Thư viện

Chuyên cơ chở Bác Hồ đón khách tham quan

Chiếc chuyên cơ IL14-C482 từng chở Bác Hồ nhiều lần đi công tác được đặt tại bảo tàng quân sự Việt Nam

Sau khi được phục hồi, chiếc chuyên cơ IL14-C482 từng chở Bác Hồ nhiều lần đi công tác được đặt tại bảo tàng quân sự Việt Nam nhằm phục vụ khách tham quan trong và ngoài nước.

Chiếc máy bay IL 14 số hiệu VN-C482 là quà của Chính phủ Liên Xô tặng Bác Hồ vào năm 1958, nay được trưng bày trong khuôn viên bảo tàng quân sự Việt Nam.Chiếc máy bay IL 14 số hiệu VN-C482 là quà của Chính phủ Liên Xô tặng Bác Hồ vào năm 1958, nay được trưng bày trong khuôn viên bảo tàng quân sự Việt Nam.

Chiếc IL 14 VN-C482 đã trải qua hai lần phục chế, lần đầu tiên vào năm 2001, khi đó đang nằm tại trung đoàn 918.Chiếc IL 14 VN-C482 đã trải qua hai lần phục chế, lần đầu tiên vào năm 2001, khi đó đang nằm tại trung đoàn 918.

Trên chiếc IL 14 này có thiết kế một phòng riêng dành cho Bác làm việc và nghỉ ngơi.
Trên chiếc IL 14 này có thiết kế một phòng riêng dành cho Bác làm việc và nghỉ ngơi.

Khi phục hồi nguyên trạng, vỏ máy bay được làm lại bằng một loại nhôm đặc biệt được đặt hàng từ nước ngoài.
Khi phục hồi nguyên trạng, vỏ máy bay được làm lại bằng một loại nhôm đặc biệt được đặt hàng từ nước ngoài.

Chuyên cơ nằm giữa không gian oai hùng của bảo tàng quân sự Việt Nam.
Chuyên cơ nằm giữa không gian oai hùng của bảo tàng quân sự Việt Nam.

Sải cánh máy bay khá rộng, có in hình lá cờ Việt Nam.
Sải cánh máy bay khá rộng, có in hình lá cờ Việt Nam.

Cánh quạt được sơn lại màu.
Cánh quạt được sơn lại màu.

Sau khi được phục hồi, chiếc máy bay được đặt tại đây để phục vụ khách tham quan.
Sau khi được phục hồi, chiếc máy bay được đặt tại đây để phục vụ khách tham quan.

Được đặt cùng những chiếc máy bay, khí tài quân sự khác.
Được đặt cùng những chiếc máy bay, khí tài quân sự khác.

 Khá nhiều khách nước ngoài đến tìm hiểu về chuyên cơ này.
Khá nhiều khách nước ngoài đến tìm hiểu về chuyên cơ này.

(Theo Infonet)
Vkyno (st)

Trưng bày chuyên cơ từng chở Bác Hồ

Sau khi kết thúc quá trình phục hồi trạng thái ban đầu, chiếc chuyên cơ này sẽ được di dời về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Quân chủng PKKQ đã thành lập đoàn công tác tiến hành khảo sát và xác minh lý lịch khoa học cho chiếc máy bay IL-14 mang số hiệu VN-C 516 hiện đang lưu giữ tại Trung đoàn Không quân 918-Quân chủng PKKQ.

Chiếc IL-14 số hiệu VN-C 516 là một trong số những máy bay do chính phủ Liên Xô tặng nhân dân Việt Nam từ năm 1958, được Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Chiếc IL-14 này có ý nghĩa đặc biệt vì nó là một trong những chiếc chuyên cơ Bác Hồ từng sử dụng lúc sinh thời.

Chiếc chuyên cơ IL-14 mang số hiệu VN-C 516 khi mới được phát hiệnChiếc chuyên cơ IL-14 mang số hiệu VN-C 516 khi mới được phát hiện

Thượng tá Lê Tôn Văn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo đảm kỹ thuật hàng không Trung đoàn Không quân 918 cho biết: “Chúng tôi đã kiểm tra toàn bộ các thông số kĩ thuật của chiếc IL-14. Hiện nay, công tác phục hồi nguyên trạng đang được thực hiện và dự kiến đến hết quý 1 năm 2012 sẽ hoàn thành”.

Theo kết quả làm việc gần đây nhất giữa Bảo tàng Lịch sử Quân sự với Quân chủng PKKQ, sau khi kết thúc quá trình phục hồi trạng thái ban đầu cho chiếc chuyên cơ này, hai bên sẽ tiến hành bàn giao và di dời về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Đây là một hiện vật có giá trị sẽ được Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trưng bày đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2012).

(Theo QĐND)
Vkyno (st)

Xem những kỷ vật quý về Bác Hồ tại Đền thờ ở Bạc Liêu

Đền thờ Bác Hồ tại xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu được xây dựng khang trang trong khuôn viên cỏ cây hoa lá đẹp mắt. Trong đó, Nhà Lưu niệm lưu giữ và trưng bày nhiều kỷ vật quý báu về Bác.

DT. 1
Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Đền thờ Bác Hồ tại xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi (cách trung tâm TP Bạc Liêu khoảng 10km) là một trong những Đền thờ được tôn tạo xây dựng khá khang trang tại khu vực miền Tây Nam Bộ. Đây là nơi để người dân Bạc Liêu nói riêng, cả nước nói chung cùng đến để tưởng nhớ về Bác qua những kỷ vật quý báu của Người để lại.

Có những kỷ vật đơn sơ mà Bác đã dùng như đôi dép, chiếc mũ, valy mây… và nhiều hình ảnh khác đã giúp người dân khi đến đền thờ có thể được xem và hiểu thêm về nhân cách giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đền thờ đã được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1998.

DT. 2Tượng Bác Hồ được đặt trang trọng ngay giữa Nhà Lưu niệm.

DT. 3
Chân dung của Bác qua từng thời gian.

 DT. 4

DT. 5

DT.6

DT. 7Bộ quần áo Kaki Bác mặc…

DT. 8
…và micrô Bác đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội vào ngày 2/9/1945.

DT. 9
Bộ dụng cụ thể thao Bác dùng để tập luyện sức khỏe.

DT. 10
Thớt (trái) Bác dùng để chế biến thức ăn và đá Bác dùng để kê bếp đun trong thời gian Người sống ở Cao Bằng những năm 1941- 1942.

DT. 11
Bình ôdoa: Bác đã dùng để tưới cây vú sữa của đồng bào miền Nam tặng Người năm 1957.

DT. 12
Chiếc khăn rằn của bà Nguyễn Thị Định kính tặng Bác nhân sinh nhật của Người.

DT. 13
Một số bức ảnh Bác với đồng bào.

DT.14
Hình tượng Bác đang tưới cây vú sữa được dựng lên trong nhà lưu niệm.

DT. 15
Đồng hồ dừng lại lúc 9h45′ thời khắc Bác qua đời ngày 2/9/1969 và băng tang của người dân xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu sử dụng đeo trong lễ truy điệu Bác ở xã Châu Thới vào tháng 9/1969.

DT. 16
Một số hình ảnh xúc động trong lễ truy điệu Bác được ghi nhận ở mọi miền đất nước.

DT. 17
Khuôn viên đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu khang trang, đẹp mắt. Tại đây cũng có rất nhiều cây xanh do các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu trồng khi đến viếng Người.

Huỳnh Hải
Theo http://dantri.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Đến Noỏng Ổn thăm khu di tích Bác Hồ

Trong chuyến công tác tại thủ đô Vientiane, Lào cuối năm 2009, qua giới thiệu của cô Lan, một Việt Kiều sống tại trung tâm TP Udonthani, chúng tôi bắt ôtô sang tỉnh biên giới Thái Lan giáp Lào để thăm Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh – nơi ghi dấu thời gian Bác từ châu Âu về hoạt động tại Đông Dương theo Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản.

Từ con đường chính dẫn vào khu di tích Bác Hồ chỉ khoảng 500m nhưng ngay khi rẽ vào, mọi ồn ã biến mất, thay vào đó là một không gian bình yên, giống như bất kỳ vùng quê nào của Việt Nam. Hai bên đường tre xanh trồng um tùm như muốn che cái nắng trưa oi ả của vùng quê Noỏng Ổn.

Theo lời giới thiệu của cô Lan, cách đây gần một thế kỷ, ông cô sang Thái Lan định cư, đến đời con cô đã trải qua bốn đời nhưng gia đình cô vẫn giữ truyền thống là ai cũng học và nói tiếng Việt. Cô Lan tâm sự, tiếng Việt nó như hồn phách, ngấm vào máu thịt, không thể nào quên được. “Hàng năm người Việt sinh sống ở Udonthani còn có truyền thống đến dâng hương và thăm di tích Bác tại Noỏng Ổn. Đó là cách để chúng tôi dạy dỗ con cháu luôn biết và nhớ về cội nguồn”.

Không chỉ những người ở lâu năm như gia đình cô Lan mà những người mới sang lập nghiệp, sinh sống bên đất Thái vài chục năm nay cũng có nếp chung như vậy. Chị Lâm Thị Bích, tiểu thương bán hàng tại khu chợ người Việt ở thành phố Udonthani có thói quen mỗi khi có người Việt Nam sang chơi dù bận bịu đến mấy cũng cho cậu con trai lái ôtô chở mọi người đến thăm khu di tích Noỏng Ổn. “Nó như một cách để cho con cháu tôi luôn nhớ về quê hương, và tự hào về đất nước Việt Nam có một lãnh tụ vĩ đại, cũng là có dịp để gia đình chúng tôi có cơ hội để nghe những người Việt kể về đất nước mình phát triển thế nào…”.

Hai gian nhà tranh đơn sơ, những dụng cụ nhà nông, đặc biệt, tấm ảnh Bác đang vẫy chào và cười hiền từ ở giữa gian chính khiến mọi người xúc động trước vị cha già dân tộc vĩ đại nhưng cốt cách bình dị. Phía sau ngôi nhà, khu vườn tăng gia, chuồng chăn nuôi và gốc xoài, cây bàng vẫn hiển hiện như trước đây Bác đã chăm sóc, vun trồng cách đây gần một thế kỷ.

