngàn cân treo sợi tóc”, mà cả khi phải liên tục tiến hành 2 cuộc kháng chiến trường kỳ vô cùng gian khổ, không nề hy sinh để bảo vệ, phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám và hoàn thành sự nghiệp vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là giải phóng hoàn toàn dân tộc, thống nhất đất nước, thu giang sơn gấm vóc Việt Nam về một mối, chấm dứt vĩnh viễn ách nô lệ ngoại bang và họa chia cắt đất nước.

Đó là bài học về xây dựng, đổi mới thượng tầng kiến trúc xã hội phải đi đôi, được xây dựng trên nền tảng xã hội vững mạnh và cơ sở vật chất – kỹ thuật hùng cường. Trong chiến tranh, đó là xây dựng và phát triển nền kinh tế thời chiến, làm cơ sở hậu phương vững chắc cho tiền tuyến và bồi dưỡng sức dân cho chiến đấu lâu dài.

Khi đất nước sạch bóng quân thù, kịp thời chuyển nền kinh tế thời chiến sang thời bình; quan trọng hơn là kịp thời đổi mới toàn diện nền kinh tế – thực chất là xây dựng mới nền kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong thời kỳ mới phù hợp với sự phát triển bứt phá của nền kinh tế thế giới được thúc đẩy bằng sự bùng nổ về khoa học – công nghệ của kỷ nguyên kinh tế tri thức.

Sự đổi mới và phát triển kinh tế theo tinh thần “đem sức ta mà làm nên sự nghiệp của ta” và “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân” – (Hồ Chí Minh ngày 15-10-1949).

Những bài học bất hủ của Cách mạng Tháng Tám có giá trị vĩnh hằng được Đảng ta kế tục và vận dụng sáng tạo, là tiền đề nhận thức tư tưởng và quan điểm phát triển, đã và đang là động lực to lớn đưa nước ta tiếp tục phát triển toàn diện theo con đường Xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nay càng thêm hoàn thiện bằng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Trong những ngày hân hoan này, chúng ta tưởng nhớ, biết ơn sâu sắc những tấm gương kiên trung, bất khuất đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh để làm nên Cách mạng Tháng Tám và nguyện ra sức đóng góp tài năng, sức lực vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời cảnh giác, ngăn ngừa và chống lại mọi luận điệu xằng bậy chống lại sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và tiền đồ tươi sáng của nhân dân ta.

NGUYỄN VĂN THANH
baoapbac.vn

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia – năm 2002, tập 6, trang 159.
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, trang 56.

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, vượt mọi khó khăn, thách thức, vững bước đi lên!

Trong chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là mốc son chói lọi, là bước ngoặt vĩ đại. Cách mạng Tháng Tám đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ thực dân, phong kiến, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, lầm than trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là biểu hiện rực rỡ của tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ và khát vọng tự do, hòa bình, ấm no, hạnh phúc của toàn dân tộc ta đã được tôi luyện, hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử và trưởng thành trong 15 năm dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðó cũng là thắng lợi vĩ đại của ý chí, bản lĩnh, trí tuệ… của nền văn hiến Việt Nam, được phát huy cao độ, trở thành sức mạnh vật chất hùng mạnh hơn bao giờ hết. Sức mạnh ấy là hành trang cho cả dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, đạp bằng mọi trở ngại, chông gai trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thời gian càng lùi xa bao nhiêu, tầm vóc thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám càng tỏa sáng bấy nhiêu. Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Ðảng ta do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Chỉ 15 năm sau ngày thành lập, Ðảng ta đã vận dụng sáng tạo, tài tình những nguyên lý cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh thực tiễn của nước ta, đề ra đường lối cách mạng giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tập hợp hết thảy mọi người Việt Nam yêu nước trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa. Với tầm nhìn sáng suốt, từ việc đề ra và kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, chuẩn bị đội ngũ, rèn luyện tinh thần và lực lượng bằng các cao trào cách mạng; đến việc tạo dựng và nắm bắt thời cơ giành thắng lợi, sự lãnh đạo của Ðảng đã trở thành nghệ thuật của chiến tranh cách mạng.

Thành quả và những bài học lịch sử quý báu của Cách mạng Tháng Tám là khởi nguồn của những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được trong các cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ 1954, Ðại thắng Mùa Xuân 1975. Mang tinh thần Cách mạng Tháng Tám vào trận tuyến chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu và tình trạng kém phát triển, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới suốt 26 năm qua, tạo thế và lực đưa đất nước tiến vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ CNH, HÐH.

