Thư viện

Khu di tích Bác Hồ ở Đá Chông với việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ ở Ba Vì – Hà Tây

Đồng chí Hoàng Thanh Vân - Bí thư huyện uỷ Ba Vì - Hà Tây

Tuổi trẻ các dân tộc huyện Ba Vì rất vinh dự và tự hào được sinh ra và lớn lên trên một vùng đất “địa linh, nhân kiệt” giàu tiềm năng, nhiều sự tích anh hùng và những truyền thống cực kỳ quý báu. Từ giữa năm 1950, vinh dự và tự hào hơn địa danh Đá Chông trên đất Ba Vì còn gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn của nhân loại, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Bác Hồ kính yêu của chúng ta được toàn thể dân tộc Việt Nam và cả loài người kính phục.

Lịch sử còn ghi ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (19/12/1946) Bác Hồ rời làng Vạn Phúc trong không khí sục sôi:

“Cờ đỏ sao vàng bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”

Tối 3/3/1947 Bác Hồ rời Hoàng Xá (Quốc Oai) qua Trung Quốc

“Xa xa núi Tản mây vờn
Sông Đà gợn sóng con thuyền nhẹ trôi”

Bác Hồ ra đi giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã và đang giành được những thắng lợi to lớn, song vẫn còn phải trải qua nhiều gian khổ hi sinh để đến thắng lợi hoàn toàn. Niềm tin tất thắng đó của Người đã động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta không ngừng phấn đấu vượt mọi khó khăn giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong những năm tháng hào hùng đó có địa danh Đá Chông (Ba Vì) được Bộ Chính trị quyết định chọn làm nơi bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác.

Ba Vì là huyện vinh dự được Bác Hồ nhiều lần tới thăm. Từ trên sườn Núi Tản viên tới bờ bãi Sông Hồng, từ đồi cây đến hồ nước, từ cánh đồng lúa đến khúc đê sung yếu, nhiều nơi trên mảnh đất này đã từng in dấu chân Bác.

Mùa hè năm 1957 trên đường công tác, Bác dừng chân ở một gốc đa ven đường thuộc xã Ba Trại (dân tộc Mường), Bác mong muốn gốc đa này có một ghế đá để bà con nông dân đi làm đồng trưa nắng vào nghỉ ngơi dưới gốc cây hoặc khách bộ hành mệt mỏi vào trú nắng, tấm lòng nhân ái của Bác sau đó đã được thực hiện. Ngày 8/7/1958 Bác đến thăm xã Cổ Đô Người đã ra đồng lội ruộng thăm bà con nông dân bắt sâu phá hoại lúa. Bác căn dặn, động viên nhân dân địa phương khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh gây ra, quyết giành thắng lợi trong sản xuất để đảm bảo đời sống và đóng góp với đất nước. Trên bờ bãi Sông Hồng, Bác đã tới thăm kè Cổ Đô, Vu Chu, những đoạn kè trọng yếu trên đê Sông Hồng, Bác thăm hỏi động viên nhân dân xã Cam Thượng đang tập trung chống lụt … Ngày 26/01/1964 nhân chuyến công tác nghỉ ăn cơm trưa trên đồi Chu Mật, xã Thái Hoà, Bác nhắc nhở: Phong cảnh Ba Vì “Sơn thuỷ hữu tình” nếu trồng thêm được nhiều cây xanh, bóng mát thì vẻ đẹp còn tăng nhiều hơn nữa. Ngày 15/4/1964 Bác đến thăm đập Suối Hai, một công trình thuỷ lợi nhân tạo lớn mới được xây dựng. Nhờ công trình thuỷ lợi này, hàng nghìn ha từ ruộng 1 vụ thành ruộng 2 vụ, hàng trăm ha gieo trồng 3 vụ, Bác ân cần hỏi han việc đưa nước vào đồng. Ngày 16/2/1969 nhân ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu, Bác về thăm gặp gỡ chúc tết cán bộ và các tầng lớp nhân dân trong huyện. Sau đó Bác đã trồng cây Đa trên đồi cây Yên Bồ xã Vật Lại để khuyến khích phong trào Tết trồng cây của cả nước. Đây là lần cuối cùng Bác thăm nông dân và trồng cây trước lúc Người đi xa.

Có thể nói những địa bàn Bác đã tới thăm, những việc làm và những lời dạy bảo ân tình của Bác đối với nhân dân trong huyện không chỉ để lại những dấu ấn sâu sắc, những kỷ niệm không thể phai mờ mà còn dấy lên cả những cao trào quần chúng ở địa phương, hình thành những chủ trương lớn của cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến cơ sở.

Trong những lần Bác tới thăm Ba Vì, Bác quan tâm nhiều mặt, căn dặn nhiều điều như xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, phòng chống thiên tai bảo vệ sản xuất, đắp đê phòng lụt, trồng cây gây rừng, chăm lo đời sống nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, chăm sóc bảo vệ thiếu nhi, tôn trọng phụ nữ, đào tạo cán bộ, rèn luyện đảng viên. Đặc biệt Bác rất quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ. Được giáo dục và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng sôi nổi, thế hệ trẻ Ba Vì mà nòng cốt là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã động viên cổ vũ, tập hợp đông đảo các tầng lớp thanh niên trong huyện phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tuổi trẻ các dân tộc trong huyện đã kề vai sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ vừa sản xuất, vừa chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc. Hàng vạn thanh niên Ba Vì đã tham gia bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến trên khắp các mặt trận, chiến trường. Rất nhiều đoàn viên thanh niên đã nêu gương chiến đấu dũng cảm, không ngại gian khổ hy sinh, xứng đáng với truyền thống thanh niên Ba Vì anh hùng, lực lượng trẻ ở hậu phương thi đua sản xuất giỏi, đấu tranh kiên cường chống thiên tai, địch hoạ hoàn thành tốt các chỉ tiêu, kế hoạch Nhà nước giao phó.

Trong lao động xây dựng xã hội chủ nghĩa xã hội, tuổi trẻ ba dân tộc Kinh, Mường, Dao trong huyện luôn gắn bó đoàn kết, phấn đấu đi đầu trong các phong trào từ cải tiến công cụ, ngâm ủ giống theo phương thức khoa học, đẩy mạnh sản xuất phân bón, đẩy mạnh phong trào làm thuỷ lợi, tạo lên làn gió “đại phong” nổi tiếng một thời tuổi trẻ, tích cực lao động sản xuất trong phong trào thanh niên tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)… Tuy còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm sản xuất về tay nghề nghiệp vụ quản lý nhưng do nhận thức được vai trò trách nhiệm của tuổi trẻ, đoàn viên thanh niên lại hăng hái tiến quân vào khoa học, kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, xây dựng lên những “cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ”, phong trào “luyện tay nghề thi thợ giỏi” những công trình thanh niên phấn đấu trở thành các tổ, đội lao động dự bị tin cậy của Đảng.

Cùng với việc xây dựng và phát huy truyền thống xung kích cách mạng qua các thời kỳ, đoàn viên thanh niên huyện Ba Vì luôn đặt nhiệm vụ dìu dắt, chăm sóc giáo dục lớp thiếu niên nhi đồng thành công việc thường xuyên, cùng gia đình nhà trường và xã hội, đoàn thanh niên đã góp phần dìu dắt, bồi dưỡng giáo dục về mọi mặt, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ măng non đợc phát triển toàn diện, giữ vững phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu chon lọc văn hoá tinh hoa nhân loại, chuẩn bị nguồn lực thực hiện CNH, HĐH quê hương, đất nước.

Bác Hồ đã đi xa nhưng Đảng bộ, nhân dân và thế hệ trẻ Ba Vì luôn ghi nhớ và thực hiện lời Bác dạy, những vùng đất trống đồi trọc, cằn khô sỏi đá, nay là những cánh rừng xanh ngắt của trang trại, vườn rừng của vườn cây ăn quả, lợi ích của việc trồng cây, không chỉ mang lại nguồn lợi thiết thực cho đời sống trước mắt mà còn tạo ra lợi ích lâu dài và rộng lớn đem lại lợi ích nhiều mặt dân sinh, kinh tế, văn hoá – xã hội, sinh thái, môi trường.
Trồng cây cũng vì lợi ích của dân, trồng cây cúng góp phần vào nhiệm vụ “trồng người”. Địa danh nào trên đất Ba Vì Bác đã tới thăm đều để lại những bài học sâu sắc về sự quan tâm đến con người, quý trọng con người, coi con người là trung tâm của mọi chủ trương, phương pháp hành động, mục tiêu phục vụ con người, phục vụ nhân dân là mục tiêu phấn đấu chủ yếu của các ngành các cấp. Thấm nhuần tư tưởng của Bác nhiều năm qua nhiệm vụ trồng người đã trở thành mục tiêu chủ yếu, thanh nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng bộ và nhân dân toàn huyện.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương và sự quan tâm sâu sắc, Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đoàn viên thanh niên là đội hậu bị tin cậy của Đảng, là người chủ tương lai của đất nước. Ngày nay đất nước ta đã và đang trải qua những chuyển biến sâu sắc trong công cuộc đổi mới, với những thành tích và vận hội mới. Lời Bác Hồ dạy “Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó”. Phát huy truyền thống lớp lớp cha anh trong lịch sử, tuổi trẻ Ba Vì không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu vượt qua mọi khó khăn, tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo bằng các chương trình hành động cách mạng thiết thực với khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” động viên, tập hợp thanh niên trên con đường mưu sinh lập nghiệp, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Trên đất Ba Vì miền quê Núi Tản Sông Đà, quê hương của huyền thoại Sơn Tinh. Trong tiếng reo vi vút của rừng thông, tiếng sóng vỗ nhẹ êm của dòng Đà Giang cuộn chảy. Dòng người trên khắp đất nước ngày càng đông đến khu Di tích Đá Chông – nơi Bác Hồ kính yêu đã có thời gian làm việc, nơi từng được chọn để bảo vệ, giữ gìn giấc ngủ vĩnh hằng của Người. Cùng với nhân dân cả nước, tuổi trẻ Ba Vì luôn ghi lòng tạc dạ công ơn của Bác, thực hiện tốt những lời Bác dạy, góp phần bảo vệ thật tốt khu Di tích thiêng liêng này trở thành nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ Ba Vì và của cả nước.

bqllang.gov.vn

Giá trị lịch sử khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9 Đá Chông – Ba Vì – Hà Tây, đề xuất hướng bảo tồn di tích.

Tiến sĩ Chu Đức Tính - Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Đồi Đá Chông nằm trong khu rừng nguyên sinh thuộc quần thể núi Ba Vì, huyện Bất Bạt, có độ cao 150 m so với mực n¬ước biển, địa thế giáp gianh ba tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ và Sơn Tây. Vào những năm 50 của Thế kỷ XX, nơi phong cảnh “sơn thuỷ hữu tình” này có mật danh là K9. Và ngày nay được gọi là Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9- Đá Chông ( gọi tắt là Di tích K9).

Tháng 5 năm 1957, trong một lần Bác đến thăm Trung đoàn bộ binh 88 thuộc Sư đoàn 308 cùng Trung đoàn pháo binh 63 và một đơn vị bộ đội thiết giáp diễn tập bên sông Đà, Bác và các đồng chí cùng đi đã dừng chân, ăn cơm trên một quả đồi. Nhận thấy nơi đây có nhiều điểm thuận lợi về địa hình, thời tiết, giao thông: có rừng cây, có núi, có sông, thuận tiện giao thông, gần Thủ đô…, Bác đã trao đổi với các đồng chí cùng đi, ngỏ ý muốn chọn nơi này là căn cứ của Trung ương, đề phòng chiến tranh có thể mở rộng ra miền Bắc. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng đến khảo sát lại khu vực này vào đầu năm 1958. Sau chuyến khảo sát này, đến giữa năm 1958, Khu làm việc của Trung ­ương ở Đá Chông đã đư­ợc khởi công xây dựng với tên gọi là Công trư­ờng 5 với ba hạng mục xây dựng là:

– Khu A dành cho Bộ Chính trị họp và làm việc.
– Khu B dành cho các đồng chí lãnh đạo.
– Khu C dành cho anh em bảo vệ và phục vụ.

Từ năm 1960, Công trư­ờng 5 đã hoàn thành và đ­ưa vào sử dụng, sau này đ­ược gọi theo mật danh K9.

Trong 9 năm (1960-1969), K9 đã nhiều lần được vinh dự đón Bác cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị lên làm việc và nghỉ ngơi.

Ngày 20/6/1959, Bác lên thăm và khảo sát tình hình thi công, xây dựng ở Công tr­ường 5 (K9).

Khoảng đầu tháng 3/1961, Bác đã cùng đồng chí Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ lên thăm K9. Chuyến đi này, Bác cùng đại sứ Hà Vỹ chuẩn bị sẽ đón tiếp đoàn của bà Đặng Dĩnh Siêu-phu nhân Thủ tướng Chu Ân Lai lên thăm quan khu Đá Chông nhân dịp bà dẫn đầu đoàn đại biểu phụ nữ Trung Quốc sang thăm và dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ III.

Ngày 13/3/1961, Bác đư­a đoàn đại biểu phụ nữ Trung Quốc do bà Đặng Dĩnh Siêu dẫn đầu lên thăm, đồng chí Đại sứ Hà Vĩ cũng cùng đi. Bác đã đưa đoàn đi thăm rừng thông và toàn cảnh khu vực Đá Chông. Trong chuyến thăm, Bác và bà Đặng Dĩnh Siêu đã trồng cây, chụp ảnh lưu niệm… Buổi trưa, Bác mời đoàn dùng cơm thân mật tại Nhà khách.

Ngày 24/1/1962, trong dịp đoàn đại biểu quân đội Liên Xô do anh hùng Titốp, phi công vũ trụ nhà nước Xô Viết dẫn đầu sang thăm Việt Nam, Bác đã đư­a đoàn lên thăm Khu di tích, thăm phong cảnh núi rừng, rừng thông, đi săn và bơi thuyền. Bác cùng anh hùng Titốp đã trồng hai cây Vàng Anh lưu niệm tại đây. Trưa hôm đó, Bác đã mời đoàn dùng cơm tại nhà khách của Khu di tích.
Một lần Bác cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị lên họp. (có ảnh các đồng chí Bộ Chính trị gồm Lê Văn Lư­ơng, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn như­ng không ghi ngày tháng)

Một lần Bác lên làm việc và gặp gỡ cán bộ ở đây, Bác đã cùng anh em cán bộ ăn cơm rất thân mật, gần gũi.

Dù Bác lên ở và làm việc tại K9 không thường xuyên nhưng mỗi con đường, mỗi ngôi nhà, mỗi hàng cây ở đây vẫn in đậm hình bóng Bác.

Sau khi Người qua đời, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta mong bảo vệ và giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ để sau ngày đất n­ước thống nhất, đồng bào, chiến sỹ cả nước và bạn bè quốc tế mãi mãi được viếng thăm Bác. Thể theo nguyện vọng đó, trong khi đất nước còn có chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta còn đang hướng tới việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã quyết định chọn K9 làm nơi bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác từ ngày 24/12/1969 và phải tuyệt đối bí mật. Khu vực này có nhiều điểm thuận lợi như nhà cửa, hầm công sự đã có sẵn, địa thế nằm trong dải rừng dài, rộng, nên thuận tiện cho việc phòng thủ và giữ bí mật.

Sau một thời gian thi hài Bác đ­ược giữ gìn, bảo vệ ở Đá Chông, ngày 23/5/1970, Hội đồng khám nghiệm gồm chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã tổ chức khám nghiệm thi hài và kết luận: “Qua 8 tháng đầu bảo vệ, giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một nư­ớc khí hậu nhiệt đới, mặc dù phải di chuyển xa như­ng hình dáng bên ngoài và các bộ phận trên cơ thể Ngư­ời vẫn được bảo tồn đầy đủ, phù hợp với hình thể lúc Ngư­ời còn sống”1 Trên cơ sở đó, Trung ương quyết định lấy K9 làm nơi giữ gìn và bảo vệ thi hài Bác..

Đêm 20, rạng ngày 21/11/1970, trực thăng Mỹ đổ quân xuống khu vực thị xã Sơn Tây hòng cứu thoát số phi công Mỹ bị giam ở đây. Điều này khiến ta phải đặt ra những ph­ương án bảo vệ thi hài Bác ở khu vực K9. Ngày 24/11/1970, Trung ương Đảng quyết định di chuyển thi hài Bác về Hà Nội. Bác về Hà Nội mới được vài tháng thì mưa lũ lên cao, theo dự đoán thì mức nư­ớc sẽ tàn phá đê điều làng mạc nghiêm trọng, do vậy, 13h ngày 18/8/1971, thi hài Bác đư­ợc đ­ưa trở lại K9. Việc di chuyển này rất khó khăn phức tạp, chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể gây hậu quả không thể l­ường hết đư­ợc. Do tình hình chiến tranh phức tạp, bầu trời K9 lúc này luôn đầy tiếng máy bay giặc Mỹ, 21 h ngày 11/7/1972, đoàn xe chở Bác đ­ược lệnh rời K9 và 0h15’ ngày 12/7, Bác đã về yên nghỉ ở một vị trí trong hang núi bên kia sông đến khi Hiệp định Paris đ­ược ký kết, Mỹ ngừng ném bom hoàn toàn miền Bác thì Bác lại đ­ược đ­ưa trở lại K9. Đây cũng là lần thứ năm các chiến sỹ Đoàn 69 thực hiện việc di chuyển thi hài Bác.

Sau khi việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đ­ược hoàn thành ngày 22/8/1975, thi hài Bác đ­ược đ­ưa về gìn giữ, bảo quản để đồng bào, chiến sỹ cả n­ước và bạn bè quốc tế về thăm viếng Bác.

Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9-Đá Chông là di sản văn hóa vô giá. Nơi đây in dấu những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc trong những năm tháng lãnh đạo đất n­ước. Người đã tiếp đón bạn bè quốc tế thân thiết tại đây. Đây còn là nơi an toàn tuyệt đối trong việc giữ gìn, bảo vệ thi hài Bác Hồ từ năm 1969-1975.

Di tích hiện nay và đề xuất bảo tồn tôn tạo di tích:

Căn cứ theo lời kể của các nhân chứng đã được đi theo phục vụ Bác trong những lần Bác lên làm việc tại K9 như các đồng chí Cù Văn Chước-nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, Trần Văn Bắc-thợ điện, Lưu Quang Lập, Nguyễn Văn Mùi-lái xe cho Bác Hồ, Hoàng Thanh-lái xe cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đăng Thọ-Nguyên Trưởng phòng ảnh Bảo tàng Hồ Chí Minh, Thái Hữu Khang.

Di tích Bác Hồ ở K9 Đá Chông là di tích l­ưu niệm danh nhân ghi dấu sự kiện Bác Hồ đã nhiều lần đến ở và làm việc kể từ năm 1957 đến lúc Ng­ười đi xa và sau này còn là nơi lưu giữ thi hài của Người trong những năm tháng chiến tranh. Chính vì vậy, giá trị lịch sử, văn hóa của Khu di tích là hết sức to lớn. Tuy nhiên, hiện nay, Khu di tích đã bị thay đổi một số hạng mục như­ sân, vư­ờn, khu B theo như lời kể của các nhân chứng. Ví dụ như cần lưu giữ, bảo quản tốt cây vải ở trước di tích vì trước kia, khi Bác đưa các đoàn khách lên, Bác thường nhường buồng của Bác cho khách rồi nói anh em đưa ghế mây đặt dưới gốc cây vải để nghỉ trưa. Sân trước nhà trước lát bằng gạch lá dừa rất tốt và đẹp nhưng giờ thay bằng gạch Bát Tràng. Sân được nâng cao hơn trước là không hợp do nền sân thấp thì đặt ghế mây cho Bác nằm mới bằng phẳng. Các đồ đạc trong nhà đa phần vẫn được giữ nguyên vị trí như khi Bác còn như bàn ghế, tủ, đèn, cốc chén… Tuy nhiên, việc chú ý bảo quản, giữ gìn di tích như nguyên gốc là vô cùng quan trọng.

