Thư viện

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 8: Khúc ca bi tráng

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Mời quý vị và các bạn xem tập 8: Khúc ca bi tráng.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 9: Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 9: Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 10: Không có gì quý hơn độc lập tự do

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 10: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 11: Mậu Thân trong lòng nước Mỹ

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 11: Mậu Thân trong lòng nước Mỹ.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 12: Tượng đồng bia đá

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 12: Tượng đồng bia đá.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập cuối: Chuyện chưa nói hết

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 13: Chuyện chưa nói hết.

Bài học về thống nhất chỉ đạo chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968

Sau thất bại của cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, kế hoạch “ bình định” chiến lược của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn bị phá sản một bước quan trọng. Đầu năm 1967, trên cơ sở phân tích, đánh giá, tình hình mọi mặt và diễn biến thực tế chiến trường, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) và Bộ Tổng Tư lệnh (BTTL) Quân đội nhân dân Việt Nam nhận thấy một tình thế mới có lợi cho ta, bất lợi cho địch đã xuất hiện. Kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967-1968 lập tức được khởi thảo nhằm chớp thời cơ đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước tiếp tục phát triển.

Liên tục trong tháng 5 và tháng 6 năm 1967, Bộ Chính trị (BCT) Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) Đảng, khóa III đã hai lần tổ chức hội nghị để đánh giá tình hình, xem xét dự thảo chiến lược Đông Xuân 1967-1968, đề ra chủ trương: trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, bằng cách quyết tâm chỉ đạo việc tổ chức các trận đánh tiêu diệt từ 3 đến 5 lữ đoàn Mỹ, 3 đến 5 sư đoàn quân ngụy Sài Gòn.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết tháng 6-1967 của Hội nghị BCT, Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) đã nhanh chóng cử cán bộ tới các chiến trường, các mặt trận để chỉ đạo thí điểm cách đánh tiêu diệt gọn các đơn vị quân đội Mỹ, nhằm đánh giá khả năng tác chiến của quân và dân ta trước một đối thủ “được trang bị tận răng” như quân đội Mỹ; đồng thời, thăm dò phản ứng đối phó và thực lực của địch. Trong khi BTTM đang chỉ đạo cách đánh thí điểm trên chiến trường thì tháng 7-1967, tại Tổng hành dinh, BCT đã có cuộc họp với lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, với các ngành, các cấp có liên quan để cùng bàn bạc, cân nhắc, từng bước hoàn chỉnh chủ trương chiến lược đã xác định.

Từ kết quả các hội nghị trên, từ thực tế “Tổ kế hoạch” của BTTM  được BCT giao cho lựa chọn hai khả năng tác chiến (từ tháng 6-1967 đến thời điểm này) chưa tìm ra phương án tối ưu; thì vào lúc đó, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt trong BCT, QUTƯ đưa ra chủ trương: đột ngột chuyển hướng tiến công chiến lược của ta từ rừng núi, nông thôn đánh thẳng vào sào huyệt địch ở đô thị trên toàn miền Nam. Thế là, ngay lập tức, kế hoạch mà BTTM đang triển khai được hình thành lại.

Tháng 10-1967, trong 5 ngày (từ 20 đến 24-10), BCT họp bàn cụ thể hơn về chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968. Đây là Hội nghị rất quan trọng để quyết định kế hoạch tiến công Tết Mậu Thân lịch sử.

Sau khi nghe Dự thảo kế hoạch chiến lược Đông-Xuân-Hè 1967-1968 do đồng chí Văn Tiến Dũng thay mặt QUTƯ trình bày, Báo cáo về tình hình địch của Cục 2, về Tình hình ta của BTTM, về Kế hoạch tác chiến của các mặt trận…, BCT nhận định: Mỹ đang thất bại lớn, có tăng quân cũng không giải quyết được gì, mà tình hình càng bế tắc, càng bị cô lập thêm, mâu thuẫn càng sâu sắc. Tuy vậy, Mỹ còn rất ngoan cố… đang cố gắng tăng cường lực lượng để giữ cho tình hình không xấu đi, ta nên chớp thời cơ bất ngờ và đồng loạt đánh mạnh vào các đô thị trên toàn miền Nam.

Phải thấy rằng, đây là một quyết định rất táo bạo, rất sáng tạo của Đảng ta. Nếu chỉ căn cứ vào tương quan lực lượng quân sự thuần túy giữa hai bên trên chiến trường lúc ấy sẽ không có chủ trương táo bạo này. Toàn bộ ý định chiến lược được giữ hết sức nghiêm mật (không đưa ra bàn ở Trung ương; ngay trong BTTM cũng chỉ những người được phân công trực tiếp làm kế hoạch mới biết).

Ngày 28-12-1967, BCT họp phiên đặc biệt, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, chính thức thông qua kế hoạch chiến lược năm 1968. Tháng 1-1968, Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 14 họp, đã thông qua Nghị quyết tháng 12-1967 của BCT, thực hiện Tổng công kích- Tổng khởi nghĩa (TCK-TKN) trên toàn miền Nam.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược này, BCT chỉ rõ: trên mặt trận ngoại giao cần có những phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp và “phải mở đường cho địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta1. Đồng chí  Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng- lưu ý rằng: mặc dù quân Mỹ đang bị động, đang lâm vào thế khó khăn, “nhưng nó là kẻ mạnh, nên ta phải biết thắng nó”. Muốn thế, chúng ta không thể đánh theo lối cũ “mà phải chuyển qua một giai đoạn mới, tức là giai đoạn TCK-TKN, buộc nó phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta2.

Để hiểu rõ hơn phương châm chiến lược mà Đảng ta xác định cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chúng ta nhìn lại một cách khái quát tình hình quân sự, chính trị, ngoại giao của chúng ta từ 1965 đến 1968.

Về quân sự: trong khói lửa chiến tranh ác liệt, quân và dân ta trên cả hai miền Nam-Bắc vẫn bền gan chiến đấu, giữ vững chiến lược tiến công, làm thất bại một bước quan trọng các mục tiêu chiến lược trong cuộc “chiến tranh cục bộ” và “chiến tranh phá hoại” của Mỹ, khiến cho Mỹ không thể dễ dàng đạt được mục tiêu chiến lược đề ra ban đầu là “giành thắng lợi trong thời gian ngắn”.

Về chính trị, ngoại giao: nếu như phía chính quyền Mỹ chịu sức ép của phong trào phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng tăng ở trong nước và trên thế giới, thì phía chúng ta cũng đang ở vào giai đoạn phức tạp là phải tính toán sao cho vừa giữ được độc lập chủ quyền, vừa tranh thủ được sự ủng hộ tối đa của bạn bè quốc tế. Do vậy, từ cuối năm 1966, đầu năm 1967, BCT đã chủ trương tạo điều kiện mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm. Thấm nhuần chủ trương đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (1-1967), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh phát biểu: “ Để đánh bại kẻ thù hết sức ngoan cố và xảo quyệt là đế quốc Mỹ xâm lược, ta phải giữ vững quyết tâm cao độ, nắm vững phương châm chiến lược, đồng thời phải biết cách đánh thắng địch, vận dụng sách lược khôn kéo, thắng từng bước”3. Đó là điều giải thích, vì sao nếu như từ năm 1966 trở về trước, lập trường của phía Việt Nam là Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam, chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chống phá miền Bắc trước khi có bất cứ cuộc nói chuyện nào giữa hai bên thì tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Đảng ta bắt đầu hé mở khả năng phía Việt Nam sẽ đi vào đàm phán với Mỹ, nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, chứ chưa bao gồm điều kiện Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam như trước đây. Tuy nhiên, lường trước những vấn đề nảy sinh, Hội nghị Trung ương 13 cũng đã nêu rõ, phải có kế hoạch vận động, giải thích, thuyết phục… Những nước XHCN anh em có thể nghĩ là ta “thương lượng non”, do đó tỏ thái độ trực tiếp hoặc gián tiếp không đồng tình với ta; hoặc quá nặng về đàm phán đi đến thúc ép ta sớm đi đến giải pháp chính trị trong khi tình hình chưa chín muồi; cần hết sức tránh không để kẻ thù lợi dụng sự bất đồng về sách lược giữa nước ta và các nước anh em.