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng. Trước mắt, tập trung thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước về tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của hệ thống chính trị; kết hợp sức mạnh của dân tộc và thời đại để kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Gần 70 năm trước đây, Ðảng ta chỉ với 5.000 đảng viên đã lãnh đạo toàn dân tộc từ trong đêm trường nô lệ, lầm than, vùng lên làm cuộc Tổng khởi nghĩa long trời, lở đất, đưa dân tộc ta lên vị trí hàng đầu của phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay, Ðảng ta đang gánh vác nhiệm vụ lịch sử đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực của mình, từng tổ chức đảng và đảng viên cần triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI) về xây dựng Ðảng, thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhằm tạo chuyển biến rõ nét, khắc phục những hạn chế, yếu kém để xây dựng Ðảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, năng lực và sức chiến đấu của Ðảng ngày càng được nâng cao để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vững bước đi lên.

NHÂN DÂN
nhandan.com.vn

Cách mạng tháng Tám (19/8/1945) và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945)

I. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 – sự kiện vĩ đại của dân tộc và cách mạng Việt Nam.

1. Bối cảnh lịch sử và diễn biến

1.1. Diễn biến chung trong cả nước

Đầu năm 1945, quân đội Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường Châu Âu, giải phóng một loạt nước. Ngày 16/4/1945 chiến dịch tiến công Beclin thắng lợi, phát xít Đức buộc phải ký văn bản đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh vô điều kiện, lò lửa chính của chiến tranh thế giới thứ hai bị dập tắt. Ngày 8/8/1945 Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Chiến thắng của Hồng quân Liên Xô và các lực lượng chống phát xít đối với quân phiệt Nhật đã chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai, tạo điều kiện cho nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa châu Á trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong nước, trải qua nhiều thử thách cam go và các cuộc diễn tập quan trọng như Cao trào Xô – Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931, Cao trào Dân chủ 1936 – 1939, phong trào kháng Nhật cứu nước ngày càng dâng lên mạnh mẽ.

Tình hình quốc tế, trong nước có nhiều thuận lợi đòi hỏi Đảng ta phải có những quyết sách sáng suốt nhằm đẩy mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 9/3/1945, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động phong trào kháng Nhật, cứu nước. Ngày 12/3/1945 ban hành rộng rãi Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị quan trọng này đã thể hiện sự lãnh đạo kiên quyết, chủ động và sáng tạo của Đảng, chỉ rõ phương hướng và biện pháp hành động cách mạng đúng đắn trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, mở đường đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.

Từ ngày 15 đến ngày 20/4/1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp, quyết định phát triển lực lượng vũ trang, nửa vũ trang và thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân, xây dựng 7 chiến khu chống Nhật trong cả nước.

Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “về việc tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng” và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật, cứu nước dâng lên mạnh mẽ, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang phát triển nhanh, phong trào đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần diễn ra khắp các địa phương. Nhiều hoạt động được đẩy mạnh như tuyên truyền xung phong có vũ trang cướp kho thóc của Nhật để cứu đói, xây dựng các đội tự vệ vũ trang du kích cứu quốc, mở trường đào tạo cấp tốc cán bộ quân sự, phát động chiến tranh du kích ở những nơi có đủ điều kiện, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng… Các lực lượng cách mạng đã phối hợp với quần chúng giải phóng một loạt các xã, châu, huyện thuộc các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Bắc Giang.

Ngày 12/8/1945, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng ra mệnh lệnh khởi nghĩa. Ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 14 và 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng bàn kế hoạch phát động và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa.

Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội tại Tân Trào đã nhiệt liệt tán thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước ta đồng loạt đứng dậy, tiến hành cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, chúng ta đã giành một phần ở miền Nam và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, QuảngNam. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội ngày 19/8 đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ các tỉnh, thành phố khác vượt qua mọi khó khăn, gấp rút nổi dậy giành chính quyền. Ngày 23/8 khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và các thị xã: Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Tân An, Bạc Liêu. Thắng lợi của khởi nghĩa Sài Gòn ngày 25/8 có ảnh hưởng quyết định đối với khởi nghĩa ở các tỉnh miền Nam như Sóc Trăng, Vĩnh Long, Thủ Dầu Một, Châu Đốc, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre, Sa Đéc… Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền, làm chủ trên đảo.

Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, Cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền trong cả nước thuộc về tay nhân dân.

Ngày 2/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), trước hàng chục vạn nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ công hòa ra đời.