Di tích K9-Đá Chông là khu di tích có bề dày lịch sử gắn liền với tên tuổi và sự ngiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mãi mãi đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, đề nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu xây dựng hồ sơ công nhận di tích, đặc biệt cần chú ý việc khoanh vùng bảo vệ di tích đối với khu A là khu vực bất khả xâm phạm. Ngoài ra, cần thực hiện các biện pháp bảo tồn di tích theo luật văn hóa, xây dựng các phương án bảo tồn và phát huy tác dụng di tích một cách hiệu quả nhất trong điều kiện cho phép như tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống, sinh hoạt chính trị, báo công dâng Bác, trồng cây lưu niệm tại Khu di tích…

Những hoạt động này sẽ tạo ra một nét đẹp văn hóa, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về truyền thống uống nước nhớ nguồn của Đảng và nhân dân ta đối với Bác Hồ, hưởng ứng mạnh mẽ phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đồng thời, tổ chức khôi phục lại những thay đổi của di tích theo như lời kể của các nhân chứng, giữ gìn cảnh quan môi trường để di tích luôn là một di sản văn hóa quý báu đối với dân tộc Việt Nam.

Ảnh: Nguyễn Ngọc Hà

bqllang.gov.vn

Người lập “bảo tàng” Bác Hồ ngay trong nhà mình

Một cụ ông, vì yêu quý Bác Hồ, đã thể hiện tình yêu của mình bằng cách bỏ ra nhiều năm đi sưu tầm tranh ảnh, tài liệu về Bác Hồ. Sau hơn 20 năm miệt mài sưu tầm, ông đã có trong tay hàng trăm bút tích cùng rất nhiều tranh ảnh Bác Hồ. Thậm chí, ông còn bỏ ra hơn trăm mét đất ngay giữa lòng thành phố để lập một bảo tàng về Bác Hồ. Cụ ông ấy có tên là Nguyễn Đình Sơn, một cựu sĩ quan thương binh, hiện đang sống ở Phường Tân Thành, thành phố Thanh Hoá.

Với dáng người nhỏ bé, có lẽ không mấy người nghĩ ông cụ đã có một thời gian dài phục vụ trong ngành công an. Theo lời kể của ông Sơn thì năm 17 tuổi, ông đã chính thức được “biên chế” trong quân đội. Đến năm 1953, ông được cử vào An toàn khu (ATK), làm nhiệm vụ “phòng gian bảo mật”, nhằm đảm bảo an toàn từ vòng ngoài cho Hồ Chủ tịch và Trung ương làm việc. Thời gian làm một người lính cận vệ, ông Sơn đã được gặp và trò chuyện với Bác Hồ đôi lần.

Ông Sơn kể, một lần ông đang tập võ cùng ông Vũ Kỳ (lúc ấy là thư ký của Bác Hồ và cũng là chỉ huy trực tiếp của ông Sơn), Bác Hồ trông thấy, đã đến tập luyện cùng. Những lần được gặp gỡ và tiếp xúc ít ỏi với Bác Hồ trong những hoàn cảnh rất bình dị khác nữa, càng làm cho lòng kính yêu Bác của ông được nhân lên. Sau này, trong 5 lần được nhận huy hiệu Bác Hồ, ông Sơn đã hai lần vinh dự được chính Người trao tặng.

Năm 1963, khi vừa học xong lớp thí điểm đại học đầu tiên của ngành công an thì vợ ông qua đời. Sau đó, ông Sơn đã xin chuyển về quê và làm việc ở Ty công an Thanh Hóa. Năm 1982, ông nghỉ hưu với cấp bậc thượng uý và chứng nhận thương binh hạng 3/4. Tính đến khi nghỉ hưu, ông đã có 28 năm phục vụ trong ngành công an và nhiều năm làm công tác bảo vệ Bác Hồ. Ngay sau khi nghỉ hưu, ông Sơn bắt tay vào việc đi sưu tầm tranh ảnh, bút tích của Bác. Ông bảo, từ lâu, ông đã mong muốn làm được một việc thật có ý nghĩa, thể hiện lòng kính yêucủa mình với Bác Hồ.

Nhưng, chỉ đến khi ông có trong tay hai bức ảnh Bác, do chính tay ông chụp được thì ông mới mơ hồ biết về những việc ông phải làm sau này. Đó là năm 1954, khi ông theo đoàn Trung ương về tiếp quản Thủ đô. Lần đó, ông đã mượn được người bạn chiếc máy ảnh và đã chụp “trộm” được hai kiểu ảnh có hình Bác Hồ. Đề tài nghiên cứu về Bác Hồ liên quan đến Thanh Hóa của ông sau này. Để việc sưu tầm tiến hành được thuận lợi, ông Sơn đã thành lập ra hẳn một Ban nghiên cứu, do ông đứng ra làm chủ nhiệm. Gọi là Ban nghiên cứu cho oai, chứ việc đi sưu tầm tài liệu, tranh ảnh và bút tích của Bác những lần về Thanh Hóa, cũng chỉ có mình ông đảm nhiệm.Sau hơn hai mươi năm sưu tầm, nghiên cứu, đến nay Ban Đề tài TLLS 2253 NV, do ông Sơn làm chủ nhiệm đã có hàng trăm bức ảnh về Bác và hàng chục bút tích (tất cả đều là bản gốc) Bác viết khi về Thanh Hóa công tác. Ngoài ra, ông còn có một lượng tài liệu khổng lồ mà ông sưu tầm được qua rất nhiều sách báo và các tạp chí.

Việc đi sưu tầm thường xuyên trong nhiều năm đã khiến lượng tài liệu trong nhà ông Sơn mỗi ngày một nhiều. Trong ngôi nhà cấp bốn cũ kỹ, tranh ảnh, tài liệu liên quan đến Bác Hồ được treo kín trên các bức tường. Ngay cả chiếc tủ sắt lớn làm bằng xác máy bay Mỹ, đặt ở gian giữa cũng đã chứa đầy tài liệu từ nhiều năm rồi. Để tránh mối mọt, mưa dột và ẩm mốc xâm hại đến các tài liệu quý, ông Sơn đã cho ép plastic hầu hết những tài liệu mà qua nhiều năm ông đã sưu tầm được. Chỉ cho khách xem tủ tài liệu, ông Sơn bảo: “Tất cả những tài liệu đều có một lai lịch cả đấy. Nhiều tài liệu, trước khi đem về đây, nó đã có cả một thời gian lưu lạc thăng trầm”.

Rồi ông lại kể, có tài liệu ông sưu tầm được khá tình cờ. Chẳng hạn, có lần nghe tin ông Kháng (một trong những người bảo vệ Bác) đang lưu giữ một bản bút tích của Người trong một chuyến vào Thanh Hóa làm việc, ông đã tìm đến và được ông Kháng chấp nhận mà không đòi hỏi gì. Song, cũng có những tài liệu ông Sơn phải năm lần bảy lượt đến thuyết phục gia chủ mới được họ chấp thuận cho đem về. Nhiều tài liệu đem được về rồi, ông lại phải mang ra tận Viện bảo tàng Hồ Chí Minh để nhờ xác minh lại xem bút tích đó có đúng là bút tích của Bác hay không.

Hễ nghe thấy ở đâu có tranh ảnh, bút tích, hay những thông tin về Bác Hồ có liên quan đến Thanh Hóa quê ông, thì đường xa đến mấy, ông Sơn cũng thu xếp công việc lẫn tiền bạc để lên đường.

Năm 2004, cô con gái của ông đi lao động bên Nga, có gửi chút tiền dưỡng già, ông Sơn đã dùng cả số tiền ấy để xây cất một ngôi nhà tử tế. Sau đó, ông đã chuyển dần những tài liệu từ gian nhà cấp bốn lên trưng bày tại ngôi nhà mới. Ông bảo: “Mình già rồi, sống thế nào cũng được. Nhưng những tài liệu mình đã dày công sưu tầm và nghiên cứu này thì không thể để mối mọt hoặc ẩm mốc làm hỏng được”!

Trong ngôi nhà mới xây, ông Sơn cho dựng một tấm bia đá có khắc dòng chữ rất to, rất ấn tượng ngay tại phòng khách: “Đời đời nhớ công ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và các anh hùng liệt sĩ”. Ông bảo, nhờ Hồ Chủ tịch và công ơn các anh hùng liệt sĩ mà đất nước thoát khỏi ách nô lệ, nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc ngày nay. Ông muốn sau này, ngôi nhà của ông, nếu không trở thành một bảo tàng nhỏ về Bác Hồ, thì ít nhất, nó cũng trở thành một ngôi nhà truyền thống, có thể giáo dục lý tưởng và lòng yêu nước cho lớp trẻ trong vùng.

Sự thực thì từ lâu, ngôi nhà của ông Sơn đã trở thành một địa chỉ văn hóa được nhiều người tìm đến. Những lúc có khách, ông Sơn nhanh nhẹn và hoạt bát lạ thường. Ông giới thiệu với khách ý nghĩa và lai lịch của từng bức ảnh, lai lịch của từng trang tài liệu. Nếu vị khách nào muốn biết Bác Hồ đã bao nhiêu lần về Thanh Hóa, về trong thời gian nào, ở đâu, làm gì, ông có thể nói làu làu một cách chính xác đến khó tin.

Năm nay, ông Sơn đã bước sang tuổi 79. Ông bảo, bây giờ ông cũng chẳng đi lại được nhiều nữa. Vì vậy, lúc nào ông cũng đau đáu lo đề tài ông đã dày công nghiên cứu sau này sẽ không có người kế tục. Còn về ngôi nhà, ông vẫn thích gọi nó với cái tên Nhà bảo tàng hơn là cái tên Nhà trưng bày, dù để trở thành một nhà bảo tàng theo đúng nghĩa, thì ngôi nhà của ông còn cần thêm rất nhiều thứ nữa.

Rồi ông lại bảo, đến một lúc nào đó, ông sẽ hiến toàn bộ ngôi nhà cùng những tài liệu quý báu ông đã sưu tầm được cho Nhà nước. Bởi ông cho rằng, chỉ có Nhà nước quản lý thì những tài liệu và hiện vật trong ngôi nhà mới phát huy được hết những giá trị tinh thần của nó.

Trọng Tuyến
(Đăng trên Vietimes)

bqllang.gov.vn

Người lập bàn thờ Bác trong Khu Di tích Phủ Chủ tịch

“Với tất cả tấm lòng thành kính, năm 2001, tức ba năm trước khi về hưu, tôi “xin” Bác một phòng ngay gần nhà sàn, nơi Bác ngồi ký các sắc lệnh xưa kia, làm nơi thờ cúng Người”. Anh cảnh vệ năm xưa nay đã ngoại lục tuần, Trần Viết Hoàn, kể.

Trong số những cảnh vệ trẻ khi xưa của Bác Hồ, có lẽ ông Trần Viết Hoàn là người gắn bó lâu năm nhất với Bác. Tự nhận có “diễm phúc” được ở bên Người trong 3 năm cuối ở nhà sàn và 16 năm ở cương vị Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, ông Hoàn được mọi người gọi với cái tên “Ông từ giữ đền”. Dáng cao dong dỏng, tóc bạc trắng, ông Trần Viết Hoàn gây ấn tượng ở đôi mắt sáng và nụ cười rạng rỡ. “Từ khi về hưu năm 2004 đến nay, cứ ngày mồng 1 hàng tháng, tôi lại tới thắp hương cho Cụ ở căn phòng mà tôi đã “xin” Bác. Năm nào cơ quan cũng làm giỗ cho Bác vào ngày 21 tháng 7 âm lịch”. Bao năm ở bên Bác, canh cho Bác từng bữa ăn, giấc ngủ, nay “ông từ” Hoàn vẫn nhớ nguyên cảm giác lạnh lẽo khi bước vào nhà sàn sau khi Bác mất.”Tại nhà nơi Bác mất, anh em đặt lư hương để thắp hương cho Bác bên cạnh cửa sổ. Đến năm 2001, tôi “xin” Bác cho một phòng mà Bác vẫn ngồi ký các sắc lệnh để mọi người về có chỗ tưởng nhớ người ông, người cha của mình”.Trong căn phòng nhỏ nằm ngay gần nhà sàn, ông Hoàn cho đặt tượng Bác, bên trên có tấm hoành phi ghi 4 chữ “Cần, kiệm, liêm, chính”. Hai bên tượng là câu đối: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Khi được hỏi “Ông cầu khấn gì mỗi lần thắp hương cho Bác?”, ông Hoàn cười: “Tôi chỉ khấn đúng như thế này: Cầu mong Bác trong giấc ngủ bình an ban phước ban lộc cho mọi người được mạnh khỏe, tiến bộ. Chứ tuyệt nhiên tôi không xin cho mình điều gì cả”. Thế nhưng ngẫm ra, ông thấy mình được Bác ban phát rất nhiều “lộc”: một gia đình hạnh phúc, con cái phương trưởng. Lạ một điều, cả nhà ông đều quây quần bên Bác. Vợ ông trước khi về hưu làm kế toán ở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Con trai ông hiện là trưởng phòng bảo vệ Khu Di tích, con gái làm ở phòng thuyết minh. Nhớ lại cách đây 44 năm, chàng sinh viên ngoại ngữ Trần Viết Hoàn, khi đó mới tròn 20, được chuyển sang trường Công an Trung ương (C500) rồi được phân công về Cục Cảnh vệ, Bộ Công an. “Năm 1963, khi còn học ở trường Ngoại ngữ, tôi được đứng ở cổng Nhà khách Chính phủ vẫy chào Chủ tịch Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ. Đó cũng là lần đầu tiên, tôi được nhìn thấy Cụ Hồ trong lễ đón. Người cứ lâng lâng vì vui và tự hào”, ông Hoàn nhớ lại.Năm 1966, Trần Viết Hoàn được điều về đội 1 trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, tổ bảo vệ nhà sàn. “Đó là cả một diễm phúc. Người Việt Nam ta, từ cụ già đến em nhỏ, ai mà chẳng muốn gặp Bác dù chỉ một lần. Đằng này, tôi lại được nhìn thấy Bác hàng ngày”.Một buổi trưa, chàng cảnh vệ Hoàn đi gánh nước tưới rau, đúng lúc Bác đi bách bộ theo thói quen mươi – mười lăm phút trước bữa ăn. “Thấy Bác, tôi giật mình lùi lại. Bác mới bảo: Này chú, việc chú, chú cứ làm, việc Bác, Bác đi. Ông kể, có anh gặp Bác trên đường khi đang đi xe đạp bèn xuống xe. Bác liền nói: “Bác có phải đền Bạch Mã đâu mà các chú xuống xe”. “Bác thường xuống thăm anh em nhà bếp và cảnh vệ, xem anh em ăn uống thế nào. Đi công tác về, bao giờ Bác cũng có quà, lần thì điếu thuốc, lần thì cái kẹo, quả táo”. Theo lời ông Hoàn, những dịp đặc biệt, Bác Hồ cho anh em bảo vệ bắt cá từ ao mà thường ngày Bác vẫn chăm sóc để biếu các cụ già, cháu nhỏ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và để anh em cải thiện bữa ăn.”Năm 1968, chúng tôi bắt được một con cá trắm cỏ rất to. Bác bảo: Các chú thử cân xem con cá nặng bao nhiêu. Anh em nhà bếp lấy bàn cân ra nhưng không sao cân nổi, vì đầu, đuôi con cá cứ chạm xuống đất. Bác nói: Một chú bê con cá và đứng lên cân, rồi trừ trọng lượng của chú ấy đi. Mọi người làm theo lời Bác thì biết được con cá nặng tới 24 kg. Lúc đó, Bác nói: “Bắt con cá này lên để đề phòng cá lớn nuốt cá bé”.