Theo tư liệu lịch sử và qua lời kể của Việt kiều ở Udonthani, giữa năm 1928, nhận được Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản điều động về nhận công tác ở Đông Dương, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã từ giã nước Đức vào tháng 6 và đến Thái Lan vào tháng 7 với thẻ nhập cảnh mang tên Nguyễn Lai. Ở Thái Lan, Bác mang các tên Thầu Chín, ông Thọ, Nam Sơn. Sau một thời gian ngắn ở Phi Chịt, miền Trung Thái Lan, Bác đã chọn Udonthani, cách Bangkok khoảng 600km, làm nơi hoạt động, bởi lúc đó thị xã Udonthani rất nhỏ, dân cư thưa thớt, rừng rậm chiếm phần lớn với bạt ngàn gỗ quý vây bọc. Tại đây, Bác liên lạc với Việt kiều ở các tỉnh Nongkhai, Sakol, Nakhon-phanoom…, tập hợp họ lại để trò chuyện, kể cho họ nghe về tình hình phong trào cách mạng đang diễn ra trong nước và trên thế giới, phác họa tương lai cách mạng Việt Nam. Bác còn chủ trương viết tờ báo Thân ái cho anh em đọc. Rồi Bác chọn một số người có khả năng tiếp thu, dạy họ học tiếng Anh, sau đó điều đi xây dựng phong trào nơi khác, nhân rộng cách làm việc, nền nếp mà Bác đặt ra.

Cũng chính thời gian hoạt động tại Udonthani, với tấm lòng của một nhà cách mạng vô sản quốc tế, Bác còn tham gia gánh gạch xây chùa Vắt Phô, một ngôi chùa to đẹp và có danh tiếng nhất của tỉnh Udonthani. Theo các nhà nghiên cứu Thái Lan, “cụ trụ trì chùa còn mời ông Nguyễn tham gia chỉ đạo xây dựng chính điện ngôi chùa”…

Mặc dù thời gian hoạt động của Bác ở Udonthani không dài, nhưng hình ảnh của Người mãi khắc sâu trong tâm khảm các thế hệ người Việt ở Thái Lan. Với tình cảm yêu kính vị Cha già dân tộc, năm 2003, bà con Việt kiều đã đóng góp tiền của, dựng lại Khu di tích Bác Hồ tại Noỏng Ổn. Trên nền nhà cũ của Trại Cưa, ngôi nhà chính, nhà chứa thóc, cùng những đồ dùng mộc mạc (giường ngủ, bàn ghế, chum vại đựng nước…), chuồng trại chăn nuôi gia cầm… được dựng lại bằng gỗ, tre, nứa giống như thời gian Bác hoạt động tại đây.

Quần thể khu di tích Bác Hồ giờ đây ngoài sự bình dị của những căn nhà tranh, trang nghiêm hơn vì bên cạnh đó có hẳn một khu trưng bày tưởng niệm về Bác. Điều đó thể hiện sự thành kính của Việt kiều tại Thái Lan, sự ngưỡng mộ sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh của chính quyền và người dân Thái Lan ở Noỏng Ổn.

Kỳ Duyên
daibieunhandan.vn

Kỷ vật và kỷ niệm với Bác Hồ

Câu chuyện đã qua tròn nửa thế kỷ nhưng ông vẫn nhớ rành rọt lắm. Nhất là mỗi lần ngắm nhìn chiếc phù hiệu, thẻ ra vào và giấy giới thiệu là ông lại rưng rưng nhớ tới kỷ niệm với Bác Hồ kính yêu…

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ hai từ ngày 8 đến ngày 10-12-1961. Để phục vụ cho chuyến đi của Bác Hồ về Nghệ An và sau đó thăm tỉnh Thanh Hóa bảo đảm an toàn, Cục Không quân đã cử Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh, lúc ấy đang là Trợ lý Điều phái Chỉ huy Sở – Ban Tác chiến – Cục Không quân đi trước đến hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa để liên hệ công tác làm nhiệm vụ xác định vị trí, chọn địa điểm để máy bay trực thăng chở Bác có thể cất cánh và hạ cánh an toàn. Trước khi đi công tác, Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh được Cục Không quân cấp giấy giới thiệu số 845 ngày 6-12-1961 (hạn đến ngày 16-12-1961). Khi đến tỉnh Nghệ An đồng chí được Công an tỉnh Nghệ An cấp phù hiệu ngày 7-12-1961 có dòng chữ “Lam – Trà nổi sóng”. Nghĩa của dòng chữ này xuất phát từ năm 1960, tại Nghệ An có phát động phong trào An – Ngãi quật khởi, “Lam – Trà nổi sóng” vừa là phong trào, vừa thể hiện tấm lòng của Nghệ An đối với miền Nam tiền tuyến lớn anh hùng mà cụ thể là với tỉnh Quảng Ngãi kết nghĩa. Phù hiệu chỉ cấp trong nội bộ và được ra vào bí mật. Ngày 11-12-1961 khi ra tới Thanh Hóa, Hoàng Ngọc Mạnh còn được Công an tỉnh Thanh Hóa cấp tiếp một thẻ ra vào. Ông đã sử dụng giấy giới thiệu, phù hiệu, thẻ để ra vào Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Công an tỉnh, Ủy ban Hành chính của hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An thực hiện nhiệm vụ trong suốt quá trình công tác của mình từ ngày 7 đến ngày 12-12-1961.

3. ky vatGiấy giới thiệu, phù hiệu của CCB Hoàng Ngọc Mạnh.

 Trong chuyến công tác này, có một kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ mà Hoàng Ngọc Mạnh không bao giờ quên. Ông nhớ lại: “Vào lúc 23 giờ đêm 10-12-1961, sau khi liên hoan, xem biểu diễn văn nghệ chia tay quê hương Nghệ An để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy Nghệ An đã tổ chức cuộc họp đột xuất thống nhất kế hoạch để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm Thanh Hóa. Cuộc họp có sự tham gia của đồng chí Phạm Kiệt, Thứ trưởng Bộ Công an cùng các cán bộ chủ chốt của tỉnh Nghệ An và đại diện một số ban, ngành liên quan. Đang họp thì Bác trở về, đi qua phòng họp của Tỉnh ủy. Bác vào phòng và hỏi:

– Các đồng chí đang làm gì ở đây?

Đồng chí Phạm Kiệt đứng lên trả lời Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu đang họp chuẩn bị kế hoạch để sáng mai Bác ra thăm Thanh Hóa.

– Tình hình máy bay ngày mai thế nào? Xăng dầu có đủ không? Bác hỏi.

Đồng chí Phạm Kiệt bảo tôi trả lời Bác. Tôi nói:

– Thưa Bác! Máy bay tốt, xăng dầu đủ và còn thừa ạ.

– Thế các anh em phi công ăn, ngủ ở đâu?

– Dạ thưa Bác, anh em phi công ăn ngủ ở giao tế ạ (giao tế là nơi đón tiếp, nghỉ ngơi của nhiều Đoàn khách cán bộ cao cấp trong nước và bạn bè quốc tế).

Bác lại hỏi:

– Giao tế ở đâu? Cách đây bao xa? Bác muốn qua thăm anh em.

Vì đã khuya, ngoài trời rất lạnh và muốn Bác về ngủ giữ sức khỏe để mai còn lên đường nên tôi đã trả lời:

– Dạ thưa Bác xa lắm, cách đây khoảng hơn 400m ạ.

Bác cười:

– Cách đây có hơn 400m mà đồng chí bảo xa.

Tôi suy nghĩ rất nhanh rồi trả lời:

– Thưa Bác, bây giờ đã là 11 giờ, để bảo đảm sức khỏe các đồng chí trong tổ bay đã đi ngủ từ lúc 8-9 giờ tối.

Khi nghe xong câu trả lời của tôi, Bác nói:

– Đồng chí nói thế thì mới đúng, chứ cách đây có hơn 400m mà bảo xa thì không xa.

Bác mỉm cười rồi nói tiếp:

– Các đồng chí tiếp tục làm việc đi, Bác về phòng đi ngủ.

Câu chuyện và kỷ niệm gắn với chuyến công tác phục vụ Bác Hồ về thăm hai tỉnh Nghệ An – Thanh Hóa 50 năm trước vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức người lính không quân năm xưa. Cựu chiến binh Hoàng Ngọc Mạnh đã cất giữ cẩn thận giấy giới thiệu, phù hiệu và thẻ ra vào như một kỷ vật quý của mình và gia đình. Ngày 8-8-2011 vừa qua, ông đã trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam…

Theo qdnd.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Chiếc thang tre Bác Hồ

TP – Đó chiếc thang tre Bác Hồ dùng ở Lán Khuổi Nặm (Pác Bó – Cao Bằng) từ năm 1941 (tức là đã được 71 năm). Chiếc thang đơn sơ nhưng thật vĩ đại.

Bác Hồ với thanh thiếu nhiBác Hồ với thanh thiếu nhi.

Đại bản doanh của Bác Hồ ở Pác Bó

Lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về nước, lập căn cứ địa cách mạng tại Pác Bó từ năm 1941 đến năm 1945. Trong khoảng thời gian 5 năm ấy Người không chỉ ở Pác Bó mà còn xuống căn cứ địa Lam Sơn (Hòa An – năm 1942); Sang Trung Quốc (năm 1942, 1943).

Thời gian Người ở Pác Bó lâu nhất là hơn một năm (từ tháng 1-1941 đến tháng 3-1942). Trong thời gian đó theo sử sách thì Người chỉ ở hang Cốc Bó và hang Lũng Lạn hơn một tháng. Vậy còn hơn một năm Người sống và làm việc ở đâu?

Kể cũng lạ! Hơn một năm sống ở Pác Bó, Bác Hồ chỉ “ghi lại” có 2 bài thơ (Bài Pác Bó hùng vĩ và bài Tức cảnh Pác Bó). “Một người viết nhiều và hay làm thơ như Bác Hồ, sao chỉ “để lại”có vậy?” .

Nghĩ thế tôi lọ mọ đi tìm kiếm và thật may mắn, tôi “sưu tầm” thêm được 2 bài thơ nữa của Bác (bài Cảnh rừng Pác Bó và bài Tức cảnh hang Lũng Lạn).