1.2. Ở Phú Thọ

Cuộc khởi nghĩa ở Phú Thọ diễn ra trong hoàn cảnh có nhiều thuận lợi rất cơ bản. Lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị quần chúng đông đảo và lực lượng vũ trang khá mạnh, đều đã qua thử thách và sẵn sàng chờ lệnh khởi nghĩa. Tiếng vang khởi nghĩa thắng lợi ở các tỉnh trong khu giải phóng, nhất là ở Hà Nội và các tỉnh khác dồn dập dội về. Trong tỉnh, quân ta đánh chiếm huyện Phù Ninh, khởi nghĩa thắng lợi ở hai huyện Hạ Hòa và Thanh Sơn, tước súng địch ở châu lỵ Đoan Hùng…càng thôi thúc nhân dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Tuy nhiên, Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ cũng gặp không ít khó khăn. Phát xít Nhật tuy đã đầu hàng Đồng minh, những bọn Nhật ở Việt Nam không tự rời bỏ địa vị thống trị, không bao giờ tự nguyện trao lại chính quyền cho Việt Minh. Trái lại, chúng vẫn gây nhiều khó khăn cho ta, thậm chí ngày 22/8, bọn Nhật còn khủng bố nhân dân thị xã Phú Thọ. Mặt khác khi thời cơ khởi nghĩa đã đến thì nạn đói vẫn đang hoành hành, lại thêm nạn ngập lụt, vỡ đê chưa từng thấy, gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng của nhân dân. Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cứu quốc các làng ven đê vừa phải lo chuẩn bị khởi nghĩa, vừa phải lo cứu đê, cứu nhân dân bị ngập lụt. Do lũ lụt nên giao thông, liên lạc giữa các cơ sở trong tỉnh, giữa tỉnh với Xứ ủy và Trung ương gặp nhiều khó khăn, công tác chỉ đạo khởi nghĩa gặp rất nhiều trở ngại. Về mặt chủ quan, khi Trung ương đã có lệnh tổng khởi nghĩa, nhưng tỉnh chưa có sự chỉ đạo tập trung, chưa có kế hoạch khởi nghĩa thống nhất, dẫn đến khởi nghĩa ở các huyện do từng đồng chí cán bộ phụ trách khu vực lãnh đạo tiến hành.

Mặc dù có nhiều khó khăn và lệnh khởi nghĩa của Trung ương về đến địa phương chậm, nhưng khi thời cơ đến, Ban cán sự Phú – Yên, cán bộ Đảng và Việt Minh phụ trách từng vùng đã chủ động huy động lực lượng tiến hành khởi nghĩa.

Ngoài hai huyện Hạ Hòa và Thanh Sơn đã khởi nghĩa từ đầu tháng 8, chỉ trong một tuần lễ (từ ngày 15 đến ngày 22 tháng 8 năm 1945), 9 huyện còn lại lần lượt khởi nghĩa.

Ngày 16/8 huyện Đoan Hùng khởi nghĩa; ngày 17/8, huyện Cẩm Khê, Phủ Thanh Ba khởi nghĩa giành chính quyền; ngày 18/8, khởi nghĩa huyện Tam Nông và châu Yên Lập; ngày 20/8 khởi nghĩa Hạc Trì và phủ Lâm Thao và ngày 22/8/1945, khởi nghĩa ở huyện Thanh Thủy. Như vậy đến ngày 22/8/1945 tất cả các phủ trong tỉnh đã hoàn thành khởi nghĩa giành chính quyền.

Sau khi khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện xong, chính quyền cách mạng và huyện bộ Việt Minh huy động lực lượng tự vệ tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh và cử cán bộ về các làng xã lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời làng xã trong huyện; Ban cán sự Phú – Yên tập trung lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền cấp tỉnh và thị xã Phú Thọ.

Thị xã Phú Thọ trong những ngày tháng Tám năm 1945, kẻ thù còn lực lượng đông, còn vũ khí và vẫn chống phá cách mạng đến cùng. Bọn Nhật thu quân ở Đoan Hùng và các tỉnh lân cận về tập kết tại đây. Trong những ngày 22 và 23 tháng 8, chúng cho quân đến các phố khủng bố và uy hiếp dân, tước súng của bảo an binh và nghi lực lượng này theo Việt Minh. Bọn việt gian, Đại Việt vẫn ngoan cố làm tay sai cho Nhật chống phá cánh mạng. Vì vậy, cuộc khởi nghĩa ở tỉnh gặp nhiều khó khăn, trở ngại, không nhanh chóng, thuận lợi như khởi nghĩa ở các huyện. Đảng ta đã nhận định đúng trước khi khởi nghĩa “Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do” nhiều sự gay go, trở ngại sẽ xảy ra.

Trước tình hình đó, đồng chí ủy viên Ban cán sự Phú – Yên phụ trách Phú Thọ đã triệu tập đại diện các đơn vị lực lượng vũ trang trong tỉnh và đại diện đơn vị bộ đội giải phóng quân đóng tại Phú Thọ họp hội nghị quân sự tại nhà Đoàn (cạnh đền Đõm thị xã) chiểu 23/8. Hội nghị quân sự đã cử ra Ủy ban khởi nghĩa tỉnh và đặt các lực lượng vũ trang toàn tỉnh dưới sự chỉ huy thống nhất của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh do đồng chí Lê Quang Ấn làm chủ tịch. Ngay tối hôm đó, hội nghị cán bộ Việt Minh các cơ sở trong tỉnh cũng được triệu tập họp tại đình Cao Du (thị xã Phú Thọ) để cử ra Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh và quyết định tiến hành khởi nghĩa tỉnh Phú Thọ vào ngày 25/8.