Sau này, khi giữ chức Giám đốc Khu di tích, ông Trần Viết Hoàn kể câu chuyện trên cho nhiều đoàn khách, trong đó có các nguyên thủ quốc gia, nhiều vị nghe mà lặng người. Kỷ niệm về Bác, ông Hoàn có thể kể hàng giờ. Mỗi câu chuyện là một bài học. Về một nhân cách lớn. “Ngần ấy năm sống ở gần Bác, tôi không hề thấy Bác cáu giận. Thư ký của Bác, ông Vũ Kỳ kể với chúng tôi: Có lần, ông tự nhận với Bác là còn cáu gắt với anh em. Bác bảo: Chú ở với Bác lâu, Bác cũng ở với chú lâu, Bác chưa bao giờ thấy chú cáu gắt với Bác cả. Thế cáu gắt với anh em có phải vì chú cậy mình là cấp trên không?”.Ông nhớ hồi chiến tranh phá hoại, Bác Hồ dứt khoát không đi sơ tán, “Bác bỏ dân làm sao được”. Bộ Chính trị bèn bàn việc xây cho Bác một căn hầm bằng bê tông để tránh bom bi, mảnh đạn. Nhưng Bác vẫn nói: “Trước khi lo cho Bác, các chú hãy lo cho dân đi đã”.Tháng 5/1967, đúng dịp sinh nhật mình, Bác lại “đi vắng” như mọi năm, tránh phiền mọi người đến chúc mừng. “Bác sang Trung Quốc trong thời gian 2 tháng để chữa bệnh luôn. Ở nhà, Bộ Chính trị quyết định làm nhanh cho Bác căn nhà bê tông, tường dày đến 60 phân, do bên công binh thiết kế, thi công”. Ông Hoàn nhớ như in, ngày 20/7, Bác về. Bộ Chính trị chuẩn bị đón Bác ở ngôi nhà mà trước khi đi chưa có. “Hôm đó, Bác chỉ hỏi: Đây là sáng kiến của chú nào?”. Đồng chí Phạm Hùng thay mặt Bộ Chính trị đứng lên báo cáo: “Thưa Bác, đây là nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Bác nói: “Bộ Chính trị làm thì Bộ Chính trị ở đi, Bác có nhà sàn rồi!”.”Thế nhưng, với tinh thần tôn trọng tập thể và giữ kỷ luật của Đảng, Bác quyết định nơi đây sẽ là nơi họp hàng tuần của Bộ Chính trị. Căn nhà kiên cố mà Bộ Chính trị làm cho Bác đã trở thành trụ sở của Bộ Chính trị như thế đó”.Người cảnh vệ năm nào kể: Nhiều đêm, Bác xuống hầm để ở, tránh bom, vì thế trong nhà có một chiếc giường. Từ ngày 12/8/1969, tuy mệt nhưng Bác vẫn lên, xuống nhà đó. Đến ngày 17/8, Bác yếu đi nhiều, bác sỹ đề nghị Bác ở lại. Bác chấp hành ý kiến. “Không ngờ, căn nhà đó lại là nơi chứng kiến những ngày cuối cùng của Bác, chứng kiến quy luật của cuộc đời”.Ở bên Bác đến 3 năm, hình ảnh in đậm nhất trong trí nhớ của ông Trần Viết Hoàn là hình ảnh vị lãnh tụ ngồi làm việc, mặc quần cộc, áo cộc rất thoải mái, bên chiếc đèn bàn có chao làm bằng giấy hồng. “Gương mặt Bác hồng lên, gió thổi nhẹ làm chòm râu đung đưa. Những lúc ấy, Bác giống hệt một ông tiên”.Ông Trần Viết Hoàn nhận quyết định làm Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch vào 8h sáng ngày 8/8/1988. Suốt trong 16 năm đất nước bắt đầu hội nhập thế giới, “Ông từ giữ đền” đã có hơn 60 lần tiếp các nguyên thủ quốc gia, những người lần đầu tiên đến thăm Việt Nam.”Đoàn nào có ông Hoàn xuất hiện, tiếp đón, thuyết minh thì không khí trang trọng lên rất nhiều”, các cán bộ của ông nói. Ông nhớ mãi chuyến du lịch sang Nga cùng vợ tháng 11/2002. Dù chỉ đi một tuần lễ nhưng vợ chồng ông được Bộ Văn hóa Nga tiếp đón thân tình, theo yêu cầu của đích thân Tổng thống Putin.”Ấy là nhờ một năm trước đó, sau khi thăm xong khu Di tích, Tổng thống Putin dừng lại nói với tôi: Tôi xin hỏi ông, ông có được gặp Cụ Hồ bao giờ không? Tôi trả lời: Cám ơn Tổng thống, tôi là một trong những người trực tiếp bảo vệ Bác Hồ. Ông Putin bèn nói: Tôi rất kính trọng Bác Hồ. Tôi sẽ mời ông và cả phu nhân sang thăm Nga. Ngay 4 giờ chiều nay, tôi bay về nước, mời ông đi ngay với tôi”.Trước lời mời bất ngờ của Tổng thống Nga, ông Hoàn phải tìm cách thoái thác: “Tôi còn công việc bề bộn, thu xếp chưa xong. Xin khất ngài vào dịp khác”. Nghe vậy, Tổng thống Putin yêu cầu vị đại sứ đi cùng làm việc với Bộ Văn hóa Nga thu xếp một chuyến thăm Nga cho ông Hoàn và vợ. Trước đó, vào năm 1998, sau khi được ông Hoàn tiếp đón, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức TW Đảng CS Trung Quốc Tăng Khánh Hồng cũng quyết định mời ông Hoàn sang thăm Trung Quốc và giao cho Nhà tưởng niệm Mao Trạch Đông tiếp đón ông. Sau chuyến đi của ông Hoàn, Khu Di tích Phủ Chủ tịch và Nhà tưởng niệm đã kết nghĩa với nhau và duy trì những chuyến thăm hỏi, học tập lẫn nhau đến tận bây giờ. Còn rất nhiều kỷ niệm nữa giữa ông Hoàn với các vị lãnh đạo cấp cao trên thế giới, từ chuyện tặng Huy hiệu Bác Hồ cho Chủ tịch Cuba Fidel Castro, chuyện “đuổi theo” Tổng thống Pháp Mitterrand khi ông bất ngờ vào thăm ao cá Bác Hồ… Vị cựu Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch chẳng khác nào một pho từ điển sống. “Có ai được những diễm phúc ấy. Tôi cho rằng đó là “lộc” của Cụ Hồ. Hưởng lộc, hưởng phước mà Cụ ban cho thì phải sống và làm việc cho xứng đáng”, ông Hoàn vẫn tự răn mình.Người lính bảo vệ Bác năm xưa tự hào trong suốt cuộc đời luôn giữ được mình, rèn mình không để vi phạm điều gì về đạo đức, nhân cách, không mảy may thu vén mưu lợi riêng. Nay đã ngoại lục tuần, ông Trần Viết Hoàn đang chuẩn bị tập hợp các bài viết, các bài nói chuyện của mình thành một cuốn sách. “Nhớ Bác Hồ, những điều bình dị” – người cảnh vệ năm xưa của Hồ Chủ tịch dự định đặt tên cho cuốn sách mà mình ấp ủ lâu nay.

Theo Báo Vietnam net

bqllang.gov.vn

Tượng đài Bác Hồ trên Quốc đảo Singapore

Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương, được bao quanh bởi nhiều đảo nhỏ khác. Singapore từng là một làng cá của người Malaysia. Tên Singapore xuất phát từ Singapura trong tiếng Malaysia (hay tiếng Malay), vốn được lấy từ nguồn gốc của chữ Phạn là singa (sư tử) và pura (thành phố). Từ đó, Singapore được biết đến với tên Thành phố Sư Tử. Từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 19, Singapore là một phần của Tiểu Vương quốc Johor (một bang của Malaysia. Năm 1819, nằm trong Khu thuộc địa của Anh, hòn đảo này dân cư còn rất thưa thớt, chỉ có một làng chài nhỏ với số dân chưa đầy 1000 người.

Sau khi thuộc quyền sở hữu của Anh, người Anh đã bắt đầu xây dựng Singapore từng bước thành một cảng thương mại lớn ở Đông Nam Á và vào những năm 1830 nó đã trở thành một trong ba cảng thương mại chính ở Đông Nam Á cùng với Manila ở Philipinnes và Batavia (Jarkata ngày nay) ở đảo Java. Tháng 2/1942, Singapore bị quân đội Nhật đã chiếm đóng đổi tên thành Syonanto, nghĩa là Ánh sáng Phương Nam. Tháng 9/1945, khi Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội Anh quay trở lại chiếm đóng hòn đảo này và từ tháng 3/1946, Singapore trở lại thuộc địa của Vương quốc Anh. Trước năm 1950, người Việt Nam còn biết đến Singapore dưới những tên: Chiêu Nam và Hạ Châu.

Singapore trở thành một nước tự chủ vào năm 1959 và ông Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của Singapore. Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vào Liên bang Malaysia đã đạt được vào năm 1961 và đưa Singapore trở thành một thành viên Liên bang Malaysia có quyền tự trị vào tháng 9/1963. Cuộc hợp nhất không đạt được nhiều thành công và 2 năm sau đó, ngày 9/8/1965 (sau này đã trở thành ngày Quốc khánh của Singapore), Singapore đã tách khỏi Malaysia và trở thành một quốc gia độc lập với nền dân chủ có chủ quyền lãnh thổ. Ngày 22/12/1965, Singapore đã chính thức trở thành một nước Cộng hòa độc lập.

Trở thành nước độc lập, Singapore phải đối mặt với nhiều khó khăn trong giai đoạn này: Không ổn định về chính trị xã hội, không phát triển về kinh tế, đất đai và tài nguyên thiên nhiên rất ít (tài nguyên thiên nhiên được ghi trong tài liệu giới thiệu về quốc gia này chỉ có thủy sản và cảng nước sâu) … Từ năm 1959 đến năm 1990, Chính phủ Singapore, do Thủ tướng Lý Quang Diệu đứng đầu, đã từng bước kiềm chế thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống và thực hiện một chương trình nhà ở công cộng với quy mô lớn (hơn 90% dân cư Singapore sống trong các khu nhà xây dựng sẵn của Ban Phát triển Nhà ở và gần một nửa dân cư sử dụng phương tiện giao thông công cộng hàng ngày); các cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước được phát triển, mối đe dọa của căng thẳng chủng tộc được loại bỏ và một hệ thống phòng vệ quốc gia được thiết lập; đầu tư nước ngoài và công cuộc công nghiệp hóa do nhà nước chỉ đạo đã tạo nên một nền kinh tế dựa chủ yếu trên xuất khẩu hàng điện tử và gia công… Từ một “làng chài” nghèo khó đầu thế kỷ 20, diện tích chỉ tương đương đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang), từ một nước đang phát triển, đến cuối thế kỷ 20, Singapore đã vươn lên thành một nước phát triển. Hiện nay, Singapore là một nước công nghiệp với thu nhập bình quân đầu người khoảng 38.000 USD (năm 2010). Với cơ sở hạ tầng hoàn hảo, những nét văn hoá tương phản đầy hấp dẫn cùng những điểm tham quan thu hút du khách là những yếu tố góp phần đem đến sự thành công cho Singapore và biến quốc gia này trở thành điểm đến hàng đầu cả trong lĩnh vực thương mại lẫn du lịch.

Trên đất nước Singapore tươi đẹp có một địa chỉ mỗi năm thu hút hàng vạn lượt khách tới tham quan: Đó là Bảo tàng Văn minh châu Á, nằm bên bờ sông Singapore. Phần trưng bày về Việt Nam trong Bảo tàng nổi bật với phiên bản trống đồng Đông Sơn, tranh Đông Hồ…Với tình cảm mến yêu Việt Nam và tôn vinh một trong những nhân vật vĩ đại nước ngoài từng đặt chân tới Singapore, nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Singapore, Ủy ban Di sản Quốc gia Singapore đã đặt tấm bia tưởng niệm Người trước sân tiền sảnh trong khuôn viên bảo tàng (trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 2 lần tới Singapore. Lần đầu vào tháng 5/1930, lần thứ hai là tháng 1/1933). Từ tháng 9/2007, Ủy ban Di sản quốc gia Singapore và Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore, với sự giúp đỡ trực tiếp của Bảo tàng Hồ Chí Minh đã hợp tác chặt chẽ từ việc hình thành ý tưởng đến khâu thiết kế và xây dựng nội dung tạc trên bia tưởng niệm. Bia tưởng niệm với chất liệu đá hoa cương đen, cao 1,8m, rộng 0,75m, dày 0,23m; trên có chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và tiểu sử tóm tắt của Người. Mặt sau bia tạc bài thơ Giã gạo của Bác. Hình hoa sen tiêu biểu cho làng Sen quê Bác chạm mờ được hiển thị trên cả hai mặt của tấm bia. Tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đánh dấu đầy đủ theo tiếng Việt, góp phần tăng thêm tính biểu tượng và tôn nghiêm cho tấm bia. Ngày 20/5/2008, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Ngoại giao Singapore George Yeo đã cắt băng khánh thành bia tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không chỉ dừng lại ở bia tưởng niệm, những người bạn yêu mến Việt Nam ở Uỷ ban Di sản Quốc gia Singapore, Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore có sự phối hợp của Bảo tàng Hồ Chí Minh đã có ý tưởng đặt tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh bên cạnh bia tưởng niệm. Ý tưởng này đã được các cơ quan chức năng của Việt Nam và Singapore hoàn toàn nhất trí. Phía Bạn đã trân trọng chọn việc dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Văn minh châu Á khởi đầu cho chương trình tôn vinh “Những người bạn đến bờ biển chúng ta”.

Sáng ngày 28/10/2011, trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến dự lễ khánh thành tượng Bác Hồ tại Bảo tàng Văn minh châu Á. Phát biểu tại lễ khánh thành, Chủ tịch Ủy ban Di sản Quốc gia Singapore khẳng định bức tượng Bác Hồ cũng là niềm tự hào của nhân dân Singapore. Sự kiện này ghi tiếp dấu ấn trong mối quan hệ hợp tác tin cậy, tình cảm hữu nghị giữa Việt Nam và Singapore./.

Theo Nguyễn Thúy Đức
Bảo tàng Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Lời nói đầu

Lời nói đầu

oOo

Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới; Người tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam; là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.

Những nơi Người đã từng sống và làm việc nay trở thành địa danh lịch sử – văn hoá để giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Khu Di tích Đá Chông (K9, K84) là địa danh lịch sử – văn hoá như vậy. Nơi đây, Bác đã sống và làm việc. Người cùng với các đồng chí trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng đã bàn và quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước trong giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Người đã dành nơi này để tiếp những người bạn, người đồng chí từ Trung Quốc và Liên Xô đến thăm. Sau này khi Người qua đời, nơi đây trở thành địa điểm chủ yếu gìn giữ tuyệt đối an toàn thi hài của Bác trong những năm chiến tranh ác liệt (1969-1975).

Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cũng là thời điểm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành. Thi hài Bác được đưa từ K84 về ngôi nhà vĩnh hằng của Người tại Ba Đình lịch sử, Khu di tích Đá Chông trở thành nơi cán bộ, nhân dân đến tham quan, học tập và sinh hoạt, giáo dục truyền thống lịch sử.

Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị, nhằm nghiên cứu một cách hệ thống quá trình hình thành và phát triển của Khu di tích; năm 2006 và 2007, Ban Quản lý Lăng đã triển khai nghiên cứu đề tài cấp bộ “Nghiên cứu bảo tồn, tôn tạo phát huy tác dụng Khu di tích lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông”. Đề tài được nghiệm thu đạt loạt xuất sắc đã góp phần đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tham quan học tập về các Di tích lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước.

Nhân dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiết thực triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu với bạn đọc cuốn sách: Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông.

Xin trân trọng cám ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các cán bộ lão thành cách mạng; cán bộ, công nhân viên và chiến sĩ đã từng công tác tại Khu du tích qua các thời kỳ. Cám ơn Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Hà Tây, Bảo tàng Hồ Chí Minh và các cơ quan, đơn vị có liên quan đã cung cấp, xác minh tư liệu quý về Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông.

BAN QUẢN LÝ LĂNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

bqllang.gov.vn

SỰ HÌNH THÀNH KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG
NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ DIỄN RA Ở KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ LỊCH SỬ – VĂN HOÁ CỦA KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO CÁC HIỆN VẬT TẠI KHU DI TÍCH
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC, TUYÊN TRUYỀN TẠI KHU DI TÍCH
NHỮNG HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TÌNH HÌNH VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA KHU DI TÍCH
YÊU CẦU CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG KHU DI TÍCH
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG KHU DI TÍCH
PHẦN KẾT LUẬN

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ nhất: A

Nghiên cứu xác định giá trị lịch sử – văn hóa khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông

oOo

I. SỰ HÌNH THÀNH KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG

1. Một vài nét về Hà Tây và những di tích danh lam thắng cảnh tiêu biểu:

Hà Tây nằm ở phía Tây Thủ đô Hà Nội, Bắc giáp Phú Thọ, được bao bọc bởi dãy núi Tam Đảo; Nam giáp Hòa Bình, thuộc hữu ngạn sông Hồng Hà (sông Hồng), đoạn cuối khúc sông chảy qua gọi là sông Đà và một nhánh sông Tích như dải lụa thanh thiên, núi Ba Vì sừng sững, mờ xa, bờ bãi ven sông nối tiếp những cánh đồng màu mỡ lúa, khoai, ngô, mía, cây thuốc lá, mùa nào thức nấy.

Nói đến Hà Tây, không thể không nhắc tới những danh lam nổi tiếng xứ Đoài, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” như:

Đường Lâm là một trong những làng cổ đặc sắc Việt Nam, vốn là mảnh đất lịch sử rất nổi tiếng; là đất có hai vua: Phùng Hưng (766-799) và Ngô Quyền (938-945).

Chùa Mía (thuộc xã Đường Lâm) có hiệu là Sùng Nghiêm Tự, một cảnh quan đẹp, trang nghiêm mà cổ kính, theo quan niệm của Phật giáo khi đến đây con người như bắt gặp cõi yên lạc, để xua đi những tạp niệm trong cõi vô thường. Tượng Phật chùa Mía có thể coi là những bông hoa điêu khắc rực rỡ, có giá trị độc đáo, hiếm thấy ở các ngôi chùa khác.

Hương Sơn, đệ nhất kỳ quan có từ đời Lê Chính Hòa cách đây 1.000 năm có lẻ, có động người xưa và con đường khổ ải để tới cõi niết bàn, lại là một vẻ đẹp hướng về cõi thiện, kết hợp hài hòa với con người, không biết được đâu là mơ, là thực.

Chùa Tây Phương (thế kỷ III) với 62 pho tượng, 18 vị La Hán “đến bây giờ mặt vẫn chau” (Huy Cận) xa lánh cõi nhân gian tục lụy tìm cách siêu thoát ở cõi Phật.

Chùa Thầy thờ Từ Đạo Hạnh, bậc chân tu, ông tổ của nghề múa rối nước, tương truyền đã hóa thân thành Vua Lý Thần Tông.

Chùa Đậu là một nơi đặc sắc nữa với xá lị của hai nhà sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường.
Không chỉ nổi tiếng với những danh lam thắng cảnh, Hà Tây là mảnh đất đã sinh ra những hiền tài vào bậc nhất qua nhiều thời đại, xứng đáng là danh nhân đất Việt, như:

Nguyễn Trãi, linh hồn của cuộc kháng chiến chống giặc Minh, nhà văn hóa lớn nhất thời cổ, tác giả của Bình Ngô Sách, Bình Ngô Đại cáo (bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc ta), ức Trai thi tập…

Ngô Thì Nhậm, là tướng giỏi của Tây Sơn Nguyễn Huệ, người đã bày kế sách “nước cờ Tam Điệp”, giúp Quang Trung bảo toàn lực lượng dồn sức quét sạch quân Thanh, tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí.

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất) là một tài năng xuất chúng, một sứ thần sắc sảo, uyên bác.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Hà Tây là “lá chắn thép” bảo vệ Thủ đô Hà Nội và Trung ương Đảng. Hà Tây thật xứng danh là tỉnh Anh hùng.

2. Khu vực Đá Chông và sự hình thành Khu di tích:

Từ thành phố Sơn Tây đi về phía Tây theo quốc lộ 87 chừng 20km gặp một khu rừng thông xanh thẫm phủ kín những ngọn đồi đất sỏi, cao thấp nhấp nhô ở độ cao 40 – 50m, có đồi cao hơn 100m so với mặt nước biển. Những “mũi chông đá” nhiều hình, nhiều vẻ nhô lên khỏi mặt đất, những vỉa đá lô xô vươn về phía dòng sông Đà. Đó là khu vực Đá Chông. Theo trí tưởng tượng dân gian, khu vực này mang dáng dấp một con rồng, đầu đang cúi xuống uống nước sông Đà, U Rồng là đỉnh cao nhất của khu đồi.

Dòng sông Đà đến đây bỗng đổi hướng, ngược về Phú Thọ, rồi uốn lượn xuôi về miền hạ lưu Sơn Tây, nhập vào sông Hồng chảy về xuôi. Nép mình dưới cánh rừng nguyên sinh là vài ba ngôi nhà với kiểu dáng kiến trúc đơn giản nhưng khá đẹp.

Theo ông Vũ Kỳ – nguyên là Thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lời truyền miệng của nhân dân: trong thời kỳ Pháp thuộc, nơi đây là đồn điền Satuptô của một kỹ sư canh nông người Pháp, đã trồng thông và khai thác quặng. Bây giờ khu vực này còn giữ được nhiều cây thông có độ tuổi khoảng 100 năm, xen kẽ với những cây mới trồng như chò, lim, long não, pơ mu…

Nhân dân vùng này gồm chủ yếu là người Kinh, có một số dân tộc Mường, Dao. Đất canh tác hạn hẹp, trồng 1 vụ lúa, 1 vụ ngô, khoai, sắn. Đời sống người nông dân không mấy thuận lợi. Đảng bộ và nhân dân địa phương có truyền thống cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp là vùng an toàn, nơi đi về của cán bộ, bộ đội; trong kháng chiến chống Mỹ là nơi đóng góp nhiều sức người, sức của cho chiến trường đánh giặc. Các xã Minh Quang, Ba Trại và Thuần Mỹ liền kề Khu di tích đều đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Vùng đất này đã có một sự kiện đặc biệt để rồi sau đó nó trở thành một địa danh lịch sử. Đó là vào một ngày của tháng 5 năm 1957, Bác đến thăm Sư đoàn 308 diễn tập bên sông Đà. Cũng như khi Người đi công tác các tỉnh thường không ăn cơm ở đó mà mang theo cơm nắm, thức ăn và Bác cháu cùng dùng bữa cơm dọc đường, sau đó Người nằm nghỉ một lát ngay dưới gốc cây.