Trước thiện chí hòa bình của Việt Nam, phía Mỹ không những không đáp lại mà còn đòi ta “phải có đi, có lại”, đưa ra điều kiện buộc ta phải công khai cam kết không được lợi dụng việc Mỹ ngừng ném bom để chi viện cho miền Nam. Đó là sự mặc cả trớ trêu, bất công, lộn sòng giữa người bị xâm lược và kẻ đi xâm lược, thể hiện rõ việc Mỹ vẫn ôm mộng xâm lược miền Nam. Xem thư của Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8-2-1967, thấy rõ sự ngoan cố đó.

Vì thế, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 là để giải bài toán lịch sử nêu trên. Nghiên cứu kỹ Biên bản Hội nghị BCT bàn về kế hoạch chiến lược mùa thu: TCK-TKN Đông-Xuân-Hè 1967-1968, Nghị quyết của cơ quan chỉ đạo chiến lược cũng như một số bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội lúc bấy giờ, chúng ta nhận thấy, chủ trương chiến lược táo bạo của Nghị quyết tháng 12-1967 của BCT thực hiện TCK-TKN có sự thống nhất cao của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và quân đội. Tựu trung, các đồng chí đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương TCK-TKN, nhằm vào toàn bộ mục tiêu hiểm yếu của địch trên chiến trường; đặc biệt là với cách đánh hiểm, đánh vào yết hầu, đánh vào “tim óc” của địch vào thời điểm nhạy cảm nhất trong đời sống chính trị nước Mỹ, buộc giới lãnh đạo Mỹ phải xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán, mở ra một giai đoạn mới- giai đoạn vừa đánh vừa đàm, nhằm kết thúc cuộc chiến tranh theo truyền thống Việt Nam.

Tết Mậu Thân 1968 và tác động rộng lớn của nó đã hiện thực hóa mục tiêu chiến lược này của cơ quan chỉ đạo chiến lược ta về các mặt sau:

– Phơi bày toàn bộ quá trình thất bại của Mỹ trên chiến trường cả về quân  sự, chính trị; sự bất lực của một đạo quân đông tới gần một triệu rưởi, được trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại (bậc nhất lúc bấy giờ) trước sức tiến công mãnh liệt và cách đánh hiểm đầy sáng tạo của quân và dân ta.

– Làm lộ rõ những sai lầm về chiến lược cũng như cách thức điều hành chiến tranh của giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn và của giới tướng lĩnh Mỹ trên chiến trường.

– Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 còn là sự biểu dương ý chí, nghị lực, sức mạnh và nghệ thuật điều hành chiến tranh của Bộ Thống soái Việt Nam; qua đó, làm bộc lộ những giới hạn trong sức mạnh quân sự, kinh tế của Mỹ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiến lược toàn cầu mà Mỹ đã theo đuổi từ lâu.

– Vì những lẽ đã nêu, cho dù Mỹ là một nước lớn, một nước chưa hề bại trận trong lịch sử 200 năm lập nước, nhưng sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đã gây  chấn động dữ dội giữa lòng nước Mỹ, khiến cho đông đảo các tầng lớp xã hội Mỹ- kể cả các quan chức cấp cao, các nghị sĩ, các tập đoàn tài phiệt đầy thế lực phải thay đổi quan điểm, không còn hậu thuẫn cho chính sách xâm lược của chính quyền Giôn-xơn nữa.

– Tất cả những gì diễn ra trong Tết Mậu Thân 1968 đã khiếnTổng thống Mỹ L.Giôn-xơn, vào đêm 31-3-1968, chẳng những phải công khai tuyên bố: Mỹ đơn phương chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc (từ vĩ tuyến 20 trở ra), sẵn sàng cử đại diện đi vào đàm phán với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, mà hơn thế, còn quyết định rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam khi chưa một mục tiêu nào của cuộc chiến tranh này được thực hiện. Việc trút bỏ gánh nặng chiến tranh xuống vai chính quyền và quân đội Sài Gòn- một lực lượng vốn đã bại trận trước khi quân Mỹ buộc phải tham chiến và ngày càng phụ thuộc vào sự hiện diện của quân Mỹ thì, về thực chất đã làm cho Mỹ phải phụ thuộc vào chính kẻ đã và đang phụ thuộc vào mình. Với tất cả các lý do đó, cho dù sau Tết Mậu Thân 1968, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta vẫn phải kéo dài và rất quyết liệt (phải 5 năm sau quân Mỹ mới rút hết và 7 năm sau ngụy quyền Sài Gòn mới sụp đổ hoàn toàn), nhưng với quyết định ngày 31-3-1968 của Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn, về thực chất, số phận cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ đã được định đoạt.

Bài học về sự thống nhất  chỉ đạo chiến lược trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 vẫn mang giá trị thời sự trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của chúng ta, khi mà tình hình chính trị, quân sự, kinh tế thế giới và khu vực còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều thách thức, nguy cơ, nhiều nhân tố gây mất ổn định như hiện nay.

Đại tá, PGS, TS. HỒ KHANG
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
tapchiqptd.vn

____________________

1, 2 – ĐCSVN- Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 29 , Nxb CTQG, H. 2004, tr. 63; tr. 23.

3 – Văn kiện Đảng, Sđd, Tập 28, tr. 124;125.

“Cầu hàng không” Xuân Mậu Thân 1968 – Khúc tráng ca bất tử

QĐND – Thật kỳ diệu! Tôi đã thốt lên như vậy khi nghe trọn câu chuyện tái hiện ký ức thực hiện nhiệm vụ tuyệt mật, thiết lập “cầu hàng không” chi viện cho chiến trường miền Nam Tết Mậu Thân 1968 của Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Tường Long, nguyên kỹ sư hàng không thuộc Trung đoàn 919, Quân chủng Phòng không-Không quân. Từ ký ức của Anh hùng Nguyễn Tường Long kết hợp với tư liệu của Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Không quân, nguyên Phó tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, chúng tôi có dịp hiểu rõ hơn những trang sử bi hùng của “cầu hàng không” Tết Mậu Thân 1968.