Đặc biệt tôi tìm được một bài viết dài của Bác mà đoạn trích dưới đây chỉ rõ hơn một năm ở Pác Bó, Bác đặt đại bản doanh ở đâu: “Lần này dời vào một cái suối. Hai bên là núi cao, lội suối một đoạn khá xa thì có một cái thác cao độ ba thước, nước từ trên ào ào chảy xuống như một tấm lụa trắng. Lội suối một đoạn nữa, lại có một cái thác cũng cao như vậy. Đi qua ba đoạn suối và trèo lên ba cái thác thì chúng tôi đóng “đại bản doanh”.

Bắc tre từ bờ này đến bờ kia suối như một nhịp cầu, rồi làm lán trên cầu, dưới lán, nước chảy róc rách như tiếng ru con”. (Hồ Chí Minh – Chuyện kể dọc đường Cách mạng – Trang 492).

Con suối đó là Khuổi Nặm. Xin nói ngay một điều ít ai biết là trên Khuổi Nặm có tới 3 chiếc lán, chứ không phải chỉ có 1 (chiếc lán ở cửa rừng, nơi họp hội nghị Trung ương 8 là lán 1).

Bác Hồ ở lán 3, trên cùng, chỉ cách mốc 109 vài bước chân. Rõ ràng, khu di tích Pác Bó đã “bỏ quên” “đại bản doanh” của Bác Hồ. Cần sớm khôi phục, tôn tạo lại (Bài này không bàn tới chuyện đó).

Không chỉ có duy nhất một tài liệu nói tới lán Bác Hồ ở như đã dẫn mà còn có rất nhiều hồi ký nói tới lán Bác Hồ của các đồng chí Lê Quảng Ba, Dương Đại Long, Dương Đại Lâm, Nông Thị Trưng… Đây là một đoạn trong hồi ký Những ngày sống gần Bác của Nông Thị Trưng, cháu gái nuôi của Bác Hồ ở Pác Bó.

“Đi ngược con suối nước chảy khá mạnh, thỉnh thoảng lại có những mô đá cao, đi rất chật vật mới trèo qua được hai mô đá cao, đến cái thứ ba, cao gần như thác, tôi nhìn thấy khá cao và rùng rợn. Lúc này anh Đại Lâm ra hiệu bằng tiếng còi, tôi nhìn lên thấy đồng chí Vũ Anh đưa cái thang xuống (H.Q.U nhấn mạnh), anh Đại Lâm và tôi cùng leo lên hết thang thấy một cái lán nhỏ dựng trên suối nước. Vừa bước chân đến cửa lán, tôi chợt thấy một ông cụ mặc bộ quần áo Nùng màu chàm phai. Thoáng nhìn tôi thấy ông cụ có vầng trán cao, có chòm râu dài, trông rất quắc thước, đang ngồi xem sách” (trang 31, 32).

Đi tìm chiếc thang tre

Thang tre Bác Hồ ở Lán Khuổi Nặm 1941Thang tre Bác Hồ ở Lán Khuổi Nặm 1941.

Điều tôi đặc biệt lưu ý trong hồi ký của bà Nông Thị Trưng là chiếc thang tre bắc lên lán 3 (lán Bác Hồ ở).

Là dân miền núi, nhưng tôi không thể tưởng tượng ra chiếc thang tre đặc biệt này, tôi đem điều đó “phàn nàn” với nhà nghiên cứu Vương Hùng, người thầy, người anh, người bạn của tôi, một thời là Phó Ty Văn hóa Cao Bằng. Ông Vương Hùng bảo: “Trong Bảo tàng Cao Bằng có lưu giữ chiếc thang tre của Bác Hồ ở lán Khuổi Nặm từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, sau đó Bảo tàng Việt Bắc lên lấy về Thái Nguyên cùng 2 chiếc trống đồng to”.

Thông tin của ông Vương Hùng làm tôi thật sự phấn khích. Tôi xuống ngay Thái Nguyên tìm. Bạn bè Thái Nguyên mách nên về Hà Nội tìm ở chỗ anh Chu Đức Tính.

Tôi xuống Bảo tàng Hồ Chí Minh, xin vào “tìm chiếc thang” ở kho tư liệu nhưng việc không thành. Quay ngược trở lại Thái Nguyên, tôi cậy nhờ chị Nguyễn Thị Lệ Thu, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch cùng anh Hưng làm ở phòng di sản, giúp lần tìm “manh mối”. Một tuần sau anh Hưng điện bảo “Cái thang ấy trả về Cao Bằng lâu rồi!”.

Tôi lại trở về Cao Bằng, bắt đầu lại từ điểm xuất phát, hỏi bảo tàng Cao Bằng, hỏi khu di tích Pác Bó… Chẳng ai biết chiếc thang tre từ thời “xa xưa” cả. Đột nhiên giữa tháng 8-2012, anh Phùng Chí Kiên, Giám đốc Bảo tàng Cao Bằng điện thoại bảo tôi “thấy rồi, thấy rồi!”.

Tôi lao vội đến chỗ anh Kiên, anh liền dẫn tôi vào một căn nhà xây 2 tầng, chỉ tay lên phía trên cầu thang: “Thang ở trên đầu chúng ta”.

Tôi ngước nhìn, thấy một chiếc thang tre cũ kỹ gác áp vào trần nhà. Phùng Chí Kiên cho người đem cái thang xuống, đưa ra sân rộng của bảo tàng, gác lên gốc cây để tôi chụp ảnh.

Đó là một chiếc thang được làm bằng một cây tre gai bổ đôi, dài 3,3m, đầu dưới rộng 45 cm; đầu trên rộng 29cm, có 8 bậc. Phùng Chí Kiên khẳng định: “Đây là chiếc thang tre Bác Hồ dùng ở lán Khuổi Nặm năm 1941”.

Đầu tháng 11-2012, trong buổi tiếp đoàn học giả Trung Quốc do giáo sư Hoàng Tranh dẫn đầu lên khảo cứu Pác Bó, ông Đinh Ngọc Hải, nguyên Giám đốc khu di tích Pác Bó thêm một lần khẳng định với tôi: “Cái thang tre ấy do tôi xuống Thái Nguyên lấy về. Hồ sơ có ghi rõ: Thang tre Bác Hồ dùng ở Khuổi Nặm!”.

Vàng đấy, chẳng phải thau đâu…

Nơi từng là đại bản doanh của Bác Hồ tại Pác Bó Nơi từng là đại bản doanh của Bác Hồ tại Pác Bó .

Hóa ra, việc “truy tìm” chiếc thang tre Bác Hồ lại đơn giản và ngẫu nhiên đến thế, chứ chẳng có gì là ly kỳ, lắt léo. Đó chỉ là sự may mắn! Ấy là việc thứ nhất, coi như xong, nhưng việc tiếp theo sau khi “phát hiện lại” thì sẽ làm gì với hiện vật quí đó?

Chẳng làm gì cả! Chiếc thang tre ấy vẫn nằm khuất vì những người có trách nhiệm chưa có thời gian xác minh và thẩm định lại, và dù có xác minh lại thì chưa biết đem trưng bày như thế nào? Giới thiệu ra làm sao? Thật không đơn giản!

Riêng tôi, tôi nghĩ chiếc thang tre đó là hiện vật rất quí, cần có chế độ bảo quản thật tốt chứ không thể để như bây giờ.

Tháng 11-2012, tôi cộng tác với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng bộ phim tài liệu về Pác Bó, quay nhiều hình ảnh về chiếc thang tre và lên ghi hình tại nơi ngày xưa Bác Hồ đặt đại bản doanh trên dòng Khuổi Nặm. Bộ phim được giới thiệu trên sóng VTV.

Còn bây giờ, tôi mơ một ngày sẽ được trèo lên chiếc thang tre, như các ông Dương Đại Lâm, bà Nông Thị Trưng đã từng trèo lên gặp Bác Hồ.

Thành phố Cao Bằng tháng 12-2012

Hoàng Quảng Uyên
tienphong.vn

5 Di thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận là Bảo vật Quốc gia

di thu 1
Tác phẩm Đường Kách mệnh

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/1982 – 20/11/2012, tại khuôn viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện đang trưng bày 5 Di thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng 25 Bảo vật Quốc gia Việt Nam từ ngày 15/11/2012 đến ngày 25/11/2012.

5 Di thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận Bảo vật Quốc gia đó là: Đường Kách mệnh; Nhật ký trong tù; bản thảo “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia); bản thảo “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (văn bản này Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh); Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (văn bản gốc viết từ ngày 10/5/1965 đến ngày 19/5/1969, lưu trữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

di thu 2

Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc cho các lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản thành sách với tên gọi là Đường Kách mệnhVì vậy có thể nói  “Đường Kách mệnh” tập hợp những bài giảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Quảng Châu, Trung Quốc những năm 1925 – 1927. Nội dung tư tưởng của cuốn sách là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về việc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn với cách mạng vô sản, là nền tảng cho việc tìm hướng đi mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam và được coi là văn kiện lý luận chính trị đầu tiên của Đảng, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.

di thu 3

di thu 4
Tác phẩm Nhật Ký trong tù

Tác phẩm Nhật ký trong tù (nguyên văn chữ Hán: 獄中日記 – Hán Việt: Ngục trung nhật ký) là một tập thơ của Hồ Chí Minh, viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943, trong thời gian Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp 18 nhà giam ở 13 huyện tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Nguyên gốc tập thơ chỉ là một quyển sổ tay nhỏ, bìa xanh đã bạc màu, có ghi bốn chữ “Ngục trung nhật ký” (tức Nhật ký trong tù) kèm theo bốn câu thơ và một hình vẽ hai nắm tay bị xích; bên trong gồm 133 bài thơ chữ Hán và một số ghi chép. Tập thơ được nhiều người đánh giá là một thể hiện khác của con người Hồ Chí Minh qua cách nhìn là một nhà thơ.