Theo ông Vũ Kỳ kể lại: Hồ Chủ tịch đã đứng ở vị trí Đá Chông, nhìn ra sông Đà trước mặt thấy đây là nơi sơn thủy hữu tình, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân mà xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người đã ngỏ ý với các đồng chí cùng đi xây dựng ở đây một nhà làm việc của Bác và Trung ương. Bác đã ngồi ăn cơm nắm bên “ba ngọn núi” Đá Chông, chỗ đó có nhiều phiến đá bằng phẳng, có một cây phượng vĩ, trước có một ngôi miếu nhỏ.

Nhóm nghiên cứu đề tài được ông Vũ Kỳ trao cho bức ảnh chụp Bác Hồ và các đồng chí cùng đi đang ngồi tại Đá Chông vào ngày 23 tháng 2 năm 1958.

Năm 2006, được sự giúp đỡ của Ban Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh và các chuyên viên, nhóm nghiên cứu đề tài tiếp tục nhận được một bộ ảnh quý chưa công bố về Bác Hồ với Đá Chông. Đây là những tư liệu lịch sử xác thực về Khu di tích Đá Chông. Nhóm nghiên cứu đề tài cũng được sự giúp đỡ xác minh tư liệu của Ban Tuyên giáo, Tỉnh ủy Hà Tây trong những lần Bác về thăm và làm việc với Hà Tây. Đây là những tư liệu lịch sử xác thực về Khu di tích Đá Chông.

Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao Bác lại chọn Đá Chông là nơi căn cứ làm việc của Bác và Trung ương? Qua thu thập tài liệu và lời kể của các nhân chứng có thể lý giải như sau:

Thứ nhất: Do tình thế cách mạng nước ta lúc đó, miền Bắc sau 2 năm hòa bình, miền Nam đang nằm trong vùng kiểm soát của địch, Mỹ – Diệm đang ra sức hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến, những diễn biến đó khiến Bác và Trung ương nghĩ đến cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù, phải tính đến việc lập những căn cứ dự phòng khi cần thiết có thể đưa Bộ chỉ huy tối cao đến làm việc bảo đảm an toàn. Địa bàn Sơn Tây nói chung cũng như khu vực Đá Chông có thể coi như mảnh đất bàn đạp nằm tiếp giáp với chiến khu và vùng đồng bằng, thành phố. Người đã chọn căn cứ này trong một chuyến đi thăm và kiểm tra diễn tập thực binh của Sư đoàn chủ lực 308. Điều này, gợi nhớ lại khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác và Trung ương từ Tân Trào về Hà Nội, Người đã để lại một lực lượng giữ gìn xây dựng chiến khu với lý do: Biết đâu sau này Bác cháu ta lại có thể phải trở lại đây. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã diễn ra gian khổ, ác liệt, Bác và Trung ương phải quay trở lại chiến khu chỉ đạo cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi.

Thứ hai: Từ phong cách sống của Bác. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người rất giản dị, sống gần gũi với thiên nhiên. Người đã từng nói đại ý, Người không ham danh lợi, nếu không phải vì việc nước mà phục vụ thì Người chỉ ưa thích sớm tối trồng rau, hái củi, trò chuyện với những người bạn thân thiết. Người ưa sống gần gũi với thiên nhiên như ở Pắc Bó, Tân Trào và cả ở Phủ Chủ tịch cũng đều như vậy. Đó là một ngôi nhà nhỏ, cạnh sông suối, có đất trồng rau, có cây xanh tươi tốt. Những cảnh vật có ở Đá Chông đều phù hợp với phong cách sống của Bác và Bác đã chọn nơi này để sống và làm việc.

(Còn nữa)

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ nhất: B

Nghiên cứu xác định giá trị lịch sử – văn hóa khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông (tiếp theo)

oOo

II. NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ DIỄN RA Ở KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG

Những tư liệu và tài liệu thu thập được từ các cuộc gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, những cán bộ đã từng giúp việc và phục vụ Bác tại căn cứ K9 và đặc biệt từ cuộc toạ đàm “Cán bộ, nhân viên đã từng phục vụ Bác tại Đá Chông” do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 4 năm 2006; Hội thảo khoa học “Những sự kiện Bác Hồ với Đá Chông”, ngày 1 tháng 7 năm 2006 và Hội thảo “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Khu di tích Đá Chông“, ngày 28 tháng 5 năm 2007 do Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức đã có những căn cứ đáng tin cậy. Trên cơ sở đó, có thể đưa ra những phác thảo chính về những sự kiện lịch sử diễn ra ở Khu di tích Đá Chông như sau:

1. Thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước làm việc tại Đá Chông (từ năm 1957-1969)

Năm 1957

Cuối năm 1956, đầu năm 1957, Đá Chông được các đồng chí ở Ty Công an Sơn Tây khảo sát, báo cáo với tỉnh trong việc giúp Trung ương tìm chọn một nơi xây nhà nghỉ của Trung ương. Nơi đây hội đủ các yếu tố: có rừng cây, có núi, có sông, thuận tiện về giao thông thủy bộ.

Tháng 5 năm 1957, trong dịp theo dõi Sư đoàn 308 tập mẫu chiến thuật “Trung đoàn bộ binh tăng cường tiến công quân địch phòng ngự có chuẩn bị”, Bác đã dừng chân nghỉ, ăn cơm trưa trên đồi, nơi có 3 mỏm đá nhọn như hình mũi chông, ngọn mác xếp liền kề nhau. Thấy địa thế nơi đây hiểm trở, phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ, Bác đã trao đổi với các đồng chí cùng đi, ngỏ ý chọn vị trí này làm nơi nghỉ ngơi và làm việc của Bác và Trung ương.

Năm 1958

Sáng ngày 23 tháng 2 năm 1958, Bác Hồ lên thăm và xem xét lại địa bàn khu vực Đá Chông. Cùng đi với Bác có đồng chí Nguyễn Lương Bằng – ủy viên Trung ương Đảng và một số đồng chí khác của Chủ tịch phủ và lãnh đạo tỉnh Sơn Tây.
Sau chuyến đi của Bác, Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam được lệnh xây dựng một số ngôi nhà cấp bốn trong khu vực Đá Chông.

Bước sang năm 1959, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc của đế quốc Mỹ đã rõ ràng, Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần được lệnh tiếp tục lên xây dựng Khu căn cứ của Trung ương, Bộ đội Công binh xây dựng một hệ thống công sự kiên cố. Quá trình xây dựng, khu vực này được gọi là Công trường 5.

Đặc biệt, Bác đã cắm cọc, nhắm hướng cho dựng một ngôi nhà chính làm nơi hội họp, nghỉ ngơi của Bác và Trung ương. Nhóm kiến trúc sư tài giỏi do đồng chí Hoàng Linh, Cục trưởng Cục Doanh trại phụ trách được giao vẽ thiết kế ngôi nhà trình lên Bác duyệt.

Năm 1960

Sáng ngày 28 tháng 1 năm 1960 (tức ngày mồng một Tết Canh Tý), Bác Hồ lên Đá Chông thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ bảo vệ và công nhân làm việc trên công trường. Biết một số anh em công nhân là người miền Nam rất nhớ nhà, Bác căn dặn: “Các cô, các chú nhớ miền Nam thì phải làm việc bằng hai để xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.

Ngày 15 tháng 3 năm 1960 ngôi nhà được hoàn thành, Bác đã đi máy bay trực thăng lên dự buổi khánh thành.

Sau khi xây dựng xong, toàn bộ khu vực được giao cho Văn phòng Chủ tịch phủ quản lý và lực lượng bảo vệ là cán bộ, chiến sĩ Đoàn Tân Trào (Công an nhân dân vũ trang). Công trường 5 được đổi tên là K9.

Năm 1961

Đầu tháng 3 năm 1961, Bác Hồ cùng đồng chí Hà Vĩ, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam lên thăm Đá Chông, đồng thời chuẩn bị đón Đoàn đại biểu Phụ nữ Trung Quốc sang thăm và dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ III.

Ngày 13 tháng 3 năm 1961, Bác Hồ cùng Đoàn đại biểu Phụ nữ Trung Quốc do bà Đặng Dĩnh Siêu dẫn đầu lên thăm khu vực Đá Chông. Cùng đi có đồng chí Hà Vĩ, đồng chí Lương Phong (phiên dịch) và một nữ thư ký. Tại đây, bà Đặng Dĩnh Siêu đã trồng hai cây quýt mang từ Trung Quốc sang. Bác và bà Đặng Dĩnh Siêu trồng cây ngọc lan trong khu vườn. Trưa hôm đó, Bác Hồ mời Đoàn đại biểu Phụ nữ Trung Quốc dùng cơm tại nhà khách ở Đá Chông và chụp ảnh lưu niệm với đoàn.

Năm 1962

Nhận lời mời của Trung ương Đảng và Nhà nước ta, Đoàn cán bộ Quân đội Liên Xô do Anh hùng phi công vũ trụ G.M Ti-tốp dẫn đầu sang thăm Việt Nam. Đoàn đã được đón tiếp nồng nhiệt. Bác đã cùng đồng chí G.M Ti-tốp đi thăm nhiều nơi, ở đâu Người cũng phát biểu thể hiện những tình cảm thắm thiết. Đây có lẽ là một vị khách rất đặc biệt, được đón tiếp như một “nguyên thủ quốc gia”, một người đồng chí anh em, niềm tự hào của thành tựu khoa học xã hội chủ nghĩa.

Ngày 24 tháng 1 năm 1962, Bác Hồ và Đoàn cán bộ quân đội Liên Xô đã đi trực thăng lên Đá Chông. Anh hùng vũ trụ G.M Ti-tốp đã trồng cây vàng anh trước ngôi nhà 2 tầng. Bác Hồ và đoàn cán bộ quân đội Liên Xô không nghỉ lại mà đi thăm khu vực này rồi trở về Hà Nội.

Ngày 19 tháng 5, Bác lên làm việc tại Đá Chông. Trước đó, ngày 18 tháng 5 các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh đã lên Đá Chông, buổi tối nghỉ lại để hôm sau lên chúc thọ Bác.

Năm 1963

Ngày 19 tháng 5, Bác lên làm việc tại Đá Chông. Anh em trong tổ bảo vệ và phục vụ tại đây đang chuẩn bị lên nhà 2 tầng chúc mừng ngày sinh lần thứ 73 của Bác, thì ngay từ sáng sớm đã thấy Bác xuống thăm nơi ở của anh em tại khu vực dành cho lực lượng bảo vệ và phục vụ.

Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng lên chúc thọ Bác. Bác cùng đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Phạm Văn Đồng ăn cơm trưa, trao đổi công việc. Sau đó, Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã đi thăm một số xã và gia đình ở trong khu vực, cụ thể:

– Bác đã tới xóm Đồi thăm gia đình cụ Cẩm.

– Đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng đến thăm xóm Sung và thăm xã Đồng Luận, huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ.

– Đồng chí Võ Nguyên Giáp lên làm việc ở K9 và ra thăm xóm Đồi, xã Thuần Mỹ.

Buổi chiều hôm đó, Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị trở về Hà Nội.

Năm 1964

Ngày 20 tháng 9 năm 1964, Bác Hồ lên Đá Chông. Cùng đi có các đồng chí Phạm Văn Đồng và một số đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị. Bác và các đồng chí cùng đi đã trao đổi về tình hình quốc tế và trong nước từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (ngày 5 tháng 8 năm 1964) và một số vấn đề về công tác phòng không nhân dân.

Bác đã trao đổi với các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Trần Bá Đặng, cùng một số cán bộ Binh chủng Công binh và quyết định việc đào hầm trú ẩn tại K9. Trước đó Bộ đội Công binh đã đào hầm phía gần nhà bảo vệ và bể nước (ngay phía sau ngôi nhà 2 tầng), khi Bác lên quan sát địa thế, Bác đã yêu cầu chuyển xuống vị trí gần gốc đa, khu vực nhà kính bây giờ. Theo Bác, phía đó có sự che chắn của đỉnh U Rồng, địch khó có thể đánh phá bằng không quân được.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã bước vào giai đoạn quyết liệt nhất. Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, giặc Mỹ điên cuồng tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc. Những năm tháng này, Trung ương đã đề nghị Bác chuyển tới một nơi an toàn hơn để đề phòng địch đánh vào Hà Nội. Nhưng Người đã từ chối. Người vẫn ở lại Thủ đô Hà Nội cùng Bộ Chỉ huy tối cao lãnh đạo toàn dân đánh giặc. Ở vào những thời điểm cam go ấy, hình ảnh vị lãnh tụ tối cao vẫn ung dung làm việc tại ngôi nhà sàn trong Phủ Chủ tịch là một nguồn sức mạnh lớn lao động viên toàn quân, toàn dân ta quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

2. Thời kỳ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm chiến tranh (từ tháng 9/1969 đến tháng 7/1975)

Năm 1969

9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9, Hồ Chủ tịch qua đời. Thể theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Từ cuối năm 1969, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết định. Đề phòng chiến tranh có thể xảy ra trên phạm vi cả nước, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tìm một vị trí thật yên tĩnh, bí mật, xa Hà Nội, thuận tiện cho di chuyển thi hài Bác khi chiến tranh lan rộng. K9 đã được quyết định chọn là nơi giữ gìn thi hài Bác.

Ngày 10 tháng 9, một số cán bộ của Bộ Tư lệnh Công binh và Tiểu đoàn 144 có mặt tại K9 để khảo sát thiết kế, cải tạo lại công trình và nhận bàn giao lại toàn bộ khu vực do các đơn vị Công an vũ trang và Văn phòng Chủ tịch phủ giao lại. Ban đầu, Ban Chỉ đạo giữ gìn thi hài Bác định sử dụng ngôi nhà kính đã có sẵn để lắp đặt thiết bị máy móc phục vụ nhiệm vụ gìn giữ thi hài Bác ở ngay trên mặt đất. Nhưng về sau, Quân ủy Trung ương quyết định phải cải tạo cả hệ thống hầm ngầm đểđưa thi hài Bác xuống khi chiến tranh có thể lan rộng tới khu vực này.

Trong điều kiện thi công khó khăn, phải bảo đảm bí mật, thời gian gấp, nhưng lực lượng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 259, Bộ Tư lệnh Công binh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngày 15 tháng 12 năm 1969, công trình phục vụ nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác hoàn thành. K9 được đổi thành K84. Đoàn 69 (đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng) đã vinh dự được giao nhiệm vụ giữ gìn tuyệt đối và an toàn thi hài Bác tại K84.

Sáng 24 tháng 12 thi hài Bác được chuyển từ công trình 75A ở Thủ đô Hà Nội lên K84. Từ đó, K84 trở thành nơi giữ gìn thi hài Bác chủ yếu trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.

Năm 1970

Ngày 23 tháng 5, đoàn chuyên gia của Viện thi hài Lênin sang Hà Nội. Hội đồng khám nghiệm thi hài Bác gồm các chuyên gia y tế Liên Xô và Việt Nam đã kết luận: Thi hài Bác vẫn được bảo vệ giữ gìn rất tốt trong điều kiện ở một nước khí hậu nhiệt đới và phải di chuyển xa.

Ngày 23 tháng 8, các đồng chí Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng dẫn đầu lên K84 viếng Bác. Sau đó đồng chí Lê Duẩn đã gặp mặt thăm hỏi, động viên các đồng chí chuyên gia y tế Liên Xô và cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 đang làm nhiệm vụ tại K84.

22 giờ đêm ngày 3 tháng 12, sau cuộc tập kích của không quân Mỹ vào Sơn Tây (ngày 21 tháng 11 năm 1970) thất bại, để đảm bảo an toàn thi hài Bác được di chuyển trở về công trình 75A.

Năm 1971

Tháng 8 lũ lụt lớn xảy ra ở miền Bắc, Thủ đô Hà Nội bị đe doạ nghiêm trọng. 11 giờ trưa ngày 19 tháng 8, Đoàn 69 được lệnh hành quân di chuyển đưa thi hài Bác từ công trình 75A trở lại K84.

Cũng trong năm 1971, gia đình Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và gia đình Thủ tướng Phạm Văn Đồng lên nghỉ ở K84.

Năm 1972

Đế quốc Mỹ sử dụng máy bay B52 đánh phá miền Bắc ác liệt. Ngày 11 tháng 7 thi hài Bác được di chuyển từ K84 đến H21 bằng đường sông trên chiếc xe PAP.
Năm 1973

Ngày 8 tháng 2 thi hài Bác được di chuyển từ H21 trở lại K84. Đây là lần thứ 5 di chuyển thi hài Bác.

Trong thời gian thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ gìn tại K84, nhiều đồng chí Trung ương Cục miền Nam ra miền Bắc công tác như: Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt… đã lên K84 viếng Người, quyết tâm thực hiện “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” theo lời Người căn dặn.

Năm 1975

Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4-1975), miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tổ quốc thống nhất, toàn Đảng, toàn dân ta mong đợi được đón Bác về Lăng. Đúng 16 giờ ngày 18 tháng 7 đoàn xe đặc biệt chở thi hài Bác được lệnh xuất phát rời K84 về Thủ đô Hà Nội.

3. Thời kỳ bảo vệ, giữ gìn và hoạt động của Khu di tích Đá Chông (từ tháng 8-1975 đến nay)

Sau khi thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đưa về Lăng của Người tại Ba Đình lịch sử. Nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn, tôn tại Khu di tích được Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng giao cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Đội 285 (tiền thân của Đoàn 285 hiện nay).

Đầu năm 1995, thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII); sau khi báo cáo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức tổ chức đón tiếp các cơ quan, đơn vị, đoàn thể địa phương và cả nước đến tham quan Khu di tích Đá Chông. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi lên thăm Khu di tích đã trồng cây lưu niệm.

– Ngày 16 tháng 8 năm 1992, đồng chí Võ Văn Kiệt – nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng (Thủ tướng Chính phủ) lên thăm và trồng cây lưu niệm tại Khu di tích.

– Ngày 01 tháng 10 năm 1993, đồng chí Vũ Kỳ – nguyên Thư ký của Bác Hồ lên thăm và nói chuyện tại Khu di tích.

– Từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 9 năm 1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh thăm và trồng cây lưu niệm tại Khu di tích.

– Ngày 2 tháng 7 năm 1995, Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Khu di tích và trồng cây lưu niệm.

– Thủ tưởng Phan Văn Khải đã nhiều lần lên thăm Khu di tích và trồng cây lưu niệm.

– Ngày 07 tháng 01 năm 1998, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên thăm Khu di tích, trồng cây và ghi sổ lưu niệm.

– Ngày 21 tháng 6 năm 1998, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu lên thăm và trồng cây lưu niệm tại Khu di tích.

– Ngày 02 tháng 9 năm 1999, Chủ tịch nước Trần Đức Lương lên thăm và trồng cây lưu niệm tại Khu di tích…

– Đặc biệt, ngày 16 tháng 5 năm 2001, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã trồng cây lưu niệm và dự lễ đặt tấm biển đồng kỷ niệm nơi giữ gìn thi hài Bác trong 6 năm chiến tranh chống Mỹ: “NƠI ĐÂY ĐÃ GIỮ GÌN THI HÀI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1975“.