Kế hoạch quan trọng tối mật

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Tường Long giờ đây đã yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng. Ông qua đời năm 2008. Cuộc gặp gỡ với tôi trước ngày định mệnh mấy tuần là lần cuối cùng ông tiếp xúc với báo chí. Dường như ông đã tiên liệu trước sự ra đi vĩnh viễn của mình vì tuổi già, bệnh tật, nên đã chủ động đến gặp tôi. Ông mang theo bản tư liệu chép tay được trình bày khá ngắn gọn nhưng đầy đủ. Đó là những gì ông nhớ được về nhiệm vụ tối mật, cải tiến máy bay vận tải IL-14 do Liên Xô sản xuất thành máy bay ném bom, thiết lập “cầu hàng không” chi viện chiến trường miền Nam Tết Mậu Thân 1968. “Đây là dấu ấn sâu sắc nhất trong đời quân ngũ của tui. Tui đã ghi tóm tắt tất cả vào đây. Cháu cần gì thêm thì cứ hỏi. Thời gian đã qua lâu rồi nhưng tui vẫn nhớ rành rẽ mọi việc. Tui sẽ kể hết cho cháu nghe, kẻo rồi không còn dịp để mà kể nữa”, ông đã nói với tôi như vậy.

Phi công Nguyễn Văn Bang, một trong những cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Ảnh tư liệu.

Để chuẩn bị cho Chiến dịch Mậu Thân 1968, thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu; Quân chủng Phòng không-Không quân, Bộ tư lệnh Không quân đã giao cho Trung đoàn 919, trực tiếp là Ban Kỹ thuật của Nguyễn Tường Long nhiệm vụ tối quan trọng và tuyệt mật: Nghiên cứu cải tiến một số loại máy bay hiện có phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, ném bom, chi viện cho chiến trường miền Nam. Cuộc thử nghiệm được bắt đầu với loại máy bay vận tải IL-14. Ông là người lãnh trách nhiệm nghiên cứu, lập phương án cải tiến trình cấp trên phê duyệt. Thời gian gấp rút. Nhiệm vụ cấp bách. Nguyễn Tường Long hối hả tìm tài liệu kỹ thuật tiếng Nga về loại máy bay này để nghiên cứu, nhưng chẳng khác gì “mò kim đáy bể”. May mắn là sau đó, Tường Long tìm được một tài liệu quân sự tiếng Đức dịch từ tiếng Nga. Như vớ được vàng, người kỹ sư trẻ và các cộng sự chụm đầu, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, dồn tâm lực, trí tuệ nghiên cứu toàn diện đặc tính kỹ, chiến thuật của máy bay IL-14 để tìm phương án cải tiến. Lúc bấy giờ, những chiếc máy bay IL-14 của ta khi đưa từ Liên Xô về, phải gửi tại sân bay Tường Vân (Trung Quốc). Ngay lập tức, các phi công của Trung đoàn 919 đã sang Tường Vân lái ba chiếc về sân bay Gia Lâm phục vụ việc nghiên cứu, cải tiến.

Sau nhiều ngày đêm liên tục miệt mài, Nguyễn Tường Long và các kỹ sư đã tìm ra “mã khóa” để biến máy bay vận tải chở quân IL-14 thành chiến đấu cơ bắn pháo cối, ném bom. Trọng tâm của kế hoạch cải tiến là phần khoang bụng và hai cánh của máy bay. Các kỹ sư đã tháo dỡ hết các ghế ngồi và phụ kiện dùng để chở người, tính toán sức nâng, cân đối lực cản của gió và tính năng hoạt động trên không của phương tiện để gắn vào đó một khối lượng vũ khí tương ứng. Tận dụng phần gờ hai bên dãy ghế ngồi, Nguyễn Tường Long đã “chế” thành vị trí gắn vũ khí và lắp được 60 quả đạn cối 120mm. Tiếp đó là “mổ bụng” máy bay, tạo cửa cho đạn cối thoát ra khi phi công thao tác chiến đấu trên không. Hai cánh của máy bay cũng được nắn lại để gắn các giá treo bom, đủ khả năng mang theo ba quả bom loại 100kg.

Sau khi cải tiến, IL-14 trở thành chiến đấu cơ đa năng, vừa ném bom, vừa phóng đạn cối, vừa chở quân nhảy dù và hàng chi viện. Kế hoạch cải tiến, nâng cấp một loạt máy bay IL-14 và máy bay AH2 được triển khai gấp rút, kịp chuẩn bị cho chiến dịch chi viện. Riêng loại máy bay AH2, sau khi cải tiến, mỗi chiếc lắp được 10 quả cối 120mm.

Trong khúc tráng ca…

Nhật ký chiến tranh của Thiếu tướng Phan Khắc Hy có nhiều trang ghi chép tỉ mỉ diễn biến của nhiệm vụ thả dù tiếp tế bộ binh và tấn công một số mục tiêu mặt đất ở phía Nam Vĩ tuyến 17 trong Chiến dịch Mậu Thân 1968. Sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, vũ khí trang bị, đúng ngày 27 Tết Mậu Thân (nhằm ngày 26-1-1968), thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, Chính ủy Không quân Phan Khắc Hy và Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân Nguyễn Văn Tiên trực tiếp xuống Trung đoàn 919 để phổ biến nhiệm vụ tuyệt mật, tổ chức cho các phi đội cất cánh chi viện bộ binh và tấn công mục tiêu của kẻ thù ở bên kia Vĩ tuyến 17. Các lực lượng bảo đảm cho “cầu hàng không” cũng được triển khai gấp rút, bí mật lập sở chỉ huy không quân ở Quảng Bình.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Tường Long, người trực tiếp cải tiến máy bay IL-14 (chụp năm 2008).

Vào thời khắc miền Nam tổng tiến công, đêm Ba mươi rạng sáng Mồng Một Tết Mậu Thân, lực lượng không quân Trung đoàn 919 gồm các phi đội thực hiện nhiệm vụ chi viện cũng đã sẵn sàng chờ lệnh cất cánh. Thiếu tướng Phan Khắc Hy nhớ lại: “Vào thời điểm đó, thời tiết miền Bắc đột ngột chuyển biến rất xấu. Mây dày đặc, nhiệt độ xuống thấp, mặt khác hệ thống phòng ngự của địch cả trên đất liền và trên biển được tăng cường tối đa. Tình hình hết sức khó khăn”.

Nhiệm vụ cất cánh không thể chậm trễ hơn được nữa. Một phương án táo bạo nhưng cần thiết được thông qua. Các máy bay T.14 (ký hiệu chỉ máy bay IL-14 cải tiến) sẽ cất cánh từ sân bay Gia Lâm, bay ở tầm thấp vòng qua không phận Lào để vào Huế, nhằm tránh sự phát hiện của ra-đa đối phương. Tối Mồng 10 Tết Mậu Thân (nhằm ngày 7-2-1968), các chuyến bay lần lượt nhận lệnh cất cánh. Vì thời tiết xấu, tổ bay đánh đồn Mang Cá không tìm thấy mục tiêu. Hai chiếc đã bay trở ra cửa biển Cửa Việt (Quảng Trị) và bắn chìm một tàu chiến của địch, bắn hai tàu khác bị thương rồi về sân bay Gia Lâm hạ cánh an toàn; còn chiếc của ông Chuyền trên đường quay về thì bị bắn thủng thùng chứa nhiên liệu nên phải hạ cánh khẩn cấp xuống Thanh Hóa. Riêng tổ bay do đồng chí Phan Kế làm cơ trưởng đã mãi mãi không trở về.