Tác phẩm Nhật ký trong tù đã được xuất bản nhiều lần, được dịch và giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới, nhiều lần được thể hiện bằng thư pháp tiếng Việt, Hán, Triều Tiên, Nhật bản…

di thu 5
Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ­- Bản viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lịch sử như một Cương lĩnh kháng chiến, chứa đựng những quan điểm cơ bản về tư tưởng, đường lối chiến tranh nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, truyền thống anh hùng, bất khuất, quyết hi sinh để giành lại độc lập cho dân tộc; là mệnh lệnh tiến công cách mạng, tạo khí thế để nhân dân cả nước đứng lên chiến đấu với mọi vũ khí sẵn có với một ý chí quyết đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Việt Nam. Bản viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

di thu 6
Văn bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

di thu 7
Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh( Văn bản gốc Bác Hồ viết từ ngày 10/5/1965 – 19/5/1969, hiện lưu giữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

Bản Di chúc là sự kết tinh tinh thần tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp suốt đời phấn đấu hi sinh vì nước vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước sau khi kháng chiến thắng lợi; là những lời căn dặn thiết tha; là sức mạnh thôi thúc toàn dân tộc hành động trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Khu vườn Phủ Chủ tịch – nơi giáo dục sâu sắc ý thức bảo vệ môi sinh, môi trường

coi bac xua

Vào thăm nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ấn tượng đầu tiên đối với khách tham quan đó là màu xanh của vườn cây nơi đây. Khu vườn mang lại cho du khách một cảm giác thư thái, trong lành ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội ngột ngạt. Và càng thú vị hơn khi du khách được tìm hiểu một số câu chuyện về các loài cây trong khu vườn gắn với những kỷ niệm về Bác. Chuyện về mỗi loài cây mang tình cảm ấm áp của Bác, có ý nghĩa giáo dục sâu xa về cuộc đời, về con người.

Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch nằm trong khuôn viên vốn là một phần của vườn Bách thảo cũ. Cuối thế kỷ thứ 19, sau khi xâm lược ba nước Đông Dương, thực dân Pháp đã chiếm khu đất này để quy hoạch về Phủ Toàn quyền Đông Dương. Mãi đến cuối năm 1954 sau khi Hà Nội được giải phóng, quân ta về tiếp quản Thủ đô thì khu vực này mới trở thành trung tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta. Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử dân tộc, nhiều công trình kiến trúc đã bạc màu vì thời gian, tuy nhiên khu vực này vẫn giữ được vườn cây xanh tươi, phong phú về chủng loại. Theo nhận định của một số nhà khoa học thì nơi này giống như một bảo tàng sống về các loại cây trong đó có nhiều giống cây quý đến từ nhiều nước trên thế giới, nhiều cây cổ thụ có tuổi thọ hàng trăm năm.

Toàn bộ vườn cây có 1271 cá thể, thuộc 161 loài cây, 54 họ thực vật, 78 cây có nguồn gốc trong nước, 68 cây có nguồn gốc nước ngoài và một số cây còn chưa rõ nguồn gốc; nhiều loài cây ăn quả, nhiều loài cây bóng mát, nhiều loại hoa và cây cảnh. Khu vườn này càng phong phú hơn kể từ khi Bác Hồ về ở và làm việc tại khu vực này, Bác đã cho trồng nhiều loại cây mới, cải tạo ao nuôi cá, đường đi, lối lại và làm cho cảnh quan môi trường ở khu vực này thêm sạch và đẹp. Nhiều cây trồng ở khu vực này không chỉ có giá trị về mặt kinh tế mà còn mang lại ý nghĩa lịch sử văn hóa, gắn với quê hương đất nước, gắn với tình đồng chí, bè bạn quốc tế bởi vì trong khu vườn này có những cây do Bác tự tay trồng và chăm sóc, có cây Bác đặt tên, có cây Người mang từ nước ngoài về, có cây đồng bào trong nước gửi tặng… mỗi cây đều chứa đựng những kỷ niệm sâu sắc về Người.

Trên con đường đi từ Phủ Chủ tịch đến nhà 54, khách tham quan có thể chiêm ngưỡng cây đa có thế đứng độc đáo với ba thân cây phụ được tạo thành từ các nhánh rễ buông  từ trên cành xuống tỏa ra ba hướng, Bác đã dạy cho các đồng chí phục vụ cách đưa rễ đa từ trên cao xuống đất để chống đỡ cho cây trong những ngày mưa bão. Qua quá trình đưa được rễ đa xuống đất mất nhiều thời gian và công sức này, Bác muốn gửi bức thông điệp đến mọi người rằng: Con người hoàn toàn có thể chinh phục được tự nhiên, nếu có tính quyết tâm và lòng kiên trì. Để ghi nhớ lời Bác dạy, các đồng chí phục vụ đã đặt tên cho cây là: Cây đa kiên trì.

Bên cạnh ngôi nhà số 54, Bác cho trồng cây xanh bốn mùa với đặc tính rất ít khi rụng lá vào mùa đông. Loài cây này được Bác mang về từ Trung Quốc sau chuyến thăm hữu nghị của Người vào năm 1957 để trồng thử với mong muốn nếu cây thích ứng tốt với khí hậu Việt Nam sẽ cho trồng rộng rãi trên khắp các đường phố để đỡ phần nào cực nhọc cho những người lao công quét đường.

Quanh ao cá của Bác Hồ nhấp nhô những rễ cây dâm bụt mọc, loài cây Bác đã đặt tên sau một so sánh khá thú vị giữa hình dáng của rễ cây với những bức tượng của ông Bụt ở trong chùa. Khi Bác biết các đồng chí phục vụ có ý định chặt bỏ một cây bụt mọc đã bị mối xông quá nửa thân, Bác đã khuyên không nên chặt bỏ rồi sau đó Bác đã trực tiếp hướng dẫn các đồng chí phục vụ cách cứu chữa cho cây. Theo Bác: Chặt một cây thì rất dễ nhưng trồng thêm một cây mới để phát triển được như cũ thì mất rất nhiều thời gian. Sau này, khi đi nói chuyện tại một Hội nghị Cán bộ quản lý ở thị xã Sơn Tây, Bác đã kể lại câu chuyện cứu chữa cây bụt mọc để nhắc nhở về việc quản lý, giáo dục cán bộ. Bác dạy rằng, việc giúp đỡ một cán bộ phạm khuyết điểm cũng giống như cứu chữa một cây bị hư, không phải cứ thấy cán bộ phạm lỗi là đưa ra kỷ luật, bài trừ mà phải tạo điều kiện giúp đỡ họ để họ khắc phục khuyết điểm và trở thành người có ích. Qua câu chuyện về cây, Bác đã dạy cho chúng ta một bài học sâu sắc về cách ứng xử đầy vị tha, nhân hậu đối với con người. Tình yêu thương và lòng bao dung nhân ái chính là cách tốt nhất để cảm hóa được con người lầm lỗi, giúp họ trở thành người tốt. Đối với cây cỏ, thiên nhiên cũng vậy, chỉ có tình yêu thương, lòng quý trọng mới biến thiên nhiên thành những người bạn thực sự trong cuộc sống của chúng ta.

Bờ ao trước nhà sàn Bác cho trồng hai cây y lan với dáng đứng vươn thẳng lên bầu trời rồi Người đặt tên cho cây là cây vũ trụ để chúc mừng thành tựu của nhân dân Liên Xô sau khi được biết bạn vừa phóng thành công hai con tàu vũ trụ Phương Đông 5 và Phương Đông 6. Vào mỗi độ hè sang, khu vườn của Bác càng được tô điểm với những sắc màu rực rỡ của hoa phượng, hoa liễu đỏ, hoa bằng lăng tím, hoa phong lan đủ màu sắc quanh ao cá.

Thăm khu vực nhà sàn, khách tham quan sẽ được chiêm ngưỡng một khung cảnh vừa giản dị, vừa nên thơ với hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh ngôi nhà ở Làng Sen quê hương Bác, vườn hoa trước nhà với các loài hoa mang nhiều hương thơm thường được trồng ở các vùng quê như hoa mộc, hoa sói, hoa nhài, hoa dạ hương. Mảnh vườn nhỏ phía sau nhà với những luống cam, bưởi mang đến cho ta một cảm giác bình yên và thật sự gần gũi như hình ảnh quê hương trong tâm khảm của mỗi con người. Ở góc cầu thang nhà sàn là cây vú sữa của đồng bào miền Nam mà Bác đã cho chuyển từ ngôi nhà số 54 về trồng tại đây sau khi nhà sàn được hoàn thành. Hằng ngày dù bận trăm công ngàn việc Bác vẫn dành thời gian để chăm sóc, tưới tắm cho cây như gửi gắm vào trong đó tất cả tình cảm Bác dành cho đồng bào miền Nam.

Trước khi ngôi nhà sàn được đưa vào xây dựng, Bác đề nghị hạn chế tối đa việc chặt cây nhằm duy trì đến mức tốt nhất vườn cây đã có sẵn từ trước. Chính vì vậy mà nhiều cây cổ thụ quý hiếm vẫn được gìn giữ và chăm sóc cho đến tận ngày hôm nay như: Những cây cơm nguội, cây đa, cây xoài, cây ngân hoa, cây hoàng lan,… Bác rất thích làm việc giữa khung cảnh thiên nhiên. Những nơi làm việc yêu thích của Người là dưới giàn hoa Phủ Chủ tịch và ngôi nhà sàn giản dị ở giữa vườn hoa xanh mát. Nơi đây giữa thiên nhiên hoa lá, dường như Bác cảm thấy minh mẫn và thư thái hơn để đưa ra nhiều suy nghĩ, nhiều quyết sách đúng đắn, phù hợp với tình hình đất nước. Đây còn là nơi Bác dành để tiếp đón các đoàn khách đặc biệt của mình. Bác thích trò chuyện, tiếp khách tại đây bởi không bị giới hạn bởi không gian và các nghi thức ngoại giao, con người dễ gần gũi với nhau hơn. Được Bác tiếp đón tại giàn hoa Phủ Chủ tịch hay ở tầng một nhà sàn là một kỷ niệm khó quên đối với những vị khách của Bác.