(Còn nữa)

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ nhất: C

Phần thứ nhất: Nghiên cứu xác định giá trị lịch sử – văn hóa khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông (tiếp theo)

oOo

III. XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ LỊCH SỬ – VĂN HOÁ CỦA KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG

1. Giá trị lịch sử của Khu di tích

Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời tận tuỵ hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân, cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Phẩm chất và đạo đức đó mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho cán bộ và nhân dân ta soi chung. Người cũng đã từng nói với Mác-ta Rô-bát (phóng viên báo Gramma – Cu Ba): “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi“.

Khi Hồ Chủ tịch qua đời, đồng bào và chiến sĩ ta vô cùng thương tiếc Người, bạn bè quốc tế cũng chia sẻ với chúng ta niềm đau thương vô hạn.

Đảng và nhân dân ta đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người tại Ba Đình. Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và thể hiện tình cảm kính yêu của nhân dân ta đối với con người vĩ đại đã sáng lập, rèn luyện Đảng ta, xây dựng Nhà nước ta, mang lại quyền làm người cho bao kiếp đời nô lệ lầm than. Trên khắp mọi miền đất nước, nhân dân đã bảo tồn, xây dựng các di tích, công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khu di tích Đá Chông – K84 là một Khu di tích đặc biệt trong hàng ngàn khu lưu niệm và công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giá trị lịch sử của Khu di tích Đá Chông được thể hiện:

Một là, khu căn cứ K9 là nơi Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã sống và làm việc.

Vào những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, cách mạng nước ta đã bước vào một thời kỳ lịch sử vĩ đại. Miền Bắc sau những năm hàn gắn vết thương chiến tranh, bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với khí thế dời non lấp biển của “Sóng Duyên hải”, “Gió Đại phong”, “Cờ Ba nhất”. Trong khi đó ở miền Nam, đồng bào ta đang rên xiết dưới ách thống trị của Mỹ – Diệm. Với đạo luật phát-xít 10-59, bọn giặc đã gây ra những vụ tàn sát đẫm máu, hung hăng hô hào lấp sông Bến Hải, “Bắc tiến” tìm diệt cộng sản. Sau Hội nghị Trung ương 15 (tháng 1 năm 1959) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, xác định 2 nhiệm vụ chiến lược và vạch rõ con đường cách mạng của miền Nam. Phong trào cách mạng miền Nam đã chuyển biến với những bước thần kỳ. Miền Nam hướng về Trung ương Đảng và Bác Hồ với niềm tin son sắt, vững tin vào người chèo lái con thuyền cách mạng đang vượt qua ghềnh thác.

Theo ông Vũ Kỳ, K9 là một trong 2 khu căn cứ được gọi là Nhà khách Trung ương. Đây là nơi dành cho các Hội nghị của Bộ Chính trị. Khu nhà khách Trung ương ở Tam Đảo là nơi dành cho Hội nghị của Quân ủy Trung ương. K9 là nơi Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị, những người bạn chiến đấu gần gũi nhất, những người học trò xuất sắc nhất đã đến làm việc và nghỉ ngơi. Trong những buổi làm việc đó nhiều vấn đề trọng đại của đất nước đã được bàn và quyết định ở đây.

Tại tầng 1 của ngôi nhà sàn đã từng diễn ra Hội nghị Bộ Chính trị. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một lần tới thăm Khu di tích vào năm 1998 đã bồi hồi xúc động chỉ cho mọi người biết chiếc ghế Bác đã từng ngồi chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị. Chiếc ghế lớn kê ở đầu bàn là nơi Bác ngồi. Phía tay phải Bác ngồi là đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và các đồng chí khác. Phía tay trái Bác là đồng chí Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp. Đại tướng đã ngồi vào chỗ ngồi trước đây và trầm ngâm nhớ tới Bác.

Hai là, Khu di tích Đá Chông, nơi thể hiện tình cảm cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bầu bạn quốc tế.

Ngôi nhà sàn là nơi Bác đã tiếp hai người bạn quý: Bà Đặng Dĩnh Siêu và Anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.M Ti-tốp.

Người khách nước ngoài thứ nhất Bác Hồ đã tiếp tại K9 đó là Bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân Thủ tướng Chu Ân Lai (Trung Quốc).

Trong những năm tháng hoạt động ở Quảng Đông, bà Đặng Dĩnh Siêu là người đã hoạt động cùng với Bác. Sau này bà Đặng Dĩnh Siêu giữ chức vụ Phó Chủ tịch Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Với Bác, Thủ tướng Chu Ân Lai có mối quan hệ huynh đệ đặc biệt thân tình từ khi hai người cùng hoạt động trong Quốc tế cộng sản. Chu Ân Lai thường gọi Nguyễn ái Quốc là anh và xưng là em. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Thủ tướng Chu Ân Lai đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc cử làm Trưởng đoàn sang Việt Nam chia buồn và dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người khách thứ hai được Bác tiếp tại K9 là Anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.M Ti-tốp. Đây là người đã lái con tàu vũ trụ Phương Đông 2 bay 17 vòng quanh trái đất, làm nên một điều kỳ diệu nhất trong lịch sử loài người. Đồng chí G.M Ti-tốp sang thăm mang theo tình đoàn kết của nhân dân Liên Xô, đồng thời cũng mang theo kinh nghiệm thi đua hoàn thành kế hoạch Nhà nước do Đảng, Chính phủ Liên Xô đề ra.

Bác và Trung ương đã đón đồng chí G.M Ti-tốp với nghi thức trọng thể, nồng nhiệt và thắm tình hữu nghị anh em. Thay mặt Đảng và Nhà nước ta, Hồ Chủ tịch đã trao tặng G.M Ti-tốp danh hiệu Anh hùng lao động. Người đã phát động phong trào thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch và đề ra phần thưởng: Đơn vị nào, xí nghiệp nào, hợp tác xã nào vượt mức kế hoạch tốt nhất thì được lấy tên Anh hùng G.M Ti-tốp.

Sau này đồng chí G.M Ti-tốp là Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Nga và là người có nhiều đóng góp tích cực xây đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân 2 nước Việt Nam và Liên Xô.

Sự kiện Bác Hồ tiếp hai đoàn khách quốc tế ở K9, ngoài nghi lễ ngoại giao, đây là một cử chỉ thể hiện tình cảm quốc tế cao cả và sự thân tình của Bác đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Liên Xô, Trung Quốc. Điều này có ý nghĩa đặc biệt vào thời điểm mối quan hệ Liên Xô, Trung Quốc đang có sự bất hoà.

Ba là, Đá Chông là một địa danh lịch sử thiêng liêng, nơi đã bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong những năm chiến tranh ác liệt.

Sau những ngày tang lễ, thi hài Bác được giữ gìn ở 75A. Năm 1969, cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn đánh gãy xương sống Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã tăng cường viện trợ cho quân ngụy và tuyên bố sẵn sàng ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam.

Trước tình hình đó, để đảm bảo an toàn tuyệt đối thi hài Bác, Bộ Chính trị đã quyết định xây dựng một công trình khác cũng như 75A nhưng ở xa Hà Nội, bí mật, yên tĩnh, đi lại thuận tiện để khi cần sẽ di chuyển thi hài Bác tới đó giữ gìn bảo đảm an toàn. Sau nhiều lần đi khảo sát địa hình, cân nhắc tính toán các mặt, K9 đã được chọn làm nơi giữ gìn thi hài Bác. Bộ đội Công binh đã được giao nhiệm vụ cải tạo và thi công hệ thống công trình phục vụ cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác.

Những năm chiến tranh ác liệt, để giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, sự giúp đỡ của chuyên gia y tế Liên Xô, Đoàn 69 đã tổ chức 5 cuộc hành quân di chuyển thi hài Bác. Trong những cuộc hành quân đó có 3 lần thi hài Người được chuyển về K84 và thời gian Bác yên nghỉ ở K84 là lâu nhất (4 năm rưỡi trên tổng số 6 năm chiến tranh) trước khi đón Bác về Lăng, nơi yên nghỉ vĩnh hằng của Người.

Ngày nay, nơi Bác yên nghỉ trong những năm chiến tranh gian khổ đã trở thành một địa danh lịch sử thiêng liêng, in dấu những năm tháng không bao giờ quên của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 và tinh thần quốc tế trong sáng của các chuyên gia y tế Liên Xô.

Bốn là, Khu di tích lịch sử – văn hóa Đá Chông, nơi thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Bác Hồ kính yêu.

Những Khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi Bác đã sống và hoạt động cách mạng được trân trọng giữ gìn ở nhiều địa phương trên đất nước ta và cả ở nước ngoài. Đó chính là thể hiện tình cảm kính yêu đời đời biết ơn và sự ngưỡng mộ, thành kính của đồng bào ta và bạn bè quốc tế đối với Bác Hồ. Tại những khu di tích đó, khi được trực tiếp tiếp xúc với những bằng chứng sát thực nhất thông qua cảnh quan môi trường và những hiện vật lịch sử, mọi người càng hiểu biết đầy đủ hơn về cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thật cảm động khi chúng ta biết được vào những năm tháng Bác yên nghỉ ở Khu di tích Đá Chông, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, những người học trò xuất sắc của Người và cả những người con ưu tú của miền Nam đang chiến đấu đã đến đây kính cẩn viếng Người, nguyện thực hiện lời thề trước lúc vĩnh biệt Người.

Sau khi đón Bác về Lăng, cùng với việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn Khu căn cứ K84. Cũng trong thời gian này, đáp ứng nguyện vọng của các đoàn cán bộ và nhân dân, được phép của cấp trên, đơn vị đã tổ chức đón tiếp một số đoàn đến thăm quan, nghiên cứu tại Khu căn cứ K84.

Khu di tích Đá Chông là một di tích lịch sử còn ở dạng nguyên khai. Những hiện vật ở đây đều là hiện vật gốc, được giữ gìn hầu như nguyên vẹn như khi Bác Hồ còn sống và làm việc tại đây. Cụm từ “Khu di tích lịch sử Đá Chông” mới chỉ được gọi gần đây. Vì vậy, chức năng tổ chức thăm quan tại Khu di tích một cách nền nếp cũng mới chỉ được thực hiện trong những năm gần đây.

Năm là, Khu di tích Đá Chông còn là một căn cứ dự phòng của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những công trình tuyệt mật của quốc gia luôn đặt ra yêu cầu dự phòng cao về an ninh, kỹ thuật và phải có những địa điểm sơ tán để sẵn sàng di chuyển khi có tình huống đặt ra.

Trước đây, trong những năm chiến tranh, Bộ Chính trị đã giao Quân ủy Trung ương tìm một vị trí bí mật, xa Hà Nội và thuận tiện cho việc di chuyển thi hài Bác khi chiến tranh lan rộng. Các nhà chiến lược quân sự đã chọn K9 là nơi xây dựng một công trình cho việc bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Theo Thiếu tướng Trần Kinh Chi, sở dĩ K9 được chọn vì những lý do sau:

Thứ nhất, K9 nằm trong dải rừng nối liền với núi Ba Vì. Từ trên cao nhìn xuống, các công trình của K9 nằm trong một vệt rừng và cũng không có những đặc điểm địa hình khác biệt, dễ bị chú ý, nên có nhiều thuận lợi trong việc giữ bí mật.

Thứ hai, K9 không quá xa Thủ đô Hà Nội, di chuyển thi hài Bác tương đối thuận lợi, lại nối liền với các khu vực có địa hình rừng núi an toàn, có thể cơ động trong những tình huống đặc biệt.

Thứ ba, có một điều không được nói lên thành lời, nhưng trong tâm thức ai cũng biết: Nơi đây lúc sinh thời, Bác Hồ rất yêu thích.

Mặc dù nơi đây điều kiện còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn, nhưng vẫn là nơi giữ gìn thi hài Bác Hồ chủ yếu trong những năm chiến tranh ác liệt.

2. Giá trị văn hóa của Khu di tích

Một là, Khu di tích Đá Chông – nơi tiếp nối mạch nguồn lịch sử – văn hóa của thời đại Hồ Chí Minh.

Địa danh Đá Chông nằm ở nơi bắt nguồn, nơi tiếp nối của mạch nguồn lịch sử – văn hóa, bắt đầu từ thời đại Hùng Vương. Đứng trên núi tổ Ba Vì ta có thể thấy Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, phóng xa tầm mắt về phía Bắc là miền trung du đất tổ Vua Hùng, phía sau là đồng bằng Bắc Bộ, Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Trên vùng đất địa linh nhân kiệt này có biết bao huyền thoại, tồn tại rất nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử – văn hóa. Chắc chắn vùng đất này chứa đựng những trầm tích lịch sử – văn hóa đặc biệt, mà một linh cảm đặc biệt đã phát hiện ra và để lại dấu ấn của mình.

Đây là một vùng đất cổ xưa gắn với những huyền thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh của thời đại Hùng Vương. Các nghiên cứu khoa học đã khẳng định rằng thời đại Hùng Vương là thời đại có thật trong lịch sử Việt Nam, danh xưng này khởi đầu từ truyền thuyết và ghi chép có phần hoài nghi trong các bộ sử biên niên của nước ta thời trung đại. Nhưng, gần đây giới sử học Việt Nam đã làm sáng tỏ thời đại có thật bị huyền thoại hóa này bằng hàng trăm di chỉ khảo cổ học thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ. Khởi đầu thời đại Hùng Vương theo ghi chép trong sách Việt Sử lược là khoảng vào năm 696-682 trước công nguyên, tương ứng với văn hóa khảo cổ học Gò Mun. Tiếp nối di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên có niên đại vào khoảng đầu thiên niên kỷ II trước công nguyên, với đỉnh cao của nghề gốm nguyên thủy nước ta, các hoa văn trên gốm đạt đến trình độ tuyệt diệu, phức tạp, đối xứng sinh động. Đặc biệt được phân bổ rộng khắp từ Phú Thọ, Vĩnh Phúc đến Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh.

Một vài địa danh văn hóa quen thuộc tỉnh Hà Tây chúng tôi dẫn ra đây có thể chứng minh cho nhận định rằng Hà Tây là vùng đất huyền thoại, nơi cư trú của người Việt cổ.

Núi Tản sông Đà, rừng quốc gia Ba Vì, nơi có đền thờ Thánh Tản Viên, một trong bốn vị bất tử của nước ta. Núi Tản được gọi là “Núi Tổ của nước ta đó” (theo Dư địa chí). Năm 1999 đã xây dựng đền thờ Bác Hồ trên đỉnh Vua (ở điểm cao 1.296m).

Ao Vua, thuộc xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây là một danh thắng, từng lưu giữ nhiều dấu vết Sơn Tinh. Những hiện vật được phát hiện cho thấy các dấu vết của quặng đồng, có thể ở đây có mỏ đồng hoặc nơi luyện đồng từ thời cổ.

Ấp Chông, thuộc xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũng phát hiện dụng cụ bằng đồng và hợp kim vào thiên niên kỷ I trước công nguyên.
Đồng Mô, thuộc xã Trầm Lộng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây là danh thắng, một điểm du lịch. Ở đây cũng phát hiện một thùng bằng đồng có hoa văn, hai quai hổ phù ngậm vòng.

Trống đồng, phát hiện ở Sơn Tây được lưu giữ ở Bảo tàng lịch sử, thuộc loại trống nhóm A. Tại đây, năm 1400 nhà Hồ đã chọn Sơn Tây xây chiến lũy thành cổ để chống giặc Minh.

Hai là, dấu ấn của một con người có đạo đức, phong cách sống cao đẹp, giản dị

Nói đến phong cách sống của Bác, Giáo sư Phan Ngọc đã có cách lý giải rất xác đáng. Giáo sư cho rằng phong cách sống là một kiểu lựa chọn cách sống. Một triết nhân phương Đông, kiểu lựa chọn này thể hiện đầu tiên ở phong cách sống cho chính mình. Sự nghiệp và cuộc đời một người gắn bó làm một, không có sự phân chia thành hai phần. Ở phương Tây, nhiều khi người ta xem xét thành hai phần, phần thứ nhất là những công việc họ làm, phần thứ hai là cuộc đời của chính họ. Một con người phương Đông muốn xây dựng một lý thuyết, trước hết chọn một cách sống và cố gắng chung thủy với sự lựa chọn ấy trong mọi hoàn cảnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa thế giới và trước tiên Người là nhà văn hóa phương Đông. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ở tầm cao, chiều sâu của một thiên tài nhiều mặt, đồng thời được thể hiện nhuần nhuyễn, mẫu mực trong phong cách đạo đức sống của Người.

“Hồ Chủ tịch không có cái gì riêng, cái gì của nước, của dân là của Người. Quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân, là sự lo lắng hàng ngày của Người” (Phạm Văn Đồng).

Chúng ta đã biết, sau hòa bình lập lại, khi chuyển đến Phủ Chủ tịch, Bác chọn một căn phòng của một người thợ điện (ngày trước gọi là phu phen trong Phủ toàn quyền). Bác đã ở căn phòng đó 4 năm từ năm 1954 đến năm 1958. Bây giờ căn phòng của người thợ điện ấy là một hiện vật quý trong Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Năm 1958, Bác đi thăm một số nước gần 2 tháng, nhân đấy mọi người mới làm một cái nhà sàn. Lúc về, Bác nhận cái nhà sàn gỗ ấy mới không ở căn buồng người thợ điện (theo đồng chí Việt Phương, Thư ký Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Vậy khi Bác nhắm hướng, duyệt thiết kế và cho xây dựng ngôi nhà 2 tầng ở Đá Chông là Bác quyết định xây nhà cho Trung ương hội họp và nghỉ ngơi. Khi ta gọi một cách thân thuộc là nhà của Bác thì đã hiểu đó là nhà dành cho Trung ương Đảng.

Ngôi nhà hai tầng mái ngói đỏ có hàng cột tròn chạy xung quanh trông gần giống như ngôi nhà sàn trong Phủ Chủ tịch.

Con người Bác, cuộc sống của Bác thật giản dị, luôn chăm lo cho mọi người, Bác sống một cuộc sống của người bình thường giản dị, không bị chi phối bởi tiện nghi cầu kỳ. Việc gì Bác tự làm được thì không cần người giúp, cho nên bên cạnh Bác, người giúp việc và phục vụ có thể đếm trên đầu ngón tay. Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng chỉ rõ: Điều rất quan trọng cần phải làm nổi bật là sự nhất quán giữa đời hoạt động chính trị long trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản dị và khiêm tốn của Hồ Chủ tịch.

Ba là, hiện thân của nhà văn hóa Hồ Chí Minh với tư tưởng “con người sống hòa hợp với thiên nhiên”

Bác Hồ đến khu vực Đá Chông, từ tâm thức Người đã có ý nguyện riêng tạo ra một nơi sống và làm việc cho mọi người và bản thân mình, nơi cảnh quan đẹp hài hoà, hữu ích. Nơi này đã trở thành một nơi mang dấu ấn văn hóa của Người đã tạo ra nó. Hay nói như cách định nghĩa của M. Goóc-ki: Văn hóa là “thiên nhiên thứ hai”.