Sáng ngày 25/8/1945, theo đúng kế hoạch đã vạch ra, các thành viên Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh đã dẫn đầu từng đơn vị lực lượng vũ trang đến tiếp quản các công sở. Tỉnh trưởng Nguyễn Bách bị du kích bắt và giao nộp cho chính quyền cánh mạng. Một phái đoàn Việt Minh đến doanh trại Nhật báo cho chúng biết Việt Minh chính thức nắm chính quyền tỉnh Phú Thọ. Công việc chiếm đóng các công sở, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai Nhật diễn ra mau lẹ, thuận lợi. Sau đó, trong một cuộc mít tinh lớn, tổ chức tại sân vận động thị xã, hàng vạn nhân dân các dân tộc trong tỉnh tham dự, Ủy ban khởi nghĩa tỉnh đã long trọng công bố danh sách Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Phú Thọ do đồng chí Phạm Huy Chữ làm chủ tịch, đồng chí Trần Văn Cần làm phó chủ tịch.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chấm dứt thời kỳ đen tối của các tầng lớp nhân dân dưới ách thống trị của đế quốc, tay sai, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người dân tự do, làm chủ vận mệnh của mình.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Phú Thọ là sự đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ vào thắng lợi chung của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng tháng Tám năm 1945 trên cả Nước, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở đầu cho kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

2. Nguyên nhân thắng lợi.

– Cách mạng Tháng Tám thành công do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, kiên quyết và khôn khéo của Đảng.

– Cách mạng Tháng Tám thành công do Đảng ta đã dày công rèn luyện lực lượng chủ lực của cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân qua các cao trào cách mạng; đã khơi dậy và phát huy cao độ truyền thống yêu nước của dân tộc, tập hợp được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc cách mạng.

– Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ.

– Trải qua 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có biết bao đồng bào, chiến sĩ đã không hề tiếc máu xương, hy sinh oanh liệt vì mục tiêu độc lập dân tộc.

– Cuộc Cách mạng Tháng Tám được tiến hành trong bối cảnh quốc tế thuận lợi. Chủ nghĩa Phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh.

3. Ý nghĩa lịch sử:

– Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, đế quốc trong gần một thế kỷ và chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm, lập nên nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng ta từ một đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một Đảng cầm quyền. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

– Cách mạng Tháng Tám đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đây là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với những tư tưởng cách mạng và khoa học của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

– Với thắng lợi này, cách mạng nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, nước ta không những trở thành một nước độc lập, tự do mà còn trở thành một trong những nước đi tiên phong trong việc xây dựng chế độ mới – chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội.

– Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn khẳng định rằng, trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản kém phát triển, nơi mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc mà còn có thể thành công ở ngay một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu để đưa cả dân tộc đó đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội. Đây là sự phát triển đầy sáng tạo lý luận Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cổ vũ phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, báo hiệu một kỷ nguyên mới của loài người: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

4. Một số bài học chủ yếu.

Cách mạng tháng Tám thành công, để lại cho cách mạng Việt Nam nhiều bài học quí báu, nhưng có thể nói bài học lớn nhất, sâu sắc nhất soi đường cho cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hoàn thành công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước giành được những thành tựu quan trọng trong quá trình đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế, đó là:

– Trước hết, phải có một đảng tiên phong thật sự cách mạng, tiếp thu được chủ nghĩa Mác – Lênin – đỉnh cao của trí tuệ thời đại được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng, nắm vững hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng của đất nước, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, có phương pháp, hình thức đấu tranh phong phú, linh hoạt, biết nắm bắt thời cơ, xây dựng lực lượng và tổ chức, sử dụng lực lượng đúng lúc, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫn dắt quần chúng tiến lên giành và giữ chính quyền.

Cách mạng tháng Tám khẳng định rằng: nếu không có một đảng cách mạng, một vị lãnh tụ kiệt xuất, một bộ phận tham mưu tài giỏi, một lý luận tiên tiến, tư tưởng thống nhất, tổ chức chặt chẽ, đường lối đúng đắn hợp lòng dân thì khó tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc để làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, chỉ trong vòng nửa tháng đã giành thắng lợi và xác lập chính quyền dân chủ nhân dân trong phạm vi toàn quốc. Đây là những kinh nghiệm quí báu để Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược suốt 30 năm, tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới và giành được những thành tựu quan trọng trong hơn 20 năm gần đây, đưa đất nước bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

– Thứ hai, là giành và giữ chính quyền, đó là mục tiêu của bất cứ một cuộc cách mạng nào. Ngay từ đầu, Đảng ta xác định việc giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng chính quyền của dân và phục vụ nhân dân. Chính vì thế, Đảng đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân – trí thức dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, khai thác và phát huy tối đa động lực tinh thần, nêu cao ý chí Việt Nam, tinh thần dũng cảm, sáng tạo, sẵn sàng xông lên cứu nước, cứu nhà, tạo thành nguồn động lực to lớn để đưa Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi hoàn toàn, giành chính quyền về tay nhân dân. Để giữ vững chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã dựa chắc vào nhân dân, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để đấu tranh thắng lợi với thù trong, giặc ngoài; đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh với kẻ thù và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Từ bài học này và thực tiễn cách mạng Việt Nam 67 năm qua (kể từ khi Cách mạng tháng Tám thành công), chúng ta có thể khẳng định giành chính quyền về tay nhân dân, bảo vệ và xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân, có như vậy mới thực sự mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, làm cho đất nước phồn vinh và phát triển.