Liên tiếp những ngày sau đó, các tổ bay thực hiện nhiều đợt xuất kích nữa. Theo lời kể của Thiếu tướng Phan Khắc Hy thì có tất cả 12 tổ bay cất cánh đi làm nhiệm vụ trong 4 đêm, bao gồm cả bay chiến đấu và bay tiếp vận.

Trong câu chuyện với chúng tôi lúc còn sống và tư liệu chép tay để lại, Anh hùng Nguyễn Tường Long nhắc nhiều đến người đồng đội gần gũi, thân thiết, đó là phi công Nguyễn Văn Bang (trong chiến dịch “cầu hàng không” nói trên, phi công Nguyễn Văn Bang là phi đội trưởng). Trong quá trình Ban Kỹ thuật nghiên cứu, cải tiến máy bay, trước nhiều ý kiến bày tỏ sự lo ngại kế hoạch không thành công, làm hỏng máy bay, phi công Nguyễn Văn Bang là người động viên, ủng hộ Nguyễn Tường Long hết mình. Anh nói với Tường Long: “Cậu cứ làm đi. Nếu phải chết vì bay thử nghiệm máy bay cải tiến của cậu thì tớ cũng sẵn sàng”.

Sau một vài chuyến đầu cất cánh tìm diệt mục tiêu trên bộ không đạt kết quả như mong muốn, Nguyễn Văn Bang đã đề xuất và được cấp trên chấp thuận, chuyển hướng đánh mục tiêu trên biển, cụ thể là nhắm vào các chiến hạm của Mỹ. Nguyễn Tường Long và Nguyễn Văn Bang đã bàn bạc, tính toán kỹ lưỡng phương án đánh sao cho mục tiêu phải bị tiêu diệt và máy bay phải an toàn. Cách đánh được thống nhất, đưa máy bay vào độ cao trên 100m, mục tiêu nằm trong tầm bắn thì cắt bom, phóng hỏa lực rồi nhanh chóng thoát lên cao. Tầm 11 giờ 30 phút đêm 12-2-1968, ba tổ bay lần lượt cất cánh nhưng sau đó chỉ có một tổ trở về. Hai tổ, trong đó có tổ bay của Nguyễn Văn Bang bị mất liên lạc. Các nguồn tin sau đó cho biết, các phi công của chúng ta sau khi đã trút bom và hỏa lực vào mục tiêu đối phương, đã anh dũng hy sinh. Nhưng hy sinh do va vào núi cao hay trúng hỏa lực địch bị rơi xuống biển, thì đến nay vẫn còn là một ẩn số.

Không thấy đồng đội đưa máy bay trở về, lòng dạ Tường Long như có lửa đốt. Ngày hôm sau, Tường Long dò sóng ra-đi-ô, tình cờ nghe được một bản tin nước ngoài cho biết, có hai tàu trong hạm đội của Mỹ bị đánh phá hư hỏng nặng, phải gấp rút kéo sang vùng biển Phi-líp-pin để sửa chữa.

Chiến dịch “cầu hàng không” kết thúc. Chúng ta đã đưa được hàng chục tấn hàng đến địa điểm tiếp vận, phá hủy một số mục tiêu quan trọng của địch. 32 cán bộ, chiến sĩ của 4 tổ bay thuộc Trung đoàn 919 đã anh dũng hy sinh. Năm 2006, qua thông tin của quần chúng, cơ quan chức năng đã phát hiện được vị trí rơi của 1 trong 4 chiếc máy bay nói trên tại vùng rừng núi huyện A Lưới (Thừa Thiên-Huế) và đã tiến hành cất bốc được một phần hài cốt, làm lễ an táng cho các liệt sĩ. 3 chiếc máy bay còn lại cùng các cán bộ, chiến sĩ hy sinh đến nay vẫn chưa tìm được tung tích.

Bài, ảnh: HOÀNG MAI
qdnd.vn

Tin “mật” sau Mậu Thân

QĐND – Ngày 12-6-1965, tại Sài Gòn, Hội đồng quân lực Việt Nam Cộng hòa họp, ra quyết định phế truất Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, giải tán Chính phủ dân sự của Thủ tướng Phan Huy Quát, lập ra Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch và Ủy ban hành pháp Trung ương do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng đầu. Lúc bấy giờ, so với Kỳ (vai trò như Thủ tướng) thì Thiệu (vai trò như Tổng thống) khá mờ nhạt, vậy mà anh Hai Nhạ (tức Vũ Ngọc Nhạ, Cơ cán đi sâu kiêm Tổ trưởng Tổ điệp báo chiến lược của ta) vẫn chỉ đạo tôi tìm cách tiếp cận, bám sát Thiệu, bởi theo anh, đây mới là kẻ về lâu dài sẽ giữ vị trí trung tâm của chế độ Sài Gòn. Thực tế sau này đã chứng tỏ nhận định của anh Hai Nhạ là hoàn toàn chính xác…

Nhiệm vụ anh Hai Nhạ giao là thế, nhưng thực hiện lại chẳng hề dễ dàng, vì tôi chỉ là Tổng thư ký Tổng đoàn công-kỹ nghệ, đã không có tiếng tăm gì đáng kể trong giới chính trị, quân sự ở Sài Gòn, lại còn mang vết tù cũ dưới thời Ngô Đình Diệm. Tôi loay hoay mất mấy tháng trời mà công việc vẫn chưa tiến triển. Tới cuối năm 1965, nhờ sự thu xếp của anh Hai Nhạ, tôi mới được Trần Ngọc Nhuận (một linh mục rất thân cận với Thiệu, là Chánh xứ nhà thờ Phát Diệm ở quận Phú Nhuận và là người thuộc khối Công giáo miền Bắc di cư vào Nam) dẫn tới gặp Thiệu. Không rõ anh Hai Nhạ đã nói với Trần Ngọc Nhuận những gì mà vị linh mục chống Cộng khét tiếng này chỉ trịnh trọng giới thiệu với Nguyễn Văn Thiệu rằng tôi là một “nhân vật quốc gia kỳ cựu, có uy tín cao, quan hệ rộng” rồi chào Thiệu ra về, để tôi ở lại ngồi nói chuyện riêng với Thiệu.

Đại sứ Mỹ Bân-cơ (bên trái) từng trao tận tay Nguyễn Văn Thiệu bản khuyến cáo “7 biện pháp đối phó với Cộng sản” sau Tết Mậu Thân. Ảnh tư liệu.

Sau lần gặp đầu mang tính xã giao, tôi còn gặp riêng Nguyễn Văn Thiệu vài lần nữa, khi thì ở Dinh quốc khách trên đường Tú Xương, khi thì ở Dinh Gia Long, có lúc lại ở tư thất của Thiệu trong khu cư xá Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn. Sự trao đổi giữa hai bên càng lúc càng cởi mở. Do nghĩ tôi là người được phe Công giáo giao nhiệm vụ duy trì quan hệ với Thiệu và bí mật yểm trợ Thiệu trong một số hoạt động “tế nhị” nên Thiệu rất muốn thông qua tôi để giành lấy sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của phe Công giáo, đặc biệt là trong cuộc bầu cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa sẽ diễn ra vào ngày 3-9-1967. Thiệu ngỏ ý, nếu “các cha” hỗ trợ Thiệu trong việc thu hút sự tín nhiệm của Mỹ thì Thiệu sẽ sẵn sàng nghe theo khuyến cáo của “các cha”. Thậm chí, vì nghi ngờ phe Công giáo ủng hộ liên danh “Người gieo mạ” của Trần Văn Hương và Mai Thọ Truyền hơn là ủng hộ liên danh “Dân chủ” của Thiệu-Kỳ nên Thiệu đã nhờ tôi “dàn xếp” để nếu thất cử thì ông ta vẫn có thể lui về nắm quân đội trên cương vị Tổng tư lệnh hoặc Tổng trưởng Quốc phòng.