Trước tiên, phải nói về ngôi nhà 2 tầng (nhà sàn). Gọi là “nhà sàn” nhưng nó mang dáng dấp của những ngôi nhà sàn nhỏ của Bác ở chiến khu Việt Bắc. Phần lớn các ngôi nhà sàn dựng lên bằng cọc trên những dòng suối để phòng tránh thú dữ, rắn rết. Những hàng cột xung quanh đã nâng đỡ ngôi nhà, tạo ra không gian thoáng rộng cho tầng dưới và dáng vẻ vững chắc của những hàng cột lại gợi cho ta liên tưởng đến những hàng cột trong các ngôi đền thờ cổ La Mã.

Qua sân nhà là con đường đi xuống bờ sông, từng bậc thang được trải đầy sỏi cuội. Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể lại: “Người thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh thoáng uống một ly rượu thuốc trong bữa ăn, tránh ăn no, không ngủ trưa và hoạt động thân thể, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần đi vác củi cho đồng bào”. Khi thi công con đường này, anh em muốn lát gạch hoặc láng bê tông cho phẳng, nhưng Bác đã yêu cầu đổ sỏi cuội cho mát và để khi đi bộ bàn chân sẽ tiếp xúc với sỏi cuội cho “chân cứng đá mềm”, sức thêm bền bỉ.

Một nét đặc sắc nữa của Khu vực Đá Chông là cảnh quan môi trường cho thấy Người đã ứng xử với thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên như thế nào?

Khi xây dựng các ngôi nhà, làm đường sá Người đã yêu cầu giữ lại tất cả các cây trồng lấy gỗ. Các ngôi nhà, đường sá đều được làm trên những khoảng trống không có cây trồng. Bác còn tạo những mảnh vườn nhỏ để trồng các loại cây nhãn, quế, vải, bưởi, trồng rau xanh và trồng hoa. Hai loại cây được trồng ở những nơi thường xuyên Người có thể nhìn thấy được đó là cây vú sữa của miền Nam thân yêu và cây hoa râm bụt của quê hương. Cây vú sữa được trồng ngay trước cửa sổ bàn làm việc; cây hoa râm bụt trồng ở con đường bậc thang ngày ngày Bác vẫn đi dạo rèn luyện sức khỏe.

Có thể nói, với tư cách là chủ thể, Bác đã không chỉ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ mà còn cải tạo, điểm tô cho thiên nhiên, mang thiên nhiên trở lại phục vụ con người, biến thiên nhiên trở thành đối tượng của cái đẹp dành cho con người thưởng thức, hưởng thụ.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ hai: A

Thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo và tổ chức hoạt động giáo dục, tuyên truyền khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông

oOo

I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO CÁC HIỆN VẬT TẠI KHU DI TÍCH

1. Các yếu tố thiên nhiên, xã hội tác động ảnh hưởng đến công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật

Đá Chông có, diện tích 234ha chủ yếu là đồi rừng, trong đó có 15ha ao hồ; phía Bắc giáp xã Thuần Mỹ, phía Nam giáp xã Minh Quang, phía Đông giáp xã Ba Trại thuộc huyện Ba Vì, phía Tây bao bọc bởi Sông Đà, vượt qua bên kia sông là xã Đồng Luận thuộc huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.

Hệ thống giao thông thuỷ bộ từ Đá Chông đi mọi nơi đều thuận tiện “tiến công, thoái thủ, nhanh chóng, bí mật, bất ngờ”. Theo quốc lộ 87 qua Sơn Tây về Hà Nội có thể đi theo đường 32 hoặc đường Láng – Hòa Lạc. Cách Đá Chông gần 1 km là đường đi Ba Chẹ, nối với Quốc lộ số 6 đi Hoà Bình, Lai Châu, Điện Biên. Đường thuỷ ngược Sông Đà lên vùng núi chiến khu hoặc xuôi về đồng bằng Bắc Bộ. Đường không, có một bãi đất bằng phẳng ngay dưới chân đỉnh U Rồng có thể làm sân bay trực thăng.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Đá Chông để làm nơi làm việc, nghỉ ngơi của Bác và Trung ương, hệ thống nhà cửa, đường sá, hầm trú ẩn… được xây dựng và củng cố, bảo đảm an toàn cho Bác và Trung ương.

Trong những năm chiến tranh từ 1969 đến 1975, thi hài Bác được gìn giữ tại Đá Chông. Hệ thống công trình và nhà cửa được tu sửa phục vụ cho nhiệm vụ chính trị: gìn giữ lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ năm 1995 đến nay, Đá Chông là nơi đón tiếp, tuyên truyền phục vụ cán bộ, nhân dân đến tham quan, tưởng niệm Bác. Hàng năm, Khu di tích đều được tu bổ, tôn tạo khang trang hơn.

Toàn thể quần thể Khu di tích được chia thành 4 khu theo thứ tự: A, B, C, D. Những hiện vật lịch sử gắn liền với hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng; những hiện vật liên quan đến sự nghiệp giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tập trung ở Khu A. Các khu khác là vị trí đóng quân bảo đảm phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị hiện nay.

Trải qua những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt và hàng chục năm sau hoà bình, cốt nguyên thuỷ và chất lượng các công trình cơ bản không thay đổi, do vậy, di tích vẫn giữ được nét đặc trưng như khi mới xây dựng.

Các yếu tố tự nhiên

Điều kiện địa hình thuận lợi cho chiến lược quốc phòng an ninh nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề khó khăn, ảnh hưởng đến quá trình xây dựng, bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Đá Chông. Mặt khác, điều kiện khí hậu, thời tiết cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc bảo quản giữ gìn các hiện vật: độ ẩm cao, nhất là vào mùa mưa, tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển làm ảnh hưởng tới hệ thống công trình và hiện vật.

Nhiệt độ hàng năm vào mùa hè có lúc lên đến 41,60C; mùa đông nhiệt độ xuống thấp; mùa xuân độ ẩm lên đến 88%, . Mùa mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8, lượng mưa hàng năm 1682 – 1798mm, có lúc xảy ra giông bão và lốc xoáy. Trong điều kiện như vậy, các vật liệu cấu thành di tích chịu tác động chu kỳ, chuyển từ trạng thái vật lý này sang trạng thái đối cực khác (nóng, lạnh, khô, ẩm, co, nở), các vật liệu như: gỗ, vữa, vôi, ngói…đều rất nhạy cảm với biến động của nhiệt độ và độ ẩm.

Ánh nắng mặt trời thường xuyên tác động đến các công trình một cách chậm chạp và khó nhìn thấy. Sự thay đổi thời tiết giữa ban ngày với ban đêm, giữa mùa nóng với mùa khô, mùa mưa, mùa lạnh đã làm cho các vết nứt trên các hiện vật di tích xuất hiện. Trên mặt ngoài tường của những ngôi nhà xây dựng bằng gạch, đá gây ra hệ số nở khác nhau.

Do tác động của nước mưa, những bộ phận bằng gỗ, bằng sắt đã bị han gỉ, long lở và một số viên gạch đã xuất hiện các vết nứt nhỏ. Những nơi ẩm không có ánh nắng mặt trời chiếu sáng, các loài côn trùng, nấm mốc phát triển. Ở những chỗ sử dụng nhiều vật liệu gỗ, bị đọng nước (như chỗ nối của mái dốc thoải và các tấm ngói, lá lớp trên mái nhà) bị thủng, nước ngấm vào đòn tay hay các bộ phận mái đỡ khác cũng sẽ bị mục hoặc nấm mốc làm cho sức bền và độ chịu lực của các bộ phận yếu dần đi.

Tác động sinh học

Đá Chông nằm trong khu vực có hoạt động mạnh của côn trùng, nấm mốc và đặc biệt là các yếu tố phá hoại các di tích kiến trúc bằng gỗ. Bên cạnh đó việc độ ẩm cao là môi trường cho các nấm mốc xâm thực, phân giải các độc tố trong gỗ, tạo điều kiện cho mối, côn trùng phá hoại. Ngoài mối và nấm còn có các loại cỏ cây dại, rêu là mối nguy cơ ăn mòn sinh học thường xuyên. Các cửa, sàn, lan can gỗ hàng năm đơn vị đã có các đợt diệt mối, côn trùng, sâu bọ nhưng do tốc độ phát triển của chúng quá nhanh dẫn đến một số công trình bị xuống cấp và mục ruỗng như: Nhà hậu cần, khung cửa nhà sàn, ngói, tay đỡ mái nhà… Những hạng mục này năm 2000 đã được tu bổ, và năm 2006 có sự tu sửa lớn đối với khu vục nhà hậu cần, nhà trưng bày hiện vật.

Ảnh hưởng của môi trường đến các loại vật liệu

Gỗ được sử dụng ở các công trình tai Khu di tích chủ yếu là: gỗ lim, lát, dổi, chất lượng gỗ rất tốt, được coi là vật liệu có tính cơ lý cao và có độ bền. Tuy nhiên sau nhiều năm dưới sự tác động của môi trường khắc nghiệt thì sự xâm thực của côn trùng là không tránh khỏi. Những tác động xâm thực của môi trường và sinh học đó gây cho gỗ bị rỗng, thủng phần trong, làm giảm khả năng chịu lực. Các loại sản phẩm đất nung bao gồm: gạch xây, gốm có men hoặc không men, ngói các loại, gạch lát, gạch trang trí các loại, vôi vữa, xi măng, các vật liệu bằng đá tự nhiên, dùng để xây máng, lát nền, xây tường, lan can, trang trí; các vật liệu bằng kim loại như: Đồng, sắt, nhôm… Các vật liệu bằng sứ, kính; các vật liệu có nguồn gốc thực vật và khoáng chất để trang trí như bột màu, nhựa thông… Các loại vật liệu trên đều bị lão hóa, biến chất dưới tác động của môi trường tự nhiên. Sự thoái hóa này ngày càng xảy ra nhanh và mạnh hơn nếu vật liệu xuống cấp, trực tiếp tiếp xúc với thiên nhiên: gạch ngói bị rêu mốc, mùn mục, mất men, bào mòn; kim loại bị han gỉ, gẫy; sơn bị bong tróc, mất màu, tường vôi bị bục rữa.

Quá trình bị huỷ hoại của vật liệu dưới sự tác động của tự nhiên là nguyên nhân chính, ngoài ra còn do ý thức giữ gìn bảo quản và điều kiện khách quan tác động hạn chế việc tôn tạo, bổ sung dẫn đến sự xuống cấp của công trình. Việc nghiên cứu để phòng chống, giảm thiểu ảnh hưởng của thiên nhiên cần được tính đến trong biện pháp trùng tu, bảo tồn, nhằm nâng cao chất lượng tuổi thọ của toàn bộ di tích và từng công trình.

Các yếu tố xã hội

Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở khu vực Đá Chông tương đối ổn định; nhân dân đa số là thuần nông, trung thành với cách mạng, có trách nhiệm đối với việc bảo vệ Khu di tích. Đó là điều kiện thuận lợi rất lớn trong việc phối hợp bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa, lịch sử của Khu di tích.

Bên cạnh đó còn có những mặt trái đã tác động đó là: Đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn và ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn Khu di tích chưa cao, do vậy một số người dân chấp hành không nghiêm quy định bảo vệ và giữ gìn Khu di tích (vào khu vực Đá Chông chăn thả trâu bò, chặt cành lấy củi…). Những năm gần đây, ở khu vực Đá Chông cũng đã xuất hiện một số tệ nạn xã hội. Điều này đã ảnh hưởng đến việc bảo vệ an toàn tuyệt đối Khu di tích, phòng chống cháy rừng và giữ gìn trật tự an ninh địa bàn đóng quân của đơn vị.

2. Những hiện vật tại Khu di tích Đá Chông

– Những hiện vật gắn liền với thời kỳ Bác Hồ và Trung ương làm việc tại Đá Chông

Ngôi nhà 2 tầng

Ngôi nhà 2 tầng được thiết kế xây dựng trên một quả đồi cao ở Khu A, phỏng theo kiểu nhà sàn. Nhà này do Cục Doanh trại – Tổng cục Hậu cần thiết kế và thi công. Ngôi nhà được xây vào năm 1959, khánh thành ngày 15 tháng 3 năm 1960 và vẫn thường được gọi với tên quen thuộc là ngôi nhà sàn.

Ngôi nhà 2 tầng được xây dựng theo hình chữ L, bằng gạch, trát vữa và quét ve màu xanh nhạt, với diện tích là 275 m2.

Tầng một của ngôi nhà được bố trí làm phòng họp, trang thiết bị gồm bàn, ghế, quạt trần. Hệ thống cửa được đẩy ra, vào trên ray, bệ cửa dùng làm ghế ngồi khi cần thiết. Tại ngôi nhà này, Bác đã tiếp khách quốc tế và tổ chức họp bàn những vấn đề quan trọng của đất nước.

Tầng hai gồm 4 phòng: Phòng Bác nghỉ, phòng họp nhỏ và 2 phòng khách. Phòng Bác nghỉ được đặt những đồ dùng đơn giản, quen thuộc. Chiếc đệm cỏ của đồng bào Sơn La tặng Bác; chiếc đèn bàn, tấm thảm len là quà tặng của Trung Quốc. Hai phòng khách được bố trí ngay chính diện ngôi nhà với tiện nghi và đồ dùng giống nhau.

Phía Tây ngôi nhà có căn hầm trú ẩn được xây dựng cùng lúc với xây dựng ngôi nhà 2 tầng. Hầm được đào sâu xuống lòng đất, đề phòng máy bay địch ném bom xuống khu vực.

Ngôi nhà phục vụ

Phía sau ngôi nhà 2 tầng là nhà phục vụ số 1 và số 2. Mỗi nhà có 4 gian, dùng để bố trí nơi nghỉ của bộ phận phục vụ; nhà kho; bếp, phòng ăn và phòng tắm.

Con đường bậc thang chạy từ chân đồi lên ngôi nhà 2 tầng

Con đường này có 81 bậc, được xây bằng gạch. Từng bậc và chiếu nghỉ được rải sỏi cuội. Hai bên đường trồng 2 hàng râm bụt, hiện nay còn một số cây râm bụt được trồng từ những năm đầu.

Vườn cây quanh nhà 2 tầng

Trước sân ngôi nhà 2 tầng trồng 2 cây vải, xung quanh gốc vải bây giờ đã xây lại. Những khi tiếp khách ở đây, buổi trưa Bác kê một chiếc ghế mây và nằm nghỉ bên gốc cây vải bên trái.

Phía trước ngôi nhà, có một khu vườn, Bác cho trồng nhiều loại hoa như: hoa ngâu, nhài, địa lan. Khu vườn này những năm gần đây, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi đến thăm Khu di tích đã trồng cây lưu niệm.

Đầu hồi ngôi nhà, Bác cho cải tạo thành 2 vườn nhỏ. Một bên vườn trồng quế, một bên trồng cây ăn quả. Xung quanh Bác cho trồng các cây bưởi, vải. Góc vườn trồng cây ngọc lan.

Hòn non bộ

Mỏm đá tự nhiên nằm chính giữa ngôi nhà 2 tầng. Khi xây dựng nhà, Bác cho xây quây lại, đưa nước vào tạo thành hòn non bộ trang trí cho ngôi nhà, vườn cây và cả khu vực. Những lần tiếp khách tại đây, Bác đều giới thiệu và chụp ảnh với các vị khách quốc tế bên hòn non bộ.

Các mỏm Đá Chông

Từ ngôi nhà 2 tầng xuôi sườn đồi về phía Sông Đà, có 3 mỏm đá chông cụm lại hình tượng như 3 đỉnh núi Ba Vì thu nhỏ. Phía dưới 3 mỏm Đá Chông là những phiến đá to, phẳng. Đây chính là nơi Bác và các đồng chí cùng đi đã ngồi nghỉ, ăn cơm và quyết định lựa chọn Đá Chông làm nơi nghỉ và làm việc của Bác và Trung ương.

Ngôi nhà khách

Ngôi nhà mái ngói 2 tầng là nơi dành cho các đồng chí trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng lên làm việc và nghỉ ngơi. Phía sau ngôi nhà có căn hầm đặt tổng đài điện thoại của Cục Bưu điện Trung ương phục vụ Bác và Trung ương làm việc tại đây.

Sân bay trực thăng

Bãi đất bằng phẳng ngay sát chân đỉnh U Rồng được xây dựng làm sân bay trực thăng. Bác đã đi máy bay trực thăng lên Đá Chông 2 lần (một lần lên khánh thành ngôi nhà 2 tầng và một lần đi cùng với Anh hùng vũ trụ Liên Xô G.M Ti – tốp). Những năm giữ gìn thi hài Bác tại Đá Chông, nhiều lần các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu đã đi máy bay trực thăng lên kiểm tra tình hình khu vực.

– Những hiện vật gắn liền với thời kỳ giữ gìn thi hài Bác tại Đá Chông

Nhà kính và công trình giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh.

Nhà kính và công trình giữ gìn thi hài Bác được cải tạo, thi công vào cuối năm 1969m, ngay sau khi Bộ Chính trị quyết định giữ gìn thi hài Bác tại K9.

Nhà kính gồm 2 tầng với tổng diện tích là 628 m2. Tầng 1 gồm phòng họp, phòng khách và bếp. Tầng 2 có 3 phòng: Phòng sinh hoạt chung và 2 phòng ở của chuyên gia y tế Liên Xô.

Công trình giữ gìn thi hài Bác được xây ốp gạch men trắng, có hệ thống điều hoà thông gió và phòng làm thuốc đặc biệt. Trong phòng đặt hòm kính (do Xưởng 49, Bộ Tư lệnh Công binh thi công). Ngoài phần nổi còn phần ngầm của công trình.

Những chiếc xe tham gia di chuyển thi hài Bác

Xe UAZ cứu thương biển số FH-1468 tham gia di chuyển thi hài Bác từ những buổi đầu. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, chiếc xe này do đồng chí Nguyễn Văn Hợp lái đã đưa thi hài Bác từ ngôi nhà 67 – cạnh nhà sàn của Bác trong Phủ Chủ tịch về Công trình 75A trong Quân y viện 108. Sau đó lại tiếp tục đưa thi hài Bác từ công trình 75A về công trình 75B (Hội trường Ba Đình) để phục vụ Lễ Quốc tang. Tháng 5 năm 2007, bệnh viện Trung ương Quân đội đã thống nhất giao xe cứu thương cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm hiện vật tại Khu di tích Đá Chông.

Xe Zin 157 biển số 470-189 được Tổng cục Kỹ thuật cải tiến máy, bệ gầm, bộ nhíp đáp ứng yêu cầu kỹ thuật khi di chuyển. Trong 6 năm chiến tranh, chiếc xe này đã trực tiếp di chuyển thi hài Bác từ Hà Nội lên K84 cũng như từ K84 về Hà Nội.

Xe Páp lội nước, biển số 31-162 đã đưa thi hài Bác vượt sông an toàn, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ di chuyển thi hài Bác trong những năm chiến tranh.

– Những hiện vật được tôn tạo, xây dựng từ sau năm 1975 đến nay

Nơi tưởng niệm Bác và cầu thang sắt tại ngôi nhà 2 tầng

Thể theo nguyện vọng của cán bộ, nhân dân khi tới thăm quan Khu di tích, ngày 17 tháng 4 năm 1995 (tức ngày 18 tháng 3 năm Ất Hợi), đơn vị đã lập bàn thờ Bác tại ngôi nhà Người đã sống và làm việc. Hai năm sau, ngày 8 tháng 5 năm 1997, đơn vị đã đúc pho tượng bằng đồng và tôn tạo nơi tưởng niệm Bác tại ngôi nhà này.