– Thứ ba, là vấn đề nắm bắt thời cơ, đề ra được những quyết định chính xác và kịp thời. Bất cứ một cuộc cách mạng nào đều phải biết tạo ra thời cơ và nắm bắt thời cơ. Chọn đúng thời cơ là một khoa học và một nghệ thuật. Điều này đã thể hiện rất rõ trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, cũng như trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975) giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nếu chọn đúng thời cơ thì sức mạnh của nhân dân ta tăng lên gấp bội và giành thắng lợi, ngược lại nếu phát động sớm hơn khi thời cơ chưa chín muồi thì sẽ gây tổn hại đến cách mạng, đến nhân dân; nếu muộn hơn thì sẽ mất đi thế chủ động và gặp nhiều khó khăn khác. Bài học này càng có ý nghĩa sâu sắc khi đất nước ta mở cửa, hội nhập nền kinh tế quốc tế, phải biết tận dụng thời cơ, đẩy lùi những nguy cơ, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

– Thứ tư, là vấn đề sử dụng lực lượng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân  – trí thức, tạo nên một nguồn động lực mạnh mẽ đưa cách mạng tiến lên. Dưới ánh sáng của đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng yêu nước và sức mạnh của toàn dân được thổi bùng lên trong Cách mạng tháng Tám đã tiếp tục được phát huy cao độ trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc xâm lược và trong công cuộc đổi mới đất nước.

II. Giá trị thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám 1945 trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước 67 năm qua.

1. Cách mạng Tháng Tám với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

1.1- Cách mạng Tháng Tám đã mở đầu sự đổi mới sâu sắc và toàn diện cho dân tộc ta, nhất là sự thay đổi về chính trị. Chế độ thuộc địa và chuyên chế phong kiến đã được thay thế bới chính thể dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tư tưởng, quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam được khởi nguồn từ cách mạng Tháng Tám đã khẳng định sự đổi mới căn bản thể chế chính trị, tạo động lực mới cho việc xây dựng và phát triển đất nước từ đó đến nay.

1.2- Cách mạng Tháng Tám khởi đầu sự giải phóng xã hội. Nhà nước cách mạng ngay từ khi thành lập đã quan tâm đến quyền tự do, dân chủ, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, quyền ứng cử, bầu cử, tham gia xây dựng chính quyền. Các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 ra đời là sự tiếp nối tư tưởng, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám, bảo đảm ngày càng đầy đủ quyền tự do dân chủ cho nhân dân.

1.3- Đảng và Nhà nước ta đã phát huy bài học của Cách mạng Tháng Tám trong việc huy động lực lượng quần chúng tham gia các phong trào cách mạng, phng trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn trong toàn xã hội, quan tâm đến lợi ích chính đáng, trực tiếp của nhân dân, dựa vào dân, phát huy vai trò sáng tạo của nhân dân để lãnh đạo công cuộc tái thiết đất nước, khắc phục hậu quả chiến tranh, cải tạo nền kinh tế, xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất… Đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang được thể chế hóa, hệ thống pháp luật, chính sách ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, tạo điều kiện khơi dậy sức mạnh nội lực, tranh thủ ngoại lực cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

1.4- Từ Cách mạng Tháng Tám, các quan điểm chiến lược về con người, về giáo dục và đào tạo con người mới được hình thành và phát triển. Nhiều chủ trương, chính sách lớn về phát triển văn hoá, giáo dục được ban hành, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, quyền lợi của mọi người dân, góp phần nâng cao dân trí, phục vụ tốt cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Những chính sách về lao động, việc làm, bảo vệ người lao động, chăm sóc thương binh, gia đình thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng… được chú trọng hoàn thiện. Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội từng bước được mở rộng, hướng tới bảo đảm công bằng trong các chính sách hỗ trợ, không để sót đối tượng, nhằm bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội được bảo vệ về cuộc sống.

1.5- Phát triển những tư tưởng chiến lược về ngoại giao từ Cách mạng Tháng Tám, chúng ta đã giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, sự lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, ổn định chính trị – xã hội và trật tự, an toàn xã hội, phát triển quan hệ đối ngoại mạnh mẽ.

2. Cách mạng Tháng Tám 1945 với các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

2.1- Từ kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám, chúng ta luôn nắm vững đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ quốc tế, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, con đường kiên quyết dùng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng, giương cao ngọn cờ hòa bình, tranh thủ các khả năng hòa bình có thể được nhằm tạo dựng nền hòa bình lâu dài trong độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

2.2- Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh đoàn kết mới cho tất cả những người Việt Nam yêu nước, tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt trai, gái, trẻ, già, giàu nghèo, tín ngưỡng, dân tộc… dựa trên nền tảng liên minh công – nông – trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến cứu nước là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, là bước phát triển mới về chất của chiến tranh yêu nước Việt Nam.