Sau khi Thiệu đắc cử Tổng thống vài tuần, cũng nhờ sự thu xếp của anh Hai Nhạ mà tôi được mời vào Phủ Tổng thống làm Công cán ủy viên. Ngay lần đầu tiên đến gặp Tổng thư ký Phủ tổng thống là Nguyễn Văn Hướng (tức Mười Hướng, Mười Lễ, đảng viên Đại Việt kỳ cựu, từng làm Xứ bộ trưởng Xứ bộ Nam Việt của Đại Việt), tôi đã đề nghị không phổ biến công khai chức danh Công cán ủy viên Phủ Tổng thống của tôi, tạo điều kiện cho tôi tiếp tục ngồi vững ở vị trí Tổng thư ký Tổng đoàn công-kỹ nghệ, làm bình phong cho các hoạt động chính trị, kinh tế… để hậu thuẫn Thiệu và Hướng. Vốn có ý gờm tôi do nghĩ tôi là người thân cận lâu năm của Thiệu, được Thiệu gài vào Phủ Tổng thống để kiềm chế Hướng nên Hướng đồng ý ngay. Do đó, về cơ bản tôi không phải chịu sự phân công, điều hành một cách sít sao của Hướng và của Mai Quốc Đống (sĩ quan quân đội biệt phái, Đổng lý văn phòng Tổng thư ký) như những người khác trong Phủ Tổng thống.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Xuân Hòe (thời trẻ).

Theo chỉ đạo của anh Hai Nhạ, tôi đã tích cực mở rộng, đi sâu quan hệ, bước đầu thu thập được một số tin tức, tài liệu có giá trị từ Lưu Vĩnh Lữ (sĩ quan quân đội biệt phái, Bí thư của Hướng), Uông Ngọc Thạch (bác sĩ, phụ tá của Thiệu, đặc trách báo chí và thông tin), Nguyễn Duy Xuân (thạc sĩ, cố vấn của Thiệu về kinh tế, từng làm Tổng giám đốc Việt tấn xã, Tổng ủy trưởng Hợp tác và nông tín, Tổng trưởng Kinh tế), Tôn Thất Cư (Đổng lý văn phòng Bộ phát triển sắc tộc), Khương Hữu Điều (Phụ tá Tổng trưởng Kinh tế), Đặng Văn Sung (Thượng nghị sĩ, Trưởng khối Dân chủ-xã hội ở Thượng viện), Nguyễn Mậu (Hạ nghị sĩ, Chủ tịch Ủy ban quốc phòng của Hạ viện)…

Ngay sau khi sự kiện Tết Mậu Thân nổ ra, anh Hai Nhạ đã tới tận nhà tôi, chỉ đạo tìm mọi cách thu thập tin tức, tài liệu về nhận định tình hình và âm mưu, thủ đoạn đối phó của địch, cả về ngắn hạn, trung hạn lẫn dài hạn. Thấy trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng mà tôi lại năng tới Phủ Tổng thống hơn trước, nhóm Thiệu, Hướng, Đống, Lữ… cho rằng, tôi đang lo lắng cho sự an nguy của chế độ Việt Nam Cộng hòa, nhưng chúng đâu ngờ mối quan tâm lớn nhất của tôi lúc này là thực hiện yêu cầu điều tra của cơ quan tình báo cách mạng.

Buổi sáng hôm ấy, chừng một tuần sau Tết Mậu Thân, chiến sự còn đang diễn ra ác liệt ở ngay sát Sài Gòn, tiếng bom, đạn vẫn ì ùng dội về, tôi đang ngồi tại bàn làm việc của mình trong Dinh Độc Lập, chăm chú đọc xấp tài liệu vừa mượn được từ Lưu Vĩnh Lữ thì Nguyễn Văn Hướng bước vào phòng, trên tay cầm một tờ giấy. Thấy tôi, Hướng tỏ ra mừng rỡ, vui vẻ cất tiếng chào rồi bước tới, trịnh trọng chìa tờ giấy về phía tôi, cười nói:

– Anh Hòe à, đây là bản khuyến cáo của phía Mỹ về một số phương cách đối phó cấp thời đối với cuộc Tổng tấn công từ phía cộng sản. Ông Đại sứ Bân-cơ vừa trực tiếp ngồi trực thăng bay từ Tòa đại sứ sang đây, trao tận tay Tổng thống Thiệu. Ông Bân-cơ vừa ra về là ông Thiệu gọi ngay tôi lên, đưa cho, bảo đem về nghiên cứu gấp rồi báo cáo lại thật cụ thể với ông ấy. Ngặt nỗi tôi không rành Anh ngữ. Vậy nhờ anh dịch giúp luôn, sẵn giấy bút đây tôi sẽ ghi chép lại cẩn thận. Chỉ có một trang này thôi, lại hết sức quan trọng, anh dịch kỹ càng cho nhé!

Miệng mỉm cười đáp “vâng”, tay nhận tờ tài liệu mà tim tôi đập thình thịch. Tôi thoáng nghĩ: “Ồ, thứ mà anh Hai Nhạ yêu cầu đây rồi!”. Nhìn lướt qua, tôi thấy nội dung tài liệu chỉ gồm vài chục dòng với 7 đầu mục tương ứng 7 biện pháp đối phó cấp thời mà Mỹ chỉ đạo Thiệu khẩn trương tập trung lực lượng và phương tiện để tổ chức thực hiện. Trong lúc Hướng quay qua lấy giấy bút, tôi đã dồn hết tâm trí để đọc, nhờ đó gần thuộc nội dung tài liệu. Khi dịch cho Hướng chép, tôi chẳng những nói to từng chữ, nhắc lại từng câu mà chốc chốc còn ngưng ngang, mượn việc giải thích về thuật ngữ, ý tứ cho Hướng hiểu để khắc sâu trong óc mình. Xong xuôi, tuy rất sốt ruột, chỉ muốn bay ngay về báo cáo anh Hai Nhạ, nhưng để Hướng khỏi nghi ngờ, tôi vẫn ngồi lại một lúc nữa. Nhìn vào, ai cũng nghĩ tôi đọc tài liệu. Thực ra thì tôi đang “tua” lại trong đầu những nội dung vừa dịch cho Hướng…

Khi tới gặp anh Hai Nhạ, theo yêu cầu của anh, tôi đã chép lại bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt các nội dung nói trên. Sau này, khi có dịp đối chiếu, tôi rất vui vì mình đã không để sót một câu chữ nào.