Năm 1997, để phục vụ cán bộ, nhân dân tham quan tầng 2 của ngôi nhà được thuận lợi, đơn vị đã xây dựng cầu thang sắt ở phía sau ngôi nhà. Khi khách tham quan xong, sẽ theo cầu thang này đi xuống.

Các mỏm Đá Chông

Khu vực 3 mỏm Đá Chông chính là địa điểm mà ngày 23 tháng 2 năm 1958, Bác Hồ và Đoàn cán bộ lên kiểm tra khu vực Đá Chông đã nghỉ trưa ăn cơm tại đây. Ngay dưới vị trí 3 mỏm Đá Chông có một phiến đá tương đối bằng phẳng, còn lại đường đi đến và quanh khu vực rất dốc. Năm 1996, đơn vị đã tiến hành tôn tạo, xây dựng tường bao quanh để tạo nơi bằng phẳng cho mọi người khi đến tham quan Khu di tích.

Hệ thống đường sá

Năm 1986, đơn vị tiến hành kè hồ Khu B, dải nhựa các con đường trong Khu di tích và xây dựng đường phía Tây ngôi nhà 2 tầng tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người đi tham quan toàn bộ Khu di tích.

Ngôi nhà ngói 2 tầng dành cho Trung ương lên làm việc, nghỉ ngơi

Ngôi nhà này từ năm 2001 đã được cải tạo nội ngoại thất làm các phòng nghỉ phục vụ các đoàn khách đến tham quan tại Khu di tích. Bê phải nhà 2 tầng là bể bơi phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới và là nơi dự trữ nước để phòng chống cháy rừng.

Khu huấn luyện, rèn luyện bộ đội

Phía Đông sân bay trực thăng những năm gần đây đã được xây dựng các công trình phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, rèn luyện sức khoẻ cho bộ đội. Công trình gồm 3 ngôi nhà, sân thể thao và bãi vật cản.

Công trình phòng chống cháy rừng

Năm 2006, để đáp ứng yêu cầu phòng chống cháy rừng, đơn vị đã báo cáo và được trên đồng ý cho xây dựng công trình phòng chống cháy rừng tại phía Bắc của Khu di tích. Công trình gồm bể chứa nước, hệ thống đường ống nước và nơi bảo vệ, quan sát, phát hiện phục vụ phòng chống cháy rừng.

3. Kiến trúc công trình và hệ thống kỹ thuật của Khu di tích

Kiến trúc công trình và hệ thống kỹ thuật của Khu di tích gồm nhiều hạng mục khác nhau.

– Công trình kiến trúc của Khu di tích

Các công trình kiến trúc bao gồm: Nền móng, tường, cột, và hệ thống hành lang, kết cấu nền, gạch lát nền; hệ thống mái và các chi tiết trang trí; hệ thống cửa, panô; kết cấu gỗ, thép, trần trang trí; sân vườn, hồ nước, cây cảnh.

Trải qua nhiều năm, các kết cấu vật liệu nói trên đã bị hư hỏng, xuống cấp, dưới sự tác động của thiên nhiên và môi trường. Trong đó, một số hạng mục công trình cần được tiếp tục tôn tạo, hoặc tu sửa lớn.

Hệ thống kết cấu chịu lực của các công trình ở Đá Chông chủ yếu là tường gạch, kiểu thức trang trí rất giản đơn, chủ yếu là phân vị các trụ ốp, gỗ, màu sắc trang trí trên tường là màu xanh, màu vàng, màu đỏ của ngói, màu xanh của cửa, chớp và khung cửa. Cách sử dụng màu đơn giản nhưng màu sắc tổng thể ở di tích rất hài hoà với cảnh quan, môi trường. Ngôi nhà 2 tầng, phòng nghỉ của Bác, nơi họp của các đồng chí Trung ương, nơi đón tiếp khách… được thiết kế phỏng theo nhà sàn ở Phủ chủ tịch. Khu nhà kính và nhà dành cho các đồng chí Trung ương lên làm việc tại Đá Chông cũng được xây dựng từ kiểu dáng, đến chất liệu hài hòa với khung cảnh, địa hình.

– Hệ thống kỹ thuật của Khu di tích

Tình trạng kỹ thuật của các công trình chính trong Khu di tích Đá Chông được đánh giá theo các khu: Khu A bao gồm ngôi nhà sàn Bác và Trung ương làm việc, nhà bộ phận phục vụ, nhà ở của chuyên gia Liên Xô và nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh; nhà ở của lực lượng bảo vệ; hệ thống hầm trú ẩn và sân bay. Khu B, C và D là nơi ở của Đoàn 285 mới được xây dựng từ sau năm 1975. Có thể khái quát như sau:

+ Hệ thống thoát nước

Địa hình ở đây là khu vực đồi cao cho nên hệ thống thoát nước chủ yếu dựa vào tự nhiên (không gây úng ngập), các hướng thoát nước đều chảy xuống ruộng, ao hồ. Trước đây hệ thống thoát nước chỉ có các hố ga, mương thoát nước chủ yếu được xếp bằng đá, năm 1996 mới được xây dựng thành hệ thống thoát nước kiên cố.

Hệ thống điện chiếu sáng

Hệ thống chiếu sáng ngoài trời: Do yêu cầu tính đặc thù của di tích cho nên hệ thống chiếu sáng ở đây đơn giản, cũ, khả năng chiếu sáng thấp (trước năm 1970 phải dùng máy phát điện; sau năm 1970 mới có điện lưới; năm 1990 mới làm hệ thống dây trần cột dẫn từ trạm biến áp đi các khu). Hệ thống chiếu sáng trước kia bóng đèn chủ yếu là sợi đốt tròn, công suất từ 60w đến 110w, có chao sắt che phía trên, về sau (kể từ khi tổ chức các hoạt động tham quan học tập) bổ sung thêm hệ thống đèn chiếu sáng – đèn nấm ngoài trời khá đẹp và tốt.

Hệ thống chiếu sáng trong nhà: Nguồn cấp điện lấy từ điện lưới sinh hoạt tiêu dùng được kéo vào tủ điện tổng của Đoàn 285, phân ra từng khu bằng các đường dây con, được cải tạo lắp đặt thiết bị bảo vệ (Aptomat). Các phụ tải trong nhà không được phân pha đều trong quá trình cải tạo, sửa chữa. Hệ thống dây dẫn trong các nhà dẫn đến các thiết bị phụ tải (đài, quạt, ổ cắm, máy điều hòa) luồn qua ống ghen đặt nối và được đi ngầm trên trần, tường…

Chiếu sáng nhà sàn, nhà kính chủ yếu là đèn neon. Đèn tròn sợi đốt (có chao) được bố trí xen kẽ chủ yếu ở Phòng khách số 1, 2; sân, vườn trong sảnh và hành lang. Các đèn này được gắn trên tường và trần nhà.

4. Thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo, trưng bày các hiện vật, di tích

– Công tác thống kê

Việc thống kê các hiện vật của di tích đã được đặt ra từ nhiều năm nay. Khi thực hiện đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu bảo tồn, tôn tạo phát huy tác dụng Khu di tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông”, nhóm nghiên cứu đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị có liên quan nhằm xác minh chuẩn xác các sự kiện lịch sử diễn ra tại Khu di tích. Trên cơ sở đó, trực tiếp cùng Đoàn 285 tiến hành thống kê các hiện vật, thiết lập mẫu quản lý để nắm chắc hồ sơ, lý lịch hiện vật của Khu di tích. Qua thống kê hiện có: 05 ngôi nhà; 01 công trình đặc biệt; 02 hầm trú ẩn; 01 sân bay trực thăng; 03 xe ô tô; ngoài ra còn hàng trăm hiện vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng trong Khu di tích.

– Thực trạng trưng bày, bảo quản, tôn tạo

– Trưng bày các hiện vật

Những năm qua Khu di tích Đá Chông đã chú trọng đến công tác trưng bày các hiện vật, có tổ chức, có chọn lọc, phù hợp với nội dung tuyên truyền, giúp người xem nhận thức được một cách khoa học về lịch sử, tự nhiên và xã hội, giúp họ hình dung được những sự kiện lịch sử tại Đá Chông. Điểm nổi bật ở đây là đã kết hợp chặt chẽ giữa nội dung tuyên truyền và giải pháp mỹ thuật với việc tận dụng cảnh quan môi trường, các trang thiết bị kỹ thuật, tài liệu… (mỹ thuật, không gian văn hoá tại thực địa cơ bản còn nguyên hiện trạng) cung cấp được nhiều lượng thông tin từ các hiện vật ở di tích.

Hầu hết khách đến tham quan Khu di tích Đá Chông và các nhà chuyên môn đều có chung ý kiến: Trưng bày ở Đá Chông vừa mang tính hiện thực, vừa mang tính khoa học và nghệ thuật. Cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ công tác tại Khu di tích Đá Chông đã có quá trình lao động nghiêm túc, kỷ luật với lòng tôn kính và biết ơn Bác vô hạn, có am hiểu nhất định về bảo quản di tích và những vấn đề có liên quan khác. Đồng thời am hiểu về lịch sử và nghệ thuật trưng bày. Khi tổ chức trưng bày các hiện vật, đã gắn với các sự kiện, thời gian, các giai đoạn lịch sử. Từ hiện vật tĩnh (nhà cửa, đồ dùng…) đến hiện vật sinh hoạt đời thường như: bát đĩa, vỏ chăn hoa, gối bông, ga trải giường, chăn len, thảm Trung Quốc, khăn lót gối ở phòng ngủ và làm việc của Bác Hồ…; hiện vật liên quan đến nhiều người như: chậu hoa rửa mặt của Trung Quốc, phích đựng nước đá loại 5 lít, sọt đựng rác, gạt tàn thuốc lá… Các hiện vật dùng cho cá nhân như: súng săn của cố Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tặng, giá khăn mặt, ấm chén; các hiện vật liên quan đến công tác bảo vệ giữ gìn thi hài Bác như xe Páp, xe Zin ba cầu 157, xe cứu thương… tất cả các hiện vật đó đã được trưng bày và bố trí sắp xếp khoa học, bảo đảm tính thẩm mỹ, tính lịch sử và hiện thực, giúp người tham quan hình dung được quá trình lịch sử diễn biến Khu di tích Đá Chông.

+ Bảo quản tu sửa, tôn tạo các di tích hiện vật

Hàng năm Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng nghiên cứu ban hành và bổ sung những quy định về việc bảo vệ, tôn tạo, phát huy giá trị văn hoá chính trị Khu di tích Đá Chông. Năm 1992 Huyện uỷ Ba Vì đã có Nghị quyết số 21 về việc phối kết hợp các lực lượng của Huyện Ba Vì với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt là 3 xã Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ với Đoàn 285 trong việc bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích Đá Chông. Cùng với các hoạt động phối hợp thường xuyên của Đoàn 285, vào dịp 22 tháng 12 hàng năm Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền, đoàn thể Huyện Ba Vì – Hà Tây tổ chức hội nghị đoàn kết quân dân, đánh giá những mặt mạnh, yếu, bàn, đề xuất chủ trương, biện pháp thiết thực hữu hiệu để bảo vệ và phát huy giá trị Khu di tích Đá Chông, góp phần bảo vệ tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bảo quản tu sửa, tôn tạo các di tích, hiện vật.

Từ những năm 1990, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đầu tư đáng kể cho việc tu bổ, tôn tạo và xây dựng mới một số hạng mục công trình. Năm 1994 trùng tu ngôi nhà 2 tầng (nhà sàn): đảo lại ngói, sơn lại tường, cửa. Ngày 17 tháng 4 năm 1994 đặt bàn thờ, phục vụ khách tham quan dâng hương tưởng niệm Bác; làm bổ sung cầu thang sắt sau ngôi nhà phục vụ khách tham quan đi lại thuận lợi; tu sửa lại căn hầm trú ẩn, bể nước và hòn non bộ; quy hoạch lại và trồng bổ sung vườn cây phía trước và bên trái nhà 2 tầng. Năm 1996 tôn tạo lại khu vực các mỏm Đá Chông – nơi Bác Hồ và các đồng chí trong đoàn nghỉ ăn cơm trưa ngày 23 tháng 2 năm 1958. Những năm tiếp theo, xây dựng nhà xe và trưng bày các xe PAP, xe ZIN 157 và xe cứu thương gắn liền với việc di chuyển thi hài Bác trong những năm chiến tranh ác liệt. Khu nhà nghỉ dành cho các đồng chí Trung ương khi lên làm việc, căn hầm đặt tổng đài điện thoại của Cục Bưu điện Trung ương phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Trung ương làm việc tại K9 cũng được tu bổ, tôn tạo khang trang. Cạnh sân bay trực thăng là khu huấn luyện, thể thao, công trình cứu hoả được đầu tư xây dựng cơ bản, vững chắc, đáp ứng yêu cầu huấn luyện, rèn luyện sức khoẻ bộ đội và phòng chống cháy rừng. Hệ thống đường sá ở Khu di tích cũng được cải tạo nâng cấp từ mặt đường cấp phối, nay đã được rải nhựa, bê tông. Đoạn đường vào Khu A, Khu B hai bên trồng những hàng cây chò thẳng tắp làm tôn vẻ đẹp của con đường và Khu di tích. Nhìn chung, các đợt tu bổ, tôn tạo đều theo đúng nguyên tắc tu sửa di tích, cố gắng giữ được cơ bản hiện trạng ban đầu.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ hai: B

Thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo và tổ chức hoạt động giáo dục, tuyên truyền khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông (tiếp theo)

oOo

II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC, TUYÊN TRUYỀN TẠI KHU DI TÍCH

1. Nội dung, hình thức giáo dục tuyên truyền

– Nội dung

Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông là một di tích lịch sử văn hóa đặc biệt. Nội dung giáo dục, tuyên truyền tập trung làm rõ về ý nghĩa lịch sử di tích, hoạt động của Bác và Trung ương tại Khu di tích, những năm tháng giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến tranh ác liệt. Để thực hiện tốt yêu cầu trên, ngay từ khi được trên đồng ý để cán bộ và nhân dân đến tham quan Khu di tích, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh dã chỉ đạo cơ quan ban hành nội dung giới thiệu Khu di tích. Đây là tài liệu làm cơ sở cho lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và cán bộ, nhân viên làm công tác đón tiếp, tuyên truyền sử dụng làm nội dung giới thiệu về Khu di tích. Tháng 12 năm 2007, quá trình nghiên cứu, nhóm đề tài đã tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh nội dung giới thiệu lần thứ hai. Hiện tại nội dung giới thiệu gồm 5 phần chính:

Phần một, “Vài nét về địa danh Đá Chông – Ba Vì – Hà Tây”;
Phần hai, “Bác Hồ với Khu di tích Đá Chông”;
Phần ba, “Những hiện vật gắn liền với hoạt động của Bác tại Đá Chông”;
Phần bốn, “Nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh”;
Phần năm, “Di tích lịch sử – nơi giáo dục truyền thống”.

Qua điều tra 1.300 người (tỷ lệ 90%) đến tham quan Khu di tích, có 1.170 người cho là nội dung giới thiệu tốt, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của khách đến với Khu di tích.

Tham quan di tích giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Thông qua các sự kiện, hiện vật ở Khu di tích để tuyên truyền, giáo dục cán bộ, nhân dân về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và sự nghiệp giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Tổ chức tham quan là công tác giáo dục khoa học. Đến với di tích khách tham quan sẽ được cảm nhận cái đẹp, cái hay một cách trực tiếp – các giác quan chủ yếu là mắt và tai. Người thuyết minh sẽ giảng giải cho họ một cách sinh động rõ ràng. Người xem sẽ tận mắt nhìn thấy và họ sẽ cảm thụ một cách tích cực.

Hướng dẫn khách tham quan tại Khu di tích Đá Chông được tiến hành theo đề cương giới thiệu Khu di tích. Khách tham quan bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, nhu cầu ở mức độ khác nhau nên các cơ quan chức năng và Đoàn 285 đã chủ động xây dựng đề cương tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng. Song điểm đặc thù của khách đến với Khu di tích Đá Chông đó là lòng kính trọng và sự ham hiểu biết về thân thế, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nên nhu cầu nghe giới thiệu chi tiết, tỉ mỉ khá phổ biến.

Hiện nay hoạt động tham quan tại Khu di tích Đá Chông được chia làm hai loại: Tham quan toàn diện và tham quan theo chủ đề. Song cơ bản các đoàn tham quan theo hình thức toàn diện là phổ biến. Cụ thể là khách tham quan được nghe giới thiệu khái quát toàn bộ nội dung di tích: Từ lịch sử hình thành di tích Đá Chông rồi lần lượt tới những giá trị cơ bản của Khu di tích toát lên thông qua các hiện vật (tức là trình bày mối liên quan, quá trình tồn tại và hiện diện của hiện vật đến ngày nay). Bên cạnh hình thức tham quan toàn diện, đội ngũ cán bộ tuyên truyền ở Khu di tích Đá Chông còn tổ chức hướng dẫn tham quan theo chủ đề (tuỳ theo đối tượng và nhu cầu của khách tham quan).

Số lượng khách đến tham quan cũng thay đổi theo từng quý. Hàng năm khách tham quan tập trung vào các tháng 3, 4, 5, 8, 9. Đây là thời gian có nhiều lễ hội (đầu xuân), có những ngày kỷ niệm lịch sử về Bác (ngày sinh, ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Đối tượng khách đến tham quan cũng đa dạng, nhưng hiện nay Khu di tích mới đón tiếp chủ yếu các đoàn đi tham quan tập thể, với đối tượng chủ yếu là cán bộ, bộ đội, thanh niên, cựu chiến binh và hầu hết ở các địa phương miền Bắc (chiếm tỷ lệ hơn 70% khách tham quan). Kể từ năm 1995 đến tháng 6 năm 2007, đã đón tiếp được hơn 400.000 lượt người đến tham quan, học tập tại Khu di tích.

Đặc biệt, do tính chất đặc thù của Khu di tích , hàng năm Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vinh dự được đón tiếp các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, các đoàn thể ở Trung ương và địa phương đến tham quan Khu di tích. Vào những dịp họp Quốc hội, hội nghị Trung ương Đảng, Đại hội Đảng toàn quốc, nhiều đồng chí uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội đã đến thăm Khu di tích.

Ngày 07 tháng 01 năm 1998, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Khu di tích, trồng cây lưu niệm và ghi sổ cảm tưởng:

“Hôm nay, ngày 7 tháng 01 năm 1998, lên thăm lại Khu di tích K9, cũng thường gọi là khu Đá Chông, nhìn lên bức tượng khá giống Bác, ngồi lại tại cái bàn trước đây Bác đã họp cùng các anh trong Bộ Chính trị, càng nhớ Bác vô cùng, cảm thấy như ngày nào lên đây làm việc với Bác.

Rõ ràng là Bác sống mãi với non sông,đất nước, với các thế hệ; Bác vẫn lãnh đạo quân và dân ta, dưới ngọn cờ của Bác và của Đảng, thắng lợi tới đỉnh cao mới, thực hiện lý tưởng, cũng là mong muốn tốt bậc của Bác, đưa đất nước ta đến độc lập và thống nhất, tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Ngày xuân, càng nhớ Bác kính yêu”.
TB: Nhìn Sông Đà, càng nhớ Bác.
Nơi đây thật là sơn thuỷ hữu tình.