2.3- Phát triển những quan điểm về xây dựng lực lượng vũ trang toàn dân từ Cách mạng Tháng Tám, qua hai kháng chiến cứu nước, chúng ta đã xây dựng và tổ chức quân đội kiểu mới – quân đội của dân tộc, của nhân dân, từ nhân dân và vì nhân dân. Đường lối chiến tranh vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, xây dựng kết hợp với bảo vệ và củng cố chế độ mới, xây dựng căn cứ địa trong chiến tranh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiền tuyến và hậu phương được vận dụng và phát triển sáng tạo.

III- Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, thành tựu 67 năm xây dựng và bảo vệ đất nước vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN giai đoạn hiện nay.

1. Tích cực, chủ động nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ và thách thức trong thời kỳ đổi mới, hội nhập hiện nay.

Phát huy tinh thần giữ vững nguyên tắc, mềm dẻo, sáng tạo trong sách lược, chủ động nắm bắt thời cơ, hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đang chung sức giải quyết những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách để đưa đất nước phát triển bền vững. Chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra và vận dụng thành công trong thời kỳ giành và giữ chính quyền năm 1945 – 1946, phân tích, dự đoán, nắm chắc và tận dụng thời cơ để mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia, cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trải qua thử thách thời gian và lịch sử, cuộc Cách mạng Tháng Tám không chỉ khẳng định ý nghĩa thời sự nóng bỏng mà ngày càng khẳng định những giá trị lịch sử lâu bền. Những giá trị đó đang được phát huy bởi các mục tiêu, nhiệm vụ: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội gắn bó mật thiết và thống nhất trong toàn bộ tiến trình cách mạng và trong công cuộc đổi mới hiện nay.

3. Nắm vững các quan điểm phát triển trong sự nghiệp CNH – HĐH, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước.

Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững. Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hành dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

4. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị.

Nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng cần tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp sau: tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, nang cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng về hệ thống chính trị; kiện toàn tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tiếp tục đổi mới, phương thức lãnh đạo của Đảng.

Đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và mọi mặt đời sống xã hội; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật; tăng cường pháp chế XHCN và kỷ luật, kỷ cương. Xây dựng thể chế và cơ chế vận hành cụ thể bảo đảm nguyên tắt tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và nguyên tắt quyền lực là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi các văn bản pháp luật; các thiết chế thi hành pháp luật được bảo đảm vận hành có hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và thực hiện các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Tiếp tục xây dựng từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, hiệu lực. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng hiện đại, tinh gọn và hợp lý. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý. Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí; chú trọng các biện pháp phòng chống tham nhũng có hiệu quả. Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ. Xử lý nghiêm minh, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tích cực đấu tranh chống tham nhũng. Phát huy vai trò của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức, phát hiện đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2-9 trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, chúng ta càng hiểu rõ giá trị lịch sử, thực tiễn sâu sắc mà Cách mạng Tháng Tám đã mang lại; nhận thức đầy đủ trách nhiệm của thế hệ sau trong việc vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm quý giá, những tư tưởng mang tầm thời đại của cách mạng Tháng Tám vào công cuộc đổi mới và đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trích từ bài “Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945); Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 02/9/1945) và kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về thăm tỉnh Phú Thọ (19/8/1962 – 19/8/2012

Nguồn: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Thọ
phutho.gov.vn

Hào khí của Cách mạng tháng Tám

(Congannghean.vn)-Trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã viết nên nhiều trang sử vẻ vang với những chiến công chói lọi chống xâm lược và chống ách thống trị của nước ngoài. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ vang, chói lọi nhất, là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc.

*Nguyện xứng danh chiến sỹ công an trên quê Bác

Đánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Cách mạng tháng Tám, nhân dân ta đã giành lại được độc lập dân tộc trong tay phát xít Nhật và thực dân Pháp, đưa đất nước thoát khỏi cảnh mất nước, lầm than, chìm đắm trong vòng nô lệ hơn 80 năm; đồng thời đây cũng là phát súng lệnh mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc trên toàn thế giới, tạo điều kiện cho hàng loạt nước Á – Phi giành được độc lập dân tộc dưới các mức độ khác nhau, chấm dứt về cơ bản chủ nghĩa thực dân cũ thống trị hơn 300 năm nhiều dân tộc trên thế giới.

Thành công của Cách mạng tháng Tám gắn liền với vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám để lại nhiều bài học lớn mang tính nguyên lý có giá trị vĩnh hằng và hiện thực cho nhân dân ta và nhiều dân tộc khác cùng cảnh ngộ tương đồng trên thế giới.