Những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, nỗi nhớ miền Nam da diết trong lòng Bác. Không có dịp vào thăm miền Nam, Bác dành hết tình cảm của mình vào việc chăm sóc những cây dừa miền Nam trước ngôi nhà sàn hay cây vú sữa mà đồng bào miền Nam đã tặng Bác. Trước lúc đi xa Bác còn căn dặn đồng chí Vũ Kỳ tìm thêm các giống xoài miền Nam trồng xen kẽ giữa những cây xoài cổ thụ trên con đường xoài để cây có thời gian kịp phát triển thay thế những cây đã già cỗi.

Tham quan khu vườn Phủ Chủ tịch, tìm hiểu một số câu chuyện về những loài cây trong vườn Bác, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc về tình cảm ấm áp của Bác không chỉ đối với con người mà còn lan tỏa sang cỏ cây hoa lá. Có thể nói, cây cỏ quanh nhà Bác không còn vô tri, vô giác mà như được thổi hồn vào nhờ tình yêu thương và bàn tay chăm sóc của Bác. Mỗi cây đều được Bác nâng niu, trân trọng và xem như những người bạn tri ân trong cuộc sống của mình. Mỗi buổi chiều sau giờ làm việc, khi những người phục vụ trở về với gia đình riêng của mình, Bác chỉ có thiên nhiên làm bầu bạn. Cỏ cây hoa lá rì rào quanh ngôi nhà xua đi sự tĩnh mịch, vắng vẻ, như tiếp thêm cảm hứng cho tâm hồn dễ rung cảm của Bác, giúp Người viết nên những áng thơ dạt dào tình yêu đất nước, quê hương.

Nơi Bác Hồ ở tràn ngập màu xanh của thiên nhiên, hoa lá, rộn tiếng chim ca. Cảnh sắc thật nên thơ trong sự hài hòa cân bằng sinh thái. Con người và thiên nhiên nơi đây tạo nên sự hoàn chỉnh, dung hòa trong mối quan hệ cộng sinh tự nhiên. Việc nước bộn bề với bao căng thẳng, lo toan nhưng mỗi khi trở về nơi này, Bác được hưởng những phút giây thư giãn, được tiếp thêm nguồn sinh lực mới để tiếp tục cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Được sống giữa môi trường thiên nhiên trong lành, Bác có thêm nhiều ý tưởng sáng tạo mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cuối năm 1959, cũng từ nơi này, ngày Tết trồng cây đã được Bác phát động với mục tiêu “Trong mười năm, đất nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ điều hòa hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Lời kêu gọi của Bác được sự hưởng ứng rộng rãi của các địa phương trong cả nước. Cũng từ sau Tết trồng cây đầu tiên, phong trào đã trở thành một nếp sống đẹp, một truyền thống gắn bó không thể thiếu trong mỗi người dân Việt Nam khi xuân về.

Không chỉ kêu gọi nhân dân tích cực tham gia trồng cây, Bác luôn trực tiếp tham gia, cổ động cho phong trào phát triển. Mỗi năm cứ khi Tết đến, xuân về Bác đều tự mình trồng cây trong Phủ Chủ tịch để làm gương. Bác thường xuyên tổ chức những chuyến công tác đến các địa phương để thăm hỏi, động viên, cùng trồng cây với nhân dân. Bác còn tặng cả huy hiệu của Người cho những gương người tốt, việc tốt, điển hình trong hoạt động trồng cây bảo vệ môi sinh, môi trường.

Nhờ có sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Bác, phong trào đã được phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chiều sâu. Hàng ngàn héc ta rừng đã được phủ xanh, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống kinh tế và duy trì sự ổn định, bền vững cho môi trường sống của nhân dân ta. Mỗi người tham gia trồng thêm một vài cây xanh, đất nước ta có thêm hàng triệu cây xanh góp phần  làm cho môi trường sống càng thêm trong lành, thêm đẹp và thêm ý nghĩa.

Có thể nói ngày nay nhân loại đang đối diện với rất nhiều vấn đề bức xúc về môi trường. Sự phát triển kinh tế càng nhanh thì kéo theo nhiều hệ lụy lên môi trường sống của chúng ta. Môi trường sống ở các đô thị đang bị ô nhiễm, ngột ngạt vì khói bụi và chất thải đe dọa sức khỏe và chất lượng sống của con người. Nhiều khu công nghiệp với hàng ngàn nhà máy đang xả chất thải sản xuất trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí. Nạn chặt phá rừng, buôn bán gỗ lậu, khai thác tài nguyên, khoáng sản diễn ra ngày càng tinh vi trên khắp các cánh rừng gây ra nhiều hậu qủa nặng nề như làm gia tăng nhiệt độ trái đất kéo theo lũ lụt, sạt lở đất… Rõ ràng nạn ô nhiễm môi trường do con người gây ra lại quay trở lại ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống của con người. Giải quyết ô nhiễm môi trường ngày nay đã trở thành một vấn đề không chỉ của riêng một quốc gia, một dân tộc nào mà trở thành một vấn đề nóng bỏng của toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới đều xem đây là một vấn đề ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của mình. Trong số rất nhiều các giải pháp được đưa ra thì giải pháp trồng cây, gây rừng vẫn được xem là giải pháp hữu hiệu và thiết thực nhất. Song hành với các phương án phát triển kinh tế thân thiện với môi trường thì việc trồng cây, gây rừng và các biện pháp ngăn chặn chặt phá rừng cũng được nhiều quốc gia chú trọng đầu tư.

Nhìn nhận lại phong trào Tết trồng cây mà Bác đã phát động từ nhiều năm qua, chúng ta mới thấy hết được một tư tưởng vô cùng tiến bộ, một tầm nhìn xa trông rộng của Bác Hồ về việc bảo vệ môi sinh môi trường thể hiện qua một hành động trồng cây rất đơn giản và hiệu quả mà Người đã sớm nhận thức được trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều bộn bề với nhiều khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tham quan khu vườn của Bác tại Khu Di tích Phủ Chủ tich, chúng ta vẫn như cảm thấy hơi ấm tình thương của Bác còn hiện hữu nơi này. Giữa màu xanh cây lá, ta vẫn thấy hình bóng Bác nhân từ như ông Tiên trong câu chuyện cổ tích đang chăm chút, tưới tắm cho từng gốc cây, ngọn cỏ. Giữa lòng thủ đô Hà Nội náo nhiệt, ngột ngạt, vườn cây nơi đây cho ta cảm giác bình yên, thư thái, gợi mở những suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống. Màu xanh nơi đây chính là cội nguồn cuộc sống và cũng chính là một tương lai bền vững mà con người đang tích cực hướng tới. Vườn cây Khu Di tích Phủ Chủ tịch sẽ mãi là một bức thông điệp với các thế hệ hôm nay và mai sau: “Hãy giữ lấy màu xanh, đây chính là cuộc sống tương lai”.

Theo Lê Thị Thanh Loan
Phòng TT – GD
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Cựu thanh niên xung phong lập nhà thờ Bác Hồ

Trên quê hương đất lúa Thái Bình, có một người cựu thanh niên xung phong, bằng niềm kính yêu tuyệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thầm lặng lập bàn thờ Bác suốt 40 năm qua. Bà là Đỗ Thị Mến, ở thôn Lục Bắc, xã Thái Xuyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Cưu TNXP 1Bà Mến trước cổng vào nhà sàn 19 tháng 5.

7 lần mang thai, 7 lần mất con

Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, nhưng những vết thương mà nó để lại thì vẫn còn dai dẳng. Gặp bà Mến, chúng tôi cảm nhận được nỗi đau của thời hậu chiến.

Là con út trong một gia đình nghèo khó, tuổi thơ bà Mến phải chứng kiến cảnh hai người anh trai chết đói năm 1945. Một người anh trai khác tham gia du kích rồi nhập ngũ lên đường chống Pháp và hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Gia đình chỉ còn hai chị em gái. Người chị Đỗ Thị Mượt của bà từng nổi tiếng vì góp phần làm ra chiếc xe cút kít giúp người nông dân Thái Bình giải phóng đôi vai trong việc vận chuyển thóc lúa, hàng hóa. Vì thành tích này, năm 1962, bà Mượt đã vinh dự được nhận Huy hiệu Chiến sĩ thi đua của Bác Hồ.

Năm 1966, đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, bà Mến hăng hái tham gia Thanh niên xung phong. Năm 1967, bà được kết nạp vào Đảng. Sau đó bà về quê gánh vác nhiều việc làng, xã như làm Bí thư Chi bộ, cán bộ Văn phòng Đảng ủy xã, Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo…

Chồng bà là ông Nguyễn Quang Dòng, nhập ngũ năm 1957, làm nhiệm vụ tuyển quân và huấn luyện quân ở chiến trường Quảng Trị, sau đó chuyển vào chiến trường Tây Nam. Năm 1972, trong một lần về phép, được sự giới thiệu của hai bên gia đình, ông làm đám cưới với bà Mến.

Lấy nhau được 2 ngày, ông Dòng trở lại làm nhiệm vụ ở khắp các chiến trường miền Nam, sang cả Lào và Campuchia. Năm 1984, với quân hàm Đại úy, ông về hưu, làm cán bộ nông nghiệp rồi cán bộ Mặt trận Tổ quốc xã.

Sau hơn chục năm xa cách kẻ Bắc người Nam, ngày sum họp tưởng rằng sẽ là những ngày hạnh phúc nhất nhưng lại là lúc bà Mến phải gánh chịu những nỗi đau tột cùng của chiến tranh để lại. Chất độc da cam trong người ông Dòng đã khiến những đứa con của bà Mến không thể thành hình hài. Bảy lần bà mang thai thì cả bảy lần những đứa con không thể chào đời.

Nỗi đau chưa dừng lại ở đó, chất độc da cam bắt đầu hành hạ chồng bà. Ông bị sốt rét liên miên, rụng hết tóc, rồi bị những cơn đau quật ngã, không gượng dậy được. Năm 1999, ông Dòng qua đời sau cơn đau khủng khiếp. “Những phút giây ông ấy quằn quại với những cơn đau cuối cùng là những phút giây đến hết đời tôi cũng không thể nào quên” – bà Mến nghẹn ngào.

Nỗi đau của chiến tranh tưởng chừng đã đánh gục người cựu thanh niên xung phong ấy. Liền 2 năm sau đó bà luôn sống trong điên dại và mộng du. Nhưng rồi bà đã tự mình gượng đứng dậy, để sống và để hằng ngày hương khói, chăm nom bàn thờ Bác Hồ.