Vậy là tình báo của ta đã nắm được nguyên văn một tài liệu tuyệt mật do phía Mỹ gửi cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trước khi trang tài liệu ấy được dịch và chuyển lại cho ông ta…

VŨ SÁNG Ghi theo lời kể của Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Xuân Hòe
qdnd.vn

Truyền thông thế giới phản ánh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

QĐND – Cách đây vừa tròn 45 năm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 với vai trò và hệ quả mang tính bước ngoặt trong Chiến tranh Việt Nam, đã gây chấn động lớn trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện sâu sắc qua những trang báo, những ấn phẩm lúc bấy giờ và cả sau này…

Trận tiến công rất đỗi kinh ngạc

Trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng như lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ có cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn như Mậu Thân 1968. Cuộc tổng tiến công đã đánh vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam, làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc, khiến báo chí thế giới bàng hoàng. Hãng thông tấn Roi-tơ của Anh, ngày 3-2-1968, đưa tin: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tiến công phối hợp ở Sài Gòn và các trung tâm quan trọng khác tại miền Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi kinh ngạc”. Tờ Người bảo vệ (Anh) viết: “Người ta không thể tin là một sự kiện như thế lại có thể xảy ra”.

Biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tại thành phố Niu Y-óoc năm 1968. Nguồn: AP

Không chỉ báo chí nước ngoài lên tiếng mà cả những tờ báo danh tiếng tại Mỹ cũng có những nhận định chua chát về chính cuộc chiến do mình gây nên. Tờ Tin tức Oa-sinh-tơn đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của Cộng sản ngày 31-1 là một điều đáng kinh ngạc. Mỹ đã phải dùng máy bay lên thẳng đổ bộ xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đang mù mịt trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích”, đã bị Cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để xóa tan những nhận định lạc quan trước đó của Chính phủ Tổng thống Giôn-xơn”.

“Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam nói rằng đây là chiến thắng, nhưng thực chất nó chỉ là chiến thắng trống rỗng”, “cuộc tiến công thậm chí còn khiến công luận Mỹ nhận ra rằng, cuộc chiến tranh Mỹ tiến hành ở Việt Nam là hành động vô cùng dại dột”… đó là hàng loạt những lời nhận xét xác đáng đăng kèm theo ảnh một số lính Mỹ bị thương trong một cảnh đổ nát ở gần Sài Gòn mà tờ Time nổi tiếng của Mỹ đã đưa ra thời đó. Số ra ngày 31-3-2003, nhân kỷ niệm 80 năm tồn tại của tờ báo này đã dành một phần đặc biệt viết về những ngày đáng nhớ trong lịch sử nước Mỹ. Trong đó, có 2 ngày đặc biệt mà nhân dân và quân đội Mỹ không bao giờ quên, đó là ngày 31-1-1968 (Tết Mậu Thân) và ngày 30-4-1975. Tờ Time cũng từng nhận định, chính cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã khiến L.B.Giôn-xơn không thể tái ứng cử tổng thống Mỹ.

Cú đấm nặng nề

Thực tế đã chứng minh chính người dân nước Mỹ là những người cảm nhận rõ nét nhất tác động của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Trong cuốn hồi ký “Thanh gươm và lưỡi cày”, xuất bản tại Niu Y-óoc năm 1972, tướng Mắc-xoen D. Tay-lo (Maxwell D.Taylor), cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn và cũng từng là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ L.B Giôn-xơn (L.B Johnson), đã miêu tả: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức Quân Giải phóng) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày, họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công đã được báo chí Mỹ tường thuật bằng những hàng tít lớn và chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình. Điều này đã làm cho phần lớn dân chúng và một số quan chức Mỹ kinh hoàng. Thậm chí cho đến mãi sau này, sự kinh hoàng đó vẫn còn trong tâm trí họ”.

Về phần mình, tướng Mắc-xoen D. Tay-lo cũng thú nhận, bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho ông không phải việc Quân giải phóng mở một cuộc tiến công lớn mà chính là mức độ mãnh liệt của hàng loạt cuộc tiến công đổ dồn vào thời điểm đó. “Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận, đối phương đã giáng cho Chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”, đó là câu chốt được đánh giá là vô cùng xác đáng trong cuốn “Tường trình của một quân nhân” của Tướng W.C Oét-mo-len (W.C.Westmoreland) – nguyên Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Sức mạnh có hạn của Mỹ

Cuộc tổng tiến công của đối phương vào tận đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn càng cho thấy những bằng chứng về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu USD mà vẫn không bảo vệ được một tấc vuông đất nào ở miền Nam Việt Nam. Thời báo Niu Y-óoc, tờ báo lớn nhất nước Mỹ, đã đăng những dòng như vậy trong số ra ngày 1-2-1968. Cũng tờ báo này, số ra ngày 2-1-1968, đã nhấn mạnh: “Chiến thắng của Việt cộng không những chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị Mỹ mà còn đe dọa thủ tiêu hoàn toàn cơ cấu chính trị này”. Tác giả bài báo còn đánh giá: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

Còn N. Si-han (N. Sheehan), tác giả Mỹ khi viết cuốn sách “Sự lừa dối hào nhoáng” (A Bright Shining Lie) cũng cho rằng, tướng lĩnh và quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam đã nói dối trắng trợn nhân dân Mỹ rằng, cuộc công kích Tết Mậu Thân là chiến thắng của Mỹ và quân đồng minh miền Nam. Đó không chỉ là những dòng chữ chát chúa, cay đắng đối với chế độ của Tổng thống Mỹ Ních-xơn mà là những minh chứng hùng hồn về chiến thắng rõ ràng của dân tộc Việt Nam.

Truyền thông Mỹ đã có tác động mạnh đến dư luận Mỹ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đặc biệt là vào thời điểm sau Tết Mậu Thân 1968, 16 triệu thanh niên Mỹ đã đốt thẻ và chống lệnh đi quân dịch. Kể cả những lính Mỹ đang ở Việt Nam cũng công khai phản đối chiến tranh.

Qua một số sách báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, có thể nhận thấy, dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ, đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã từng thú nhận: “Dù so với bất kỳ tiêu chuẩn nào thì cuộc tiến công Tết cũng là một thất bại quân sự nặng nề” (của Mỹ). Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hen-ri Kít-xinh-gơ (Henry Kissinger) cũng nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã phải chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”. Trong cuốn sách “Những năm tháng ở Nhà Trắng”, Hen-ri Kít-xinh-gơ từng viết rằng, ngày nay hầu hết chuyên viên về Việt Nam công nhận đó là một thất bại thảm hại của Mỹ.

Chính những thừa nhận này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 của quân và dân Việt Nam ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của quân giải phóng trong Tết Mậu Thân năm 1968.

HÙNG HÀ
qdnd.vn

Khoảnh khắc trước giờ G

QĐND – Sáng 30 Tết Mậu Thân 1968, tôi đang chuẩn bị đến gặp đồng chí Phạm Xuân Ẩn để nắm tình hình và bàn công việc thì có thư hỏa tốc của trên do cô giao liên đem đến. Nội dung lá thư chỉ một câu: “Anh Tư ra gặp tôi gấp”. Ký tên: Sáu Trí.