Đó là bài học “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (Nguyễn Ái Quốc). Nhờ vậy mà một dân tộc người không đông, diện tích không rộng, nhưng dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ với trên 6.000 đảng viên cộng sản đã động viên, tổ chức được sức mạnh phi thường của hơn 20 triệu nhân dân giác ngộ, cả nước nhất tề đứng lên, chỉ sau một tuần lễ đã đập tan bộ máy cai trị thực dân – phong kiến từ làng, xã đến triều đình phong kiến và bộ máy cai trị thực dân để giành được chính quyền về tay nhân dân, thiết lập ra chế độ Cộng hòa Dân chủ.

Đó là bài học giành độc lập dân tộc phải đi đôi với đưa lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Do vậy ngay sau khi chính quyền cách mạng mới được thành lập, Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phát động đồng thời ba cuộc vận động lớn “diệt giặc đói”, “diệt giặc dốt”, “diệt giặc ngoại xâm”, và chủ trương “Tín ngưỡng tự do và Lương giáo đoàn kết” với quan điểm xuyên suốt “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Đó là bài học giành chính quyền phải đi đôi với bảo vệ chính quyền. Bài học này không chỉ khi chính quyền cách mạng còn non trẻ như “ngàn cân treo sợi tóc”, mà cả khi phải liên tục tiến hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ, vô cùng gian khổ, không nề hy sinh để bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng Tám và hoàn thành sự nghiệp vĩ đại của Cách mạng tháng Tám là giải phóng hoàn toàn dân tộc, thống nhất đất nước, thu giang sơn gấm vóc Việt Nam về một mối, chấm dứt vĩnh viễn ách nô lệ ngoại bang và họa chia cắt đất nước.

Đó là bài học về xây dựng, đổi mới thượng tầng kiến trúc xã hội phải đi đôi và được xây dựng trên nền tảng xã hội vững mạnh và cơ sở vật chất – kỹ thuật hùng cường.

Trong chiến tranh, đó là xây dựng và phát triển nền kinh tế thời chiến, làm cơ sở hậu phương vững chắc cho tiền tuyến và bồi dưỡng sức dân cho chiến đấu lâu dài. Khi đất nước sạch bóng quân thù là phải kịp thời chuyển nền kinh tế thời chiến sang thời bình; quan trọng hơn là kịp thời đổi mới toàn diện nền kinh tế – thực chất là xây dựng mới nền kinh tế – nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong thời kỳ mới phù hợp với sự phát triển bứt phá của nền kinh tế thế giới được thúc đẩy bằng sự bùng nổ về khoa học – công nghệ của kỷ nguyên kinh tế tri thức. Sự đổi mới và phát triển kinh tế cũng phải theo tinh thần “Đem sức ta mà làm nên sự nghiệp của ta” – “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhệm của dân” (Hồ Chí Minh 15/10/1949).

Những bài học bất hủ của Cách mạng tháng Tám có giá trị vĩnh hằng được Đảng ta kế tục và vận dụng sáng tạo, là tiền đề nhận thức – tư tưởng và quan điểm phát triển, đã và đang là động lực to lớn đưa nước ta tiếp tục phát triển đi lên trong xây dựng và phát triển toàn diện đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nay càng thêm hoàn thiện bằng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Trong những ngày hân hoan này làm chúng ta nhớ lại và biết ơn sâu sắc những con người kiên trung, bất khuất của Đảng, những người con ưu tú của dân tộc và giai cấp quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, để bảo vệ và phát huy thành quả của Cách mạng tháng Tám, mà tiêu biểu là các liệt sỹ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng và các anh hùng.

Từ thắng lợi của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, sự thành công của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp vừa qua chúng ta tuyệt đối tin tưởng và lạc quan về tương lai tươi sáng của dân tộc. Toàn Đảng, toàn dân ta và toàn quân cùng ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 mà Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra.

Nguyễn Văn Thanh
congannghean.vn

Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa và kinh nghiệm lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám

Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh khách quan rất thuận lợi: kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phátxít Nhật đã bị Liên Xô và Đồng minh đánh bại, quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu, chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã. Đảng Cộng sản Đông Dương đã chớp thời cơ đó phát động toàn dân nổi dậy nên đã giành được thắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu.

Cách mạng Tháng Tám là kết quả và đỉnh cao của 15 năm đấu tranh của toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Trong quá trình đó, Đảng đã xây dựng được một lực lượng chính trị hùng hậu; từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng và đùm bọc, có chỗ đứng chân ngày càng vững chắc trong căn cứ địa cách mạng, giữ vai trò nòng cốt, xung kích, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Đảng Cộng sản Đông Dương là người tổ chức và lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám. Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, bắt rễ sâu trong quần chúng, đoàn kết và thống nhất, quyết tâm lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản nhất, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Trong 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng, biết bao đảng viên cộng sản và quần chúng cách mạng đã hy sinh oanh liệt. Hồ Chí Minh nói: “Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay.

Tất cả chúng ta phải noi theo các gương anh dũng, gương chí công vô tư ấy, mới xứng đáng là người cách mạng”1. 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 2002, t.6, tr. 159 – 160.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo, lần đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ trên đất nước ta, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, người làm chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập và tự do. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, không hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, “Chẳng những giai cấp lao động mà nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”2. 2. Sđd, tr. 159.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do.