Cưu TNXP 2Bà Đỗ Thị Mến đang thắp hương trên bàn thờ Bác.

Cưu TNXP 3Ngôi nhà sàn 19 tháng 5 do bà Mến cùng các nhà
hảo tâm và bà con xóm làng chung tay xây dựng.

Nhà sàn 19 tháng 5

Năm 1972, khi mới cưới nhau, vẫn còn phải ở trong ngôi nhà tranh vách đất nhưng bà Mến và chồng đã dành nơi trang trọng nhất trong nhà để lập một bàn thờ Bác Hồ. Bà nói: “Trong lòng chúng tôi, Bác vẫn còn sống mãi. Tôi thờ Bác là thờ những ân tình của Bác dành cho đất nước, cho đồng bào”.

Từ đó đến nay, suốt 40 năm, hàng ngày bà Mến vẫn cần mẫn lau dọn và thắp hương cho Bác. Cảm động trước tấm lòng thành kính của bà đối với Bác, bà con chòm xóm thường qua lại nhà bà Mến thăm nom và dâng hương lên bàn thờ Bác. Căn nhà nghèo khó của bà Mến trở thành nhà thờ Bác Hồ của xóm làng.

Mấy năm gần đây, từ những nỗi đau chiến tranh mà bà đã trải qua và lòng tri ân những người đã ngã xuống vì sự nghiệp chống xâm lược của Tổ quốc, bà Mến đã lập thêm hai bàn thờ nữa bên cạnh bàn thờ Bác Hồ. Bàn thờ thứ nhất thờ hương hồn các anh hùng, liệt sĩ, những người đã hy sinh tuổi xuân và xương máu cho dân tộc và các danh nhân, danh tướng của đất nước. Bàn thờ thứ hai thờ Tiên Tổ 1064 dòng họ ở Việt Nam. Tuy nhà rất nghèo nhưng các bàn thờ trong nhà bà lúc nào cũng được quét dọn tươm tất và nhang khói đủ đầy.

Năm 2009, được sự giúp đỡ của bà Trần Thị Hiền – Giám đốc Xí nghiệp in II, Viện Khoa học – Công nghệ và các nhà hảo tâm cũng như bà con xóm làng, bà Mến đã dành 500m2 đất khu nhà ở của mình để xây khu nhà sàn thờ Bác Hồ. Ngôi nhà được thiết kế theo kiểu dáng ngôi nhà sàn trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Phía trước chính giữa ngôi nhà là ảnh Bác được treo trang trọng. Hai bên là cờ Đảng và cờ Tổ quốc. Phía dưới là khẩu hiệu: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Bà Mến và bà con trong làng đặt tên đó là “Nhà sàn 19 tháng 5”. Bây giờ, ngôi nhà sàn ấy không chỉ là nơi để bà con xóm làng dâng hương lên Bác mà còn là nơi lui tới của nhiều Đoàn tham quan trong và ngoài nước. Điều mà bà Mến trăn trở nhất lúc này là: “Công ơn trời biển của Bác trải khắp đất nước. Bác sẽ còn sống mãi với đồng bào, với dân tộc. Tôi chỉ mong mỗi địa phương đều có một căn nhà sàn nhỏ để làm nơi cho bà con dân làng tới thắp hương dâng Bác”.

Cưu TNXP 4Bà Mến cùng chiếc xe đạp Thống Nhất đã theo
bà đi khắp nơi sưu tầm những tư liệu về Bác Hồ.

CƯu TNXP 5Mâm hạt giống bà Mến gom nhặt ở mọi miền quê về dưới bàn thờ Bác.

Chiếc xe đạp và những việc không tên

Quanh câu chuyện về ngôi nhà sàn 19 tháng 5, người dân xã Thái Xuyên đến nay vẫn còn kể cho nhau nghe chuyện về chiếc xe đạp Thống Nhất của bà Mến với tất cả sự khâm phục.

Năm 1985, mặc dù nhà rất nghèo nhưng bà Mến đã tiết kiệm chi tiêu, rau cháo qua ngày để dành tiền mua một chiếc xe đạp Thống Nhất. Ngày đó chiếc xe đạp là tài sản rất quý. Mọi người không hiểu trong lúc đói kém như vậy vợ chồng bà mua xe đạp để làm gì. Chỉ đến sau này, bà con xóm làng mới hiểu được việc làm cao cả của bà.

Chiếc xe đạp ấy đã cùng bà Mến rong ruổi khắp nơi để bà sưu tầm những tư liệu, tranh ảnh, sách báo, phim truyện… liên quan đến cuộc đời hoạt động và làm việc của Bác Hồ.

Năm 1985, bà đạp xe vào tận Nghệ An để thắp hương cho Bác và xin bà con quê nội Bác ở Kim Liên, Nam Đàn một ít hạt lúa mang về làm kỷ niệm. Cũng từ đó, đi đâu bà cũng xin một ít hạt giống mang về. Những hạt giống ấy, bà bày trên một kệ gỗ đơn sơ, đặt dưới bàn thờ Bác. Trên đó, bà còn đề mấy câu thơ:

“Nơi đây phúc lộc nhờ Người

Cấy lúa, lúa tốt để đời ấm no”

“Những hạt giống ấy cũng như con cháu Người ở khắp mọi miền Tổ quốc về đây hội tụ, tỏ lòng tri ân với Bác” – bà Mến giải thích thêm.

Nhờ chiếc xe đạp Thống Nhất, mà đến nay, bà Mến đã sưu tầm được cuốn album hàng nghìn bức ảnh quý lúc Bác còn sống với những khoảnh khắc bình dị đời thường của Người. Trong đó, có bức ảnh chị gái bà – bà Mượt được Bác gắn Huy hiệu Chiến sỹ thi đua. Ngoài ra, một tủ sách hàng trăm cuốn về chân dung, con người và cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch cũng được bà Mến sưu tầm và đặt ở vị trí trang trọng.

Với bà, chiếc xe đạp như một người bạn tri kỷ: “Chiếc xe đạp ấy là người bạn đồng hành cùng tôi trên mọi nẻo đường. Từ ngày ông nhà tôi mất thì đó là người thân duy nhất bên tôi, cùng tôi đi làm những việc không tên”.

Những việc mà bà Mến gọi là không tên ấy là cả tấm lòng thành kính của người nông dân quê lúa dâng lên Bác khiến bất cứ ai biết đến cũng không khỏi xúc động, nghẹn ngào. Câu chuyện về bà Mến và ngôi nhà sàn 19 tháng 5 thêm một lần nữa khẳng định chân lý: Bác Hồ sống mãi với non sông, đất nước Việt Nam ta.

Vũ Viết Tuân
Theo http://giadinh.net.vn

bqllang.gov.vn

Ấm nghĩa tình kỷ vật của Bác Hồ

Chiếc áo trấn thủ được giữ gìn suốt 57 năm, giấy chứng minh được xem là của gia bảo, quyển sách in bút tích được nghiêm cẩn bảo tồn…Tất cả những kỷ vật ấy chứa chan nghĩa tình của Bác với cán bộ, chiến sĩ, đồng bào, đồng thời tích tụ tấm lòng quý trọng, mến thương của người dân với Bác.

Ngày 31/8, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã sơ kết hai năm thực hiện cuộc vận động hiến tặng tài liệu, hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh (2010-2012) và khai mạc Triển lãm Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam trưng bày các tài liệu, hiện vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh do người dân hiến tặng. Mỗi hiện vật đều hàm chứa một câu chuyện cảm động về Bác Hồ và tình cảm của người dân đối với Bác.

Chiếc áo ấm lòng chiến sĩ miền Nam

Một trong những vật quý đó là chiếc áo trấn thủ Bác Hồ tặng ông Lê Thống Nhất, nguyên trinh sát đặc công Quân khu 9. Người lính già 81 tuổi, thương binh đặc biệt với tỉ lệ thương tật 91%: Chỉ còn một chân, một tay rưỡi run run chống đôi nạng kể câu chuyện về chiếc áo. Năm 1953, ông Nhứt bị thương nặng phải ra miền Bắc chữa trị. Ông Nhất kể lại: “Phần lớn thương binh miền Nam ra Bắc không chịu được cái lạnh mùa đông, càng bị thương nặng thì càng không chịu thấu. Đang giữa mùa đông lạnh cóng năm 1955, Ty Thương binh cấp cho một chiếc áo trấn thủ, nói là của Bác Hồ gửi tặng cho thương binh nặng. Cầm cái áo mà tôi xúc động, biết ơn Bác Hồ”. Dù khốn khổ với cái rét, ông Nhất vẫn không dám mặc vì sợ áo cũ. Ông chỉ dám lồng áo vào bao gối để gối đầu hàng đêm và giữ chiếc áo như một báu vật. Đến ngày tặng cho Bảo tàng, ông đã giữ chiếc áo bên mình 57 năm.

am nghia tinh ky vat cua bacÔng Lê Thống Nhất, nguyên Trinh sát đặc công Quân khu 9,
tặng Bảo tàng chiếc áo chần bông Bác Hồ tặng ông năm 1955

Có lần ông Nhất tới thăm bạn tại Trại Thương binh mắt. “Đúng hôm đó có đoàn đại biểu tới thăm. Tôi nhìn thấy một ông bác sĩ cùng đi với vài người nữa. Ông bác sĩ đi xuống nhà bếp, vào xem cả phòng vệ sinh. Tới bậc thềm nhà vệ sinh, ông chỉ chỉ gậy xuống sàn, bảo phải cọ rửa cẩn thận kẻo thương binh té ngã. Sau đó, bác sĩ vào phòng thương binh. Anh em thương binh xì xầm: “Không biết có Bác Hồ trong đoàn không?”. Lúc này ông mới tháo nón, khẩu trang và hỏi: “Đây có phải Bác Hồ không nhỉ?”. Hầu hết các thương binh đều hỏng mắt nên nghe giọng trầm ấm của Bác Hồ thì reo to: “Bác Hồ, Bác Hồ” rồi xô tới ôm chầm Bác. Nhưng do không thấy nên hầu hết các thương binh chỉ ôm chầm lấy nhau, Bác nói: “Anh em cứ ngồi ở giường, tôi sẽ đến từng giường một”. Rồi Bác đến bắt tay từng thương binh một”.