Cô giao liên cho biết, địa điểm gặp ở Sở Cao su Bến Củi, đường đi ước chừng trên một trăm cây số. Tôi mượn chiếc xe Hon-đa nữ của cô Tám Thảo. Cô Thảo mua thêm giỏ hoa và trái cây, bánh mứt để ngụy trang trên đường. Tôi và cô giao liên đóng vai vợ chồng ngày 30 về quê cúng ông bà. Vì vậy, dọc đường, tuy qua rất nhiều trạm kiểm soát của địch, nhưng chúng tôi không gặp bất kỳ trở ngại nào. Chúng tôi đến nơi thì đã gần 4 giờ chiều. Bến Củi cách Dầu Tiếng một cây cầu bắc ngang sông Sài Gòn. Hai bên đều là rừng cao su bạt ngàn. Bên Dầu Tiếng thì còn đồn, bốt giặc, bên Bến Củi là vùng du kích. Bàn giao tôi cho tổ giao thông vũ trang, cô giao liên từ giã, vội vàng trở về dãy nhà lụp xụp của công nhân cao su.

Anh em trong tổ giao thông vũ trang đều thuộc Cụm Tình báo H63 mà tôi là cụm trưởng. Lâu ngày gặp lại tôi từ thành phố ra, anh em mừng lắm. Anh em cứ quấn lấy ngắm nhìn mái tóc quăn xịt keo và đôi giày da bóng lộn của tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên về thủ trưởng của mình. Tôi nói: “Vô thành phố phải vậy chớ sao tụi bây! Mai mốt đứa nào vô thành phố phụ với tao cũng phải cải trang vậy thôi”.

Đại tá Nguyễn Văn Tàu và Tám Thảo, nguyên chiến sĩ tình báo trong cụm H63. Ảnh tư liệu

Tôi giao xe và chìa khóa cho Khắc Vệ, tổ trưởng, rồi theo chân chiến sĩ Ghém đi gặp anh Sáu Trí. Tôi và anh Sáu Trí vốn biết nhau từ hồi kháng chiến chống Pháp. Lúc đó, anh là Phó ban Quân báo Khu 7, tôi là cán bộ nằm trong tổ nghiên cứu địch do đồng chí Trần Văn Danh làm tổ trưởng. Năm 1964, anh được rút trở ra căn cứ, làm Trưởng phòng Tình báo Miền (B2).

Đêm 30 Tết trong rừng, với ánh sáng lù mù từ ngọn đèn dầu leo lét, anh Sáu phổ biến nghị quyết của Bộ Chính trị cho tôi. Sau khi phân tích cặn kẽ tình hình địch, tình hình ta; nghị quyết nêu ra phương hướng hành động mới: Tình hình cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định.

Rừng về khuya, sương lạnh mà nghe ấm lòng. Tôi thấy phấn khởi như hồi năm 1960, được nghe Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, đồng ý cho miền Nam được kết hợp tự vệ vũ trang với đấu tranh chính trị.

Sáng Mồng 1 Tết, anh Sáu phổ biến cụ thể: Đêm Mồng 1, rạng sáng Mồng 2 Tết, quân ta sẽ nổ súng Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Là người đã cùng anh chị em trong cụm trực tiếp tham gia chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công, từ việc phát hiện sơ hở của địch trong những ngày Tết cho đến việc vẽ sơ đồ, chụp ảnh các mục tiêu… Vậy mà nay, nghe phổ biến giờ nổ súng ngay trong đêm nay, lòng tôi tràn ngập niềm vui đến không cầm được nước mắt. Chiến tranh sắp đến hồi kết thúc rồi chăng? Chiều nay, tôi phải về Sài Gòn để kịp phổ biến cho anh chị em trong cụm.

Tạm biệt anh Sáu, tôi trở ra trạm liên lạc thì một tình huống không ngờ xảy ra. Anh em trong tổ giao thông thấy chiếc xe đẹp nên chạy thử, nhưng vì không quen nên té làm hỏng xe, đi sửa chưa thấy về. Ra chỗ cánh công nhân sửa giùm, họ bảo: Chúng tôi không biết về loại xe này, thấy chỗ nào cong thì uốn lại thôi, còn máy không nổ thì đành chịu.

Tôi vặn công tắc điện, đạp cần phát động. Máy vẫn im lìm. Tôi rút khăn tay lau mồ hôi trán. Thế này thì không kịp về Sài Gòn mất! Thử áp dụng biện pháp cuối cùng, tôi bảo: Tao ngồi lên xe, tụi bây sáp vô đẩy cho mạnh. Tôi dận cần số. Máy nổ giòn. Êm tai mát ruột làm sao. Tôi dừng lại nói lớn: “Tao đi luôn, tụi bây mạnh giỏi nhé”.

Ra đến Quốc lộ 1 thì đã 7 giờ tối. Tôi hình dung các binh đoàn chủ lực của ta đang hăm hở tiến về Sài Gòn trên những cánh đồng bên trái, bên phải kia. Đồng đội đi trên ruộng lầy, còn tôi đi trên đường tráng nhựa… Khi tôi ra khỏi địa bàn xã An Tịnh thì bất ngờ đụng cụm xe tăng địch. Hai thằng Mỹ bước tới, chĩa thẳng súng vào tôi. Một thằng hỏi: “Vi xi?”. Tôi trả lời: “Ô, nô vi xi” và nói câu chúc Tết: “Happy New Year”. Một thằng lại gần, nói câu chúc Tết và hỏi tôi đi đâu vào giờ này. Tôi nói đi chúc Tết cha vợ trên Trảng Bàng, hơi quá chén nên giờ này mới về.

Tôi lấy bao thuốc ra mời và dò hỏi hai tên Mỹ vì sao không nghỉ Tết, hai bên đã tuyên bố ngừng bắn để người dân ăn Tết kia mà? Chúng cho biết, đêm qua, ngoài Huế và nhiều thành phố khác đã bị Việt Cộng bất ngờ tiến công.

Nghe đến đây, lòng tôi đầy nỗi băn khoăn. Vì sao ngoài đó lại nổ súng trước? Nếu vậy thì giặc trong thành đã phòng bị, tối nay anh chị em đặc công biệt động của mình sẽ gay go.

Tôi về đến Sài Gòn lúc 9 rưỡi tối. Sau khi phổ biến cho đồng đội và giao nhiệm vụ, tôi vẫn đủ thời gian đi một vòng xuống bến Bạch Đằng, lên đường Thống Nhất, kiểm tra lại mục tiêu chính như Bộ tư lệnh Hải quân, Tòa đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập… Xong việc, tôi trở về căn nhà ở 136B đường Gia Long, nơi đồng đội đang chờ. Thấy tôi an toàn, Tám Thảo rất mừng, nói: “Tối qua, giờ Giao thừa, em và ba lén vặn đài Hà Nội, nghe Bác Hồ chúc Tết. Nghe câu: “Tiến lên, toàn thắng ắt về ta”, ba em phấn khởi quá, nói năm nay chắc ngon lành lắm”. Tôi nói nhanh: “Chốc nữa, súng quân ta sẽ nổ khắp Sài Gòn, mở ra giai đoạn tổng khởi nghĩa nhằm đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn…”.