Về mặt quốc tế, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã chọc thủng một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, góp phần cống hiến lớn lao vào sự nghiệp giải trừ chủ nghĩa thực dân và giải phóng dân tộc trên thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh và đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Nó chứng tỏ rằng: ở thời đại chúng ta, một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa. Cuộc cách mạng đó quan hệ mật thiết với cách mạng vô sản ở “chính quốc”, nhưng không lệ thuộc vào cách mạng ở “chính quốc”. Trái lại, nó có thể giành được thắng lợi trước khi giai cấp công nhân “chính quốc” lên nắm chính quyền.

Cách mạng Tháng Tám thành công để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc. Những kinh nghiệm chính là:

Một là: Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.

Con đường cứu nước của Nguyễn ái Quốc và Cương lĩnh của Đảng đã xác định cách mạng nước ta trải qua hai giai đoạn, trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ, sau đó chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến không thể tách rời nhau. Trải qua ba cao trào cách mạng, Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ đó và xác định: tuy hai nhiệm vụ không tách rời nhau nhưng nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu cụ thể như: giảm tô, giảm tức, chia ruộng đất công, chia ruộng đất của bọn phản động cho nông dân nghèo, tiến tới cải cách ruộng đất. Phân tích mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Đảng chủ trương chĩa mũi nhọn của cách mạng vào đế quốc phátxít Nhật – Pháp và bè lũ tay sai nhằm tập trung giải quyết yêu cầu chủ yếu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc. Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của sự kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.

Hai là: Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công – nông

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi là nhờ cuộc đấu tranh yêu nước anh hùng của hơn 20 triệu người Việt Nam. Nhưng cuộc nổi dậy của toàn dân chỉ có thể thực hiện được khi có đạo quân chủ lực là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đạo quân chủ lực này được xây dựng, củng cố qua ba cao trào cách mạng và lớn mạnh vượt bậc trong tổng khởi nghĩa. Dựa trên đạo quân chủ lực làm nền tảng. Đảng xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, động viên toàn dân tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Ba là: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù

Đảng ta đã lợi dụng được mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc phátxít, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và một bộ phận thế lực địa chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàng ngũ ngụy quyền tay sai của Pháp và của Nhật, cô lập cao độ kẻ thù chính là bọn đế quốc phátxít và bọn tay sai phản động; tranh thủ hoặc trung lập những phần tử lừng chừng. Như vậy, Cách mạng Tháng Tám giành được thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu.

Bốn là: Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân

Trong Cách mạng Tháng Tám, bạo lực của cách mạng là sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp nổi dậy của quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng ở cả nông thôn và thành thị, trong đó vai trò quyết định là các cuộc tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Cách mạng Tháng Tám là kết quả của sự kết hợp tất cả các hình thức đấu tranh kinh tế và chính trị, hợp pháp và không hợp pháp của quần chúng, từ thấp đến cao, từ ở vài địa phương lan ra cả nước, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp thống trị, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân.

Năm là: Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ

Đảng ta coi khởi nghĩa là một nghệ thuật, vừa vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của cách mạng thế giới, vừa tổng kết những kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở nước ta. Trong rất nhiều văn kiện của Đảng từ năm 1939 đến nửa đầu năm 1945, Đảng đã vạch ra những điều kiện làm thời cơ cho tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi chứng tỏ Đảng đã chọn đúng thời cơ. Đó là lúc bọn cầm quyền phátxít ở Đông Dương hoang mang đến cực độ sau khi Nhật đầu hàng; nhân dân ta không thể sống nghèo khổ như trước được nữa (khi hơn hai triệu người đã bị chết đói…). Đảng đã chuẩn bị sẵn sàng các mặt chủ trương, lực lượng và cao trào chống Nhật, cứu nước làm điều kiện chủ quan cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sáu là: Xây dựng một Đảng Mác – Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Đảng ta ngay từ đầu đã xác định đúng đường lối chiến lược và sách lược cách mạng, không ngừng bổ sung và phát triển đường lối chiến lược và sách lược đó. Điều đó đòi hỏi Đảng phải biết vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, kịp thời tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng.

Đảng ta rất coi trọng việc quán triệt đường lối chiến lược và sách lược, chủ trương của Đảng trong đảng viên và quần chúng cách mạng, không ngừng đấu tranh khắc phục những khuynh hướng lệch lạc. Đảng chăm lo công tác tổ chức, cán bộ, giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên về ý chí bất khuất, phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, xây dựng Đảng vững mạnh và trong sạch. Đảng biết phát huy triệt để vai trò của Mặt trận Việt Minh với hàng triệu hội viên và thông qua Mặt trận để lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

Với những yếu tố như trên và được tôi luyện qua 15 năm đấu tranh mặc dù chỉ có 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công.

Theo lichsuvietnam.vn
dostquangtri.gov.vn