Giấy chứng minh thứ trưởng

Ngày 2-9-2010, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đã phát động cuộc vận động sưu tầm, hiến tặng tài liệu hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhân dân. Sau hai năm vận động, Bảo tàng đã nhận được hơn 400 tài liệu hiện vật. Tất cả hiện vật này đang được giữ gìn và trưng bày tại Bảo tàng.

Luật sư Nguyễn Quang Thắng đã trao tặng cho Bảo tàng Giấy chứng minh bổ nhiệm thân sinh của ông làm Thứ trưởng Bộ Tư pháp do Bác Hồ đích thân đánh máy. Giấy chứng minh viết: “Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cấp giấy chứng minh này cho ông NGUYỄN VĂN HƯỞNG, Thứ trưởng Bộ Tư pháp để ông Thứ trưởng liên lạc với các cơ quan hành chính, quân sự được dễ dàng”. Bác dùng máy đánh chữ của Pháp nên không có dấu. Sau khi đánh máy xong, Bác dùng bút điền từng thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng vào giấy chứng minh. Luật sư Thắng đánh giá giấy chứng minh nói lên được cách dụng người của Bác đối với nhân sĩ yêu nước – những người cộng sản ngoài Đảng. Ông Thắng xúc động: “Giấy chứng minh này là kỷ vật quý. Nó được cha tôi giữ gìn trân trọng rồi truyền lại cho tôi. Nhưng nếu chỉ để ở gia đình thì chỉ có người thân, bạn bè biết đến. Nên tôi tặng kỷ vật này lại cho Bảo tàng để tất cả mọi người đều biết”.

Tại buổi lễ, nghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết không ngăn được nước mắt khi ngâm lại những bài thơ đã từng biểu diễn phục vụ Bác. Bà Tuyết tặng Bảo tàng quyển sổ tay có lời Bác Hồ đề tặng viết tay: “Học tập tốt, phấn đấu tốt. Chú ý nên luyện thanh. Góp sức đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”. Nhiều lần nghệ sĩ Tuyết ngâm thơ cho Bác nghe, lần nào bà cũng được Bác tặng quà: Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm (các kỷ vật này bà cũng tặng cho Bảo tàng) và động viên rất ân cần. “Biết đứa con trai đầu của tôi bị bại liệt, Bác luôn hỏi thăm, động viên rồi khuyên: “Dù thế nào cháu cũng phải cho bé đi học để sau này còn làm người có ích, tàn nhưng không phế!””.

TRÀ GIANG
Theo phapluattp.vn
Phương Thúy
(st)
bqllang.gov.vn

Những kỷ vật của Bác Hồ

Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn

(Tố Hữu)

Có lẽ khó có vị lãnh tụ nào trên thế giới này được ngợi ca về tấm lòng yêu thương con người, yêu thương nhân loại nhiều đến vậy như Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi lẽ cả cuộc đời Người chỉ có một ham muốn tột bậc là: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó là khát vọng cháy bỏng và cũng là mục đích duy nhất của cuộc đời Người – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: Chủ tịch Hồ chí Minh vĩ đại.

ky vat 1
Bác Hồ với các cháu nhỏ ở Việt Bắc

Có rất nhiều người đã  nhận định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người mà tư tưởng và hành động thống nhất với nhau, không chỉ vậy còn là sự thống nhất giữa hoạt động và nhân cách chính trị với thái độ rất khiêm tốn, giản dị, nhân hậu. Có lẽ với tình yêu thương con người thiết tha nhất mà ở tuổi chưa đầy hai mươi, Người đã một mình quả cảm vượt trùng khơi đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng nhân dân mình thoát khỏi sự chà đạp của chủ nghĩa thực dân. Cũng chính vì thế ngay từ những ngày còn bôn ba hoạt động ở nước ngoài Người đã dành sự quan tâm đặc biệt đến cuộc sống cơ cực của những người lao động ở các thuộc địa và mong muốn tìm con đường giải phóng cho nhân loại khổ đau, trong đó có nhân dân mình, dân tộc mình. Với sự kiên định tuyệt vời về tư tưởng và đường lối cùng với những quyết định lịch sử vô cùng sáng suốt và kịp thời, Người đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi đến ánh sáng của cuộc sống làm người, của độc lập, tự do.

Nước nhà được độc lập, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước dân chủ đầu tiên ở  Đông Nam Á, vận mệnh đất nước và dân tộc vẫn ngàn cân treo sợi tóc, bởi kẻ thù không từ bỏ dã tâm xâm chiếm nước ta. Bên cạnh việc chăm lo những việc lớn lao của dân tộc là đánh đuổi giặc ngoại xâm, Người đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết nạn đói và nạn dốt do chế độ thực dân và phong kiến để lại, coi đây cũng là hai thứ giặc vô cùng nguy hiểm bởi nếu giặc ngoại xâm là cướp nước, chà đạp lên nhân phẩm con người, lên danh dự quốc gia, dân tộc thì giặc đói và giặc dốt lại làm cho dân tộc yếu hèn và cuối cùng cũng đi đến bị nô dịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại bởi sự nghiệp cao cả của Người, nhưng Người cũng giản dị và gần gũi với nhân dân nhất bởi Người thấu hiểu và chia sẻ nỗi khổ đau cũng như niềm vinh quang của mỗi người dù đó là ai và thuộc quốc gia nào, vì thế Người càng vĩ đại hơn, càng được nhân dân tin yêu, kính trọng hơn và cũng vì thế sức mạnh của dân tộc Việt Nam được tập hợp, nhân lên thành sức mạnh vô địch không kẻ thù nào khuất phục nổi.

Trên cương vị Chủ tịch nước, trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh với biết bao thiếu thốn và gian khổ, dẫu bộn bề lo toan việc nước, Người vẫn dành thời gian thăm hỏi động viên đến các tổ chức đoàn thể và từng người dân dù họ là cán bộ cấp cao, là chiến sĩ đang chiến đấu ngoài chiến trường, những công nhân, nông dân lao động bình thường. Những tấm Huy chương có chữ ký của Người, những chiếc Huy hiệu mang hình ảnh của Người, hay những lá thư Người khen ngợi được gửi tặng cho những con người dũng cảm đã ghi được chiến công trong nhiệm vụ ở chiến trường diệt giặc ngoại xâm hay những chiến sĩ trên mặt trận diệt giặc dốt, luôn là niềm tự hào và vinh dự lớn lao cho mỗi cán bộ chiến sĩ. Xem lại những món quà Bác đã trao tặng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong thời kỳ lịch sử đầy gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc mà nay đã trở thành những kỷ vật vô giá và thiêng liêng chúng ta mới thấy hết ý nghĩa, tình cảm của vị Chủ tịch nước dành cho đồng bào mình và hiểu thêm về những giá trị tinh thần vô giá làm nên sức mạnh vô biên chiến thắng mọi kẻ thù của thế hệ cha anh trong thời lịch sử đau thương mà vô cùng anh dũng của dân tộc. Những anh hùng, chiến sĩ thi đua trên các mặt trận sản xuất hay chiến đấu, những chiến sĩ diệt dốt hay những cán bộ cấp cao trong nhiều lĩnh vực, vinh dự được nhận những phần thưởng của Bác Hồ trao tặng.

Đó là những tấm ảnh chân dung có chữ ký của Người và dòng chữ Bác viết “Kháng chiến nhất định thắng lợi” đã nói lên quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược của dân tộc. Là những chiếc ca uống nước giản dị mang dòng chữ “Kiên quyết làm tròn nhiệm vụ”, “Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc” mà Bác đã chỉ thị tặng cho bộ đội trong phong trào thi đua toàn quân và các sĩ quan Trung đoàn Trần Cao Vân trước khi xuất quân tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, hay tặng cho các anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc. Đây là những món quà có ý nghĩa to lớn thể hiện tình cảm, sự quan tâm sâu sắc của Bác Hồ đối với cán bộ, chiến sĩ và đã trở thành những kỷ vật thiêng liêng, động viên và cổ vũ kịp thời tinh thần thi đua chiến đấu giết giặc lập công, thi đua sáng kiến cải tiến kỹ thuật để hoàn thành nhiệm vụ của quân, dân cả nước.

Trong những ngày kháng chiến chống Pháp (1947-1954), Trung ương Đảng và Bác Hồ làm việc tại chiến khu Việt Bắc – Thủ đô gió ngàn, vì công việc, Bác phải thường xuyên băng rừng lội suối, thương Bác, chiến sĩ trong đội bảo vệ đã làm tặng Bác cây gậy bằng mây của rừng Việt Bắc. Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn lúc này là Bí thư Đảng Đoàn, Thứ trưởng Bộ quốc gia giáo dục phải thường xuyên đi lại nhiều, vượt suối vượt đèo vất vả, Bác đã tặng ông cây gậy mây để ông đi lại thuận tiện hơn. Cây gậy mây Bác Hồ tặng thể hiện tình cảm thân thương chân tình, sự quan tâm hết sức gần gũi như người thân trong gia đình, là nguồn động viên lớn với ông trong bước đường công tác. Sau ngày hòa bình lập lại, dù không dùng cây gậy này nữa nhưng ông vẫn gìn giữ cẩn thận cây gậy, coi đây là kỷ vật có ý nghĩa lớn trong cuộc đời ông.

Là chiếc áo bông Người đang mặc trong những ngày đông giá rét của núi rừng Việt Bắc, nhưng khi nghe báo cáo tình hình chiến trường Người đã cởi áo trao lại làm phần thưởng cho đơn vị, tập thể lập nhiều chiến công xuất sắc trên chiến trường Bình Trị Thiên trong kháng chiến chống pháp (Khu ủy khu IV đã quyết định trao phần thưởng cao quý này cho Ban Điệp báo, Ty Công an Bình Trị Thiên – Đơn vị đã lập nhiều chiến công xuất sắc trong phong trào thi đua “Giết giặc lập công” 1949-1950). Chiếc áo như mang theo hơi ấm và cả tình cảm ruột thịt của vị Cha già dân tộc đến với những người con đang ngày đêm đối mặt với khó khăn gian khổ của chiến trường khốc liệt.