Giờ G trên toàn miền Nam được quy định từ 0 đến 2 giờ ngày 31-1-1968, tức đêm Mồng 1, rạng sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân. Một sự việc đáng tiếc là do sự đổi lịch ở miền Bắc, nên hướng Quân khu 5 và Tây Nguyên vẫn theo lịch cũ, nổ súng trước, còn B2 nổ súng sau theo lịch mới. Mặc dù vậy, chấp hành quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, đêm 31-1, rạng 1-2-1968, quân dân B2 đã thực hiện tổng công kích và nổi dậy đồng loạt tại Sài Gòn và hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn. Đợt 1 Tết Mậu Thân diễn ra từ 31-1 đến 25-2-1968. Ta đã đánh vào những cơ quan đầu não chỉ huy của Mỹ-ngụy. Tại nhiều thị xã, thị trấn và một số nơi ở Sài Gòn, quân ta trụ lại nhiều giờ hoặc nhiều ngày để đánh địch phản kích. Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thừa nhận, ta đã tiến công 36/44 tỉnh, thành phố ở miền Nam, bắn phá 5 trong 6 thành phố lớn và khoảng 1/4 trong số 248 quận lỵ. Ta đã bất ngờ, đồng loạt tiến công sào huyệt địch, gây choáng váng không chỉ giới chóp bu Mỹ-ngụy tại Sài Gòn mà thực tế Oa-sinh-tơn thừa nhận là đã “đưa chiến tranh vào lòng nước Mỹ”.

Tại buổi hội thảo khoa học “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968” do Bộ Quốc phòng và Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế tổ chức ngày 10-1-2008, trong tham luận của mình, đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư, khẳng định: Thắng lợi to lớn, rất oanh liệt của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm chấn động nước Mỹ và thế giới, làm đảo lộn chiến lược của địch trên chiến trường, tạo ra bước ngoặt chiến tranh, đánh dấu thất bại của “Chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Đại tá NGUYỄN VĂN TÀU, Anh hùng LLVT nhân dân
qdnd.vn

Thế trận vững chắc trên ba vùng chiến lược, tiến công đồng loạt, bất ngờ

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Nhằm tạo ra hiệu lực chiến lược mạnh, làm tan rã ý chí xâm lược của đối phương, Đảng ta chủ trương trong Tết Mậu Thân 1968 vừa tiến công đồng loạt vừa táo bạo hướng sức mạnh của chiến tranh cách mạng vào các đô thị miền Nam, xem đó là mũi nhọn thọc sâu vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng chiến lược đối với toàn bộ chiến trường và toàn bộ cuộc chiến tranh, là đòn ác liệt nhất, đánh vào “tim óc”, “huyết mạch” của địch. Đó cũng là cách tốt nhất để phối hợp ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, tiêu diệt nhiều nhất sinh lực địch, làm sập chỗ dựa chính trị, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng.

Trước khi tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, bằng nhiều biện pháp, nhiều hình thức kết hợp, các cơ quan chỉ đạo chiến lược và các cấp chỉ huy chiến trường của ta đã tổ chức nghi binh chiến lược, nhằm phân tán lực lượng chủ lực địch, làm lạc hướng đề phòng của chúng. Từ những tháng cuối năm 1967, ta đã lần lượt mở một số chiến dịch ở vùng ven biên giới, ở Tây Nguyên, đồng thời duy trì các hoạt động quân sự ở vùng ven đô thị và các vùng nông thôn đồng bằng như lệ thường, làm cho địch lầm tưởng rằng lực lượng ta đã bị thương vong trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966-1967, không còn khả năng mở các chiến dịch ở đồng bằng như trước.

Ban chỉ huy thống nhất Phân khu 5 (Thị xã Thủ Dầu Một) bàn kế hoạch tác chiến trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Trên mặt trận ngoại giao, ta ngỏ ý rằng Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ đi vào đàm phán với Mỹ, càng làm cho nước Mỹ bị phân hóa giữa phái chủ chiến và phái chủ hòa, đồng thời giới lãnh đạo Mỹ càng tin là ta đã thực sự bị suy yếu trên mặt trận quân sự.

Tháng 1-1968, ta chủ động mở hai chiến dịch quân sự lớn trong đó có Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh và ngay lập tức thu hút sự chú ý của bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn và giới lãnh đạo Mỹ, khiến Mỹ nhận định và phán đoán sai lầm.

Hướng tiến công chủ yếu trong Tết Mậu Thân nhằm vào các đô thị ở miền Nam thực sự là một đòn bất ngờ lớn, khiến địch trên chiến trường không kịp trở tay, làm cho giới lãnh đạo Mỹ phải sững sờ, choáng váng. Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm kháng chiến, ta đã đưa được chiến tranh vào thành thị, biến hậu phương và hậu cứ địch thành chiến trường của ta. Đòn tiến công của ta đã nhằm trúng vào các mục tiêu yết hầu, huyết mạch của địch, bao gồm các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn, các sở chỉ huy, sân bay, bến cảng, kho tàng, căn cứ truyền tin, đầu mối giao thông, đặc biệt là đánh vào Tòa đại sứ Mỹ… Đó là thành công lớn của Đảng ta trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, làm thay đổi một cách đột biến, đẩy địch vào thế bị động cả về quân sự và chính trị.

Bất ngờ không chỉ là hướng tiến công mà còn ở thời điểm tiến công. Thời điểm đó là dịp Tết Nguyên đán, lúc địch dễ bộc lộ sơ hở, chủ quan và lơi lỏng nhất trong việc đề phòng. Thực tiễn đã cho thấy việc chọn thời điểm tiến công bất ngờ vào dịp Tết của ta là rất sáng suốt, khi các đơn vị quân đội Sài Gòn chỉ còn một nửa quân số, khiến cho bộ chỉ huy quân sự Mỹ lúng túng ứng phó.

Nghệ thuật chọn hình thức và phương thức tiến công trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 rất sáng tạo. Chúng ta đã tiến công đồng loạt, tiến công bằng nhiều hình thức, nhiều lực lượng; không tiến công tuần tự từ ngoài vào trong mà kết hợp từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, khiến cho địch đã bị bất ngờ càng thêm bất ngờ và lúng túng. Việc nghi binh chọn hướng, chọn thời điểm, mục tiêu, hình thức và phương thức tiến công chứng tỏ bước phát triển mới trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, trong nghệ thuật tiến công của Đảng, của quân và dân ta trên chiến trường. Trong khi chiến lược quân sự của Mỹ là “tìm và diệt”, nhằm đưa chiến tranh tới tận xứ sở của đối phương. Trong khi bộ chỉ huy quân sự của Mỹ tại Sài Gòn vẫn nhất mực tin rằng chiến lược của đối phương là “lấy nông thôn bao vây thành thị”, thì chiến tranh lại nổ ra mạnh mẽ, đồng loạt ngay giữa Sài Gòn và một loạt các thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn miền Nam. Đầu năm 1968, lực lượng quân sự địch tại miền Nam lên tới gần 1 triệu 200 nghìn tên, với hệ thống chính quyền tay sai, ấp chiến lược và mạng tình báo đặc vụ giăng khắp mọi nơi, thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của ta, mà hướng chính nhằm vào các đô thị là một hành động “xuất thần”, khiến các nhân viên tình báo địch phải thú nhận thất bại cay đắng.

Để có được cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh, nêu cao quyết tâm tiến công địch, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng vững chắc trên khắp ba vùng chiến lược, tổ chức và bố trí hợp lý lực lượng chính trị và LLVT ba thứ quân ở đô thị, vùng ven, vùng nông thôn đồng bằng và rừng núi. Đó là kết quả của quá trình nắm bắt thực tiễn trên chiến trường và tình hình nội bộ nước Mỹ, từ đó tính toán, chọn lựa và tìm ra cách đánh, cách thắng Mỹ phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam.

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU
qdnd.vn