Ngày 16 tháng 5 năm 2001, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đến thăm Khu di tích, dự lễ gắn biển nơi giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và trồng cây lưu niệm. Tổng Bí thư đã ghi sổ cảm tưởng:

“Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 111 Ngày sinh của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, tôi vô cùng xúc động được đến thăm Khu di tích Đá Chông, một trong những nơi Bác Hồ đã làm việc và yên nghỉ, xin được thắp nén hương thơm tưởng niệm Bác.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta nguyện mãi mãi đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn, đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, vững bước vào thế kỷ XXI thoả lòng mong ước của Người.

Tôi cảm ơn toàn thể cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Công binh, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang làm hết sức mình xây dựng, gìn giữ, tôn tạo di sản vô cùng quý giá này cho hôm nay và mãi mãi mai sau”.

Ngoài hình thức tham quan, nghe giới thiệu về Khu di tích là chủ yếu, những năm gần đây, một số hình thức khác cũng được tiến hành và có hiệu quả tốt như: Sinh hoạt chính trị; lễ báo công với Bác; kết hợp tham quan học tập, giao lưu văn nghệ, thể thao… Tất cả những hình thức hoạt động đó đã tạo ra sự hấp dẫn, phong phú của Khu di tích.

2. Quy trình tổ chức hoạt động

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và quản lý Khu căn cứ dự phòng kết hợp với tổ chức tham quan, học tập, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã thống nhất quy trình tổ chức hoạt động giáo dục, tuyên truyền tại Khu di tích Đá Chông như sau:

– Tất cả các đối tượng khách vào Khu di tích phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh. Cơ quan Văn phòng giúp Bộ Tư lệnh đăng ký và cấp giấy vào Khu di tích cho các tập thể, cá nhân sau khi đã được Bộ Tư lệnh phê duyệt. Đoàn 285 có nhiệm vụ tổ chức đón tiếp, hướng dẫn các đoàn vào tham quan học tập.

– Các đoàn khách của tỉnh Hà Tây, Thành phố Sơn Tây, huyện Ba Vì, các xã và các cơ quan liền kề với đơn vị, Bộ Tư lệnh uỷ quyền cho Thủ trưởng Đoàn 285 đón tiếp, hàng ngày tổng hợp tình hình đón tiếp báo cáo Bộ Tư lệnh (qua Trực chiến Bộ Tư lệnh).

– Để tránh phiền hà cho các đoàn đi tập thể có nguyện vọng vào tham quan Khu di tích nhưng chưa được Bộ Tư lệnh cấp giấy vào tham quan, khi đến cổng Khu di tích, Bộ Tư lệnh uỷ quyền Thủ trưởng Đoàn 285 kiểm tra, nếu đủ điều kiện (đi tập thể, có người phụ trách, hoặc có giấy giới thiệu của cơ quan, đơn vị vào tham quan) thì tổ chức cho các đoàn vào Khu di tích.

Tóm lại, mặc dù yêu cầu bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu dự phòng cho công trình Lăng, nhưng để tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ và nhân dân vào tham quan Khu di tích. Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã có những quy định phù hợp, vừa thuận tiện cho nhân dân, vừa chấp hành tốt quy định bảo vệ (hiện nay chưa cho phép người nước ngoài vào tham quan Khu di tích).

– Về các tuyến tham quan: Để phát huy tác dụng công tác đón tiếp tuyên truyền tại Khu di tích Đá Chông, đơn vị đã hình thành phân tuyến, các điểm tham quan hợp lý theo vòng khép kín. Khách đến tham quan thông thường bắt đầu tập kết từ bãi để xe ô tô lên thẳng nhà sàn, sau đó tham quan khu vực Đá Chông, vòng phía sau nhà sàn tham quan khu vực nhà xe (tham quan xe Zin, xe Páp và xe cứu thương dùng để di chuyển thi hài Bác trong chiến tranh), sau đó tiếp tục tham quan khu vực các hiện vật trưng bày tại ngôi nhà ngang; tiếp đó tham quan nhà kính (nơi giữ gìn thi hài Bác) rồi theo đường xuống khu vực hồ nước trở ra. Tham quan theo tuyến trình tự các điểm như vậy vừa phù hợp với yêu cầu của khách cũng như trình độ, nhu cầu của từng đối tượng, bảo đảm tính khoa học, lôgíc tiết kiệm được thời gian, tiện cho quá trình phục vụ nhưng lại vừa đảm bảo trật tự.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ hai: C

Thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo và tổ chức hoạt động giáo dục, tuyên truyền khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông (tiếp theo)

oOo

III. NHỮNG HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Những mặt hạn chế

Những kết quả nổi bậy như đã nêu ở trên là cơ bản, nhưng thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo hiện vật của di tích và hoạt động giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích trong thời gian qua còn một số hạn chế sau đây:

Công tác sưu tầm tư liệu, bảo tồn, tôn tạo hiện vật của di tích chưa được chú trọng quan tâm thường xuyên

Hệ thống tư liệu, hiện vật của di tích trải qua 50 năm, là những tài liệu có giá trị to lớn về chính trị, lịch sử và văn hoá. Song thực trạng công tác sưu tầm, bổ sung tư liệu, bảo quản giữ gìn hiện vật ở Khu di tích Đá Công trong thời gian qua còn nhiều bất cập, cụ thể là:

+ Công tác đánh giá, quy hoạch hệ thống tư liệu, hiện vật di tích với tư cách là ngành khoa học bảo tồn, bảo tàng chưa được đặt ra. Thực chất mới thực hiện việc quản lý, kiểm kê, kiểm nghiệm hàng năm.

+ Việc lập hồ sơ, lý lịch các hiện vật của Khu di tích tuy đã có nhưng còn thiếu và chưa đồng bộ.

+ Công tác sư tầm, bổ sung tư liệu, hiện vật liên quan đến Khu di tích, nhất là thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trung ương sống, làm việc tại Khu di tích còn hạn chế.

+ Công tác bảo tồn, tôn tạo di tích chưa phát huy được nghiên cứu tổng thể và chưa có quy hoạch được cấp trên có thẩm quyền quyết định.

– Công tác giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích chưa tương xứng với vị trí, ý nghiã của một di tích đặc biệt.

Công tác đón tiếp, tuyên truyền, phục vụ cán bộ và nhân dân đến thăm quan học tập và tổ chức sinh hoạt chính trị tại Khu di tích được tiến hành hơn 10 năm trở lại đây, do đó nhiều nội dung còn thiếu, cần được bổ sung, hoàn thiện, như:

+ Trước hết là những quy định, quy chế bảo đảm cho công tác đón tiếp, tuyên truyền, vừa không ảnh hưởng tới nhiệm vụ chính trị, vừa phục vụ nhân dân tận tình chu đáo; đồng thời đấu tranh phê phán đối với hoạt động me tín, di đoan, lợi dụng Khu di tích về Bác để tuyên truyền xuyên tạc.

+ Công tác tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng về ý nghĩa của Khu di tích chưa được nhiều. Hầu hết cán bộ và nhân dân đến tham quan Khu di tích đều thông qua giới thiệu của những người đã từng đến tham quan (điều tra xã hội học có 71% số người biết đến Khu di tích do bạn bề, người thân giới thiệu; chỉ có 10% biết đến Khu di tích qua sách, báo).

+ Nội dung giới thiệu về Khu di tích tuy đã được bổ sung, chỉnh lý, nhưng cần tiếp tục được hoàn thiện, nhất là những tư liệu lịch sử quý. Mặt khác, đội ngũ cán bộ, nhân viên đón tiếp, tuyên truyền hướng dẫn chưa chuyên nghiệp, do đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền. Khi giới thiệu, hướng dẫn, chưa tạo được sự hấp dẫn, tạo cảm xúc lắng đọng cho người nghe.

+ Quy trình tham quan có điểm chưa thật hợp lý (trong khi có đoàn đang dâng hương tưởng niệm Bác ở tầng 1, nhưng trên tầng 2 của ngôi nhà 2 tầng vẫn tổ chức tham quan, giới thiệu cho khách), các dịch vụ văn hoá phẩm tuyên truyền, giới thiệu về Khu di tích còn ít.

+ Một số hiện vật quý liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trung ương và những hiện vật trong thời gian gìn giữ thi hài Bác tại Khu di tích chưa được giới thiệu, trưng bày.

– Công tác phối hợp hiệp đồng giữa các cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích còn hạn chế.

Bộ Tư lệnh đã giao cho Đảng uỷ, Thủ trưởng Đoàn 285 chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ đón tiếp tuyên truyền tại Khu di tích. Đây là một trong những nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, Đoàn 285 cần có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp của Đảng uỷ và Thủ trưởng Bộ Tư lệnh. Đặc biệt là sự phối hợp, hiệp đồng và chỉ đạo của các cơ quan chức năng trong Bộ Tư lệnh. Tuy vậy, thời gian qua, công tác phối hợp hiệp đồng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa của Khu di tích có lúc, có nơi, có thời điểm chưa chặt chẽ. Trong đó có một số nội dung cần được nghiên cứu, bổ sung, cụ thể:

+ Đăng ký các đoàn đến tham quan học tập tại Khu di tích.

+ Nắm yêu cầu, nội dung, hình thức và nhu cầu cụ thể của các đoàn khi vào di tích.

+ Sự phối, kết hợp giữa các cơ quan của Bộ Tư lệnh trong chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá nội dung, hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền của Đoàn 285.

2. Nguyên nhân hạn chế

– Nguyên nhân khách quan

+ Di tích Đá Chông là một căn cứ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương, sau này được sử dụng là nơi giữ gìn thi hài Bác do đó được bảo vệ tuyệt đối an toàn và bí mật. Vì vậy, tài liệu liên quan đến quá trình hình thành Khu di tích và tư liệu về hoạt động của Bác và các đồng chí Trung ương không được ghi chép, lưu giữ. Mặt khác, các nhân chứng lịch sử đều tuổi cao, sức yếu, nhiều đồng chí đã mất. Do đó việc xác minh, sưu tầm tài liệu, hiện vật rất khó khăn.

+ Di tích nằm trong vùng khí hậu, thời tiết thuận lợi cho sự xâm hại của nấm, mốc, côn trùng. Môi trường, khí hậu thường xuyên tác động ảnh hưởng đến chất lượng, kiến trúc, thẩm mỹ các hiện vật. Vì vậy việc bảo quản, giữ gìn các hiện vật gặp nhiều khó khăn.

+ Chủ trương đón tiếp cán bộ và nhân dân đến tham quan khu vực mới được triển khai. Nhiều mặt công tác tổ chức, đón tiếp và các hoạt động giáo dục, tuyên truyền chưa được bổ sung đáp ứng được nguyện vọng và tình cảm của cán bộ và nhân dân đến với Khu di tích.

– Nguyên nhân chủ quan

+ Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng và cán bộ chỉ huy các cấp đối với công tác giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích có mặt còn hạn chế.

Nhiệm vụ đón tiếp các đoàn đến tham quan, học tập tại Khu di tích đã được tiến hành đã hơn 10 năm, nhưng đến nay chưa được sơ kết, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trong quá trình tổ chức thực hiện. Mặt khác, sự quan tâm đầu tư con người, phương tiện phục vụ nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.

Việc đầu tư quy hoạch tổng thể Khu di tích, phân vùng phạm vi khu vực di tích và phạm vi yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị chưa được quan tâm đúng mức.

+ Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ làm nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích chưa đáp ứng với vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của Khu di tích.

Tổ chức biên chế chưa lựa chọn được đội ngũ cán bộ, nhân viên phù hợp với nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền; nhất là đội ngũ hướng dẫn viên. Những năm gần đây đã tuyển chọn một số nhân viên nữ tại địa phương (ở các xã liền kề) vào làm nhiệm vụ trong đơn vị, nhưng chưa được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn, nên trình độ, năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho anh chị em làm công tác đón tiếp, tuyên truyền còn ít về thời gian và nghèo nàn về nội dung. Tổ chức tham quan, rút kinh nghiệm hoạt động của các di tích khác trong phạm vi tỉnh Hà Tây và cả nước còn ít, chưa có hiệu quả thiết thực.

+ Duy trì và thực hiện các quy chế, quy định chưa chặt chẽ, nghiêm túc. Chưa chủ động tích cực phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, với các địa phương trong công tác tuyên truyền, quảng bá về Khu di tích.

Để thực hiện tốt công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã có những quy định, quy trình tổ chức đón tiếp, phục vụ nhân dân. Tuy nhiên trong những năm qua, có thời điểm việc duy trì chưa được chặt chẽ, có lúc lại buông lỏng. Những việc làm đó đã tác động đến suy nghĩ, tình cảm của nhân dân khi đến tham quan Khu di tích. Một số đoàn sau khi tham quan xong đã viết thư kiến nghị hoặc phản ánh tình hình về công tác phục vụ, đón tiếp của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ làm nhiệm vụ trong đơn vị.

Trong công tác quảng bá, tuyên truyền về hoạt động Khu di tích chưa thể hiện sự tích cực, chủ động. Nội dung, hình thức tuyên truyền qua sách báo, văn hoá phẩm còn nghèo nàn. Trong suy nghĩ còn lấn cấn, chưa phân biệt rạch ròi tuyên truyền về Khu di tích và yêu cầu nhiệm vụ chính trị, bảo vệ và giữ gìn tuyệt đối an toàn căn cứ dự phòng của công trình Lăng. Chính vì vậy công tác tuyên truyền về Khu di tích còn hạn chế, hiệu quả không cao.

3. Bài học kinh nghiệm

Quá trình trực tiếp quản lý, bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo và tổ chức đón tiếp, tuyên truyền về Khu di tích từ những năm 1975 và nhất là giai đoạn 1995 đến nay, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

Một là, thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ; trực tiếp là Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng đối với nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ trong việc giữ gìn, quản lý, bảo vệ Khu di tích là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đối với nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Tuỳ từng điều kiện, thời gian cụ thể, Trung ương Đảng, Chính phủ có sự chỉ đạo triển khai các hoạt động tại Khu di tích cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

Khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện công cuộc đổi mới thắng lợi; nhu cầu tình cảm, giáo dục truyền thống được quan tâm, đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Khoá VIII đã trực tiếp chỉ đạo đơn vị tổ chức đón tiếp cán bộ và nhân dân vào thăm quan Khu di tích. Đơn vị đã báo cáo Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị. Sau khi có ý kiến chỉ đạo thống nhất từ trên xuống, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã ban hành các quy định, quy chế tổ chức phục vụ nhân dân đến tham quan, tưởng niệm Bác tại Khu di tích một cách an toàn, thuận tiện.

Quá trình tổ chức cho các đoàn đến tham quan, tưởng niệm Bác và tổ chức các sinh hoạt chính trị tại Khu di tích đã xuất hiện tư tưởng của một bộ phận cán bộ các ban, ngành và địa phương muốn đưa Khu di tích trở thành một địa điểm du lịch, kinh doanh đơn thuần như các danh lam thắng cảnh khác. Nắm bắt được tư tưởng trên đây, đơn vị đã báo cáo Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Chính phủ, trực tiếp là Thủ tướng Phan Văn Khải đã chỉ đạo Bộ Quốc phòng tiếp tục quản lý, giữ gìn, bảo vệ Khu di tích Đá Chông.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, bài học bám sát sự chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng luôn luôn có giá trị đối với các thế hệ cán bộ, công nhân viên và chiến sĩ trong đơn vị.

Hai là, nhạy bén phát hiện tình hình, chủ động tham mưu đề xuất kịp thời với Đảng, Chính phủ, Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc Phòng trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của Khu di tích.

Phát huy tác dụng của Khu di tích với nhiệm vụ quản lý, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thiết bị, công trình phục vụ là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, trực tiếp là Đoàn 285. Tổ chức đón tiếp các đoàn cán bộ và nhân dân tới tham quan, tưởng niệm Bác và sinh hoạt chính trị, giáo dục truyền thống bảo đảm chu đáo, thuận tiện. Song công tác bảo vệ an ninh phải tuyệt đối an toàn. Không được gây phiền hà cho nhân dân.

Bằng những quy định, hướng dẫn cụ thể của đơn vị và nhất là thái độ tận tình, chu đáo của cán bộ, nhân viên và chiến sĩ đối với nhân dân đã để lại ấn tượng tốt đẹp cho mọi người khi về thăm Khu di tích. Hình ảnh bộ đội Cụ Hồ nói chung và hình ảnh người cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tại Lăng Bác và Khu di tích của Người tiếp tục được toả sáng, tạo được niềm tin và sự yêu mến, kính trọng của nhân dân.

Để đảm bảo bí mật và tuyệt đối an toàn cho công trình, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã tham mưu, đề xuất với trên về quy trình tổ chức cho nhân dân vào tham quan Khu di tích.

Mặt khác, quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, để phát huy thế mạnh về vị trí của Khu di tích, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã báo cáo Nhà nước và Bộ Quốc phòng quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị. Những công trình, thiết bị kỹ thuật dự phòng; doanh trại, công trình phục vụ nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới, đón tiếp khách và đặc biệt là hệ thống cứu hoả, phòng chống cháy rừng đã được quan tâm và đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu quả cao.

Để phát huy thế mạnh về đất đai, đơn vị đã chủ động lập kế hoạch triển khai tăng gia, chăn nuôi, trồng trọt. Những khu rừng mới trồng, vườn cây, vườn rau xanh tốt; đàn bò, đàn lợn và hồ cá… vừa tôn thêm cảnh quan, môi trường quanh Khu di tích, vừa là những sản phẩm trực tiếp đưa vào phục vụ nâng cao đời sống cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Đoàn 285 và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng.

Với ý nghĩa sâu sắc đó, bài học chủ động tham mưu, đề xuất với trên để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, luôn luôn là kinh nghiệm thực tiễn bổ ích cho toàn đơn vị.

Ba là, đoàn kết chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền, nhân dân địa phương và các cơ quan, đơn vị đứng chân trên địa bàn. Tranh thủ sự phối hợp, giúp đỡ của các cán bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của Khu di tích.

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, trực tiếp là các xã Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ huyện Ba Vì và các xã Đồng Luận huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ và các cơ quan, đơn vị đứng chân trong địa bàn đã có công lao to lớn cùng với đơn vị bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông. Vì vậy, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng luôn luôn đặt lên hàng đầu việc xây dựng và duy trì bền vững sự đoàn kết chặt chẽ giữ đơn vị và Đảng bộ, chính quyền, nhân dân địa phương.

Từ năm 1992, huyện Ba Vì và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã ban hành quy định phối hợp bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích. Hàng năm, nhân dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam – Ngày hội Quốc phòng toàn dân, Bộ Tư lệnh và huyện uỷ, uỷ ban nhân dân huyện Ba Vì, các xã liền kề thường xuyên tổ chức hội nghị đoàn kết quân dân nhằm củng cố, duy trì mối quan hệ gắn bó giữa đơn vị và địa phương nơi đóng quân.

Đối với các bộ, ngành ở Trung ương, ngoài sự chỉ đạo thường xuyên của Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, đơn vị luôn nhận được sự quan tâm về vật chất và tinh thần để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Doanh trại, nơi ở, cơ sở hạ tầng và phương tiện làm việc của đơn vị được cải thiện hơn so với trước. Nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã tổ chức các đoàn đến tham quan, trồng cây và tặng vật kỷ niệm phục vụ cho công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích. Những tình cảm của nhân dân cả nước thực sự là nguồn động viên to lớn đối với cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị.

Đây cũng là bài học trong công tác phối hợp, hiệp đồng có giá trị thực tiễn đối với lãnh đạo, chỉ huy các cấp của đơn vị.

bqllang.gov.vn