Là tấm vải kaki Người trực tiếp trao tặng cho ông Lê Đình Cúc, cán bộ ngành Muối tại Đại hội chiến sĩ thi đua ngành muối toàn quốc, tấm vải được ông may thành chiếc áo đại cán để mặc vào những dịp lễ quan trọng của đất nước. Đây là niềm tự hào vô biên bởi đây là kỷ niệm đẹp đẽ nhất của cuộc đời ông khi ông được gặp Bác Hồ tại Thủ đô yêu dấu, và lời hứa với Bác sẽ luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt hơn nữa mọi nhiệm vụ công tác được giao đã theo ông suốt cuộc đời.

Là tấm vải hoa Người gửi tặng ông Quỳnh Zôông, cán bộ của Ban Chống bình miền Tây Thừa Thiên Huế vì đã có thành tích lãnh đạo nhân dân chống lại âm mưu, kế hoạch chiếm đóng và bình định miền núi phía Tây Thừa Thiên Huế của chính quyền Ngô Đình Diệm, tấm vải được ông nâng niu gìn giữ và ông đã dùng để đắp trong những ngày đông  giá rét khi hoạt động trong rừng sâu.

Anh hùng ANun (dân tộc Pakô) là người luôn xung phong đi đầu trong những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm nhất, ông luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao phó với tinh thần quả cảm, táo bạo và mưu trí, ngoan cường. Thành tích của ông được Bộ Tư lệnh chiến trường và Bộ Quốc phòng tuyên dương. Biết tin, Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi, động viên và Người cũng gửi tặng ông chiếc đồng hồ đeo tay và chiếc radio. Vô cùng vinh dự và tự hào, ông coi đây không chỉ là phần thưởng của vị Chủ tịch nước tặng cho riêng ông mà còn thể hiện tình cảm của Người đành cho đồng bào dân tộc ít người ở vùng núi cao Tây Nguyên.

Nữ anh hùng Kăn Lịch là người đã chỉ huy đại đội nữ dân quân đồng bào dân tộc đánh trả nhiều trận càn ác liệt của Mỹ (1965-1968). Sau những ngày được Đảng và Bác Hồ đưa ra chữa bệnh ở Hà Nội, bà được vào thăm Bác và xin phép Bác trở về quê hương chiến đấu. Khi bà tỏ ước nguyện luôn được nghe tiếng nói Bác Hồ, Người vô cùng xúc động, thể theo ước nguyện của bà, Hồ Chủ tịch đã dặn dò, động viên và tặng cho bà Kăn Lịch chiếc Radio mà hàng ngày Người vẫn dùng để nghe tin tức trong nước và thế giới. Nghe lời Bác dặn, trở về quê hương chiến đấu, bà đã dùng chiếc radio để tuyên truyền vận động bà con đồng bào ra sức góp sức người sức của cho cách mạng, hăng hái tham gia chiến đấu giải phóng và bảo vệ quê hương.

Những chiếc khăn tay, vòng đeo cổ, những chiếc xoong nhôm mà Người đã tặng cho ông Quỳnh Tếu và nhiều cán bộ của Đảng ủy miền Tây Thừa Thiên Huế được vinh dự ra thăm miền Bắc và được gặp Bác Hồ, được Người tặng những món quà phù hợp phong tục tập quán và nhu cầu trong công tác và cuộc sống ở miền núi cao Tây nguyên. Trở về quê hương chiến đấu, những món quà quý trở thành niềm tin và nguồn động viên lớn giúp ông cũng như nhiều cán bộ khác vượt qua những thiếu thốn, hiểm nguy của chiến tranh để làm tròn nhiệm vụ mà Đảng giao phó. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, để tránh những trận càn quét của địch, ông đã dùng ni lông chống tăng gói kỹ quà Bác tặng và đem chôn dưới gốc cây trong rừng sâu. Những kỷ vật Bác tặng trở thành tài sản “Gia bảo” ông tặng lại cho vợ con trước khi ông từ giã cõi đời.

Là khẩu súng lục K59 Người tặng cho quân và dân Thừa Thiên Huế mà ông Hồ Đống, cán bộ lãnh đạo của tỉnh Thừa Thiên đã vinh dự được đại diện nhận do Bác tặng trong dịp ra Trung ương họp triển khai Nghị quyết 15 với lời dặn dò: Phải cố gắng chiến đấu thật anh dũng kiên cường. Đây là món quà vô cùng quý giá bởi trong điều kiện tình hình chiến tranh cách mạng đã chuyển biến nhưng vũ khí còn thiếu thốn, khẩu súng Bác tặng cùng với những lời dặn dò của Người là nguồn cổ vũ lớn lao, đồng thời thể hiện ý chí và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân quyết đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Là bộ áo quần nữ thanh niên xung phong Người gửi tặng lực lượng nữ thanh niên xung phong đang ngày đêm tham gia mở và bảo vệ tuyến đường huyết mạch Trường Sơn, bảo đảm sức người, sức của cho công cuộc giải phóng miền Nam.

kỷ vạt 2
Đôi dép cao su của Bác

Nói về những kỷ vật Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng quân và dân khắp mọi miền Tổ quốc, không thể không nhắc đến những dụng cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt mà Người gửi tặng cho đồng bào các dân tộc miền Tây Trị Thiên. Khi chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đàn áp và bao vây, cô lập đồng bào các dân tộc miền Tây Trị Thiên hòng dập tắt tinh thần đấu tranh cách mạng và tình đoàn kết giữa miền núi và miền xuôi. Đời sống của đồng bào vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Biết tin, Người cùng Trung ương Đảng quyết định gửi gạo, muối, vải, thuốc men và dụng cụ sản xuất như cuốc, rừu, rựa … vào cho đồng bào. Đây là chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đối với đồng bào Tây Nguyên nhằm giúp đồng bào ổn định đời sống và chống lại âm mưu phá hoại, chia cắt của kẻ thù. Ơn Đảng và Bác Hồ, đồng bào các dân tộc miền Tây Trị Thiên càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và đã tự nguyện xin được lấy họ của Bác Hồ làm họ của mình.

Còn biết bao những kỷ vật Bác đã tặng cho cán bộ, chiến sĩ và đồng bào trên khắp mọi miền Tổ quốc, dù đó là những tấm huân chương, hay những chiếc khăn tay … là đồ dùng trong sinh hoạt bình thường đều mang ý nghĩa tinh thần lớn lao thể hiện tình cảm và quan tâm của vị Chủ tịch nước đối với đồng bào mình mà có lẽ khó có vị lãnh tụ nào trên thế giới làm được. Không chỉ thế, những kỷ vật Bác tặng năm nào còn gợi cho các thế hệ mai sau hiểu được rằng dù trong gian khó và hiểm nguy, các thế hệ cha anh đi trước với nghị lực và tình yêu nước đã làm nên những chiến công chói lọi để bảo vệ giang sơn Tổ quốc Việt Nam. Đây chính là nguồn lực tinh thần và là niềm tự hào tiếp thêm sức mạnh cho các thế hệ mai sau tiếp tục xây dựng và bảo vệ giang sơn gấm vóc Việt Nam.

Lê Thanh Hương
Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh Chi nhánh Thừa Thiên Huế
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Nơi lưu giữ những tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ

Đến nay, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam (được xây dựng trên khuôn viên của Bảo tàng Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định trước đây) đã hoàn thành giai đoạn I. Nằm giữa trung tâm Thành phố Nam Định, với diện tích rộng 1,2ha, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi tái hiện lại lịch sử ngành Dệt may cả nước nói chung và ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong hơn 1 thế kỷ qua. Ngoài việc trưng bày nhiều hiện vật, hình ảnh về lịch sử Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định từ thời Pháp thuộc như: Bức thư của những người công nhân gửi ông chủ khi bị đánh đập, chà đạp; chiếc máy dệt thời kỳ đó, tại đây, còn trưng bày những vũ khí đã được Trung đoàn tự vệ của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định dùng để chiến đấu với giặc Mỹ, bảo vệ nhà máy… Và hơn hết là những kỷ vật thiêng liêng của Bác Hồ qua những lần Bác về thăm cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định.

mot goc nhà may detMột góc Nhà truyền thống ngành Dệt may Việt Nam. Ảnh: Internet.

Tại khu vực trung tâm của Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi trưng bày các hình ảnh, kỷ vật về Bác và những tình cảm của công nhân ngành Dệt may với Bác Hồ, những di vật ghi lại lời căn dặn sâu sắc của Bác đối với tập thể cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm. Tiêu biểu là các hiện vật: Phòng nghỉ của Bác khi về thăm nhà máy năm 1957; những bức ảnh tư liệu quý về cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định vui mừng đón Bác về thăm nhà máy vào ngày 24-4-1957, Huy hiệu của Hồ Chủ tịch tặng công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định, Bác Hồ thăm phân xưởng dệt năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem các sản phẩm của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1957, Bác Hồ thăm nhà mẫu giáo dành cho con em cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem lá cờ Đảng của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm nhà máy năm 1963, Bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi anh chị em công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định ngày 28-12-1963… Bên cạnh đó, Bảo tàng còn lưu giữ nhiều hiện vật gắn liền với hình ảnh thân thương về Hồ Chủ tịch trong mỗi lần Bác về thăm tỉnh Nam Định: Đó là chiếc ghế đá nơi Bác Hồ đã ngồi nghỉ để nói chuyện với cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định; những văn bản ghi lại lời dạy của Hồ Chủ tịch đối với Đảng bộ, nhân dân tỉnh nhà nói chung, công nhân ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Với quy mô và ý nghĩa to lớn, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam đi vào hoạt động sẽ là một công trình văn hóa lưu giữ, trưng bày các hiện vật, hình ảnh giới thiệu với các tầng lớp nhân dân, bạn bè quốc tế về lịch sử của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định nói riêng, của ngành Dệt may cả nước nói chung. Đặc biệt, những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ trong những lần về thăm Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định là những tư liệu, hiện vật quý, góp phần giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho giai cấp công nhân ngành Dệt may cả nước hôm nay và mai sau./.

Bài và ảnh: Việt Thắng
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn